Phát triển nguồn nhân lực cho công nghệ thông tin là yếu tố then chốt có ý nghĩa quyết định đối với việc ứng dụng và phát triển CNTT.Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác giáo dục và đào
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý Giáo dục
Mã số: 60.14.01.14
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS HÀ VĂN HÙNG
Nghệ An, Tháng 7/ 2012
Trang 3sĩ Khoa đào tạo Sau Đại học Trường Đại học Vinh, các thầy cô đã tham giaquản lý, giảng dạy, cung cấp tài liệu, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trìnhhọc tập, nghiên cứu.
Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầygiáo - PGS.TS Hà Văn Hùng - người hướng dẫn khoa học đã tận tình bồidưỡng kiến thức, phương pháp nghiên cứu, động viên khích lệ tôi trong suốtquá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Xin bày tỏ lòng cám ơn đến lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo Tp HồChí Minh, UBND Quận Bình Thạnh, Phòng Giáo dục – Đào tạo quận BìnhThạnh đã tạo điều kiện cho tôi tham gia khoá học này
Xin cảm ơn quý thầy cô giáo, các bạn đồng nghiệp các trường THCSQuận Bình Thạnh - Tp Hồ Chí Minh nơi tôi đang công tác, đã cung cấp số liệu,
tư liệu, đặc biệt là gia đình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và động viên tôi trongquá trình học tập, hoàn thành khoá học và hoàn thành tốt luận văn
Dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện luận văn, song khôngthể tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự góp ý, trao đổi củaquý thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp
Nghệ an,, tháng 7 năm 2012
Tác giả luận văn
Trang 4MỞ ĐẦU
1.2.6 Khái niệm về quản lý, chức năng quản lý 14
Trang 51.3 Ứng dụng CNTT trong QLGD, quản lý nhà trường 21
1.3.2 Ứng dụng CNTT đối với việc phát triển giáo dục 23
1.3.2.2 Một số phần mềm ứng dụng trong QLGD 24
Kết luận chương 1 32
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ
THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ TẠI CÁC TRƯỜNG
TRUNG HỌC CƠ SỞ QUẬN BÌNH THẠNH – TP HỒ CHÍ MINH 332.1 Khái quát đặc điểm tình hình quận Bình Thạnh, Tp Hồ Chí Minh 332.1.2 Điều kiện kinh tế của quận Bình Thạnh, Tp, Hồ Chí Minh 342.2 Tình hình giáo dục quận Bình Thạnh, Tp Hồ Chí Minh 362.2.1 Về tình hình thực hiện quy mô học sinh 36
2.2.3.3 Công tác đào tạo, bồi dưỡng chuẩn hoá đội ngũ CBQL,GV 43
2.2.4 Xây dựng, sửa chữa CSVC, trang thiết bị trường học 44
2.3 Thực trạng về công tác ƯDCNTT ở các trường quận Bình Thạnh 462.3.1 Thực trạng CSVC phục vụ cho công tác ƯDCNTT 462.3.2 Trình độ tin học của đội ngũ CBQL, GV các trường THCS
Trang 6TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ QUẬN BÌNH THẠNH- TP HỒ CHÍ MINH 59
3.1.1 Căn cứ văn bản của Bộ GDĐT về hướng dẫn nhiệm vụ CNTT 593.1.2 Chủ trương của Sở GDĐT đối với công tác ứng dụng CNTT 59
3.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả việc ứng dụng CNTT trong hoạt
3.3.2 Giải pháp 2: Tăng cường việc đào tạo bồi dưỡng nhân lực phục
3.3.3 Giải pháp 3: Xây dựng, phát triển và sử dụng có hiệu quả hệ
thống CSVC phương tiện ứng dụng CNTT 653.3.4 Giải pháp 4: Tăng cường việc triển khai ứng dụng CNTT trong
đổi mới công tác QL và dạy học hợp lý 68
Trang 7trường THCS quận Bình Thạnh Tp Hồ Chí Minh 733.3.8 Giải pháp 8: Đẩy mạnh việc ƯDCNTT một cách hợp lý trong
3.5 Khảo nghiệm tính cấp thiết và khả thi các giải pháp được đề xuất 82
Trang 8UBND Uỷ ban nhân dân
ƯDCNTT Ứng dụng công nghệ thông tin
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Sự phát triển nhanh chóng và vượt bậc của khoa học công nghệ, đặc biệt
là Công nghệ truyền thông và thông tin (CNTT), đã đặt ra cho giáo dục nhiềuyêu cầu cấp bách Đó là, giáo dục phải trang bị cho người học khả năng học tậpsuốt đời mà kỹ năng tìm kiếm thông tin, xử lý thông tin, tư duy sáng tạo và giảiquyết vấn đề là cần thiết nhất trong một kỷ nguyên thay đổi nhanh chóng Nhiềuchính sách và chiến lược giáo dục đã được đổi mới nhằm giúp cho người họcthích nghi với sự thay đổi, tăng cường tư duy sáng tạo và khả năng ứng dụng trithức tiên tiến để giải quyết các vấn đề thời đại
Ứng dụng CNTT trong giáo dục nhằm đáp ứng những yêu cầu cấp báchnêu trên là một trong số các lựa chọn ưu tiên của hầu hết hệ thống giáo dục trênthế giới
Hiện nay ở các nước phát triển và đang phát triển việc ứng dụng CôngNghệ Thông Tin (CNTT) rất phổ biến ở nhiều lĩnh vực, trong đó ứng dụngCNTT trong giáo dục khá phổ biến, có nhiều phần mềm, nhiều đề tài nghiên cứukhoa học liên quan tới việc ứng dụng CNTT trong dạy học và quản lý tại cáctrường phổ thông
Ở nước ta, vấn đề ứng dụng CNTT trong giáo dục, đào tạo được Đảng vàNhà nước rất coi trọng Nghị quyết số 49/CP ngày 4/8/1993 của Chính phủ về
“Phát triển CNTT ở Việt Nam trong những năm 90” đã đánh giá khái quát tìnhhình CNTT của nước ta, khẳng định quan điểm, mục tiêu và nội dung phát triểnCNTT đến năm 2000 và đề ra các biện pháp lớn để thực hiện chủ trương quantrọng này Nghị quyết cũng đã đề cập đến vấn đề ứng dụng CNTT trong giáodục, đào tạo với những nội dung chủ yếu:
- Nghiên cứu áp dụng tích cực CNTT trong công tác giáo dục – đào tạo;
- Xây dựng và thực hiện kế hoạch giáo dục CNTT trong hệ thống giáodục và đào tạo…;
Trang 10- Phát triển mọi hình thức đào tạo, phổ biến kiến thức, trang bị khả năng
sử dụng máy tính như một công cụ lao động cho một bộ phận trong xã hội
Nghị quyết Chính phủ về chương trình quốc gia đưa CNTT vào giáo dụcđào tạo (1993), Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII, Luật giáo dục (1998) vàLuật Giáo dục sửa đổi (2005), Nghị quyết 81 của Thủ tướng Chính phủ, Chỉ thị
29 của Bộ Giáo dục – Đào tạo (GDĐT), Chiến lược phát triển giáo dục 2001 –
2010, dự thảo Chiến lược phát triển giáo dục 2009 – 2010 Đặc biệt là Chỉ thị55/2008/CT-BGDĐT ngày 30/9/2008 đã yêu cầu:
“ Ứng dụng CNTT để triển khai thực hiện cải cách hành chính và Chínhphủ điện tử, thực hiện việc chuyển phát công văn, tài liệu qua mạng; Tin họchoá công tác quản lý ở các cấp quản lý giáo dục (Bộ, Sở, Phòng) và ở các cơ sởgiáo dục
Xây dựng hệ thống thông tin quản lý giáo dục và thống kê giáo dục thôngqua việc tích hợp cơ sở dữ liệu từ các cơ sở giáo dục đến các cấp quản lý giáodục”.[3,4]
Các giải pháp mang tính đột phá trong Dự thảo chiến lược giáo dục ViệtNam 2009 – 2020 đưa ra là: “ Đổi mới quản lý giáo dục, đẩy mạnh ứng dụngcông nghệ thông tin, truyền thông nhằm “tin học hoá” quản lý giáo dục ở cáccấp; tăng cường đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật cho giáo dục, đến năm 2020,không còn phòng học tạm ở tất cả các cấp học, 100% các trường phổ thông đượcnối mạng Internet và có thư viện; Xây dựng hệ thống thư viện điện tử dùngchung và kết nối giũa các trường”[9]
Có thể nói, Đảng và Chính phủ có nhiều chỉ thị nhằm đẩy mạnh ứng dụngCNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước Ứng dụng vàphát triển CNTT là một nhiệm vụ ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế - xãhội, là phương tiện chủ lực để đi tắt đón đầu, rút ngắn khoảng cách phát triển sovới các nước đi trước Phát triển nguồn nhân lực cho công nghệ thông tin là yếu
tố then chốt có ý nghĩa quyết định đối với việc ứng dụng và phát triển CNTT.Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác giáo dục và đào tạo ở các cấp học,
Trang 11bậc học, ngành học; phát triển các hình thức đào tạo từ xa phục vụ cho nhu cầuhọc tập của toàn xã hội; đặc biệt tập trung phát triển mạng máy tính phục vụ choviệc giáo dục và đào tạo, kết nối Internet tới tất cả các cơ sở giáo dục và đào tạo
là nổ lực của toàn ngành giáo dục nhằm tạo bước đột phá về chất trong côngcuộc canh tân giáo dục
Với xu thế phát triển như hiện nay, mô hình giáo dục cần phải có nhữngthay đổi phù hợp, trường học phải thay đổi môi trường giáo dục Mọi tài nguyên,nguồn lực trong mỗi trường học cần tập trung vào việc tạo lập một môi trườnghọc cởi mở, sáng tạo cho học sinh Một môi trường giáo dục hiện đại sẽ cungcấp tối đa khả năng tự học, mỗi học sinh tự tìm kiếm thông tin dưới sự hướngdẫn của thầy cô; rèn kỹ năng hợp tác, hoạt động nhóm, chia sẻ thông tin trongkhi giáo viên chỉ hướng dẫn kỹ năng, phương pháp giải quyết công việc Kỹnăng giải quyết công việc và xử lý thông tin chính là cốt lõi của phương thứcgiáo dục này trong đó vai trò CNTT là một công cụ hữu hiệu
Hiện nay có một số công trình nghiên cứu về việc ứng dụng CNTT trongquản lý giáo dục đã được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới Tuy nhiên
ở Việt Nam hệ thống quản lý nhân sự trong giáo dục (thuộc dự án PMIS) vàquản lý hồ sơ trường học (EMIS) được tích hợp trong chương trình V.EMISđược đưa vào trong quản lý giáo dục (năm 2002) vẫn còn đang trong thử nghiệm
Trang 12Từ những lý do trên, nên tôi chọn đề tài nghiên cứu là: Một số giải pháp
nâng cao hiệu quả ứng dụng Công Nghệ thông tin trong hoạt động quản lý
ở các trường THCS Quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.
3 Nhiệm vụ nghiên cứu:
3.1 Hệ thống logic các khái niệm, lý thuyết, các văn bản pháp quy củaNhà nước, các văn kiện của Đảng về đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong giáo dục
3.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng ứng dụng CNTT trong hoạt động quản
lý các trường THCS quận Bình Thạnh
3.3 Đề xuất một số các giải pháp cho việc nâng cao hiệu quả ứng dụngCNTT trên địa bàn nghiên cứu, phù hợp với tình hình và đặc điểm giáo dục tạiquận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh
4 Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được một số giải pháp cần thiết và khả thi thì sẽ nâng caođược hiệu quả ứng dụng CNTT trong hoạt động quản lý ở các trường THCSquận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
5.1 Đối tượng nghiên cứu:
5.1.1 Khách thể nghiên cứu: Đề tài tập trung việc nghiên cứu ứng
dụng CNTT trong các hoạt động quản lý tại các trường THCS quận Bình Thạnh
Cụ thể là công tác quản lý của CBQL, quản lý nhân sự, quản lý tài chính, quản
Trang 13lý học sinh, quản lý cơ sở vật chất, quản lý chuyên môn, quản lý điểm,…từ đóxem xét đề ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoàn thành tốt nhiệm vụ.
5.1.2 Đối tượng nghiên cứu: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả ứng
dụng CNTT trong hoạt động quản lý ở các trường THCS quận Bình Thạnh,thành phố Hồ Chí Minh
5.2 Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu 15/15 trường THCS thuộc quận Bình Thạnh Nội dung
là những tiêu chí được xây dựng, hệ thống lại từ những việc ứng dụng CNTTtrong các hoạt động quản lý của hiệu trưởng trường THCS quận Bình Thạnh
6 Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện các nhiệm vụ, nội dung và mục tiêu nghiên cứu, đề tài sẽ sửdụng các nhóm phương pháp chuyên ngành và liên ngành sau:
6.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
Nhằm tìm hiểu, phân tích, tổng hợp, phân loại nhằm tìm cơ sở lý luận cho
đề tài, kinh nghiệm ứng dụng CNTT trong giảng dạy và trong công tác quản lýtrường học
6.2 Phương pháp thống kê:
Lập bảng biểu, điều tra, khảo sát, đánh giá thực trạng, trưng cầu ý kiếnbằng phiếu hỏi đáp đến CBQL, GV các trường THCS nhằm tìm ra một số giảipháp bồi dưỡng kỹ năng về ứng dụng CNTT trong công tác quản lý và giảngdạy
6.3 Phương pháp thống kê toán học:
Nhằm xử lý các kết quả điều tra nghiên cứu để làm các cứ liệu, các chỉ sốđánh giá
7 Những đóng góp của đề tài:
- Đề xuất được một số giải pháp khả thi góp phần nâng cao được hiệu quảứng dụng CNTT trong hoạt động quản lý ở các trường trung học cơ sở quậnBình Thạnh – thành phố Hồ Chí Minh
Trang 14- Hệ thống cơ bản các cơ sở lý luận về việc ứng dụng CNTT trong hoạtđộng giáo dục; tập hợp các phần mềm tin học ứng dụng, các website cần thiết đểtham khảo và chia sẻ các nội dung quản lý.
- Phân tích, đánh giá các nguyên nhân tồn tại trong việc ứng dụng CNTTtrong hoạt động quản lý ở các nhà trường
8 Cấu trúc luận văn:
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và phần tài liệu tham khảo, luận vănchia làm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu
Chương 2: Thực trạng việc ứng dụng CNTT trong hoạt động quản lý ởcác trường THCS quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT tronghoạt động quản lý các trường THCS quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh
Trang 15PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1.Tổng quan về vấn đề nghiên cứu:
Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, là phương thức để tồn tại vàphát triển của xã hội loài người Lịch sử xã hội đã chứng minh giáo dục vừa làmục tiêu, vùa là động lực phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) của mỗi quốc gia,dân tộc
Ngày nay giáo dục được nhìn nhận như là con đường quan trọng nhất đểphát triển KT-XH, các nước phát triển và đang phát triển đều quan tâm đến giáodục.Trong sự nghiệp đổi mới của đất nước, Đảng ta đã xác định Giáo dục vàĐào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực thúc đẩy sự phát triển KT-XH
Ngay từ thời kỳ chống Mỹ cứu nước, Đảng và Nhà nước đã có chủ trươngvận dụng CNTT trong một số lĩnh vực Bước sang thời kỳ đổi mới, chủ trương
ấy đã được nhấn mạnh và cụ thể hoá trong nhiều nghị quyết, văn bản của Đảng
và Chính phủ, đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục và vai trò của công nghệ thôngtin trong giáo dục như: Nghị quyết của Chính phủ số 49/CP, ngày 4/8/1993 về
“Phát triển CNTT ở Việt Nam trong những năm 90”, Quyết định 212/TTg củaThủ tướng phê duyệt Kế hoạch tổng thể Chương trình quốc gia về CNTT đếnnăm 2000
Ngày 5 tháng 6 năm 2000, Chính phủ ra Nghị quyết số 07/2000/NQ-CP
về vấn đề xây dựng và phát triển Công Nghiệp phần mềm giai đoạn 2000 –
2005 Theo đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì trong việc đào tạo nguồn nhânlực về CNTT; tăng cường, mở rộng và nâng cao chất lượng đào tạo về côngnghệ phần mềm trong hệ thống giáo dục quốc dân; đẩy mạnh việc sử dụng rộngrải Internet trong các trường đại học và từng bước trong các trường phổ thôngnhằm phục vụ tốt cho việc đào tạo
Trang 16Ngày 17 tháng 10 năm 2000, Ban Chấp hành trung ương Đảng Cộng SảnViệt Nam ra chỉ thị số 58-CT/TW về Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTTphục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Trong đó, nhấn mạnh đến vaitrò của CNTT trong giáo dục: “Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác giáodục ở các cấp học, bậc học, ngành học Phát triển các hình thức đào tạo từ xaphục vụ cho nhu cầu học tập của toàn xã hội Đặc biệt tập trung phát triển mạngmáy tính phục vụ cho giáo dục và đào tạo, kết nối internet tới tất cả các cơ sởgiáo dục và đào tạo”.
Ngày 30/07/2001, Bộ Giáo dục và Đào tạo ra chỉ thị số 20/2001/CT vềviệc tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong ngành giáo dụcgiai đoạn 2001- 2005: “… Các bộ môn không chuyên về CNTT cần đổi mới nộidung, chương trình giảng dạy, phương pháp giảng dạy và nghiên cứu khoa họctheo hướng tăng cường áp dụng CNTT….Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong giáodục và đào tạo ở tất cả các cấp học, bậc học, ngành học theo hướng sử dụngCNTT như một công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp dạy học,học tập ở tất cả các môn học.”
Ngày 18/12/20003, Bộ Giáo dục và Đào tạo ra quyết định BGDĐT phê duyệt đề án dạy tin học, ứng dụng CNTT trong trường phổ thônggiai đoạn 2004 – 2006 Trong đề án này, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổng hợpđược xu thế dạy tin học và ứng dụng CNTT ở một số nước; tình hình dạy học tinhọc và ứng dụng CNTT trong trường phổ thông Việt Nam và phác thảo nhữngvấn đề đặt ra trong tương lai Trên cơ sở đó, đề ra các mục tiêu, nhiệm vụ và giảipháp cũng như kế hoạch dạy tin học và ứng dụng CNTT trong nhà trường ViệtNam giai đoạn 2004 – 2006
58/2003/QĐ-Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 246/2005/QĐ-TTg ngày6/10/2005 phê duyệt chiến lược phát triển CNTT và truyền thông Việt Nam đếnnăm 2010 và định hướng đến năm 2020 khẳng định quan điểm phát triển CNTTnước ta: “CNTT là công cụ quan trọng hàng đầu để thực hiện mục tiêu thiênniên kỷ, hình thành xã hội thông tin, rút ngắn quá trình CNH-HĐH đất nước
Trang 17Ứng dụng rộng rãi CNTT là yếu tố có ý nghĩa chiến lược, góp phần tăng trưởngkinh tế, phát triển xã hội và tăng năng suất, hiệu suất lao động Ứng dụng CNTTphải gắn với quá trình đổi mới và bám sát mục tiêu phát triển KT-XH, phải đượclồng ghép trong các chương trình, hoạt động chính trị, quản lý, kinh tế, văn hoá,
xã hội, khoa học công nghệ và an ninh quốc phòng.”
Ngày 10/4/2007, Chính phủ ra Nghị định số 64/2007/NĐ-CP về Ứngdụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước nhằm tăng cường việc ứngdụng CNTT trong các cơ quan nhà nước
Ngày 31/7/2007, Bộ Giáo dục và Đào tạo ra Chỉ thị số BGDĐT về nhiệm vụ trọng tâm của năm học 2007 – 2008 Theo đó, Giáo dụcphổ thông “Ứng dụng tin học để thực hiện giáo án điện tử, xây dựng ngân hàng
39/2007/CT-đề kiểm tra tất cả các môn, xây dựng bộ tài liệu hướng dẫn giáo viên đổi mớiphương pháp dạy học, phát triển và ứng dụng các phần mềm mô phỏng phục vụdạy học, xây cho mỗ dựng học bạ điện tử, xây dựng diễn đàn đổi mới phươngpháp và công cụ dạy học trên trang thông tin điện tử (website) của Bộ Giáo dục
và Đào tạo”
Ngày 10/12/2007 Bộ Giáo dục và Đào tạo ra văn bản số CNTT về việc đẩy mạnh, triển khai một số hoạt động về CNTT: Triển khai việccung cấp email với tên miền @moet,edu.vn; triển khai hệ thống thông tin quản
12966/BGD-ĐT-lý giáo dục; khai thác và sử dụng mã nguồn mở trong quản 12966/BGD-ĐT-lý và giảng dạy; triểnkhai hệ thống họp qua mạng internet và video; triển khai hội thảo bài giảng điện
tử eLearning; định hướng thi đua về CNTT
Chỉ thị số 47/2008/CT-BGDĐT ngày 13/8/2008 về trọng tâm năm học
2008 – 2009 : “Năm học đẩy mạnh ứng dụng CNTT, đổi mới quản lý tài chính
và triển khai phong trào xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực.” Chỉthị cũng nêu rõ: “Đẩy mạnh một các hợp lý triển khai ứng dụng CNTT trong đổimới phương pháp dạy và học ở từng cấp học,” “…đẩy mạnh ứng dụng CNTTtrong quản lý giáo dục.” “…phát triển cơ sở hạ tầng CNTT.”
Trang 18Chỉ thị 55/2008/CT-BGDĐT-CNTT ngày 30/9/2008 về “tăng cườnggiảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục giai đoạn 2008 –2012”….
Ngày 27/07/2011 Bộ Giáo dục và Đào tạo ra văn bản số CNTT về hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ CNTT năm học 2011 – 2012 Theo đó,các cơ sở giáo dục cần quán triệt và nâng cao nhận thức trách nhiệm về tinh thần
4960/BGDĐT-và nội dung các văn bản quy phạm pháp luật về CNTT; Xây dựng kế hoạch dạy,học và ứng dụng CNTT giai đoạn 2011 – 2015; Đẩy mạnh ứng dụng CNTTtrong điều hành và quản lý giáo dục…
Một trong những đặc điểm nổi bật nhất của xu hướng giáo dục hiện đại là
sự thay đổi trong mô hình giáo dục Trong triết lý giáo dục mới này, học sinh làtrung tâm của mô hình giáo dục thay cho giáo viên như trong mô hình truyềnthống của giáo dục Việt Nam
Với xu thế thay đổi mô hình giáo dục như trên, trường học phải đổi mớimôi trường giáo dục Mọi tài nguyên, nguồn lực trong mỗi trường học cần tậptrung vào việc tạo lập một môi trường học tập cởi mở, thân thiện và sáng tạo chohọc sinh Một môi trường giáo dục hiện đại sẽ cung cấp tối đa các công cụ phục
vụ học tập và khả năng tự học, tìm kiếm thông tin Kỹ năng giải quyết công việc
và xử lý thông tin chính là cốt lõi của phương thức giáo dục này Để hiện thựchoá những giá trị cốt lõi trên, CNTT là một công cụ hữu hiệu Với sự thay đổicăn bản về mô hình giáo dục trong trường học, vai trò CNTT trở nên đặc biệtquan trọng CNTT là công cụ cần thiết, phục vụ hiệu quả các quy trình quản lýtrong trường học Đặc điểm nổi trội nhất là thông qua dữ liệu, thông tin được lưutrữ, xử lý, các tiêu chí quản lý trong nhà trường đang dịch chuyển từ định tính sang định lượng Bên cạnh đó, với bản chất của CNTT, sự minh bạch hoá vàchia sẻ thông tin, dữ liệu giữa các thành viên cũng như tốc độ xử lý thông tincủa máy tính sẽ làm tăng hiệu quả vận hành, quản lý nhà trường
CNTT sẽ nâng cao hiệu quả hoạt động của trường học nói chung vànghiệp vụ quản lý của các cấp quản lý giáo dục nói riêng Bên cạnh đó với khả
Trang 19năng chia sẻ, cơ sở dữ liệu (CSDL) và trang thiết bị CNTT trong nhà trường cóthể được tận dụng một các hiệu quả cho cả 3 đối tượng: người quản lý, giáoviên, học sinh Với chủ trương ứng dụng CNTT sâu rộng trong nhà trường,CNTT sẽ trở thành tài sản chung của nhà trường, tham gia tích cực vào quá trìnhnâng cao hiệu quả hoạt động của nhà trường Tài sản CNTT trong nhà trườnggồm có các trang thiệt bị (tài sản hữu hình) và hệ thống phần mềm/CSDL (tàisản vô hình) Trong hai thành phần này, phần mềm và CSDL thường dễ bị bỏqua hoặc đánh giá thấp Tuy nhiên, đây mới là yếu tố chính, ảnh hưởng lớn nhấttới hiệu quả làm việc của cả tổ chức Nhà quản lý phải luôn nhận thức được giátrị quan trọng của tài sản CNTT, đặc biệt là phần mềm để từ đó có chiến lượcdài hạn nâng cao giá trị nguồn tài sản này, thực hiện chiến lược và thông qua đótăng cường năng lực tổng hợp của nhà trường.
Phát triển nguồn nhân lực cho CNTT là yếu tố then chốt có ý nghĩa quyếtđịnh đối với việc ứng dụng và phát triền CNTT Đẩy mạnh ứng dụng CNTTtrong công tác giáo dục – đào tạo ở các cấp học, bậc học, ngành học; phát triểncác hình thức đào tạo từ xa phục vụ nhu cầu học tập của toàn xã hội; đặc biệt tậptrung phát triển mạng máy tính phục vụ cho giáo dục và đào tạo, kết nối internettới tất cả các cơ sở giáo dục và đào tạo…là những nổ lực của toàn ngành giáodục nhằm tạo bước đột phá về chất trong công cuộc canh tân giáo dục
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài.
1.2.1 Công nghệ thông tin (tiếng Anh: Information Technology, viết tắt là IT)
là ngành khoa học ứng dụng công nghệ quản lý và xử lý thông tin Đó là ngành
sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý,truyền đưa và thu thập thông tin
1.2.2 Email: Thư điện tử còn được gọi tắt là E-Mail (Electronic Mail) là cách
gửi điện thư rất phổ biến E-Mail có nhiều cấu trúc khác nhau tùy thuộc vào hệthống máy vi tính của người sử dụng Mặc dù khác nhau về cấu trúc nhưng tất
cả đều có một mục đích chung là gửi hoặc nhận thư điện tử từ một nơi này đếnmột nơi khác nhanh chóng Ngày nay, nhờ sự phát triển mạnh mẽ của Internet
Trang 20(Mạng Lưới Truyền Tin Toàn Cầu) người ta có thể gửi điện thư tới các quốc giatrên toàn thế giới Với lợi ích như vậy nên thư điện tử hầu như trở thành một nhucầu cần phải có của người sử dụng máy vi tính.
1.2.3 Chính phủ điện tử:
Chính phủ Điện tử (e-Government) là tên gọi của một chính phủ mà mọi
hoạt động của nhà nước được "điện tử hóa", "mạng hóa" Tuy nhiên, chính phủđiện tử không đơn thuần là máy tính, mạng Internet; mà là sự đổi mới toàn diệncác quan hệ (đặc biệt là quan hệ giữa chính quyền và công dân), các nguồn lực,các quy trình, phương thức hoạt động và bản thân nội dung các hoạt động củachính quyền trung ương và địa phương, và ngay cả các quan niệm về các hoạtđộng đó
Chính phủ Điện tử là ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT)
để các cơ quan của Chính quyền từ trung ương và địa phương đổi mới, làm việc
có hiệu lực, hiệu quả và minh bạch hơn; cung cấp thông tin, dịch vụ tốt hơn chongười dân, doanh nghiệp và các tổ chức; và tạo điều kiện thuận lợi hơn chongười dân thực hiện quyền dân chủ và tham gia quản lý Nhà nước
1.2.4 Công nghệ thông tin và truyền thông: (tiếng anh: Information
Communication Technology, viết tắt ICT) được định nghĩa là một tập hợp các
tài nguyên và công cụ công nghệ được sử dụng để trao đổi, tạo ra, truyền đưa,lưu trữ và quản lý thông tin Những công nghệ này bao gồm sóng phát thanh,truyền hình , video, DVD, điện thoại, hệ thống thông tin vệ tinh, máy tính, mạngmáy tính, phần mềm và những dịch vụ kèm theo như hội thảo truyền hình, thưđiện tử…
Ở Việt Nam thì thuật ngữ Công nghệ thông tin được hiểu và định nghĩatrong nghị quyết 49/CP về phát triển công nghệ thông tin của chính phủ ViệtNam Theo đó, “Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, cácphương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại, chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễnthông nhằm tổ chức khái thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên
Trang 21thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của conngười và xã hội”.
Theo Luật Công nghệ thông tin – 2006 do Quốc hội thông qua ngày 29tháng 6 năm 2006 giải thích thuật ngữ: “Công nghệ thông tin là tập hợp cácphương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất,truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số”
Những năm gần đây, với sự phát triển vượt bậc của máy tính, mạnginternet và những lợi ích mà chúng mang lại cho xã hội nói chung, cho giáo dụcnói riêng, khi nói đến công nghệ thông tin người ta thường chỉ nghĩ đến máytính và mạng internet Tuy nhiên, công nghệ thông tin và truyền thông không chỉ
là những công nghệ mới Những công nghệ cũ như là điện thoại, phát thanhtruyền hình, mặc dù bây giờ chúng ít được quan tâm trong lĩnh vực giáo dục,nhưng chúng vẫn còn đóng góp nhiều hiệu quả to lớn trong hoạt động dạy vàhọc, đặc biệt là các nước đang phát triển với nhiều khu vực còn hạn chế tiếp cậnvới máy tính Còn đối với các nước phát triển, cụ thể là hệ thống giáo dục Tâyphương, CNTT và truyền thông đã được chính thức tích hợp vào chương trìnhhọc phổ thông Người ta đã nhanh chóng nhận ra rằng CNTT và truyền thôngbây giờ là một trong số các viên gạch nền tảng của xã hội hiện đại Nhiều quốcgia xem việc nắm vững những khái niệm và thành thạo các kỹ năng công nghệthông tin và truyền thông cơ bản là những năng lực tối thiểu của người học(cùng với năng lực đọc, viết và tính toán)
Như vậy, thuật ngữ CNTT (IT) và CNTT và truyền thông (ICT), mặc dù
có sự khác biệt trong ngữ nghĩa tiếng Anh nhưng trong các văn bản Việt Nam,hai thuật ngữ này hầu như không khác biệt Do đó, trong luận này, thuật ngữCNTT được hiểu “ là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ
kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổithông tin số”, viết tắt là ICT Nội hàm của thuật ngữ này không chỉ giới hạn ởmáy tính và Internet mà còn bao hàm cả những công nghệ cũ (như là sóng phátthanh, truyền hình, đầu đĩa…) cho đến các công nghệ mới (như bảng tương tác,
Trang 22các thiết bị kỹ thuật số, hệ thống thông tin vệ tinh, máy tính, mạng máy tính,phần mềm và những dịch vụ kèm theo như hội thảo truyền hình, thư điện tử…)
1.2.5 Ứng dụng CNTT: là việc sử dụng CNTT vào các hoạt động thuộc lĩnh
vực kinh tế - xã hội , đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khácnhằm nâng cao năng suất, chất lượng hiệu quả của các hoạt động này (điều 4,Luật CNTT)
- Việc ứng dụng CNTT trong việc dạy học đang phát triển ngày càngnhiều về số lượng ở Việt Nam Hình thức áp dụng CNTT rất đa dạng
- Khẳng định CNTT là phương tiện trong công việc, Steve Job – Nhà sánglập Apple phát biều:
+ Phương tiện của thế kỷ qua là trang in
+ Phương tiện của thế kỷ này là CNTT và truyền thông và ngườihọc sáng tạo bằng phương tiện này
+ Khi người học tự mình sáng tạo là quá trình học đang diễn ra vàngười thầy là người hỗ trợ và thúc đẩy quá trình đó
- Làm tăng thêm ý nghĩa CNTT là công cụ hỗ trợ cho công tác giáo dục,quản lý giáo dục; khẳng định CNTT là chất xúc tác, môi giới hữu hiệu để pháthuy chất lượng quản lý, Maria CantWell cho rằng:
“+ Vấn đề thực ra không phải là công nghệ mà là bản chất tươngtác của giáo dục
+ Khi tương tác với thông tin, học sinh sẽ nhớ đến thông tin đónhiều hơn.”
1.2.6 Khái niệm về quản lý, chức năng quản lý:
1.2.6.1 Khái niệm về quản lý:
Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện từ buổi bình minh của xã hộiloài người Con người trong quá trình hoạt động của mình, để đạt được mục tiêuphải dự kiến kế hoạch, sắp xếp trình tự tiến hành và tác động đến đối tượng bằngcách nào đó theo khả năng của mình Trong quá trình lao động tập thể càngkhông thể thiếu được kế hoạch, sự phân công và điều hành chung, sự hợp tác và
Trang 23quản lý lao động… Như vậy, quản lý tất yếu nảy sinh và nó chính là một phạmtrù tồn tại khách quan được ra đời từ bản thân, nhu cầu của mọi xã hội, mọi quốcgia trong mọi thời đại.
Quản lý là một khái niệm được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực củađời sống xã hội Do đối tượng quản lý phong phú, đa dạng tuỳ thuộc vào từnglĩnh vực hoạt động cụ thể, từng giai đoạn phát triển của xã hội mà có nhữngcách hiểu khác nhau về quản lý:
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, “Quản lý là chức năng và hoạt độngcủa hệ thống có tổ chức thuộc các giới khác nhau (sinh học, kỹ thuật, xã hội),bảo đảm giữ gìn một cơ cấu ổn định nhất định, duy trì sự hoát động tối ưu vàbảo đảm thực hiện những chương trình và mục tiêu của hệ thống đó”
Theo từ điển Tiếng Việt, “Quản lý là trông coi và giữ gìn theo những yêucầu nhất định” [28]
Còn theo Frederik Winslon Taylo (1856 – 1915), người Mỹ, được coi là
“Cha đẻ của thuyết quản lý khoa học”, là một trong những người mở ra “Kỷnguyên vàng” trong quản lý đã thể hiện tư tưởng cốt lõi của mình trong quản lýlà: “Mỗi loại công việc dù nhỏ nhất đều phải chuyên môn hoá và đều phải quản
lý chặt chẽ” Ông cho rằng: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái gìcần làm và làm cái đó như thế nào bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất.” [26]
H Fayol là một nhà quản lý người Pháp xuất sắc, ông cho rằng: “Quản lýhành chính là dự báo và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểmtra” [27]
Các-Mác đã từng khẳng định: “Bất cứ lao động xã hội hay cộng đồng trựctiếp nào được thực hiện ở quy mô tương đối lớn đều cần ở chừng mực nhất địnhđến sự quản lý Quản lý là xác lập sự tương hợp giữa các công việc cá nhân vàhình thành những chức năng chung, xuất hiện trong toàn bộ cơ chế sản xuất,khác với sự vận động của bộ phận riêng lẻ của nó”
Các nhà nghiên cứu Việt Nam, xuất phát từ gócđộ khác nhau cũng đã đưa
ra những khái niệm quản lý
Trang 24Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Quản lý là tácđộng có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trongmột tổ chức nhằm cho tổ chức đó vận hành và đạt được mục đích của mình” [6]
Tiếp cận quan điểm hệ thống, tác giả Hà Thế Ngữ cho rằng: “Quản lý làdựa vào các quy luật khách quan vốn có của hệ thống để tác động đến hệ thốngnhằm chuyển hệ thống đó sang một trạng thái mới” [14]
Những quan niệm về quản lý như trên tuy có các cách tiếp cận khác nhaunhưng chúng đều bao hàm một ý nghĩa chung, đó là: Quản lý là một hoạt động
có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một
tổ chức nhằm đưa tổ chức vận hành và đạt được mục tiêu chung đã được xácđịnh trước
- Hoạt động quản lý bao giờ cũng là hoạt động hướng đích
- Khi xem xét về đối tượng quản lý, các quan điểm đều thống nhấtvới nhau ở các yếu tố cơ bản trong hoạt động quản lý là:
+ Người chỉ huy – điều khiển (chủ thể quản lý)
+ Người, hoặc đồ vật…bị chỉ huy, điều khiển (khách thể quản lý) + Phải có mục đích, nhiệm vụ hoạt động chung
Như vậy, xuất phát điểm của hoạt động quản lý là con người điều khiển,điều hành, tiếp theo là đối tượng quản lý
Quản lý tồn tại với tư cách là một hệ thống, quản lý có cấu trúc và vậnđộng trong một môi trường nhất định Hệ thống quản lý được tạo bởi các yếu tố:
cơ chế quản lý, chủ thể quản lý, đối tượng quản lý và mục tiêu quản lý
Trang 251.2.6.2 Chức năng quản lý
“Chức năng quản lý là một dạng hoạt động quản lý chuyên biệt, thông qua
đó chủ thể tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện một mục tiêu nhấtđịnh”.[14]
Theo quan điểm quản lý hiện đại, quản lý có 4 chức chức năng cơ bản:Chức năng kế hoạch hoá, chức năng tổ chức, chức năng chỉ đạo và chức năngkiểm tra, đánh giá
Chức năng kế hoạch hoá:
Đây là chức năng cơ bản nhất của quản lý, chức năng này bao gồm xácđịnh mục tiêu, xây dựng chương trình hành động và thiết lập các bước đi cụ thể
để đạt được mục tiêu trong một thời gian nhất định của hệ thống quản lý
Chức năng tổ chức:
Để thực hiện kế hoạch đã đề ra, nhà quản lý phải tiến hành sắp xếp, lựachọn, triển khai các nội dung theo đúng kế hoạch đã được xác định, một tổ chứcnhân sự khi lập thành hệ thống sẽ có sức mạnh mới mà từng thành viên khôngthể có được Chính vì thế việc sắp xếp nhân sự khoa học, hợp lý sẽ tạo nên tổchức vững mạnh hơn nhiều lần so với khả năng vốn có của nó Tổ chức là khâuquan trọng nhất trong quá trình quản lý, nhà quản lý không được xem thườngviệc bố trí sắp xếp đội ngũ Phân chia công việc, cơ chế phối hợp tạo thành sựliên kết giữa các thành viên trong tổ chức và cuối cùng tổ chức phải theo dõiđánh giá tính hiệu nghiệm của cơ cấu tổ chức và tiến hành điều chỉnh khi cầnthiết
Chức năng kiểm tra, đánh giá:
Trang 26Kiểm tra, đánh giá là chức năng rất quan trọng của công tác quản lý ở bất
kỳ một cơ quan, tổ chức nào Quản lý mà không có kiểm tra đánh giá thì quản lý
sẽ kém hiệu quả và dễ trở nên quan liêu Qua kiểm tra, người quản lý nhận diện
rõ năng lực của bản thân mình, năng lực của từng thành viên trong tổ chức đơn
vị, qua kiểm tra sẽ là kinh nghiệm cho việc lập kế hoạch, tổ chức, và chỉ đạo củađơn vị tốt hơn
Quá trình quản lý là một chu trình khép kín, trong quá trình thực hiệntừng chức năng đều có sự tham gia của 3 chức năng còn lại Do vậy trong quátrình quản lý, bản thân người quản lý phải lồng ghép các chức năng trên, tuỳtheo từng nội dung mà chức năng nào là nổi trội cần quan tâm để thực hiện.[13]
1.2.7 Khái niệm về Giáo dục, quản lý giáo dục.
1.2.7.1 Giáo dục (GD).
Giáo dục là quá trình đào tạo con người một cách có mục đích, nhằmchuẩn bị cho con người tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất, nóđược thực hiện bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệmlịch sử - xã hội của loài người Dạy học là một bộ phận của giáo dục, đó là quátrình tác động qua lại giữa giáo viên và học sinh nhằm truyền thụ và lĩnh hội
Trang 27những tri thức khoa học, những kỹ năng và kỹ xảo hoạt động nhận thức thựctiễn, để trên cơ sở đó, hình thành thế giới quan, phát triển năng lực sáng tạo vàxây dựng các phẩm chất nhân cách theo mục đích giáo dục.
GD và dạy học là hiện tượng xã hội đặc trưng của xã hội loài người GDnảy sinh cùng xã hội loài người, trở thành một chức năng sinh hoạt không thểthiếu được và không bao giờ mất đi ở mọi giai đoạn phat triển của xã hội GD làmột bộ phận của quá trình tái sản xuất mở rộng sức lao động xã hội, một trongnhững nhân tố quan trọng nhất thúc đẩy xã hội phát triển về mọi mặt GD mangtính lịch sử cụ thể, tính chất, mục đích, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp và tổchức GD biến đổi theo các giai đoạn phát triển của xã hội, theo các chế độ chínhtrị - kinh tế của xã hội Do đó trình độ khoa học công nghệ, đặc biệt là CNTT,phát triển buộc giáo dục cần được cải tổ để có thể tạo ra và tái tạo lại sức laođộng xã hội mới nhằm tạo động lực cho mọi tiến bộ xã hội trên nhiều lĩnh vực
1.2.7.2 Quản lý giáo dục.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoáVIII đã viết: “Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tớikhách thể quản lý nhằm đưa ra hoạt động sư phạm của hệ thồng giáo dục đạt tớikết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất”
Theo nhà giáo dục Liên Xô M.I Kônđacốp: “Quản lý giáo dục là tác động
có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấpkhác nhau đến tất cả các mắc xích của hệ thống nhằm mục đích bảo đảm việchình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quytắc chung của xã hội cũng như những quy luật của quá trình giáo dục, của sựphát triển tâm thế và tâm lý trẻ em”
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý Giáo dục là hệ thống nhữngtác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của các chủ thể quản lý, nhằmlàm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý GD của Đảng, thực hiện đượccác tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam, thực hiện được các mục tiêu GD
đề ra” [15]
Trang 28Công tác QLGD bao gồm một số lĩnh vực chủ yếu sau đây:
Quản lý việc thực hiện mục tiêu giáo dục: Mục tiêu giáo dục là
kiểu người, mô hình nhân cách mà nhà trường cần đào tạo, đáp ứng yêu cầu của
xã hội Tuy diễn đạt khác nhau, nhưng mục tiêu giáo dục của các nước trên thếgiới đều hướng vào việc hình thành ở người học 3 yếu tố: tri thức, kỹ năng vàthái độ Để mục tiêu giáo dục của các nhà trường được thực hiện một cách cóhiệu quả, cần phải có sự quản lý chặt chẽ, khoa học
Quản lý chương trình, kế hoạch dạy học – giáo dục: nhằm đảm
bảo cho chương trình, kế hoạch dạy học – giáo dục của nhà trường được thựchiện một cách đầy đủ, đúng đắn Đây là lĩnh vực trung tâm trong công tác quản
lý của các nhà trường
Quản lý việc đổi mới phương pháp dạy học – giáo dục: Cùng
với nội dung, chương trình dạy học – giáo dục các nhà trường đang đẩy mạnhđổi mới phương pháp dạy học – giáo dục Tuy nhiên để việc đổi mới phươngpháp dạy học trong các nhà trường đem lại kết quả như mong muốn cần phảităng cường công tác quản lý lĩnh vực này như: cần làm rõ quan niệm về đổi mớiPPDH- GD trong nhà trường; định hướng việc đổi mới PPDH – GD trong nhàtrường; các tiêu chí đánh giá đổi mới PPDH –GD trong các nhà trường
Quản lý chất lượng giáo dục của nhà trường: Chất lượng GD
đang trở thành vấn đề quan tâm hàng đầu của bất kỳ một nhà trường nào Quản
lý chất lượng GD đang trở thành yêu cầu cấp thiết trong quản lý nhà trường Do
đó cần nghiên cứu các vấn đề sau: Nghiên cứu hệ tiêu chuẩn quản lý chất lượngISO 9000 và phương pháp quản lý chất lượng tổng thể; Nghiên cứu quy trìnhkiểm định và đánh giá chất lượng GD trong các nhà trường; Nghiên cứu việcphân cấp công tác QL chất lượng GD trong các nhà trường; Nghiên cứu việcứng dụng CNTT trong QL chất lượng GD
Quản lý cơ sở vật chất của nhà trường: Có QL tốt cơ sở vật chất
(CSVC) mới đảm bảo cho các hoạt động của nhà trường triển khai có hiệu quả.Cần tập trung các vấn đề sau: Nghiên cứu việc quản lý thư viện của trường khi
Trang 29nối mạng, với sách, giáo trình…; Nghiên cứu việc QL các trang thiết bị giảngdạy và học tập; Nghiên cứu việc QL các thiết bị tin học; Nghiên cứu quy hoạchtổng thể về sử dụng và phát triển CSVC trong kế hoạch chiến lược của nhàtrường.
Quản lý giáo viên, nhân viên: đây là nội dung rất quan trọng trong
công tác QL nhà trường, cần tập trung các vấn đề sau: Nghiên cứu việc thựchiện quyền lợi và nghĩa vụ đối với GV, nhân viên theo điều lệ các trường;Nghiên cứu nội dung và phương pháp QL phù hợp với từng đối tượng; Nghiêncứu tiêu chí đánh giá, xếp loại GV, nhân viên…
Quản lý việc xây dựng và phát triển đội ngũ: Nghiên cứu quy
hoạch bổ nhiệm CBQL đáp ứng mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ phù hợp vớiđoiều kiện cụ thể của từng trường; Nghiên cứu quy hoạch phát triển đội ngũgiáo viên, nhân viên của nhà trường…
Sơ đồ 1.3 Các yếu tố hợp thành quá trình giáo dục
1.3 Ứng dụng CNTT trong quản lý giáo dục, QL nhà trường
“QLGD, QL nhà trường có thể hiểu là một chuỗi tác động hợp lý (có mục
đích, tự giác, hệ thống, có kế hoạch) mang tính tổ chức, sư phạm của chủ thểquản lý đến tập thể GV và HS, đến những lực lượng trong và ngoài nhà trường
MT: mục tiêu ; GV: giáo viên HS: học sinh ND: nội dung PP: phương pháp QL: quản lý CSVC: cơ sở vật chất
MT
CSV C
QL
Trang 30nhằm huy động họ cùng hợp tác, phối hợp, tham gia vào mọi hoạt động của nhàtrường nhằm làm cho quá trình này vận hành tối ưu để đạt được những mục tiêu
1.3.1 Vai trò của CNTT trong giáo dục:
Trong xu thế hội nhập với thế giới của Việt Nam, mọi thành phần, tổchức, ngành nghề trong nước cũng không đi ra ngoài xu hướng đó Lĩnh vựcgiáo dục – đào tạo, đặc biệt là giáo dục phổ thông, cũng không phải là ngoại lệ.Điều quan trọng trong quá trình hội nhập này là bản thân chúng ta luôn cập nhậtđược những tiến bộ trong cách dạy, cách học và phương thức QLGD tiên tiếntrên thế giới bên cạnh đó, tuỳ theo hoàn cảnh cụ thể của đơn vị mà các nhàQLGD áp dụng cho đơn vị, tổ chức của mình
Một trong những đặc điểm nổi bật của xu hướng GD hiện đại là sự thayđổi trong mô hình GD Trong triết lý GD mới này, HS là trung tâm của mô hìnhgiáo dục thay cho GV như trong mô hình truyền thống của GD Việt Nam Điềunày có lẻ là sự thay đổi căn bản trong nhận thức đối với nền GD Á Đông – nơi
đề cao vị trí của người thầy Tuy nhiên, trong thời kỳ hội nhập, hiệu quả vậnhành của một tổ chức hay cá nhân được đánh giá dự trên kết quả chất lượng thìviệc thay đổi tư duy GD này là hợp lý, vì HS là sản phẩm của trường học, chấtlượng HS chính là thước đo, tiêu chí đánh giá căn bản nhất đối với sự vận hànhcủa đơn vị, tổ chức
Ứng dụng CNTT trong dạy học là xu hướng tất yếu trong thế kỷ 21.Chúng ta đang sống trong thời đại của nền kinh tế tri thức, được đặc trưng bởicác điểm sau:
- Thời đại thông tin gắn với sự hình thành xã hội thông tin – xã hội mà sốngười tham gia vào công việc xử lý thông tin nhiều hơn tổng số người làm việc
Trang 31trong hai lĩnh vực nông nghiệp và công nghiệp cộng lại Trong bối cảnh đó,thông tin trở thành “lực lượng sản xuất”.
- Trong thời đại thông tin, thành công không chỉ đơn thuần phụ thuộc vàoviệc biết dùng máy tính, mà còn thụ thuộc vào việc nắm bắt thấu đáo các nguyêntắc của CNTT, khả năng của CNTT và hạn chế của nó
- Thời đại thông tin biến đổi các công cụ lao động và quy trình công việctrước đây theo hiệu quả, năng suất
- Trong thời đại thông tin, CNTT được nhúng ghép vào hầu hết các sảnphẩm và dịch vụ kinh tế - xã hội làm tăng giá trị hàng hoá và dịch vụ Điều nàycũng khẳng định một vấn đề cụ thể là CNTT đã làm tăng chất lượng “sản phẩm”của công nghệ dạy học sản phẩm đó chính là những người cán bộ được đào tạoqua nhà trường [20,Trg24]
1.3.2 Ứng dụng CNTT đối với việc phát triển giáo dục:
1.3.2.1 Nguyên tắc ứng dụng CNTT: Căn cứ vào điều 24 Luật CNTT:
Nguyên tắc ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan Nhà nước:
“1 Việc ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước phảiđược ưu tiên, bảo đảm tính công khai, minh bạch nhằm nâng cao hiệu lực, hiệuquả hoạt động của cơ quan nhà nước; tạo điều kiện để nhân dân thực hiện tốtquyền và nghĩa vụ công dân
2 Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhànước phải thúc đẩy chương trình đổi mới hoạt động của cơ quan nhà nước vàchương trình cải cách hành chính
3 Việc cung cấp, trao đổi thông tin phải bảo đảm chính xác và phù hợp với mục đích sử dụng
4 Quy trình, thủ tục hoạt động phải công khai, minh bạch
5 Sử dụng thống nhất tiêu chuẩn, bảo đảm tính tương thích về công nghệ trong toàn bộ hệ thống thông tin của các cơ quan nhà nước
6 Bảo đảm an ninh, an toàn, tiết kiệm và có hiệu quả
Trang 327 Người đứng đầu cơ quan nhà nước phải chịu trách nhiệm về việc ứngdụng công nghệ thông tin thuộc thẩm quyền quản lý của mình.”
1.3.2.2 Một số phần mềm ứng dụng trong quản lý giáo dục: V.EMIS
Dự án hỗ trợ đổi mới quản lý giáo dục SREM (Support to the Renovation
of Education Management) bắt đầu thực hiện vào tháng 4 năm 2006 giữa cộngđồng châu Âu và Chính phủ Việt Nam, được ký kết tại Brussel ngày 18/7/2005
và tại Hà Nội ngày 1/9/2005.[19]
Dự án SREM được giao nhiệm vụ xây dựng một hệ thống phần mềm QLcác hoạt động trong trường học (được gọi là V.EMIS) được phát hành miễn phítới tất cả cơ sở giáo dục nhằm thực hiện tin học hoá công tác QLGD
Hình 1: Màn hình hệ thống V.EMISNhư vậy V.MIS là một hệ thống phần mềm ứng dụng để quản lý các hoạtđộng của trường phổ thông; là một hệ thống tương đối hoàn chỉnh, liên kết nhiềumảng quản lý khác nhau trên một hệ thống CSDL chung
V.MIS phiên bản dùng trong trường học có thể cung cấp một cách đầy đủthông tin số liệu về hiện trạng phát triển nhà trường Sử dụng hệ thống này, ngườiQLGD sẽ tiết kiệm được thời gian để nắm bắt các diễn biến các hoạt động trongtrường học, dễ dàng lập những bảng thống kê báo cáo, nắm được chính xác vềtình trạng của trường lớp, từ đó có những quyết định điều chỉnh thích hợp
Trang 33- SMIS : Phân hệ quản lý học sinh
- TPS : Phân hệ quản lý giảng dạy
- IMIS : Phân hệ quản lý thanh tra
Chức năng chính của phân hệ quản trị hệ thống:
o Quản lý bộ danh mục dùng chung
o Quản lý việc phân quyền cho tất cả các phân hệ
o Quản lý việc sao lưu phục hồi tất cả các phân hệ
o Quản lý việc đăng nhập vào hệ thống
o Bảo mật hệ thống
Trang 34b) Phân hệ quản lý tài chính, tài sản (FMIS)
FMIS (Finance Management Information System) là một phần mềm quản
lý tài chính, tài sản cho giáo dục phổ thông, giáo dục mầm non Các chứcnăng chính của FMIS:
Trang 35- Theo dõi công nợ chi tiết theo đối tượng
- Theo dõi chi tiết lịch sử biến động tài sản cố định
- Cung cấp đầy đủ các loại sổ kế toán, các báo cáo tài chính
- Tự động tất toán và chuyển số dư cho năm sau
- Báo cáo số liệu tài chính lên cấp trên
- Lưu trữ dữ liệu kế toán liên năm
Trang 36c) Phân hệ quản lý học sinh (SMIS)
SMIS (School Management Information System) là phân hệ quản lý học sinh cho giáo dục phổ thông Các chức năng chính của SMIS:
- Quản lý hồ sơ học sinh
- Quá trình học tập và rèn luyện của học sinh:
Theo dõi học sinh bỏ học, nghỉ học
Theo dõi học sinh chuyển trường
Theo dõi học sinh bị kỷ luật
Theo dõi hạnh kiểm
Tính điểm, xếp loại học tập, xét danh hiệu thi đua
Trang 37d) Phân hệ quản lý nhân sự (PMIS)
Phân hệ quản lý nhân sự giúp hiệu trưởng nắm được tổng thể về đội ngũ,trình độ đào tao; trình độ ngoại ngữ; quá trình lương….trên cơ sở đó có kếhoạch xây dựng đội ngũ cán bộ giáo viên đáp ứng yêu cầu
Phân hệ này gồm 3 phân hệ nhỏ:
- Phân hệ PMIS (Quản lý hồ sơ cán bộ viên chức);
- Phân hệ theo dõi quá trình giảng dạy;
- Phân hệ hỗ trợ thời khóa biểu
-e) Phân hệ lập kế hoạch giảng dạy (TPS)
Phân hệ Quản lí giảng dạy đảm nhiệm chức năng lập thời khóa biểu GV
tham gia giảng dạy lấy từ Cơ sở dữ liệu PMIS-phân hệ quản lý nhân sự ;Tên lớp, tên tổ chuyên môn lấy từ phân hệ SMIS (quản lý học sinh) điềunày làm cho hệ thống có tính tối ưu cao không dư thừa dữ liệu
Trang 38- PMIS trong hệ thống cung cấp danh sách giáo viên phục vụ cho các phân
hệ FMIS, SMIS, TPS(hỗ trợ xếp thời khóa biểu)…
- SMIS cung cấp thông tin cho các phân hệ như: TPS, FMIS, IMIS, …
- FMIS cung cấp thông tin cho phân hệ IMIS…
MÔ HÌNH TRAO ĐỔI THÔNG TIN GIỮA CÁC PHÂN HỆ CỦA HỆ THỐNG
Trang 391.3.2.3 Phần mềm SMAS 2.0:
Ngày 25/9/2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo và Tổng công ty viễn thông
quân đội Viettel đã long trọng tổ chức Lễ Khởi công Mạng giáo dục, bao gồm
hai phần chính: Kết nối Internet tới các trường và triển khai các các ứng dụngtrên mạng Chương trình đã nhận được sự quan tâm, chỉ đạo trực tiếp của PhóThủ tướng Nguyễn Thiện Nhân, được Bộ Giáo dục và đào tạo, Cục CNTT - BộGiáo dục và Đào tạo, Ủy ban nhân dân các tỉnh, các Sở giáo dục và đào tạo trên
cả nước tích cực phối hợp, triển khai đồng bộ
- Phần mềm Smas 2.0 quản lý nhà trường là phân mềm hỗ trợ các nhà
trường phổ thông trong các công tác quản lý hồ sơ học sinh, hồ sơ giáo viên, quátrình học tập và rèn luyện của học sinh Quá trình công tác, giảng dạy của giáoviên, quản lý các kỳ thi của học sinh Hệ thống là một giải pháp tổng thể vàđồng nhất trong việc tin học hóa công tác quản lý học sinh, giáo viên ở các nhàtrường
Trang 40- Hệ thống sẽ đáp ứng được các nghiệp vụ quản lý sau:
o Quản lý hồ sơ giáo viên
o Quản lý công tác giảng dạy của giáo viên
o Quản lý hồ sơ học sinh
o Quản lý quá trình học tập và rèn luyện của học sinh
o Quản lý thi: Quản lý các kỳ thi do nhà trường tổ chức cho học sinh
KẾT LUẬN CHƯƠNG I:
Ngày nay việc ứng dụng ICT đã được hầu hết các nước trên thế giới quantâm và đã trở nên một vấn đề toàn cầu CNTT ngày càng có nhiều ứng dụng trênmọi lãnh vực, đặc biệt đối với giáo dục có nhiều ứng dụng góp phần nâng caocông tác quản lý có hiệu quả, nâng cao chất lượng giáo dục Ứng dụng CNTTtrong quản lý giáo dục là vấn đề mà ngành giáo dục – đào tạo đang rất quan tâm,thể hiện có rất nhiều văn bản chỉ đạo liên quan từ Chính phủ đến các văn bảnthuộc Bộ Giáo dục – Đào tạo Nhiều dự án thiết kế các chương trình, phần mềm
hỗ trợ công tác quản lý giáo dục, dạy học như SREM giữa cộng đồng châu Âu
và Chính phủ Việt Nam, SMAS 2.0 của tập đoàn Bưu chính Viễn thông quânđội Viettel, hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng CNTT cho các đơn vị trường học.Chính vì sự quan tâm này mà việc ứng dụng CNTT trong quản lý giáo dục ngàymột tốt hơn Tuy nhiên, thực trạng việc ứng dụng CNTT còn tuỳ thuộc vào điềukiện CSVC, các thiết bị ứng dụng CNTT, trình độ của một bộ phận CBQL, GV,
NV trong từng lĩnh vực còn hạn chế
Chính vì thế việc nghiên cứu tìm ra những giải pháp để nâng cao hiệu quảứng dụng CNTT trong công tác quản lý ở các trường THCS thuộc quận BìnhThạnh là nội dung cần thiết, những giải pháp ấy sẽ được đề xuất ở chương 3