Điểm mới và ý nghĩa thực tiễn của đề tài: Thiết lập và vận hành các quy trình giải quyết hồ sơ về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cơ sở khai thác dữ liệu địa chính đã xây dựng
Trang 1NGUYỄN THỊ HUYỀN
XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐỊA CHÍNH PHỤC VỤ CÔNG TÁC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TẠI THỊ TRẤN PHÙNG, HUYỆN ĐAN PHƯỢNG,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Thị Giang
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày…… tháng…… năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Huyền
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc TS Lê Thị Giang đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Hệ thống thông tin đất, Khoa Quản lý đất đai - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức tại Văn phòng đăng
ký đất đai chi nhánh huyện Đan Phượng, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đan Phượng, UBND thị trấn Phùng đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Hà Nội, ngày…… tháng…… năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Huyền
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình viii
Trích yếu luận văn ix
Thesis abstract x
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học hoặc thực tiễn 3
Phần 2 Tổng quan tài liệu 4
2.1 Tổng quan về cơ sở dữ liệu địa chính 4
2.1.1 Khái niệm về cơ sở dữ liệu địa chính 4
2.1.2 Nội dung cơ sở dữ liệu địa chính 4
2.1.3 Vai trò của cơ sở dữ liệu địa chính đối với phát triển kinh tế - xã hội 6
2.1.4 Xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính 7
2.1.5 Khai thác sử dụng cơ sở dữ liệu địa chính 13
2.2 Tổng quan về công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 14
2.2.1 Đăng ký đất đai 14
2.2.2 Công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 15
2.3 Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đất đai 18
2.3.1 Vai trò của công nghệ thông tin trong lĩnh vực quản lý đất đai 18
2.3.2 Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đất đai của một số nước trên thế giới 19
2.3.3 Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đất đai ở Việt Nam 21
2.4 Tình hình xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính ở Việt Nam 22
Trang 52.4.1 Tình hình xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính trong cả nước 22
2.4.2 Tình hình xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính trên địa bàn thành phố Hà Nội 25
Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 30
3.1 Địa điểm nghiên cứu 30
3.2 Thời gian nghiên cứu 30
3.3 Đối tượng/vật liệu nghiên cứu 30
3.3.1 Đối tượng nghiên cứu 30
3.3.2 Giới thiệu phần mềm sử dụng trong đề tài 30
3.4 Nội dung nghiên cứu 34
3.4.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thị trấn Phùng, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội 34
3.4.2 Thực trạng công tác quản lý đất đai và sử dụng đất 34
3.4.3 Đánh giá hiện trạng cơ sở dữ liệu địa chính của thị trấn Phùng, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội 34
3.4.4 Xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính 34
3.4.5 Khai thác cơ sở dữ liệu địa chính trong việc thiết lập quy trình giải quyết hồ sơ về cấp Giấy chứng nhận 34
3.4.6 Đánh giá cơ sở dữ liệu địa chính và các quy trình giải quyết hồ sơ về cấp giấy chứng nhận của đề tài 34
3.5 Phương pháp nghiên cứu 35
3.5.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 35
3.5.2 Phương pháp xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính 35
3.5.3 Phương pháp tổng hợp, phân tích và xử lý số liệu 36
3.5.4 Phương pháp so sánh 37
Phần 4 Kết quả và thảo luận 38
4.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thị trấn phùng, huyện đan phượng 38
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 38
4.1.2 Điều kiện kinh tế- xã hội 39
4.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiện, kinh tế - xã hội 42
4.2 Thực trạng công tác quản lý đất đai và sử dụng đất 43
Trang 64.2.1 Tình hình quản lý đất đai 43
4.2.2 Tình hình sử dụng đất đai 44
4.3 Đánh giá hiện trạng cơ sở dữ liệu địa chính tại thị trấn Phùng, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội 46
4.3.1 Hiện trạng về cơ sở dữ liệu không gian 46
4.3.2 Hiện trạng về cơ sở dữ liệu thuộc tính 46
4.3.3 Phầm mềm quản lý, sử dụng và liên kết dữ liệu 47
4.3.4 Người sử dụng, quản lý, khai thác cơ sở dữ liệu 48
4.4 Xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính 48
4.4.1 Thu thập tài liệu và phân loại thửa đất 48
4.4.2 Xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính 49
4.5 Khai thác cơ sở dữ liệu địa chính trong việc thiết lập quy trình giải quyết hồ sơ về cấp giấy chứng nhận 55
4.5.1 Thiết lập quy trình xử lý hồ sơ về cấp Giấy chứng nhận 55
4.5.2 Vận hành các quy trình xử lý hồ sơ về cấp giấy chứng nhận 66
4.6 Đánh giá cơ sở dữ liệu địa chính và các quy trình giải quyết hồ sơ về cấp giấy chứng nhận của đề tài 72
4.6.1 So sánh giữa cơ sở dữ liệu địa chính hiện trạng của thị trấn Phùng, huyện Đan Phượng và cơ sở dữ liệu địa chính đề tài xây dựng 72
4.6.2 Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính của đề tài 74
4.6.3 So sánh quy trình giải quyết hồ sơ về cấp Giấy chứng nhận của huyện Đan Phượng đang thực hiện và quy trình của đề tài thiết lập 74
4.6.4 Hiệu quả trong việc giải quyết công việc 76
4.6.5 Một số giải pháp để sử dụng hiệu quả phần mềm ViLIS 81
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 82
5.1 Kết luận 82
5.2 Kiến nghị 84
Tài liệu tham khảo 85
Phụ lục 88
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
CN - XD Công nghiệp – Xây dựng
CNH - HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
TN&MT Tài nguyên và Môi trường
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Giá trị kinh tế các ngành trên địa bàn thị trấn Phùng 40
Bảng 4.2 Tình hình biến động dân số của thị trấn Phùng 41
Bảng 4.3 Hiện trạng sử dụng đất năm 2015 của thị trấn Phùng 45
Bảng 4.4 Chuẩn hóa các lớp đối tượng không gian theo đúng quy định 49
Bảng 4.5 Chuẩn hóa thông tin thuộc tính trên bản đồ địa chính theo đúng quy định 50
Bảng 4.6 Những đối tượng biến động trên bản đồ địa chính 51
Bảng 4.7 So sánh cơ sở dữ liệu địa chính hiện trạng của thị trấn Phùng, huyện Đan Phượng và cơ sở dữ liệu địa chính đề tài xây dựng 72
Bảng 4.8 So sánh quy trình giải quyết hồ sơ về cấp Giấy chứng nhận của huyện Đan Phượng đang thực hiện và quy trình của đề tài thiết lập 75
Bảng 4.9 Thời gian giải quyết hồ sơ và nghĩa vụ tài chính thuế 77
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 Tình hình cấp Giấy chứng nhận của thị trấn Phùng 47
Hình 4.2 Giao diện về sửa bảng nhãn thửa 50
Hình 4.3 Bản đồ địa chính chuyển sang phần mềm ViLIS 2.0 52
Hình 4.4 Nhập thông tin về chủ sử dụng đất 53
Hình 4.5 Nhập thông tin về thửa đất 53
Hình 4.6 Giao diện nhập thông tin pháp lý của thửa đất 54
Hình 4.7 Sơ đồ thiết lập người dùng và phân quyền chức năng 56
Hình 4.8 Quy trình cấp mới Giấy chứng nhận lần đầu 58
Hình 4.9 Thiết lập trạng thái cho quy trình cấp Giấy chứng nhận lần đầu 59
Hình 4.10 Thiếp lập người thực hiện các trạng thái của quy trình 59
Hình 4.11 Thiết lập chức năng cho quy trình cấp Giấy chứng nhận lần đầu 60
Hình 4.12 Quá trình luận chuyển các bước thực hiện của 01 quy trình 60
Hình 4.13 Quy trình cấp đổi GCN do chuyển quyền sử dụng đất 62
Hình 4.14 Thiết lập trạng thái cho quy trình cấp đổi GCN do chuyển quyền sử dụng đất 62
Hình 4.15 Quy trình cấp lại GCN do bị mất 63
Hình 4.16 Thiết lập trạng thái của quy trình cấp đổi GCN do bị mất 64
Hình 4.17 Quy trình cấp đổi GCN do ố, rách, nát, nhòe, GCN cấp theo mẫu cũ trước đây 65
Hình 4.18 Thiết lập trạng thái quy trình cấp đổi do ố, rách, nát, nhòe, GCN cấp theo mẫu cũ trước đây 66
Hình 4.19 Giao diện tiếp nhận hồ sơ từ người sử dụng đất 67
Hình 4.20 Giao diện xử lý hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất 68
Hình 4.21 Giao diện lập phiếu chuyển thuế 69
Hình 4.22 Giao diện lập tờ trình cấp Giấy chứng nhận 69
Hình 4.23 Giao diện luân chuyển hồ sơ trong quy trình xử lý 70
Hình 4.24 Giao diện trả kết quả cho người sử dụng đất 71
Hình 4.25 Giao diện về theo dõi quá trình xử lý hồ sơ 78
Hình 4.26 Giao diện thực hiện chức năng báo cáo danh sách GCN đã cấp 78
Hình 4.27 Giao diện tổng hợp danh sách hồ sơ 79
Hình 4.28 Mã vạch của Giấy chứng nhận 80
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Nguyễn Thị Huyền
Tên Luận văn: Xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính phục vụ công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thị trấn Phùng, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội Ngành: Quản lý đất đai Mã số: 60.85.01.03
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành các mục tiêu đề ra, đề tài đã áp dụng 04 phương pháp nghiên cứu bao gồm: Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp; phương pháp xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính; phương pháp tổng hợp, phân tích và xử lý số liệu; phương pháp so sánh Kết quả chính và kết luận
Đề tài đã xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính theo quy chuẩn tại 02 tờ bản đồ số 21
và 22 với 294 thửa đất của thị trấn Phùng, huyện Đan Phượng Kết quả xây dựng cơ sở
dữ liệu địa chính: ở dạng số, cơ sở dữ liệu thuộc tính được lưu dưới dạng “_LIS.bak”,
cơ sở dữ liệu không gian được lưu dưới dạng “_SDE.bak”; dạng giấy tạo ra sổ địa chính, sổ biến động và bản đồ địa chính
Thiết lập và vận hành 04 quy trình giải quyết hồ sơ về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cơ sở khai thác dữ liệu địa chính đã xây dựng và xuất phát từ nhu cầu thực tiễn bao gồm: quy trình cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu, quy trình cấp đổi Giấy chứng nhận do chuyển quyền sử dụng đất, quy trình cấp lại Giấy chứng nhận do bị mất và quy trình cấp đổi giấy chứng nhận do bị ố, rách, nát, nhòe, Giấy chứng nhận cấp theo mẫu cũ trước đây Để thiết lập và vận hành, mỗi quy trình phải thiết lập được các trạng thái tương ứng với các bước thực hiện, gán người thực hiện cho mỗi trạng thái, chức năng của trạng thái và quá trình luân chuyển
Để cải cách thủ tục hành chính công, rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ, đảm bảo hiệu quả công việc, việc thiết lập và vận hành các quy trình giải quyết hồ sơ về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cơ sở khai thác dữ liệu địa chính là cần thiết và hiệu quả, cần được triển khai áp dụng
Trang 11THESIS ABSTRACT Master candidate: Nguyen Thi Huyen
Thesis title: Building the cadastral database aimed at issuing the certificates of land use right in Phung town, Dan Phuong District, Ha Noi city
Major: Land management Code: 60.85.01.03
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
Materials and Methods
To fullfill the above aims, 4 main research methods have been applied They are: the method of collecting the secondary data; the method of building up the cadastral database; the method of synthesis, analysis and data processing; the method of comparison
Main findings and conclusions
The researcher of the thesis has built up the cadastral database according to the standard at 02 map 21 and 22 with 294 parcels of land in in Phung town, Dan Phuong District, Ha Noi city Results of the cadastral database: in digital form, the attribute database is saved as "_LIS.bak", the spatial database is saved as "_SDE.bak"; Paper forms create cadastral books, fluctuation books and cadastral maps
Setting and operating 4 procedures of dealing with the files of issuing the certificates of land use right are based on exploiting the cadastral database that have been built up This meets the practical demands including the procedures of issuing the certificates of land use right the first time, the procedures of changing the certificates of land use right owing to transfering the land right, the procedures of reissuing the certificates due to being lost, the procedures of exchanging the certificates for due to being stained, torn, crushed, blurred and the certificates that were issued with the old certificates in the past In order to set up and operate, each process must establish states that correspond to the execution steps, assign the performers to each state, performance function, and rotation process
Trang 12To simplify the procedures of public administration, shorten the duration of dealing with the files, maximize the efficiency of the work, building up and implementing the procedures of dealing with the files to issue the certificates of land use right based on exploiting the cadastral database is neccessary and efficient This needs carrying out and applying
Trang 13PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, nhưng là nguồn tài nguyên
có hạn Do đó, việc quản lý, khai thác sử dụng có hiệu quả và bền vững nguồn tài nguyên đất, phục vụ cho các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh là nhiệm vụ quan trọng đang được Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành quan tâm thực hiện
Trong những năm qua, để phù hợp với bước chuyển đổi từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật nhằm bảo đảm sự quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước, đồng thời khuyến khích các tổ chức, cá nhân sử dụng đất đai đúng mục đích, hiệu quả cao và tuân thủ theo pháp luật Từ Luật Đất đai năm 1987, Luật đất đai năm 1993; Luật sửa đổi và bổ sung một số điều của Luật đất đai 1993 năm 1998, năm 2001; Luật Đất đai năm 2003; Đặc biệt, Luật đất đai 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật đất đai đã tạo hành lang pháp lý đưa công tác quản lý đất đai dần dần đi vào nề nếp, việc sử dụng đất đai ngày càng hiệu quả hơn
Tuy nhiên, bên cạnh đó việc quản lý, sử dụng đất vẫn còn một số nơi chưa chặt chẽ, sử dụng chưa hiệu quả, trong việc quản lý vẫn còn để xảy ra nhiều tiêu cực, nhiều diện tích đất bỏ hoang không sử dụng trong thời gian dài,
sử dụng không đúng mục đích, bị lấn chiếm, chuyển nhượng, cho thuê trái phép, Việc phát hiện vi phạm pháp luật đất đai của các tổ chức chưa kịp thời,
xử lý chưa nghiêm
Công tác quản lý nguồn thông tin đất đai là một trong những lĩnh vực có tầm quan trọng chiến lược của mỗi quốc gia Trong sự phát triển của đất nước hiện nay hoạt động của con người trong việc sử dụng đất đai ngày càng phong phú và đa dạng, nguồn thông tin đất đai ngày càng phức tạp Do đó, nhu cầu hiện đại hóa hệ thống hồ sơ địa chính ngày càng trở nên cấp thiết do phần lớn dữ liệu lưu trữ tại các địa phương ở dạng giấy và phương pháp quản lý thủ công, dẫn đến những khó khăn trong tra cứu thông tin và cập nhật biến động về sử dụng đất đai Trong khi, hồ sơ địa chính là hệ thống tài liệu mang tính kế thừa cao Vì vậy, theo sự phát triển của xã hội, các thông tin về đất đai cũng ngày càng được tăng theo cấp
số nhân Nếu chúng ta vẫn áp dụng quản lý thủ công theo dạng văn bản giấy tờ
Trang 14thì hệ thống hồ sơ địa chính sẽ chất thành “núi” Với những tiến bộ vượt bậc trong khoa học công nghệ cho thấy, giải pháp hữu hiệu để giải quyết vấn đề này
là thiết lập cơ sở dữ liệu (CSDL) địa chính và vận hành hệ thống thông tin đất đai CSDL địa chính được thiết lập, cập nhật trong các quá trình điều tra, bằng các phương pháp khác nhau như đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, CSDL phải chứa đựng đầy đủ những thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, pháp lý đến từng thửa đất CSDL vừa là công cụ để quản lý đất đai, vừa cung cấp thông tin đa ngành trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Thị trấn Phùng, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội có ưu thế về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên thuận lợi cùng với những chính sách quan tâm của thành phố đang vươn lên phát triển mạnh mẽ về nhiều mặt kinh tế, xã hội, là điểm đến lý tưởng của các nhà đầu tư Đất đai ngày càng biến động mạnh mẽ, công tác kê khai đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cập nhật chỉnh
lý biến động, lập và quản lý hồ sơ địa chính ở đây ngày càng trở nên khó khăn và phức tạp Vấn đề đặt ra làm cách nào có thể thực hiện công việc trên một cách hiệu quả, kịp thời, tiết kiệm đồng thời thuận lợi trong quá trình lưu trữ, quản lý
và sử dụng nhằm góp phần làm giảm đi gánh nặng cho nhà quản lý, cải cách thủ tục hành chính
Xuất phát từ nhu cầu thực tế, tôi xin nghiên cứu đề tài: “Xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính phục vụ công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thị trấn Phùng, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành
- Thiết lập và vận hành các quy trình giải quyết hồ sơ về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trên cơ sở khai thác cơ sở dữ liệu địa chính tại thị trấn Phùng, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu: Dữ liệu về thửa đất, thông tin người sử dụng đất, người quản lý và một số yếu tố có liên quan đến thửa đất, hồ sơ, trình tự thủ tục giải quyết hồ sơ về cấp Giấy chứng nhận
- Phạm vị không gian:
Trang 15+ Nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, KT-XH, tình hình quản lý, sử dụng đất và hiện trạng cơ sở dữ liệu địa chính trên toàn bộ địa bàn thị trấn Phùng, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội
+ Tiến hành xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính trên phạm vi 02 tờ bản đồ địa chính số 21 và 22 dạng số với 294 thửa đất tại khu vực phố Phượng Trì, thị trấn Phùng, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội
- Phạm vi thời gian: Đề tài được thực hiện trong giai đoạn 2016 - 2017 1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC HOẶC THỰC TIỄN
Ý nghĩa khoa học của đề tài: Vai trò của cơ sở dữ liệu địa chính trong công tác quản lý đất đai trong đó có công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Điểm mới và ý nghĩa thực tiễn của đề tài: Thiết lập và vận hành các quy trình giải quyết hồ sơ về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cơ
sở khai thác dữ liệu địa chính đã xây dựng nhằm đáp ứng được nhu cầu thực tiễn về đồng nhất dữ liệu, rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ, cải cách thủ tục hành chính công
Trang 16PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐỊA CHÍNH
2.1.1 Khái niệm về cơ sở dữ liệu địa chính
Cơ sở dữ liệu (CSDL) địa chính: là tập hợp thông tin có cấu trúc của dữ liệu địa chính (gồm dữ liệu không gian địa chính, dữ liệu thuộc tính địa chính và các
dữ liệu khác có liên quan) được sắp xếp, tổ chức để truy cập, khai thác, quản lý
và cập nhật thường xuyên bằng phương tiện điện tử (Đỗ Đức Đôi, 2010)
- Dữ liệu địa chính: là dữ liệu không gian địa chính, dữ liệu thuộc tính địa chính và các dữ liệu khác có liên quan
- Cơ sở dữ liệu địa chính: là tập hợp thông tin có cấu trúc của dữ liệu địa chính
- Dữ liệu không gian địa chính: là dữ liệu về vị trí, hình thể của thửa đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; dữ liệu về hệ thống thủy văn, hệ thống thủy lợi; hệ thống đường giao thông; dữ liệu về điểm khống chế; dữ liệu về biên giới, địa giới; dữ liệu về địa danh và ghi chú khác; dữ liệu về đường chỉ giới và mốc giới quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng, quy hoạch giao thông và các loại quy hoạch khác, chỉ giới hành lang an toàn bảo vệ công trình
- Dữ liệu thuộc tính địa chính: là dữ liệu về người quản lý đất, người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, tổ chức và cá nhân có liên quan đến các giao dịch về đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; dữ liệu thuộc tính về thửa đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; dữ liệu về tình trạng sử dụng của thửa đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; dữ liệu về quyền và nghĩa vụ trong sử dụng đất, sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; dữ liệu giao dịch về đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
2.1.2 Nội dung cơ sở dữ liệu địa chính
2.1.2.1 Dữ liệu không gian địa chính
* Dữ liệu không gian đất đai nền:
- Nhóm lớp dữ liệu điểm khống chế đo đạc gồm lớp dữ liệu điểm thiên văn, điểm tọa độ quốc gia, điểm địa chính cơ sở, điểm địa chính, điểm khống chế
đo vẽ chôn mốc cố định; lớp dữ liệu điểm độ cao quốc gia, điểm độ cao kỹ thuật
có chôn mốc;
Trang 17- Nhóm lớp dữ liệu biên giới, địa giới gồm lớp dữ liệu mốc biên giới, địa giới; lớp dữ liệu đường biên giới, địa giới; lớp dữ liệu địa phận của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh); lớp dữ liệu địa phận của huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện); lớp dữ liệu địa phận của xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã);
- Nhóm lớp dữ liệu thủy hệ gồm lớp dữ liệu thủy hệ dạng đường, lớp dữ liệu thủy hệ dạng vùng;
- Nhóm lớp dữ liệu giao thông gồm lớp dữ liệu tim đường, lớp dữ liệu mặt đường bộ, lớp dữ liệu ranh giới đường, lớp dữ liệu đường sắt;
- Nhóm lớp dữ liệu địa danh và ghi chú gồm lớp dữ liệu điểm địa danh, điểm kinh tế, văn hóa, xã hội; lớp dữ liệu ghi chú
* Dữ liệu không gian địa chính:
- Nhóm lớp dữ liệu địa chính gồm lớp dữ liệu thửa đất; lớp dữ liệu tài sản gắn liền với đất; lớp dữ liệu đường chỉ giới và mốc giới của hành lang an toàn bảo vệ công trình, quy hoạch xây dựng, quy hoạch giao thông và các loại quy hoạch khác có liên quan đến thửa đất theo quy định của pháp luật về bản
đồ địa chính
2.1.2.2 Dữ liệu thuộc tính địa chính
Dữ liệu thuộc tính địa chính bao gồm các nhóm dữ liệu sau đây:
- Nhóm dữ liệu về thửa đất;
- Nhóm dữ liệu về đối tượng chiếm đất không tạo thành thửa đất;
- Nhóm dữ liệu về tài sản gắn liền với đất;
- Nhóm dữ liệu về người sử dụng đất, người quản lý đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất;
- Nhóm dữ liệu về quyền sử dụng đất, quyền quản lý đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất;
- Nhóm dữ liệu tình trạng pháp lý về quyền sử dụng đất, quyền quản lý đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất;
- Nhóm dữ liệu về sự biến động trong quá trình sử dụng đất và sở hữu tài sản gắn liền với đất;
- Nhóm các dữ liệu khác có liên quan tới thửa đất
Trang 182.1.3 Vai trò của cơ sở dữ liệu địa chính đối với phát triển kinh tế - xã hội Xây dựng CSDL địa chính là yêu cầu cơ bản để xây dựng hệ thống quản lý đất đai hiện đại Một hệ thống quản lý đất đai hiện đại sẽ tạo tiền đề để phát triển kinh tế - xã hội Việc áp dụng tin học hóa trong quản lý đất đai sẽ cho chúng ta các lợi ích sau đây:
- Tăng cường tính chặt chẽ trong hệ thống quản lý đất đai nói riêng và hệ thống hành chính nói chung để tránh các trường hợp bị sót, nhầm lẫn, chồng chéo
do các dữ liệu phục vụ quản lý được tổ chức thành CSDL;
- Hỗ trợ đắc lực cho quá trình ra quyết định về pháp luật đất đai, quy hoạch
sử dụng đất, tài chính đất đai, giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhằm đảm bảo tính đúng đắn, hợp lý, khả thi do việc chuẩn bị được phân tích
kỹ lưỡng trong nhiều phương án với đầy đủ dữ liệu và dự báo với độ tin cậy cao;
- Các thông tin được công khai hóa, nâng cao tính minh bạch, đảm bảo tính công bằng xã hội và hỗ trợ người dân giám sát các hoạt động của nhà nước;
- Góp phần cải cách thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả công việc, hạn chế tham nhũng trong bộ máy quản lý đất đai và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người dân;
- Đáp ứng được nhu cầu tiếp cận thông tin đất đai của người dân và tổ chức; cung cấp thông tin cho các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng;
- Phát triển thị trường bất động sản, tạo điều kiện để phát triển các thị trường vốn, lao động, tiền tệ trong hệ thống nền kinh tế;
- Từ CSDL địa chính có thể phân tích để tìm các chỉ số phản ánh các hiện tượng kinh tế - xã hội giúp nhà nước điều chỉnh pháp luật, chính sách và trợ giúp quyết định chiến lược Bởi vì quá trình sử dụng đất thường phán ảnh nhiều hiện tượng kinh tế - xã hội của đất nước Ví dụ như hiện tượng đất rừng bị giảm có thể
do khai thác không theo quy hoạch, hiện tượng đất bị bỏ hoang,…
- CSDL địa chính có thể được mở rộng và phát triển thành CSDL đất đai, CSDL về tài nguyên thiên nhiên và môi trường Rộng hơn là phát triển thành một CSDL tổng hợp quốc gia phục vụ cho sự phát triển chung của đất nước (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2010)
Trang 192.1.4 Xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính
a Đối với trường hợp thực hiện đồng bộ việc chỉnh lý hoàn thiện hoặc đo đạc lập mới bản đồ địa chính gắn với đăng ký, cấp mới, cấp đổi Giấy chứng nhận và xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính cho tất cả các thửa đất
* Công tác chuẩn bị:
Được thực hiện lồng ghép với quá trình chuẩn bị triển khai đo đạc lập bản
đồ địa chính và đăng ký đất đai, bao gồm những nội dung công việc sau đây:
- Chuẩn bị vật tư, thiết bị, dụng cụ, phần mềm phục vụ cho công tác xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính;
- Chuẩn bị nhân lực, địa điểm làm việc
* Thu thập tài liệu:
- Thu thập các tài liệu đã lập trong quá trình đăng ký, cấp Giấy chứng nhận trước đây gồm: Bản đồ, sơ đồ, bản trích đo địa chính, Giấy chứng nhận, sổ địa chính, sổ mục kê đất đai, sổ theo dõi biến động đất đai và tài liệu phát sinh trong quá trình quản lý đất đai;
- Bản đồ địa chính, bản đồ quy hoạch sử dụng đất;
- Các hồ sơ kê khai đăng ký cấp mới, cấp đổi Giấy chứng nhận và đăng ký biến động
* Xây dựng dữ liệu không gian địa chính:
- Chuẩn hóa các lớp đối tượng không gian địa chính theo chuẩn dữ liệu địa chính từ nội dung bản đồ địa chính số:
+ Lập bảng đối chiếu giữa lớp đối tượng không gian địa chính với nội dung tương ứng trong bản đồ địa chính để tách, lọc các đối tượng cần thiết từ nội dung bản đồ địa chính;
+ Chuẩn hóa các lớp đối tượng không gian địa chính chưa phù hợp với yêu cầu của chuẩn dữ liệu địa chính;
+ Rà soát chuẩn hóa thông tin thuộc tính cho từng đối tượng không gian địa chính theo quy định kỹ thuật về chuẩn dữ liệu địa chính
- Chuyển đổi và gộp các lớp đối tượng không gian địa chính vào cơ sở dữ liệu theo đơn vị hành chính xã
* Xây dựng dữ liệu thuộc tính địa chính
Trang 20- Lập bảng tham chiếu số thửa cũ và số thửa mới đối với các thửa đất đã cấp Giấy chứng nhận theo bản đồ cũ
- Nhập, chuẩn hóa thông tin từ hồ sơ địa chính hoặc hồ sơ cấp Giấy chứng nhận, hồ sơ đăng ký biến động (kể cả hồ sơ giao dịch bảo đảm), bản lưu Giấy chứng nhận của các thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận trước khi cấp đổi (chỉ nhập theo hồ sơ của lần biến động cuối cùng) Không nhập thông tin thuộc tính địa chính đối với trường hợp hồ sơ nằm trong khu vực dồn điền đổi thửa
- Nhập, chuẩn hóa thông tin từ hồ sơ đăng ký cấp Giấy chứng nhận lần đầu, cấp đổi Giấy chứng nhận, hồ sơ đăng ký biến động
* Quét (chụp) giấy tờ pháp lý về quyền sử dụng đất:
- Quét (chụp) giấy tờ pháp lý về quyền sử dụng đất bao gồm:
+ Giấy chứng nhận cấp mới, cấp đổi hoặc Giấy chứng nhận đã cấp trước đây đang sử dụng;
+ Giấy tờ pháp lý về nguồn gốc sử dụng đất làm cơ sở cho việc cấp Giấy chứng nhận;
+ Chứng từ thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai
- Quét bản đồ, sơ đồ, bản trích đo địa chính đã sử dụng để cấp Giấy chứng nhận trước đây;
- Xử lý tập tin quét hình thành bộ hồ sơ cấp Giấy chứng nhận dạng số, lưu trữ dưới khuôn dạng tập tin PDF;
- Liên kết bộ hồ sơ cấp Giấy chứng nhận dạng số với cơ sở dữ liệu địa chính và xây dựng kho hồ sơ cấp Giấy chứng nhận dạng số
* Hoàn thiện dữ liệu địa chính:
Thực hiện đối soát và hoàn thiện chất lượng dữ liệu địa chính của 100% thửa đất so với thông tin trong kho hồ sơ Giấy chứng nhận dạng số và hồ sơ đăng ký đất đai, tài sản khác gắn liền với đất đã sử dụng để xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính
b Đối với trường hợp đã thực hiện đăng ký, cấp Giấy chứng nhận, đăng ký biến động đất đai
* Công tác chuẩn bị:
- Lập kế hoạch thực hiện;
- Chuẩn bị vật tư, thiết bị, dụng cụ, phần mềm phục vụ cho công tác xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính;
Trang 21- Chuẩn bị nhân lực, địa điểm làm việc
* Thu thập tài liệu:
- Thu thập dữ liệu, tài liệu
- Bản đồ địa chính hoặc các loại tài liệu đo đạc khác (nơi không có bản đồ địa chính) đã sử dụng để cấp Giấy chứng nhận (bản đồ giải thửa, bản đồ quy hoạch xây dựng chi tiết, sơ đồ, trích đo địa chính);
- Bản đồ quy hoạch sử dụng đất;
- Bản lưu Giấy chứng nhận, sổ mục kê, sổ địa chính, sổ cấp Giấy chứng nhận, sổ đăng ký biến động đã lập;
- Hồ sơ đăng ký cấp Giấy chứng nhận lần đầu, cấp đổi;
- Hồ sơ đăng ký biến động đất đai và tài liệu giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất được lập sau khi hoàn thành cấp Giấy chứng nhận, lập hồ sơ địa chính;
- Các tài liệu hồ sơ địa chính đã lập trước khi đo vẽ bản đồ địa chính (nếu có)
* Phân tích, đánh giá, lựa chọn tài liệu sử dụng:
- Nội dung phân tích đánh giá phải xác định được thời gian xây dựng và mức độ đầy đủ thông tin của từng tài liệu để lựa chọn tài liệu sử dụng cho việc xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính; ưu tiên lựa chọn loại tài liệu có thời gian lập gần nhất, có đầy đủ thông tin nhất, có giá trị pháp lý cao nhất;
- Kết quả phân tích đánh giá phải xác định được tài liệu sử dụng cho từng mục đích khác nhau trong quá trình xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính:
+ Tài liệu để xây dựng dữ liệu không gian địa chính là bản đồ địa chính Đối với nơi chưa có bản đồ địa chính mà đã sử dụng các loại tài liệu đo đạc khác cho cấp giấy chứng nhận phải đánh giá độ chính xác, khả năng liên kết không gian giữa các thửa đất kế cận để đảm bảo quan hệ liên kết không gian (Topo) theo quy định chuẩn dữ liệu địa chính Trường hợp kết quả đo đạc trên một phạm
vi rộng (bao gồm nhiều thửa), đạt độ chính xác yêu cầu, cho phép nắn chỉnh hình học để đồng bộ theo quy định hiện hành thì có thể sử dụng để xây dựng xây dựng
cơ sở dữ liệu không gian địa chính Trường hợp chỉ có sơ đồ hoặc bản trích đo địa chính từng thửa đất hoặc có bản đồ, bản trích đo địa chính cho một khu vực gồm nhiều thửa đất nhưng chưa có tọa độ địa chính thì không xây dựng dữ liệu không gian mà chỉ thực hiện xây dựng cơ sở dữ liệu thuộc tính địa chính;
Trang 22+ Tài liệu để xây dựng dữ liệu thuộc tính địa chính ưu tiên sử dụng sổ địa chính và bản lưu Giấy chứng nhận Trường hợp sổ địa chính không đầy đủ thông tin, không được cập nhật chỉnh lý biến động thường xuyên; bản lưu giấy chứng nhận không có đầy đủ thì phải lựa chọn hồ sơ đăng ký cấp Giấy chứng nhận lần đầu, cấp đổi Giấy chứng nhận đối với trường hợp còn thiếu để cập nhật;
+ Các tài liệu để cập nhật hoặc chỉnh lý biến động hồ sơ địa chính bao gồm:
Hồ sơ đăng ký biến động đất đai, tài liệu giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất (lập sau khi hoàn thành cấp Giấy chứng nhận, lập hồ sơ địa chính);
+ Các loại bản đồ khác, sơ đồ, bản trích đo địa chính đã sử dụng để cấp Giấy chứng nhận trước đây thì được xem xét lựa chọn để bổ sung vào kho hồ sơ cấp Giấy chứng nhận dạng số
* Phân loại thửa đất và hoàn thiện hồ sơ địa chính hiện có:
- Đối soát, phân loại thửa đất: Đối soát thửa đất trên bản đồ địa chính hoặc tài liệu đo đạc khác (nơi không có bản đồ địa chính) sử dụng để xây dựng dữ liệu không gian địa chính so với hồ sơ đăng ký, bản lưu Giấy chứng nhận Dựa vào mức độ đồng nhất về hình học và tình trạng cấp Giấy chứng nhận để đưa ra danh sách phân loại thửa đất như sau:
+ Thửa đất loại A: Bao gồm các thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận có nội dung thông tin phù hợp với quy định hiện hành và chưa có biến động;
+ Thửa đất loại B: Bao gồm các thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận có một số thông tin (nguồn gốc sử dụng, mục đích sử dụng ) chưa phù hợp với quy định hiện hành và chưa có biến động;
+ Thửa đất loại C: Bao gồm các thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận nhưng đã biến động thông tin thuộc tính;
+ Thửa đất loại D: Bao gồm thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận nhưng
đã có biến động ranh giới thửa đất (tách, hợp thửa, điều chỉnh ranh giới ) mà chưa chỉnh lý bản đồ địa chính;
+ Thửa đất loại Đ: Các thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận ở nơi chưa
có bản đồ địa chính nhưng tài liệu đo đạc đã sử dụng để cấp giấy không đủ điều kiện để xây dựng cơ sở dữ liệu không gian;
+ Thửa đất loại E: Trường hợp thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận ở nơi có bản đồ địa chính nhưng chưa cấp đổi Giấy chứng nhận theo bản đồ địa chính mới;
Trang 23+ Thửa đất loại G: Các thửa đất đã kê khai đăng ký nhưng chưa được cấp Giấy chứng nhận
- Hoàn thiện hồ sơ địa chính:
+ Trường hợp bản đồ địa chính hoặc tài liệu đo đạc khác (nơi không có bản
đồ địa chính) để xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính ở dạng giấy hoặc chưa được thành lập trong hệ tọa độ VN-2000 thì thực hiện việc số hóa, chuyển đổi hệ tọa
độ và biên tập hoàn thiện theo quy định hiện hành;
+ Xác minh để bổ sung về những nội dung thông tin (nguồn gốc sử dụng, mục đích sử dụng ) chưa phù hợp với quy định hiện hành để hoàn thiện hồ sơ địa chính;
+ Chỉnh lý tài liệu của hồ sơ địa chính (trừ tài liệu đo đạc) được lựa chọn sử dụng cho việc cập nhật cơ sở dữ liệu về những nội dung thông tin (nguồn gốc sử dụng, mục đích sử dụng ) theo kết quả điều tra bổ sung;
+ Cập nhật, chỉnh lý bản đồ địa chính số hoặc tài liệu đo đạc khác đã sử dụng (nơi không có bản đồ địa chính) trong các trường hợp như sau:
Đối với thửa đất loại B và G: Cập nhật, chỉnh lý các nội dung thông tin mục đích sử dụng theo hồ sơ địa chính đã được chỉnh lý
Đối với thửa đất loại C: Chỉnh lý thông tin thuộc tính cho thửa đất có biến động theo hồ sơ giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, bản lưu Giấy chứng nhận hoặc hồ sơ đăng ký biến động đã giải quyết
Đối với thửa đất loại D: Lưu lại thông tin thửa đất để phục vụ xây dựng phiên bản dữ liệu không gian thửa đất trước chỉnh lý; Chỉnh lý hình thể thửa đất, tài sản gắn liền với đất và các thông tin thuộc tính có thay đổi theo hồ sơ giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, bản lưu Giấy chứng nhận hoặc hồ sơ đăng ký biến động đã giải quyết
Đối với thửa đất loại E: Xây dựng dữ liệu không gian địa chính của thửa đất
từ các tài liệu đo đạc cũ (chưa phải là bản đồ địa chính) đã được sử dụng để cấp Giấy chứng nhận đối với các thửa đất đã có biến động hình thể không xác định được trên bản đồ địa chính mới
* Xây dựng dữ liệu không gian địa chính:
- Chuẩn hóa các lớp đối tượng không gian địa chính theo chuẩn dữ liệu địa chính từ nội dung bản đồ địa chính số sau khi được chỉnh lý:
Trang 24+ Lập bảng đối chiếu giữa lớp đối tượng không gian địa chính với nội dung tương ứng trong bản đồ địa chính hoặc tài liệu đo đạc khác đã sử dụng (nơi không có bản đồ địa chính) để tách, lọc các đối tượng cần thiết;
+ Chuẩn hóa các lớp đối tượng không gian địa chính chưa phù hợp với yêu cầu của chuẩn dữ liệu địa chính;
+ Rà soát chuẩn hóa thông tin thuộc tính cho từng đối tượng không gian địa chính theo quy định kỹ thuật về chuẩn dữ liệu địa chính
- Chuyển đổi và gộp các lớp đối tượng không gian địa chính vào cơ sở dữ liệu theo đơn vị hành chính xã
- Ghép nối dữ liệu không gian địa chính cho khu vực chỉ có tài liệu đo đạc khác (nơi không có bản đồ địa chính) có đủ điều kiện xây dựng cơ sở dữ liệu theo đơn vị hành chính xã
* Xây dựng dữ liệu thuộc tính địa chính:
Trên cơ sở danh sách phân loại thửa đất và kết quả chỉnh lý hoàn thiện hồ
sơ địa chính, tiến hành nhập và chuẩn hóa thông tin thuộc tính địa chính như sau:
- Đối với thửa đất loại A, B và Đ: Thực hiện nhập và chuẩn hóa thông tin từ
hồ sơ cấp Giấy chứng nhận cho các nhóm: Thửa đất, tài sản trên đất, chủ sử dụng
và quyền sử dụng đất từ hồ sơ địa chính tương ứng với từng thửa đất;
Trường hợp thửa đất đã được cấp đổi Giấy chứng nhận theo bản đồ địa chính thì nhập, chuẩn hóa thông tin từ hồ sơ cấp đổi Giấy chứng nhận, bản lưu Giấy chứng nhận của các thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận trước khi cấp đổi, trừ khu vực dồn điền đổi thửa
- Đối với thửa đất loại C:
+ Nhập và chuẩn hóa cho các nhóm thông tin thửa đất, tài sản trên đất, chủ
sử dụng và quyền sử dụng đất từ hồ sơ địa chính trước khi biến động;
+ Nhập các thông tin sau khi biến động từ hồ sơ giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, bản lưu Giấy chứng nhận hoặc hồ sơ đăng ký biến động
- Đối với thửa đất loại D:
+ Nhập và chuẩn hóa cho các nhóm thông tin thửa đất, tài sản trên đất, chủ
sử dụng và quyền sử dụng đất từ hồ sơ địa chính trước khi biến động; trừ khu vực
đã dồn điền đổi thửa hoặc có biến động phân chia lại các thửa đất không xác định được các thửa đất cũ trên bản đồ địa chính mới;
Trang 25+ Nhập và chuẩn hóa cho các nhóm thông tin thửa đất, tài sản trên đất, chủ
sử dụng và quyền sử dụng đất sau biến động từ hồ sơ giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, bản lưu Giấy chứng nhận hoặc hồ sơ đăng ký biến động
- Đối với thửa đất loại E:
+ Nhập và chuẩn hóa cho các nhóm thông tin thửa đất, tài sản trên đất, chủ
sử dụng và quyền sử dụng đất từ hồ sơ địa chính đã lập trước khi đo vẽ bản đồ địa chính;
+ Nhập thông tin thay đổi theo bản đồ địa chính mới (số tờ, số thửa, diện tích)
- Đối với thửa đất loại G: Nhập và chuẩn hóa cho các nhóm thông tin thửa đất, tài sản trên đất, chủ sử dụng đất từ hồ sơ kê khai đăng ký đất đai
* Quét (chụp) giấy tờ pháp lý về quyền sử dụng đất:
- Quét (chụp) giấy tờ pháp lý về quyền sử dụng đất bao gồm:
+ Giấy chứng nhận cấp mới, cấp đổi hoặc Giấy chứng nhận đã cấp trước đây đang sử dụng;
+ Giấy tờ pháp lý về nguồn gốc sử dụng đất làm cơ sở cho việc cấp Giấy chứng nhận;
+ Chứng từ thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai
- Quét bản đồ, sơ đồ, bản trích đo địa chính đã sử dụng để cấp Giấy chứng nhận trước đây
- Xử lý tập tin quét hình thành bộ hồ sơ cấp Giấy chứng nhận dạng số, lưu trữ dưới khuôn dạng tập tin PDF;
- Liên kết bộ hồ sơ cấp Giấy chứng nhận dạng số với cơ sở dữ liệu địa chính và xây dựng kho hồ sơ cấp Giấy chứng nhận dạng số
* Hoàn thiện dữ liệu địa chính
Đối soát và hoàn thiện chất lượng dữ liệu địa chính của 100% thửa đất so với thông tin trong kho hồ sơ Giấy chứng nhận dạng số và hồ sơ đăng ký đất đai, tài sản khác gắn liền với đất đã sử dụng để xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính 2.1.5 Khai thác sử dụng cơ sở dữ liệu địa chính
- Việc cung cấp thông tin từ cơ sở dữ liệu địa chính được thực hiện dưới các hình thức tra cứu thông tin trực tuyến hoặc theo phiếu yêu cầu cung cấp thông tin
- Thông tin được cung cấp từ cơ sở dữ liệu địa chính dưới dạng giấy hoặc dạng số bao gồm:
Trang 26+ Trích lục thửa đất;
+ Trích sao Sổ địa chính, Sổ mục kê đất đai đối với từng thửa đất hoặc từng chủ sử dụng đất;
+ Thông tin tổng hợp từ các dữ liệu địa chính;
+ Thông tin bản đồ địa chính trực tuyến trên mạng;
+ Trích sao cơ sở dữ liệu địa chính theo khu vực
- Đối tượng được cung cấp dịch vụ thông tin từ cơ sở dữ liệu địa chính bao gồm:
+ Cá nhân được khai thác nội dung thông tin quy định;
+ Tổ chức được khai thác nội dung thông tin quy định
- Trách nhiệm cung cấp thông tin từ cơ sở dữ liệu địa chính:
+ Đơn vị có chức năng lưu trữ thông tin đất đai trực thuộc Tổng cục Quản lý đất đai thực hiện cung cấp thông tin tổng hợp về dữ liệu địa chính trên phạm vi cả nước; + Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp tỉnh thực hiện cung cấp thông tin về dữ liệu địa chính của địa phương theo quy định;
- Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện thực hiện cung cấp thông tin về dữ liệu địa chính của địa phương theo hình thức và nội dung quy định;
- Các cơ quan cung cấp thông tin về dữ liệu địa chính phải chịu trách nhiệm đối với nội dung thông tin đã cung cấp và phải xác nhận bằng văn bản về độ tin cậy của nội dung thông tin khi người sử dụng thông tin có yêu cầu
- Việc cung cấp dịch vụ thông tin đất đai trên mạng Internet: Khuyến khích các cơ quan cung cấp thông tin về dữ liệu địa chính theo quy định tại Điều này tổ chức dịch vụ cung cấp thông tin trên mạng Internet
- Tổ chức và cá nhân khai thác thông tin địa chính phải nộp tiền sử dụng thông tin và tiền dịch vụ cung cấp thông tin theo quy định
2.2 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC ĐĂNG KÝ ĐẤT ĐAI, CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
2.2.1 Đăng ký đất đai
- Khái niệm: Đăng ký đất đai là thủ tục hành chính do nhà nước quy định và
tổ chức thực hiện, có tính chất bắt buộc đối với mọi người sử dụng đất; nó thực hiện đồng thời cả hai việc: vừa ghi vào hồ sơ địa chính của cơ quan nhà nước để
Trang 27phục vụ cho yêu cầu quản lý của nhà nước đối với đất đai theo quy hoạch và pháp luật, vừa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất
- Mục đích: Đăng ký đất đai nhằm bảo đảm mục tiêu sở hữu toàn dân về đất đai; làm cơ sở, căn cứ để Nhà nước quản lý đất đai (nắm chắc, quản lý chặt chẽ quỹ đất đai quốc gia); đồng thời là cơ sở để Nhà nước xác định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất trong việc sử dụng đất; bảo hộ quyền sử dụng hợp pháp về đất đai của người sử dụng đất
- Yêu cầu: Công tác đăng ký đất đai phải chấp hành đúng luật đất đai và các yêu cầu quy định kỹ thuật của ngành địa chính như: đăng ký đúng người, đúng diện tích, đúng mục đích sử dụng đất, thời hạn sử dụng và các quyền lợi khác theo quy định của pháp luật Phải thiết lập đầy đủ hồ sơ, tài liệu, thể hiện chính xác, thống nhất thông tin theo đúng quy cách của từng loại trên tất cả các tài liệu pháp lý có liên quan
Công tác đăng ký quyền sử dụng đất gồm có đăng ký đất đai ban đầu và đăng ký biến động đất đai:
* Đăng ký đất đai ban đầu: là việc đăng ký quyền sử dụng đất thực hiện đối với thửa đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (kể cả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ban hành theo quyết định 201 QĐ/ĐC và giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu đất ở tại đô thị ban hành theo Nghị định 60/CP)
* Đăng ký biến động đất đai: được thực hiện đối với một thửa đất đã xác định một chế độ sử dụng cụ thể; sự thay đổi bất kỳ một nội dung nào liên quan đến quyền sử dụng đất hay chế độ sử dụng của thửa đất đều phải phù hợp với quy định của pháp luật: do đó tính chất công việc của đăng ký biến động đất đai là xác nhận sự thay đổi của nội dung đã đăng ký theo quy định pháp luật (lập hợp đồng, tờ khai thực hiện các quyền, quyết định chuyển mục đích sử dụng hoặc gia hạn sử dụng đất, quyết định đổi tên tổ chức, biên bản hiện tượng sạt lở đất…); trên cơ sở đó thực hiện việc chỉnh lý hồ sơ địa chính và chỉnh lý hoặc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
2.2.2 Công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
a Những trường hợp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
và tài sản khác gắn liền với đất cho những trường hợp sau đây:
Trang 28+ Người đang sử dụng đất có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định tại các điều 100, 101 và 102 của Luật đất đai 2013;
+ Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ sau ngày Luật đất đai
2013 có hiệu lực thi hành;
+ Người được chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, được thừa kế, nhận tặng cho quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất; người nhận quyền
sử dụng đất khi xử lý hợp đồng thế chấp bằng quyền sử dụng đất để thu hồi nợ;
+ Người được sử dụng đất theo kết quả hòa giải thành đối với tranh chấp đất đai; theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án hoặc quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo
về đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành;
+ Người trúng đấu giá quyền sử dụng đất;
+ Người sử dụng đất trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế;
+ Người mua nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất;
+ Người được Nhà nước thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; người mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước;
+ Người sử dụng đất tách thửa, hợp thửa; nhóm người sử dụng đất hoặc các thành viên hộ gia đình, hai vợ chồng, tổ chức sử dụng đất chia tách, hợp nhất quyền sử dụng đất hiện có;
+ Người sử dụng đất đề nghị cấp đổi hoặc cấp lại Giấy chứng nhận bị mất
- Chính phủ quy định chi tiết quy định tại Điều 99, Luật đất đai 2013 (Quốc hội, 2013)
b Nguyên tắc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất được cấp theo từng thửa đất Trường hợp người sử dụng đất đang
sử dụng nhiều thửa đất nông nghiệp tại cùng một xã, phường, thị trấn mà có yêu cầu thì được cấp một Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất chung cho các thửa đất đó
- Thửa đất có nhiều người chung quyền sử dụng đất, nhiều người sở hữu
Trang 29chung nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất thì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất phải ghi đầy đủ tên của những người có chung quyền sử dụng đất, người sở hữu chung nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất và cấp cho mỗi người 01 Giấy chứng nhận; trường hợp các chủ sử dụng, chủ sở hữu có yêu cầu thì cấp chung một Giấy chứng nhận và trao cho người đại diện
- Người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất được nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật
Trường hợp người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất không thuộc đối tượng phải thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc được miễn, được ghi nợ nghĩa vụ tài chính và trường hợp thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm thì được nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngay sau khi cơ quan có thẩm quyền cấp
- Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng thì phải ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, trừ trường hợp vợ và chồng có thỏa thuận ghi tên một người
Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng mà Giấy chứng nhận đã cấp chỉ ghi
họ, tên của vợ hoặc chồng thì được cấp đổi sang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất để ghi cả họ, tên vợ và
họ, tên chồng nếu có yêu cầu
- Trường hợp có sự chênh lệch diện tích giữa số liệu đo đạc thực tế với số liệu ghi trên giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này hoặc Giấy chứng nhận đã cấp mà ranh giới thửa đất đang sử dụng không thay đổi so với ranh giới thửa đất tại thời điểm có giấy tờ về quyền sử dụng đất, không có tranh chấp với những người sử dụng đất liền kề thì khi cấp hoặc cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất diện tích đất được xác định theo số liệu đo đạc thực tế Người sử dụng đất không phải nộp tiền sử dụng đất đối với phần diện tích chênh lệch nhiều hơn nếu có
Trang 30Trường hợp đo đạc lại mà ranh giới thửa đất có thay đổi so với ranh giới thửa đất tại thời điểm có giấy tờ về quyền sử dụng đất và diện tích đất đo đạc thực tế nhiều hơn diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất thì phần diện tích chênh lệch nhiều hơn (nếu có) được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định tại Điều 99 của Luật đất đai 2013 (Quốc hội, 2013)
c Thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho tổ chức, cơ sở tôn giáo; người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện dự án đầu tư; tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được ủy quyền cho cơ quan tài nguyên và môi trường cùng cấp cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
- Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam
- Đối với những trường hợp đã được cấp Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng
mà thực hiện các quyền của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng thì do cơ quan tài nguyên và môi trường thực hiện theo quy định của Chính phủ tại Điều 105, Luật đất đai
Trang 31Với việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác QLĐĐ đã góp phần nâng cao hiệu quả công việc, nhất là thống kê, kiểm kê đất đai và thành lập bản
đồ hiện trạng SDĐ, đo đạc, lập bản đồ địa chính Sản phẩm đo đạc bản đồ được thành lập dạng số giúp cho việc lưu trữ, khai thác sử dụng tiện lợi Bên cạnh đó, với kho dữ liệu đa dạng, người sử dụng có thể truy cập và tra cứu thêm nhiều thông tin như: Chủ sử dụng, nguồn gốc cũng như loại đất, diện tích, công trình, tài sản trên đất… Đồng thời, cán bộ quản lý đất đai có thể dễ dàng cập nhật thông tin, điều chỉnh những biến động về đất đai khi kê khai đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đất đai không chỉ giúp giảm những hạn chế, tiêu cực phát sinh, từng bước nâng cao hiệu quả công tác quản lý mà còn giúp xây dựng một môi trường làm việc chuyên nghiệp với đội ngũ cán bộ năng động có trình độ CNTT, góp phần hiện đại hoá ngành tài nguyên và môi trường Tuy nhiên, đội ngũ cán bộ hoạt động trong lĩnh vực CNTT còn mỏng, người có trình độ chuyên môn về lĩnh vực CNTT thì lại yếu nghiệp vụ về lĩnh vực TN&MT và ngược lại, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế Các buổi tập huấn chuyên sâu ứng dụng CNTT vào hoạt động nghiệp vụ còn ít (Bùi Quang Hậu, 2016)
2.3.2 Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đất đai của một số nước trên thế giới
Việc ứng dụng công nghệ vào xây dựng CSDL địa chính ở nhiều nước trên thế giới đã được quan tâm từ sớm và thực hiện với nhiều kết quả tốt Đặc biệt là ở các nước phát triển như Thụy Điển, Hà Lan, Úc, Italy,… CSDL địa chính được hoàn thiện thành các hệ thống thông tin đất đai phục vụ rất hiệu quả cho sự phát triển kinh tế - xã hội
2.3.2.1 Thụy Điển
Tại Thụy Điển, toàn bộ quá trình từ quyết định ban đầu đến khi hoàn thiện mất khoảng 25 năm Hệ thống thông tin đất đai tích hợp các thông tin đăng ký đất đai và địa chính vào một hệ thống bao gồm những phần sau: Đăng ký tài sản, xác định các đối tượng trong hệ thống (thửa đất, các đơn vị tài sản); Đăng ký đất đai, xác định các quyền đối với các đối tượng; Thiết lập và địa chỉ; Thuế và giá trị; Lưu trữ dạng số
Mô hình hệ thống dựa trên một thiết kế kiến trúc mà môi trường quản lý/cập nhật quản lý đất đai được tối ưu hóa cho các quy trình làm việc kết hợp
Trang 32với các thủ tục pháp lý và hệ thống phân phối được tối ưu hóa cho việc cung cấp, trao đổi và trình diễn dữ liệu Mô hình này bao gồm 4 phần về nền tảng tương kết
và giao tiếp bằng các định dạng tệp cụ thể dựa trên XML/GML (Bộ Tài nguyên
và Môi trường, 2012)
Thụy Điển xây dựng được ngân hàng dữ liệu đất đai vào năm 1995, trong ngân hàng này mỗi đơn vị tài sản có các thông tin sau:
- Khu vực hành chính nơi có bất động sản, địa chỉ, vị trí trên trích lục bản
đồ địa chính, toạ độ của bất động sản và các công trình xây dựng;
- Thông tin về quyền thông hành địa dịch;
- Các biện pháp kỹ thuật và chính thức được thực hiện, số tra cứu đến các bản đồ và các tài liệu lưu trữ khác
Đồng thời, ngân hàng dữ liệu đất đai được kết nối tới các CSDL địa lý của Thụy Điển thông qua hệ thống tọa độ Các CSDL địa lý có chứa các thông tin
về địa hình, sử dụng đất, thủy văn, thực vật, Thông tin cơ bản trong ngân hàng dữ liệu đất đai được cập nhật hàng ngày bởi cơ quan đăng ký đất và cơ quan địa chính
Trang 33được quản lý toàn bộ qua mạng, là một phần cơ bản của LIS của bang NSW (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2012) LIS tại NSW có đặc điểm và chức năng, nhiệm vụ như sau:
- Quản lý và cập nhật dữ liệu không gian và phi không gian;
- Chuẩn bị và chia sẻ các sản phẩm và dịch vụ dữ liệu không gian chất lượng cao từ các ứng dụng dữ liệu không gian;
- Đảm bảo dữ liệu không gian và phi không gian tương thích và có thể tích hợp với các hệ thống khác;
- Quản lý, xây dựng và phát triển các ứng dụng dữ liệu không gian;
- Cung cấp tư vấn kỹ thuật, hướng dẫn, hỗ trợ người dùng các hệ thống dữ liệu không gian khác nhau;
- Thiết kế, thực thi và hỗ trợ các giải pháp trên thiết bị di động và các ứng dụng Web
- Xây dựng và duy trì các tiêu chuẩn, chính sách và quy trình của tổ chức liên quan tới việc vận hành hệ thống dữ liệu không gian và phi không gian
2.3.2.3 Hà Lan
Hệ thống Kadaster-online của Hà Lan được đánh giá là một trong những hệ thống thông tin đất đai thành công nhất trên thế giới Kadaster-on-line được thiết lập bởi Kadaster - cơ quan đăng ký đất đai và quản lý hồ sơ địa chính của Hà Lan, cung cấp 2 loại hình dịch vụ chính là:
- Kadaster-on-line cho người sử dụng chuyên nghiệp (các nhà chuyên môn) trong lĩnh vực quản lý đất đai và bất động sản, các dịch vụ này có thu phí
- Kadaster-on-line product cho tất cả những người dân bình thường, các dịch vụ này được miễn phí
Với những dịch vụ cung cấp khá hoàn hảo, Kadaster-on-line đã có tác động rất lớn đến thị trường bất động sản và công tác quản lý đất đai ở Hà Lan Ngoài
ra, nó trở thành một mô hình kiểu mẫu về hệ thống thông tin đất đai cho nhiều nước khác học tập (Trần Quốc Bình, 2010)
2.3.3 Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đất đai ở Việt Nam
Xác định vai trò quan trọng của việc ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong lĩnh vực quản lý đất đai, những năm qua, ngành Tài nguyên và
Trang 34Môi trường tỉnh đã ứng dụng nhiều phần mềm hỗ trợ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, đáp ứng yêu cầu quản lý đất đai trong tình hình hiện nay Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang sử dụng 4 hệ thống phần mềm chính để quản lý hệ thống thông tin đất đai gồm: TMV (Tổng công ty Tài nguyên & Môi trường), ELIS (Cục Công nghệ thông tin - Bộ TN & MT), ViLIS (Tổng Công ty Tài nguyên và Môi trường miền Nam) và SouthLIS (Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng và Phát triển công nghệ)
Với việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác quản lý đất đai đã góp phần nâng cao hiệu quả công việc, nhất là thống kê, kiểm kê đất đai và thành lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất, đo đạc, lập bản đồ địa chính Khi có số liệu đo đạc ngoài thực địa, cán bộ đo đạc sử dụng các phần mềm ứng dụng để xây dựng bản
đồ theo hệ tọa độ chuẩn
Xây dựng cơ sở dữ liệu về đất đai gắn liền với công nghệ hệ thống thông tin địa lý (GIS) và các ứng dụng CAD để số hóa dữ liệu địa chính Thông qua các nghiên cứu của nhiều đơn vị, các dự án đã và đang thực hiện từ năm 1992 trở lại đây, nhiều công nghệ đã được ứng dụng trong các cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai từ cấp Trung ương tới cấp địa phương, các doanh nghiệp đo đạc bản đồ và lập hồ sơ địa chính Các công nghệ được ứng dụng cơ bản là các công nghệ tiên tiến ở Việt Nam và trên thế giới
2.4 TÌNH HÌNH XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐỊA CHÍNH Ở VIỆT NAM 2.4.1 Tình hình xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính trong cả nước
- Thời kỳ đo đạc lập bản đồ địa chính và hồ sơ địa chính trong thời kỳ trước năm 1954 ở miền Bắc và trước năm 1975 ở miền Nam: bản đồ và hồ sơ địa chính chủ yếu ở dạng giấy với nội dung tương đối đơn giản mục đích là để xác định được diện tích đất đai, chủ sử dụng (sở hữu) làm công cụ để thu thuế
là cơ bản
- Thời kỳ đo đạc lập bản đồ, hồ sơ địa chính theo chỉ thị 299 Phần lớn bản
đồ được lưu trữ ở dạng giấy, các bản đồ này chủ yếu hiện đang lưu trữ tại kho lưu trữ thuộc Trung tâm Thông tin Tài nguyên và Môi trường thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường cấp tỉnh Một khối lượng nhỏ được sao lưu để sử dụng tại cấp xã, huyện
- Thời kỳ sau chỉ thị 299 đến trước năm 1999: Các địa phương đã bắt đầu ứng dụng công nghệ số để thành lập bản đồ địa chính Khuôn dạng của bản đồ và
Trang 35hồ sơ địa chính rất đa dạng, bản đồ chủ yếu được lập trên nền đồ họa của phần mềm Autocad và MicroStation, hồ sơ địa chính chủ yếu được quản lý ở dạng cơ
sở dữ liệu dbf trong phần mềm Foxpro
- Sau năm 1999, khi Tổng cục Địa chính ban hành áp dụng phần mềm tích hợp cho đo vẽ bản đồ địa chính FAMIS cho công tác thành lập bản đồ địa chính, bản đồ địa chính đã cơ bản thống nhất một khuôn dạng của phần mềm MicroStation và hồ sơ địa chính đã cơ bản theo phần mềm CadDB Tuy nhiên, trong thời gian này do phần mềm hồ sơ địa chính chưa hoàn thiện và không đáp ứng các yêu cầu có tính đặc thù của địa phương nên vẫn còn có nhiều địa phương tiếp tục sử dụng các phần mềm tự phát triển để xây dựng hồ sơ địa chính sau đó chuyển đổi sang khuôn dạng của CadDB
Trong nhiều năm qua, các địa phương đã quan tâm, tổ chức triển khai xây dựng CSDL địa chính ở nhiều địa bàn gắn với đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng
ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và các tài sản khác gắn liền với đất Một số tỉnh (điển hình như Đồng Nai, An Giang, Vĩnh Long) và một số quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh khác (Hải Phòng, Nam Định, Thừa Thiên Huế, Bình Thuận, Hồ Chí Minh) đã cơ bản xây dựng CSDL địa chính và đã tổ chức quản lý, vận hành phục vụ yêu cầu khai thác sử dụng rất hiệu quả và được cập nhật biến động thường xuyên ở các cấp tỉnh, huyện
Tuy nhiên, nhiều địa phương còn lại việc xây dựng CSDL địa chính mới chỉ dừng lại ở việc lập bản đồ địa chính và hồ sơ địa chính dạng số cho riêng từng xã
ở một số địa bàn mà chưa được kết nối, xây dựng thành CSDL địa chính hoàn chỉnh nên chưa được khai thác sử dụng hiệu quả và không cập nhật biến động thường xuyên Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng trên là do nhận thức về CSDL địa chính hiện nay chưa đầy đủ, việc đầu tư xây dựng CSDL địa chính ở các địa phương chưa đồng bộ và các bước thực hiện chưa phù hợp
- Giai đoạn 2009 - 2011, Tổng cục quản lý đất đai đã phối hợp với Trung tâm Lưu trữ và Thông tin đất đai xây dựng:”Dự án xây dựng CSDL tổng hợp đất đai ở Trung ương” Dự án sẽ xây dựng CSDL tổng hợp về đất đai cấp Trung ương là một phần của CSDL quốc gia về đất đai Dự án nhằm đảm bảo độ tin cậy
về thông tin dữ liệu đất đai cấp Trung ương, cung cấp những thông tin dữ liệu cơ bản để các Bộ, ngành xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển của Bộ, ngành mình đồng thời là tiêu chí quan trọng để quản lý và bảo vệ tài nguyên và môi trường nói chung và tổng hợp về đất đai cấp Trung ương nói riêng Mục tiêu
Trang 36chính của dự án này là xây dựng và đưa vào vận hành một CSDL tổng hợp về đất đai cấp Trung ương nhằm giúp các cơ quan lý đất đai cấp Trung ương có được một công cụ quản lý tốt, hiệu quả phục vụ quy hoạch phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng Thực hiện việc kiểm soát chất lượng, nâng cao giá trị dữ liệu và trình độ kỹ thuật quản lý dữ liệu, hỗ trợ kỹ thuật cho việc quản lý
dữ liệu ở các cơ sở bằng các hoạt động đào tạo, chuyển giao kỹ thuật; Thiết lập
cơ chế hoạt động đảm bảo cho sự hoạt động có hiệu quả và lâu dài của CSDL, chấm dứt sự phân tán thông tin dữ liệu đất đai cấp Trung ương (Bộ Tài nguyên
và Môi trường, 2011)
- Giai đoạn 2008 - 2013, “Dự án hoàn thiện và hiện đại hóa hệ thống quản
lý đất đai Việt Nam (VLAP)” Dự án triển khai tại 9 tỉnh được lựa chọn với kinh phí 100 triệu đô la Mỹ Tăng cường sự tiếp cận của mọi đối tượng đối với dịch
vụ thông tin đất đai thông qua việc phát triển một hệ thống quản lý đất đai hoàn thiện ở các tỉnh được lựa chọn của Việt Nam trên cơ sở xây dựng hệ thống công khai, chính xác, đầy đủ, kịp thời về đăng ký đất đai, thông tin đất đai (bản đồ địa chính và hồ sơ địa chính), Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bảo vệ quyền lợi của người sử dụng đất và đáp ứng mọi nhu cầu thông tin của công đồng (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2013)
Trong công tác quản lý đất đai ở Việt Nam bản đồ địa chính là tài liệu quan trọng và được dùng nhiều nhất để quản lý và tra cứu về dữ liệu thửa đất Do
đó, công tác thành lập bản đồ được quan tâm và có quy định chặt chẽ về kỹ thuật bao gồm cơ sở toán học, độ chính xác, chia mảnh, nội dung, ký hiệu, kiểm tra nghiệm thu, quản lý và sử dụng… được Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định rất chi tiết trong các thông tư, quy phạm thành lập bản đồ địa chính (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008) Việc xây dựng bản đồ địa chính dạng số được quy định về phân lớp, hệ thống thư viện ký hiệu… biên tập bản đồ từ số liệu đo đạc được quy định theo khuôn dạng của phần mềm MicraStation
Sau khi đo đạc và biên tập xong bản đồ địa chính các địa phương tiến hành kê khai đăng ký cấp GCNQSĐ do thông tin ban đầu của bản đồ địa chính còn thiếu, một số thông tin không chính xác, bị thay đổi nên cần bổ sung thêm thông tin về chủ sử dụng (tên vợ, chồng, số chứng minh nhân dân, ngày cấp, nơi cấp địa chỉ…), thông tin về thửa đất (nguồn gốc, giấy tờ kèm theo, thông tin về công trình xây dựng trên đất như chất liệu nhà, số tầng, loại nhà, thông tin về sở hữu như giấy chứng nhận cũ, quyền sử dụng, hạn chế sử dụng, thông tin quy
Trang 37hoạch…) Từ số liệu này các địa phương lập và xét các đợt để cấp GCNQSDĐ Tuy từng địa phương mà bước kê khai đăng ký này có thể tiến hành ngay sau khi
đo đạc lập bản đồ địa chính, cũng có khi được thực hiện sau thời gian rất dài từ khi bản đồ địa chính được đo, hoặc công việc này có thể thực hiện một phần rời rạc, không liên tục về thời gian và không gian Tùy vào nhu cầu và năng lực của từng địa phương mà bước kê khai đăng ký, lập hồ sơ địa chính như cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, lập sổ địa chính, sổ mục kê đất đai, sổ cấp GCN, biểu thống kê, kiểm kê đất đai có thể thực hiện một cách thủ công hoặc sử dụng một số phần mềm do Việt Nam xây dựng như phần mềm ViLIS, ELIS, TMV.LIS hoặc phần mềm tự xây dựng riêng Các phần mềm này nền đồ họa đều được phát triển trên nền công nghệ ArcGIS Engine của hãng Esri Hệ quản trị cơ sở dữ liệu tùy thuộc vào cơ sở hạ tầng của từng địa phương có thể lựa chọn hệ quản trị Microsoft Access, MySQL, Microsoft SQL Server, Oracle… Các bản đồ ở định dạng dgn đã được chia mảnh và biên tập tạo vùng ở phần trước được ghép lại và chuyển về một định dạng shape file hoặc định dạng geodatabase… Quá trình này làm cho bản đồ chuyển sang không còn bảo toàn được quan hệ topo
2.4.2 Tình hình xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính trên địa bàn thành phố Hà Nội
Giai đoạn trước 1954: thực dân Pháp đã tiến hành thành lập bản đồ địa chính với các tỷ lệ khác nhau cho toàn bộ làng, xã, khu phố trên địa bàn thành phố Hà Nội với tỷ lệ bản đồ 1/200 và 1/500 là 1.902 tờ bản đồ, tỷ lệ 1000 là 910
tờ, tỷ lệ 1/2000 là 942 tờ bản đồ
Giai đoạn 1955 - 1975: trong giai đoạn này do chiến tranh vì thế công tác xây dựng bản đồ, lập hồ sơ địa chính ít được quan tâm, thành phố không xây dựng bản đồ địa chính Cuối năm 1959 đầu năm 1960 thực hiện chỉnh lý bản đồ thời Pháp để phục vụ quản lý đất đai
Giai đoạn 1975 - 1991: Trong giai đoạn này công tác đo đạc bản đồ xây dựng hồ sơ địa chính đã được tất cả các cấp chính quyền quan tâm Thực hiện CT299/TTg năm 1980 của Thủ tướng Chính phủ thì một số huyện, xã của Hà Nội thành lập bản đồ giải thửa nhưng hệ thống bản đồ mang tính rời rạc, chắp vá, độ chính xác thấp, nội dung của tờ bản đồ không thể hiện yêu cầu công tác quản lý
Giai đoạn 1992 - 2001, ở giai đoạn này công tác đo đạc bản đồ, lập hồ sơ địa chính tiếp tục được quan tâm, được sự chỉ đạo hướng dẫn của Tổng Cục địa chính Thành phố Hà Nội đã thực hiện đo đạc bản đồ cho toàn bộ các xã ngoại thành Hà Nội
Trang 38Trên địa bàn Hà Nội cũ bao gồm 14 quận, huyện với 232 phường, xã, thị trấn đã hoàn thành công tác đo vẽ bản đồ địa chính khu vực đất ở và một phần đất nông nghiệp, chủ yếu bằng công nghệ cũ, những tài liệu hiện tại đã quá cũ và chưa thống nhất; đã chuyển đổi toàn bộ hệ thống bản đồ địa chính số về hệ tọa độ VN- 2000, nhưng độ chính xác của bản đồ so với quy phạm mới ban hành chưa đảm bảo Do quá trình phát triển kinh tế, việc dồn điền đổi thửa làm biến động rất lớn, cần phải đối soát chỉnh lý hoặc đo mới và chuẩn hóa các dữ liệu bản đồ địa chính theo chuẩn thống nhất; Chú trọng công tác tiếp biên bản đồ địa giới hành chính các đơn vị hành chính do chia tách, sáp nhập
Một số đơn vị thực hiện việc số hóa bản đồ giấy và quản lý trên nền Microstation hoặc Autocad (không thống nhất phần mềm chung nên không cập nhật đồng bộ ở các cấp xã - huyện - thành phố), việc số hóa mang tính tự phát và không theo quy chuẩn về độ chính xác, về phân lớp đối tượng nên chất lượng không đồng đều, sai số lớn và cũng chưa xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính
Tất các các quận, huyện đều thực hiện quản lý đất đai thông qua hồ sơ giấy, các số liệu tổng hợp là các bảng excel được thực hiện khi phát sinh nhu cầu Các số liệu tổng hợp khó chính xác vì cách quản lý thủ công và không được tự động cập nhật thường xuyên
Một số đơn vị triển khai ứng dụng CNTT nhưng không gắn với quy trình hành chính, không gắn với nghiệp vụ xử lý hồ sơ trong khi quá trình xây dựng cơ
sở dữ liệu đất đai và hệ thống hồ sơ địa chính phải được gắn liền với tin học hóa nghiệp vụ hành chính, mỗi vị trí xử lý hồ sơ là 1 nhân tố tích hợp dữ liệu cho hệ thống, việc xử lý hồ sơ được giám sát bởi quy trình hành chính, là yếu tố đảm bảo cho hệ thống cơ sở dữ liệu đất đai được tự động cập nhật
Giai đoạn từ năm 2003 đến nay: Tính đến cuối tháng 6/2016, Hà Nội đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 1.458.150 thửa đất, căn hộ, trong đó 100% các trường hợp sử dụng đất đủ điều kiện và kê khai đăng ký đã được cấp Giấy chứng nhận, đạt 89,9% thửa đất của hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất trong các khu dân cư; đạt 89% căn hộ tại các dự án phát triển nhà ở; đạt 57% thửa đất do các tổ chức sử dụng; 358 thửa đất do các cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng sử dụng; cấp được 54.000 Giấy chứng nhận đất nông nghiệp sau dồn điền, đổi thửa (Trọng Phú, 2016)
Bên cạnh những kết quả đạt được, những vấn đề còn khó khăn, tồn đọng
Trang 39hiện là rào cản trong công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhà ở hiện nay Đó là tình trạng hơn 144.000 thửa đất còn tồn đọng, vướng mắc, trong
đó gần 16.000 trường hợp lấn, chiếm đất, hàng chục nghìn trường hợp cấp trái thẩm quyền, chuyển mục đích sử dụng đất sai quy định, vi phạm quy hoạch Trọng Phú, 2016)
Hiện còn 146.189 thửa đất của hộ gia đình, cá nhân, 8.345 thửa đất các tổ chức đang sử dụng đất chưa kê khai đăng ký cấp Giấy chứng nhận, 144.011 thửa đất, 56.970 căn hộ đang gặp khó khăn, vướng mắc, đặc biệt là việc cấp Giấy chứng nhận đất nông nghiệp sau dồn điền đổi thửa tiến độ rất chậm so với yêu cầu, đạt khoảng 7% (Thông tấn xã Việt Nam, 2016)
Hầu hết các trường hợp thửa đất tồn đọng là do cấp trái thẩm quyền, lấn chiếm đất, chuyển mục đích sử dụng đất sai quy định, vi phạm quy hoạch, giấy tờ không hợp lệ Để xảy ra những sai phạm này cho thấy công tác quản lý đất đai, trật tự xây dựng trên địa bàn thành phố Hà Nội thời gian qua còn nhiều tiêu cực, lỏng lẻo
Đối với các dự án phát triển nhà ở, trên địa bàn thành phố hiện có 410 dự
án, trong đó có 223 dự án đã được thành phố giao đất với 216.580 căn chung cư
và 112.150 căn nhà ở thấp tầng đã xây dựng xong, bàn giao cho người mua nhà Trong đó có hơn 112.000 căn đã xây xong và bàn giao cho khách hàng và đã cấp được 31.800 giấy chứng nhận, còn lại hơn 80.300 căn chưa được cấp Nguyên nhân của tình trạng cấp sổ muộn là do nhiều chủ đầu tư vi phạm về quy hoạch, thiết kế xây dựng đã được phê duyệt hoặc chưa làm xong thủ tục pháp lý về đất đai đã xây dựng và bán nhà (Minh Nghĩa, 2014)
* Khái quát về dự án VLAP:
Dự án VLAP là dự án hoàn thiện và hiện đại hóa hệ thống quản lý đất đai Việt Nam" (tiếng Anh là Vietnam Land Administration Project - viết tắt VLAP) Mục tiêu hướng tới của VLAP là: Tăng cường sự tiếp cận của mọi đối tượng đối với dịch vụ thông tin đất đai qua việc phát triển một hệ thống quản lý đất đai hoàn thiện ở các địa phương VLAP được xây dựng trên cơ sở công khai, minh bạch, chính xác, đầy đủ, kịp thời về đăng ký đất đai, thông tin đất đai (bản đồ địa chính và hồ sơ địa chính), chứng nhận quyền sử dụng đất nhằm đáp ứng mọi nhu cầu về thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, bảo vệ quyền lợi của người sử dụng đất, đồng thời đáp ứng mọi nhu cầu thông tin của cộng đồng
Trang 40Đối với Hà Nội, tổng khối lượng được thực hiện trong dự án VLAP là: Lập lưới địa chính 1112 điểm; tổng diện tích được đo vẽ bản đồ địa chính là 143.159 ha; tổng diện tích được số hóa, chuyển hệ tọa độ bản đồ địa chính là 20.706 ha; tổng số GCN được kê khai đăng ký cấp mới, cấp đổi và lập hồ sơ địa chính là 1.199.022 (trong đó cấp mới 222.315 GCN (sổ mới) và cấp đổi hơn 976.700 GCN
Nguồn vốn thực hiện Dự án có tổng mức đầu tư là 12,134 triệu USD (205,451 tỷ VNĐ) Trong đó, Ngân hàng thế giới tài trợ 9,004 triệu USD (152,448 tỷ VNĐ); vốn đối ứng của thành phố là 3,130 triệu USD (53,003 tỷ VNĐ)
Ban quản lý Dự án VLAP đã ký hợp đồng 10 gói thầu thuộc 3 huyện với 8 nhà thầu tham gia; đã ký hợp đồng tư vấn giám sát với 2 đơn vị tại 5 gói thầu thuộc các huyện Quốc Oai, Đan Phượng và lập thủ tục ký hợp đồng tư vấn giám sát tại 5 gói thầu với 3 đơn vị thuộc huyện Ứng Hòa
Tính đến hết tháng 11-2012, Dự án VLAP Hà Nội triển khai hiệu quả tại địa bàn ba huyện Đan Phượng, Quốc Oai, Ứng Hòa (gồm 66 xã thị trấn) Tiến độ thi công các gói thầu dịch vụ kỹ thuật nhìn chung đã được đẩy mạnh; công đoạn
đo đạc bản đồ địa chính cơ bản hoàn thành với tổng diện tích đã đo đạc, lập bản
đồ địa chính tại ba huyện là 38,386ha
Về công tác đăng ký kê khai, xét cấp GCN cho hộ gia đình, cá nhân, tại hai huyện Quốc Oai và Đan Phượng có tổng số 127.950 thửa đã kê khai, lập hồ
sơ (Đan Phượng trên 67.000 hồ sơ, Quốc Oai 60.387 hồ sơ); tổng số hồ sơ đã xét cấp GCN ở xã là 78.898 (Đan Phượng 43.661, Quốc Oai 35.237 hồ sơ); tổng số
hồ sơ đã thẩm định ở huyện là 37.801 (Đan Phượng 24.031, Quốc Oai 13.770 hồ sơ); tổng số GCN đã ký là 23.195 GCN (Đan Phượng 16.972 GCN, Quốc Oai 6.223 GCN) Đã có 884 GCN trao cho người dân các địa phương
Về công tác đào tạo, tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng: Ban quản lý Dự án đã tổ chức được 5 khóa đào tạo chuyên môn nghiệp vụ cho 66 cán
bộ địa chính tại 3 huyện; tổ chức 3 hội nghị tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng tại UBND các huyện và ký hợp đồng với Hội phụ nữ huyện Ứng Hòa làm đơn vị hỗ trợ thực hiện công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng tại địa bàn với nguồn vốn viện trợ NZAP của Dự án (Nguyễn Hoàng, 2013)