1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng hệ thống e learning hỗ trợ tự học cho học sinh trong dạy học phần quang hình ở trường THPT luận văn thạc sĩ giáo dục học

104 734 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây dựng hệ thống e learning hỗ trợ tự học cho học sinh trong dạy học phần quang hình ở trường THPT
Tác giả Trương Thị Phương Chi
Người hướng dẫn PGS-TS. Mai Văn Trinh
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học môn Vật lý
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2011
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 8,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó việc đổi mới PPDH trong giáo dục đóng vai trò rất quan trọng và cần thiết.Cầnđổi mới PPDH sao cho trong dạy học phải đảm bảo được sự phát triển năng lực sángtạo cho học sinh , bồi

Trang 1

TRƯƠNG THỊ PHƯƠNG CHI

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

ThànhphốHồChí Minh – 2011

Trang 2

TRƯƠNG THỊ PHƯƠNG CHI

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS-TS.MAI VĂN TRINH ThànhphốHồChí Minh – 2011

Trang 4

Cũngxingửilờicámơnđến Ban GiámHiệuvàcácđồngnghiệpcủatrường THPT LươngThếVinh,

cùngcácanhchịhọcviêncaohọcchuyênngànhLýluậnvàphươngphápdạyhọcVậtlýkhóa 17 đãnhiệttìnhgiúpđỡ,

tạomọiđiềukiệnthuậnlợichotôitrongquátrìnhhọctậpvànghiêncứukhoahọc

Cuốicùngxingởilờicảmơnchânthànhđếngiađình,

Đólànguồnđộnglựcrấtlớnchotôitrongquátrìnhnghiêncứuvàhoànthiệnluậnvăncủamình

Trang 5

MỤC LỤC

1 Lý do chọnđềtài 1

2 Mụcđíchnghiêncứu 2

3 Đốitượngvàphạm vi nghiêncứu 3

4 Giảthuyếtkhoahọc 3

5 Nhiệmvụnghiêncứu 3

6 Phươngphápnghiêncứu 3

7 Cấutrúcluậnvăn 4

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG E-LEARNING NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ Ở TRƯỜNG THPT 5

1.1 Hoạtđộngdạyvàhọcvậtlýtheohướngtựhọccủahọcsinh 5

1.1.1 Mụcđíchvà ý nghĩacủahoạtđộngdạyvàhọcvậtlýtheohướngtựhọccủahọcsinh 5

1.1.2 Hoạtđộngtựhọcvậtlýcủahọcsinh 8

1.1.3 Điềukiệnchohoạtđộngtựhọccủahọcsinh 10

1.2.Hoạtđộngdạyvậtlýnhằmbồidưỡngnănglựctựhọccủahọcsinh 12

1.2.1Nhiệmvụcủagiáoviên 12

1.2.2Tổchứchoạtđộngtựhọcvậtlýchohọcsinh 13

1.3.Tổngquanvề E-learning 15

1.3.1 Kháiniệmvề E-learning 15

Trang 6

1.3.2 Đặcđiểmcủa E-learning 17

1.3.3 Cấutrúchệthống E-learning 18

1.3.4 Cácchuẩn E-learning 21

1.3.5 Qui trìnhthiếtkếhệthống E-learning 21

1.3.6 Vaitròcủagiáoviênvàhọcsinhtrongmôitrường E-learning 22

1.3.7 Tìnhhìnhpháttriểnvàứngdụngcủa E-learning trênthếgiớivà Việt Nam 26

1.4 E-learning vớiviệcnângcaokhảnăngtựhọcchohọcsinhtrongdạyhọcvậtlý ở trườngtrunghọcphổthông 28

1.4.1 ƯuđiểmcủaE-learningtrongdạyhọcvậtlý ở trường THPT 28

1.4.2ViệcsửdụnghệthốngE-learningtrongdạyhọcvậtlýnhằmnângcaokhảnăngtựhọcchohọcsinh 31

KẾT LUẬN CHƯƠNG I 33

Chương2: XÂY DỰNG HỆ THỐNG E-LEARNING PHẦN “QUANG HÌNH HỌC”, VẬT LÝ LỚP 11 - BAN CƠ BẢN NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG TỰ HỌC CHO HỌC SINH 34

2.1 SơlượcvềphầnQuangHìnhHọc – Vậtlý 11 ban cơbản 34

2.1.1 GiớithiệuvềphầnQuangHìnhHọc – Vậtlý 11 ban cơbản 34

2.1.2 Nhữngđiểmcầnlưu ý khidạyhọcphầnQuangHìnhHọc – Vậtlý 11 ban cơbản 34

2.2 Xâydựnghệthống E-learning phầnQuangHìnhHọcVậtlýlớp 11 ban cơbảnnhằmnângcaokhảnăngtựhọcchohọcsinh 38

2.2.1 Cơsởxâydựnghệthống E-learning phầnQuangHìnhHọcVậtlýlớp 11 ban cơbản 38

Trang 7

2.2.2 Multimedia hóakiếnthức 39

2.2.3 Xâydựnghệthốngcơsởdữliệu 44

2.2.4 Xâydựnghệthống E-learning phầnQuangHìnhHọc- vậtlý 11 ban cơbảnnhằmnângcaokhảnăngtựhọcchohọcsinh 45

2.3 Sửdụnghệthống E-learning phầnQuangHìnhHọcVậtlýlớp 11 ban cơbảnnhằmnângcaokhảnăngtựhọcchohọcsinh 54

2.4 Sửdụnghệthốngquảnlýtrêntrangweb http://e-physic.com 58

2.5 Tiếntrìnhxâydựngmộtbàihọccụthể 65

2.5.1 Tiếntrìnhdạyhọcbài “Khúcxạánhsáng” 65

2.5.2 Tiếntrìnhdạyhọcbài “Phảnxạtoànphần” 73

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 79

Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 81

3.1 Mụcđíchcủathựcnghiệmsưphạm 81

3.2 Đốitượngcủathựcnghiệmsưphạm 81

3.3 Nội dung củathựcnghiệmsưphạm 81

3.4 Phươngphápthựcnghiệmsưphạm 82

3.5 Kếtquảthựcnghiệmsưphạm 83

KẾT LUẬN CỦA CHƯƠNG 3 88

KẾT LUẬN 89 Nhữngcôngtrìnhđãcôngbốcủatácgiả

Tàiliệuthamkhảo

Phụlục

Trang 8

mẽ phương pháp giáo dục – đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều , rèn luyện

Trang 9

thành nếp tư duy sáng tạo cho người học “ [11] như nghị quyết Trung ương 2 khóaVIII đã chỉ rõ.Chính vì vậy giáo dục đã có những những chính sách chiến lược nhằmtác động lên những thế hệ tương lai của đất nước ngay từ khi họ đang ngồi trên ghế nhàtrường Điều 28 luật Giáo dục qui định: ‘Phương pháp giáo dục phổ thông phải pháthuy tính tích cực, tự giác , chủ động sáng tạo cho học sinh , phù hợp với đặc điểm từnglớp học, từng môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm ,rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn…” [46]

Sự bùng nổ thông tin khoa học kĩ thuật trên toàn thế giới cho ta thấy kiếnthức hình thành rất nhanh, do đó nhu cầu tiếp nhận thông tin tăng nhanh cả về chấtlượng và số lượng Nếu giáo viên chỉ “trung thành” với giáo án thì sẽ không kịp thờicập nhật bài giảng Nhằm đáp ứng nhu cầu đó , công nghệ giáo dục đã xuất hiện và có

vị trí nhất định trong lý luận dạy học hiện đại trong đó việc sử dụng các thành tựu củaKHKT vào quá trình dạy học nhằm thực hiện mục đích dạy học với hiệu quả cao Hiệnnay, sự phát triển của CNTT đã mở ra triển vọng to lớn trong việc đổi mới PPDH.Với

sự trợ giúp của MVT và các phần mềm dạy học, GV có thể tổ chức quá trình học tậpcủa HS theo hướng phát huy tính tích cực chủ động trong hoạt động nhận thức của HS

Do đó việc đổi mới PPDH trong giáo dục đóng vai trò rất quan trọng và cần thiết.Cầnđổi mới PPDH sao cho trong dạy học phải đảm bảo được sự phát triển năng lực sángtạo cho học sinh , bồi dưỡng tư duy khoa học, năng lực tìm tòi chiếm lĩnh tri thức.nănglực giải quyết vấn đề để thích ứng được với cuộc sống và nhịp độ phát triển của khoahọc.Tin học hóa công tác giảng dạy phát triển theo hướng làm tăng hàm lượng trí tuệ,hiệu quả đạt được gắn liền với quá trình cải tiến phương thức, hình thức, nội dunggiảng dạy, đẩy mạnh việc phát triển và ứng dụng CNTT, giúp ích tư vấn đào tạo, đàotạo từ xa,liên kết nghiên cứu khoa học giữa các giáo viên, cán bộ trong cùng một tổnhóm bộ môn, giữa các trường trong toàn quốc và trên toàn thế giới, đang trên đà pháttriển

Với phương pháp dạy học truyền thống thì đòi hỏi người học cần phải theomột thời khóa biểu cố định, lớp học được tổ chức dưới dạng lớp – bài trong không gianxác định Phương pháp dạy học truyền thống đã giúp chúng ta đào tạo được thế hệnhững lao động đáp ứng giai đoạn phát triển trước đây của đất nước Tuy nhiên trongthời kỳ CNH-HDH đất nước, phương pháp dạy học truyền thống đã bộc lộ những hạnchế cần được khắc phục Trong môi trường dạy học truyền thống thì người học khá thụ

Trang 10

động trong học tập Tính chủ động, tích cực của người học chưa được phát huy ở mức

độ cao.Học sinh chỉ học với thầy cô và sách vở là chủ yếu, rất ít thu nhận kiến thức từcác nguồn khác

Trong các phương pháp dạy học thì cốt lõi là phương pháp tự học.Nếu rènluyện cho người học có được phương pháp, kỹ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạocho họ lòng ham học hỏi, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập

sẽ được nhân lên rất nhiều lần

Phần “Quang hình học” trong chương trình vật lý lớp 11 THPT là phầnnghiên cứu về ánh sáng, từ sự truyền của ánh sáng đến sự tạo ảnh qua các quang cụ,đòi hỏi học sinh phải có sự tập trung cao độ, đào sâu suy nghĩ, truy tìm tài liệu ở thưviện, ở sách vở Thực tiễn dạy học phần “Quang hình học” còn bộc lộ một số khókhăn như: một số các thí nghiệm không thể tiến hành được, một số kiến thức khi dạybằng phương pháp truyền thống thì học sinh rất khó tiếp thu bài và không phát huyđược tính tích cực của học sinh.Những khó khăn này có thể được giải quyết nếu chúng

ta ứng dụng E-learning nhằm khai thác những lợi thế của CNTT và truyền thông vàotrong quá trình dạy học

Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn nói trên chúng tôi chọn đề tài nghiên

cứu: “Xây dựng hệ thống “E-learning” nhằm nâng cao khả năng tự học cho học sinh

trong dạy học phần “Quang hình học” ,vật lý lớp 11-ban cơ bản ”.

+ Quá trình dạy học vật lý ở trường THPT

+ Hệ thống E-learning với việc nâng cao khả năng tự học cho học sinh trongdạy học vật lý

- Phạm vi nghiên cứu:

Trang 11

Hệ thống e-leaning hỗ trợ hoạt động tự học của học sinh trong dạy học phần

“Quang hình học” , vật lý lớp 11-ban cơ bản

4 Giả thuyết khoa học

Nếu xây dựng được hệ thống E- learning đáp ứng các yêu cầu và sử dụng nó theo phương án nêu ra trong luận văn khi dạy học phần “Quang hình học” ,vật lý lớp

11-ban cơ bản thì sẽ tăng cường hứng thú, phát huy tính tích cực, tự lực cho học sinh

trong học tập từ đó nâng cao chất lượng dạy học vật lý lớp 11 THPT

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của quá trình tự học của họcsinh trong dạy học vật lý ở trường THPT

- Nghiên cứu nội dung phần “Quang hình học” ,vật lý lớp 11-ban cơ bản

- Nghiên cứu việc xây dựng hệ thống E-learning nhằm nâng cao khả năng tựhọc cho học sinh

- Biên soạn một số tiến trình dạy học có sử dụng hệ thống E-learning đã xâydựng nhằm nâng cao khả năng tự học cho HS trong DH phần “Quang hình học” ,vật lýlớp 11-ban cơ bản

- Thực nghiệm sư phạm đánh giá tính khả thi và hiệu quả của hệ thống learning phần “Quang hình học” ,vật lý lớp 11-ban cơ bản trong việc nâng cao khảnăng tự học cho học sinh

E-6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

- Nghiên cứu các tài liệu về dạy học nhằm phát triển năng lực tự học tronghoạt động nhận thức của học sinh

- Nghiên cứu cơ sở lý luận của hệ thống E-learning trong dạy học Vật lý

- Nghiên cứu chương trình sách giáo khoa, sách bài tập và sách tham khảo

để phân tích cấu trúc lôgic, nội dung kiến thức của phần “Quang hình học” ,vật lý lớp11-ban cơ bản

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

Trang 12

- Trao đổi với GV, HS về các tiết học có sử dụng phương tiện DH hiện đại.

- Nghiên cứu các phần mềm thí nghiệm ảo

- Nghiên cứu một số website DH, bài giảng điện tử trên mạng

- Xây dựng một số phương án mẫu để dạy học bằng website có chọn lọctrong phần “Quang hình học” ,vật lý lớp 11-ban cơ bản

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm ở trường THPT Lương Thế Vinh của tỉnhBình Thuận để kiểm tra giả thuyết khoa học của đề tài

6.3 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lí các kết quả thực nghiệm sưphạm, từ đó rút ra kết luận Đồng thời, đề xuất việc vận dụng cho các phần khác củachương trình Vật lý ở trường phổ thông

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn có 3chương:

 Chương I: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của luận văn

 Chương II: Xây dựng hệ thống E-learning phần “Quang hình học”

 Chương III: Thực nghiệm sư phạm

Trang 13

1.1 Hoạt động dạy và học vật lý theo hướng tự học của học sinh.

1.1.1 Mục đích và ý nghĩa của hoạt động dạy và học vật lý theo hướng tự học của học sinh.

Dân tộc ta vốn có truyền thống “hiếu học “ Nói đến “hiếu học” là nói đếntính ham học hỏi và tự giác học hỏi, biết vượt qua được mọi khó khăn để tìm lấy trithức và chiếm lĩnh tri thức Trong lịch sử , từ khi cở sở trường lớp còn thiếu thốn, độingũ những người làm thầy còn rất ít nhưng đã có rất nhiều người thành công trong họcvấn bằng việc tự học và tự tìm tòi nghiên cứu Điều này mở ra một hướng nhìn chothấy rằng không nhất thiết học sinh phải đến lớp và người dạy phải đứng trên bục giảngthì quá trình lĩnh hội tri thức mới diễn ra Quá trình này có thể diễn ra ở bất cứ đâu: cóthể trên lớp hoặc bên ngoài lớp, có thể có mặt thầy hoặc không có mặt người thầy vàdưới nhiều hình thức dạy học khác nhau Quá trình mà người thầy chỉ đóng vai trò tổchức hướng dẫn còn người học làm chủ các hoạt động hiểu, nắm vững và vận dụng trithức là quá trình tự học

Một trong những mục tiêu của nền giáo dục nước ta là bồi dưỡng con người

có tinh thần khai phá, năng lực tự mưu sinh để trở thành con người tự lực, thích ứngvới biến đổi của xã hội Vì vậy việc bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh có vai tròrất quan trọng trong quá trình nhận thức của học sinh thể hiện qua các quá trình:

- Bồi dưỡng cho HS ý thức tự giác , có thái độ tích cực trong học tập, biếtnhận thức vấn đề qua quá trình tư duy

- Giúp HS tự tạo ra cho mình nhu cầu, động cơ, hứng thú trong học tập, nângcao ý chí chủ động vượt qua khó khăn để tiếp thu tri thức rèn luyện những kỹ năng ,

kỹ xảo trong các thao tác thực hành

- Rèn luyện cho học sinh thói quen làm việc độc lập, thói quen tự học, tựnghiên cứu khoa học

Trang 14

Năng lực tự học tiềm ẩn trong mỗi người và là cơ sở để con người học tập vàchiếm lĩnh tri thức, học suốt đời Trong báo cáo của mình UNESCO đã nhấn mạnh:

“Để thích ứng với những chuyển biến nhanh chóng của xã hội hiện đại, mọi người đềucần phải học tập suốt đời Học tập suốt đời được hiểu là học tập xuyên suốt cuộc đờingười, ở nhà trường, gia đình và xã hội, cả chương trình giáo dục chính quy và khôngchính quy, trong đó mỗi cá nhân thu nhận và tích lũy tri thức, kỹ năng, thái độ và trảinghiệm trong cuộc sống của mình.Nhân tố quyết định để có thể học tập suốt đời lànăng lực tự học, năng lực tư duy và năng lực hợp tác phát hiện và giải quyết vấn đề”[ 27 Tr.10]

Có thể nói quá trình tự học là quá trình đòi hỏi HS hoạt động nhiều nhất cảtrí óc lẫn tay chân, đặc biệt là hoạt động trí óc Việc động não nhiều sẽ tập cho học sinhthói quen với tác phong làm việc độc lập, tự đưa ra câu trả lời cho vấn đề đang tìmhiểu.Điều này mang lại hai lợi ích: một là HS ghi nhớ kiến thức lâu dài mà không mấtnhiều thời gian đọc đi đọc lại để thuộc lòng, hai là hình thành trong ý thức các liên hệmối liên hệ giữa vấn đề đang tìm hiểu với những vấn đề đã biết, nhờ đó vận dụng vàothực tiễn một cách rất hiệu quả

Sự tự hỏi trong quá trình tự học có thể mất nhiều thời giờ và cho dù khôngđạt kết quả nhưng vẫn rất bổ ích vì đó là một quá trình rèn luyện tư duy và nhân cách,

dù kiến thức hay vấn đề chưa tìm ra câu trả lời nhưng cũng hình thành trong óc nhữngkhái niệm ban đầu, giúp học sinh nhanh chóng tiếp thu kiến thức được thầy giải đáp

Vì được chuẩn bị tốt, HS sẽ có những câu hỏi có giá trị với người dạy, tạo không khíhọc tập sinh động trong giờ lên lớp

Người tự học, tự nghiên cứu, hợp tác với các bạn dưới sự hướng dẫn củathầy để tự mình chiếm lĩnh tri thức bằng hành động của chính mình, do đó có hứng thú

và động cơ học tập Để tự giải quyết một vấn đề, HS cần có nhiều hoạt động ngoài nhàtrường như thu tập thông tin, tham khảo tư liệu sách báo, điện tử, mạng Internet, từ bạn

bè hoặc những người hiểu biết hơn xung quanh mình Từ đó hình thành cho các em kỹnăng giao tiếp con người, giao tiếp xã hội, biết tự đánh giá để phân biệt đúng sai củamột vấn đề và dần hình thành được nhân cách của người lao động tự chủ, năng động,sáng tạo

Vật lý ở trường phổ thông là môn học cung cấp những kiến thức nhằm giảithích các hiện tượng tự nhiên, tìm ra những quy luật của tự nhiên để cuối cùng vận

Trang 15

dụng vào việc cải tạo tự nhiên nhằm phục vụ cho sự phát triển của loài người Ngườihọc vật lý có thể xem như người tham gia vào nghiên cứu khoa học, cho dù nhữngnghiên cứu này chỉ ở tầm mức cơ bản thì vẫn cần có sự nỗ lực tìm tòi, tự hoạt độngsáng tạo của người tham gia Như vậy bồi dưỡng năng lực tự học vật lý cho HS cũngđồng nghĩa với việc dọn đường cho các em chuẩn bị bước vào nghiên cứu khoa họcsau này.

Tất cả lý thuyết vật lý đều xuất phát từ quá trình thí nghiệm hoặc được xâydựng trên các cơ sở thí nghiệm Chính vì vậy người học vật lý phải biết tự hoạt động,

cả về trí óc lẫn chân tay thì mới thu nhận kiến thức một cách đầy đủ Ngay cả thínghiệm trên lớp, nếu chỉ để thầy thực hiện, trò thụ động quan sát thì người học mất đi

cơ hội trải qua những thử thách, những tình huống phức tạp trong quá trình thí nghiệm,qua đó thể hiện được năng lực thực hành, năng lực tự xử lý tình huống, đồng thời nắmvững vấn đề hơn, phát hiện nhiều điều lý thú, nảy sinh nhiều ý tưởng sáng tạo

Hơn nữa theo logic khoa học , người học vật lý phải cùng tham gia vào quátrình tìm hiểu thì mới cảm nhận sâu sắc ý nghĩa của nội dung bài học Có những địnhluật vật lý mà các nhà khoa học phải mất nhiều năm để tìm ra và hiểu nó thì không thểtrong khoảng khắc để nghe người dạy trình bày mà người học cảm nhận tất cả được

Muốn giải quyết hiệu quả một vấn đề vật lý đôi khi đòi hỏi người tham giagiải quyết phải đúc kết từ kinh nghiệm bản thân, phối hợp nhiều kỹ năng cá nhân.Người tham gia giải quyết vấn đề vật lý hay người học vật lý không thể trông đợi hoàntoàn vào kinh nghiệm và kỹ năng của người khác.vì nếu thế thì bản thân người họckhông thể hiện được vai trò hữu ích đối với cộng đồng và sẽ không có được kinhnghiệm hay kỹ năng gì cho bản thân để sau này có thể tiếp tục thực hiện công việckhác

Việc nắm vững tri thức vật lý đòi hỏi học sinh phải biết tư duy Đối với họcsinh giỏi, thời gian để tư duy có thể ngắn, các em có thể tiếp thu kiến thức ngay tại lớpnhưng đối với các em học sinh trung bình – khá , thì thời gian cần lâu hơn, các em hầunhư không thể tiếp thu kiến thức một cách trọn vẹn ngay trên lớp.Một tiết học vật lý là

45 phút, nếu trừ ra thời gian chuẩn bị tiết học của giáo viên, thời gian kiểm tra bài cũthì thời gian cho một bài học mới chiếm từ 37 đến 38 phút.Trong khoảng thời gianngắn như vậy để hình thành một khái niệm vật lý mới trong nhận thức của các em từchưa biết đến biết là một điều rất khó khăn Vì thế HS cần có sự chuẩn bị trước ở nhà

Trang 16

trước khi đến lớp.Sự chuẩn bị trước ít hay nhiều cũng tạo ra được nền tảng cơ bản củakhái niệm trong nhận thức, do đó việc tiếp nhận kiến thức diễn ra nhanh hơn, phù hợpvới thời gian tiết học hơn.

Từ các phân tích trên chúng ta thấy rằng để học tốt môn vật lý, học sinh cầnphải biết tự học, tự tìm hiểu vấn đề trước khi nhận được sự giúp đỡ và hướng dẫn củathầy

Như vậy tự học là con đường tạo ra tri thức bền vững cho mỗi con người.Quá trình tự học diễn ra đúng quy luật của hoạt động nhận thức Kiến thức tự học là kếtquả của hứng thú , của tìm tòi, của lựa chọn và của định hướng ứng dụng Kiến thức tựhọc bao giờ cũng vững chắc, bền lâu , thiết thực và nhiều sáng tạo Tự học nên đượcxem là một vấn đề then chốt của giáo dục và đào tạo Đề cao vấn đề tự học hiện naytrong bối cảnh đất nước và thế giới là một cách nhìn vừa thực tế vừa có ý nghĩa chiếnlược Đặc biệt việc đề cao vấn đề tự học đối với học sinh trung học phổ thông là việclàm hết sức cần thiết, góp phần khắc phục tình trạng học vẹt, học thụ động hiệnnay.Nhìn chung, tư học là lối học tiết kiệm được nhiều thì giờ nhất mà hiệu quả caonhất về cả ba mặt kiến thức, tư duy và nhân cách

1.1.2 Hoạt động tự học vật lý của học sinh

Theo giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn: “ Cốt lõi của học là tự học “ và “…khi nói

tự học là chỉ xét riêng nội lực của người học” [32, tr.60] Như vậy, học sinh ôn bài ởnhà là một hoạt động tự học, phải suy nghĩ trả lời câu hỏi của thầy là tự học, tự tra cứusách vở để giải đáp thắc mắc của chính bản thân cũng là một hoạt động tự học Cónhiều hình thức hoạt động tự học , đó là: tự học có sự hướng dẫn của thầy và tự họchoàn toàn

1.1.2.1 Tự học có sự hướng dẫn của thầy

Trong tự học có sự hướng dẫn của thầy, giáo viên phải dạy người học cáchtìm lấy kiến thức và làm chủ kiến thức Nhưng vì sao phải dạy cho người học tìm lấy

và làm chủ kiến thức? Đó là vì những nhân tố quyết định sự thành công trong dạy vàhọc theo hướng tự học mà giáo viên giúp học sinh những điều sau đây:

- Chọn lọc kiến thức: kiến thức khoa học nói chung và kiến thức vật lý nói

riêng là một biển kiến thức mênh mông và hiển nhiên mới lạ và khó tỉm hiểu đối với

Trang 17

học sinh Do mục tiêu và thời gian của một khóa học mà người học không thể thu nhânhết tất cả kiến thức hoặc đi sâu tìm hiểu kiến thức nào đó nghĩa là phải chọn lọc vấn đềcần thiết cho bản thân.

- Nắm bắt kiến thức: Để thâm nhập vào một vấn đề vật lý nào đó cần có sự

gợi ý ban đầu của giáo viên HS không thể tự tìm hiểu sâu vấn đề bằng cách tự đọc tàiliệu hay sách giáo khoa Mức độ nhận thức còn tùy thuộc vào năng lực trí tuệ của cácem.Khi đọc qua một định luật vật lý, một khái niệm vật lý ,HS có thể gặp một trongnhững khó khăn sau:

+ Không nắm được câu phát biểu hàm chứa bao nhiêu ý và xác định ý chính,

Khi đó bằng những câu dẫn dắt, người dạy sẽ giúp cho người học nắm bắt

và khám phá được nội dung của bài học

- Tạo niềm tin khoa học: Người học có thể nắm bắt tính đúng đắn của vấn

đề vật lý dù chỉ qua phương pháp suy luận.Tuy nhiên cần có sự củng cố tạo niềm tin.Những yếu tố giúp tạo niềm tin bao gồm: sự trùng hợp với suy luận của bạn bè, kết quả

từ thí nghiệm và sự khẳng định của giáo viên, từ đó người học mới có thể làm chủđược kiến thức của mình

- Định hướng hoạt động: Để hoạt động tự học đạt hiệu quả cao thì người

học cần có một phương pháp hợp lý, nếu không sẽ dẫn đến tình trạng luẩn quẩn, lúngtúng trong quá trình tìm hiểu vấn đề.Hoạt động có phương pháp vừa mang lại lợi íchcho cá nhân vừa mang lại lợi ích cho tập thể

Để tạo thuận lợi cho việc quản lý cũng như đánh giá kết quả học tập củatừng học sinh, tạo cạnh tranh để thi đua và phấn đấu trong học tập, giáo viên cần đưa raphương pháp thống nhất cho cả lớp học Giáo viên cần soạn sẵn câu hỏi cho từng bài

và yêu cầu học sinh tìm hiểu từ sách giáo khoa, sách tham khảo tài liệu do giáo viêngiới thiệu để trả lời cho các câu hỏi Sau đó học sinh trình bày những tìm hiểu củamình trước lớp

Trang 18

1.1.2.2 Tự học hoàn toàn

Trong một số hoàn cảnh và điều kiện, người học không thể thường xuyênđến lớp , phải tự học mà không có sự hướng dẫn từ thầy, khi đó người học phải tự tiếnhành hoạt động của mình, Người học sẽ được kiểm tra , đánh giá sau mỗi đợt học hay

kì học Đây là hoạt động tự học hoàn toàn

Ưu điểm của quá trình này là người học có nhiều sáng tạo nảy sinh trong quátrình tự tìm hiểu, rèn luyện được tính tự tin vì phải tự giải thích vấn đề và tự khẳngđịnh những kết luận rút ra từ những bài học theo lập luận cá nhân, rèn được tính vượtkhó vì tự học hoàn toàn vì sẽ rất khó khăn cho người học trong quá trình tìm lấy kiếnthức Vì vậy khi bước vào thực tế và áp dụng những kết quả đã học sẽ không lúng túngkhi tự mình giải quyết các vấn đề phức tạp

Nhược điểm của tự học hoàn toàn là sẽ mất nhiều thời gian để người học thunhận được kiến thức hơn so với có giáo viên hướng dẫn Trong hình thức tự học này

có thể thiếu tính cạnh tranh, người học dễ tự mãn với những gì đạt được vì không cóđối tượng để so sánh Nhược điểm lớn nhất là người học có thể hiểu lệch vấn đề hoặcnắm vấn đề chưa toàn diện với các khía cạnh và tính chất của nó

Vì vậy luận văn chủ trương hướng đến hình thức tự học có sự hướng dẫn củathầy

1.1.3 Điều kiện cho hoạt động tự học của học sinh

Hoạt động tự học đòi hỏi nhiều nỗ lực và sự chuyên cần, sự ham thích củachủ thể Đáp ứng được những điều này , đối với học sinh phổ thông cần có những điềukiện tất yếu như: nhận thức đúng tầm quan trọng của tự học, phải có động lực của tựhọc và phải có tài liệu để tự học

1.1.3.1 Nhận thức về tầm quan trọng của tự học

Nếu không xác định được mục đích của công việc, chúng ta thường khôngthiết tha tham gia công việc hoặc nếu có tham gia cũng không làm đến nơi đến chốn

Do đó điều kiện đầu tiên là nhận thức đúng tầm quan trọng của tự học Nhận thức đúng

sẽ dẫn đến hành động đúng vì hành động là kết quả của nhận thức Người học chỉ cóthể tự giác tự học khi nắm được tầm quan trọng của hoạt động này

Trang 19

Để nâng cao nhận thức cho học sinh về tầm quan trọng của việc tự học , giáoviên cần là người thường xuyên giáo dục các em về mục đích của tự học qua các hoạtđộng:

- Giao công việc cụ thể cho từng cá nhân hoặc từng nhóm Chỉ định ngườiđại diện nhóm trình bày vấn đề, không để trong nhóm cử đại diện dẫn đến tình trạngchỉ một số học sinh thực sự tham gia hoạt động trong khi một số khác có khuynhhướng trông chờ, ỷ lại và trông mong vào may rủi

- Khen ngợi, biểu dương thành quả của hoạt động tự học của cá nhân hoặccủa cá thể trong nhóm hợp tác Những tư tưởng thụ động, trông chờ, ỷ lại vào ngườikhác cần bị phê phán nghiêm túc

- Rèn luyện thói quen tự học cho HS bằng việc dõi theo sát sao, kiểm trathường xuyên quá trình tự học của các em

1.1.3.2 Động lực tự học của học sinh

Đối với HS phổ thông , việc nhận thức tầm quan trọng của học tập còn phụthuộc vào người thầy Do đó muốn người học có động lực tự học cần có tác nhânkhuyến khích từ người thầy Mục tiêu cuối cùng của giáo dục là phát triển con ngườicho dù muốn đạt được mục tiêu đó bằng phương pháp này hay phương pháp khác Cần

có tác nhân khuyến khích để khơi dậy trí thông minh cho người học, kích thích pháthuy tiềm năng của con người

Hình thức khuyến khích chủ yếu ở trường THPT chủ yếu tập trung vào khâuđánh giá kết quả hoạt động tự học.Việc đánh giá cần phải công bằng và hợp lý sao chongười thực hiện nhiều công việc hơn hoặc công việc khó khăn hơn phải có điểm caohơn những người thực hiện công việc nhẹ nhàng hơn hoặc ít hơn Do đó khi phân côngcông việc cho cá nhân hoặc tổ nhóm, giáo viên cần đưa ra trọng số Trong quá trìnhthảo luận tại lớp, học sinh nào tích cực phát biểu và phát biểu hay hoặc nêu những thắcmắc có giá trị cần có những điểm thưởng.Như vậy trong việc bồi dưỡng năng lực tựhọc cho HS, kết quả học tập được đánh phải khác so với phương pháp học tập truyềnthống.Giáo viên không chỉ căn cứ vào điểm số của các bài kiểm tra viết để đánh giá màcòn căn cứ hoạt động cụ thể của các em trong giờ học

1.1.3.3 Tài liệu hỗ trợ hoạt động tự học

Trang 20

Tài liệu là vấn đề then chốt trong quá trình tự học của HS vì nó thay thế vaitrò của người thầy khi không có người thầy ở bên cạnh Tài liệu phải bao gồm SGK,sách tham khảo, và những địa chỉ website trên mạng do giáo viên cung cấp, đây làphần mà giáo viên cần chuẩn bị kĩ Giáo viên chuẩn bị càng kĩ phần này thì hiệu quảcủa việc tự học càng cao Học sinh không phải mất nhiều thời gian tìm kiếm nhưng vẫnthu được những thông tin cần thiết.

Một tài liệu chuẩn cần thỏa mãn yêu cầu sau:

 Xác thực với nội dung và vấn đề cần tìm hiểu

 Phù hợp với đối tượng nghiên cứu

 Có tính cập nhật

1.2 Hoạt động dạy vật lý nhằm bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh

1.2.1 Nhiệm vụ của giáo viên

Trong hoạt động dạy vật lý nhằm bồi dưỡng năng lực tự học cho HS, ngườigiáo viên ngoài giữ vai trò là người truyền đạt kiến thức còn là người tổ chức , điềukhiển, hướng dẫn và giúp đỡ HS trong quá trình học tập Nhiệm vụ của GV phải hìnhthành cho HS năng lực tự học, độc lập suy nghĩ, khơi dậy tính hiếu kỳ, sự say mê tìmtòi để các em thực sự hứng thú khi đi tìm chân lý khoa học Từ đó hình thành cho họcsinh những kỹ năng cơ sở của sự quan sát, thu nhận thông tin, đưa ra những suy luận,phán đoán và kết luận

Những công việc cụ thể của GV nhằm tổ chức, điều khiển hoạt động tự họcvật lý cho HS bao gồm:

- Chuẩn bị nhiều tình huống có vấn đề, đưa ra cho HS tự lực xử lý Ứng vớimỗi tình huống là một hình thức hoạt động học tập như: tiến hành thí nghiệm, tra cứutài liệu, thảo luận nhóm, phát biểu cá nhân…

- Kiểm soát diễn biến hoạt động tự học của HS và cho kết luận cuối cùng đểgiúp người học tìm ra chân lý

- Tác động cho người học tham gia một cách tích cực vào quá trình học tập

Về mặt tâm lý, không phải tất cả HS đều sẵn sàng hưởng ứng, tham gia vào các hoạtđộng học tập do giáo viên đề ra, đặc biệt là các hoạt động mang tính chất tập thể Do

đó giáo viên cần có biện pháp tác động để mọi người đều phải tham gia

Trang 21

1.2.2 Tổ chức hoạt động tự học vật lý cho học sinh

- Xuất phát từ những yêu cầu về nhiệm vụ của giáo viên, việc tổ chức hoạtđộng tự học vật lý của HS được thông qua các công đoạn sau:

 Giao nhiệm vụ cho học sinh

 Theo dõi hoạt động tự học của học sinh

 Tổ chức thảo luận đề tài

 Tổng kết, kết luận

- Trong dạy học truyền thống, giáo viên thường yêu cầu HS thực hiện việc tựhọc bằng cách học thuộc lòng bài cũ ở nhà, và sẽ kiểm tra lại các kiến thức này trướckhi vào bài học mới Cách dạy này không tạo được sự sáng tạo vì hoạt động nhận thứcchủ yếu của HS là ghi nhớ cái đã có đã chấp nhận không có sự tìm hiểu cái mới hoặcđòi hỏi suy nghĩ

- Trong phương pháp mới nhằm hướng dẫn cho HS học tập có hiệu quả cũngyêu cầu HS tự học ở nhà nhưng không phải ghi nhớ bài cũ mà tìm hiểu bài mới thôngqua hệ thống câu hỏi do giáo viên soạn sẵn Hệ thống câu hỏi hoặc bài tập được in sẵntheo từng đơn vị bài học phát cho HS vào cuối tiết học hoặc in sẵn cho cả học kỳ vàđược phát cho HS vào đầu học kỳ học Đây là cơ sở cho việc đọc và nghiên cứu bàimới cho học sinh Hệ thống câu hỏi và bài tập phải đảm bào cho HS nắm được kháiniệm , kiến thức cơ bản giúp HS vừa thấy được mối quan hệ giữa các đơn vị kiến thức

Hệ thống câu hỏi được thiết kế theo hướng chương trình hóa để giúp học sinh chiếmlĩnh tri thức , rèn luyện kỹ năng, vận dụng thực hành một cách vững chắc , rèn luyệncho HS phương pháp tư duy logic Hệ thống câu hỏi định hướng gồm các dạng sau:

- Câu hỏi gợi mở: đây là dạng câu hỏi thông dụng nhất mà học sinh có thểtrả lời thông qua việc đọc qua SGK Mục tiêu của câu hỏi bao gồm:

+ Giới thiệu nội dung, cấu trúc bài học

+ Giúp HS phân loại vấn đề , phân biệt các ý chính và các ý phụ

+ Đây là những câu hỏi tập cho HS cách đọc tài liệu

- Câu hỏi nắm vững kiến thức cơ bản của bài học: đây là những câu hỏi giúp

HS tiếp cận nội dung kiến thức bài học, hiểu được các ngôn từ, cấu trúc nội dung diễnđạt các ý nghĩa, định luật vật lý Để trả lời các câu hỏi này cần động não suy nghĩ hay

tư duy , HS không thể dựa trên những thông tin có sẵn trong SGK mà phải dựa trên

Trang 22

những tri thức đã có và những suy luận logic Dạng câu hỏi này rèn luyện cho học sinhcách tư duy độc lập.

- Câu hỏi đào sâu nội dung: hướng HS đi sâu vào bản chất các hiện tượng ,các định luật vật lý, để trả lời các câu hỏi này buộc HS phải tra cứu các tài liệu ngoàiSGK Dạng câu hỏi này rèn luyện cho HS bước đầu tham gia hoạt động nghiên cứukhoa học bằng việc nghiên cứu tài liệu tham khảo

- Câu hỏi vận dụng lý thuyết hay câu hỏi thực hành: giúp học sinh nắm vữngbài ở cấp độ vận dụng và giải thích , đòi hỏi HS có nhiều ý tưởng mới và sáng tạo

- Câu hỏi liên hệ thực tế: giúp HS mở rộng kiến thức ngoài SGK , biết vàhiều những kiến thức đang học được ứng dụng trong thực tế như thế nào

Từ quan niệm về tự học , có thể nói quá trình tự học là quá trình xuất phát từ

sự ham muốn, khát khao nhận thức Người học ấp ủ trong mình những dự định , dựavào những phương tiện nhận thức để tích lũy kinh nghiệm, tri thức và hành động để đạtkết quả nhận thức.Có thể khái quát quá trình tự học theo sơ đồ hình 1.1:

Hình 1.1: Sơ đồ khái quát quá trình tự học

- Học sinh xây dựng kế hoạch học tập: Học sinh là người chủ động trong lựachọn cách học, thể hiện ở chỗ ngay từ khi bắt đầu học là tiềm ẩn nhu cầu tất yếu phảihọc và trong suốt quá trình học tập , đảm bảo tự học thường xuyên, trách nhiệm.Họcsinh phải hoạch định tiến trình học tập , phải chọn nội dung trọng tâm, sắp xếp thờigian hợp lý, dự định cách học hiệu quả, lựa chọn tài liệu và phương tiện tiết bị cho việchọc

- Học sinh thực hiện kế hoạch học tập: Đây là giai đoạn thực sự của họcsinh, quyết định sự thành công của việc học.Giai đoạn này gồm các đoạn làm việc vớisách, tài liệu, nghe giảng, làm thí nghiệm, luyện tập xemina, xử lý thông tin, giải quyếtvấn đề Ở giai đoạn này học sinh phải vận dụng những nhóm kỹ năng học tập có thể cóđược để thực hiện tốt kế hoạch học tập, bao gồm:

+ Kỹ năng về tri thức: Ghi chép bài học, tóm tắt ( hệ thống, tự liên hệ thôngtin mới với thông tin đã học, xây dựng sơ đồ, phân loại, phân tích, so sánh, tổng hợp,

Trang 23

trừu tượng hóa, khái quát hóa, tương tự, qui nạp- diễn dịch, thay thế tức là tìm nhữngthông tin khác để so sánh và dùng mới thay cũ.

+ Kỹ năng về cảm xúc và những kỹ năng về xã hội, hợp tác trong nhóm vàlớp, đặt câu hỏi, tự trao đổi với bản thân mình, tự đánh giá , phát hiện và giải quyết vấn

đề, kỹ năng tự vận dụng cách học thích hợp

+ Tự kiểm tra: Trong tự học HS phải tự chủ động kiểm tra việc thực hiện kếhoạch học tập.Tự kiểm tra đánh giá giúp học sinh tự ý thức về khả năng, củng cố vữngchắc động cơ học tập cá nhân, tạo thêm hứng thú trong học tập, việc này cần sự hỗ trợcủa các phương tiện thiết bị Học sinh cần biết cách đối chiếu kết quả của bản thân vớikết quả của thầy , của bạn và các tài liệu , biết cách phân tích, tổng hợp

+ Kỹ năng tự điều chỉnh: là hoạt động rất quan trọng của quá trình tự học,

HS phải biết cách chuyển hướng suy nghĩ, tự sửa sai , biết bổ sung thêm kiến thức cầnthiết, tìm tòi thêm các tài liệu, biết cách phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề , biếtcách đánh giá và lật ngược vấn đề đề điều chỉnh…

Các giai đoạn trên trong quá trình tự học không tách rời nhau mà đan xen,liên hệ lẫn nhau , là quá trình mà người học tích lũy tri thức để đi đến một trình độ caohơn

Tóm lại học sinh muốn tự học tốt cần có những điều kiện sau:

 Phải được trang bị chuẩn kiến thức môn học làm cơ sở cho việc hiểu biết,luyện tập,hoạt động theo đúng mục đích yêu cầu

 Phải được hướng dẫn phương pháp tự học

1.3.1 Khái niệm về E-learning

E-learning (viết tắt của Electronic Learning) là thuật ngữ mới Hiện nay,theo các quan điểm và dưới các hình thức khác nhau có rất nhiều cách hiểu về E-learning Hiểu theo nghĩa rộng, E-learning là một thuật ngữ dùng để mô tả việc học tập,đào tạo dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông, đặc biệt là công nghệ thông tin

Trang 24

Theo quan điểm hiện đại, E-learning là sự phân phát các nội dung học sửdụng các công cụ điện tử hiện đại như máy tính, mạng vệ tinh, mạng Internet, Intranet,

… trong đó nội dung học có thể thu được từ các website, đĩa CD, băng video, audio…thông qua một máy tính hay TV; người dạy và người học có thể giao tiếp với nhau quamạng dưới các hình thức như: e-mail, thảo luận trực tuyến (chat), diễn đàn (forum), hộithảo video…

E-leaning là thuật ngữ dùng để mô tả việc học tập, đào tạo dựa trên CNTT &

TT (Combare Infobase Inc) [52]

Việc học tập được phân phối hoặc hỗ trợ qua công nghệ điện tử Việc phânphối qua nhiều kĩ thuật khác nhau như intemet, TV, video tape, các hệ thống giảng dạythông minh,và việc đào tạo dựa trên máy tính (CBT) ( Sun Microsystems Inc ) [57]

Việc phân phối các hoạt động, quá trình, và sự kiện đào tạo, học tập thôngqua các phương tiện điện tử như internet, intranet, extranet, CD-ROM,video tape, DV

D, TV, các thiết bị cá nhân (E-learningsite) [48]

Hình 1.2 mô tả một cách tổng quát mô

hình E-learning [20] Trong mô hình này,

hệ thống đào tạo bao gồm 4 thành phần, t

oàn bộ hoặc một phần của những thành

phần này được chuyển tải tới HS thông

qua các phương tiện điện tử

Hình 1.2: Mô hình tổng quát hệ thống

E-learning.

Nội dung: Các nội dung đào tạo, bài giảng được thể hiện dưới dạng cácphương tiện truyền thông điện tử, đa phương tiện Ví dụ các bài giảng viết bằngtoolbookII,…

Phân phối: Việc phân phối các nội dung đào tạo được thực hiện thông quacác phương tiện điện tử Ví dụ tài liệu được gửi cho học viên bằng e-mail, học viên họctrên website, học qua đĩa CD-Rom multimedia,…

Trang 25

Quản lý: Quá trình quản lý đào tạo được thực hiện hoàn toàn nhờ phươngtiện truyền thông điện tử Ví dụ như việc đăng ký học qua mạng, bằng bản tin nhắnSMS, việc theo dõi tiến độ học tập (điểm danh) được thực hiện qua mạng Internet,

Hợp tác: Sự hợp tác, trao đổi của người học trong quá trình học tập cũngđược thông qua phương tiện truyền thông điện tử Ví dụ như việc trao đổi thảo luậnthông qua chat, Forum trên mạng,…

Tóm lại E-learning được hiểu một cách chung nhất là quá trình học thôngqua các phương tiện điện tử

Ngày nay với sự hội tụ của máy tính và truyền thông E-learning được hiểumột cách trực tiếp hơn là quá trình học thông qua mạng Internet và công nghệ web

1.3.2 Đặc điểm của E-learning

E-learning khác với đào tạo truyền thống ở ba điểm sau:

- Không bị giới hạn bởi không gian và thời gian: một khoá học E-learningđược chuyển tải qua một máy tính tới cho người học, điều này cho phép các học viên

có thể linh hoạt lựa chọn khoá học từ một máy tính để bàn hoặc từ một máy tính xáchtay với một moderm di động

- Tính linh hoạt: Một khoá học E-learning được phục vụ theo nhu cầu ngườihọc, chứ không nhất thiết phải bám theo một thời gian biểu cố định Vì thế người học

có thể lựa chọn, tham gia khoá học tuỳ theo hoàn cảnh của mình

- Truy nhập ngẫu nhiên: Bảng danh mục bài giảng sẽ cho phép học viên lựachọn phần bài giảng, tài liệu một cách tuỳ ý theo trình độ kiến thức và điều kiện truynhập mạng của mình Học viên tự tìm ra các kĩ năng học cho riêng mình với sự giúp đỡcủa những tài liệu trực tuyến

Tất nhiên cũng có một số cách học khác Ví dụ như, các lớp học thông quatrang Web dùng phần mềm hội thảo video trên mạng và các phần mềm khác cho phépcác học viên từ xa tham gia một khoá học trên lớp học truyền thống Một số khoá họctrên trang Web theo yêu cầu có giảng viên (hoặc người hướng dẫn) tương tác thườngxuyên với từng học viên hoặc với các nhóm học viên

Có một số hình thức đào tạo bằng E-learning [47], cụ thể như sau:

- Đào tạo dựa trên công nghệ (TBT - Technology-Based Training) là hìnhthức đào tạo có sự áp dụng công nghệ, đặc biệt là dựa trên công nghệ thông tin

Trang 26

- Đào tạo dựa trên máy tính (CBT - Computer-Based Training) Hiểu theonghĩa rộng, thuật ngữ này nói đến bất kỳ một hình thức đào tạo nào có sử dụng máytính Nhưng thông thường thuật ngữ này được hiểu theo nghĩa hẹp để nói đến các ứngdụng (phần mềm) đào tạo trên các đĩa CD-ROM hoặc cài trên các máy tính độc lập,không nối mạng, không có giao tiếp với thế giới bên ngoài Thuật ngữ này được hiểuđồng nhất với thuật ngữ CD-ROM Based Training.

- Đào tạo dựa trên web (WBT - Web-Based Training): là hình thức đào tạo

sử dụng công nghệ web Nội dung học, các thông tin quản lý khoá học, thông tin vềngười học được lưu trữ trên máy chủ và người dùng có thể dễ dàng truy nhập thôngqua trình duyệt Web Người học có thể giao tiếp với nhau và với giáo viên, sử dụng cácchức năng trao đổi trực tiếp, diễn đàn, e-mail thậm chí có thể nghe được giọng nói vànhìn thấy hình ảnh của người giao tiếp với mình

- Đào tạo trực tuyến (Online Learning/Training): là hình thức đào tạo có sửdụng kết nối mạng để thực hiện việc học: lấy tài liệu học, giao tiếp giữa người học vớinhau và với giáo viên

- Đào tạo từ xa (Distance Learning): Thuật ngữ này nói đến hình thức đàotạo trong đó người dạy và người học không ở cùng một chỗ, thậm chí không cùng mộtthời điểm Ví dụ như việc đào tạo sử dụng công nghệ hội thảo cầu truyền hình hoặccông nghệ web

Trang 27

Hình 1.3: Mô hình hệ thống E-learning

Để tạo và quản lý một khóa học, người dạy ngoài việc làm việc trực tiếptrên hệ thống quản lý học tập, còn cần sử dụng các công cụ xây dựng nội dung họctập (Authoring Tools) để thiết kế, xây dựng nội dung khóa học và được đóng góitheo chuẩn (thường là chuẩn SCORM) gửi tới hệ thống quản lý học tập Trongmột số trường hợp, nội dung khóa học có thể được thiết kế và xây dựng trực tiếpkhông cần các công cụ Authoring tools Những hệ thống làm được việc đó có tên

là hệ thống quản lý nội dung học tập LCMS (Learning Content ManagementSystem)

Hình 1.4: Mô hình chức năng hệ thống E-learning

Trang 28

LMS cần trao đổi thông tin về hồ sơ người sử dụng và thông tin đăng nhậpcủa người sử dụng với các hệ thống khác, vị trí của khoá học từ LCMS và lấy thông tin

về các hoạt động của học viên từ LCMS

Chìa khoá cho sự kết hợp thành công giữa LMS và LCMS là tính mở, sựtương tác Hình 1.3 mô tả một mô hình kiến trúc của hệ thống E-learning sử dụng côngnghệ Web để thực hiện tính năng tương tác giữa LMS và LCMS cung như với các hệthống khác

Hình 1.5: Kiến trúc hệ thống E-learning sử dụng công nghệ WEB

Trên cơ sở các đặc tính của dịch vụ Web, người ta thấy rằng các dịch vụWeb có khả năng tốt để thực hiện tính năng liên kết của các hệ thống E-learning bởicác lý do sau:

 Thông tin trao đổi giữa các hệ thống E-learning như LOM, gói tin IMSđều tuân thủ tiêu chuẩn XML

 Mô hình kiến trúc Web là nền tảng và độc lập về ngôn ngữ với learning.Thông tin trao đổi giữa các hệ thống E-learning như LOM, góitin IMS đều tuân thủ tiêu chuẩn XML

E-1.3.3.2 Mô hình hệ thống E-learning

Một cách tổng thể một hệ thống E-learning bao gồm 3 phần chính:

Trang 29

- Hạ tầng truyền thông và mạng: Bao gồm các thiết bị đầu cuối người dùng(học viên), thiết bị tại các cơ sở cung cấp dịch vụ, mạng truyền thông,

- Hạ tầng phần mềm: Các phần mềm LMS, LCMS (MarcoMedia,Aurthorware, Toolbook, )

- Nội dung đào tạo (hạ tầng thông tin): Phần quan trọng của E-learning là nộidung các khoá học, các chương trình đào tạo, các courseware

c sử dụng phổ biến trên thế giới [15 ]:

 Chuẩn SCORM (Sharable Content Object Reference Model)

 Chuẩn IMS (IMS Global Leaming Consortium, lúc.)

 Chuẩn AICC (Aviation Industry CBT Committee)

Các chuẩn Media: HTML, XML, GIF, JPEG, MPEG .

1.3.5 Quy trình thiết kế hệ thống E-learning

Quy trình thiết kế hệ thống E-learning thông thường gồm các bước theo thứ t

ự như sau:

- Lập kế hoạch: Xác định mục tiêu sư phạm của hệ thống E-learning, xây dự

ng tiến trình dạy học kiến thức, thu thập và phân tích thông tin, xác định nội dung vàphạm vi của hệ thống E-learning, xác định công nghệ và tính năng tương tác cần thiết đ

ể đáp ứng được mục tiêu đề ra Giai đoạn này phải xác định phương pháp sư phạm áp dụng cho hệ thống E-learning, lựa chọn phương tiện phù hợp tự động hoá quá trình dạyhọc

- Thiết kế cấu trúc hệ thống E-learning: Là toàn bộ cấu trúc liên kết giữa các

thành phần, các tổ chức hệ thống E-learning, cấu trúc khoá học trực tuyến phù hợp vớiphương pháp đã nêu ra, lựa chọn các tương tác cần thiết giúp người sử dụng dễ dàngkhai thác, lựa chọn các ngôn ngữ lập trình cần thiết để thể hiện các tương tác đó, phác

Trang 30

thảo thiết kế đồ họa, thiết kế các trang Web, phân đoạn thông tin thành các trang riênglẽ

- Xây dựng hệ thống E-learning: Giai đoạn này bắt đầu sử dụng các công cụ

xây dựng hệ thống E-learning, các công việc thiết kế các trang riêng lẽ thực hiện theo chiến lược xây dựng hệ thống E-learning đã nêu ra, áp dụng chiến lược cho toàn bộ hệ thống

- Thiết kế các khoá học trực tuyến: Thiết kế khoá học trực tuyến quyết định c

ho việc tổ chức thông tin của hệ thống E-learning

- Thực nghiệm, đánh giá và ứng dụng hệ thống E-learning: Thực nghiệm hệ

thống E-learning cho các đối tượng cụ thể, thu thập số liệu điều tra và rút ra đánh giá rú

t kinh nghiệm, sửa đổi chức năng và nội dung hệ thống E-learning

1.3.6 Vai trò của giáo viên và học sinh trong môi trường E-learning

Môi trường học là toàn bộ các thành tố vật chất cũng như tinh thần có tác độ

ng qua lại với chủ thể, chi phối hình thức, tính chất và kết quả hoạt động của chủ thể Đ

ặc trưng của môi trường là cấu trúc các thành khảo nên môi trường và tương quan giữacác thành tố đó [15]

Trong môi trường E-learning, khi đó MVT thể hiện hệ thống E-learning có những tác động:

 Thực hiện vai trò giảng dạy như một GV

 Cung cấp tài liệu học tập mới có tính tương tác, dễ mang, dễ cập nhật

 Cung cấp nguồn tài nguyên học tập phong phú, rất dễ truy cập, phân phối

và có thể khai thác linh hoạt

 Cung cấp công cụ học tập mới có khả năng hợp tác với người sử dụng đểgiúp người sử dụng khai thác hết khả năng làm việc của họ

 Cung cấp kênh giao tiếp, truyền thông mới giữa GV và HS, giữa HS với

HS, giữa HS với các đối tượng khác

 Cung cấp công cụ kiểm tra, đánh giá mới khách quan và chính xác

 Cung cấp một hệ thống và công cụ quản lý dạy học mới

Như thế, sự xuất hiện của hệ thống E-learning trong dạy học tạo cơ sở để cónhững thay đổi căn bản trong môi trường lớp học Trong đó, khả năng thay đổi rõ nhất,quan trọng nhất là diện mạo và vai trò của GV, HS, nội dung và tài liệu học tập Khitích hợp hệ thống E-learning vào môi trường lớp học, số các thành tố cơ bản của lớp họ

Trang 31

c về cơ bản vẫn như cũ, nhưng từng thành tố có những thay đổi như sau:

- Học sinh: HS không chỉ là những người đang "ngồi" trong lớp học, mà là những người đang “hiện diện” và chia sẻ cùng một chủ đề học tập, cùng tham gia cáchoạt động học với những HS khác và với GV đang làm việc trong lớp (qua hệ thống E-

learning) HS cũng có thể không cùng lứa tuổi, dân tộc, quốc tịch .nhưng điểm chung

giữa những HS là cùng chấp nhận khoá học trực tuyến và vượt qua vòng kiểm tra kiếnthức đầu vào

- Giáo viên: Trong môi trường E-learning, không chỉ có GV đang trực tiếp trong lớp tham gia vào các hoạt động trình bày tài liệu, trao đổi thảo luận, giải pháp thắ

c mắc, nhưng còn có thể có thêm những GV hoặc chuyên gia khác Sự tham gia của

các GV, chuyên gia này có thể là trực tiếp trên lớp, hay trực tuyến qua internet Vai tròcủa GV trở nên linh động hơn, bao gồm một phạm vi rất rộng: giáo dục, hướng dẫn, dạ

y học, cố vấn, nghiên cứu lý thuyết học tập, lập chương trình đào tạo, chuyên gia

chuyên ngành, kiểm tra đánh giá .

Để thành công trong một khoá học trực tuyến thì GV không những phải pháttriển những kỹ năng sư phạm mới mà còn phải tiếp thu những kỹ năng mới về quản lý

và kỹ thuật Sau đây là một số kỹ năng chủ yếu:

- Kỹ năng sư phạm: Phải nghĩ rằng môi trường trực tuyến là một dạng khác

so với môi trường lớp học trong sự tương tác với HS; Tích cực tham khảo các khoá họctrực tuyến khác từ các đồng nghiệp hoặc từ internet; Sẵn sàng đầu tư công sức và thờigian để phúc đáp các câu hỏi của HS; Phải sáng tạo trong việc lập kế hoạch làm thếnào sử dụng hệ thống E-learning để dạy hiệu quả hơn

- Kỹ năng quản lý: Phải xây dựng các nguyên tắc dạy học riêng của mình,yêu cầu HS thực hiện theo các nguyên tắc đó và kiên trì với các nguyên tắc đã dề ra; Ph

ải thường xuyên liên hệ để được hỗ trợ từ các chuyên gia về CNTT&TT của đơn vịmình

- Kỹ năng về kỹ thuật: Trang bị những kỹ năng cơ bản về máy tính; Xác địn

h xem cần phải học thêm các chương trình ứng dụng mới cho việc dạy học trên hệ thốn

g E-learning

- Nội dung và tài liệu học tập: Với mỗi cấp học, môn học cụ thể, nội dung tro

ng dạy học truyền thống (chủ yếu là tài liệu in) rất khó cập nhật, không có tính tươngtác, đáp ứng thụ động với nhu cầu học tập Tài liệu học tập trong môi trường E-learnin

Trang 32

g rất đa dạng (e - book, giáo trình điện tủ phầm mềm môphỏng .) dễ phân phối, dễ cậ

p nhật, dễ truy cập Đặc biệt, tài liệu học tập dựa trên cơ sở máy tính là những tài liệu

có tính tương tác cao, có thể đáp ứng tích cực (tương đối chủ động) với nhu cầu học tậ

p Nguy cơ hiện nay không phải là việc thiếu thông tin, mà là quá tải thông tin, khiến H

S nhiều khi khó có thể lựa chọn được thông tin phù hợp nhất Vì thế, trong môi trườngE-learning thì kỹ năng tìm kiếm thông tin, kiến thức để đánh giá lựa chọn thông tin phùhợp rất quan trọng

- Tương quan giữa các thành tố: Môi trường E-learning là môi trường mà tácđộng đến con người theo cách không hoàn toàn giống với môi trường truyền thống trướ

c đó Mỗi cá nhân trong môi trường giáo dục này có thể tham gia các hoạt động tương t

ác trong cả thế giới thật và thế giới ảo Vừa có thể tham gia tương tác trực tiếp với GVđang dạy, với bạn học trong lớp, lại vừa có thể tham gia tương tác, cùng hoạt động, tra

o đổi với một HS khác/GV khác trong thế giới ảo Môi trường E-learning đặt HS vàothế chủ động rất cao, trao cho quyền kiểm soát phần lớn tiến trình và mức độ tham giabài học của bản thân Đặc biệt,trong môi trường E-learning, HS có thể tham gia hoặc rờ

i bỏ tương tác bất cứ lúc nào họ muốn mà không phải chịu sự kiểm soát như môi trườn

g lớp học hiện tại

Trong môi trường E-learning, HS và GV có rất nhiều thay đổi trong vai trò hoạt động và tương quan với các thành phần còn lại của môi trường:

Bảng 1.1: Vai trò của HS và GV trong E-learning

Trong hệ thống E-learning, vai trò của người học là trung tâm Việc áp dụngE-learning vào thực tế phụ thuộc vào nhu cầu và điều kiện triển khai hệ thống.Có thể tổ

Trang 33

chức thực hiện E-learning ở nhiều cấp độ khác nhau.

Có ba cấp độ tổ chức thực hiện E-learning:

- Cấp độ 1: CBT (Computer-Based Training-Học trên máy tính) & WBT

(Web-Based Training – Học trên Web/Internet/Intranet): Khởi đầu của mọi mô hình learning

E- Học thông qua CD-ROM hoặc Web (Mô hình học qua Web đang ngàycàng phát triển)

 Có kiểm tra đầu vào

 Học từng bước, có kiểm tra mức độ tiếp thu bài

 Học viên tự học, không có giáo viên hướng dẫn

 Chi phí thấp

- Cấp độ 2: Học trực tuyến có giảng viên

 Học thông qua Internet/Intranet, sử dụng Hệ thống Quản lý Học tập(LMS)

 Có sự giao tiếp giữa giảng viên – học viên, học viên – học viên

 Giảng viên có thể trực tiếp trả lời câu hỏi, đặt câu hỏi, chấm điểm đánhgiá học viên

 Giảng viên có thể đánh giá khả năng của học viên, đồng thời có thể chỉdẫn học viên tham gia các khóa học mức cao hơn

- Cấp độ 3: Lớp học ảo

Trang 34

 Học thông qua mạng Internet/Intranet, sử dụng Hệ thống Quản lý Họctập (LMS).

 Các “lớp học ảo” được tổ chức ngay trên mạng như các lớp học thôngthường

 Các giờ học “live” được tổ chức để thảo luận về các “case studies”.Giáo viên có thể thực hiện các hướng dẫn trực tiếp (hands-on) nhờ e-lab

 Sinh viên có thể học trực tiếp hoặc xem lại các bài giảng và làm bài tậpoff-line với hình thức giống như đang tham gia lớp học trực tiếp

 Tất cả các khoá học trực tuyến có thể được quản lý, giám sát giống nhưcác lớp học thông thường

1.3.7 Tình hình phát triển và ứng dụng của E-learning trên thế giới và Việt Nam

1.3.7.1 Tình hình phát triển và ứng dụng E-learning trên thế giới

learning phát triển không đồng đều tại các khu vực trên thế giới learning phát triển mạnh nhất ở khu vực Bắc Mỹ Ở châu Âu, E-learning cũng rất cótriển vọng, trong khi đó châu Á lại là khu vực ứng dụng công nghệ này ít hơn

E-Tại Mỹ, dạy và học điện tử đã nhận được sự ủng hộ và các chính sách trợgiúp của Chính phủ ngay từ cuối những năm 90 Theo số liệu thống kê của Hội Pháttriển và Đào tạo Mỹ (American Society for Training and Development, ASTD), năm

2000 Mỹ có gần 47% các trường đại học, cao đẳng đã đưa ra các dạng khác nhau của

mô hình đào tạo từ xa, tạo nên 54.000 khoá học trực tuyến Theo các chuyên gia phântích của Công ty Dữ liệu quốc tế (International Data Corporation, IDC), cuối năm 2004

có khoảng 90% các trường đại học, cao đẳng Mỹ đưa ra mô hình E-learning, số ngườitham gia học tăng 33% hàng năm trong khoảng thời gian 1999 - 2004 E-learningkhông chỉ được triển khai ở các trường đại học mà ngay ở các công ty việc xây dựng

và triển khai cũng diễn ra rất mạnh mẽ Có rất nhiều công ty thực hiện việc triển khaiE-learning thay cho phương thức đào tạo truyền thống và đã mang lại hiệu quả cao Dothị trường rộng lớn và sức thu hút mạnh mẽ của E-learning nên hàng loạt các công ty

đã chuyển sang hướng chuyên nghiên cứu và xây dựng các giải pháp về E-learningnhư: Click2Learn, Global Learning Systems, Smart Force

Trang 35

Trong những gần đây, châu Âu đã có một thái độ tích cực đối với việc pháttriển công nghệ thông tin cũng như ứng dụng nó trong mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội,đặc biệt là ứng dụng trong hệ thống giáo dục Các nước trong Cộng đồng châu Âu đềunhận thức được tiềm năng to lớn mà công nghệ thông tin mang lại trong việc mở rộngphạm vi, làm phong phú thêm nội dung và nâng cao chất lượng của nền giáo dục

Công ty IDC ước đoán rằng thị trường E-learning của châu Âu sẽ tăng tới 4

tỷ USD trong năm 2004 với tốc độ tăng 96% hàng năm Ngoài việc tích cực triển khaiE-learning tại mỗi nước, giữa các nước châu Âu có nhiều sự hợp tác đa quốc gia tronglĩnh vực E-learning Điển hình là dự án xây dựng mạng xuyên châu Âu EuroPACE.Đây là mạng E-learning của 36 trường đại học hàng đầu châu Âu thuộc các quốc gianhư Đan Mạch, Hà Lan, Bỉ, Anh, Pháp cùng hợp tác với công ty E-learning của MỹDocent nhằm cung cấp các khoá học về các lĩnh vực như khoa học, nghệ thuật, conngười phù hợp với nhu cầu học của các sinh viên đại học, sau đại học, các nhà chuyênmôn ở châu Âu

Tại châu á, E-learning vẫn đang ở trong tình trạng sơ khai, chưa có nhiềuthành công vì một số lý do như: các quy tắc, luật lệ bảo thủ, tệ quan liêu, sự ưa chuộngđào tạo truyền thống của văn hóa châu á, vấn đề ngôn ngữ không đồng nhất, cơ sở hạtầng nghèo nàn và nền kinh tế lạc hậu ở một số quốc gia châu á Tuy vậy, đó chỉ lànhững rào cản tạm thời do nhu cầu đào tạo ở châu lục này cũng đang trở nên ngày càngkhông thể đáp ứng được bởi các cơ sở giáo dục truyền thống buộc các quốc gia châu áđang dần dần phải thừa nhận tiềm năng không thể chối cãi mà E-learning mang lại.Một số quốc gia, đặc biệt là các nước có nền kinh tế phát triển hơn tại châu á cũngđang có những nỗ lực phát triển E-learning tại đất nước mình như: Nhật Bản, HànQuốc, Singapore, Đài Loan,Trung Quốc,

Nhật Bản là nước có ứng dụng E-learning nhiều nhất so với các nước kháctrong khu vực Môi trường ứng dụng E-learning chủ yếu là trong các công ty lớn, cáchãng sản xuất, các doanh nghiệp và dùng để đào tạo nhân viên

1.3.7.2 Tình hình phát triển và ứng dụng E-learning ở Việt Nam

Vào khoảng năm 2002 trở về trước, các tài liệu nghiên cứu, tìm hiểu về learning ở Việt Nam không nhiều Trong hai năm 2003-2004, việc nghiên cứu E-learning ở Việt Nam đã được nhiều đơn vị quan tâm hơn Gần đây các hội nghị, hộithảo về công nghệ thông tin và giáo dục đều có đề cập nhiều đến vấn đề E-learning và

Trang 36

E-khả năng áp dụng vào môi trường đào tạo ở Việt Nam như: Hội thảo nâng cao chấtlượng đào tạo ĐHQGHN năm 2000, Hội nghị giáo dục đại học năm 2001 và gần đây làHội thảo khoa học quốc gia lần thứ nhất về nghiên cứu phát triển và ứng dụng côngnghệ thông tin và truyền thông ICT/rda 2/2003, Hội thảo khoa học quốc gia lần II vềnghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông ICT/rda9/2004, và hội thảo khoa học “Nghiên cứu và triển khai E-learning” do Viện Côngnghệ Thông tin (ĐHQGHN) và Khoa Công nghệ Thông tin (Đại học Bách khoa HàNội) phối hợp tổ chức đầu tháng 3/2005 là hội thảo khoa học về E-learning đầu tiênđược tổ chức tại Việt Nam

Các trường đại học ở Việt Nam cũng bước đầu nghiên cứu và triển khai learning Một số đơn vị đã bước đầu triển khai các phần mềm hỗ trợ đào tạo và cho cáckết quả khả quan: Đại học Công nghệ - ĐHQGHN, Viện CNTT - ĐHQGHN, Đại họcBách Khoa Hà Nội, ĐHQG TP HCM, Học viện Bưu chính Viễn thông, Gần đâynhất, Trung tâm Tin học Bộ Giáo dục & Đào tạo đã triển khai cổng E-learning nhằmcung cấp một cách có hệ thống các thông tin E-learning trên thế giới và ở Việt Nam.Bên cạnh đó, một số công ty phần mềm ở Việt Nam đã tung ra thị trường một số sảnphẩm hỗ trợ đào tạo đào tạo Tuy các sản phẩm này chưa phải là sản phẩm lớn, đượcđóng gói hoàn chỉnh nhưng đã bước

E-Trong những năm gần đây, sinh viên Việt Nam cũng đã được tiếp cận nhiềuchương trình E-learning Ngày 27/9/2010, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có văn bảnhướng dẫn cụ thể về ứng dụng CNTT trong đổi mới quản lý, đổi mới nội dung, chươngtrình và phương thức dạy và học trong các trường đại học, cao đẳng; trong đó nhấnmạnh đến tầm quan trọng của việc khai thác, triển khai bài giảng điện tử theo chuẩnSCORM và ứng dụng hệ thống quản trị dạy học E-learning bằng mã nguồn mởMoodle.Việt Nam đã gia nhập mạng E-learning châu á (Asia E-learning Network -AEN, www.asia-elearning.net) với sự tham gia của Bộ Giáo dục & Đào tạo, Bộ Khoahọc - Công nghệ, trường Đại học Bách Khoa, Bộ Bưu chính Viễn Thông

Điều này cho thấy tình hình nghiên cứu và ứng dụng loại hình đào tạo nàyđang được quan tâm ở Việt Nam Tuy nhiên, so với các nước trong khu vực E-learning

ở Việt Nam mới chỉ ở giai đoạn đầu còn nhiều việc phải làm mới tiến kịp các nước

1.4 E-learning với việc nâng cao khả năng tự học cho học sinh trong dạy học vật lý ở trưởng THPT

Trang 37

1.4.1 Ưu điểm của E-learning trong dạy học vật lý ở trường THPT

Vật lý vốn là một bộ môn khoa học tự nhiên, là cơ sở của nhiều ngành kỹthuật và công nghệ quan trọng.Sự phát triển của vật lý gắn bó chặt chẽ và có tác độngqua lại với tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ.Vì vậy những hiểu biết và nhậnthức vật lý có giá trị lớn trong đời sống và sản xuất, đặc biệt trong công cuộc côngnghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.[ 30, tr 41].Ở mọi nơi, mọi ngành nghề đều có sựhiện diện của những thành tựu vật lý

E-learning có rất nhiều ưu điểm về mặt phương pháp dạy học Nhờ đưa được

lý thuyết lại cung cấp các tài liệu minh họa, trực quan làm tăng thêm cho học sinh hứngthú với môn học.Trong quá trình hoạt động nhận thức vật lý, muốn cho hoạt động cóhiệu quả , học sinh cần phải được rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, thực hiện các thao tácchân tay ( làm thí nghiệm, dùng các dụng cụ đo, sử dụng các mô hình, hình vẽ…) vàcác thao tác tư duy ( so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa, định nghĩa, hệ thống hóa,

cụ thể hóa) Đồng thời HS cũng phải biết sử dụng các PP suy luận như quy nạp, diễndịch, phân tích, tổng hợp E-learning tổ chức môi trường và yêu cầu để HS đều phảithực hiện các thao tác trên Qua đó HS vừa tự lực nắm được kiến thức, kỹ năng mớiđồng thời rèn luyện được phương pháp tự học cũng như tập dợt cho những phươngpháp nghiên cứu sau này

Trong quá trình tự mình tìm ra tri thức hay kỹ năng, kiến thức mà HS thunhận không phải lúc nào cũng hoàn chỉnh Sau khi trao đổi, hợp tác cùng bạn bè,có sự

hỗ trợ của hệ thống E-learning và sự cố vấn , khẳng định cuối cùng của người giáo viênthì tri thức khoa học được hình thành.Lúc này HS tự đánh giá lại tri thức tiếp nhận banđầu của mình: nội dung sai sót, tại sao sai sót? không hợp lý, tại sao không hợp lý ?thiếu chính xác, tại sao …? từ đó rút ra cho mình những kinh nghiệm cần thiết về cáchhọc, cách giải quyết vấn đề, để rồi tự sửa chữa, tự điều chỉnh mình sao cho hoàn thiện

và phải ngày càng tiến bộ hơn.Đối với HS việc tự đánh giá là năng lực cần thiết cho sựthành đạt trong cuộc sống sau này

Mặt khác với quan điểm dạy học lấy HS làm trung tâm (learner centredteaching), coi những HS khác nhau với đặc điểm tâm sinh lý khác nhau.Do vậy PPDHphải được lựa chọn sao cho từng HS có thể tiếp nhận kiến thức một cách tốt nhất Theokết quả nghiên cứu tâm sinh lý HS gần đây, trên thế giới cũng như ở nước ta, thanhthiếu niên có những thay đổi trong sự phát triển tâm sinh lý , đó là sự thay đổi có gia

Trang 38

tốc.Trong điều kiện phát triển của các phương tiện truyền thông , trong bối cảnh hộinhập, HS được tiếp cận với nhiều nguồn thông tin đa dạng từ nhiều mặt của cuộc sống,hiểu biết nhiều hơn và thực tế hơn.Do đó, trong quá trình dạy học, HS không bằng lòngvới vai trò là người tiếp nhận tri thức một cách thụ động , theo cách có sẵn mà luônmong muốn tự mình chiếm lĩnh tri thức.

Do sự phát triển nhanh, mạnh với tốc độ mang tính bùng nổ của khoa họccông nghệ nhất là trong lĩnh vực vật lý, thể hiện ở sự ra đời các thành tựu mới, khảnăng ứng dụng chúng vào thực tế rất cao.Việc dạy học vật lý tại trường phổ thôngkhông thể thâu tóm hết các tri thức đó, đòi hỏi HS không chỉ có khả năng lấy ra từ trínhớ những tri thức dưới dạng có sẵn mà còn phải tự tìm ra con đường đi đến những trithức.Các công trình nghiên cứu về tâm lý học nhận thức đã khẳng định vai trò to lớncủa các phương tiện dạy học Trong quá trình dạy học, những phương tiện trực quangiúp cho học sinh học tập hứng thú hơn, nhận thức hiện tượng dễ dàng hơn từ đó rút racác kết luận đúng đắn hơn Và đó chính là nguồn gốc chủ yếu, là con đường dẫn tớisáng tạo, tài năng

Bên cạnh các phương tiện dạy học truyền thống máy vi tính là một trongnhững phương tiện dạy học hiện đại được sử dụng trong dạy học vật lí Nhờ khả năng

tự động hoá các quá trình thu thập, xử lý thông tin nên máy vi tính có tác dụng kíchthích tính tích cực, độc lập, sáng tạo của người học Khi sử dụng máy vi tính với sự hỗtrợ của hệ thống E-learning, những hình ảnh sinh động được phối hợp nhuần nhuyễnvới âm thanh, màu sắc, văn bản, đồ hoạ, tác động tích cực vào các giác quan của họcsinh, làm nâng cao tính trực quan trong giờ học, tạo điều kiện cho việc phát triển cácnăng lực tư duy của học sinh như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá, trừutượng hoá, góp phần rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo cho học sinh

Tâm lý học hiện đại cũng khẳng định rằng, chất lượng tiếp thu kiến thức củahọc sinh sẽ được nâng cao hơn nếu học sinh được sự tác động tích cực của nhiều giácquan Vì vậy, khi học tập với máy vi tính với sự hỗ trợ của hệ thống E-learning, họcsinh cùng một lúc phối hợp nhiều thao tác: nghe, nhìn, đọc và làm việc Sự tri giác trựctiếp với hình ảnh các đối tượng, hiện tượng và các quá trình xảy ra trên màn hình sẽgiúp học sinh rút ra bản chất và mối liên hệ chặt chẽ giữa các đối tượng, hiện tượng củacác quá trình đó

Trang 39

Trên quan điểm của công nghệ thông tin và truyền thông ICT (Informationand Communication Technology) sự hỗ trợ mạnh mẽ của hệ thống E-learning là cơ sởcho việc hình thành và phát triển nền giáo dục điện tử ở mức độ cao cả về phương diện

tổ chức lẫn việc bố trí các nội dung kiến thức cần thiết.E-learning với đặc tính nổi bật

là được tích hợp rất nhiều kiến thức liên quan đến nội dung bài học tạo điều kiện thuậnlợi dẫn dắt học sinh tìm tòi tri thức, phát triển khả năng lĩnh hội và ghi nhớ kiến thứcmột cách chắc chắn Như vậy, dạy học với máy vi tính có sự hỗ trợ của hệ thống E-learning là hoạt động dạy học tích cực và có tính tương tác mạnh

Bên cạnh đó, E-learning còn có thể cá biệt hoá hoạt động học tập của họcsinh ở mức độ cao, có thể tự triển khai học tập ở mọi nơi (any where), học mọi lúc (anytime), học mọi thứ (anythings) và chủ động điều chỉnh hoạt động học theo nhịp độriêng phù hợp với khả năng, đặc điểm tâm lý và điều kiện học tập của từng cá nhân

1.4.2 Việc sử dụng hệ thống E-learning trong dạy học vật lý nhằm nâng cao khả năng tự học cho học sinh

Sự hỗ trợ của hệ thống E-learning vào quá trình dạy học nói chung và quátrình dạy học một tiết học bao gồm 5 chức năng lý luận dạy học cơ bản:

- Củng cố trình độ và kỹ năng xuất phát cho học sinh

Hệ thống E-learning là phương tiện hỗ trợ đắc lực trong việc củng cố tri thức

và kỹ năng xuất phát cho học sinh Thông qua hệ thống E-learning, kiến thức được tómtắt rõ ràng, ngắn gọn phù hợp với trình độ xuất phát của học sinh Qua đó, giúp họcsinh củng cố những kiến thức đã học, thấy được sự liên quan lôgic giữa kiến thức và kỹnăng cũ với vấn đề mới cần nghiên cứu, đưa học sinh vào các tình huống có vấn đề đểtạo cho các em hứng thú, nhu cầu nhận thức tri thức mới và sẵn sàng tham gia vào xâydựng bài học mới

- Hình thành kiến thức và kỹ năng mới cho học sinh.

Hệ thống E-learning hỗ trợ rất hiệu quả đối với chức năng xây dựng kiếnthức, kỹ năng mới Việc sử dụng các hình ảnh minh hoạ, kết hợp với hội thoại giữangười học và máy tính, … sẽ có tác dụng vừa là nguồn cung cấp kiến thức vừa làphương tiện để học sinh hình thành kiến thức mới Học sinh tự điều chỉnh tốc độ vàdung lượng kiến thức bài học, biết tự lựa chọn và xử lý thông tin thu nhận được từ cáckhóa học trong hệ thống E-learning để lĩnh hội tri thức tốt hơn.Các khóa học có tíchhợp các thí nghiệm mô phỏng giúp giáo viên có nhiều điều kiện hơn để minh hoạ cho

Trang 40

nội dung kiến thức cần truyền thụ Từ đó mà dẫn dắt học sinh phát triển tư duy theo cảhai hướng khái quát hoá quy nạp và suy lý diễn dịch để hình thành tri thức mới về sựkiện hoặc vấn đề đang được nghiên cứu

- Củng cố, ôn luyện và vận dụng kiến thức

Tuỳ theo mức độ quan trọng của từng vấn đề trong phần củng cố tri thức, rènluyện kỹ năng và vận dụng kiến thức đã học, học sinh có nhiều cơ hội để rà soát, tựkiểm tra, ôn luyện và khắc sâu một cách có hệ thống các kiến thức cơ bản, nắm vữngphương pháp giải các bài tập, nhờ đó mà dễ học, dễ nhớ và có thể phát huy được nhữngđiểm mạnh trong kiến thức của mình

- Tổng kết, hệ thống hoá kiến thức.

Hệ thống E-learning còn bao gồm các chương trình tổng kết, ôn tập kiếnthức sẽ cho phép học sinh có cái nhìn tổng quan các nội dung kiến thức đã học được hệthống và khái quát một cách ngắn gọn, lôgic chặt chẽ, xuyên suốt chương trình củamôn học hoặc phần học Trang ôn tập được thiết kế giúp học sinh có thể lựa chọn nộidung ôn tập, dễ dàng chuyển đổi giữa các nội dung khác nhau và có thể lặp lại quátrình ôn tập với số lần không hạn chế Các bài tập luyện tập được sắp xếp từ đơn giảnđến phức tạp có tác dụng giúp học sinh nắm chắc trình tự, hệ thống và phương phápgiải từng loại bài tập cụ thể Thông qua đó học sinh sẽ khắc sâu nội dung kiến thức đãđược lĩnh hội

- Kiểm tra, đánh giá trình độ kiến thức, kỹ năng của học sinh.

Thông qua hệ thống quản lý học tập, việc kiểm tra, đánh giá trình độ kiến

thức của học sinh được thực hiện chính xác, công bằng và khách quan Kết quả củaviệc đánh giá đó được làm cơ sở giúp học sinh tự đánh giá đúng khả năng học tập, giáodục các em đức tính trung thực, biết khắc phục được tình trạng thiếu, hổng kiến thức vàchủ động điều chỉnh nội dung và tiến độ học tập Mặt khác, kết quả đánh giá đó lànguồn thông tin phản hồi cho giáo viên kịp thời và nhanh chóng điều chỉnh hoạt độngdạy học Ngoài ra, giáo viên có thể lựa chọn và hình thành hệ thống các câu hỏi và bàitập trắc nghiệm phong phú, xử lý, tổng hợp kết quả kiểm tra nhanh chóng, tiết kiệmthời gian và có điều kiện để có thể kiểm tra được nhiều học sinh hơn

Sử dụng hệ thống E-learning vào quá trình dạy học là hình thức dạy học hiệnđại góp phần thực hiện một cách có hiệu quả các chức năng của quá trình dạy học, tạo

ra một môi trường dạy học tương tác mạnh, hiệu suất học tập của học sinh sẽ được

Ngày đăng: 19/12/2013, 15:45

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2  mô tả một cách tổng quát mô hình E-learning [20]. Trong mô hình này, hệ thống đào tạo bao gồm 4 thành phần, t oàn bộ hoặc một phần của những thành ph ần này được chuyển tải tới HS thông qua các phương tiện điện tử. - Xây dựng hệ thống e learning hỗ trợ tự học cho học sinh trong dạy học phần quang hình ở trường THPT luận văn thạc sĩ giáo dục học
Hình 1.2 mô tả một cách tổng quát mô hình E-learning [20]. Trong mô hình này, hệ thống đào tạo bao gồm 4 thành phần, t oàn bộ hoặc một phần của những thành ph ần này được chuyển tải tới HS thông qua các phương tiện điện tử (Trang 26)
Hình 1.3: Mô hình hệ thống E-learning - Xây dựng hệ thống e learning hỗ trợ tự học cho học sinh trong dạy học phần quang hình ở trường THPT luận văn thạc sĩ giáo dục học
Hình 1.3 Mô hình hệ thống E-learning (Trang 28)
Hình 1.4: Mô hình chức năng hệ thống E-learning - Xây dựng hệ thống e learning hỗ trợ tự học cho học sinh trong dạy học phần quang hình ở trường THPT luận văn thạc sĩ giáo dục học
Hình 1.4 Mô hình chức năng hệ thống E-learning (Trang 29)
Hình 1.5: Kiến trúc hệ thống E-learning sử dụng công nghệ WEB - Xây dựng hệ thống e learning hỗ trợ tự học cho học sinh trong dạy học phần quang hình ở trường THPT luận văn thạc sĩ giáo dục học
Hình 1.5 Kiến trúc hệ thống E-learning sử dụng công nghệ WEB (Trang 29)
Bảng 1.1: Vai trò của HS và GV trong E-learning - Xây dựng hệ thống e learning hỗ trợ tự học cho học sinh trong dạy học phần quang hình ở trường THPT luận văn thạc sĩ giáo dục học
Bảng 1.1 Vai trò của HS và GV trong E-learning (Trang 33)
Bảng 2.1: Cấu trúc nội dung phần Quang hình học - Xây dựng hệ thống e learning hỗ trợ tự học cho học sinh trong dạy học phần quang hình ở trường THPT luận văn thạc sĩ giáo dục học
Bảng 2.1 Cấu trúc nội dung phần Quang hình học (Trang 43)
Hình 2.1: Hình ảnh thu được bằng google search với từ khóa “ Phản xạ toàn phần” - Xây dựng hệ thống e learning hỗ trợ tự học cho học sinh trong dạy học phần quang hình ở trường THPT luận văn thạc sĩ giáo dục học
Hình 2.1 Hình ảnh thu được bằng google search với từ khóa “ Phản xạ toàn phần” (Trang 48)
Hình 2.2: Ảnh mô hình tạo ảnh qua thấu kính - Xây dựng hệ thống e learning hỗ trợ tự học cho học sinh trong dạy học phần quang hình ở trường THPT luận văn thạc sĩ giáo dục học
Hình 2.2 Ảnh mô hình tạo ảnh qua thấu kính (Trang 49)
Hình 2.3: Các tài liệu phần “quang hình học” - Xây dựng hệ thống e learning hỗ trợ tự học cho học sinh trong dạy học phần quang hình ở trường THPT luận văn thạc sĩ giáo dục học
Hình 2.3 Các tài liệu phần “quang hình học” (Trang 49)
Hình 2.4: Hình ảnh Flash mô tả hiện tượng khúc xạ ánh sáng - Xây dựng hệ thống e learning hỗ trợ tự học cho học sinh trong dạy học phần quang hình ở trường THPT luận văn thạc sĩ giáo dục học
Hình 2.4 Hình ảnh Flash mô tả hiện tượng khúc xạ ánh sáng (Trang 50)
Hình 2.5: Phần bên trái của phần mềm Crocodile Physics - Xây dựng hệ thống e learning hỗ trợ tự học cho học sinh trong dạy học phần quang hình ở trường THPT luận văn thạc sĩ giáo dục học
Hình 2.5 Phần bên trái của phần mềm Crocodile Physics (Trang 51)
Hình 2.6: Các chức năng của phần mềm Crocodile Physics - Xây dựng hệ thống e learning hỗ trợ tự học cho học sinh trong dạy học phần quang hình ở trường THPT luận văn thạc sĩ giáo dục học
Hình 2.6 Các chức năng của phần mềm Crocodile Physics (Trang 52)
Hình 2.8: Mô hình kiến trúc hệ thống E-learning phần “Quang hình học” - Xây dựng hệ thống e learning hỗ trợ tự học cho học sinh trong dạy học phần quang hình ở trường THPT luận văn thạc sĩ giáo dục học
Hình 2.8 Mô hình kiến trúc hệ thống E-learning phần “Quang hình học” (Trang 54)
Hình 2.10: Giao diện của website E-physic.com - Xây dựng hệ thống e learning hỗ trợ tự học cho học sinh trong dạy học phần quang hình ở trường THPT luận văn thạc sĩ giáo dục học
Hình 2.10 Giao diện của website E-physic.com (Trang 55)
Hình 2.11: Dữ liệu tài khoản của hệ thống E-learning - Xây dựng hệ thống e learning hỗ trợ tự học cho học sinh trong dạy học phần quang hình ở trường THPT luận văn thạc sĩ giáo dục học
Hình 2.11 Dữ liệu tài khoản của hệ thống E-learning (Trang 56)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w