TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINHPHAN XUÂN LONG XÁC ĐỊNH LOẠI THỨC ĂN ƯA THÍCH VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ ĐẾN TĂNG TRƯỞNG CỦA ỐC NHỒI Pila polita Deshayes NUÔI TRONG AO Ở THÀNH PHỐ VINH LUẬN VĂN TỐT NG
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHAN XUÂN LONG
XÁC ĐỊNH LOẠI THỨC ĂN ƯA THÍCH VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ ĐẾN TĂNG TRƯỞNG CỦA ỐC NHỒI
(Pila polita Deshayes) NUÔI TRONG AO
Ở THÀNH PHỐ VINH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
VINH - 2011
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
XÁC ĐỊNH LOẠI THỨC ĂN ƯA THÍCH VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ ĐẾN TĂNG TRƯỞNG CỦA ỐC NHỒI
(Pila polita Deshayes) NUÔI TRONG AO
Ở THÀNH PHỐ VINH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
MÃ SỐ: 60 62 70
VINH - 2011
Trang 3Lời đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn đến Ban Giám hiệu Trường Đại học Vinh,Ban lãnh đạo khoa Nông Lâm Ngư, Ban lãnh đạo Trại thực nghiệm nuôi trồng thủy sản nước ngọt - Khoa Nông Lâm Ngư, đã ủng hộ, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành tốt khóa học này.
Lời cảm ơn sâu sắc nhất tôi xin gửi đến thầy giáo hướng dẫn
PGS TS Trần Ngọc Lân - người trực tiếp chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt
quá trình thực hiện luận văn
Lời cảm ơn chân thành xin gửi tới gia đình, bạn bè và đồng nghiệp, những người đã giúp đỡ và động viên tôi trong học tập cũng như trong cuộc sống
Vinh, tháng 12 năm 2011
Tác giả
Phan Xuân Long
Trang 4MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Một số đặc điểm sinh học chủ yếu của ốc Nhồi 3
1.1.1 Hệ thống phân loại 3
1.1.2 Đặc điểm hình thái 3
1.1.3 Tập tính sống 6
1.1.4 Phân bố và môi trường sống 7
1.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng 8
1.1.6 Đặc điểm sinh sản 9
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu và phát triển nghề nuôi ốc Nhồi 13
1.2.1 Trên thế giới 13
1.2.2 Ở trong nước 15
Chương 2 VẬT LIỆU, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 18
2.2 Vật liệu nghiên cứu 18
2.3 Phương pháp thực nghiệm xác định thức ăn ưa thích 21
2.4 Phương pháp xác định sự tăng trưởng của ốc nuôi 22
2.5 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 22
2.5.1 Số liệu môi trường 22
2.5.2 Số liệu tăng trưởng 23
2.5.3 Tốc độ tăng trưởng bình quân ngày ADG (Average daily growth) 23
2.5.4 Tốc độ tăng trưởng tương đối SGR (Specific growth rate) 24
Trang 52.5.5 Hệ số thức ăn FCR (Feed conversion rate) 24 2.5.6 Tỷ lệ sống (S) (%) 24
Trang 62.5.8 Năng suất ốc nuôi 24
2.5.9 Tỷ lệ thịt ốc 25
2.5.10 Hiệu quả kinh tế 25
2.6 Phương pháp xử lý số liệu 25
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26
3.1 Xác định loại thức ăn thực vật ưa thích 26
3.1.1 Điều kiện môi trường trong quá trình thí nghiệm 26
3.1.2 Kết quả xác định loại thức ăn thực vật ưa thích 26
3.2 Quản lý các yếu tố môi trường 29
3.2.1 Nhiệt độ 29
3.2.2 Các yếu tố môi trường khác 30
3.3 Ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng của ốc Nhồi 32
3.3.1 Ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng của ốc Nhồi về kích thước 32
3.3.2 Ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng của ốc Nhồi về khối lượng 43
3.4 Tỷ lệ thịt ốc 50
3.5 Ảnh hưởng của mật độ đến tỷ lệ sống của ốc Nhồi 51
3.6 Hệ số thức ăn và chi phí thức ăn 53
3.7 Hạch toán kinh tế 54
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 55
1 Kết luận 55
2 Kiến nghị 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
PHỤ LỤC 60
Trang 7Bảng 3.1 Điều kiện môi trường trong thí nghiệm 1.1 ÷ 1.4 26
Bảng 3.2 Kết quả thử nghiệm tính ưa thích của ốc Nhồi với 3 nhóm thực vật phổ biến 27
Bảng 3.3 Kết quả thử nghiệm loại thức ăn thực vật ưa thích của ốc Nhồi 28
Bảng 3.4 Biến động nhiệt độ trong quá trình nuôi 29
Bảng 3.5 Các yếu tố môi trường trong ao nuôi 30
Bảng 3.6 Tăng trưởng kích thước ốc nuôi ở các mật độ khác nhau .32
Bảng 3.7 Tốc độ tăng trưởng bình quân ngày kích thước vỏ ốc 36
Bảng 3.8 Tốc độ tăng trưởng tương đối kích thước vỏ ốc 40
Bảng 3.9 Tăng trưởng khối lượng ốc nuôi ở các nghiệm thức 43
Bảng 3.10 Tốc độ tăng trưởng bình quân ngày khối lượng ốc nuôi .46
Bảng 3.11 Tốc độ tăng trưởng tương đối khối lượng ốc nuôi 48
Bảng 3.12 Tỷ lệ thịt ốc ở các nghiệm thức 50
Bảng 3.13 Tỷ lệ sống của ốc nhồi ở 2 mật độ nuôi 51
Bảng 3.14 Hệ số và chi phí thức ăn của ốc Nhồi ở các nghiệm thức .53
Bảng 3.15 Hạch toán kinh tế của ốc nuôi ở các nghiệm thức 54
Trang 8Hình 1.1 Ốc nhồi nhìn từ mặt bên 4
Hình 1.2 Ốc nhồi nhìn từ mặt bụng 4
Hình 1.3 Tổ bằng đất do ốc đào trước khi đẻ 9
Hình 1.4 Chùm trứng ốc nhồi đẻ dấu trong hốc đất 10
Hình 1.5 Ốc con ra khỏi bọc trứng 12
Hình 2.1 Ốc giống khi bố trí thí nghiệm 18
Hình 2.2 Sơ đồ khối của quá trình nghiên cứu 20
Hình 2.3 Các số đo kích thước vỏ ốc 23
Hình 3.1 Diễn biến nhiệt độ trong quá trình nuôi 29
Hình 3.2 Kích thước trung bình của ốc Nhồi qua các lần kiểm tra .35
Hình 3.3 Tốc độ tăng trưởng bình quân ngày kích thước vỏ ốc 38
Hình 3.4 Tốc độ tăng trưởng tương đối kích thước vỏ ốc qua các lần kiểm tra 41
Hình 3.5 Khối lượng trung bình ốc nuôi qua các lần kiểm tra 44
Hình 3.6 Tốc độ tăng trưởng bình quân ngày khối lượng ốc qua các lần kiểm tra 47
Hình 3.7 Tốc độ tăng trưởng tương đối khối lượng ốc qua các lần kiểm tra 49
Hình 3.8 Tỷ lệ thịt ốc ở các nghiệm thức nuôi 50
Hình 3.9 Biến động tỷ lệ sống ốc nuôi ở các mật độ khác nhau 51
Hình 3.10 Tỷ lệ sống của ốc Nhồi ở các mật độ nuôi ngày thu hoạch .52
Trang 9Ôxy hòa tanĐộng vật thân mềmFeed conversion rate
Hệ số thức ănGiá trị lớn nhấtMật độ 1
Mật độ 2Giá trị nhỏ nhấtNuôi trồng thủy sảnPhương sai
Chiều caoSpecific growth rateChiều dài
Chiều rộngTrung bìnhThức ăn 1Thức ăn 2Thức ăn 3Thí nghiệmTăng trưởngKhối lượng
Trang 10MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, nghề nuôi trồng thủy sản (NTTS) nước ngọt
đã và đang trở thành một nghề sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế cao Sảnlượng thủy sản nuôi ngọt năm 2006 chiếm 31,6 triệu tấn (trong tổng số 51,7triệu tấn thủy sản từ nuôi trồng trên thế giới) (FAO, 2009) Ở Việt Nam, sảnphẩm của nghề NTTS nước ngọt đã và đang góp phần cải thiện đời sống nhândân, góp phần vào xóa đói giảm nghèo
Ốc Nhồi (Pila polita) là loài ốc nước ngọt thuộc họ Ốc nhồi (Pilidae), phân lớp Ốc mang trước (Prosobranchia), lớp chân bụng, ngành động vật
thân mềm Chúng phân bố phổ ở Đông Dương, Inđônêxia, Trung Quốc(Quảng Đông, Vân Nam), Thái Lan và Việt Nam Chúng sống trong ao,ruộng, vùng đồng bằng và trung du (Dillon RT, 2000) Ốc Nhồi là đối tượngnuôi rất triển vọng do đây là loài có giá trị kinh tế tương đối cao Những món
ăn được chế biến từ ốc nhồi có chất lượng thơm ngon, cung cấp một lượngđạm, canxi, axit amin,… và đặc biệt là chứa các chất béo không no có lợi chosức khoẻ Bên cạnh đó, ốc Nhồi còn được biết đến như là một biệt dược đểchữa trị các bệnh về da và khớp cho nên được thị trường rất ưa chuộng Việc
nghiên cứu xây dựng quy trình nuôi loài ốc nhồi Pila polita thành công sẽ tạo
cơ sở để phát triển nghề nuôi ốc nhồi bổ sung thêm một loài thủy sản nướcngọt có giá trị kinh tế cao vào danh mục các loài nuôi của ngành thủy sản ViệtNam Mặt khác, đây cũng là một giải pháp nhằm giảm áp lực khai thác nguồn
ốc tự nhiên góp phần bảo tồn nguồn lợi loài ốc này
Trong quy trình nuôi thương phẩm, thức ăn và mật độ thả giống là hainhân tố rất quan trọng Thức ăn cung cấp chất dinh dưỡng đảm bảo sự sinhtrưởng và phát triển bình thường của đối tượng nuôi Mật độ thả giống có ảnh
Trang 11hưởng trực tiếp đến sự cạnh tranh về môi trường, cạnh tranh thức ăn, biếnđộng môi trường… và do đó mà ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng và tỷ lệsống của đối tượng nuôi Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có một nghiên cứuhoàn chỉnh nào về đối tượng này.
Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “Xác định
loại thức ăn ưa thích và ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng của ốc Nhồi (Pila polita Deshayes) nuôi trong ao ở thành phố Vinh”.
Mục tiêu nghiên cứu
Xác định loại thức ăn thực vật ưa thích và ảnh hưởng của mật độ đến sự
tăng trưởng của ốc nhồi (Pila polita Deshayes) để cung cấp các dẫn liệu khoa
học góp phần xây dựng quy trình nuôi thương phẩm ốc Nhồi
Nội dung nghiên cứu
- Các loại thức ăn của ốc nhồi (Pila polita Deshayes).
- Ảnh hưởng của mật độ đến sự tăng trưởng và năng suất của quá trìnhnuôi thương phẩm ốc nhồi
Trang 12Chương 1TỔNG QUAN
1.1 Một số đặc điểm sinh học chủ yếu của ốc Nhồi
Giống: Pila - Röding, 1798
Loài: Pila polita - (Deshayes, 1830)
Tên tiếng Anh: Apple Snail
Tên tiếng Việt: ốc nhồi, ốc bươu đen
Trong giống Pila, cho đến nay trên thế giới đã phân loại được 23 loài bao
gồm:, P polita, P africana, P africana martens, P ampulacea, P ampullacea,
P angelica, P cecillei, P congoensis, P conica, P globosa, P gracilis,
P leopoldvillensis, P letourmenxi, P luzonica, P occidentalis, P ovata, P pesmei, P pesmi, P saxea, P scutata, P speciosa, P virens và P wernei
1.1.2 Đặc điểm hình thái
Ốc nhồi là loài ốc cỡ lớn, mặt vỏ bóng, màu xanh vàng hay nâu đen,mặt trong hơi tím Số vòng xoắn 5,5 ÷ 6, các vòng xoắn hơi phồng, rãnh xoắnnông Lỗ miệng vỏ hẹp dài, tháp ốc vuốt nhọn, dài vỏ bóng Vòng xoắn cuối
Trang 13lớn, chiếm tới 5/6 chiều cao vỏ Các vòng xoắn trên nhỏ, vuốt nhọn dài Lỗmiệng vỏ hẹp, dài, chiều rộng bằng nửa chiều cao Vành miệng sắc, không lộntrái, lớp sứ bờ trụ dày Lỗ rốn dạng rãnh hẹp dài Nắp miệng dài, tâm ởkhoảng giữa, gần cạnh trong Vỏ ốc có lớp canxi ở phía trong và lớp vỏ sừngmàu xanh đen hay ánh vàng ở phía ngoài (Bách khoa toàn thư Việt Nam).
Cơ thể mất đối xứng và được chia thành 3 phần là phần đầu, phần thân
và phần chân Đầu ở phía trước, có mắt và các tua cảm giác (râu) Thân (hayđược gọi là khối phủ tạng) nằm trên chân, là một túi xoắn Chân là một khối
cơ khoẻ nằm ở mặt bụng, cử động uốn sóng khi bò Toàn bộ cơ thể được baotrong một vỏ xoắn hình chóp, toàn bộ nội quan được lớp áo bao phủ nằmtrong vỏ (Thái Trần Bái, 2001)
Hình 1.1 Ốc nhồi nhìn từ mặt bên Hình 1.2 Ốc nhồi nhìn từ mặt bụng
Theo Đặng Ngọc Thanh và Trương Quang Ngọc (2001), khi ốc nhồithò đầu ra khỏi vỏ thì thấy giữa là thùy miệng, hai bên là ống xiphông Ốngbên trái rất lớn thông với xoang phổi là ống hút Ống bên phải nhỏ hơn, thôngvới xoang mang là ống thoát Phần miệng nằm ở phía trước, nếp da bao quanhmiệng kéo dài thành hai mấu lồi, phía ngoài hai mấu lồi này là hai tua đầu,khi vươn dài ra có thể dài tới 5cm Ở gốc tua cảm giác có hai mắt đính trênhai cuống ngắn Phía dưới phần đầu là phần chân Ở chân có rãnh dọc chia
Trang 14chân làm hai mảnh Khi di động chân bè rất rộng và đẩy nắp miệng về phíasau Tiếp theo phần đầu là phần áo Cửa áo nằm ngay phía trên miệng và chạydài từ trái sang phải Bề mặt của áo cũng như toàn thân ốc lúc nào cũng cómột lớp chất nhày Bên trong là xoang áo Bên phải áo có lỗ sinh dục cái hoặc
cơ quan giao phối nằm trong một túi (ở con đực) và hậu môn Bên trái áo có
cơ quan cảm giác hóa học osphradi là một mấu ngắn màu vàng nhạt
Khối nội quan: Phần lớn khối nội quan nằm ở vòng xoắn cuối Qua lớp
màng mỏng có thể phân biệt được một số các bộ phận nội quan: Đó là khốigan - tụy màu vàng xen lẫn màu xanh đen Dạ dày màu đỏ nằm trong khốigan - tụy Đơn thận màu đen phủ một đoạn ruột Ở con cái có tuyến anbuminmàu vàng Bao tim ở gờ bên trái Ống dẫn sinh dục đực hoặc cái ở bên phải.Nội tạng gồm các cơ quan chức năng sau:
- Hệ tiêu hóa: Trong thùy miệng có hành miệng, gồm có hai răng kitin
ở hai bên, giữa là lưỡi gai Tiếp đó là thực quản nối hành miệng với dạ dày.Thực quản hẹp, dài Dạ dày màu đỏ thịt nằm trong khối gan - tụy Sau dạ dày
là ruột uốn khúc nằm ngoằn ngoèo trong khối gan - tụy, rồi đổ ra trực tràngchạy về phía trước cơ thể Cuối cùng là hậu môn nằm bên phải cửa áo
Ở vùng miệng có một đôi tuyến nước bọt màu vàng, đổ vào thực quản.Khối gan tụy chia làm hai phần: phần tiêu hóa màu vàng pha đỏ, phần bài tiếtmàu đen
- Hệ hô hấp: Họ ốc Pilidae có đặc điểm là vừa có phổi, vừa có mang.Bên trái của xoang áo là phổi thông với ngoài qua ống xiphông thoát Trongxoang mang có một dãy lá mang chạy song song với đoạn ruột thẳng
- Hệ bài tiết: gồm một tuyến Bojanus đen sẫm phủ trên đoạn ruột cạnhbao tim và đổ ra đáy xoang áo
Trang 15- Hệ sinh dục: Ốc nhồi là động vật phân tính Ốc nhồi đực và cái có thểphân biệt bằng hình dạng bên ngoài Nếu cùng tuổi thì ốc cái lớn hơn ốc đực,đỉnh vỏ thấp và không nhọn bằng ốc đực.
- Cơ quan cảm giác: Ốc nhồi có một đôi mắt Mắt có cuống ngắn nằmngay dưới gốc tua cảm giác Cơ quan cảm giác hóa học osphradi nằm ở váchxoang áo bên phải (xoang phổi), gần miệng Cơ quan thăng bằng nằm trongmột hốc màu vàng
1.1.3 Tập tính sống
trên nền đáy hoặc trên vách giá thể, khi di chuyển ốc tiết ra một lớp nhầy đểgiảm ma sát Trong lúc di chuyển đầu ốc nhô ra, thuỳ miệng ở giữa, bên trái
là ống xi phông hút lớn thông với xoang phổi, bên phải là ống xi phông thoát
bé thông với xoang mang Đôi khi ốc thải phân cùng với bọt khí qua ống thoát
ra ngoài Khi ốc nổi từ từ lên mặt nước thì ống hút nhô lên, mở rộng miệngống ra để lấy không khí dự trữ vào khoang áo
tua râu cảm giác có khi vươn dài tới 5cm Ở kề 2 gốc tua là 2 mắt, cuống mắtngắn, cử động linh hoạt
Trang 161.1.4 Phân bố và môi trường sống
Trên thế giới ốc nhồi phân bố ở các nước Thái Lan, Lào, Ấn Độ, miềnNam Trung Quốc Ở Việt Nam, chúng thường sống ở ao, hồ và đồng ruộng cảvùng đồng bằng, trung du và miền núi (theo bách khoa toàn thư Việt Nam).Khi điều tra về sự phân bố của các loài ốc nước ngọt thuộc họ Ampullariidae
ở 18 tỉnh Thái Lan, Thaewnon - NgiwB và ctv (2003) cho biết, các loài Pilaangelica, P ampullacea và P pesmei có giới hạn phân bố còn Pila polita,trước đây không thấy xuất hiện ở miền Nam, nhưng có thể bắt gặp chúng ởPhangnga, một tỉnh miền Nam của Thái Lan
Theo Nguyễn Đình Trung (1998), động vật thâm mềm (mollusca), có
vỏ đá vôi, không phân bố ở vùng nước có pH < 7
Theo Vũ Trung Tạng - Nguyễn Đình Mão (2006) thì động vật thânmềm được xếp vào loại sinh vật nước đứng (nước tĩnh), thích nghi với điềukiện nước tĩnh hàm lượng oxy thấp và rất dao động theo ngày đêm và theomùa liên quan đến độ nông sâu và diện tích rộng hẹp của thuỷ vực
Ốc Nhồi là loài ốc nước ngọt, sống phổ biến trong các ao, ruộng, hồ,đầm ở vùng đồng bằng và trung du, chúng thường bò trên rong, bèo, ăn mùn
bã hữu cơ, bám vào xơ mít vứt xuống ao hay bám vào cỏ trong ruộng
Ốc thường nổi lên mặt nước để thở, khi có tiếng động liền thu mình lạivào vỏ và lặn xuống sâu Mùa nóng hay mùa lạnh, ốc hay nổi lên mặt nước,
ốc nhồi vừa có mang vừa có phổi nên chịu được khô, buổi sáng ốc thường ởgần bờ ao, ruộng, trưa rút xuống sâu và ra xa bờ hơn
Vào mùa khô, ốc thường vùi dưới mặt đất 5 ÷ 20cm; khi có nước ngậpthì trồi lên sinh sống và phát triển ở môi trường nước
Trang 171.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng
Theo Tạp chí Khoa học và phát triển số 44/2003 thì ốc nhồi ăn mùn bãhữu cơ Theo Nguyễn Duy Khoát (1993), ốc nhồi chỉ ăn chủ yếu là mùn bãhữu cơ và rong rêu Ngoài ra Ốc nhồi còn ăn thực vật thủy sinh: Bèo cây, raumuống, các loại rong, rêu bám ở nền đá hay các giá thể bám khác và nhiềuloại thực vật nước sống ven bờ, mép ao Nhiều loại thực vật thượng đẳng trêncạn cũng là thức ăn ưa thích của ốc như: Lá sắn, lá chuối non, lá mùng tơi, lárau ngót, lá mùng trắng Trong điều kiện nuôi nhân tạo ốc nhồi có thể ăn thêmcác loại thức ăn bổ sung như: Bột cám gạo, bột đậu nành, bột ngô, thịt hến,hàu, bột cá, Thành phần thức ăn của ốc ít thay đổi từ lúc ốc con đến ốctrưởng thành
Ốc có thể ăn cả ngày, tuy nhiên chúng tập trung ăn nhiều vào lúc sáng sớm
5 ÷ 8h và chiều tối 18 ÷ 22h Khi thực hiện hoạt động ăn ốc nhồi thường treomình lơ lửng trên mặt nước nhờ cấu tạo đặc biệt của màng chân chúng dùngmàng chân có tiết dịch keo để bao lấy vùng thức ăn và kéo về gần lỗ miệng.Khi tiếp cận thức ăn ốc thường mở lỗ miệng ra và hút thức ăn vào khoangmiệng rồi đưa tới bộ phận tiêu hóa của cơ thể Đôi khi ốc không chủ động bơi
để ăn thức ăn mà chúng chỉ bám vào giá thể bám mà hút thức ăn đưa vàomiệng một cách tương đối bị động Đó là hình thức ăn của ốc với thức ăn cókích thước nhỏ vừa cỡ miệng của ốc như tảo hay thức ăn tinh, còn đối vớinhững loại thức ăn có kích thước lớn hơn và tương đối cứng như các loại thức
ăn xanh (bèo cây, rau muống, lá sắn, ), rong, rêu, rơm rạ, cỏ mục hay mùn bãhữu cơ thì ốc sử dụng lưỡi bào đa năng của mình để bào mòn dần thức ăn vàđưa vào miệng tiêu hóa một cách tương đối đơn giản
Trang 181.1.6 Đặc điểm sinh sản
Trong tự nhiên người ta thấy: Vào mùa sinh sản ốc thường kết cặp vàochiều tối và ban đêm, sau đó một thời gian thì thấy ốc cái đẻ trứng Khi giaophối, con đực và con cái quay miệng vỏ ngược nhau, con đực đưa cơ quangiao phối hình máng dài có rãnh ra, đồng thời con cái mở nắp vỏ Tinh trùngcủa con đực theo ống dẫn tinh, qua cơ quan giao phối (gai giao cấu) chuyểnsang cơ thể con cái và được giữ lại trong buồng thụ tinh Thời gian kết cặp cóthể kéo dài hàng giờ đồng hồ So với ốc bươu vàng thì chúng dễ tách rời nhau
ra trong khi giao phối khi có một tác động như chạm nhẹ vào mặt nước haychỉ là một ánh đèn rọi vào Ốc thường làm tổ trước khi đẻ và đẻ dấu trứngdưới các bờ đất có lá cây che kín Trong tự nhiên, chúng thường đào các hốđất trên bờ có đường kính khoảng 7 ÷ 9cm, và sâu từ 5 ÷ 8cm tùy thuộc vàochất đất tạo bờ
Hình 1.3 Tổ bằng đất do ốc đào trước khi đẻ
Nguồn: (Khoa Nông Lâm Ngư - Đại học Vinh)
Trang 19Trứng ốc nhồi được đẻ dấu trong các hố đất hoặc có mái đá che cách
mặt nuớc từ 10 ÷ 20cm Tập tính đẻ dấu trứng của ốc nhồi Pila polita nhằm
mục đích bảo vệ trứng Trứng được dấu trong các hố đất, đá vừa có tác dụngphòng tránh địch hại tấn công trứng cũng như ăn trứng, mặt khác cũng chebớt ánh sáng chiếu trực tiếp lên chùm trứng, nhằm giữ độ ẩm cho trứng, từ đógiúp cho phôi phát triển tốt
Hình 1.4 Chùm trứng ốc nhồi đẻ dấu trong hốc đất.
Nguồn: (Khoa Nông Lâm Ngư - Đại học Vinh)
Trong điều kiện môi trường sinh thái không thuận lợi cho ốc làm tổ,người ta thấy ốc đẻ cả lên rễ bèo, những chùm trứng được đẻ trên rễ bèothường bị hỏng do bị ánh sáng mặt trời trực tiếp chiếu vào hoặc bị nước mưa
và động vật gây hại
Trước khi đẻ ốc bò lên tổ do chúng chuẩn bị trước và tiết ra một chất keonhầy màu trắng trong Chất này có tác dụng làm chất kết dính trứng vào giá
Trang 20thể và các quả trứng lại với nhau thành một chùm lớn Căn cứ vào đặc điểmnày mà người ta biết được ốc đang chuẩn bị đẻ trứng Ốc nhồi thường đẻ vàoban đêm, cũng có khi gặp ốc đẻ vào ban ngày nhưng rất hiếm.
Mùa vụ sinh sản, trong tự nhiên người ta thấy trứng ốc nhồi có quanhnăm trừ vài tháng mùa đông ở miền Bắc khi thời tiết quá lạnh, nhưng thấy ốc
đẻ nhiều vào tháng 4, tháng 5, tháng 6 dương lịch, nhất là vào sau những đợtmưa rào
Sức sinh sản: chưa có nghiên cứu nào cho biết về sức sinh sản của ốcnhồi Theo nghiên cứu bước đầu của Chi cục thuỷ sản Hà Nội, ốc cái mỗi lần
đẻ một chùm trứng Mỗi chùm trứng chứa 70 ÷ 202 quả trứng Theo Su sinTeo (2004), số lượng trứng trong một chùm trứng ốc bươu vàng dao động từ
92 ÷ 592 quả trứng (trung bình là 272 quả) Theo Nguyễn Duy Khoát (1993),
số lượng trứng trong một chùm của ốc bươu vàng dao động từ 100 ÷ 600
trứng So sánh với ốc nhồi Pila polita thì ốc nhồi có sức sinh sản thấp hơn.
Sự phát triển của phôi, cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào về sựphát triển phôi của ốc nhồi Trong tự nhiên người ta thấy ốc nhồi nở sau khi
đẻ khoảng 13 ÷ 20 ngày, và nở trực tiếp ra ốc nhồi con không qua các giaiđoạn biến thái Khoa Nông Lâm Ngư trường Đại học Vinh bước đầu nghiêncứu cho biết: Trứng được thụ tinh, sau khi đẻ bắt đầu có sự phân cắt tế bào.Sau khoảng 48 giờ, bóc lớp vỏ canxi bên ngoài, quan sát thấy chấm nhỏ, càng
về sau thì càng thấy rõ hơn Sau quá trình phân chia tế bào và hình thành phôinang, phôi vị kéo dài tới 5 ngày thì thấy trong bọc trứng có hình dạng của ốccon Nội quan dần hình thành và tế bào sắc tố ngày càng hoàn thiện Sau thờigian 13 ÷ 15 ngày tùy thuộc vào điều kiện nhiệt độ thì ốc con phát triển gầnnhư hoàn chỉnh về cấu tạo bên ngoài và bên trong, lúc này ốc sẽ tự thoát rangoài Kèm theo sự phát triển của phôi là sự thay đổi về màu sắc của chùm
Trang 21trứng Lúc mới đẻ, trứng có màu trắng tinh Sau 2 ngày thì trứng bắt đầuchuyển sang màu trắng đục, màu vàng xám bắt đầu xuất hiện khoảng ngàythứ 5 sau khi đẻ và ngày thứ 11 trở đi thấy trứng chuyển sang màu xám đen,đây là lúc mà trứng chuẩn bị nở Quan sát bên ngoài rất dễ nhận thấy sự thayđổi màu sắc của chùm trứng từ lúc mới đẻ đến khi trứng nở Ở điều kiện nhiệt
độ không khí từ 24 ÷ 36 0C, sau 13 ÷ 15 ngày thì ốc thoát ra khỏi bọc trứng vàsống bám vào giá thể trong môi trường nước Quan sát trứng chuẩn bị nở thấylớp vỏ canxi bên ngoài bị nứt và bong ra, lúc này cầm chùm trứng ta thấymềm mềm và các quả trứng rất dễ tách rời nhau Bọc trứng có chứa ốc conbên trong dần dần sẹp lại và ốc con thoát ra ngoài Theo Nguyễn Duy Khoát(1993) thì nhiệt độ có ảnh hưởng rất lớn đến sự nở của trứng ốc bươu vàng,nhiệt độ 150C thời gian nở của trứng ốc là 30 ngày, nhiệt độ 300C thời gian nởcủa trứng ốc là 9 ngày, nhiệt độ tăng tới 320C, phần lớn trứng ốc bị hỏng, nởkhông đáng kể
Hình 1.5 Ốc con ra khỏi bọc trứng
Nguồn: (Khoa Nông Lâm Ngư - Đại học Vinh)
Trang 22Căn cứ vào màu sắc của buồng trứng người ta có thể biết được thờigian trứng ốc nở để chuẩn bị các giá thể như bèo, và các dụng cụ đựng ốccon, cũng như chuẩn bị về ao, bể, giai, thức ăn ương nuôi ốc con Khi ốcthoát ra khỏi bọc trứng nó có khả năng tự bò và tìm đến nơi có nuớc và bámvào giá thể
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu và phát triển nghề nuôi ốc Nhồi
1.2.1 Trên thế giới
Trong sản lượng thuỷ sản hàng năm trên thế giới thì động vật thân mềmđóng vai trò khá quan trọng Theo thống kê của FAO năm 2008, ĐVTMchiếm 27% về sản lượng, 15% về giá trị tổng sản lượng
Nhật Bản, Mỹ, CHND Triều Tiên, Pháp và Italia
Các đối tượng nuôi chính chủ yếu tập trung ở các loài sống ở vùngven biển như Hầu TBD, Vẹm Xanh, Ngao, Sò, Điệp, Bào Ngư
Hiện nay, các nghiên cứu về ốc nhồi Pila polita còn rất hạn chế Những nghiên cứu hiện có chủ yếu tập trung vào một số loài trong cùng họ Pilidae
Haniffa M.A (1987) [12] nghiên cứu dinh dưỡng của Pila globosa
cho thấy, khi bỏ đói ốc trong 1 tháng thì ốc giảm khối lượng khô trên khốilượng tươi là 79,5 mg/g; và thời gian để ốc tăng trọng trở lại khối lượng cơthể ban đầu ước tính là 66, 72, 88, 32, 28 và 23 ngày khi khẩu phần ăn đượctăng từ 8 ÷ 20%
Sarwar Jahan et al (2001) [16] nghiên cứu sinh thái tăng trưởng của
Pila globosa trong môi trường sống mô phỏng Các yếu tố lý - hóa như nhiệt
độ nước, pH, độ trong, DO được duy trì nghiêm ngặt; cung cấp thức ăn làthức ăn tự nhiên của chúng cho thấy, tỷ lệ tăng trưởng và giá trị chỉ số chất
Trang 23béo của Pila globosa trong điều kiện tự nhiên đều cao hơn so với thức ăn là cây trồng B.rubra (cây mồng tơi) Trong điều kiện thức ăn tự nhiên, tỷ lệ tử
vong tối thiểu và tối đa ở khoảng cách 224 ÷ 238 và 0 ÷ 14 ngày tuổi kể từngày được tính toán là 0,00% và 16,00%; trong khi đó, ở điều kiện thức ăn là
cây trồng B.rubra, tại khoảng cách 252 ÷ 266 và 0 ÷ 14 ngày tuổi, tỷ lệ tử
vong tương ứng là 0,00% và 18,00%
Nghiên cứu của Haniffa M.A (1980) [13] về tuổi thọ, đặc điểm tăng
trưởng của loài ốc nước ngọt P globosa cho thấy, tỷ lệ tăng trưởng và tốc độ
tăng trưởng tỷ lệ nghịch với sự gia tăng khối lượng cơ thể
Meyer-Willerer A O và Santos-Soto A (2006) [14], nghiên cứu ảnhhưởng của nhiệt độ và cường độ ánh sáng lên khả năng sinh sản và tăng
trưởng của ốc Pomacea paluta (Baker) trong điều kiện nhiệt độ 20 ÷ 32oC và
cường độ chiếu sáng 60 ÷ 300 lux Kết quả nghiên cứu cho thấy, ốc Pomacea
paluta đẻ trứng từ tháng 8 ÷ 11 hàng năm khi nhiệt độ nước trung bình là ≥
26oC; quá trình đẻ trứng cũng bị ảnh hưởng bởi cường độ ánh sáng; khả năng
đẻ trứng của ốc Pomacea paluta ở nhiệt độ nước 26oC cao hơn khi cường độánh sáng thấp so với khi nghiên cứu với ánh sáng có cường độ cao
Aboho S.Y et al (2009) [15] đã phân tích hàm lượng các kim loại Cu,
Pb, Fe, Cd, As, Zn (mg/g) có trong vỏ và trong khối nội tạng của Achatina
achatina và Pila ovata cho thấy, ở Achatina achatina hàm lượng các kim loại
Cu, Pb, Fe, Zn ở trong nội tạng là 0,31, 0,43, 0,50, và 0,47, tương ứng hàm
lượng của các kim loại đó ở trong vỏ là 0,08, 0,79, 0,74 và 1,81; ở Pila ovata,
hàm lượng Cu, Pb, Fe, Zn ở trong nội tạng là 0,14, 0,92, 0,78 và 0,72, tươngứng ở trong vỏ là 0,56, 0,92, 0,58 và 1,47 Kim loại nặng cadmium và asen
không tìm thấy trong nội tạng và trong vỏ của cả Achatina achatina và Pila
ovata Hàm lượng kim loại thu được trong các mẫu là thấp, nhưng chúng
cũng có thể đe dọa sức khỏe nếu được tích lũy trong thời gian dài
Trang 24Hiện chưa có một nghiên cứu nào về thức ăn cũng như nuôi thương
phẩm của ốc nhồi Pila polita, những nghiên cứu về đối tượng này chỉ mới
dừng lại ở nghiên cứu về phân loại học
Dillon R.T (2000) [26], Pila polita là loài ốc nước ngọt phổ biến.
Chúng phân bố ở Đông Dương, Inđônêxia, Trung Quốc (Quảng Đông, VânNam), Thái Lan và Việt Nam Chúng sống trong ao ruộng, vùng đồng bằng vàtrung du
Theo Burch và Lohachit (1983), Kaewjam (1986), Pila polita được xem
là một trong 8 loài ốc nước ngọt có vai trò quan trọng trong y học ngiw Bet all (2002) [24] cho biết Pila polita hiện đang được biết đến như mộtbiệt dược để chữa bệnh về da cho người dân địa phương miền Nam Thái Lan
Thaewnon-1.2.2 Ở trong nước
Việt Nam là nước nằm trong khu vực nhiệt đới, có nhiều ao hồ, sôngsuối, nhiều Cửa sông đổ ra biển với nền đáy đa dạng tạo nên một khu hệ độngvật thân mềm phong phú Tuy nhiên, tập đoàn các đối tượng nuôi nước ngọt,còn nghèo nàn chưa tương xứng với tiềm năng đa dạng sinh học và sự đadạng về điều kiện sinh thái của đất nước cũng như nhu cần của sản xuất
thuộc họ Ốc nhồi (Pilidae), phân lớp Ốc mang trước (Prosobranchia), lớp
chân bụng, ngành động vật thân mềm Vỏ tương đối lớn Mặt vỏ bóng, màuxanh vàng hoặc nâu đen, mặt trong hơi tím Lỗ miệng dài hẹp, tháp ốc vuốtnhọn, có 5 ÷ 6 vòng xoắn, các vòng xoắn hơi phồng, rãnh xoắn nông; vòngxoắn cuối rất lớn chiếm tới 5/6 chiều cao vỏ, các vòng xoắn trên nhỏ dần,vuốt nhọn dài Vành miệng sắc, không lộn trái, lớp sứ bờ trụ dày Lỗ rốn dạngrãnh hẹp dài Nắp khe miệng dài Ăn mùn bã hữu cơ Phân bố ở Đông Dương,Inđônêxia, Trung Quốc Sống trong ao, ruộng, vùng đồng bằng và trung du
Trang 25Hiện nay chúng được sử dụng làm các món ăn được ưa chuộng phổ biến (bún
ốc, ốc xào, ốc hấp gừng, ốc om chuối đậu, ốc hấp thuốc bắc vv…)
thử loài ốc nhồi này từ việc sử dụng nguồn giống khai thác từ tự nhiên bằnghình thức nuôi kết hợp trong ao với cá quả, lươn, ba ba và ốc nhồi ở ThanhHoá, Ninh Bình với giá bán thương phẩm khoảng 40 ÷ 50 ngàn đồng/kg nênmang lại hiệu quả kinh tế khá cao
được thực hiện ở ao đất, đáy có bùn mềm, nhiều mùn hữu cơ, mực nước trungbình 0,5m và tốt nhất là nước có dòng chảy nhẹ Ao được bón lót bằng phânchuồng, phân gà, phân trâu - bò trộn lẫn với rơm rạ băm nhỏ (tỷ lệ 1/3) Bónphân cho ao nuôi trước khi thả ốc bố mẹ 3 ngày Mật độ thả 15 ÷ 20 con/m2
ao, tỷ lệ ốc đực - cái 1/1 Nên thả ốc vào ao trước mùa sinh sản của ốc Sau 10
÷ 15 ngày kể từ ngày thả ốc bố mẹ, có thể bắt ốc con để nuôi riêng ốc giống
có thể bắt ngoài tự nhiên về nuôi Cần làm nhẹ nhàng, tránh ốc bể vỏ, chết.Nuôi ốc thịt ở ruộng có phân chia 2 chỗ nước nông và nước sâu, nơi nước sâu0,7 ÷ 1m, nơi cạn 0,2 ÷ 0, 3m Có thể nuôi ốc ở mương, ao, ruộng trũng, sôngcụt, rừng nước hoặc khoanh vùng đất khi nước lũ tràn về; nên nuôi ghép ốcvới cá Vùng nuôi cần trồng bông súng, rong để tăng độ mát và độ bám của ốctrong môi trường nước Nước nuôi ốc không bị nhiễm độc nông dược, giàuchất hữu cơ, nước có lưu thông nhẹ càng tốt Nếu không có bờ bao thì dùnglưới cước bao quanh 10 ngày trước khi thả ốc cần băm rơm rạ cùng với phânchuồng thả đều ao với tỷ lệ 2kg/m2, bón xong đợi đến khi có bọt nước nổi lênmới thả ốc giống Mật độ thả 100 ÷ 150 con/m2, ốc cỡ lớn hơn thả 80 ÷ 120con/m2 Hàng ngày cho ốc ăn cám gạo, bắp, khoai, rau xanh, thịt hến, cá, rắcđều trên phần nông của ao Có thể cho ốc ăn thức ăn hỗn hợp như bột bắp,cám gạo nấu với bột cá Lượng thức ăn hàng ngày bằng 10% khối lượng ốc
Trang 26dưới ao Cho ăn mỗi ngày 1 lần vào giờ nhất định Ốc lớn, tăng dần lượngthức ăn Thu tỉa ốc lớn để lại ốc nhỏ nuôi tiếp trong mùa nước Vào cuối mùanước, thu toàn bộ; chọn ốc bố mẹ để nuôi năm sau Nơi có nhiều phù sa bồilắng nên thu hoạch vào mùa khô, khi đó chỉ cần cào mặt đất, bắt từng con ốc.Đây cũng là lúc ốc mập nhất.
Nuôi ốc ở ao cần có phần sâu và phần nông theo tỷ lệ 3/2 Phần sâu giữnước 50 ÷ 80cm, phần nông quanh ao mức nước 20 ÷ 30cm Vây lưới quanh
ao ở độ sâu 50cm để không cho ốc bò đi Nước ao không bị ô nhiễm, có điềukiện lưu thông tốt, độ pH 6 ÷ 7, nhiệt độ nước thích hợp nhất là 20 ÷ 250C,giống ốc con thả với mật độ 100 ÷ 150con/m2, trước khi thả 10 ngày, rắc rơm
bọt lên thì thả ốc con
Cần cho ốc ăn liên tục, thức ăn gồm cám gạo, rau xanh, thịt hến, bột cátrộn cám gạo, bột ngô ngày cho ăn một lần, lượng thức ăn bằng 10% trọnglượng ốc dưới ao, rải thức ăn đều ở phần nông của ao
Như vậy, trên thế giới cũng như ở Việt Nam hiện chưa có một côngtrình khoa học nào nghiên cứu một cách hoàn chỉnh về đối tượng này mà chỉrải rác các thông tin chung chung Do đó, việc nghiên cứu tìm ra loại thức ăn
ưa thích và mật độ nuôi thích hợp của đối tượng này vừa có ý nghĩa khoa họcvừa có ý nghĩa thực tiễn
Trang 27Chương 2VẬT LIỆU, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ 12/2010 đến 8/2011
- Địa điểm nghiên cứu:
Trại thực nghiệm NTTS nước ngọt, khoa Nông Lâm Ngư, trường Đạihọc Vinh
2.2 Vật liệu nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Ốc nhồi pila polita cỡ ốc giống có kích cỡ trung
bình về khối lượng 6,45g/con, chiều rộng 22,36 mm/con, chiều cao 22,36mm/con, chiều dài 30,40 mm/con
Hình 2.1 Ốc giống khi bố trí thí nghiệm
Trang 28Ốc Nhồi Pila polita với hệ thống phân loại như sau
Ngành: Mollusca - (Linnaeus, 1758) Cuvier, 1795
Lớp: Gastropoda - Cuvier, 1795
Phân lớp: Orthogastropoda - Ponder & Lindberg, 1996 Bộ: Architaenioglossa - Haller, 1892
Họ: Ampullariidae
Giống: Pila - Röding, 1798
Loài: Pila polita - (Deshayes, 1830)
Tên tiếng Anh: Apple Snail
Tên tiếng Việt: ốc nhồi, ốc bươu đen
Trang 29Sơ đồ khối quá trình nghiên cứu:
Hình 2.2 Sơ đồ khối của quá trình nghiên cứu
TN 1.4Loại thức ăn thực vật ưa thích nhất
Xác định sự tăng trưởng và năng suất của ốc
nuôi với thức ăn ưa thích
Mật độ 1 (50 con/m2)
- Điều kiện môi trường
- Tốc độ tăng trưởng kích thước vỏ ốc
- Tốc độ tăng trưởng khối lượng ốc
- Tỷ lệ thịt ốc
- Tỷ lệ sống
Kết luận và kiến nghị
TN 1.3Nhóm thực vật sống trên cạn
Mật độ 1 (100 con/m2)
Trang 302.3 Phương pháp thực nghiệm xác định thức ăn ưa thích
Thí nghiệm 1 Xác định tính ưa thích của ốc nhồi đối với các loại thực vật phổ biến
TN1.1 Thực vật sống trong nước: rong đuôi chó (Ceratophyllum
demersum L.), rong tóc tiên (Vallisneria spiralis), rong lá ngò (Cabomba aquatica).
TN1.2 Thực vật sống trên mặt nước: Bèo hoa dâu ( Azolla caroliniana ) ,
bèo lục bình (Eichhornia crassipes Somlms), bèo cám (Wolffia arhiza).
TN1.3 Thực vật sống trên cạn: rau muống (Ipomoea aquatica), khoai lang (Ipomoea batatas), lá sắn (Manihot esculenta).
TN1.4 Xác định loại thức ăn ưa thích nhất trong 3 loại thức ăn ưa thích
từ các thí nghiệm TN 1.1, TN 1.2, TN 1.3
lượng cả trước và sau mỗi thí nghiệm
số từ 1 ÷ 100
Khối lượng thức ăn cho ăn: 6 ÷ 10% khối lượng ốc nuôi
Phương pháp tiến hành: Tập cho ốc ăn thức ăn thí nghiệm cứu trong
7 ngày liên tục, sau đó tiến hành thí nghiệm trong 7 ngày Các loại thức ăn cócùng khối lượng và được bố trí xung quanh nơi cho ăn
Mỗi TN được lặp lại 3 lần trong 3 giai, diện tích: 2m2/giai
Tính ưa thích loại thức ăn của ốc nhồi được xác định bằng cách xácđịnh lượng thức ăn được ốc sử dụng
Trang 312.4 Phương pháp xác định sự tăng trưởng của ốc nuôi
Thí nghiệm 2 Xác định sự tăng trưởng và năng suất của ốc nuôi với thức ăn ưa thích
+ Nuôi ốc nhồi với loại thức ăn ưa thích từ thí nghiệm TN1.4 (lượngthức ăn 6 ÷ 10% khối lượng ốc nuôi) để xác định tốc độ tăng trưởng và năngsuất của ốc nuôi
+ Thức ăn bổ sung: Bột cá tạp Lượng bổ sung: 6% lượng thức ănthực vật
+ Kích cỡ giống thả: 150 ÷ 160 con/kg Mật độ: 50 con/m2 và 100 con/m2.+ Diện tích ô nuôi ốc thí nghiệm: 3 m2
+ Sự tăng trưởng của ốc được thể hiện qua các chỉ số: chiều cao vỏ(mm), chiều rộng vỏ (mm), chiều dài vỏ (mm), khối lượng tươi (g)
2.5 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
2.5.1 Số liệu môi trường
- Các chỉ tiêu đo hàng ngày: Nhiệt độ, ôxy, pH
- Các chỉ tiêu đo 1 tuần một lần: NH3
Trong đó:
- Nhiệt độ sử dụng nhiệt kế có thang chia độ 10C
- Hàm lượng oxy hòa tan, đo bằng máy đo ôxy hiệu TOADKK của Nhật
- Độ pH đo bằng máy đo pH hiệu TOADKK của Nhật
- Hàm lượng NH3 sử dụng test Sera
Trang 322.5.2 Số liệu tăng trưởng
Ốc nuôi trong các ô thí nghiệm được đo chiều cao, chiều rộng, cân khốilượng khi thả và khi thu hoạch Trong quá trình nuôi hàng tháng kiểm tra tốc
độ sinh trưởng, thu mẫu ngẫu nhiên 30 cá thể để cân, đo khối lượng, chiềucao, chiều dài và chiều rộng của từng cá thể để hiệu chỉnh khẩu phần thức ăntheo tăng trọng của ốc
- Cân khối lượng ốc bằng cân điện tử, độ chính xác ±0,01g
- Đo chiều rộng và chiều cao của ốc bằng thước kẹp có thang chia độ1mm
Các kích thước vỏ ốc: chiều cao vỏ (SH), chiều rộng vỏ (SW), chiềudài vỏ (SL) theo Su Sin Teo, 2004) [22]
Hình 2.3 Các số đo kích thước vỏ ốc
SH - chiều cao vỏ, SL - chiều dài vỏ ốc,
SW - chiều rộng vỏ ốc (theo Su Sin Teo, 2004) [22]
2.5.3 Tốc độ tăng trưởng bình quân ngày ADG (Average daily growth)
ADG = (g,mm/ngày)
Trong đó: W 1 và W 2 là khối lượng, chiều dài, chiều cao, chiều dài ốc trước và sau thí nghiệm.
Trang 332.5.4 Tốc độ tăng trưởng tương đối SGR (Specific growth rate)
2.5.7 Chi phí thức ăn cho 1 kg ốc tăng trọng ở mỗi nghiệm thức
Chi phí thức ăn cho 1kg ốc =
2.5.8 Năng suất ốc nuôi
Năng suất ốc nuôi được xác định bằng khối lượng ốc thu hoạch trêndiện tích nuôi
Công thức tính:
K =
S: Diện tích nuôi (m2)K: Năng suất (kg/m2)
2.5.9 Tỷ lệ thịt ốc
Cân ngẫu nhiên 30 con ốc Tách riêng phần vỏ và phần thịt, sử dụngkhăn giấy để loại bỏ nước ở phần thịt Sau đó xác định khối lượng trung bìnhcủa phần thịt để tính tỷ lệ thịt của ốc theo công thức:
Tỷ lệ thịt ốc = x 100 (%)
Trang 342.5.10 Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế = Tổng thu - Tổng chi (đồng)
2.6 Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu thu được được xử lý theo phương pháp thống kê sinh học,bằng phần mềm Microsolft Excel 2003 và SPSS 16.0 với các phép thửDuncan, Turkey và LSD
Chương 3KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Xác định loại thức ăn thực vật ưa thích
3.1.1 Điều kiện môi trường trong quá trình thí nghiệm
Bảng 3.1 Điều kiện môi trường trong thí nghiệm 1.1 ÷ 1.4
Trang 35Yếu tố Nhiệt độ pH DO NH 3
<0,001
Chiều 30,23 ± 0,75 8,01 ± 0,10 6,16 ± 0,16
Trong thời gian thí nghiệm từ tháng 12/2010 đến tháng 8/2011, các yếu
tố điều kiện môi trường luôn nằm trong phạm vi thích hợp và ít biến động,đảm bảo cho kết quả của quá trình thí nghiệm xác định loại thức ăn ưa thíchđược chính xác
3.1.2 Kết quả xác định loại thức ăn thực vật ưa thích
Theo Nguyễn Duy Khoát (1993), ốc nhồi chỉ ăn chủ yếu là mùn bã hữu
cơ và rong rêu Ngoài ra, ốc nhồi còn ăn thực vật thủy sinh: Bèo cây, raumuống, các loại rong, rêu bám ở nền đá hay các giá thể bám khác và nhiềuloại thực vật nước sống ven bờ, mép ao Nhiều loại thực vật thượng đẳng trêncạn cũng là thức ăn ưa thích của ốc như: Lá sắn, lá chuối non, lá mùng tơi, lárau ngót, lá mùng trắng Trong điều kiện nuôi nhân tạo ốc nhồi có thể ăn thêmcác loại thức ăn bổ sung như: Bột cám gạo, bột đậu nành, bột ngô, thịt hến,hàu, bột cá, Thành phần thức ăn của ốc ít thay đổi từ lúc ốc con đến ốctrưởng thành Chính vì thế, việc xác định được loại thức ăn ưa thích của ốcNhồi là rất quan trọng
Thí nghiệm được tiến hành với 3 nhóm thực vật phổ biến
TN1.1 Thực vật sống trong nước: rong đuôi chó (Ceratophyllum
demersum L.), rong tóc tiên (Vallisneria spiralis), rong lá ngò (Cabomba aquatica).
TN1.2 Thực vật sống trên mặt nước: Bèo tấm (Lemna minor L.), bèo lục bình (Eichhornia crassipes Somlms), bèo hoa dâu (Azolla pinnata).
Trang 36TN1.3 Thực vật sống trên cạn: rau muống (Ipomoea aquatica), khoai lang (Ipomoea batatas), lá sắn (Manihot esculenta).
TN1.4 Xác định loại thức ăn ưa thích nhất từ 3 thí nghiệm 1.1, 1.2, 1.3
Số ốc thí nghiệm: 100 con, kích cỡ ốc: 100 con/kg, ốc được đánh sơn
số từ 1 ÷ 100 Mỗi thí nghiệm được lặp lại trong 3 lần, cho ốc tập ăn thức ănthí nghiệm trong 7 ngày và thu số liệu trong 7 ngày tiếp theo Kết quả thuđược như sau:
Bảng 3.2 Kết quả thử nghiệm tính ưa thích của ốc Nhồi với 3 nhóm
Khi phân tích ANOVA các số liệu thu được ở các thí nghiệm 1.1, 1.2,
và 1.3, kết quả cho thấy có sự khác nhau có ý nghĩa thống kê giữa các loàithực vật trong từng nhóm thực vật thí nghiệm Ốc Nhồi sử dụng tất cả các loàithực vật đó để làm thức ăn Rong đuôi chó, bèo cám và lá sắn là 3 loài thựcvật được ốc Nhồi ăn nhiều nhất trong 3 nhóm thực vật thí nghiệm (rong đuôichó: 19,239g, bèo cám: 31,831g và lá sắn: 40,012g)
Trang 37Rong đuôi chó, bèo cám và lá sắn tiếp tục được thử nghiệm trong thínghiệm 1.4 để xác định được loại thức ăn thực vật ưa thích nhất của ốc Nhồi.Kết quả thí nghiệm 1.4 thu được như sau:
Bảng 3.3 Kết quả thử nghiệm loại thức ăn thực vật ưa thích của ốc Nhồi
Những ký tự khác nhau trong cùng một cột thì khác biệt thống kê (P<0,05)
Kết quả phân tích thống kê cho thấy có sự sai khác có ý nghĩa thống kêgiữa 3 loại thức ăn trong thí nghiệm 1.4, trong đó rong đuôi chó là loại thựcvật mà ốc Nhồi sử dụng ít nhất, trung bình 17,190 ± 1,404 g, tiếp đến là bèo
42,144 ± 1,919 g Trong thực tế, lá sắn cũng là loại thức ăn thực vật đượcnhân dân các vùng Hải Phòng, Thanh Hóa sử dụng để nuôi ốc Nhồi
3.2 Quản lý các yếu tố môi trường
Trang 38Hình 3.1 Diễn biến nhiệt độ trong quá trình nuôi
Trong quá trình thí nghiệm gần 3 tháng (75 ngày, bắt đầu từ ngày13/5/2011, kết thúc ngày 26/7/2011) nhiệt độ nước buổi sáng dao động từ 26
÷ 300C, trung bình 28,8 0C và nhiệt độ nước buổi chiều dao động từ 27 ÷32,50C, trung bình 32,420C (Hình 3.1) Khoảng thời gian tiến hành thí nghiệm
là thời điểm mùa hè, nhưng nhiệt độ nước không quá cao và không có sựchênh lệch nhiều giữa buổi sáng và buổi chiều
Hiện nay vẫn chưa có tài liệu nào cho biết ngưỡng nhiệt độ của ốc nhồi
Ốc bươu vàng, nhiệt độ thích hợp là 25 ÷ 300C, ốc bị chết nóng khi nhiệt độnước lên cao và chết rét khi nhiệt độ nước xuống 80C kéo dài trong 4 ÷ 5 ngày(Nguyễn Duy Khoát, 1993) Trong suốt quá trình thí nghiệm, chỉ có 3 ngày cónhiệt độ nước đạt mức 32,5oC vào buổi chiều (ngày nuôi thứ 57, 63 và 69)
3.2.2 Các yếu tố môi trường khác
Bảng 3.5 Các yếu tố môi trường trong ao nuôi
Trang 39Sáng 7,683 ± 0,106 4,823 ± 0,177
<0,01
Chiều 8,018 ± 0,126 6,123 ± 0,153
a pH
Giá trị pH trong quá trình thí nghiệm dao động từ 7,68 ÷ 8,02 và không
có sự biến động lớn trong quá trình nuôi pH giữa sáng và chiều chênh lệchkhông đáng kể Theo Nguyễn Đình Trung (1998), động vật thân mềm(mollusca), có vỏ đá vôi, không phân bố ở vùng nước có pH<7 So vớingưỡng pH này thì giá trị pH trong ao nuôi là tương đối thích hợp cho sinhtrưởng và phát triển của ốc nhồi
b Hàm lượng oxy hòa tan
Hàm lượng oxy trong quá trình thí nghiệm dao động từ 4,41 ÷ 6,39 mg/
l, chênh lệch giữa buổi sáng và buổi chiều không nhiều
Theo Vũ Trung Tạng & Nguyễn Đình Mão (2006) thì động vật thânmềm được xếp vào loại sinh vật nước đứng (nước tĩnh), thích nghi với điềukiện nước tĩnh hàm lượng oxy thấp và rất dao động theo ngày đêm và theomùa liên quan đến độ nông sâu và diện tích rộng hẹp của thuỷ vực TheoNguyễn Duy Khoát (1993), ốc bươu vàng có thể sống được ở những nơi cóhàm lượng ôxy thấp 0,3mg/l, nhưng không tốt Ốc nhồi là động vật thân mềm
có họ hàng gần với ốc bươu vàng (cùng họ với ốc bươu vàng) nên cũng thíchnghi được với hàm lượng oxy thấp, do vậy hàm lượng oxy trong quá trình thínghiệm dao động từ 4,41 ÷ 6,39mg/l, không ảnh hưởng xấu đến sự phát triểncủa ốc nhồi
c NH 3
phân do ốc thải ra, thức ăn thừa, quá trình phân huỷ chât hữu cơ có nguồn gốc
Trang 40nitơ Trong nước hàm lượng NH3 tăng theo chiều thuận cùng với pH và làyếu tố gây độc cho động vật thuỷ sản
Trong quá trình thí nghiệm hàm lượng NH3 biến động ít và luôn đạtmức < 0,01mg/l Hàm lượng NH3 được xem là yếu tố bất lợi cho nuôi trồngthuỷ sản khi giá trị > 3 mg/l (Nguyễn Đức Hội, 2004) Tuy nhiên, trong thời
gây tác hại xấu cho ốc thí nghiệm Hơn nữa pH nước ao luôn đạt thấp hơn8,6 vì vậy với khoảng biến động nồng độ NH3 như trên chưa gây hại cho ốcthí nghiệm