Tài liệu “đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử ở trờngphổ thông cấp 2” Phan Ngọc Liên - Phạm Kỳ Tá, NXB GD 1975 đãtrình bày khá đầy đủ về vị trí, ý nghĩa, cách phân loại, nguyêntắc sử
Trang 1A Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài:
Ngày nay nhân loại đang ở vào giai đoạn văn minh thứ ba văn minh hậu công nghiệp Cùng với sự phát triển của xã hội loàingời, cuộc cách mạng khoa học công nghệ thông tin nh một “cơnlũ” đang lay động nhiều lĩnh vực của đời sống Trong bối cảnh
-đó, mỗi quốc gia không thể phát triển bó buộc trong biên giới lãnhthổ chật hẹp của mình mà cần phải vơn lên hoà nhập với sự pháttriển của thế giới thì mới có thể tránh đợc nguy cơ tụt hậu và chabao giờ chiến lợc phát triển con ngời đợc coi trọng đến nh vậy
Trớc sự thay đổi của thời đại, Việt Nam sau nhiều nămchiến tranh, đang ở vào giai đoạn công nghiệp hoá - hiện đại hoá
đất nớc, đã thấy đợc những thời cơ cũng nh những thách thức mà
nó mang lại, đã coi trọng giáo dục và đào tạo vì trong điều kiệnngày nay “không có sự tiến bộ và thành đạt nào tách rời khỏi sựtiến bộ và thành đạt trong lĩnh vực giáo dục của quốc gia đó”(UNESCO 1992) Do vậy, Nghị quyết TW II (khoá VIII) đã xác địnhmục tiêu và nhiệm vụ của giáo dục là: “Đào tạo ra con ngời pháttriển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghềnghiệp; trung thành với lý tởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xãhội; hình thành và nuôi dỡng nhân cách, phẩm chất và năng lựccủa ngời công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổquốc”
Con ngời đợc đào tạo theo mục tiêu nh vậy vừa tiếp nhậntruyền thống dân tộc, vừa đáp ứng yêu cầu của hiện tại; vừa thểhiện bản sắc dân tộc, vừa tiếp thu tinh hoa văn hoá của nhânloại
Trang 2Để thực hiện mục tiêu giáo dục đó, đòi hỏi cần phải có sựgóp mặt của tất cả các môn học ở trờng phổ thông trong đó có
bộ môn lịch sử Nhà nớc ta đã nhận thức đợc u thế của môn lịch
sử trong việc giáo dục nhân cách cho học sinh (đặc biệt là giáodục truyền thống dân tộc và tinh thần nhân văn), nên đã đặt bộmôn lịch sử ở vị trí xứng đáng trong chơng trình, kế hoạch giáodục thế hệ trẻ
Bộ môn lịch sử ở trờng phổ thông thực hiện tốt chức năng,nhiệm vụ của mình đòi hỏi phải nâng cao chất lợng dạy học,hoàn thành tốt nhiệm vụ đó phải cải tiến đồng bộ các khâutrong quá trình dạy học: Mục tiêu, nội dung, phơng pháp Trong
đó cải tiến về mặt phơng pháp phải đợc chú ý hơn cả Mọi biệnpháp đều đợc huy động nhằm tạo ra phơng pháp dạy học lịch sửtích cực
Trong nhiều năm qua, cùng với xu thế đổi mới nền giáo dục,
bộ môn lịch sử cũng đã tiến hành đổi mới về mặt phơng phápgiảng dạy nh dạy học lấy học sinh làm trung tâm, dạy học nêu vấn
đề, phát triển t duy học sinh … Mặc dù vậy, hiện nay trong dạyhọc lịch sử ở trờng phổ thông tồn tại nhiều bất cập Tình trạng
“dạy chay, học chay” vẫn còn phổ biến Lối dạy học truyền thống,giáo viên chỉ nêu ra sự kiện, phân tích sơ sài rồi đọc cho họcsinh chép đã làm giảm hứng thú học tập ở học sinh và gây ảnh h-ởng đến chất lợng, hiệu quả bài học lịch sử
Thực trạng đáng lo ngại đó, đã đặt ra yêu cầu cấp thiết làcần đa ra những phơng pháp dạy học hiệu quả cho từng bài, từngchơng
Trong rất nhiều phơng pháp và biện pháp tiến hành nhằmnâng cao chất lợng dạy học lịch sử, việc thiết kế và sử dụng đồdùng trực quan đợc coi là một phơng pháp tối u Đặc trng của bộ
Trang 3môn lịch sử là nhận thức cái đã qua và không lặp lại, học sinhkhông thể trực tiếp quan sát các sự kiện, hiện tợng và giáo viêncũng khó khăn trong việc tái hiện hiện thực khách quan Vì vậy,
để tái hiện bức tranh quá khứ một cách đầy đủ và chính xác chohọc sinh, ngoài việc sử dụng lời nói giáo viên phải sử dụng tốt đồdùng trực quan góp phần nâng cao hiệu quả bài học đồ dùng trựcquan có tác dụng tạo hình ảnh, giúp học sinh lĩnh hội kiến thứcmột cách dễ dàng và bền vững qua đó giáo dục t tởng, tình cảm
và phát triển toàn diện học sinh
Xuất phát từ những lý do trên, đợc sự giúp đỡ tận tình củathầy cô, bạn bè, chúng tôi chọn “Thiết kế và sử dụng đồ dùng trựcquan trong dạy học chơng “Cuộc kháng chiến toàn quốc chốngthực dân Pháp xâm lợc và can thiệp Mỹ 1946 - 1954” làm đề tàicho khoá luận tốt nghiệp của mình Chúng tôi mong muốn gópmột phần nhỏ vào việc nâng cao chất lợng giảng dạy bộ môn vàbớc đầu tập dợt nghiên cứu khoa học
2 lịch sử vấn đề:
Vấn đề “đồ dùng trực quan” trong dạy học lịch sử đã có một
số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nớc
đề cập đến Tài liệu mà chúng tôi tiếp cận đợc bao gồm nhữngtác phẩm về tâm lý học, lý luận dạy học có liên quan đến bộ môn
và những tài liệu, bài viết về nội dung và phơng pháp dạy học
ch-ơng “Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lợc
và can thiệp Mỹ 1946 - 1954” Trong số những tài liệu này, chúngtôi chia làm hai loại nh sau:
2.1 Th nhất, các công trình nghiên cứu về lý luận dạy học nói chung và lý luận dạy học bộ môn:
Trang 4Tài liệu đầu tiên mà chúng tôi tiếp cận là “Vấn đề trựcquan trong dạy học” (Phan Trọng Ngọ - Dơng diệu Hoa - Lê Tràng
Định , NXB ĐHQG HN 2000) Tài liệu này đã trình bày một cáchtổng quát về nguồn gốc, vai trò và phơng thức hình thành, vận
động của các hình ảnh cảm tính do trực quan mang lại trong hoạt
động nhận thức của con ngời
Tài liệu “phơng pháp dạy học lịch sử” (Phan Ngọc Liên Trần Văn Trị, NXB GD 1999) Tài liệu này đã trình bày một cáchtổng quát về khái niệm, vị trí, ý nghĩa, phân loại và đề ra một
-số biện pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử Tuynhiên, tài liệu này chỉ dừng lại dới dạng tổng quát về vấn đề đồdùng trực quan và phơng pháp thiết kế, sử dụng đồ dùng trựcquan trong dạy học lịch sử
Tài liệu “Một số chuyên đề về phơng pháp dạy học lịch sử”.Nội dung chính của tài liệu này là đi sâu vào đổi mới phơngpháp dạy học lịch sử theo hớng tích cực hoá việc dạy và học lịch
sử ở trờng phổ thông nhằm nâng cao chất lợng bộ môn Tuynhiên, các tác giả cũng mới đa ra một số chuyên đề lý luận đổimới phơng pháp bài học lịch sử ở trờng phổ thông, các chuyên đề
về chuẩn bị bài học lịch sử ở trờng phổ thông, các chuyên đề
về giáo dục học sinh qua dạy học lịch sử, chuyên đề sử dụng tàiliệu trong dạy học lịch sử ở trờng phổ thông Vấn đề thiết kế và
sử dụng đồ dùng trực quan ít đợc đề cập trong tài liệu này
Tài liệu “Kênh hình trong dạy học lịch sử ở trờng THPT”(Nguyễn Thị Côi, tập 1, NXB ĐHQG HN 2000) đã đề cập tới vị trí,
ý nghĩa của đồ dùng trực quan và các sử dụng trong giảng dạy chotừng phần lịch sử Việt Nam Mặc dù vậy, tác giả mới chỉ đa ramột số loại đồ dùng trực quan điển hình để phân tích và hớng
Trang 5dẫn giảng dạy Hơn nữa, tác giả cũng chỉ dừng lại ở cách sử dụngchứ cha nêu lên phơng pháp thiết kế đồ dùng trực quan
Tài liệu “đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử ở trờngphổ thông cấp 2” (Phan Ngọc Liên - Phạm Kỳ Tá, NXB GD 1975) đãtrình bày khá đầy đủ về vị trí, ý nghĩa, cách phân loại, nguyêntắc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử đồng thờicũng hớng dẫn giáo viên phơng pháp sử dụng đồ dùng trực quantrong dạy học phần lịch sử Việt Nam nhng cha đề cập tới phơngpháp thiết kế đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử Tài liệunày chỉ áp dụng cho giáo viên THCS cho nên cha đề cập tới phơngpháp thiết kế và sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sửViệt Nam ở trờng THPT mà cụ thể là chơng “Cuộc kháng chiếntoàn quốc chống thực dân Pháp xâm lợc và can thiệp Mỹ 1946 -1954”
2.2 Thứ hai, bao gồm sách hớng dẫn giảng dạy, sách giáo viên và một số tài liệu viết về lịch sử Việt Nam giai đoạn
1946 - 1954:
“Sách giáo viên lịch sử 12” - tập 2 (Trần Bá Đệ, NXB GD2001), sách “thiết kế bài giảng lịch sử ở trờng THPT” (Phan NgọcLiên, NXB ĐHQG 1999) Các tài liệu này giúp cho giáo viên nắm đ-
ợc mục đích, yêu cầu, nội dung phơng pháp giảng dạy của từngbài nhng chỉ dới dạng khái quát nhất chứ cha nêu ra những phơngpháp, biện pháp cụ thể, thiết thực để nâng cao chất lợng bài học
Tài liệu “Kháng chiến chống Pháp 1946 - 1954” (NXB CTQG1998); “Tổng kết cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dânPháp thắng lợi và bài học” (NXB CTQG), “Điện Biên Phủ” (Võ
Trang 6Nguyễn Giáp - NXB QĐND 1976), giáo trình lịch sử Việt Nam tập 3(NXB GD 2000) Các tài liệu này đã viết rất kỹ và đa ra rất nhiềuloại đồ dùng trực quan trong giai đoạn lịch sử Việt Nam 1946 -
1954 Nhng các tài liệu này, chỉ áp dụng cho bậc đại học, còn ởbậc PTTH thì không phổ biến Do đó, với số lợng ít ỏi về các loại
đồ dùng trực quan trong sách giáo khoa PTTH (cụ thể là sách giáokhoa lịch sử 12, tập 2) thì các tài liệu trên có tác dụng bổ sung
và làm phong phú thêm các loại đồ dùng trực quan trong dạy họcchơng “Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm l-
ợc và can thiệp Mỹ 1946 - 1954”
Tóm lại, cho đến nay cha có công trình nào nghiên cứu cụthể, chi tiết về vấn đề thiết kế và sử dụng đồ dùng trực quantrong dạy học chơng “Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thựcdân Pháp xâm lợc và can thiệp Mỹ 1946 - 1954”
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
3.1 Mục đích nghiên cứu: Thực hiện đề tài này, chúng tôi hớng tới các mục đích cơ bản sau:
- Đề cập đến cơ sở để thiết kế và sử dụng đồ dùng trựcquan trong dạy học lịch sử
- ý nghĩa của việc thiết kế và sử dụng đồ dùng trực quantrong dạy học lịch sử
- Đề ra những phơng pháp tối u về thiết kế và sử dụng đồdùng trực quan trong dạy học chơng “Cuộc kháng chiến toàn quốcchống thực dân Pháp xâm lợc và can thiệp Mỹ 1946 - 1954”
- Phát huy tính sáng tạo, tích cực, chủ động, óc quan sát,khiếu thẩm mỹ cho học sinh
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Trang 7Để hoàn thành đề tài này, chúng tôi xác định những nhiệm
vụ sau đây:
- Thu thập và tham khảo những tài liệu có liên quan đến
đề tài nh các công trình nghiên cứu tâm lý học, lý luận dạy học
để tìm cơ sở lý luận cho việc thiết kế và sử dụng đồ dùng trựcquan trong dạy học lịch sử
- Nghiên cứu sách giáo trình lịch sử, tạp chí giáo dục, báogiáo dục thời đại … từ đó rút ra những cơ sở khoa học, bảo đảmtính chính xác về nội dung và phơng pháp giảng dạy chơng
“Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lợc vàcan thiệp Mỹ 1946 - 1954”
4 Giả thiết khoa học:
Khi thiết kế và sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học
ch-ơng “Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lợc
và can thiệp Mỹ 1946 - 1954” sẽ có tác dụng phát triển t duy sángtạo, năng lực nhận thức, khả năng quan sát, khiếu thẩm mỹ chohọc sinh, hiệu quả bài học đợc nâng cao
5 Phơng pháp nghiên cứu:
Để thực hiện thành công đề tài này, chúng tôi sử dụng cácphơng pháp nghiên cứu cơ bản sau:
5.1 Nghiên cứu lý thuyết:
- Các tài liệu Đảng - Nhà nớc về giáo dục đào tạo và lịch sử
- Các tác phẩm, bài viết, bài phát biểu thể hiện t tởng HồChí Minh về lịch sử và giáo dục
- Các tài liệu về tâm lý học, giáo dục học
- Các công trình lý luận dạy học chung và lý luận dạy học bộmôn
Trang 8- Sách giáo khoa lịch sử, giáo trình lịch sử Việt Nam, các tàiliệu hớng dẫn giảng dạy và các tài liệu viết về lịch sử Việt Namgiai đoạn 1946 - 1954
5.2 Nghiên cứu thực tiễn:
Để kiểm chứng tính thực tiễn của đề tài, chúng tôi dùng
ph-ơng pháp nghiên cứu khoa học sau:
- Điều tra thực tế dạy học lịch sử ở trờng PTTH bằng nhiềuhình thức: dự giờ, quan sát, tổng kết kinh nghiệm s phạm, trao
đổi với giáo viên phổ thông và phụ huynh học sinh
- Tiến hành thực nghiệm qua một vài tiết học của chơng đểkhẳng định tính đúng đắn và tính khả thi của phơng phápgóp phần vào sự nghiệp đổi mới phơng pháp dạy học
6 Cấu trúc của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo,nội dung chính của khoá luận bao gồm 3 chơng:
- chơng 1: Vấn đề thiết kế và sử dụng đồ dùng trực quantrong dạy học lịch sử
1.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thiết kế và sử dụng
đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử
1.1.1 Cơ sở lý luận
1.1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2 Vị trí, ý nghĩa của việc thiết kế và sử dụng đồ dùngtrực quan trong dạy học lịch sử
1.2.1 Vị trí, ý nghĩa của đồ dùng trực quan
1.2.2 Việc dạy học lịch sử dân tộc với việc sử dụng đồ dùngtrực quan hiện nay
1.2.3 Các loại đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử ở ờng PTTH
Trang 9tr Chơng 2: Thiết kế và sử dụng đồ dùng trực quan trong dạyhọc chơng “Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Phápxâm lợc và can thiệp Mỹ 1946 - 1954”
2.1 Vị trí, nhiệm vụ, nội dung cơ bản của chơng “Cuộckháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lợc và can thiệp
Mỹ 1946 - 1954”
2.2 Thiết kế và sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học
ch-ơng “Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lợc
Trang 10B- Nội dungChơng 1: Vấn đề thiết kế và sử dụng đồ dùng trực quan
Quá trình dạy học với t cách là một hệ thống bao gồm toàn
bộ những hoạt động của giáo viên và học sinh, trong đó giáo viên
là ngời tổ chức, hớng dẫn, nhằm làm cho học sinh tự giác nắmvững hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, trên cơ sở đó mà pháttriển các năng lực nhận thức, năng lực hành động Hay nói cáchkhác, thực chất của quá trình dạy học ở trờng phổ thông là quátrình nhận thức của học sinh dới sự tổ chức, điều khiển của giáoviên Quá trình đó một mặt nằm trong quy luật nhận thức chung,nhng mặt khác nó lại mang những nét đặc thù riêng biệt củatừng bộ môn
Nhận thức chung của con ngời đợc Lê Nin khái quát nh sau:
“Từ trực quan sinh động đến t duy trừu tợng, từ t duy trừu tợng
đến thực tiễn là con đờng biện chứng của sự nhận thức chân lý,của sự nhận thức thế giới khách quan” {10,189} Có nghĩa là,nhận thức của con ngời đi từ nhận thức cảm tính đến nhận thức
lý tính mà cụ thể là từ cảm giác, tri giác, biểu tợng con ngời mớihình thành nên các khái niệm, đúc rút các quy luật
Quá trình nhận thức của học sinh cũng tuân theo quy luậtnày, nhng có những điểm khác biệt do sự thay đổi về mặt tâmsinh lý ở lứa tuổi học sinh phổ thông trung học đánh dấu “sựbắt đầu trởng thành của con ngời nh một cá thể (sự trởng thành
về chất), một nhân cách (sự trởng thành công dân), một chủ thể
Trang 11nhận thức (sự trởng thành trí tuệ) và một chủ thể lao động (nănglực lao động) là trùng hợp nhau về thời gian” {2,169} Sự trởngthành này ở học sinh phổ thông trung học dẫn đến nội dung vàtính chất của hoạt động nhận thức, học tập biến đổi cả về lợng
và chất Đặc điểm nhận thức của học sinh biến đổi là yếu tốquan trọng quy định nội dung và phơng pháp giảng dạy
Cùng với sự thay đổi về đặc điểm tâm lý, trong giai đoạnnày ở học sinh phổ thông trung học cũng là giai đoạn t duy pháttriển ở mức độ cao, nhận thức mang tính trí tuệ hoá Tính chủ
định của t duy bộc lộ rất rõ Quan sát, ghi nhớ, tri giác có chủ
định đợc tăng cờng Việc lĩnh hội tri thức ở giai đoạn này khôngcòn mang tính thụ động nữa, mà nó thể hiện rõ tính chất chủ
động
Trong khi đó, nội dung kiến thức mà học sinh tiếp nhận làcái mới chủ quan tức là những thành tựu, những kiến thức vànhững kinh nghiệm mà nhân loại đã khám phá Hay nói cách khácquá trình nhận thức của học sinh thực ra là quá trình “khám phálại”, “phát hiện lại” những kiến thức đã có dới sự điều khiển, hớngdẫn, tổ chức của giáo viên
Với đặc điểm tâm lý, sự trởng thành về nhân cách và
đặc trng quy luật nhận thức của học sinh phổ thông trung học
nh vậy việc dạy học ở trờng phổ thông đòi hỏi giáo viên phải tạo
điều kiện để các em lĩnh hội kiến thức một cách chủ động,sáng tạo, và bền vững nhất
Trong dạy học lịch sử ở trờng phổ thông trung học thì vấn
đề thiết kế và sử dụng đồ dùng trực quan đợc coi là một trongnhững biện pháp phù hợp có tác dụng phát huy tính tích cực, chủ
động và sáng tạo của học sinh trong học tập lịch sử
Trang 121.1.1.2 Đặc điểm nhận thức của học sinh trong học tập lịch sử:
Con ngời xuất hiện cùng với các hoạt động của mình, họ đãtạo nên lịch sử Lịch sử là những gì diễn ra trong quá khứ và nótồn tại một cách khách quan ngoài ý muốn của con ngời Nhng lịch
sử là một quá trình thống nhất, đi lên hợp quy luật Nói đến lịch
sử xã hội loài ngời là nói đến lịch sử của tất cả các quốc gia, dântộc Môn lịch sử ở trờng phổ thông trung học nhằm cung cấp chohọc sinh khối lợng kiến thức cơ bản về lịch sử dân tộc và lịch sửthế giới Từ việc cung cấp các kiến thức đó mà hình thành thếgiới quan và nhân sinh quan khoa học cho các em khi bớc vào cuộcsống
Bản chất của lịch sử là những gì diễn ra trong quá khứ, haynói cách khác lịch sử là quá khứ nên nó đợc tiềm ẩn và lu giữtrong nhiều nguồn tài liệu khác nhau Do vậy, khôi phục sự thậtlịch sử, phát hiện sự thật lịch sử, lặp lại sự thật lịch sử một cáchchính xác giúp cho con ngời hiểu đợc quá khứ chân thực của lịch
sử dân tộc và lịch sử nhân loại là một vấn đề khó khăn đòi hỏingời nghiên cứu phải su tầm tài liệu, xác định sự chính xác của
nó rồi đi sâu phân tích các sự kiện, giải thích đợc nó, nghĩa làphải vạch đợc nguồn gốc, mối liên hệ giữa các sự kiện ấy với các sựkiện khác Đó là công việc của các nhà khoa học Vậy thì, đối vớiquá trình nhận thức của học sinh trong học tập lịch sử thì nhthế nào ? Chúng ta có thể nói rằng việc nhận thức lịch sử của họcsinh cũng vấp phải những khó khăn trở ngại không kém gì so vớicác nhà khoa học Tri thức lịch sử đợc đa vào giảng dạy ở nhà tr-ờng phổ thông không phải là những tri thức đang đợc tranh cãi,luận bàn mà là những đơn vị tri thức ổn định, đã đợc các nhàkhoa học và công chúng thừa nhận Song, việc nhận thức lịch sử
Trang 13của học sinh cũng đòi hỏi ngày càng cao mức độ chính xác,chân thực về quá trình lịch sử Khoa học càng phát triển thìcàng rút ngắn dần khoảng cách giữa nhận thức lịch sử với quátrình lịch sử hiện thực đã diễn ra Khác với các bộ môn khoa họckhác, trong học tập lịch sử học sinh không thể trực tiếp quan sát(“trực quan sinh động”) đối tợng nghiên cứu nh trong khoa học tựnhiên Trong học tập lịch sử không thể tiến hành các thí nghiệm
để dựng lại hiện thực lịch sử quá khứ khách quan Nhận thức lịch
sử bao giờ cũng phức tạp vì con ngời là bộ phận không thể táchrời đợc của đối tợng nghiên cứu Chơng trình lịch sử cấu tạo các
sự kiện từ quá khứ đến hiện tại, mà nhận thức phù hợp với trình
độ học sinh lại từ gần đến xa, học sinh dễ rơi vào “hiện đại hóa”lịch sử Do vậy, quá trình nhận thức lịch sử của học sinh xuấtphát từ sự kiện là nguyên tắc “vàng” trong dạy học lịch sử Quátrình nhận thức đó không qua giai đoạn cảm giác mà bắt đầu
từ việc tri giác sử liệu (nghe kể, bài giảng, quan sát tranh ảnh, đồdụng trực quan …) “quá khứ phải đợc khôi phục trớc mắt học sinhdới những hoạt động sinh động và rõ ràng” Các sự kiện khôngcòn là các sự kiện khô khan và trống rỗng, mà giáo viên và họcsinh phải thổi linh hồn vào nó để làm cho các sự kiện ấy có thể
“nhảy múa” đợc trớc mắt học sinh Trên cơ sở học sinh tri giác tàiliệu lịch sử, sự kiện lịch sử sẽ đợc tái hiện Mức độ sống động,chính xác của các sự kiện phù thuộc vào sự chân thực, phong phúcủa tài liệu Song, việc học tập lịch sử không chỉ dừng lại ở việcghi nhớ, biết lịch sử và tái hiện lịch sử mà phải hiểu lịch sử, phảihình thành các khái niệm, rút ra các quy luật vận động cũng nhbài học lịch sử Theo Bêlinxki “lịch sử chỉ quý giá vì t tởng đợc
ẩn náu trong các sự kiện Các sự kiện không có t tởng là rác rởi
đối với đầu óc t duy” {3,102} Vì vậy, trong dạy học lịch sử phải
Trang 14tái hiện quá khứ thông qua nhiều nguồn tài liệu và bằng nhiều
ph-ơng pháp khác nhau Mặt khác, phải phát huy tính tích cực, chủ
động, độc lập của học sinh, trong đó quan trọng nhất là pháttriển t duy học sinh Trong dạy học lịch sử để phát triển t duy họcsinh, giáo viên phải sử dụng đa dạng, phong phú các phơng phápdạy học đặc biệt là sự kết hợp nhuần nhuyễn phơng pháp sửdụng lời nói với đồ dùng trực quan, từ đó nâng cao chất lợng dạyhọc lịch sử
1.1.1.3 Cơ sở lý luận dạy học (vấn đề đổi mới phơng pháp dạy học là một yêu cầu cấp thiết)
Nhân loại ngày nay đang đứng trớc sự phát triển nh vũ bãocủa khoa học kỹ thuật đang ở vào giai đoạn văn minh thứ ba - vănminh hậu công nghiệp, đang hối hả trong nền kinh tế tri thức Lànsóng công nghệ cùng những thành tựu của nó đã tạo ra một xã hộithông tin và năng động Trên bớc đờng tiến đến một xã hội tơnglai rực rỡ, nhu cầu và hứng thú hiểu biết quá khứ không hề bịthuyên giảm mà ngày càng tăng lên Trớc sự chuyển động, biến
đổi nhanh chóng của thực tế cuộc sống, giáo dục với t cách là
động lực và là mục tiêu của sự phát triển đòi hỏi cần phải thay
đổi mạnh mẽ và sự thay đổi đó phải diễn ra một cách đồng bộ:mục tiêu, nội dung, phơng pháp giáo dục trong đó đổi mới về ph-
ơng pháp là một vấn đề phải đợc coi trọng
Việc nâng cao, đổi mới nội dung và phơng pháp dạy họcgóp phần tích cực vào sự nghiệp giáo dục đào tạo ra những conngời tiếp bớc cha anh, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, hoà nhập vàokhu vực và thế giới Đổi mới phơng pháp dạy học nhằm phát huytính tích cực ở ngời học để nhận thức quá khứ, hoạt động tronghiện tại là một yêu cầu quan trọng
Trang 15Từ xa xa, Khổng Tử đã không ít lần nhắc đến tầm quantrọng của sự học, và coi đây là chìa khoá vào đời, là điều kiện
để biến kẻ ngu đần thành kẻ sáng, kẻ yếu thành kẻ mạnh Sinhthời, Lê Nin và Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rất quan tâm đếncông tác giáo dục mà cụ thể là việc dạy và học
Gần 60 năm sống trong chế độ mới, nền giáo dục của nớc ta
đã thu đợc những thành tựu quan trọng góp phần đa đất nớcvững bớc trên con đờng phát triển Tuy nhiên, so với yêu cầu thìnền giáo dục còn tồn tại nhiều bất cập Một trong những nhợc
điểm đó là sự lạc hậu về phơng pháp dạy học Vì vậy, việc đổimới phơng pháp dạy học ở nớc ta hiện nay là một yêu cầu cấp bách,
nó đòi hỏi sự nỗ lực của toàn thể ngành giáo dục mà chủ thể chủyếu đợc xác định là thầy và trò
Vậy đổi mới phơng pháp dạy học là gì ? Là dạy cho học sinhphơng pháp phát hiện vấn đề, tìm cách giải quyết vấn đề, xâydựng bài mới và vận dụng nó tuỳ theo năng lực của từng học sinh.Trong đó, giáo viên phải là ngời tổ chức, dẫn dắt các em trong cảtiết học, để các em chủ động, tích cực khám phá sáng tạo
Để góp phần vào sự nghiệp Giáo dục và đào tạo môn lịch sử
ở trờng phổ thông cũng không nằm ngoài yêu cầu về đổi mới
ph-ơng pháp Nh chúng ta thấy, lịch sử là một bộ môn rất hấp dẫn,song cũng rất khó Vì vậy, để tổ chức một giờ học lịch sử cóhiệu quả cao nhất bằng cách phát huy tính tích cực, chủ động,sáng tạo của học sinh thì đòi hỏi ngời giáo viên dạy sử ngoài kiếnthức sâu rộng và nhiệt tình s phạm ra thì cần phải biết huy
động, chọn lựa về mặt phơng pháp truyền thụ Thiết kế và sửdụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử là một trong rấtnhiều biện pháp để nâng cao hiệu quả bài học, góp phần vàoviệc thực hiện quan điểm đổi mới vào bộ môn
Trang 161.1.2 Cơ sở thực tiễn:
Bộ môn lịch sử ở trờng phổ thông có nhiệm vụ cung cấp chohọc sinh những kiến thức cơ sở của khoa học lịch sử chứ khôngphải toàn bộ lịch sử Khi học tập lịch sử, học sinh không thể trựctiếp quan sát các sự kiện, hiện tợng và giáo viên cũng khó khăntrong việc thí nghiệm để dựng lại hiện thực quá khứ khách quan.Chơng trình lịch sử cũng nh tiến trình lịch sử thì đi từ xa đếngần, ngợc lại nhận thức lịch sử của học sinh lại từ cái hiện đại trở
về quá khứ (từ gần tới xa) Đây là khó khăn lớn nhất trong nhậnthức lịch sử
Thực tiễn dạy học lịch sử ở trờng phổ thông hiện nay chothấy chất lợng dạy học bộ môn có nhiều bớc tiến đáng ghi nhận.Vấn đề đổi mới phơng pháp dạy học lịch sử đang đợc triển khai
và thực hiện sâu rộng Trong quá trình lên lớp, giáo viên khôngchỉ vận dụng nhuần nhuyễn các phơng pháp dạy học vào từng bàilịch sử cụ thể mà còn đa dạng hoá các nguồn cung cấp kiến thứccho học sinh và đặc biệt chú ý đến vai trò tích cực chủ độngcủa học sinh trong học tập Song những giờ dạy nh vậy cha thậtphổ biến, năng lực dạy học và kết quả đào tạo của bộ môn chacao
Bên cạnh những đổi mới trong dạy học, đóng góp vào việcnâng cao chất lợng dạy học lịch sử trên thì tình trạng dạy họctheo kiểu thuyết giảng, thầy nói trò nghe, “dạy chay, học chay”vẫn còn phổ biến
Với tình trạng dạy và học nh vậy, nên chất lợng dạy học lịch
sử đứng trớc nguy cơ báo động về sự giảm sút hiệu quả Thấy
đ-ợc điều này, nhiều ngời, nhiều ngành đã có những cuộc kiểmnghiệm trong thực tiễn về chất lợng dạy học lịch sử Qua các cuộc
điều tra thực tế dạy học lịch sử ở trờng phổ thông, chúng ta thấy
Trang 17đợc sự hiểu biết lịch sử của giới trẻ còn quá ít Chỉ có một bộphận học ban khoa học xã hội còn nắm bắt và trả lời đợc các vấn
đề lịch sử còn đại bộ phận học khoa học tự nhiên, thì tìnhtrạng “mù sử” đợc coi là chuyện bình thờng Họ không biết HùngVơng là ai, không biết đợc cuộc chiến tranh thế giới thứ hai nổ ranăm nào, và ai là ngời chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ …
Thực tiễn dạy và học lịch sử nh vậy đặt ra cho chúng tayêu cầu cấp thiết là cần phải đổi mới phơng pháp dạy học lịch sử
để nâng cao chất lợng dạy học bộ môn này Một trong nhữngbiện pháp nhằm thực hiện chủ trơng đó là vấn đề thiết kế và sửdụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử ở trờng phổ thông,giúp học sinh vừa ghi nhớ và nắm vững tri thức lịch sử
1.2 Vị trí, ý nghĩa của việc thiết kế và sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử.
1.2.1 Vị trí, ý nghĩa của đồ dùng trực quan:
1.2.1.1 Vị trí của đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử:
Cũng nh các môn khoa học khác, trong dạy học lịch sử ở ờng phổ thông thì đồ dùng trực quan có vị trí rất quan trọngkhông thể thiếu đợc bởi những lý do sau:
tr-Xuất phát từ nguyên tắc đảm bảo tính trực quan trong tấtcả các khâu của quá trình dạy học Nguyên tắc trực quan là mộttrong những nguyên tắc cơ bản của lý luận dạy học nhằm tạo chohọc sinh những biểu tợng và hình thành các khái niệm trên cơ sởquan sát trực tiếp hiện vật đang học hay đồ dùng trực quan minhhoạ sự vật Nguyên tắc trực quan trong dạy học lịch sử đòi hỏiviệc dạy và học của giáo viên và học sinh phải xuất phát từ những
sự kiện, hiện tợng lịch sử cụ thể để tạo hình ảnh về quá khứ.Giáo viên muốn tạo đợc hình ảnh về quá khứ thì phải có đồ dùngtrực quan
Trang 18Mặt khác, việc học tập lịch sử của học sinh cũng tuân theoquy luật nhận thức chung của con ngời mà Lê Nin đã đúc kết là:
“Từ trực quan sinh động đến t duy trừu tợng, từ t duy trừu tợng
đến thực tiễn là con đờng biện chứng của sự nhận thức chân lý,của sự nhận thức hiện thực khách quan” {10,189} Nh vậy cónghĩa là con đờng nhận thức của học sinh cũng trải qua giai
đoạn nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính, vận dụng tri thứcvào thực tế đời sống Tuy nhiên, do nhận thức lịch sử là nhậnthức cái đã qua và không lặp lại nên giai đoạn nhận thức cảm tínhkhông thể bắt đầu từ cảm giác và tri giác đợc Trong quá trìnhnhận thức lịch sử của học sinh thì biểu tợng lịch sử là hình thức
đầu tiên và duy nhất trong giai đoạn nhận thức cảm tính Do vậy,
để tạo biểu tợng lịch sử cho học sinh thì đồ dùng trực quan
đóng vai trò quan trọng Đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sửmang những mẩu thông tin về quá khứ, nên dựa vào nó, giáo viên
có thể tái tạo lại đợc bức tranh quá khứ, từ đó hình thành nênbiểu tợng lịch sử cho học sinh
Mặt khác, trong dạy học lịch sử, đồ dùng trực quan giúp họcsinh đi sâu phân tích và hiểu đợc bản chất của lịch sử Việc đisâu vào bản chất của sự kiện, quá trình lịch sử, học sinh sẽphân biệt đợc những sự kiện cùng loại, sự kiện khác loại, phânbiệt đợc cái chung và cái riêng, cái phổ biến và cái đặc thù trongquá trình phát triển phức tạp của lịch sử xã hội loài ngời
1.2.1.2 ý nghĩa của đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử:
Trong dạy học lịch sử, đồ dùng trực quan có ý nghĩa hết sứcquan trọng
Trớc hết về mặt giáo dỡng:
Trang 19Đồ dùng trực quan có tác dụng tạo hình ảnh, tạo biểu tợng, làm
cụ thể hoá một sự kiện, hiện tợng lịch sử để học sinh dễ hình dung
sự kiện ấy Đồng thời đồ dùng trực quan có khả năng khắc phục tìnhtrạng “hiện đại hoá” lịch sử ở học sinh Việc tạo biểu tợng, tạo hình
ảnh cho học sinh là rất cần thiết trong quá trình hình thành và pháttriển t duy học sinh, trong quá trình tìm kiếm, phát hiện, và chiếmlĩnh tri thức cũng nh dễ hình dung về sự kiện hiện tợng lịch sử ấy
Đồ dùng trực quan là chỗ dựa để học sinh có thể hiểu sâusắc bản chất sự kiện lịch sử và trên cơ sở đó hình thành kháiniệm cho học sinh Nh A.A.Xmiếcnốp nói: “Nắm vững kiến thứckhoa học có nghĩa là trớc hết phải nắm hệ thống các khái niệm”{19,37} Do đó, đồ dùng trực quan là một phơng tiện rất có hiệulực trong việc hình thành các khái niệm lịch sử quan trọng, giúphọc sinh nắm vững bản chất của các sự kiện, quá trình lịch sử,hiểu đợc mối quan hệ nhân quả và quy luật phát triển của xã hội
Đồ dùng trực quan còn giúp học sinh nhớ kỹ, hiểu sâu bởi đồdùng trực quan gắn với những hình ảnh cụ thể Hình ảnh chỉ đợcgiữ lại đặc biệt vững chắc trong trí nhớ của học sinh khi hình ảnh
ấy học sinh thu nhận qua đồ dùng trực quan
Về mặt giáo dục:
ý nghĩa giáo dục t tởng, cảm xúc thẩm mỹ cho học sinh qua
đồ dùng trực quan cũng rất lớn Ví dụ, khi quan sát bức tranh diễntả các chiến sỹ của ta kéo pháo vào trận địa Điện Biên Phủ các
em không chỉ thấy đợc những khó khăn vất vả thậm chí là nguyhiểm của các chiến sỹ Việt Nam, mà qua đó học sinh bộc lộnhững tình cảm yêu mến, khâm phục, tôn trọng cũng nh lòng tựhào, biết ơn sâu sắc đối với các thế hệ đi trớc - những ngời đãlàm nên chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu Hơnnữa, khi quan sát bức tranh thấy đợc sự hy sinh lớn lao của các
Trang 20chiến sỹ bất chấp ma bom, bão đạn của kẻ thù dội xuống, các em tỏthái độ căm thù đối với bè lũ thực dân xâm lợc và khơi dậy trongcác em tinh thần yêu nớc, độc lập dân tộc và bảo vệ tổ quốc
Đồ dùng trực quan giáo dục cho học sinh quan điểm, cảm xúc
và hình thành những phẩm chất đạo đức cần thiết cho con ngờiViệt Nam Đồng thời, cũng qua lịch sử, qua đồ dùng trực quanhình ảnh quá khứ sẽ sống dậy và sẽ có tác dụng uốn nắn, điềuchỉnh các quan điểm, t tởng của các em, tác động lên tinh thần,tình cảm của các em đối với quá khứ một cách tích cực
Đồ dùng trực quan có ý nghĩa hết sức to lớn trong việc pháttriển toàn diện học sinh Cùng với việc góp phần tạo biểu tợng lịch
sử và hình thành khái niệm lịch sử, đồ dùng trực quan còn pháttriển khả năng quan sát, trí tởng tợng, t duy và ngôn ngữ của họcsinh Nhìn vào bất cứ đồ dùng trực quan nào, học sinh cũng thíchnhận xét, đánh giá, phán đoán và hình dung quá khứ lịch sử đợcphản ánh minh hoạ nh thế nào trong đó Học sinh suy nghĩ vàtìm cách diễn đạt bằng lời nói chính xác, có hình ảnh rõ ràng,
cụ thể về bức tranh xã hội đã qua
Với tất cả ý nghĩa giáo dỡng, giáo dục và phát triển nêu trên đồdùng trực quan góp phần to lớn nâng cao chất lợng dạy học lịch sử gâyhứng thú học tập cho học sinh Đồ dùng trực quan chính là “chiếc cầunối” giữa quá khứ với hiện tại
1.2.2 Việc dạy học lịch sử dân tộc với việc sử dụng đồ dùng trực quan hiện nay:
Từ xa xa, trong nền văn hiến của nớc ta, lịch sử dân tộc luôn
có một vị trí vững chắc trong thiết chế nhà nớc cũng nh trong
đời sống tinh thần của ngời dân Việt Nam Những tri thức lịch sử
ăn sâu vào tâm thức của nhân dân, những kinh nghiệm lịch sử
đợc tích luỹ đã tạo nên bản lĩnh dựng nớc và giữ nớc của dân tộc
Trang 21Những tấm gơng lịch sử đã trở thành nguồn khích lệ và niềm tựhào của các thế hệ con dân nớc Việt.
Thời mất nớc, cụ Phan Bội Châu viết “Việt Nam vong quốc sử”
để cổ vũ biết bao con ngời thấm thía nỗi nhục mất nớc mà lên ờng cứu nớc Bác Hồ đã viết diễn ca: “Lịch sử nớc ta” để khích lệtoàn dân làm nên cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 vẻ vang bấtdiệt Trong cả hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đếquốc Mỹ, tinh thần “mang bốn nghìn năm vào trận đánh hôm nay”
đ-đã góp phần tạo nên những bớc đi hiển hách của dân tộc trong thế
kỷ XX
Chúng ta nhớ đến câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “ngày
xa, các vua Hùng đã có công dựng nớc, ngày nay Bác cháu ta phảicùng nhau giữ lấy nớc” để ý thức đợc dòng chảy của lịch sử, sựtrao truyền giữa các thế hệ đối với sự nghiệp của dân tộc Chínhvì thế, trong thời đại bùng nổ thông tin, khoa học kỹ thuật pháttriển nh vũ bão nhng bộ môn lịch sử vẫn không hề bị mất đi vịtrí của nó, thậm chí ngày càng đợc coi trọng
Nhiệm vụ của giáo viên là phải làm cho những tri thức lịch
sử ăn sâu vào trí não của con ngời Việt Nam, làm cho những kinhnghiệm lịch sử của quá khứ góp phần làm sống động nguồn lựccủa cuộc sống hôm nay; làm cho những tấm gơng của ngời xaluôn hiển hiện trong bản lĩnh con ngời Việt Nam thế kỷ XXI; làmcho niềm tự hào và tình yêu lịch sử dân tộc trở thành nhữngtình cảm cách mạng của mọi ngời
Nhiệm vụ của ngời giáo viên lịch sử quan trọng là vậy, nhngtrên thực tế việc dạy học lịch sử dân tộc ở các trờng phổ thôngbên cạnh những kết quả đạt đợc thì còn tồn tại những bất cập.Tình trạng xuống cấp của chất lợng dạy học lịch sử bắt nguồn chủyếu từ phơng pháp dạy học của giáo viên còn hạn chế, yếu kém
Trang 22Điều này cố Thủ tớng Phạm Văn Đồng phê phán: “Phải dạy sử nh thếnào ? nhất định chúng ta phải dạy sử chứ không thể ba hoa vềchính trị ở đây, ta không cần nói về chính trị nữa, cả lịch sửnớc ta là một sự cổ vũ vô cùng sâu xa Dạy lịch sử cho tốt sẽ tạocho thanh niên ta say mê và tự hào về dân tộc một cách đúng
đắn, không hề tự kiêu, không hề nảy sinh chủ nghĩa dân tộchẹp hòi (…) chúng ta thấy đợc gì qua các thời đại lịch sử và từ
đó chúng ta rút ra đợc kết luận gì, bài học gì ? Mác, một nhàsáng lập ra chủ nghĩa Mác - Lê Nin đã vũ trang cho chúng ta mộtphơng pháp đúng đắn về nghiên cứu lịch sử, từ đó rút ra đợckết luận có ý nghĩa thiết thực (…) Lịch sử đâu phải là mộtchuỗi sự kiện để ngời viết sử ghi lại, rồi ngời giảng sử đọc lại, ng-
ời học sử lại học thuộc lòng …” {19,7}
Điều đó nói lên rằng, trong nhà trờng phổ thông phơng phápdạy học lịch sử theo lối truyền thống vẫn còn chiếm u thế Đặcbiệt là tình trạng “dạy chay”, “học chay” trở nên phổ biến Trongkhâu chuẩn bị bài học lịch sử của giáo viên hiện nay, việc nghiêncứu tài liệu tham khảo và chuẩn bị đồ dùng trực quan càng thiếu
sự đầu t đúng mức Việc sử dụng đồ dùng trực quan cha phổbiến lắm nên một số giáo viên còn tỏ ra lúng túng không biếtthiết kế và sử dụng đồ dùng trực quan trong giảng dạy Cũng cómột số giáo viên có quan niệm không đúng về vai trò của đồ dùngtrực quan trong dạy học lịch sử nên cha có sự quan tâm đúngmức đến việc thiết kế và sử dụng đồ dùng trực quan, thậm chíkhi có sẵn đồ dùng trực quan nhng giáo viên vẫn không biết cách
sử dụng hoặc không muốn sử dụng vào giảng dạy Tất nhiên, vẫn
có những giáo viên đã biết khai thác triệt để tác dụng của đồdùng trực quan và đã có những tìm tòi, đầu t cho việc thiết kế
đồ dùng trực quan để sử dụng trong giảng dạy Nhng số lợng giáo
Trang 23viên làm đợc nh vậy cũng cha nhiều nên chất lợng dạy học lịch sửvẫn cha đợc nâng lên đáng kể
ở đây chúng ta muốn đề cập đến việc thiết kế và sửdụng đồ dùng trực quan trong dạy học chơng “Cuộc kháng chiếntoàn quốc chống thực dân Pháp xâm lợc và can thiệp Mỹ 1946 -1954”
Giảng dạy chơng “Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thựcdân Pháp xâm lợc và can thiệp Mỹ 1946 - 1954” có thể sử dụngrất nhiều loại đồ dùng trực quan nh: bản đồ, tranh ảnh, sơ đồ,
đồ biểu, niên biểu … Thế nhng, trên thực tế vẫn có những giáoviên cha khai thác hết để vận dụng vào bài giảng của mình.Chẳng hạn, tờng thuật diễn biến các chiến dịch trong khángchiến chống Pháp mà giáo viên chỉ dùng lời nói suông ch không sửdụng bản đồ để tờng thuật Điều này làm cho học sinh khó hìnhdung và việc ghi nhớ khắc sâu sự kiện cũng gặp khó khăn; trìnhbày các giai đoạn phát triển của cuộc kháng chiến giáo viên chỉnêu mốc thời gian từ năm mở đầu đến năm kết thúc chứ khônglập thành niên biểu hay biểu thị bằng đồ thị để học sinh nắmcác sự kiện chính trong mỗi giai đoạn và tiến trình đi lên củacuộc kháng chiến; giới thiệu về nhân vật lịch sử, giáo viên khôngdùng tranh ảnh và những nét điển hình để khắc hoạ cho họcsinh thấy đợc nhân vật lịch sử đó nh thế nào (về hình thức) và
có vai trò gì trong sự kiện mà giáo viên đang đề cập …
Trong thực tế, tài liệu tham khảo về chơng “Cuộc khángchiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lợc và can thiệp Mỹ
1946 - 1954” rất nhiều, những tài liệu hớng dẫn phơng pháp sửdụng đồ dùng trực quan trong chơng này tuy còn ít nhng cũng đã
có, nếu biết khai thác và tìm tòi vận dụng thì giờ dạy sẽ sinh
động hơn, có hiệu quả cao hơn
Trang 24Ngời giáo viên lịch sử ngoài việc trau dồi kiến thức chuyênmôn thì cần phải khai thác và vận dụng linh hoạt, sáng tạo phơngpháp dạy học trong đó thiết kế và sử dụng đồ dùng trực quan làmột vấn đề cần đợc quan tâm Thiết kế và sử dụng đồ dùngtrực quan giảng dạy chơng “Cuộc kháng chiến toàn quốc chốngthực dân Pháp xâm lợc và can thiệp Mỹ 1946 - 1954” là một bộphận trong sự đổi mới phơng pháp dạy học lịch sử dân tộc nhằmnâng cao hiệu quả bài học.
1.2.3 Các loại đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử ở ờng phổ thông trung học.
tr-1.2.3.1 Cơ sở phân loại:
Nói đến phân loại về một vấn đề, một nội dung, một dụng
cụ hay một phơng pháp ngời ta thờng phải dựa vào những tiêuchí, những cơ sở, mục đích nhất định để phân loại Việcphân loại đồ dùng trực quan cũng không nằm ngoài quy luậtchung đó Khi phân loại đồ dùng trực quan mỗi ngời có một cáchphân loại riêng tuỳ theo quan điểm và cơ sở phân loại của họ Cóngời phân loại đồ dùng trực quan theo niên đại (thời gian), có ngờiphân loại theo đặc trng hình dạng bên ngoài hay dựa vào kỹthuật chế tạo, phơng thức tạo hình Một số khác phân loại theonội dung phản ánh Chung quy lại có các cách phân loại nh sau:
- Cách 1: Một số nhà nghiên cứu chia đồ dùng trực quan thành 3 loại: Hiện vật (các di vật của một nền văn hoá còn lu lại);
Đồ dùng trực quan tạo hình (tranh ảnh, phim nhựa, phim đènchiếu, vidiô, đồ phục chế …); Đồ dùng trực quan quy ớc (bản đồ,sơ đồ, đồ thị, niên biểu …)
- Cách 2: Chia đồ dùng trực quan thành 6 loại nh sau: Hiện
vật quá khứ; Đồ dùng tạo hình và minh hoạ có tính chất t liệu(ảnh, phim tài liệu); Đồ dùng trực quan tạo hình nghệ thuật (tranh
Trang 25lịch sử, phim truyện, chân dung); Biếm hoạ; Bản đồ; Sơ đồ, đồbiểu, đồ thị
- Cách 3: Chia đồ dùng trực quan thành 4 loại: Hiện vật; Loại
hình khối (mô hình, sa bàn); Đồ dùng trực quan quy ớc; Loại tranh
ảnh
1.2.3.2 Các loại đồ dùng trực quan:
Dù có những quan niệm khác nhau trong việc phân loại đồdùng trực quan nhng cách phân loại phổ biến nhất và đợc sử dụngtrong dạy học lịch sử ở trờng phổ thông thờng đợc chia làm 3nhóm: đồ dùng trực quan hiện vật, tạo hình, quy ớc
đối bởi vì có những di tích mang nhiều nội dung khác nhau nh ditích lịch sử - văn hoá, di tích lịch sử - cách mạng
* Di vật có hai loại: Di vật khảo cổ là những di vật thời tiền sửkhi cha có chữ viết bị vùi sâu trong lòng đất và đợc các nhà khảo
cổ học phát hiện (hài cốt, công cụ sản xuất, công cụ sinh hoạt) Divật lịch sử qua các thời đại khác nhau (công cụ đồ đá cũ núi Đọ,trống đồng Đông Sơn, cọc gỗ Bạch Đằng)
u điểm của đồ dùng trực quan hiện vật là một loại tài liệugốc rất có giá trị, có ý nghĩa to lớn về mặt nhận thức Nó lànhững bằng chứng về sự tồn tại của mỗi thời kỳ lịch sử Là vậtthực nên giúp cho học sinh có đợc những hình ảnh chân thực, cụthể về quá khứ từ đó có t duy lịch sử đúng đắn
Trang 26Đồ dùng trực quan hiện vật là tài liệu gốc nên rất hiếm, nóchủ yếu đợc gìn giữ trong các bảo tàng hoặc ở nơi di tích nênviệc sử dụng trong giảng dạy lịch sử ở trờng phổ thông gặpnhiều khó khăn và ít phổ biến Hơn nữa, đồ dùng trực quan th-ờng là những di vật không còn nguyên vẹn, nó bị huỷ hoại theothời gian, mặt khác nó đã tách khỏi hiện thực lịch sử của thời đạinảy sinh Nó chỉ là “dấu vết” của quá khứ chứ không phải toàn bộquá khứ Vì vậy, khi nghiên cứu hiện vật lịch sử học sinh phảiphát huy trí tởng tợng tái tạo, t duy lịch sử để hình dung đúng
đời sống hiện thực của quá khứ với tất cả sự vận động và biểuhiện muôn màu, muôn vẻ của nó mà ngày nay không còn tồn tạinữa
Ngoài ra, đồ dùng trực quan hiện vật là những vật câm, vôcảm nên khi sử dụng chúng cần phải có sự kết hợp với giải thích,phân tích, thuyết trình và phải cụ thể hoá dới nhiều dạng khácnhau để giúp học sinh dễ hiểu
Đồ dùng trực quan hiện vật chủ yếu đợc sử dụng trong bàihọc thực địa, đi tham quan, bài ngoại khoá Nó có tác dụng pháttriển t duy, kích thích sự hứng thú học tập, nhận thức lịch sử ởhọc sinh
Nhóm thứ hai:
- Đồ dùng trực quan tạo hình gồm có các loại phục chế môhình, sa bàn, tranh lịch sử … nó có khả năng khôi phục nhữnghình ảnh của con ngời, đồ vật, biến cố, sự kiện lịch sử một cách
cụ thể, sinh động và xác thực
* Mô hình, sa bàn và các loại đồ phục chế khác, có khả năngdiễn tả đầy đủ vẻ bề ngoài của một sự vật hay sự kiện lịch sử(công cụ lao động, vũ khí, một chiến dịch hay một trận đánh,một vị trí then chốt …)
Trang 27* Hình vẽ, phim ảnh, lịch sử có giá trị nh một t liệu lịch sử(hình vẽ “ngời săn hơu nai” (hình vẽ trên vách hang ngời nguyênthủy), phim tài liệu về chiến dịch Tây Nguyên ….).
* Tranh ảnh, phim truyện lấy chủ đề lịch sử (tranh chândung các nhân vật lịch sử, tranh về “lực lợng vũ trang Thủ đô anhdũng chiến đấu” trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến,phim truyện lịch sử nh “chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ 1954”
…)
Ưu điểm của đồ dùng trực quan tạo hình là khôi phục khá
đầy đủ những hình ảnh, những con ngời, những đồ vật, biến
cố lịch sử một cách sinh động, cụ thể và xác thực Do vậy, có tácdụng đem lại cho học sinh những hình ảnh cụ thể, ngời thật việcthật, học sinh dễ hình dung và hiểu sâu nhớ kỹ Mặt khác, nó đ-
ợc h cấu qua các phim truyện nên có tác dụng tạo cho học sinhnhững biểu tợng phong phú và sinh động góp phần phát triển tduy học sinh
Đồ dùng trực quan tạo hình đợc tái tạo phục chế nên độchính xác của nó cũng có phần hạn chế Hơn nữa, các phimchuyện chỉ là h cấu nên dễ làm cho học sinh hiểu lệch về nhữngnhân vật, sự kiện lịch sử, có thể hiện đại hoá lịch sử
Loại đồ dùng trực quan này chủ yếu sử dụng trong các bài ngoạikhoá, thực địa bảo tàng, tham quan hoặc cũng có thể sử dụngtrong các bài chính khoá
Nhóm thứ ba:
- Đồ dùng trực quan quy ớc gồm các loại: bản đồ lịch sử, đồthị, sơ đồ, niên biểu, đồ biểu Trong dạy học lịch sử ở trờng phổthông, giáo viên thờng sử dụng các loại đồ dùng trực quan quy ớcsau:
* Bản đồ giáo khoa lịch sử:
Trang 28ý nghĩa: Nhằm xác định địa điểm của sự kiện trong thờigian và không gian nhất định Đồng thời, bản đồ giáo khoa lịch
sử còn giúp học sinh suy nghĩ và giải thích các hiện tợng lịch sử
về mối quan hệ nhân quả, tính quy luật và trình tự phát triểncủa lịch sử giúp các em củng cố, ghi nhớ các kiến thức đã học
Phân loại bản đồ giáo khoa lịch sử: Việc phân loại bản đồgiáo khoa lịch sử có nhiều cách khác nhau tuỳ theo quan điểm vàcơ sở phân loại của từng ngời Bao gồm các cách phân loại sau:
+ Cách 1: Phân loại bản đồ giáo khoa lịch sử dựa vào tỉ lệ bản đồ gồm 3 loại: Bản đồ cỡ lớn, bản đồ vừa, bản đồ cỡ nhỏ.
+ Cách 2: dựa vào phạm vi biểu hiện để phân loại bản đồ,
tức là dựa vào sự bao trùm lãnh thổ gồm 6 loại: Bản đồ biểu hiện
toàn thế giới; Bản đồ biểu hiện châu lục; Bản đồ biểu hiện khu vực; Bản đồ biểu hiện quốc gia; Bản đồ biểu hiện một vùng của quốc gia; Bản đồ lịch sử của một tỉnh
+ Cách 3: Phân loại theo đặc điểm sử dụng, có 5 loại: Bản
đồ treo tờng; Bản đồ để bàn; Bản đồ trong sách giáo khoa; át lát
bản đồ: còn gọi là tập bản đồ giáo khoa lịch sử là tập hợp hệthống các bản đồ lịch sử đợc sắp xếp một cách lôgic để phục vụ
cho mục đích dạy học; Bản đồ câm (bản đồ trắng): là loại bản
đồ chỉ trình bày một số yếu tố cơ bản nhất nh lới bản đồ (đờngkinh tuyến, vĩ tuyến, ranh giới khu vực, lãnh thổ quốc gia) hoặc
là chỉ trình bày mạng lới thuỷ văn (hệ thống sông ngòi, hồ, biển);Bản đồ câm không trình bày các đơn vị hành chính (tỉnh,huyện, xã) và những ký hiệu biểu hiện nội dung (đờng tiếnquân, sở chỉ huy) Bản đồ câm đợc sử dụng trong khi trình bàykiến thức mới giáo viên vừa kết hợp giảng bài mới vừa điền vàonhững thông tin cần thiết trên bản đồ Hoặc sử dụng trong kiểm
Trang 29tra đánh giá trình độ nhận thức của học sinh hay ra bài tập vềnhà.
+ Cách 4: Phân loại bản đồ dựa vào nội dung lịch sử gồm 3 loại:
Bản đồ chung: là loại bản đồ phản ánh lịch sử của một nớc
hay một số nớc trong một thời gian nhất định của quá trình lịch
sử Thông thờng, nội dung của bản đồ chung thể hiện biên giớiquốc gia, các trung tâm công nghiệp, phân bố dân c trên lãnhthổ, các nơi xảy ra sự kiện lịch sử
Bản đồ tổng hợp: là loại bản đồ trình bày nhiều sự kiện,
hiện tợng lịch sử của một nớc hay nhiều nớc (bản đồ Chiến tranhThế giới thứ nhất, bản đồ Chiến tranh Thế giới thứ hai)
Bản đồ chuyên đề: là loại bản đồ lịch sử chỉ phản ánh
một số sự kiện, hiện tợng, một trận đánh cụ thể nào đó, mộtcuộc cách mạng hay một mặt của quá trình lịch sử Ngoài ra, nócòn nêu lên những chi tiết có liên quan đến những sự kiện đanghọc nhằm nêu nguyên nhân, diễn biến của sự kiện (bản đồ diễnbiến giai đoạn I của Chiến tranh Thế giới thứ nhất, bản đồ diễnbiến Chiến dịch Điện Biên Phủ)
Mặc dù đợc phân loại theo nhiều cách khác nhau, nhng trongdạy học lịch sử sử dụng kết hợp nhiều loại bản đồ, vì nó là đồdùng trực quan rất phong phú và dễ kiếm Ngoài số lợng bản đồ cósẵn (do nhà nớc cung cấp) thì giáo viên và học sinh có thể linhhoạt thiết kế tạo ra lợng bản đồ phong phú và đáp ứng yêu cầucủa dạy học lịch sử
Trong thiết kế bản đồ, phải đảm bảo tính chính xác, khoahọc, và tính thẩm mỹ về những ký hiệu, địa danh và phơng h-ớng lãnh thổ Cần chú ý rằng bản đồ lịch sử không cần nhiều chitiết về điều kiện tự nhiên (khoáng sản, sông núi) mà cần có
Trang 30những ký hiệu về biên giới các quốc gia, sự phân bố dân c, thànhphố, các vùng kinh tế, địa điểm xảy ra những biến cố quantrọng (các cuộc khởi nghĩa, cách mạng, chiến dịch) Đồng thờiphải đảm bảo tính hài hoà về màu sắc, đờng nét liên tục, chữviết vừa phải, đẹp, cẩn thận, in hoa, và có kích thớc phù hợp vớikích cỡ bản đồ Bản đồ thiết kế phải theo những nguyên tắc kýhiệu trên bản đồ gốc (có thể điểm thêm những ký hiệu hợp lý vềcác sự kiện lịch sử).
Kỹ thuật vẽ bản đồ: có nhiều cách vẽ bản đồ khác nhau nhphơng pháp cơ ảnh, phơng pháp thu phóng (chỉ dùng trong cơquan xây dựng và xuất bản bản đồ), nhng phổ biến và thôngdụng nhất là phơng pháp ô vuông tức là dựa trên bản đồ gốc, xác
định toạ độ và kẻ những ô vuông tơng ứng để dịch chuyểnnhững nội dung từ bản đồ gốc sang bản đồ mới với tỉ lệ nhất
định
Cách sử dụng bản đồ: không phải dùng một cách tuỳ tiện, do
đó, để đảm bảo cho dạy và học, bản đồ đợc đa ra khi nào cầndùng và dùng xong thì cất đi Bản đồ phải treo ở vị trí hợp lý, khichỉ các đờng sông phải theo thứ tự từ Bắc đến Nam, từ đông
đến tây, từ thợng nguồn đến hạ nguồn Khi tờng thuật các sựkiện thì phải trình bày theo trình tự diễn biến và thời gian của
sự kiện đó Đảm bảo những yếu tố trên đòi hỏi ngời giáo viênphải có sự chuẩn bị kỹ lỡng để khi sử dụng không vấp phải nhữnglúng túng sai sót, không đáng có
Các trờng hợp sử dụng bản đồ: Chủ yếu sử dụng trong bàinghiên cứu kiến thức mới, kiểm tra đánh giá, ra bài tập về nhà
Đối với bài nghiên cứu kiến thức mới thì sử dụng bản đồ đểgiới thiệu về thời gian, không gian xảy ra sự kiện lịch sử Giữa các
sự kiện bao giờ cũng có mối liên hệ với nhau, nhất là các sự kiện
Trang 31càng phức tạp thì mối liên hệ đó càng khó giải thích một cách rõràng, rành mạch Do đó, bản đồ sẽ cụ thể hoá các sự kiện từ đóhọc sinh có thể thấy đợc sự tác động qua lại giữa các sự kiện vớinhau
Bản đồ dùng để kiểm tra đánh giá trình độ nhận thức củahọc sinh Có thể treo bản đồ lên bảng và yêu cầu học sinh tờngthuật lại diễn biến sự kiện lịch sử, một trận đánh và nêu ý nghĩa,nguyên nhân thắng lợi Hoặc có thể dùng bản đồ câm cho họcsinh điền vào những địa danh, thời gian xảy ra các sự kiện lịch
định, đồng thời thấy đợc mối quan hệ giữa các sự kiện ấy
+ Có ba loại niên biểu:
Niên biểu tổng hợp: là bảng liệt kê những sự kiện lớn xảy ra
trong một thời gian dài Loại niên biểu này giúp học sinh khôngnhững ghi nhớ các sự kiện mà còn nắm đợc các mốc thời gian
đánh dấu mối quan hệ của các sự kiện quan trọng (niên biểu cácgiai đoạn của cuộc kháng chiến chống Pháp 1946 - 1954 đợc sửdụng trong bài ôn tập sơ kết, tổng kết) Niên biểu tổng hợp còntrình bày những mặt khác nhau của một sự kiện xảy ra ở một n-
ớc, trong một thời gian hay trong nhiều thời kỳ (niên biểu vềnhững thành tích của nhân dân Việt Nam trong kháng chiếnchống Pháp 1946 - 1954)
Trang 32Niên biểu chuyên đề: là bảng liệt kê những vấn đề lịch sử
cụ thể của một nớc, chủ yếu nhất là trình bày về các giai đoạn,tiến trình phát triển của một sự kiện lịch sử cụ thể Thông qua đóhọc sinh nắm đợc sự kiện đó xảy ra nh thế nào và kết quả ra sao,
từ đó rút ra đợc bản chất của sự kiện một cách đầy đủ và toàndiện (niên biểu về chiến dịch Điện Biên Phủ 1954 giúp học sinhthấy rõ quá trình phát triển của chiến dịch, những trận đánh củaquân ta trong chiến dịch Điện Biên Phủ cũng nh những kết quả thu
đợc sau mỗi giai đoạn của chiến dịch, từ đó học sinh có thể rút ranhận xét về chiến dịch Điện Biên Phủ)
Niên biểu so sánh: là loại niên biểu dùng để so sánh, đối
chiếu các sự kiện xảy ra cùng một lúc trong lịch sử nhằm làm nổibật bản chất, đặc trng của sự kiện ấy, hoặc để rút ra một kếtluận khái quát có tính chất nguyên lý giúp học sinh phân biệt
điểm giống và khác nhau giữa các sự kiện lịch sử (niên biểu sosánh cuộc cách mạng dân chủ t sản kiểu cũ với cách mạng dân chủ
Trong bài truyền thụ kiến thức mới, giáo viên sử dụng niên biểukhi cần giúp học sinh nắm kiến thức một cách có hệ thống Từ đó
Trang 33giúp các em nhớ lâu, nhớ kỹ và biết sắp xếp các sự kiện hiện tợnglịch sử thứ tự về thời gian.
Ngoài ra, niên biểu còn đợc sử dụng để ra bài tập về nhàcho học sinh giúp các em tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập,rèn luyện kỹ năng
* Sơ đồ: là loại đồ dùng trực quan quy ớc nhằm để cụ thểhoá nội dung sự kiện lịch sử bằng những mô hình hình học
đơn giản để diễn tả trình bày về cơ cấu xã hội, tổ chức bộ máynhà nớc, nội dung một sự kiện lịch sử hay các quan hệ xã hội (Sơ
đồ về phân chia đẳng cấp trong xã hội Pháp trớc 1789, sơ đồ
về bộ máy nhà nớc thời Văn Lang - âu Lạc)
Trờng hợp sử dụng: sơ đồ thờng đợc dùng trong bài cung cấpkiến thức mới để biểu thị các mối quan hệ xã hội hay các môhình kết cấu của nhà nớc, của nền kinh tế
Khi sử dụng sơ đồ, giáo viên cần phải kết hợp với giải thích,phân tích, thuyết trình miêu tả để học sinh hiểu sự kiện mộtcách cặn kẽ và chính xác Sơ đồ có thể dùng trong bài ôn tập, sơkết, tổng kết
Sơ đồ có thể vẽ lên bảng đen bằng phấn trắng hoặc cũng
có thể vẽ sẵn trong bìa cứng để trong quá trình giảng bài mới sẽ
sử dụng
* Đồ thị: là một loại đồ dùng trực quan quy ớc sử dụng trongdạy học lịch sử nhằm trình bày về diễn biến, sự vận động pháttriển của một sự kiện, hiện tợng giúp học sinh dễ hình dung vềtiến trình phát triển của sự kiện, hiện tợng ấy
+ Có hai loại đồ thị:
Đồ thị đơn giản: đợc thể hiện bằng mũi tên minh hoạ sự
phát triển đi lên hay đi xuống của một sự kiện, hiện tợng lịch sửcùng với ngày tháng diễn ra hiện tợng, sự kiện ấy
Trang 34Đồ thị phức tạp: là loại đồ thị đảm bảo các yêu cầu, các
yếu tố của một đồ thị (trục tung, trục hoành, tỉ lệ, các đờnggiao nhau) Trong dạy học lịch sử, ngời ta thờng dùng trục hoành
để ghi ngày tháng, trục tung để ghi các sự kiện chủ yếu, tơngứng với niên đại của trục hoành sau đó nối các đờng giao nhaucủa sự kiện và niên đại tạo thành đờng biểu diễn sự vận động vàphát triển của sự kiện lịch sử cụ thể (đồ thị biểu diễn sự pháttriển đi lên của cách mạng t sản Pháp 1789)
+ Trờng hợp sử dụng: đồ thị thờng đợc dùng trong bài nghiêncứu kiến thức mới để biểu thị diễn biến, tiến trình vận độngcủa sự kiện, hiện tợng lịch sử Đồng thời, khi sử dụng giáo viên phảikết hợp các phơng pháp khác nh: trình bày miệng, thông báo, t-ờng thuật … Bên cạnh đó, đồ thị còn đợc dùng để củng cố kiếnthức, quá trình ôn tập và ra bài tập về nhà, thực hành bộ môn
* Đồ hoạ: là một loại đồ dùng trực quan quy ớc đợc minh hoạbằng hình vẽ, nhằm phác thảo những nét khát quát về hình dángbên ngoài hoặc cấu trúc bên trong của một công cụ lao động, vũkhí hoặc công trình kiến trúc, địa điểm của một cuộc khởinghĩa (vị trí của Ba Lan trong cuộc Chiến tranh Thế giơí thứhai)
+ Trờng hợp sử dụng: đồ hoạ đợc dùng trong bài cung cấpkiến thức mới cho học sinh và kiểm tra bài cũ để học sinh nắmkiến thức và hình dung các sự kiện lịch sử xảy ra Từ đó, sẽ pháttriển trí tởng tợng phong phú có độ thẩm mỹ cho học sinh
Cần chú ý hình vẽ bằng phấn lên bảng có tác dụng tạo hìnhnhng phải có tính chất quy ớc, có nh vậy các sự kiện giáo viêntrình bày mới ăn khớp với lời giảng và không cần dùng đến các loại
đồ dùng trực quan khác
Trang 35Điều quan trọng là sau khi phác thảo những đờng nét cơbản về hình dáng bên ngoài hay cấu trúc bên trong của một mặtnào đó thì giáo viên phải biết kết hợp với mô tả, phân tích đểhọc sinh nắm đợc bản chất vấn đề Mặt khác, đồ họa cũng cóthể dùng để kiểm tra trình độ nhận thức của học sinh và kỹnăng thực hành bộ môn
* Đồ biểu: đợc thể hiện dới hình thức hình tròn, hình cột,nhằm trình bày mối quan hệ giữa các sự kiện , hiện tợng lịch sửhoặc là bộ phận của sự kiện, hiện tợng đó
+ Có hai loại đồ biểu:
Đồ biểu hình tròn (cơ cấu sản lợng nông nghiệp Việt Nam sau
năm 1946)
Đồ biểu hình cột (viện trợ của Mỹ cho Pháp từ 1950 - 1954)
+ Trờng hợp sử dụng: đồ biểu sử dụng trong bài cung cấpkiến thức mới nhằm làm cho học sinh nắm đợc những con số,hiểu đợc mối quan hệ giữa các sự kiện, hiện tợng đợc trình bày ở
đồ biểu
Nh vậy, đồ dùng trực quan có ý nghĩa rất quan trọng trongdạy học lịch sử Với các loại đồ dùng trực quan quy ớc giáo viên cóthể vận dụng linh hoạt kết hợp với các phơng pháp khác trong bàigiảng sẽ giúp học sinh khác sâu và nhớ kỹ các sự kiện, hiện tợnglịch sử Dựa vào đồ dùng trực quan quy ớc, học sinh có thể trìnhbày, mô tả, phân tích một sự kiện, diễn biến, địa điểm, căn cứcủa sự kiện lịch sử Đồ dùng trực quan có tác dụng giáo dục tínhthẩm mỹ, óc tởng tợng cho học sinh Mặc dù có ý nghĩa quantrọng trong dạy học lịch sử, song đồ dùng trực quan quy ớc là mộtloại rất dễ kiếm, ít tốn kém và sáng tạo nên đợc sử dụng một cáchphổ biến, rộng rãi
Trang 36Tuy nhiên, đồ dùng trực quan quy ớc chỉ phản ánh một mặt,một vấn đề hoặc một khía cạnh của một sự kiện, một quá trìnhlịch sử mà nó không diễn đạt, phản ánh hết nội dung của các sựkiện, hiện tợng lịch sử Nó không đi sâu vào chi tiết, cụ thể màchỉ diễn tả cái cơ bản, cái khái quát cho nên ảnh hởng đến việchiểu sâu sắc các sự kiện, hiện tợng lịch sử Vì vậy, nghệ thuậtkết hợp linh hoạt các phơng pháp của ngời giáo viên trong dạy họclịch sử có tác dụng nâng cao hiệu quả việc sử dụng đồ dùng trựcquan.
Có thể nói, việc phân loại đồ dùng trực quan trong dạy họclịch sử ở trờng phổ thông không những giúp cho giáo viên biếtcách sử dụng hợp lý để bài giảng trở nên sinh động và hấp dẫn
mà còn làm cho học sinh hứng thú học tập, nâng cao hiệu quảbài học
1.2.3.3 Nguyên tắc và phơng pháp thiết kế - sử dụng đồ dùng trực quan:
- Nguyên tắc: khi thiết kế và sử dụng đồ dùng trực quancần chú ý các nguyên tắc sau:
+ Giáo viên phải căn cứ vào nội dung, kiến thức lịch sử mộtcách thích hợp để thiết kế và sử dụng đồ dùng trực quan Giáoviên vừa phải đọc kỹ nội dung trong sách giáo khoa, vừa phải đọcthêm các tài liệu tham khảo và các tài liệu có liên quan đến khoahọc lịch sử để su tầm và biết sử dụng đồ dùng trực quan gópphần nần cao hiệu quả bài học Mặt khác, giáo viên cần căn cứvào mục đích giáo dục, giáo dỡng, rèn luyện kỹ năng bộ môn củamột bài, một chơng, một giai đoạn lịch sử để lựa chọn đồ dùngtrực quan tơng ứng, thích hợp Giáo viên cần xây dựng một hệthống đồ dùng trực quan phong phú, phù hợp với các bài học lịch sử
Trang 37+ Khi sử dụng mỗi loại đồ dùng trực quan cần có phơng phápthích hợp, phải đảm bảo tính chính xác, khoa học, thẩm mỹ, phải
đáp ứng đợc mục đích phát huy tính tích cực cho học sinh làmcho học sinh không những cụ thể hoá đợc kiến thức mà cần đisâu phân tích bản chất của sự kiện
+ Khi sử dụng đồ dùng trực quan, giáo viên phải kết hợp vớicác phơng pháp dạy học khác, đặc biệt là phơng pháp sử dụng lờinói Sử dụng đồ dùng trực quan còn rèn luyện khả năng thực hànhcho học sinh (đắp sa bàn, vẽ bản đồ, tờng thuật sự kiện trên bản
mỹ, giáo dục năng khiếu thẩm mỹ lành mạnh cho học sinh
- Phơng pháp sử dụng đồ dùng trực quan: Tuỳ theo yêu cầucủa bài học và loại hình đồ dùng trực quan để có cách sử dụngphù hợp:
Thứ nhất, cách sử dụng đồ dùng trực quan cỡ lớn, đợc dùngchung cho cả lớp cùng một lúc (tranh ảnh, bản đồ treo tờng, môhình, sa bàn lớn)
Thứ hai, cách sử dụng đồ dùng trực quan cỡ nhỏ, đợc đặt ởbàn học sinh (át lát lịch sử, ăngbon ảnh lịch sử, minh hoạ trongsách giáo khoa, báo chí, tài liệu tham khảo, đồ phục chế nhỏ)
Thứ ba, cách sử dụng một số đồ dùng trực quan quy ớc vàhình vẽ trên bảng đen
Trang 38Thứ t, cách sử dụng màn ảnh (phim, đèn chiếu, phim điện
ảnh)
Thứ năm, sử dụng đồ dùng trực quan hiện vật trng bày trongcác bảo tàng Trung ơng và địa phơng, các di tích lịch sử, khitiến hành bài giảng ở bảo tàng hoặc nơi diễn ra sự kiện
Việc phân chia này chỉ có tính ớc lệ vì trong thực tế dạyhọc lịch sử hiện nay, giáo viên không có đầy đủ các loại đồ dùngtrực quan này Vả lại, khi sử dụng chúng ta cũng không tách biệthẳn các loại đồ dùng trực quan trên với nhau
Khi giảng dạy đồ dùng trực quan thờng đợc dùng chủ yếu làbản đồ, sơ đồ, niên biểu, đồ thị … trớc lúc sử dụng chúng cầnphải chuẩn bị kỹ lỡng (cả giáo viên và học sinh) và cần lu ý các
điểm sau:
Đối với giáo viên: giáo viên phải lu ý học sinh quan sát các loại
đồ dùng trực quan rồi trình bày nội dung Dùng các tài liệu thamkhảo có liên quan và một số tài liệu trực quan khác làm cho việctrình bày đợc khoa học, hấp dẫn Đồng thời dẫn các em “làmviệc” với đồ dùng trực quan Giáo viên phải luôn theo dõi, kiểm tra
sự tiếp thu của học sinh giúp các em phân tích, nêu kết luận kháiquát về sự kiện đợc phản ánh trên bản đồ, sơ đồ, đồ thị … tiếp
Trang 39Về cách sử dụng tranh ảnh lịch sử treo tờng, ta cần lu ý họcsinh quan sát, giải thích nội dung tranh ảnh để lựa chọn nhữngchi tiết phục vục cho bài học, cụ thể hoá sự kiện, lịch sử làm cơ
sở cho việc tờng thuật, miêu tả và rút ra kết luận khái quát
Loại đồ dùng trực quan cỡ nhỏ đợc sử dụng riêng cho từng họcsinh trong giờ học và trong việc tự học ở nhà giáo viên phải hớngdẫn học sinh sử dụng tốt các loại đồ dùng trực quan này nh quansát, tìm hiểu sâu sắc nội dung, hoàn thành các bài tập, tập vẽbản đồ
Loại tranh ảnh chân dung các nhân vật lịch sử, giáo viênkhông nên miêu tả hình dáng bên ngoài của nhân vật mà cần h-ớng dẫn cho học sinh phân tích nội tâm, tài đức, quan điểm thểhiện hoạt động của nhân vật lịch sử
Tóm lại, phơng pháp trực quan giữ một vị trí quan trọngtrong dạy học lịch sử, kích thích hứng thú học tập và khả năng tduy, bồi dỡng tình cảm, t tởng của học sinh Nhận thức này đợcquán triệt trong giáo viên và học sinh song cho đến nay kết quảvẫn cha đợc cao bởi những điều kiện để cung cấp đồ dùng trựcquan còn khó khăn, biên soạn tài liệu hớng dẫn phơng pháp sửdụng cha nhiều
Trang 40Chơng 2: Thiết kế và sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học chơng “Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lợc và can thiệp Mỹ 1946 - 1954” (Chơng IV -
SGK lịch sử 12, tập 2)
2.1 Vị trí, nhiệm vụ, nội dung cơ bản của chơng
“Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lợc
và can thiệp Mỹ 1946 - 1954”.
2.1.1 Vị trí của chơng:
Thực hiện chủ trơng cải cách giáo dục, từ năm 80 đến nay
bộ môn lịch sử cũng đã có nhiều đổi mới trong việc xây dựngchơng trình, nội dung và phơng pháp giảng dạy
Có thể nói, cải cách giáo dục đợc coi là một cuộc cách mạngtrong lĩnh vực giáo dục, thực hiện đổi mới một cách đồng bộ cả
về nội dung và hệ thống phơng pháp dạy học Trong đó, việc
đổi mới phơng pháp dạy học đợc quan tâm hơn cả Song đểthực hiện đợc đổi mới phơng pháp giảng dạy trong điều kiệnthực tế còn nhiều khó khăn, bộ môn lịch sử cũng đã bắt đầuthực hiện cải tạo và biên soạn chơng trình, nội dung và phơngpháp dạy học Đáng chú ý nhất là việc thay đổi về biên soạn ch-
ơng trình và sách giáo khoa
Hiện nay, chơng trình sách giáo khoa ở trờng phổ thôngtrung học đợc xây dựng theo nguyên tắc đồng tâm kết hợp đ-ờng thẳng, trong đó đồng tâm là cơ bản với việc xây dựng ch-
ơng trình theo nguyên tắc đó, học sinh vừa có thể nắm đợcmột cách có hệ thống các sự kiện, hiện tợng lịch sử, vừa có thểphân tích, đánh giá để thấy đợc bản chất của các sự kiện hiệntợng lịch sử đó
ở trờng THCS, chơng trình đảm bảo hệ thống tri thức lịch
sử Việt Nam nhng thiếu hệ thống lịch sử thế giới Ngợc lại, ở trờng