Chính vì vậy, tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu một số chỉ tiêu hình thái, sinh lý của học sinh lứa tuổi 10 - 15 trên địa bàn thành phố Vinh và huyện Hưng Nguyên” với mong muốn góp phần giúp
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
-o0o -NGUYỄN THỊ HIỀN
NGHI£N CøU mét sè chØ tiªu h×nh th¸i vµ
tØnh nghÖ an
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
VINH - 2009
Lêi c¶m ¬n
Trang 2Để hoàn thành luận văn này, trớc hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS TS Nghiêm Xuân Thăng - đã tận tình hớng dẫn vàgiúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện.
Nhân dịp này tôi xin gửi lời cảm ơn đến:
- Ban giám hiệu Trờng Đại học Vinh
- Ban Chủ nhiệm khoa Sinh học, Tổ bộ môn Sinh lý ngời và động vật
- Khoa Đào tạo Sau đại học, Trờng Đại học Vinh
- Tập thể giáo viên và học sinh trờng tiểu học, trung học cơ sở Lê Lợi,
Trang 3nhau: thời kì phát triển phôi, sơ sinh, nhà trẻ, mẫu giáo, nhi đồng, thiếu niên,dậy thì, trưởng thành, trung niên, lão hóa và tử vong; trong đó giai đoạn pháttriển dậy thì chiếm vị trí quan trọng Tuổi dậy thì đánh dấu sự kết thúc củathời niên thiếu và chuẩn bị bước sang tuổi trưởng thành Đây là bước ngoặt cóvai trò hết sức quan trọng biến đổi cả về lượng và chất.
A.N Kabanôp và A Trabopxcaia cho rằng: Trước khi trở thành ngườilớn, trẻ em phải trải qua nhiều giai đoạn phát triển quan trọng, nhiều năm cần
sự giúp đỡ của người lớn Cấu tạo và hoạt động của các cơ quan trong cơ thểcũng như nhu cầu cơ thể, những phản ứng của cơ thể đối với điều kiện bênngoài đều thay đổi Để tạo những điều kiện tốt nhất cho sự sinh trưởng vàphát triển của trẻ em, để dạy dỗ và giáo dục trẻ em một cách đúng đắn, cầnphải nắm vững những đặc trưng của từng giai đoạn phát triển của trẻ mà đề racác biện pháp tác động thích hợp [19], [20] Bởi vậy, việc giáo dục giới tínhcho thanh thiếu niên hiện nay được đưa vào nhà trường và các tổ chức có liênquan đến giáo dục thanh thiếu niên rất coi trọng
Ta biết rằng, quá trình sinh trưởng và phát triển của trẻ em nói riêng,con người nói chung, chịu sự chi phối của hệ gen và sự tương tác giữa hệ genvới điều kiện môi trường Những năm gần đây, điều kiện sống của nhân dânđược nâng cao và cải thiện đã tác động trực tiếp đến quá trình sinh trưởng,phát triển của trẻ em Thực tế cho thấy, hiện nay trẻ em ở nhiều vùng lớnnhanh hơn, cao hơn, nặng hơn, cơ thể cân đối hơn… Các chỉ tiêu sinh học córất nhiều sai khác so với “Hằng số sinh học người Việt Nam” (1975) Chính
vì vậy, việc đánh giá, tìm hiểu các chỉ tiêu sinh học người Việt Nam là vấn đềđang được quan tâm, nghiên cứu Các công trình của Lê Quang Long (1975),Trịnh Bỉnh Dy (1982), Trần Trọng Thủy (1989), Đào Huy Khuê (1991),Nghiêm Xuân Thăng, Nguyễn Ngọc Hợi và Ngô Thị Bê (1993), NguyễnTrường An (2003), Phan Thị Sang (2006), Trần Minh Hậu (2008)… cho thấy
Trang 4trong hơn 30 năm qua, các chỉ tiêu sinh học của người Việt Nam ở tất cả các
độ tuổi đều tăng [1], [5], [12], [21], [24], [30], [31]
Nhưng bên cạnh đó, guồng quay của nền kinh tế thị trường, nhịp sống
đô thị, ảnh hưởng của phim ảnh, sách báo trong thời đại bùng nổ công nghệthông tin… cũng đang từng ngày, từng giờ ảnh hưởng đến sự sinh trưởng,phát triển của trẻ em Trẻ em dậy thì sớm hơn, trưởng thành về mặt sinh họcnhanh hơn so với trưởng thành về mặt nhận thức xã hội Đã có những trườnghợp trẻ bỏ bê học hành, yêu đương sớm, có thai ngoài ý muốn…gây đau đầu chocác bậc phụ huynh, nhà trường và xã hội Nghệ An là một tỉnh lớn, là một trongnhững trung tâm văn hóa kinh tế chính trị của vùng Bắc Trung Bộ, môi trường tựnhiên và môi trường xã hội đa dạng, phong phú, là nơi giao lưu của nhiều nềnvăn hóa, điều đó không khỏi ảnh hưởng đến sự phát triển sinh lý trẻ em
Vấn đề đó cần được làm rõ và tìm ra những biện pháp hữu hiệu để giáodục trẻ em nhằm làm cho trẻ phát triển tốt và thuận lợi hơn, tránh những tiêucực, ảnh hưởng xấu của môi trường trong giai đoạn phát triển quan trọng
chuyển biến từ trẻ em sang người lớn Chính vì vậy, tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu một số chỉ tiêu hình thái, sinh lý của học sinh lứa tuổi 10 - 15 trên địa bàn thành phố Vinh và huyện Hưng Nguyên” với mong muốn góp phần
giúp các nhà giáo dục và các bậc phụ huynh có những cách nhìn, định hướng
và biện pháp chăm sóc, giáo dục trẻ khoa học, thích hợp hơn
2 Mục tiêu của đề tài
- Tìm hiểu, đánh giá sự phát triển của một số chỉ tiêu hình thái, sinh lý
ở lứa tuổi 10 - 15 của học sinh thành phố (TP Vinh) và học sinh nông thôn(huyện Hưng Nguyên)
- Xác định tuổi dậy thì cụ thể của HS trong điều kiện phát triển kinh tế
xã hội hiện nay và khí hậu đặc trưng nóng khô và ẩm ở Nghệ An
Trang 53 Nội dung của đề tài
3.1 Nghiên cứu sự biến đổi một số chỉ tiêu hình thái và thể lực của HS từ
10 - 15 tuổi thuộc TP Vinh và huyện Hưng Nguyên:
+ Các chỉ tiêu hình thái: chiều cao đứng, chiều cao ngồi, cân nặng, vòngngực trung bình, đường kính hông
+ Các chỉ tiêu thể lực: Pignet, BMI
3.2 Nghiên cứu sự biến đổi một số chỉ tiêu sinh lý của HS từ 10 - 15 tuổi
thuộc TP Vinh và huyện Hưng Nguyên:
+ Chỉ tiêu tim mạch, huyết áp tối đa, tối thiểu
+ Định tính hoocmôn sinh dục nam và nữ
+ Sự xuất hiện kinh nguyệt ở trẻ em nữ
3.3 Nghiên cứu sự phát triển năng lực trí tuệ của học sinh từ 10 - 15 tuổi
thuộc TP Vinh và huyện Hưng Nguyên
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở lí luận về sự sinh trưởng và phát triển theo giai đoạn
1.1.1 Khái niệm về sự sinh trưởng, phát triển
Sinh trưởng và phát triển là những đặc trưng cơ bản của mọi cơ thểsống Hai quá trình này xảy ra liên tục từ lúc trứng mới thụ tinh và phát triểnphôi thai đến khi ra đời, trưởng thành, cho đến lúc già, chết
Sinh trưởng (Growth) là một quá trình thay đổi về mặt số lượng, là sự
tăng trưởng về mặt kích thước, khối lượng của toàn bộ cơ thể hay từng bộ
phận Phát triển (Development) là sự biến đổi về chất, bao gồm: sự biến đổi
Trang 6về hình thái, chức năng sinh lý, các quy luật hoạt động theo từng giai đoạncủa cuộc đời mỗi cá thể sinh vật.
Sinh trưởng và phát triển có mối quan hệ mật thiết với nhau, tác độngqua lại lẫn nhau đôi khi không có sự phân biệt Sinh trưởng là điều kiện củaphát triển; còn phát triển làm thay đổi sinh trưởng bằng cách thúc đẩy tăngnhanh hay ức chế, kìm hãm sự sinh trưởng tùy theo từng giai đoạn Ở giaiđoạn phát dục, cơ thể thường lớn nhanh, biến đổi nhiều; có tính chất nhảy vọt
về cả hình thái và chức năng sinh lý Đến giai đoạn trưởng thành thì sự sinhtrưởng bị chậm lại và đến thời kì lão hóa thì cơ thể suy thoái [10], [13], [37]
1.1.2 Một số quy luật sinh trưởng và phát triển
Các công trình của C.B.Penxon (1962), M.H.Saternicop (1968),F.Bnedis đã chứng minh một số quy luật sinh trưởng và phát triển ở conngười cũng như động vật:
- Quy luật sinh trưởng phát triển theo giai đoạn:
Sự sinh trưởng và phát triển của cơ thể diễn ra và thay đổi tùy theo từnggiai đoạn của đời sống cá thể Có giai đoạn tốc độ sinh trưởng, phát triểnnhanh; có giai đoạn tốc độ sinh trưởng phát triển chậm Ví dụ: trẻ sơ sinhtrung bình có chiều cao 50 cm - 60 cm, nặng 2,5 - 3,5 kg Cuối năm đầu, trẻcao khoảng 70 - 75 cm (tăng 50%), nặng 9 - 10 kg Năm thứ hai, cân nặngtăng 2,5 - 3 kg, chiều cao tăng 10 - 15 cm Các năm tiếp theo cho đến tuổi dậythì, mỗi năm cân nặng tăng 1,5 - 2 kg và cao thêm 3 - 4 cm Hết tuổi trưởngthành, cơ thể cao khoảng 1,55 - 1,7 m và nặng 50 - 60 kg Sau tuổi trưởngthành chiều cao và khối lượng cơ thể không biến đổi nhiều
- Quy luật sinh trưởng phát triển không đồng đều:
Tốc độ sinh trưởng, phát triển của các hệ cơ quan, cơ quan, các mô, thậmchí cả các tế bào trong cùng một cơ thể là không giống nhau (không đồng đều)
Trang 7Chính sự không đồng đều đó đã làm cho tỉ lệ các cơ quan, bộ phận ở các giaiđoạn khác nhau là không giống nhau Ví dụ: trẻ sơ sinh chiều dài đầu bằng 1/4chiều dài cơ thể, khi trưởng thành chỉ bằng 1/8 cơ thể; chi dưới trẻ sơ sinh chỉbằng 1/3 cơ thể, đến khi trưởng thành, chi dưới dài hơn 1/2 cơ thể.
Theo “Hằng số sinh học người Việt Nam” (1982): cân nặng trung bìnhcủa cơ thể trưởng thành (sau tuổi dậy thì) gấp 20 lần cân nặng trẻ sơ sinh; cânnặng các nội quan (tim, phổi, tuyến nội tiết) tăng 15 lần, xương tăng 30 - 32lần so cới trẻ sơ sinh [5] Từ các số liệu đó chúng ta thấy ở tuổi dậy thì các cơquan đều sinh trưởng, phát triển mạnh
Từ các quy luật đó người ta nhận thấy rằng có thể căn cứ vào các chỉtiêu hình thái, thể lực như: cân nặng, chiều cao, vòng ngực, chỉ số Pinger, chỉ
số BMI, …để đánh giá sự sinh trưởng, phát triển của một cơ thể
Với mục đích xác định những đặc tính quan trọng, đặc trưng cho nhữnggiai đoạn khác nhau của sự sinh trưởng, phát triển ở con người, các nhà khoahọc đã chia quá trình sinh trưởng và phát triển thành nhiều giai đoạn và thời
kì khác nhau: phát triển phôi, sơ sinh, nhà trẻ, mẫu giáo, nhi đồng, thiếu niên,dậy thì, trưởng thành, trung niên, lão hóa và tử vong Cơ sở để phân chia cácthời kì của giai đoạn phôi thai là sự phân hóa, biệt hóa tế bào, hình thành các
mô và cơ quan Cơ sở để phân chia các giai đoạn, thời kì của cơ thể sau khisinh là các dấu hiệu đặc trưng về hình thái và sinh lý như: sự mọc răng, sự cốthóa các phần khác nhau của bộ xương, hoạt động của các tuyến nội tiết, sự pháttriển một số đặc điểm hình thái, sinh lý, sự biến đổi các đặc điểm tâm lí, …
Các tác giả khác nhau có cách phân chia khác nhau nhưng nhìn chungchênh lệch không nhiều: trẻ em từ 10 - 11 tuổi là thời kì tiền dậy thì (thời kìhọc sinh nhỏ); từ 12 - 15 tuổi đối với nữ, 13 - 16 tuổi đối với nam là thời kìdậy thì (thời kì học sinh lớn) Độ tuổi này thay đổi theo giới tính, chủng tộc,vùng khí hậu, môi trường sống, …[6], [10], [14], [15], [20]
Trang 81.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển
1.1.3.1 Các yếu tố bên trong
a Tính di truyền
Các chủng tộc, dân tộc khác nhau, các chi, dòng họ khác nhau có quátrình sinh trưởng, phát triển khác nhau Điều này do cơ sở vật chất của tính ditruyền là hệ gen chi phối Hai đặc điểm do yếu tố di truyền chi phối dễ nhậnthấy nhất là tốc độ lớn và giới hạn lớn Ví dụ: các chủng tộc ở châu Âu có tốc
độ lớn nhanh hơn và giới hạn các chỉ số cao hơn so với các chủng tộc ở châu
Á, tuổi dậy thì cũng đến muộn hơn một ít, sự tăng trưởng mạnh mẽ hơn Ngoài
ra, sự sai khác còn thể hiện ở những tính trạng như: đặc điểm hình thái, loạihình thần kinh, trạng thái tinh thần, khả năng tư duy, trí nhớ, nhóm máu, …
b Giới tính
Bộ nhiễm sắc thể của nam và nữ (nhất là nhiễm sắc thể giới tính) làkhác nhau nên quá trình sinh trưởng, phát triển của nam và nữ cũng khácnhau, làm xuất hiện nhiều tính trạng đặc trưng cho giới, phân biệt giữa nam
và nữ Ví dụ: nữ giới thường dậy thì sớm hơn nhưng tốc độ tăng khối lượng,kích thước cơ thể trong giai đoạn dậy thì kém hơn nam giới; khi cơ thể cónhiều biến đổi, tâm lí nữ giới thường có những biểu hiện khác với nam giớinhư e thẹn, mẫn cảm còn nam giới thường tò mò, bồng bột
c Các hoocmon sinh trưởng và phát triển
Sự sinh trưởng, phát triển chịu sự chi phối bởi rất nhiều hoocmon củatuyến nội tiết và tuyến ngoại tiết Mỗi hoocmon có một vai trò khác nhautrong từng giai đoạn, đối với từng cơ quan, bộ phận nhưng sự hoạt động, phốihợp nhịp nhàng của các hoocmon là điều kiện cần thiết cho cơ thể sinhtrưởng, phát triển bình thường, khỏe mạnh
Ví dụ:
Trang 9- Hoocmon tiroxin: có tác dụng tăng tốc độ chuyển hoá cơ bản, tăng cường
sinh trưởng
- Hoocmon sinh dục nữ Oestrogen (oestradiol, oestron, oestriol): có tác dụng:
+ Điều hòa phát triển các tính trạng sinh dục thứ sinh ở nữ như: mọc lôngnách, lông mu, giọng nói thanh, vú phát triển, mông to ra, …
+ Kích thích nang trứng phát triển, gây rụng trứng
+ Ở nồng độ cao cùng với Progesteron ức chế tuyến yên tiết FSH, LH
+ Kích thích niêm mạc dạ con dày lên, tích máu
- Hoocmon Progesteron: có tác dụng:
+ Ức chế tuyến yên tiết FSH, LH ức chế trứng chín và rụng
+ Kích thích niêm mạc dạ con dày lên, tích máu chuẩn bị cho phôi phát triển
- Hoocmon Testosteron: có tác dụng:
+ Điều hòa phát triển các tính trạng sinh dục thứ sinh ở nam như: mọcrâu, lông nách, lông mu, giọng nói trầm, cơ phát triển, …
+ Kích thích hệ cơ, xương phát triển
+ Kìm hãm tuyến yên tiết LH.
Trang 101.1.3.2 Các yếu tố bên ngoài (môi trường)
Mỗi sinh vật cũng như mỗi cá thể con người đều sinh ra, lớn lên, hoạtđộng trong một môi trường nhất định Môi trường bao gồm các yếu tố baoquanh cơ thể và tác động qua lại đối với cơ thể Môi trường là phạm trù rấtrộng, có thể chia thành môi trường tự nhiên (bao gồm môi trường không khí,môi trường đất, môi trường nước, môi trường sinh vật) và môi trường xã hội(chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, …) Tất cả các yếu tố môi trường
đó đều ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến quá trình sinh trưởng và pháttriển của cơ thể Do đó, sinh vật sống trong các môi trường khác nhau có quátrình sinh trưởng, phát triển khác nhau
Ví dụ:
- Theo nhiều nghiên cứu cho thấy trẻ em ở vùng gần xích đạo thường
có xu hướng dậy thì sớm hơn vùng xa xích đạo
- Trẻ em tiếp xúc với nhiều nguồn thông tin (qua phim ảnh, sách báo,internet, những người xung quanh như bạn bè khác giới và ngay cả cùng giới, …)thường dậy thì sớm hơn những trẻ em hạn chế về giao lưu
- Trẻ em sống trong điều kiện đầy đủ, ăn uống giàu chất dinh dưỡng,chất kích thích thường dậy thì sớm hơn trẻ em sống trong điều kiện khó khăn,
ăn uống nghèo chất dinh dưỡng [9], [10], [20]
1.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Xuất phát từ nhu cầu thực tế và lợi ích cuộc sống của con người, việcnghiên cứu các chỉ tiêu phát triển hình thái, sinh lý, tâm lí, trí tuệ của conngười nói chung và trẻ em nói riêng đã được tiến hành từ rất sớm trên thếgiới Cuốn sách đầu tiên viết về sự tăng trưởng chiều cao con người củaStocller được xuất bản tại Đức năm 1729 Tác giả đã nghiên cứu học sinh quýtộc trường Carxchile Sau đó là hàng loạt các công trình khác của Mondiere
Trang 11(1875), Beegon (1902), Thondihee (1903), Heman (1937), Freemon (1971),
đã nghiên cứu sự phát triển hình thái và trí tuệ trẻ em ở các lứa tuổi và địaphương khác nhau
Năm 1948, Tổ chức Y tế thế giới vì sức khỏe cộng đồng ra đời đã nghiêncứu, đánh giá sự phát triển của trẻ em thông qua hai chỉ số chiều cao, cân nặng
và đã có nhiều đóng góp đáng kể trong việc chăm sóc sức khỏe trẻ em
Những năm 1960 nhiều nhà khoa học đã phát hiện ra hiện tượng “giatốc” phát triển cơ thể ở trẻ em lứa tuổi học đường và nhận thấy trẻ em có sựgia tăng các chỉ tiêu hình thái so với các trẻ em cùng lứa tuổi những thập kỉtrước đó Các tác giả đã có những giả thiết khác nhau để giải thích hiện tượngnày, điển hình là thuyết “Thành thị hóa” của Rudder
Trong cuốn: "Giải phẫu sinh lý và vệ sinh trẻ em", A N Kabanop và A.Trabopxcaia đã tổng hợp nhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả vàbản thân Các tác giả cho rằng: Trước khi trở thành người lớn, trẻ em phải trảiqua nhiều giai đoạn phát triển quan trọng, nhiều năm cần sự giúp đỡ củangười trưởng thành, cấu tạo và hoạt động của các cơ quan trong cơ thể cũngnhư nhu cầu cơ thể, những phản ứng của cơ thể đối với điều kiện bên ngoàiđều được thay đổi Để tạo nên những điều kiện tốt nhất cho sự sinh trưởng vàphát triển của trẻ em, để dạy dỗ và giáo dục trẻ em một cách đúng đắn thì cầnphải nắm vững những đặc trưng của từng giai đoạn phát triển của trẻ để cóbiện pháp tác động thích hợp [18]
Kabanôp (1972) nghiên cứu thấy rằng: Sự tăng thể lực và thể chất ở trẻ
em ngoài sự quyết định bởi yếu tố di truyền thì nó còn liên quan chặt chẽ đếnchế độ dinh dưỡng, sự luyện tập và chế độ chăm sóc của gia đình và xã hội[19]
Xukhomlinxki - nhà sư phạm nổi tiếng của Nga cho rằng: Khả năngvận động, kỹ năng, kỹ xảo ở con người nói chung, học sinh nói riêng được
Trang 12hình thành trong đời sống cá thể, điều đó có ý nghĩa phải trải qua quá trìnhluyện tập Quá trình vận động nói chung, tập thể dục thể thao nói riêng có vaitrò quyết định đối với sự phát triển toàn diện của con người Đặc biệt, lứa tuổithanh thiếu niên chỉ có một cơ thể khoẻ mạnh, một thân hình cường tráng,phát triển cân đối thì hệ thần kinh mới nhạy bén, phản xạ mới linh hoạt.
Philipôven (1975) đã chứng minh rằng hoạt động điện não đồ ở trẻ em
có nhiều dao động so với người lớn, đặc biệt là sóng bê-ta ở tuổi dậy thì, biên
độ sóng đạt tới 4 - 5 micro Vôn, tần số 10 - 12 Hz (nhanh hơn ở người lớn)
1.3 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu các chỉ tiêu hình thái, sinh lý ở các lứatuổi được tiến hành từ những năm 30 của thế kỉ XX tại Ban nhân học thuộcViện Viễn Đông Bắc Cổ Kết quả nghiên cứu được công bố tập trung trong 9
số kỉ yếu phân khoa Nhân học (1936 - 1944) gồm nhiều loại kích thước củacác đoạn thân thể theo tuổi và thành phần khác nhau, đặc biệt là kích thướccủa bộ xương người Việt Nam hiện đại
Sau ngày miền Bắc giải phóng và nhất là sau ngày đất nước thống nhất,các công trình khoa học thuộc mọi lĩnh vực được đẩy mạnh và thu được nhiềuthành tựu to lớn Trong các nghiên cứu về chỉ tiêu hình thái ở người lớn, ĐỗXuân Hợp và Nguyễn Quang Quyền có một số công trình có tính hệ thống vàtoàn diện như: "Hằng số sinh học người Việt Nam" (1967), "Bàn về nhữnghằng số giải phẫu nhân học người Việt Nam và ý nghĩa đối với y học" (Một
số chuyên đề y học, 1967) Các chỉ tiêu sinh lý, sinh hoá đã được nhiều tácgiả nghiên cứu, nổi bật trong đó là "Hằng số sinh học người Việt Nam" - côngtrình đúc kết nhiều năm nghiên cứu của các tác giả Trịnh Bỉnh Dy, NguyễnTấn Gi Trọng, Phạm Khuê, Lê Thành Uyên, Lê Quang Long,… (1975); "Vềnhững thông số sinh học người Việt Nam" của Trịnh Bỉnh Dy, Đỗ Đình Hồ,
Trang 13Phạm Khuê, Nguyễn Quang Quyền, Lê Thành Uyên (1982); "Sinh lý thầnkinh trẻ em" của Tạ Thuý Lan (1992) [5], [9], [22].
Bên cạnh hàng loạt công trình nghiên cứu về người lớn, có không ít côngtrình nghiên cứu về trẻ em và học sinh Việt Nam như: "Hằng số phát triển trẻ emViệt Nam" của Chu Văn Tường; "Phát triển thể lực ở trẻ em dưới 7 tuổi"; "Một
số hằng số của trẻ em Việt Nam" của Chu Văn Trường và Nguyễn Công Khanh(Báo cáo tại Hội nghị Hằng số sinh học người Việt Nam - 1972)
Tuy nhiên, từ đó đến nay với khoảng thời gian tương đối dài, điều kiệnmôi trường tự nhiên và xã hội có nhiều biến đổi, nhất là sau ngày đất nước hoànthành thống nhất, đã mở ra một địa bàn mới, những đối tượng mới cho việcnghiên cứu hình thái, sinh lý cũng như sinh hoá ở nước ta Nhiều công trình củanhiều tác giả đã thực hiện trên khắp đất nước như: các công trình nghiên cứu củaTrường Đại học Y khoa TP Hồ Chí Minh dưới sự chủ trì của Nguyễn QuangQuyền: "Các chỉ tiêu phát triển hình thái của trẻ em và người lớn Tây Nguyên"(1980 - 1990); "Các chỉ tiêu hình thái, sự phát triển thể lực và thể chất của trẻ em
và học sinh miền đồng bằng, thành phố Vinh và miền núi Nghệ An" của NghiêmXuân Thăng, Nguyễn Ngọc Hợi, Ngô Thị Bê, Hoàng Thị Ái Khuê, “Nghiên cứu
sự phát triển hình thái, thể lực của học sinh 6 - 17 tuổi ở Thừa Thiên Huế của LêĐình Vấn (2002) ”, Đặc biệt đề tài cấp cứu Nhà nước "Đặc điểm sinh thể, tìnhtrạng dinh dưỡng của người Việt Nam và biện pháp nâng cao chất lượng sứckhoẻ" do trường Đại học Y Hà Nội chủ trì mang mã số KX07 đã góp phần to lớnvào việc nghiên cứu con người Việt Nam [36]
Bên cạnh các công trình nghiên cứu về sự phát triển thể lực, thể chấtcủa trẻ em, còn có rất nhiều đề tài đi sâu nghiên cứu sự phát triển trí tuệ, tưduy của trẻ gắn liền với sự quá trình phát triển sinh lý, đặc biệt là sự phát triểncủa bộ não của trẻ
Trang 14Các công trình của Hoàng Xuân Hinh (1971), Phạm Hoàng Gia (1977),Trần Cường, Trọng Thuỷ (1989) [33], Tạ Thuý Lan (1993) [22] đã cho thấy
sự phát triển năng lực trí tuệ và tư duy của trẻ qua nhiều giai đoạn Năng lực
tư duy trừu tượng gắn liền sự phát triển vốn từ của trẻ Vốn từ của trẻ pháttriển thuận lợi nhất từ 2 - 3 tuổi Muốn cho trẻ phát triển vốn từ chúng ta cầncho trẻ tiếp xúc nhiều với thế giới xung quanh
Nhiều tác giả đã sử dụng các hình thức trắc nghiệm trí thông minh đểnghiên cứu khả năng hoạt động trí tuệ của trẻ Cho đến nay, một số hình thứctest trí tuệ đã và đang được thích nghi hoá và sử dụng ở Việt Nam Hai cơ sởquan trọng nhất trong lĩnh vực này là Viện tâm sinh lý lứa tuổi thuộc ViệnKhoa học Giáo dục Việt Nam và Trung tâm nghiên cứu trẻ em Hà Nội vớinhiều đề tài trọng điểm Trong các loại hình trắc nghiệm đó, trắc nghiệmGille, trắc nghiệm khuôn hình tiếp diễn của Ra-ven (Test Ra-ven) đã đượcứng dụng rộng rãi và có hiệu quả (Võ Văn Toàn - 1995, Trần Trọng Thuỷ -
2001, Võ Thị Chí, Lưu Thị Minh Trí - 2001) Test Ra-ven được xây dựng trên
cơ sở hai thuyết: thuyết tri giác hình thể tâm lý học Ghetxytan và thuyết "tâmphát sinh" của Speaman Sau nhiều lần chuẩn hoá vào các năm 1954, 1956đến năm 1960, test Ra-ven được UNESCO chính thức sử dụng để chuẩn hoátrí tuệ của con người Đây là loại hình trắc nghiệm phi ngôn ngữ được dùng
để đo năng lực tư duy trên bình diện rộng nhất và được sử dụng rộng rãi trênnhiều đối tượng Số liệu thu được cho phép chuyển đổi thành chỉ tiêu đánh giátrí tuệ tổng quát Có thể nói Test Ra-ven là công cụ sắc bén cho việc đánh giámức độ phát triển trí tuệ [7], [34], [35]
Ở Nghệ An đã có các công trình về hình thái và sinh lý của học sinhTiểu học và Trung học của Nguyễn Ngọc Hợi, Nghiêm Xuân Thăng, Ngô Thị
Bê, … chủ yếu nghiên cứu về đặc điểm hình thái và thể lực [13]
Trang 15CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu
420 HS nam nữ trường Tiểu học, THCS Lê Mao, THCS Lê Lợi - TPVinh - Nghệ An tuổi từ 10 đến 15 (lớp 4 đến lớp 9), mỗi lứa tuổi có 35học sinh nam và 35 học sinh nữ
420 HS nam nữ trường Tiểu học, THCS Hưng Châu Hưng Nguyên Nghệ An tuổi từ 10 đến 15 (lớp 4 đến lớp 9), mỗi lứa tuổi có 35 họcsinh nam và 35 học sinh nữ
-Các HS được chọn là những HS phát triển bình thường, không có dị tậtbẩm sinh
Thời gian nghiên cứu: tháng 9/2007 - tháng 7/2008
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp điều tra
Điều tra qua các tài liệu lịch sử, khoa học, kinh tế, giáo dục của địaphương
2.2.2 Phương pháp chọn mẫu
+ Chọn mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên, không định hướng (trừ cácđối tượng có đặc điểm không bình thường, không đủ điều kiện và tiêu chuẩnnghiên cứu)
+ Chọn mẫu theo hệ thống: hệ thống trường, hệ thống tuổi, tương quanthích hợp giữa các độ tuổi, giữa các vùng có đặc trưng khác nhau về điều kiệnmôi trường, xã hội
+ Phương pháp tính tuổi: tuổi HS được tính bằng cách:
Trang 16(Lấy thời điểm nghiên cứu - năm sinh của các em) ± 6 tháng [5].
Ví dụ: để tính tuổi của một học sinh sinh vào tháng 03/1996 ta tính như sau:
Tháng 02/2008 - Tháng 03/1996 = 11 năm 11 tháng
Vì 11 tháng > 6 tháng (được tính là nửa tuổi nên làm tròn lên 1 năm Như vậy tuổi của em học sinh này là 12 tuổi
2.2.3 Phương pháp xác định các chỉ tiêu hình thái
+ Cân trọng lượng cơ thể: dùng cân y tế có độ chính xác đến 0,1 kg.+ Đo chiều cao đứng: đo bằng thước dây có vạch chia độ chính xác đến0,1 cm, học sinh ở tư thế đứng nghiêm Đo từ gót chân sát mặt đất lên đếnđỉnh đầu qua 4 điểm chạm thước: chẩm, lưng, mông, gót
+ Đo chiều cao ngồi: học ở tư thế ngồi thẳng người trên ghế, mắt nhìnphía trước, mông và vai trên mặt phẳng thẳng đứng theo sát mép ghế ngồi,bàn chân chạm vuông góc với cẳng chân, cẳng chân vuông góc với hai đầugối chụm Đo khoảng cách từ mặt ghế đến đỉnh đầu
+ Đo vòng ngực: học sinh ở tư thế đứng thẳng, mắt nhìn thẳng, đo theochu vi phẳng nằm ngang đi qua mũi ức, chú ý đối với nữ Đo khỉ thở ra hítvào và lấy trị số trung bình
+ Đo đường kính hông chậu: học sinh ở tư thế đứng thẳng, đo khoảngcách lớn nhất giữa 2 bờ ngoài của chậu hông
Trang 172.2.4 Phương pháp xác định các chỉ tiêu sinh lý
- Đếm nhịp tim bằng cách bắt mạch ở động mạch quay vùng cổ tay, ởtrạng thái yên tĩnh Đơn vị đo nhịp/phút
- Đo huyết áp ở trạng thái yên tĩnh bằng huyết áp kế thủy ngân theophương pháp Korotkov Đơn vị mmHg Học sinh ở tư thế nằm, tay phải đểthoải mái Cuốn bao hơi quanh cánh tay vừa phải Đặt ống nghe lên tay phải,
ở phía mép dưới của bao hơi (nằm trên động mạch cánh tay) Vặn chặt ốc ởbóp cao su, đặt áp kế đồng hồ trước mặt để dễ theo dõi Từ từ bóp hơi vào baocao su sao cho áp lực vuợt quá trị số huyết áp tối đa của người bình thường từ
150 - 160 mmHg Mở ốc để cho hơi ra từ từ, lắng nghe nhịp mạch đập qua tai,mắt theo dõi đồng hồ Lúc đầu ta không nghe thấy gì do áp lực trong bao hơilớn hơn huyết áp tối đa nên máu không lưu thông được Sau đó do áp lựctrong bao giảm dần, máu bắt đầu lưu thông Qua ống nghe ta bắt đầu nghethấy tiếng động đầu tiên, trên đồng hồ lúc này kim dao động kiểu con lắc, đọcchỉ tiêu kim chỉ trên áp kế đồng hồ, trị số lúc này ứng với huyết áp tối đa Áp
Trang 18lực trong bao hơi tiếp tục giảm, ta nghe thấy tiếng động giảm dần đến lúckhông nghe thấy nữa Đọc mức kim chỉ trên áp kế tại thời điểm này ứng vớihuyết áp tối thiểu.
- Các chỉ tiêu trí tuệ và sinh lý thông qua Test
+ Sử dụng bộ Test khuôn hình tiếp diễn của Raven để phân loại đánh giá nănglực trí tuệ, xếp loại theo phân định của Raven
+ Sử dụng phiếu điều tra Test để tìm hiểu chu kỳ kinh nguyệt của trẻ em nữ
- Định lượng hoocmôn sinh dục nam, nữ bằng phương pháp sinh hóa (ởViện Nội tiết)
2.2.5 Phương pháp dịch tễ học
Sử dụng phương pháp dịch tễ học mô tả kết hợp với dịch tễ học phântích để điều tra một số biểu hiện tâm sinh lý ở tuổi dậy thì như: tò mò, e thẹn,
dễ xúc động, hay quên, phân tán tư tưởng, …
2.2.6 Phương pháp xử lí số liệu
Số liệu thu được xử lý theo phương pháp thống kê trên máy vi tính theochương trình Microsoft Excel và chương trình EPI info 6.0 Xác định các trị
1
2
) (
với n ≥ 30 hoặc thay n = n -1nếu n < 30
2.3 Vài nét về khu vực nghiên cứu
2.3.1 Khu vực thành phố Vinh
Thành phố Vinh thuộc tỉnh Nghệ An, có diện tích 64,3 km2, dân số280.650 người Phía Bắc giáp huyện Nghi Lộc, phía Đông giáp sông Lam,phía Nam giáp huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh), phía Tây giáp huyện Hưng
Trang 19Nguyên Thành phố Vinh
có khí hậu đặc trưng củakhí hậu Bắc Trung Bộ: khíhậu khô nắng, ít mưa, mùa
hè thường có gió phơn TâyNam (gió Lào) Nhiệt độtrung bình 23,6 0C, độ ẩmtrung bình 85% Thành phốVinh là trung tâm văn hóachính trị của tỉnh Nghệ An
2.3.2 Khu vực xã Hưng Châu - Hưng Nguyên - Nghệ An
Hưng Châu là một xã
thuộc huyện Hưng Nguyên
-huyện đồng bằng thuộc tỉnh
Nghệ An Phía Bắc giáp xã
Hưng Phúc, phía Đông giáp
xã Hưng Nhân, Hưng Lợi,
phía Nam giáp xã Hưng
Khánh, phía Tây giáp xã
Hưng Phú và Hưng Thắng
Khí hậu khô nắng, ít mưa,
mùa hè thường có gió phơn
Tây Nam (gió Lào) Nhiệt
độ trung bình 23,5 0C, độ ẩm trung bình 86% Đời sống nhân dân chủ yếudựa vào nông nghiệp, ngư nghiệp
Trang 20CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
3.1 Các chỉ tiêu hình thái
3.1.1 Chiều cao đứng
Chiều cao đứng là một chỉ tiêu hình thái rất quan trọng phản ánh sựsinh trưởng và phát triển của một con người Chiều cao đứng của HS TP Vinh
và huyện Hưng Nguyên được thể hiện ở bảng và biểu đồ sau:
Bảng 3.1: Chiều cao đứng của học sinh từ 10 - 15 tuổi
Biểu đồ 3.1: Chiều cao đứng của học sinh từ 10 - 15 tuổi
Nhận xét: Bảng 3.1 và biểu đồ 3.1 cho thấy:
Trang 21Trẻ em ở giai đoạn 10 - 15 tuổi có sự tăng chiều cao rất mạnh Thựcvậy, đối với nam: chiều cao trung bình tăng từ 131,12 cm lúc 10 tuổi lên156,76 cm lúc 15 tuổi; tăng thêm 25,64 cm; bình quân mỗi năm tăng 5,13 cm.Đối với nữ: chiều cao trung bình tăng từ 131,05 cm lúc 10 tuổi lên 151,45 cmlúc 15 tuổi; tăng thêm 20,4 cm; bình quân mỗi năm tăng 4,08 cm Điều nàyhoàn toàn phù hợp với lí thuyết về sự phát triển theo giai đoạn, rằng giai đoạn
10 - 15 tuổi, sự tăng trưởng chiều cao là mạnh mẽ nhất Giai đoạn 10 - 15 tuổi
là giai đoạn dậy thì, dưới tác dụng của các hoocmôn sinh trưởng, hệ xươngphát triển mạnh, đặc biệt là các xương ống dài ra rất nhanh làm cho chiều caotăng nhanh
Tốc độ tăng chiều cao không đều theo tuổi và giới Ví dụ: từ 11 - 12tuổi, nam tăng 4,47 cm còn nữ tăng 5,95 cm; từ 14 - 15 tuổi, nam tăng 6,13
cm còn nữ tăng 2,58 cm Tốc độ này không đều do lượng hoocmôn sinhtrưởng mà các tuyến nội tiết tiết ra ở các lứa tuổi và giới tính khác nhau làkhác nhau
Thời điểm mà tốc độ tăng chiều cao mạnh mẽ nhất ở 2 giới là khácnhau: ở nữ là lứa tuổi 11 - 12 (tăng 4,95 cm), 12 - 13 (tăng 6,03 cm), ở nam làlứa tuổi 13 - 14 (tăng 5,62 cm), 14 - 15 (tăng 6,13 cm) Ở lứa tuổi 10 - 11, sựphát triển của học sinh nam và học sinh nữ chưa có nhiều sai khác nên chiềucao của 2 giới nhìn chung là xấp xỉ nhau Lứa tuổi 12 - 13, sự tăng trưởngchiều cao ở nữ diễn ra mạnh mẽ và ở tuổi 13, nữ cao hơn nam khoảng 1,01
cm Từ tuổi 14 trở đi, sự tăng trưởng chiều cao của nữ chậm lại Lứa tuổi 12
-13, nam có tăng trưởng chiều cao nhưng so với nữ không mạnh mẽ bằng Từtuổi 14, chiều cao của nam lại tăng nhanh và đến tuổi 15 nam đã cao hơn nữkhoảng 5,31 cm, sự sai khác này có ý nghĩa thống kê với P < 0,05 Có hiệntượng này vì nữ dậy thì trước nên thời điểm tăng chiều cao mạnh mẽ cũng xảy
ra trước
Trang 22Bảng 3.2: So sánh chiều cao đứng của học sinh thành phố Vinh
và huyện Hưng Nguyên
Đơn vị: cm
Giới
tính Tuổi
TP Vinh (1)
Hưng Nguyên (2)
Chênh lệch P (1-2)
Trang 23b Nữ Biểu đồ 3.2: So sánh chiều cao đứng của học sinh thành phố Vinh
và huyện Hưng Nguyên Nhận xét: Bảng 3.2 và biểu đồ 3.2 cho thấy:
Chiều cao đứng của học sinh thành phố Vinh và huyện Hưng Nguyênlứa tuổi 10 - 15 cũng tuân theo những quy luật phát triển chiều cao của lứa
Trang 24tuổi 10 - 15 nói chung Ví dụ: chiều cao đứng của nam và nữ học sinh thànhphố và nông thôn đều tăng liên tục và không đồng đều; sự tăng chiều caomạnh mẽ nhất của nam học sinh đều ở tuổi 14 - 15: học sinh thành phố tăng6,16 cm, học sinh nông thôn tăng 6,10 cm.
Sự tăng chiều cao của học sinh thành phố mạnh mẽ hơn học sinh nôngthôn Học sinh nam thành phố tăng từ 132,25 cm lúc 10 tuổi lên 158,32 cmlúc 15 tuổi; bình quân mỗi năm tăng 5,21 cm Học sinh nam nông thôn tăng từ129,99 cm lúc 10 tuổi lên 155,20 cm lúc 15 tuổi; bình quân mỗi năm tăng5,04 cm Học sinh nữ thành phố tăng từ 132,01 cm lúc 10 tuổi lên 153,24 cmlúc 15 tuổi; bình quân mỗi năm tăng 4,25 cm Học sinh nữ nông thôn tăng từ130,09 cm lúc 10 tuổi lên 149,66 cm lúc 15 tuổi; bình quân mỗi năm tăng3,31 cm
Ở mỗi lứa tuổi, chiều cao của học sinh thành phố đều lớn hơn học sinhnông thôn khoảng 1 - 4 cm, sự khác nhau này có ý nghĩa thống kê với P <0,05 Học sinh thành phố có điều kiện sống đầy đủ hơn, ăn uống giàu chấtdinh dưỡng hơn, được chăm sóc sức khỏe tốt hơn nên cao hơn học sinh nôngthôn Mặt khác, học sinh nông thôn do phải mang vác, gánh nặng nhiều nênchiều cao cũng giảm đi so với học sinh thành phố Ở độ tuổi 15, sự khác nhau
về chiều cao rõ rệt nhất: nam thành phố cao hơn nam nông thôn 3,12 cm; nữthành phố cao hơn nữ nông thôn 3,58 cm
Trang 25Bảng 3.3: So sánh chiều cao đứng của học sinh vùng nghiên cứu
Trang 26b Nữ
Biểu đồ 3.3: So sánh chiều cao đứng của học sinh vùng nghiên cứu
với HSSH 1975 Nhận xét: Bảng 3.3 và biểu đồ 3.3 cho thấy:
Trang 27Kết quả nghiên cứu của chúng tôi và HSSH người Việt Nam 1975 [5]
Tốc độ tăng chiều cao không đều theo tuổi và giới Học sinh vùngnghiên cứu ở tuổi 11 - 12 nam tăng 2,53 cm, nữ tăng 3,87 cm trong khi ở tuổi
14 - 15 nam tăng 8,87 cm, nữ tăng 3,9 cm HSSH người Việt Nam 1975 ởtuổi 12 - 13 nam tăng 5,45cm, nữ tăng 5,33 cm; ở tuổi 14 - 15 nam tăng 7,79
cm, nữ tăng 3,37 cm
Thời điểm tăng chiều cao mạnh nhất ở học sinh nam đều là tuổi 14 15: học sinh Nghệ An tăng 6,13 cm, HSSH người Việt Nam 1975 tăng 7,79cm
-Như vậy là sự phát triển chiều cao đứng của học sinh 10 - 15 tuổi ởNghệ An cũng tuân theo những quy luật phát triển chung
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi và kết quả nghiên cứu HSSH ngườiViệt Nam 1975 có điểm khác: chiều cao đứng trung bình của học sinh Nghệ
An tại thời điểm năm 2008 cao hơn HSSH người Việt Nam 1975 khoảng 2 - 6
cm Sự sai khác này có ý nghĩa thống kê với P < 0,01 Như vậy là các mặtkinh tế xã hội của đất nước ngày càng phát triển, an ninh chính trị ngày càng
ổn định, đời sống nhân dân ngày càng cao đã góp phần nâng cao tầm vóc củangười Việt Nam
3.1.2 Cân nặng
Trang 28Cân nặng là một chỉ tiêu hình thái rất quan trọng phản ánh sự sinhtrưởng của một cá thể Cân nặng của nam và nữ ở các lứa tuổi nghiên cứu trênđịa bàn TP Vinh và huyện Hưng Nguyên được thể hiện ở bảng và biểu đồ sau:
Bảng 3.4: Cân nặng của học sinh từ 10 - 15 tuổi Tuổi
kg
Tuổi
Nam Nữ
Biểu đồ 3.4: Cân nặng của học sinh từ 10 - 15 tuổi
Nhận xét: Bảng 3.4 và biểu đồ 3.4 cho thấy:
Trang 29Trẻ em ở giai đoạn 10 - 15 tuổi có sự tăng cân rất mạnh Thực vậy, đốivới nam: cân nặng trung bình tăng từ 27,33 kg lúc 10 tuổi lên 47,11 kg lúc 15tuổi; tăng thêm 19,78 kg; bình quân mỗi năm tăng 3,96 kg Đối với nữ: cânnặng trung bình tăng từ 26,78 kg lúc 10 tuổi lên 43,21 kg lúc 15 tuổi; tăngthêm 16,43 kg; bình quân mỗi năm tăng 3,29 kg Giai đoạn 10 - 15 tuổi là giaiđoạn dậy thì, dưới tác dụng của các hoocmôn sinh trưởng, cơ thể tăng cườngtổng hợp các chất như prôtêin, lipit,… làm cân nặng tăng nhanh Học sinhnam hình dạng trở nên nở nang hơn vì bả vai lớn, các bắp thịt to ra; các chỗ
dữ trữ mỡ thường là ở mặt, lồng ngực, phần trên của bụng Học sinh nữ tíchtrữ mỡ chủ yếu ở vú, đùi, phần dưới của bụng; các bắp thịt tuy có phát triểnhơn nhưng không lớn như nam Càng lớn, sự khác nhau về hình dáng của họcsinh nam và nữ càng rõ rệt, càng hoàn thiện các đặc điểm đặc trưng của giới
Tốc độ tăng cân không đều theo tuổi và giới Ví dụ: từ 10 - 11 tuổi,nam tăng 2,85 kg còn nữ tăng 3,07 kg; từ 14 - 15 tuổi, nam tăng 5,06 kg còn
nữ tăng 2,64 kg Theo chúng tôi, tốc độ này không đều do lượng hoocmônsinh trưởng mà các tuyến nội tiết tiết ra ở các lứa tuổi và giới tính khác nhau
là khác nhau
Thời điểm mà tốc độ tăng cân mạnh mẽ nhất ở 2 giới là khác nhau: ở
nữ là lứa tuổi 12 - 13 (tăng 4,91 kg), ở nam là lứa tuổi 14 - 15 (tăng 5,06 kg)
Ở lứa tuổi 10 - 11, sự phát triển của học sinh nam và học sinh nữ chưa cónhiều sai khác nên cân nặng của hai giới nhìn chung là xấp xỉ nhau Lứa tuổi
12 - 13, nữ dậy thì trước nên sự tăng cân diễn ra mạnh mẽ và ở tuổi 13, nữnặng hơn nam khoảng 0,16 kg, sự khác nhau này không có ý nghĩa thống kêvới P > 0,05 Từ tuổi 14 trở đi, sự tăng cân của nữ chậm lại Lứa tuổi 12 - 13,nam có tăng cân nhưng so với nữ không mạnh mẽ bằng Từ tuổi 13, cân nặngcủa nam luôn tăng nhanh, từ tuổi 14 nam lại nặng hơn nữ và đến tuổi 15 nam
đã nặng hơn nữ đến 4,9 kg; sự khác nhau này có ý nghĩa thống kê với P <
Trang 300,05 Có hiện tượng này vì nữ dậy thì trước nên thời điểm tăng cân mạnh mẽcũng xảy ra trước.
Bảng 3.5: So sánh cân nặng của học sinh thành phố Vinh
và huyện Hưng Nguyên
Đơn vị: kg
Giới
tính Tuổi
TP Vinh (1)
Hưng Nguyên (2)
Chênh lệch P (1-2)
Trang 31b Nữ Biểu đồ 3.5: So sánh cân nặng của học sinh thành phố Vinh
và huyện Hưng Nguyên
Trang 32Nhận xét: Bảng 3.5 và biểu đồ 3.5 cho thấy:
Sự tăng trưởng cân nặng của học sinh thành phố và học sinh nông thônlứa tuổi 10 - 15 cũng tuân theo những quy luật phát triển cân nặng của lứatuổi 10 - 15 nói chung Ví dụ: cân nặng của nam và nữ học sinh thành phố vànông thôn đều tăng liên tục và không đồng đều, sự tăng cân mạnh mẽ nhấtcủa nam học sinh đều ở tuổi 14 - 15: học sinh thành phố tăng 5,17 kg, họcsinh nông thôn tăng 4,95 kg
Sự tăng cân nặng của học sinh thành phố mạnh mẽ hơn học sinh nôngthôn Học sinh nam thành phố tăng từ 28,21 kg lúc 10 tuổi lên 48,24 kg lúc 15tuổi, bình quân mỗi năm tăng 4,01 kg Học sinh nam nông thôn tăng từ 26,45
kg lúc 10 tuổi lên 45,98 kg lúc 15 tuổi, bình quân mỗi năm tăng 3,91 kg Họcsinh nữ thành phố tăng từ 27,32 kg lúc 10 tuổi lên 44,19 kg lúc 15 tuổi, bìnhquân mỗi năm tăng 3,37 kg Học sinh nữ nông thôn tăng từ 26,24 kg lúc 10tuổi lên 42,23 kg lúc 15 tuổi, bình quân mỗi năm tăng 3,19 kg
Ở mỗi lứa tuổi, cân nặng của học sinh thành phố đều lớn hơn học sinhnông thôn khoảng 1 - 2 kg chứng tỏ điều kiện sống đã ảnh hưởng rất lớn đến
sự phát triển cân nặng cơ thể Học sinh thành phố có điều kiện sống đầy đủhơn, ăn uống giàu chất dinh dưỡng hơn, được chăm sóc sức khỏe tốt hơn nênnặng hơn học sinh nông thôn
Trang 33Bảng 3.6: So sánh cân nặng của học sinh vùng nghiên cứu với HSSH 1975
Trang 34b Nữ Biểu đồ 3.6: So sánh cân nặng của học sinh vùng nghiên cứu
với HSSH 1975
Trang 35Nhận xét: Bảng 3.6 và biểu đồ 3.6 cho thấy:
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi và HSSH 1975 có một số điểmchung:
Cân nặng trung bình của học sinh đều tăng liên tục từ 10 - 15 tuổi.Tốc độ tăng cân không đều theo tuổi và giới HS vùng nghiên cứu ởtuổi 14 - 15 nam 5,06 kg, nữ tăng 3,9 kg Hằng số sinh học người Việt Nam ởtuổi 12 - 13 nam tăng 2,26 kg, nữ tăng 2,42 kg; ở tuổi 14 - 15 nam tăng 5,07
3.1.3 Chiều cao ngồi
Bảng 3.7: Chiều cao ngồi của học sinh từ 10 - 15 tuổi
Trang 36Biểu đồ 3.7: Chiều cao ngồi của học sinh từ 10 - 15 tuổi
Nhận xét: Bảng 3.7 và biểu đồ 3.7 cho thấy:
Chiều cao ngồi của học sinh tăng liên tục từ 10 - 15 tuổi Đối với nam:chiều cao ngồi trung bình tăng từ 68,32 cm lúc 10 tuổi lên 80,35 cm lúc 15tuổi; tăng thêm 12,03 cm; bình quân mỗi năm tăng 2,41 cm Đối với nữ: chiềucao ngồi trung bình tăng từ 67,75 cm lúc 10 tuổi lên 78,27 cm lúc 15 tuổi;tăng thêm 10,48 cm; bình quân mỗi năm tăng 2.1 cm Giai đoạn này là giaiđoạn dậy thì, cùng với chiều cao đứng, chiều cao ngồi cũng tăng lên mạnh
mẽ
Tốc độ tăng chiều cao ngồi không đều theo tuổi và giới Ví dụ: từ 11
-12 tuổi, nam tăng 2,23 cm còn nữ tăng 2,63 cm.; từ 14 - 15 tuổi, nam tăng3,02 cm còn nữ tăng 1,69 cm Tốc độ này không đều do lượng hoocmôn sinhtrưởng mà các tuyến nội tiết tiết ra ở các lứa tuổi và giới tính khác nhau làkhác nhau
Thời điểm mà tốc độ tăng chiều cao ngồi mạnh mẽ nhất ở 2 giới là khácnhau : ở nữ là lứa tuổi 12 - 13 (tăng 2,69 cm), ở nam là lứa tuổi 14 - 15 (tăng
Trang 373,02 cm) Có hiện tượng này vì nữ dậy thì trước nên thời điểm tăng chiều caomạnh mẽ cũng xảy ra trước.
Bảng 3.8: So sánh chiều cao ngồi của học sinh thành phố Vinh
và huyện Hưng Nguyên
Đơn vị: cm
Giới
tính Tuổi
TP Vinh (1)
Hưng Nguyên
(2)
Chênh lệch P (1-2)
Trang 38b Nữ Biểu đồ 3.8: So sánh chiều cao ngồi của học sinh thành phố Vinh
và huyện Hưng Nguyên
Trang 39Nhận xét: Bảng 3.8 và biểu đồ 3.8 cho thấy:
Chiều cao ngồi của học sinh thành phố và nông thôn lứa tuổi 10 - 15cũng tuân theo những quy luật phát triển chiều cao ngồi của lứa tuổi 10 - 15nói chung Ví dụ: chiều cao ngồi của nam và nữ học sinh thành phố và nôngthôn đều tăng liên tục và không đồng đều theo tuổi và giới tính
Ở mỗi lứa tuổi, chiều cao ngồi của học sinh thành phố đều lớn hơn họcsinh nông thôn khoảng 0,5 - 2 cm chứng tỏ điều kiện sống đã ảnh hưởng rấtlớn đến sự phát triển chiều cao Học sinh thành phố có điều kiện sống đầy đủhơn, ăn uống giàu chất dinh dưỡng hơn, được chăm sóc sức khỏe tốt hơn, …nên cao hơn học sinh nông thôn
Bảng 3.9: So sánh chiều cao ngồi của học sinh vùng nghiên cứu
với HSSH 1975 Giới
Trang 40b Nữ Biểu đồ 3.9: So sánh chiều cao đứng của học sinh vùng nghiên cứu với
HSSH 1975