Qua bao thế kỷ chống chọi với thiên tai, thú giữ, giặc dã để tồn tại vàphát triển, dân c Nghi Lộc ngày càng đông đúc và tiếp nhận nhiều nguồn dân c từ nơi khác về khai khẩn đất hoang, lậ
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học:
TS TRẦN VĂN THỨC
VINH - 2010
Trang 3Để hoàn thành bản bản luận văn này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
tới TS Trần Văn Thức - Ngời đã rất tận tình giúp đỡ, hớng dẫn tôi kể từ khi
nhận đề tài cho đến khi luận văn đợc hoàn thành Tuy nhiên, chắc rằng luận văn sẽ không thể tránh khỏi những thiếu sót rất mong nhận đợc sự giúp đỡ từ HĐKH, tập thể CBGD Khoa Đào tạo sau Đại học, Khoa Lịch sử - Trờng Đại học Vinh và các nhà Khoa học trờng Đại học s phạm Hà Nội.
Nhân dịp này, chúng tôi cũng xin trân trọng cảm ơn, CBGD Khoa đào tạo Sau Đại học, Trờng Đại học Vinh, đã tạo điều kiện trong suốt quá trình học tập, rèn luyện, tu dỡng tại Khoa và Nhà trờng.
Lời cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với các bạn bè, gia đình và những nguời thân thiết đã luôn động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong thời gian học tập vừa qua.
Vinh, tháng 12 năm 2010
Tác giả
Nguyễn Thị Hơng
Trang 4Mở đầu 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phơng pháp nghiên cứu 4
6 Giả thuyết khoa học 5
7 Cấu trúc của luận văn 5
Nội Dung 6
Chơng 1 Nghi Lộc trong phong trào yêu nớc chống Pháp cuối thế kỷ XIX 6
1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên- xã hội 6
1.1.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên 6
1.1.2 Vài nét về điều kiện xã hội 9
1.1.3 Truyền thống yêu nớc của nhân dân Nghi Lộc 16
1.2 Nghi Lộc trong phong trào chống Pháp cuối thế kỷ XIX (1885-1896) 22
Chơng 2 Nghi Lộc trong phong trào yêu nớc và cách mạng 30 năm đầu thế kỷ XX 28
2.1 Phong trào đấu tranh của nhân dân Nghi Lộc trong những năm 1900 - 1918 28
2.2 Phong trào cách mạng Nghi Lộc dới ảnh hởng của khuynh hớng vô sản 34
Trang 5đảng thời kỳ 1930-1945 51
3.1 Nghi Lộc trong cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930-1931 513.2 Nghi Lộc trong trong giai đoạn cách mạng 1932-1939 713.3 Nghi Lộc trong cuộc vận động cách mạng giải phóng dân tộc 1939-
1945 82
Kết luận 92 Tài Liệu Tham Khảo 95 Phụ lục
Trang 6BCH §B HTC : Ban chÊp hµnh §¶ng bé huyÖn Nghi Léc BCHVHNT : Ban chÊp hµnh v¨n hãa nghÖ thuËt
THPT : Trung häc phæ th«ng
UBND : Uû ban nh©n d©n
VHNT : V¨n hãa nghÖ thuËt
VNDGNA : V¨n nghÖ d©n gian NghÖ An
Trang 7Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Sau sự thất bại của phong trào Cần Vơng đến khi Đảng Cộng sản ViệtNam ra đời, các thế hệ trí thức Tây học, Nho học đă tiếp tục có nhiều đónggóp trong việc khởi xớng các phong trào yêu nớc theo nhiều xu hớng khácnhau Nghiên cứu về đóng góp của phong trào yêu nớc giải phóng dân tộc củaNghi Lộc trong khoảng thời gian này chính là góp phần nghiên cứu vào sự
đóng góp của phong trào yêu nớc Việt Nam dới những đòi hỏi mới của cáchmạng Việt Nam đầu thế kỷ XX Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộcdới sự lănh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam theo cơng lĩnh chính trị do Đảngvạch ra trong hội nghị thành lập Đảng Luận cơng tháng 10 năm 1930, đặcbiệt trong phong trào cách mạng 1930-1931 và Xô Viết Nghệ Tĩnh, cuộc vận
động 1936-1939, một lần nữa phong trào giải phóng dân tộc đợc phát huy Đềtài dành một nội dung hết sức quan trọng để nghiên cứu đánh giá về những
đóng góp của Nghi Lộc trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc do
Đảng lãnh đạo Từ góc độ đó đề tài sẽ góp phần vào việc nghiên cứu những
đóng góp to lớn của những tầng lớp nhân dân trong sự nghiệp giải phóng dântộc dới ngọn cờ của Đảng
Nghi Lộc là nơi đã trở thành một trong những tuyến phòng thủ chiến
l-ợc của đất nớc Hầu nh không có cuộc chiến tranh nào từ phía Bắc vào, phíaNam ra vùng đất này mỗi khi chiến tranh xảy ra nhân dân ở đây không nhữngchịu đựng hy sinh tổn thất về ngời và của mà còn đóng góp tích cực vào chiếnthắng của dân tộc Ngoài những đặc điểm của phong trào đấu tranh yêu nớcViệt Nam đầu thế kỷ XX đến cách mạng Tháng 8 bùng nổ và thắng lợi, phongtrào đấu tranh giải phóng dân tộc của Nghệ An còn có những nét riêng khá
điển hình Nghiên cứu về phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của NghiLộc từ 1885 đến 1945 tác giả hy vọng sẽ góp phần vào việc nghiên cứu đánhgiá về vị trí, vai trò của nhân dân Nghệ An trong sự nghiệp chống giặc ngoạixâm đầy hy sinh mất mát ấy, cho đến nay việc nghiên cú về đóng góp đấutranh giải phóng dân tộc của Nghệ An nói chung và phong trào đấu tranh giảiphóng dân tộc của Nghi Lộc nói riêng trong lịch sử dựng nớc và giữ nớc củadân tộc từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945 cha nhiều Đề tài này hy vọng sẽ làcông trình nghiên cứu đầu tiên một cách có hệ thống về đóng góp của phong
Trang 8trào đấu tranh giải phóng dân tộc của Nghi Lộc từ 1885 đến 1945 trong con ờng chống giặc ngoại xâm.
đ-Đề tài đã tập hợp t liệu khá phong phú và hy vọng sẽ đa ra một số đềxuất hũ ích về việc tiếp tục triển khai một cách có hệ thống việc nghiên cứu vềphong trào đấu tranh giải phóng Nghi Lộc nói riêng, Nghệ An nói chung đốivới lịch sử dân tộc trớc mắt cũng nh lâu dài Đây là một vấn đề hết sức quantrọng đối với Nghi Lộc, Nghệ An và cả nớc nhất là trong thời kỳ công nhgiệphóa hiện đại hóa, với ý thức yêu nớc là tài sản quý trong công cuộc đấu tranhgiải phóng dân tộc
Vì những lý do trên mà tôi quyết định chọn đề tài “Nghi Lộc trongphong trào đấu tranh giải phóng dân tộc từ 1885-1945” để làm đối tợngnghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Cùng với thời gian thì vai trò Nghi Lộc trong công cuộc bảo vệ tổ quốc
đã đợc trình bày sáng tỏ, đậm nét trong kết quả nghiên cứu của giới sử học
Viết về thời gian này phải kể đến những cuốn sách tiêu biều nh ;
“Những vì sao đất nớc” của (Văn Tâm, NXB Thanh niên, Hà Nội 1989), “BanNghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ơng - Văn kiện Đảng 1930-1945” (Nhà xuấtbản Hà Nội 1977) Đại cơng lịch sử Việt Nam (tập 2) GS.Đinh Xuân Lâm chủbiên, NXB Giáo dục 2001
Bên cạnh đó còn có một số nhà nghiên cứu khoa học cũng đã đề cập
đến phong trào đấu tranh ở Nghệ Tĩnh vào giai đoạn này nh tác phẩm “Lịch sửNghệ Tĩnh” (tập 1) NXB Nghệ Tĩnh 1984 Danh nhân nghệ Tĩnh (4 tập) tập 1tiêu biểu nh nhân vật Nguyễn Thức Đờng (Nghi Trờng, Nghi Lộc) HoàngPhan Thái, (tập 2) có Nguyễn Xí, văn phòng UBND Nghê Tĩnh 1900 “DanhNhân Nghệ An” (Tập 1) NXB Nghệ An 1998 “Lịch sử Đảng bộ Nghệ An”(tập 1) “Lịch sử Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam Nghệ Tĩnh” (tập 1) “Vănhóa các dòng họ ở Nghệ An” (ký yếu hội thảo khoa học) “Xô Viết NghệTĩnh” (NXB Nghệ An 2000), “Nhà lao vinh” (Ban Tuyên giáo tĩnh ủy Nghệ
An 2005) “Lịch sử Đảng bộ một số huyện xã ”
Đặc biệt, Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng bộ huyện Nghi Lộc đã xuất hiệncuốn “Lịch sử Đảng bộ đảng cộng sản Việt Nam huyện Nghi Lộc ” (tập 1)NXB Nghệ An 1991.Và nhiều tác phẩm đã đề cập đến phong trào đấu tranh
Trang 9giải phóng dân tộc của Nghi Lộc nh “Nghi Lộc đất văn hiến tỏa rạng” ĐàoTam Tĩnh xuất bản 2008 (tiêu biểu nh Nguyễn Xí, Phạm Nguyễn Du, NguyễnHửu Chỉnh, Nguyễn Thức Tự, Nguyễn Năng Tĩnh, Hoàng Phan Thái, ĐặngThái Thân, Hoài Thanh Với 157 nhân vật phong trào Đông Du, tiêu biểu
nh Trần Hữu Tông, Lê Khanh, Trần Hữu Lực.Hoàng Trọng Mậu “Nghệ Annhững tấm gơng Cộng Sản ” (2 tập) UBND Nghệ An 2005 (tiêu biểu nh ĐặngThái Thuyến Hoàng trọng Trì, Hoàng Văn Tâm,Trơng Văn Định.) “Bảo tàngXô Viết Nghệ Tĩnh ” (NXB 2005)
Đồng thời có rất nhiều tạp chí và bài viết nh “Tạp chí Văn hóa NghệAn” số 14/9/2005 Cuộc khởi nghĩa Giáp Tuất của Trần Tấn và Đặng NhMai, nghiên cứu lịch sử của Nguyễn Quang Hồng và Hoàng Văn Lân Tuynhiên còn có rất nhiều tài liệu nữa tôi sẽ tiếp tục tìm và nghiên cứu mộtcách đầy đủ và phong phú hơn.Vậy trên cơ sở kế thừa những thành quảcủa các nhà nghiên cứu đồng thời dựa vào các nguồn tài liệu l u trữ tại cáctrung tâm lu trữu Quốc gia Th viện Trung ơng Tỉnh, địa phơng, th việncác trờng Đại học đặc biệt các tài liệu su tầm tại các địa phơng
Tuy nhiên khi nghiên cứu về phong trào đấu tranh giải phóng dân tộccủa Nghi Lộc trong giai đoạn 1885-1945 thì trong công cuộc nghiên cứu mớichỉ tập trung đánh giá một cách tổng quát chung chứ cha có một công trìnhnào nghiên cứu một cách cụ thể có hệ thống về vai trò của Nghi Lộc, trongphong trào yêu nứơc và nhiều vấn đề lịch sử đặt ra trong giai đoạn này vẫn chalàm sáng tỏ Với đề tài này tôi hy vọng sẽ làm sáng tỏ hơn về các chiến sỹ yêunớc cùng với nhân dân Nghi Lộc trong phong trào đấu tranh giải phóng dântộc
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài luận văn tập trung nghiên cứu các nội dung cơ bản sau:
- Nghi Lộc trong phong trào yêu nớc chống Pháp cuối thế kỷ XIX
- Nghi Lộc trong phong trào yêu nớc và cách mạng 30 năm đầu thế kỷ XX
- Nghi Lộc trong phong trào giải phóng dân tộc dới sự lãnh đạo của
Đảng 1930-1945
4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài mục đích nghiên cứu những chiến sỹ cách mạng cùng với nhândân Nghi Lộc trong phong trào giải phóng dân tộc
Trang 10Trên cơ sở những tài liệu hiện có chúng tôi đã đặt ra phạm vi nghiêncứu về Nghi Lộc trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc thời kỳ1885- 1945
5 Phơng pháp nghiên cứu
Đọc, thống kê tài liệu, xử lý tài liệu
Điền dã, khảo sát hiện trờng lịch sử, phỏng vấn, điều tra, bổ sung t liệu
Sử dụng phơng pháp thống kê, phơng pháp lo gíc, phơng pháp lịch sử vàphơng pháp liên ngành
Phơng pháp luận sử học Macxit và t tởng Hồ Chí Minh là sợi chỉ đỏxuyên suốt quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài
6 Giả thuyết khoa học
Hệ thống t liệu liên quan đến nội dung đề tài để tiện nghiên cứu so
sánh đối chiếu
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện có hệ thống
đóng góp của nhân dân Nghi Lộc trong sự nghiệp đấu tranh chống giặc ngoạixâm từ đầu thế kỷ XX đến khởi nghĩa tháng 8 /1945
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu nghiêncứu, biên soạn lịch sử địa phơng
Là tài liệu dùng để giảng dạy lịch sử địa phơng trong các trờng trunghọc cơ sở, THPT
Giáo dục tinh thần yêu nớc, lòng tự hào đối với quê hơng, cho thế hệtrẻ
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chơng:
Chơng 1 Nghi Lộc trong phong trào yêu nớc chống Pháp cuối thế kỷ
XIXChơng 2 Nghi Lộc trong phong trào yêu nớc và cách mạng 30 năm
đầu thế kỷ XX Chơng 3 Nghi Lộc trong phong trào cách mạng giải phóng dân tộc
dới sự lãnh đạo của đảng thời kỳ 1930-1945
Trang 11Nội DungChơng 1
Nghi Lộc trong phong trào yêu nớc chống Pháp
cuối thế kỷ XIX
1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên- xã hội
1.1.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên
Nghi Lộc là huyện đồng bằng ven biển, nằm trên tọa độ từ 180 40
đến180 55 vĩ độ Bắc, từ 1050 28 đến 1050 45 kinh độ Đông; Phía Bắc giáphuyện Diễn Châu và Yên Thành, phía Nam giáp thành phố Vinh, Huyện HngNguyên, Nam Đàn; phía Đông giáp biển Đông, thị xã Cửa Lò và huyện NghiXuân (Hà Tĩnh), phía Tây giáp huyện Đô Lơng Trong quá trình lịch sử, NghiLộc đã phải trải qua một quá trình khó khăn, cũng nh các vùng ven biển củaquốc gia Việt Nam thuở trớc, cách đây khoảng 18 ngàn năm mực nớc biểnthấp khoảng 120m so với ngày nay, con ngời có thể đi bộ đến Hải Nam -Trung Quốc, đến Hoàng Sa,Trờng Sa, xuống tận Inđônêsia Cách ngày naykhoảng 11 năm, mực nớc biển dâng lên và sau đó lùi thấp từ 10-15 m so vớimức bình thờng Cách 5 ngàn năm thì nớc biển dâng cao so với mức đã có 4-5m và lại dần thấp xuống và ổn định nh ngày nay
Nằm trong địa hình đó đã tạo cho vùng đất phía đông Nghi Lộc là kếtquả của biển tiến, biển lùi tạo nên những hòn núi và bãi bồi cồn cát, xen lẫnnhững lạch nớc Trên các bãi bồi, dân c đợc hình thành và khai phá đất đaitrồng trọt, chăn nuôi phát triển các nghề để sinh tồn, xây dựng cuộc sống PhíaTây và Tây Bắc nhiều đồi núi cao có độ dốc lớn bởi sự chia cắt khe suối, hồ
đầm và những vùng đồng bằng phù sa đan xen tơng đối rộng Địa hình NghiLộc đa dạng, thấp dần từ Tây sang Đông, tài nguyên đất có thể chia làm 2vùng lớn
Vùng bán sơn địa có các loại đất phù sa có nhiều giải đất này đợc biến
đổi là vùng đất trồng lúa, đất dốc tụ sử dụng trồng màu, đất này xói mòn chủyếu trồng rừng bảo vệ đất và môi trờng Đất ở phía Đông vùng trung tâm,
Đông nam có các loại đất mặn phân bố ở vùng hạ lu sông cấm, qua cải tạodùng trồng lúa, nuôi trồng thủy sản; đất phù sa không đợc bồi sử dụng trồngrau màu, cây công nghiệp nh lạc, ngô, vừng Đất cồn cát dùng trồng cây chắngió, cát thì cải tạo trồng lạc, vừng đậụ
Trang 12ở phía Bắc, phía Tây và Tây Nam từ tả ngản sông Cấm trở lên là cácnúi, đồi kế tiếp nhau suốt địa giới và các huyện Diễn Châu, Yên Thành, Đô L-
ơng Nam Đàn và một phần hữu ngạn Sông Cấm lấn sâu lan rộng dọc biểnphía Bắc Cửu Lò Dãy Đại Vạc từ Nghi Văn, phía Tây Bắc huyện chạy dọctheo địa giới huyện yên Thành Diễn Châu về dãy núi Voi hữu ngạn sôngCấm, trong dãy Đại vạc có động Thần Vũ (Nghi Hng) cao 491m so với mức n-
ớc biển Phía Tây Nam có dãy núi Đại Huệ từ Nghi Kiều chạy dài đếnTamTòa Thánh Mậu xã Nghi Công Vành đai vị trí núi, đồi thuận lợi cho côngtrình quốc phòng, tạo thế phòng thủ chiến lợc liên hoàn của huyện
Sông ngòi, Sông Cấm dài 47km, bắt nguồn từ dãy núi Đại Huệ, phầnchạy qua Nghi Lộc 15km từ Tây Nam đến Đông Bắc đổ ra Cửa Lò Sông Lam
có 6km chảy qua phía Đông Nam huyện rồi xuôi về Cửa Hôị Kênh nhà Lê ởphía Bắc từ Diễn Châu chạy về sông Cấm, ngoài ra còn có sông Rào Trờng bắtnguồn từ các xã phía Đông của huyện rồi đổ ra hạ lu sông Cấm Các xã phíaTây huyện đều có những con sông ngòi nhỏ và ngắn chủ yếu là tiêu nớc Hệthống sông ngòi phục vụ tới tiêu và vận tải đờng thủy
Giao thông, Nghi Lộc có hệ thống giao thông đờng bộ, đờng thủy, đờngsắt rất thuận lợi Các tuyến giao thông đều là những huyết mạch chạy qua địabàn nh Quốc Lộ 1A (20km), đờng sắt Bắc - Nam (20km), tỉnh lộ 46 (19km),
534 (28km) phía Nam là sân bay Vinh, có sông Lam, sông Cấm, kênh nhà Lê
Đặc biệt có 14km bờ biển với hai cửa sông là Cửa Lò và Cửa Hội Hai cửasông này có vị trí chiến lợc quốc gia quan trọng về quân sự và kinh tế Từ thế
kỷ X, quốc gia Đại Việt đã quan tâm xây dựng, cũng cố vững chắc tuyếnphòng thủ đất nớc ở hai cửa sông này Dới triều Lê, con trai trởng của cờngquốc công Nguyễn Xí là Thái úy Nguyễn S Hồi đợc giao trấn giử 12 cửa biểnphía Nam nớc Đai Việt, đã lấy vùng đất Cửa Lò, Cửa Hội xây dựng đại bảndoanh thủy quân Gần 250 năm cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn (Đàng trong
- Đàng ngoài) trên vùng biển Cửa Hội, Cửa Lò đã diễn ra hàng trăm cuộcchiến thủy ác liệt Tháng 6/1786, khi tiến quân ra Thăng Long tiêu diệt họTrịnh đoàn thuyền chiến của Nguyễn Hữu Chỉnh đã vào Cửa Hội và dừngchân ở vùng này tuyến thêm quân tiến ra Bắc và những năm sau khi vào trấngiữ Nghệ An, ông đã xây dựng doanh trại luyện quân trên vùng đất này Từ
1786 đến 1789 đã có ít nhất 4 lần quân Tây Sơn đă qua lại cửa biển Hội Thốngtrên đờng tiến quân ra Bắc tiêu diệt kẻ thù và sau này còn nhiều lần các sứ
Trang 13thần, quan lại còn ra vào cửa biển Hội Thống Trong phong trào Cần Vơng,Nguyễn Hữu Chỉnh lấy vùng đất này làm chỗ ra quân Hệ thống giao thôngcủa Nghi Lộc có ý nghĩa to lớn đối với quốc phòng, an ninh phát triển kinh tếthời chiến cũng nh thời bình để bảo vệ xây dựng tổ quốc
Với vị trí địa lí, địa hình của Nghi Lộc thuận lợi nhiều mặt cho sựnghiệp bảo vệ tổ quốc Trong suốt ngàn năm lịch sử chống giặc ngoại xâm,vùng đất Nghi Lộc trở thành phên dậu phía Nam nớc Đại Việt Từ hệ thốngphòng thủ bờ biển thời Lê, đến thành lũy Nguyễn Hữu Cầu (Nghi Đồng), cácsông biển Cửa Lò - Cửa Hội, Trịnh Nguyễn phân tranh, nơi Quang Trung ravào diệt nhà Trịnh và nhiều nơi ra quân của các chí sỹ trong phong trào CầnVơng nh Đinh Văn Chất (Nghi Long), Ngô Quảng (Nghi Hng), Nguyễn HữuChỉnh, Hoàng Phan Thái (Phúc Thọ) Khi xâm lợc Việt Nam thực dân Pháp
đã xây dựng một hệ thống nhà thờ thiên chúa giáo ở các điểm xung yếu trêntrục giao thông đờng bộ, đờng sông Trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, trênvùng đất Nghi Lộc đã có nhiều địa điểm chọn làm căn cứ quân sự nh hệ thốngquân sự bờ biển ở Nghi Quang, Phúc Thọ, đảo Ng, núi Lập Thạch (NghiThạch), các điểm cao núi Voi (Nghi Quang) Thần vũ (Nghi Hng), các điểmgần Truông Băng (Nghi Kiều) và nhiều nơi khác xây dựng cơ sở hậu cần, cơ
sở chỉ huy quân sự, trạm tuyển quân, trạm giao liên
*Khí hậu:
Nghi Lộc là huyện đồng bằng ven biển nằm chung của khí hậu Nghệ
An - miền trung thuộc khu nhiệt đới gió mùa Đông Bắc lạnh về mùa Đông,gió Tây Nam vừa nóng vừa khô về mùa hè (gọi là gió Lào)
Nằm trong vùng khí hậu chung miền Trung, Nghi Lộc có bốn mùaXuân, Hạ, Thu, Đông khá rõ rệt Lợng ma trung bình hàng năm là 1.900 mm,lớn nhất 2600mm, nhỏ nhất 1.100mm Lợng ma phân bố không đều, tập trungchủ yếu vào cuối tháng 8 đến tháng 10, ma ít nhất từ tháng 1 đến tháng 4 hàngnăm
Với điều kiện khắc nghiệt của khí hậu đã làm ảnh hởng đến nhiều mặt
đến sản xuất, sinh hoạt, đời sống và cả tính con ngời Nghi lộc
1.1.2 Vài nét về điều kiện xã hội
Ngợc dòng lịch sử, từ trớc công nguyên cho tới nay, vùng đất Nghi Lộc đãtrải qua nhiều thay đổi về đơn vị hành chính với nhiều tên gọi khác nhau
Trang 14Thời kỳ Bắc thuộc, từ huyện Dơng Thành (thời Ngô) đến Dơng Toại,Phố Dong (Thời Tấn, Lu Tống) và phố Dơng (thời Lơng, Tùy, Đờng) của quậnCửu Đức Đến thời Đinh, Tiền, Lê, Lý, Trần, Hồ có tên là Tân Phúc, NghịChân.
Đầu thế kỷ XV, nhà Minh đổi nớc ta thành quận Giao Chỉ, dới quận làphủ, châu, huyện Phủ Nghệ An lúc đó có 16 huyện
Năm 1469, vua Lê Thánh Tông định lai bản đồ cả nớc để thông thuộccác phủ huyện vào các thừa tuyên Thừa tuyên Nghệ An bao gồm cả đất Nghệ
An và Hà Tĩnh ngày nay Thừa tuyên Nghệ An có 9 phủ, 27 huyện, 3 châutrong đó có huyện Chân Phúc, trong bản đồ Hồng Đức (1490) ghi rõ huyệnChân Phúc có 37 xã, 8 thôn, 1 sở, địa giới huyện Chân Phúc trên bản đồ làmốc lịch sử quan trọng Đến thời Tây Sơn đổi Chân Phúc sang Chân Lộc, đếnthời Nguyễn đổi Chân Lộc thành huyện Nghi Lộc (vào năm 1894)
Qua bao thế kỷ chống chọi với thiên tai, thú giữ, giặc dã để tồn tại vàphát triển, dân c Nghi Lộc ngày càng đông đúc và tiếp nhận nhiều nguồn dân
c từ nơi khác về khai khẩn đất hoang, lập thêm nhiều làng xã, tất cả đã kếtthành một cộng đồng khăng khít ổn định, góp phần hình thành xây dựng nềnvăn hóa vật chất, tinh thần trong thể thống nhất của nền văn hóa Xứ Nghệ vàdân tộc Việt Nam, các cụm dân c hình thành muộn từ thế kỷ XIV về sau đềukhai khẩn đất hoang lập các trang trại
Vùng dân c Cửa Lò là sự di c của ông Nguyễn Hợp quê ở làng CơngGián, huyện Nghi Xuân, Tĩnh Hà Tĩnh, cụ đa vợ chồng Nguyễn Hội (con traithứ hai) ra chiêu dân lập đồng muối ở Hải Tân, làng Thợng Xá nay là xã NghiHợp, Nguyễn Xí, con thứ của Nguyễn Hội là một danh tớng của nhà Lê lấy tùbinh quân Minh và quân Cham Pa, Chiêm Thành các quốc gia phía Nam khaiphá đất hoang dọc bờ biển từ Cửa Lò đến Cửa Hội làm cho dân c và đất canhtác ngày càng mở rộng, riêng ở làng Kim ổ (Nghi Hơng) và làng Phú ích(Nghi Phong), ông lập thành hai làng mới và cử các thủ lĩnh tù binh ngờiCham Pa làm thủ chí kỳ hào Con trởng của Nguyễn Xí là quận công Nguyễn
S Hồi đã lấy Cửa Xá làm trung tâm của tuyến phòng thủ Cùng với xây dựngcăn cứ Xá Tấn, sau đổi là Cửa Lò (tức là Cửa Lò ngày nay), ngoài ra ông cònlập ra các làng xã trong huyện
Tuy vậy, sự hình thành, phát triển dân c trong huyện còn mang tính
tự nhiên và hết sức chênh lệch giữa các vùng Vùng phía Tây và Tây Nam từngả sông Cấm trở lên chiếm 2/3 diện tích tự nhiên mà dân số không đầy 1/5
Trang 15toàn huyện, còn vùng phía Đông và Đông Nam, từ Hữu Ngạn Sông Cấm trởxuống, dân số chiếm 4/5 mà chỉ còn 1/3 tổng diện tích đất tự nhiên của huyện.Trong những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Đảng và nhà nớcchủ trơng giãn dân điều hòa mật độ dân số, khai hoang mở rộng diện tích sảnxuất đất, nên vùng phía Tây huyện đã có 12 xã lên lập làng, xen dặm định csinh sống, vì vậy mật độ dân số giữa các xã cũng không đều, có xã dân c thathớt, có xã lại mật độ dân số lại quá cao, nhất là các xã ven biển chung quanhCửa Lò và Cửa Hội Tính đến 31-12-2007, dân số toàn huyện là 225.728 ngời,phát triển dân số hàng năm ổn định 1%
Sự hình thành dân c tạo nên làng, xã, cũng nh các làng xã Việt Nam,làng xã Nghi lộc cũng có một thể chế nhất định đảm bảo cuộc sống và sảnxuất đợc thể hiện trong hơng ớc Làng, xã còn là một vùng văn hóa, là hình
ảnh phản chiếu hình ảnh dân tộc Trong lịch sử cộng đồng dân c mỗi con ngờitrong làng, xã phải gắn kết chung nhau và hớng vào đình đền mà chủ yếu làthành hoàng Chính đó là những quan hệ vô hình trong đời sống tâm linh, màtâm linh là thế giới cao cả và thiêng liêng, chỉ có cái đẹp mới có thể vơntới.Trong suốt quá trình sinh tồn xây dựng cuộc sống, con ngời luôn phải đơng
đầu với thiên tai hạn hán, bão lụt chiến tranh, bệnh tật, biến động xã hội luôn
bị tàn phá, chính những trở lực đó khi con ngời cha có điều kiện khống chế,ngăn chặn khắc phục vợt qua hoàn cảnh và chính bản thân mình Đồng thờicũng để tôn vinh ngỡng mộ, kính trọng, biết ơn và phát huy những giá trịtruyền thống đấu tranh bất khuất của dân tộc Từ đó cái trừu tợng thiêng liêngnhất, cao cả nhất đợc thể hiện ở những biểu tợng, hình ảnh, ý thức, và có mộtsức mạnh to lớn - Đình - Chùa - Đền - Miếu đợc xây dựng và đóng vai tròquan trọng trong đời sống nhân dân, đó là văn hóa tín ngỡng, tâm linh, mộtnét bản sắc văn hóa truyền thống của làng xã Việt Nam Việc xây dựng vănhóa làng là một nét đặc trng trong văn hóa dân tộc Việt Nam Cũng nh baolàng quê khác, khi Nho giáo ảnh hởng mạnh vào Việt Nam và ý thức xây dựngmột chuẩn mực cho xã hội, cộng đồng trên nội dung đạo đức của Nho giáo
ở Nghi Lộc, nhiều xã có nhà Văn Thánh thờ Khổng Tử nh: Nghi Long,Nghi Trờng, Nghi Hợp, Phúc Thọ, Nghi Xuân, Nghi Kiều, Nghi Thịnh, NghiTrung Văn Thánh đợc xây trên đất khu rộng với dáng trầm t cùng thời gianhiện hữu cho một vùng quê có văn hóa trong nền văn hóa dân tộc
Trong hệ thành hoàng đợc tôn thờ ở Nghi Lộc có hai loại, loại đợc vuaban phong có tên tuổi tớc vị, có công với dân tộc, nh đền thờ Nguyễn Xí (Nghi
Trang 16Hợp) cả làng Thợng Xá (Nghi Xá, Nghi Hợp, Nghi Quang) phụng thờ, đền
Đông Hải thờ Hoàng Tá Thốn (Phúc Thọ) các đền đều có đạo sắc của cáctriều vua
Trên vùng đất Nghi Lộc đạo Phật cũng có từ rất sớm nhiều xã cũng cónhà thờ Phật nh: Chùa Hải (Nghi Long), Chùa Láo (Phúc Thọ), Nghi Hợp có
đến 5 ngôi chùa, đàn Hiện nay còn có các chùa mà nhân dân đang tế lễ làchùa Ân (Nghi Đức), chùa Phổ Môn (Nghi Liên), chùa Sơn Hải Tự (NghiTiến) Mỗi ngôi chùa, đàn đều đợc dựng ở khu đất thu giữ khí thiêng trời đất,nơi đất cao tơi nhuận, cây cối tốt lành chim khôn quần tụ, nơi tụ linh
Cũng nh c dân các vùng khác trong tỉnh, trong nớc, đồng bào Nghi Lộc từ
xa tới nay nhà vẫn thờ cúng tục tổ tiên và thờ cúng bậc tiền bối có công với nớcvới dân Ngoài những ngôi đền lớn chung cho nhiều vùng, nhân dân đều thờphụng tổ tiên ở từng gia đình, dòng họ, một biểu hiện tín ngỡng có tính văn hóatốt đẹp của ngời Việt Nam thì ở Nghi Lộc mỗi dòng họ đều có nhà thờ Các hoạt
động của dòng họ có nội dung ý nghĩa vừa mang yếu tố tín ngỡng, tâm linh,nhân văn cao cả, lòng đạo hiếu tôn kính, uống nớc nhớ nguồn, biết ơn tổ tiên,
ông bà, cha mẹ, xây dựng cuộc sống cho con cháu Đây là một tục lễ tốt đẹpnhằm duy trì, phát huy truyền thống gia đình, họ hàng và cộng đồng làng xã.Giăng Cu lê (Jean Coulet) một nhà sử học Pháp đã viết “Sự thờ phụng tổ tiên là t-ợng trng cho gia đình và việc nỗi dõi tổ tông, sự thờ phụng thành hoàng tợng trngcho làng xã và sự trờng tồn của thôn dân” [1;54]
Công giáo đợc du nhập vào nớc ta từ thế kỷ XV, vào Nghệ An khoảngthế kỷ XVIII Nhà Chung Xã Đoài - Nghi Lộc là một trung tâm công giáo củacả ba tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình
Sự phát triển của nông thôn theo hớng công nghệp hóa - hiện đại hóa làmột tất yếu của lịch sử, nhằm đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của con ngời vềvật chất và tinh thần Nhng hình ảnh làng quê nông thôn, nông nghiệp trong
xa xa vẫn ghi lại trong ta điều gì đó nh bâng khuâng, lu luyến phải tạm biệtyêu thơng Một làng quê yên tĩnh, thơ mộng trong không gian tĩnh lặng tra hèsau những lũy tre, dới gốc đa nghe tiếng gà tra mà lòng xôn xao, hay nhữngnhững chiều vàng những đàn trâu bò no cỏ lại thong thả đếm bớc và chuồng
và tất cả đều đọng lại với hình ảnh Cây đa - giếng nớc - sân đình Những bến
đò tra, chiều soi bóng dòng sông mà nghe tiếng gọi đò vẳng vẳng đâu đây,một nông thôn Việt Nam ít nơi nào có đợc Cây đa biểu tợng cho sức mạnh
Trang 17làm việc quên mình, bền bỉ, dẻo dai, cho sự tích lũy kinh nghiệm, với ý nghĩatrờng tồn ấy mà nhân chứng cho mọi sự đổi thay đất trời của con ngời.
Trăm năm dẫu lỗi hẹn hò Cây đa bến cũ con đò khác đa Cây đa cũ, bến đò xa
Bộ hành có nghĩa nắng ma cũng chờ
ở Nghi Lộc, nhiều làng, xã có nhiều cây đa, cổ thụ khắp các làng Donhiều nguyên nhân, hầu nh các cây đa, cổ thụ các làng còn lại rất ít Một số xãvẫn còn nh Nghi Kiều, Nghi Hng, Nghi Hợp, Nghi Long, Phúc Thọ các cây
đa có hàng trăm năm tuổi Có cây đa cổ thụ không rõ ai trồng, trồng vào thờigian này Tất cả nó là kết quả lao động sáng tạo của nhân dân, cây đa chứngkiến, ghi nhận nhiều sinh hoạt của nhân dân ở làng quê mình, không chỉ làchỗ dừng chân, tránh nắng, hóng mát sau một buổi lao động mệt nhọc Cây đa
là nơi vui chơi của trẻ thơ những tra hè, những đêm trăng, nơi hò hẹn của cáclứa đôi
Bỗng đâu có khách đa thơ đến nhà
Hẹn giờ ra gốc cây đa
Em đang dệt vải quay tơ
Phợng hoàng chả thấy, thấy gà buồn sao.
Cây đa nơi tổ chức hoạt động văn hóa và cả nơi đàm đạo việc đời, trao
đổi việc làm ăn sản xuất, thời tiết mùa vụ và cả nơi gọi chim về làm tổ, nơighi nhận một môi trờng trong lành dịu mát Cây đa đợc coi là nơi ngự trị củathần linh và của các cô hồn, cây đa có mặt có mặt ở nhiều nơi nhng không
vẳng bóng ở các đình chùa Tục ngữ có câu “Thần cây đa, ma cây gạo, cú cáo
cây đề ” hay “Cây thị có ma, cây đa có thần” cây đa luôn mang hơi thở củacuộc sống nhân dân, biểu tợng của cái đẹp, của sức sống và có cả tâm linh.Chính vì điều đó mà cây đa luôncó mặt trong văn học dân gian, trong văn thơ,tâm hồn con ngời, hiện hữu cho sức sống làng quê Việt Nam
Những ký ức về một làng quê trù phú, ấm áp nghĩa tình vẫn lắng đọng trongmỗi chúng ta và theo đi mãi Những ngời xa quê, nay trở về thăm quê chắc phảingỡ ngàng trớc sự đổi thay của quê hơng trong thời kỳ đổi mới, nhng cũng bângkhuâng xao xuyến khi ra thăm bến đò, cầu ao, dòng sông, dấu tích cũ của cây đa,giếng nớc, sân đình mà không khỏi chạnh lòng, bâng khuâng, da diết rồi bậtlên tiếng lòng - ôi quê hơng, quê hơng sao mà thân yêu thế
Trang 18Cùng với cây đa, cây cổ thụ là giếng nớc, mỗi làng có ít nhất một giếnglàng và đợc chọn ở vị trí rất khoa học, vừa thuận cho dân c, tránh chạm “longmạch” mà nguồn nớc trong xanh quanh năm, nớc giếng làng dùng nấu chèxanh thơm ngon Giếng làng là nơi cung cấp nớc sinh hoạt cho nhân dân nhngcũng là nơi giao lu, gặp gỡ, trao đổi của các bà, các chi, nơi hẹn hò xe duyênnên tình nghĩa của vợ chồng nam nữ thanh niên Nơi những đêm trăng mùa hèlộng gió các sinh hoạt văn hóa
Cây đa cùng với giếng làng Quê hơng nguồn cuội hành trang cuộc đời
Giếng làng ơi, giếng làng ơi Trong tôi lắng tiếng gàu rơi giếng làng.
Ngày nay, mặc dù kinh tế phát triển, dân c đông đúc các gia đình đều
có giếng riêng, ở nhiều xã giếng làng vẫn còn nh Nghi Hợp, Nghi kiều Những ai đã một lần thôi, một lần thôi chứ cha nói nhiều, ghánh nớc bên tronghay hóng mát bên giếng làng cũng đủ cảm nhận cái thú vị của giếng làng quêhơng sao mà quên đợc
Bà con Nghi Lộc còn có tục uống nớc chè xanh rất đầm ấm, vui vẻ.Trong xóm, cứ luân phiên từng nhà, nấu xong ấm nớc chè xanh đặc thơm phức
là ơi ới gọi bà con đến uống và chuyện trò rôm rả Đó cũng là một nếp sốngvăn hóa đựơc duy trì lâu đời cho đến nay và chắc là còn mãi mãi trong tơnglai, tình làng nghĩa xóm của Nghi Lộc rất đậm đà chất phác
Chính vì nhận thức đợc ý nghĩa trên mà đức tính cần cù lao động, siêngnăng luôn đợc duy trì và phát triển, nó không hề mất đi khi hoàn cảnh thay
đổi
Đoàn kết yêu thơng đùm bọc lẫn nhau là ý thức cộng đồng của nhândân đựoc thể hiện trên nhiều phơng diện, đó là trách nhiệm của cá nhân trớclàng xã Từ đây ngoài sản xuất nông nghiệp nhân dân Nghi Lộc còn đánh bắthải sản, vận tải sông biển, ngoài ra nhân dân ở đây còn phải làm nhiều nghềkhác nhau nh nghề mộc, đóng thuyền, làm thùng gỗ đựng nớc, nghề đóng cốixay, buôn bán
Tuy ngày xa mức sống của nhân dân Nghi Lộc còn thấp hơn so với cácvùng khác nhng tinh thần hiếu học không ngừng phát triển Thời chữ Hán còn
đợc trọng dụng, trong huyện không làng xã nào không có trờng học, một sốgia đình có điều kiện mời thầy về nhà dạy học hoặc chung nhau nuôi thầy cho
Trang 19con cháu học Theo hơng khoa lục triều Nguyễn của cao Xuân Dục thì từ khoathi hơng đầu tiên năm Đinh Mão (1807) đến khoa thi cuối cùng về chữ Hánnăm Mậu Ngọ (1918), huyện Nghi Lộc đã có 83 ngời đỗ cử nhân ở trờngNghệ An và các tỉnh.Trong tổng các khoa thi thời kỳ này có 6 khoa, mỗi khoahuyện Nghi Lộc có tới 4 ngời đỗ cử nhân, riêng hai khoa Canh Tý (1900) vànăm 1903 mỗi khoa có 6 ngời, còn về thi Hội dới triều Nguyễn có 11 ngời đỗtiến sỹ, 4 ngời đổ phó bảng trong số đó 3 xã Nghi Long, Phúc Thọ, Nghi Tân
đã chiếm tói 9 vị Riêng gia đình tiến sỹ Đinh Văn Phác ở làng Ông La (NghiLong) 3 đời liên tục (ông,cha,cháu) đều đỗ tiến sỹ, Trong hàng đại khoa ởNghi Lộc, cụ Phạm Nguyễn Du tên thật là Phạm Huy Khiêm (Nghi Phong)nổi lên nh một ngôi sao, cụ vừa đậu đầu thi hơng (tức giải nguyên) vừa đỗ đầuthi hội (tức hội nguyên), dới thời Lê Cảnh Hng, cụ là một trong những nhà thơhiện thực ở nớc ta đợc đánh giá cao
Tuy học nghề với thân sinh vợ ở huyện Thanh Chơng, nhng nhờ say savới nghề làm thuốc “trị bệnh cứu ngời” ông hoàng Nguyễn Cát ở Nghi Tân đãtrở thành một danh y, kết hợp giữa lí luận trong sách và thu thập kinh nghiệmdân gian với tích lũy thực tiễn, ông đã viết cuốn sách gia truyền gồm 12 tập đ-
ợc các danh y trân trọng, góp phần làm phong phú thêm nền y học của dântộc
Tuy lao động vất vả nhng sinh hoạt văn hóa, văn nghệ của các tầng lớpdân c ở Nghi Lộc vẫn đợc duy trì đợc nhiều thế kỷ qua, văn học truyền miệngdân gian có các loại truyện cổ tích, chuyện trạng tiếu lâm, ca dao, tục ngữ, câu
đố, câu đối, đặc biệt là thể vè Trong kho tàng vè Xứ Nghệ, những bài vèthuộc địa bàn Nghi Lộc cũng chiếm khá phong phú, nhiều làng còn có nhiềusáng tác về văn chơng, đặc biệt là dân ca với các điệu hò, điệu hát ru, điệu vídặm
Nội dung các lời hát, ngoài việc thổ lộ tình yêu lứa đôi còn có những lờikhuyên bổ ích về đạo lí làm ngời, về lòng yêu quê hơng đất nớc, lên án kẻxấu, nhất là bọn tham quan ô lại, bọn bán nớc và cớp nớc
1.1.3 Truyền thống yêu nớc của nhân dân Nghi Lộc
Từ thời đồ đá cũ, các tộc ngời tối cổ đã đến định c ở vùng đất Nghi lộc,vợt qua bao thử thách, thú dữ, các thế hệ nối tiếp định c trên vùng đất NghiLộc đã doàn kết chung lng đấu cật để vợt qua thiên tai khắc nghiệt tạo dựngcuộc sống Suốt trong nhiều thế kỷ c dân Nghi Lộc luôn có ý thức, bằng mọi
Trang 20thử thách khó khăn, chia ngọt sẽ bùi, đồng tâm hiệp lực góp phần cùng cộng
đồng c dân xứ Nghệ và các c dân đất Việt tạo nên nền văn hóa, văn minh bản
địa phong phú đa dạng Có thể khẳng định, từ thời Hùng Vơng dựng nớc, cdân trên vùng đất Nghi Lộc đã góp phần nhỏ bé của mình trong việc hìnhthành quốc gia dân tộc
Từ khi An Dơng Vơng để mất nớc (179 TCN) đến khi họ khúc dựngnền tự chủ (905) cùng với cộng đồng c dân xứ Nghệ, c dân Nghi Lộc đã gópmột phần xơng máu vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và giữ gìnnhững giá trị văn hóa, văn minh của cha ông trớc âm mu đồng hóa của ngờiHán
Ngọn lửa yêu nớc của nhân dân Nghi Lộc bùng lên dữ dội và biết baonhiêu cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ ở hầu khắp mọi nơi, thu hút mọi lực lợng xãhội Vùng Thanh Nghệ là nơi dấy lên những cuộc khởi nghĩa lớn nhất và làcăn cứ của phong trào đấu tranh do Trần Ngỗi, Trần Quý Khoáng lãnh đạokéo dài hơn 6 năm (1407-1413)
Truyền thống quật khởi của quê hơng và tinh thần bất khuất, công cuộcchuẩn bị khởi nghĩa của Lê Lợi đã ảnh hởng quyết định đến chí hớng và sựnghiệp cứu nớc của Nguyễn Xí
Năm 1418, Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa chống quân xâm lợc nhà Minh(Trung Quốc) Nguyễn Biện và Nguyễn Xí quê ở (Nghi Hợp) đã gia nhập cuộckhởi nghĩa đầu tiên, Nguyễn Biện đã bị hy sinh, Nguyễn Xí là ngời có tài, lại
đức trung dũng cảm, trong mời năm ông đã cùng với các tớng quân khác trongcuộc khởi nghĩa Lam Sơn “đem thân trải qua hàng trăm trân, nếm đủ mọi thửgian khổ” lúc xong pha ngoai trận chiến, lúc lùi về bảo vệ bọn chỉ huy gópphần làm nên chiến thắng huy hoàng của dân tộc quét sạch quân Minh giảiphóng đất nớc Sau khi nớc nhà dành đợc độc lập, Lê Lơi lên ngôi vua lấy niênhiệu Lê Thái Tổ, Nguyễn Xí đợc triều đình nhà Lê xếp vào hàng khai quốccông thần, phong tơc huyện hầu là bậc thứ 5 trong 9 bậc và đứng thứ 14 trong
số 99 công thần của triều đình Với vị trí ấy Nguyễn Xí đã dồn sức lực cùngvới triều đình ổn định trật tự xã hội, hằn gắn vết thơng chiến tranh, xây đắpcho nền chính trị của triều đại nhà Việt Ông là một trong những công thần cócông lớn và đóng góp phần quan trọng vào việc duy trì, bảo vệ nền thịnh trị 4
đời vua Lê (Lê Thái Tổ, Lê Thánh Tông, Lê Nguyên Tông, Lê Thái Tông) vìthế lúc này Lê Thái Tông đã ca ngợi Nguyễn Xí hết lời Hai năm sau (1467)vua Lê Thánh Tông ban sắc “Quốc tế, quốc tạo” Cờng quốc công từ thời cả
Trang 21ông Nguyễn Hội (cha), ông Nguyễn Biện (anh), Nguyễn Xí Trớc bàn thờ, nhàvua cho treo đối câu đối:
Hà nhạc, nhật tinh tinh thiên thu hạc khí Phụ tử, huynh đệ vạn cổ anh phong.
Nghĩa là:
Sông núi, tinh tú uy linh vĩnh cửu
Cha con, anh em tiếng tăm lừng lẫy.
Sau khi vua Lê Thánh Tông băng hà, triều đình nhà Lê dần suy yếu.Trong cơn khủng hoảng chính trị sâu sắc của triều Lê, Mạc Đăng Dung lật đổnhà Lê, lập ra nhà Mạc Lê- Mạc phân tranh từ 1533- 1592, trong suốt thờigian 60 năm, hai bên đã phát động nhiều cuộc chiến lớn nhỏ liên miên Vùng
đất Cửa Hội, Nghi Lộc bị tàn phá, tai hoạ giáng lên đầu nhân dân Cuộc hỗnchiến Nam Bắc triều tạm kết thúc thì cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn lại bắt
đầu và kéo dài 45 năm (1627-1672) và hai bên đã đánh nhau đến bảy lần.Nghi Lộc, Nghệ An vừa là hậu phơng, vừa tiền tuyến trực tiếp của chiến tranhtơng tàn, hai bờ Bắc - Nam sông Lam chứng kiến cảnh tan hoang làng mạc,với khói lửa, binh đao
Giặc ra thuyền chúa lại vào Cửa nhà lại phá, hầm hào lại xây.
Với chính sách bạo ngợc của chúa Trịnh, lấn át vua Lê, cùng sự bóc lộtcủa giai cấp địa chủ, quan lại và với thiên tai đã làm cho đời sống của nhândân cùng cực, khốn khổ, lòng oán ghét của quần chúng lên cao, phong tràonông dân nổi lên khắp nơi
Năm 1751, Nguyễn Hữu Cầu (Quận He) một thủ lĩnh khởi nghĩa nôngdân sau các trận thất bại ở các tỉnh ngoại Bắc nh Thái Bình, Hà Nam, Đồ Sơn
đã rút lui vào Nghệ An lập đồn trại ở nhiều nơi trong đó có Cửa Lũy (Nghi
Ph-ơng) dới chân phía nam dãy núi Đại Vạc để duy trì lực lợng, phát động phongtrào nông dân khởi nghĩa Cùng với nhiều huyện trong tỉnh, nhân dân huyệnNghi Lộc đã đợc huy động nhiều ngời và của phục vụ cho việc xây dựng vàbảo vệ căn cứ này Sau một số chiến đấu thấy lực lợng không đủ đánh với đạiquân chúa Trịnh, Nguyễn Hữu Cầu từ Cửa Hội vợt biển ra Bắc, nhng gặp gióbão trôi dạt vào Cửa Cờn và bị bắt, cuộc khởi nghĩa Nguyễn Hữu Cầu bị thấtbại
Năm 1771, khởi nghĩa nông dân Tây Sơn bùng nổ Lúc này NguyễnHữu Chỉnh quê làng Hải côn, xã Đông Hải (phúc Thọ) huyện Nghi Lộc, trớc
Trang 22theo Hoàng Ngũ Phúc đánh chúa Nguyễn, sau theo Hoàng Đình Bảo (QuậnHuy) Khi quận Huy bị nạn kiêu binh giết, ông vào Nam theo Tây Sơn Thựchiện mu kế của ông, Nguyễn Nhạc đã giao cho em là Nguyễn Huệ lần l ợt mởcác cuộc tấn công đánh dẹp quân Chiêm Thành, Cham Pa ở phía Nam, chiếmkinh đô Phũ Xuân (Huế)của chúa Nguyễn ở Đàng trong, rồi giơng cờ (phù Lêdiệt Trịnh)tiến quân ra Bắc Hà (Thăng Long) diệt chúa Trịnh, khôi phục nhà
Lê, xoá nạn phân tranh giữa Đàng trong và Đàng ngoài, thống nhất sơn hà liềnmột giải Vua Lê cầu viện nhà Thanh đem hàng chục vạn quân sang đánh dẹpphong trào Tây Sơn, Nguyễn Huệ lên ngôi vua, lấy niên hiệu Quang Trung(1788), rồi tiến quân thần tốc ra Bắc, quét sạch quân Thanh, giữ vững bờ cõiquốc gia, buộc nhà Thanh phải giảng hoà và phong cho Quang Trung làm AnNam Quốc Vơng Nghi Lộc là một trong những huyện ở Nghệ An đã đónggóp nhiều sức ngời và của cải vào cuộc tiến công quân Thanh
Lúc bấy giờ, theo Bùi Dơng Lịch viết trong Nghệ An ký, số dân cảNghệ An và Hà Tĩnh chỉ vào khoảng 125.000 ngời (mời hai vạn rỡi) Thế màtrong một thời gian rất gấp đã có khoảng 5 vạn ngời gia nhập nghĩa quân Nhvậy có thể nói, không có làng nào không có ngời tòng quân, từ những vùnggần nơi đóng quân của Quang,Trung,Hng Nguyên, Nam Đàn Cuộc hànhquân thần tốc đại phá quân Thanh tiêu diệt 29 vạn quân giặc của nghĩa quânTây Sơn đã để lại âm hởng hùng tráng bất diệt Đó là niềm tự hào to lớn củacả dân tộc Việt Nam nói chung và của Xứ Nghệ quê tổ của Nguyễn HuệQuang Trung nói riêng
Sau khi Quang Trung tạ thế và triều đại Tây Sơn đợc thay thế bằng triềuNguyễn, trong những năm 10 và 20 của thế kỷ XIX, đời sống của nhân dânNghệ An vô cùng điêu đứng và khổ cực Trận dịch tả năm Canh Thìn 1820,Nghệ Tĩnh bị thiệt mạng 22000 ngời, nhiều xã thôn ở Nghi Lộc và các huyệnkhác, dân phải đi phiêu tán tha phơng cầu thực, ruộng đất bỏ hoang rất nhiều
Do đó, hàng loạt cuộc nổi dậy của nông dân đã làm lay chuyển chính quyềnphong kiến địa phơng
Vua Quang Trung mất năm 1792, triều đình Tây Sơn suy thoái, Nguyễn
ánh lập nên triều đình nhà Nguyễn đàn áp dã man những ngời tham gia vàophong trào Tây Sơn Một số quân sỹ Tây Sơn ở Đàng trong đã chạy ra lánhnạn ở Nghi Lộc và đã gây dựng nên họ Phùng ở Nghi Hơng và Nghi Thu Hành động “Rớc voi về dày mả tổ” của triều đình nhà Nguyễn đã gây nỗi oánhờn trong nhân dân, phong trào khởi nghĩa liên tiếp nổ ra, vì bị tình nghi ủng
Trang 23hộ cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi (1833) nên cử nhân Đinh Văn Phiên quê
ở (Nghi Long) bị triều đình nhà Nguyễn xử chém
Năm 1863 triều đình Tự Đức ký hòa ớc nhờng 3 tỉnh Nam Kỳ cho Pháp,cùng với văn thân yêu nớc, Hoàng Phan Thái, hiệu là Hoàng Đại Hữu quê ởPhúc Thọ hết sức bất bình, ông dựng cờ “Đông Hải đại tớng quân” chiêu tậpnghĩa quân nổi dậy khởi nghĩa Trong hịch chiêu quân ông nêu rõ:
Nghịch tặc bất dung
“ thiên địa Phàm nhân, gai đắc nhi tru chi Ngô dân sở trọng giá cơng thờng Kiến nghĩa bất vi vô dụng dã ”(Nghĩa là: Quân thù địch trời đất không dung, ngời ngời ai cũngmuốn giết chúng, dân ta trọng cơng thờng, thấy việc nghĩa không làm là vôdụng)
Hịch của ông truyền đi đợc các văn thân yêu nớc hởng ứng nhiệt liệt, cửnhân Trơng Xuân Thái, đội hoàng Nguyên Cát, bộ lão Phiếm Nhuần đã rahợp tác tích cực với ông, chủ trơng của các ông là đánh chiếm thành Vinh trớcrồi mở rộng ra các nơi khác Tháng 6 -1865, ông họp nghĩa binh, chủ trơngnày của ông bị bại lộ nên chính quyền phong kiến Nghệ An đem quân đến dẹpcuộc khởi nghĩa tại nơi xuất phát Hoàng Phan Thái và các công sự của ông bịchúng vây bắt, nghĩa quân tan vỡ, Hoàng Phan Thái bị đa ra xử chém tai QuánBầu (Vinh) vào ngày 13-10-1865, trớc lúc xử chém Hoàng Phan Thái đã đọccâu tuyệt mệnh tràn đầy khí phách:
Thiên khả thi thân đảo giang hà thanh nhất nổ
Địa nan mai cốt vạn hồi nhật nguyệt bạch tam quân
Dịch:
Trời còn để sống dốc ngợc giang hà rửa sạch giận
Đất khôn vùi xá kéo lùi nhật nguyệt tạ ba quân
Cuộc khởi nghĩa tuy không thành công nhng khí phách của Hoàng PhanThái vẫn nh một ngôi sao sáng giữa bầu trời Việt Nam đang đầy biến động
Nó là phát súng báo hiệu sự nổi dậy của nhân dân ta chống lại sự thối nát, bạongợc của triều đình phong kiến nhà Nguyễn và hành động xâm lợc Việt Namcủa thực dân Pháp Trong cuốn “Hoàng Đại Hữu tiểu sử” nhà ái quốc PhanBội Châu đã đánh giá “Nếu cuộc vận động của Hoàng Đại Hữu thành côngthì nhân dân Việt Nam đã không sống dới ách thống trị của thực dân Pháp và
Trang 24triều đình phong kiến” Với đánh giá đó, Phan Bội Châu đã tôn Hoàng ĐạiHữu là ông tổ nhân quyền nớc ta.
Rõ ràng, trong dòng chảy lịch sử dựng nớc và giữ nớc của dân tộc, cácthế hệ c dân sống trên vùng đất Nghi Lộc đã nêu cao truyền thống yêu nớc,tinh thần đoàn kết, sẵn sàng xả thân cho quốc gia dân tộc, góp phần cùng cộng
đồng c dân xứ Nghệ viết nên những trang sử hào hùng
1.2 Nghi Lộc trong phong trào chống Pháp cuối thế kỷ XIX (1885- 1896)
Với hai bản điều ớc HăcMăng (1883) và patanốt (1884), Thực dân Pháp
đã hoàn thành cơ bản cuộc xâm lợc nớc ta Sau đó chúng sang thực hiện chínhsách “Bình định” tăng cờng lực lợng quân sự, tiến hành những cuộc hành quâncác căn cứ kháng chiến của nhân dân ta có từ trớc hoặc mới hình thành ở các
địa phơng, chiếm giữ những vị trí còn lại ở vùng biên giới Việt -Trung khiquân Thanh rút khỏi Bắc Kỳ, ra sức xiết chặt bộ máy kìm kẹp trong đó có việctrừ khử phải chủ chiến ở triều đình do Tôn Tất Thuyết, một nhân vật chủ chốtcủa Hội Đồng phủ chính đứng đầu Tớng Đơ cuốc xi, trong tháng 6- 1884 đợcchính phủ Pháp cử nắm toàn bộ quyền quân và chính trị trên toàn bộ nớc ta
Mặc dù vậy, trong triều đình Huế, phái chủ chiến đứng đầu là Tôn TấtThuyết vẫn ngầm chuẩn bị chông Pháp, ấp ủ hy vọng khôi phục chủ quyềndân tộc khi thời cơ tới Để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài, Tôn TấtThuyết bí mật cho ngời liên kết với sỹ phu văn thân, hào kiệt các tỉnh, bí mậtcho xây dựng căn cứ tân sở trên miền rừng núi tỉnh Quảng Trị, chở lơng thực
và súng đạn, cả khối lợng lớn vàng bạc dự trữ của triều đình, phòng khi cóbiến cố thì đa vua và triều đình ra cố thủ Một số đồn Sơn phòng cũng đợc xâydựng ở Tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa Ông còn lập các
đội quân “Đoàn kết” “Phấn nghĩa” ngày đêm luyện tập chờ ngày sống mãi vớiquân thù
Công việc cần kíp nhất đối với Tôn Tất Thuyết là tìm cho đợc một ngời
có tinh thần chống Pháp để đặt lên ngôi vua, cô lập và gạt bỏ phái chủ hòa vàbọn phản bội đang ráo riết hoạt động trong triều với sự che chở của Cuốc xi.Trong vòng hơn một năm kể từ khi vua Tự Đức mất (tháng 7 năm 1883) lần l-
ợt 3 vua (Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc) bị phế truất, rồi bị trừ khử vì cóquan hệ mờ ám với thực dân Pháp Cuối cùng Tôn Tất Thuyết đa Ưng Lịch lênngôi vua với niên hiệu Hàm Nghi (2-8-1884)
Trang 25Khâm sứ Pháp ở Huế không đợc hỏi ý kiến về việc đa Ưng Lịch lênngôi vua, nên gửi th phản kháng triều đình Huế đã vi phạm các điều ớc vừa
ký Đồng thời một đội quân Pháp đợc điều từ Bắc vào Huế để thị uy và ngangnhiên chiếm đóng đồn Mang Cá ở góc Đông - Nam Hoàng thành, từ đó có thểkiểm soát mọi hành động của lực lợng chống Pháp trong thành
Ngày 1-7-1885, Cuốc - xi vừa đặt chân tới Huế đã tuyên bố “Đoạnchót của mọi việc là ở Huế” rồi trắng trợn đa vua Hàm Nghi phải treo cờPháp trong thành nội, phải bắn đại bác chào mừng y cho quân lính của y đivào Cuốc xi còn đòi giải tán đội quân cơ động của lực lợng chủ chiến trongtriều đình
Nắm chắc âm mu đó, Tôn Tất Thuyết và lực lợng chủ chiến chủ động ratay trớc Đêm mồng 4 rạng ngày mồng 5 -7-1885 (Tức 22 tháng 5 năm ÂtDậu) trong khi bọn Cuốc Xi đang say sa yến tiệc tai tòa khâm sứ bên bờ sôngHơng, cuộc nổi dậy ở kinh thành bắt đầu
Khoảng 1h sáng ngày 5, đại bác của quân ta trên mặt thành nhất loạtnhả đạn về phía tòa Khâm Sứ và Đồn Mang Cá bị đánh bất ngờ và quyết liệt,bọn chỉ huy Pháp phải hạ lệnh cho quân lính cố thủ chờ sáng Nhng do trang
bị kém, chuẩn bị vội vã sức chiến đấu của quân ta giảm dần, đến khi trời vừasáng rõ, quân Pháp đã bắt đầu phản công, đánh thắng vào nội thành
Trong cảnh hỗn chiến, Tôn Tất Thuyết nhanh chóng bí mật đa vua HàmNghi ra khỏi Hoàng Thành Đoàn hộ Tống xa giá nhà vua theo đờng bộ chạy
ra căn cứ Tân Sở (Quảng Trị) bỏ lại sau lng kinh thành rực cháy với nhiều xácchết của quân lính và dân c bị giặc sát hại
Đoàn hộ Tống xa giá nhà vua vừa rời khỏi Hoàng Thành, Cuốc xi liềncho quân chiếm Đồng Hới (Quảng Bình) và Quảng Nam ngay cuối tháng 7
đầu tháng 8-1885 để chặt đầu khóa đuôi, không cho đoàn chạy thoát ra Bắchay vào Nam, tại Tân Sở, Tôn Tất Thuyết lấy danh nghĩa vua Hàm Nghixuống chiếu Cần Vơng (13-7-1885) nêu lại sự biến cố kinh thành, vạch rõ tội
ác của thực dân Pháp và kêu gọi vă thân sỹ phu cùng nhân dân cả nớc kiênquyết đứng lên đánh giặc tới cùng
Từ đó dấy lên phong trào chống Pháp của nhân dân ta dới ngọn cờ CầnVơng Sau cuộc khởi nghiã Giáp Tuất (1874), bị dìm trong biển máu, nhiềulàng xã ở Nghi Lộc, Nam Đàn, Thanh Chơng bị đốt trụi, nhng tinh thầnchống ngoại xâm của nhân dân Nghệ Tĩnh nói chung và nhân dân Nghi Lộc
Trang 26vẫn âm ỉ cháy Khi chiếu Cần Vơng của vua Hàm Nghi (10-1885) đợc ban bố,lập tức các ông Nghè, ông Cử, Cụ Tú, nho sinh ở lu vực Sông Lam sẵn sànggác bút ngiêng đèn sách cùng bàn mu hợp sức chống Pháp ngay trên quê h-
ơng Trong khí thế sục sôi ấy, những trí thức Nghi Lộc một lần nữa lại đứnglên vận động nhân dân đóng góp tiền của, công sức động viên chồng con, chaanh tham gia ứng nghĩa Cần Vơng
Chiếu Cần Vơng ban ra đã nhanh chóng thổii bùng ngọn lửa khángPháp, hởng ứng chiếu Cần Vơng, cả một lớp văn thân, sỹ phu yêu nớc hănghái đứng ra chiêu mộ nghệ sỹ, lập đồn trại kháng chiến, lãnh đạo phong trào
đấu tranh với mục tiêu gíup vua, cứu nớc Bộ phận văn thân sỹ phu yêu nớcbao gồm những trí thức phong kiến yêu nớc, những quan lại yêu nớc đơngquyền hay về hu (hu quan) Họ không có đặc quyền đặc lợi ở triều đình, cũngkhông có gia t điền sản lớn ở nông thôn Trong quan niệm của họ, nớc phảigắn với vua “Trung quân, ái quốc” duy trì chế độ cũ, nhng từ khi Pháp xâm l-
ợc trớc thái độ hèn nhát, đầu hàng của triều đình họ tỏ thái độ căm ghét, uấthận
Các văn thân sỹ phu cũng nh trí thức yêu nớc lại đợc sống gần gũi dân,tiếp thu truyền thống dân tộc nên sớm đợc cuốn hút vào cuộc đấu tranh củanhân dân Ngay từ đầu Pháp đánh chiếm Đà Nẵng, đốc học Phạm Văn Nghị
đã dẫn 300 quân tình nguyện, từ Bắc vào Kinh đô Huế xin đựơc lên đờng giếtgiặc, khi ba tỉnh miền Đông, rồi 3 tỉnh miền Tây rơi vào tay Pháp, bất chấplệnh của vua nh thế nào, một số văn thân, trí thức yêu nớc đã đứng ra lãnh đạokhởi nghĩa hoặc cùng nhân dân đứng lên khởi nghĩa, khi triều đình đầu hànghoàn toàn thực dân Pháp (1884) họ không còn “trung vua” nữa, mà chống lạilệnh vua để cùng với nhân dân tiếp tục kháng chiến Nhất là sau cuộc nổi dậy
ở kinh thành thất bại (7-1885), rồi vua Hàm Nghi xuất bôn, hạ chiếu Cần
V-ơng, các tầng lớp nhân dân thực sự đã tham gia chống Pháp đông đảo và quyếtliệt
Phong trào cần Vơng nổ ra trên phạm vi rộng lớn, từ cực Nam trung Bộchạy dài tới biên giới Việt - Trung, lan rộng tới biên giới Việt - Lào, phong tràorộng khắp và sôi nổi nhất là trong những năm đầu từ giữa 1885 đến cuối 1888
Ơ Trung kỳ trớc hết là Quảng Bình với Lê Trực, Nguyễn Phạm Tuân,Quảng Nam là Trần Quang D, Nguyễn Hàm, Nguyễn Duy Hiệu, Quảng Ngãi
là Lê Trung Đình, Bình Định là Mai Xuân Thởng
Trang 27Bắc Kỳ cũng có nhiều cuộc khởi nghĩa quan trọng nh Đốc Tít ở ĐôngTriều, Cai kinh ở Bắc Giang, Nguyễn Quang Bích ở Tây Bắc
Từ 1885 đến 1896 tại Thanh Hóa cứ điểm Ba Đình bị san phẳng saucuộc tiến công dài ngày đầu tháng 1- 1887 của 3000 quân Pháp, Phạm Bành,
Đinh Công Tráng về đờng náu căn cứ Mã Cao (Yên Định) Họ đã chiến đấu ởMã Cao nhiều tháng trời, chiến thắng nhiều trận đáng kể và chỉ rút lui khi MãCao bị vỡ vào mùa thu 1887
Nhng dới sự lãnh đạo của Tống Duy Tân ở Vĩnh Lộc và sự trợ giúp củacác thủ lĩnh ngời Thái là Cầm Bá Thớc, ngời Mờng Hà Văn Mao, ngọn lửa Ba
Đình lại đợc thổi lên, gọi là khởi nghĩa Hồng Lĩnh kéo dài cho đến 1892
Cuộc khởi nghĩa lớn nhất kéo dài suốt thời Cần Vơng là khởi nghĩa
H-ơng Khê (Hà Tĩnh), kế thừa cuộc khởi nghĩa đầu tiên của Lê Minh ở Đức Thọ,(Hà Tĩnh) tiến sỹ Phan Đình Phùng với sự giúp đỡ của Cao Thắng, NgôQuảng, Cao Đạt, hà Văn Mỹ, Nguyễn Chánh, Nguyễn Trạch đã đa cuộckhởi nghĩa này lên tầm vóc lớn nhất, độc đáo nhất thời Cần Vơng
Hòa vào thế cứu nớc của Hồng Lam, của toàn Việt Nam, nhân dân NghiLộc đã đứng dậy đấu tranh chống Pháp trên đất quê hơng
Phối hợp hành động Với phong trào chống Pháp của nhân dân Nam Bộ,năm 1874, các sỹ phu yêu nớc ở Nghệ Tĩnh đã lập Hội văn Thân khởi nghĩa
“Bình Tây sát tả ” Làng Đa Phúc (Nghi Công) là nơi nhóm họp nghĩa binh tế
cờ khởi ngjhĩa của văn thân hựên Hnh Nguyên Làng Hải Thanh (Nghi Tiến)
là căn cứ khởi nghĩa của văn thân huyện Nghi Lộc, phong trào phát triển rộngkhắp các làng xã trong huyện
Thực hiện chính sách “Tằm ăn lá”, sau khi chiếm Nam Bộ, thực dânPháp đem quân ra đánh chiếm các tỉnh Bắc Kỳ, là tri phụ Nghĩa Hng, TĩnhNam Định, tiến sỹ Đinh Văn Chất, cháu nội cử nhân Đinh Hồng Phiên (NghiLong) đã tích cực tham gia phong trào chống Pháp, nhiều văn thân trong ngoàihuyện đã cộng tác tích cực với ông, trong đó có lãnh binh Ngô Quảng ở làngTam Đa (Nghi Phơng), Đặng Thọ Ngơi xã (Nghi Long) Tháng 8-1885 quânPháp đổ bộ vào Cửa Hội, các quan lại Nam Triều ở Nghệ An không nhữngkhông có hành động chống cự mà còn kéo nhau xuống tận nơi đón chúng vàotỉnh thành và đã cùng với bọn chúng tiến quân tiêu diệt căn cứ khởi nghĩa của
Đinh Văn Chất Dới sự chỉ huy trực tiếp của Đinh Văn Chất, nghĩa binh đãchiến đấu quyết liệt với bọn chúng nhiều trận trên phía Hữu Ngạn sông Lam,cuộc khởi nghĩa đã thất bại Đến đây, Đinh Văn Chất đã bị thực dân Pháp giết
Trang 28và nghĩa quân của ông số bị giết, số bị cầm tù Cụ Nghè Đinh Văn Phác, ôngnội của Đinh Văn Chất cũng bị triều đình xử tội và xóa tên trong bia tiến sỹ ởVăn Miếu (Hà Nội).
Ngô Quảng (thần Sơn) đang ở trong quân đội Nam Triều nghe tinphong trào đã bỏ trốn về quê tham gia cuộc khởi nghĩa Phan Đình Phùng NgôQuảng đợc Phan Đình Phùng phong cho tớng lĩnh nghĩa quân là một trong bachức quan trọng của cuộc khởi nghĩa Sau khi cuộc khởi nghĩa Cần Vơng thấtbại, ông là một trong những ngời tiếp tục tham gia phong trào Đông Du vàDuy Tân của Phan Bội Châu
Trong cuộc khởi nghĩa Cần Vơng các sỹ phu yêu nớc quê Nghi Lộc đãtham gia tích cực vào việc quyên góp tiền gạo để tiếp tế cho nghĩa quân Nhândân Nghi Lộc không chỉ tham gia vào nghĩa quân mà còn có công trong việcnuôi dỡng và bảo vệ các văn thân sỹ phu tham gia cuộc khởi nghĩa Cuộc khởinghĩa thất bại nhiều ngời bị bắt, bị tù đày, nhiều nhà cửa bị thực dân Pháp tiêuhủy.Trong một số tài liệu cho thấy trong phong trào Cần Vơng chống Pháp(1885-1896), nông dân cùng các văn thân sỹ phu yêu nớc của Nghi Lộc tiếptục là lực lợng quan trọng ngay từ khi phong trào mới bùng nổ cho đến khingọn lửa Cần Vơng vụt tắt và không ít ngời đã ngả xuống mảnh đất cha anh
* Tiểu kết:
Khi Tổ quốc lâm nguy, trí thức nhà Nguyễn đứng về phía nhân dân đểchống Pháp Trong đó các văn thân sỹ phu yêu nớc Nghệ - Tĩnh cũng cónhững đóng góp cho dân tộc, các văn thân sĩ phu yêu nớc Nghi Lộc đã khẳng
định một cách dứt khoát tinh thần yêu nớc, t tởng, trung quân ái quốc củamình Họ chỉ trung với minh quân chứ không chấp nhận trung với ông vua đầuhàng giặc và họ là biểu hiện cao đẹp cho cả một thế hệ yêu nớc dám xả thân vì
tự do độc lập
Các văn thân sỹ phu yêu nớc Nghi lộc đã biết liên kết với các sỹ phuyêu nớc Nghệ - Tĩnh để mở rộng quy mô khởi nghĩa
Trong phong trào Cần Vơng các văn thân sỹ phu yêu nớc Nghi Lộc vừa
tổ chức chiến đấu tại quê hơng vừa tham gia chiến đấu trên các địa bàn khácthuộc địa nh các huyện Thanh Chơng, Nghi Xuân (Hà Tĩnh)
Chơng 2
Trang 29Nghi Lộc trong phong trào yêu nớc
đã tích cực hoạt động để khôi phục lại nớc Việt nam Phan Bội Châu là ngọn
đuốc soi đờng, và nguồn hy vọng của các nhà nho tân tiến hồi ấy, nhà chi sĩyêu nớc họ Phan đã thể hiện một cách hùng hồn, rực rỡ tinh thần bất khuất củadân tộc, những vần thơ “Dây sóng” của Phan Bội Châu đã cổ vũ các tầng lớpnhân dân đứng dậy đấu tranh
Hởng ứng phong trào Đông Du của Phan Bội Châu khởi xớng, nên khi
có th kêu gọi khuyến quốc dân Du học và khuyến quốc dân tự học du học củaphan Bội Châu, phong trào vận động Đông Du dâý lên rất sôi nổi ở Nghi Lộc
và khắp nơi trong tỉnh, trong nớc Những ngời có tên tuổi nh Ngô Quảng, LêNguyên, Đặng Thái Thân, Đặng Nguyên Cẩn là những tấm gơng tiêu biểuxuất sắc trong quá trình vận động nhân dân ủng hộ hội Duy Tân và chủ trơng
Đông Du của Phan Bội Châu
Với t tởng chống Pháp đã đợc nung nấu từ tuổi niên thiếu, năm 1901,Phan Bội Châu tập hợp lực lợng định làm một cuộc bạo động đánh chiếmthành Nghệ An kỷ niệm cách mạng Pháp (14-7) Lúc này ông Đặng TháiThân, biệt hiệu là Ng Hải ở làng Hải Côn (Phúc Thọ), ông đã kết bạn tâmhuyết và cộng sự tích cực với Phan Bội Châu trong hoạt động yêu nớc chốngPháp Khi âm mu làm bạo động bị bại lộ, nghe lời bàn của Đặng Thái Thân,Phan Bội Châu chuyển hớng hoạt động theo gơng duy tân của chính phủ t sảnnớc Nhật Năm 1904, Hội Duy Tân đợc thành lập Phan Bội Châu nhận tráchnhiệm đi cầu viện Nhật Hoàng và tiến hành cuộc vận động Đông Du Ông NgHải Đặng Thái Thân là nòng cốt hoạt động của Hội Duy Tân và cũng là nơi có
đông ngời gia nhập Hội và đi Đông Du Cụ Nguyễn Thức Tự có 9 ngời con thì
5 ngời gia nhập Hội và 2 trong 6 ngời ở huyện Nghi Lộc đợc đa sang học ởNhật
Trang 30Bất chấp sự mê hoặc, khống chế, ngăn cấm của các cố đạo ngời Âu taysai của thực dân Pháp, một số giáo hữu đạo thiên chúa cũng hăng hái thamgia phong trào Trong số nàycó cả linh mục Nguyễn Thần Đồng ở làng NhânHoá (Nghi Thuận) chánh xứ Xã Đoài; Lu Song Tử ở làng Ân Hậu (Nghi Ân)
đang theo học ở chủng viện Xã Đoài, Lê Khánh và em của ông Lê Khanh ởphờng Vọng Nhi (Nghi Thuận) Cụ Nguyễn Thần Đồng là một trong 3 linhmục gia nhập Hội Duy Tân và một trong 3 giáo hữu địa phận Vinh đang duhọc ở Nhật
Ông Thần Sơn Ngô Quảng ở làng Tam Đa (Nghi Hng)là d đảng Cần
V-ơng của Đinh Văn Chất và Phan Đình Phùng đã cùng với ông Long SơnNguyễn Đình Hồ ở làng Long Trảo (Nghi Khánh) không những hoạt động tíchcực trong Triều Dơng Thơng Quán của cụ nghè Ngô Đức Kế ở Vinh, mà cònsáng lập ra “trại cày” ở vùng Hồng Lĩnh (Nghi Xuân) để làm nơi luyện tập võnghệ, xây dựng lực lợng vũ trang, tích cực làm tài chính cho Hội Duy Tân,nhiều gia đình phú hữu trong huyện đã ủng hộ tiền bạc cho Hội và các họcsinh đang du học ở Nhật
Năm 1909, theo yêu cầu của Pháp, chính phủ Nhật ra lệnh đóng cửa ờng học, trục xuất Phan Bội Châu và các học sinh ngời Việt Nam ra khỏi nớc.Trong lúc đó, ở trong nớc thực dân Pháp và phong kiến Nam triều tập trung
tr-đàn áp Hội Duy Tân
Ngày 11 tháng 3 năm 1910, ông Ng Hải Đặng Thái Thân nhóm họp
đồng chí tại làng Phan Thôn (Nghi Kim) đón tả Quốc Khanh em vua ThànhThái vừa ở kinh thành Huế trốn ra, thì bị bọn chúng đa lính đến vây bắt ÔngTôn Hiến Lê Khanh em Lê Khánh đã dũng cảm xông ra giải vây cho cuộc họp
bị chúng bắn chết tai chỗ, ông Ng Hải đã dùng súng chống cự với bọn chúngrồi tự sát không chịu để cho giặc bắt, Các cộng sự của ông kẻ bị bắt, ngờithoát vòng vây của địch lánh đi các nơi Bị một tên phản bội ở địa phơng chỉ
điểm, hai ngày sau, ông Long Sơn, Nguyễn Đình Hồ cũng bị chúng bắt và xửchém, hai ngời em của ông Long Sơn cũng bị chúng bắt cầm tù Ông NguyễnThức Bao, con cụ Nguyễn thức Tự bị Pháp bắt đày đi Côn Đảo và mất tíchtrong cuộc vợt biển vào đất liền
Dù bị giam hãm trong ngục tù của đế quốc, song nhiều ngời không naonúng tinh thần chống Pháp cứu nớc Tinh thần ấy, còn đợc lu lại sáng ngờitrong thơ văn, nhất là trong những câu tuyệt mệnh của các vị bị quân thù xử
Trang 31chém, ông Ng Hải Đặng Thái Thân là một trong những tấm gơng đợc mọi
ng-ời ca ngợi
“Thua keo này, bày keo khác” Sau khi bị chính phủ Nhật trục xuất, ông
Đặng Tử Kính, chú ông Ng Hải Đặng Thái Thân đã công tác tích cực với PhanBội Châu xin đất vua Xiêm (Thái Lan) thành lập trai cày để tập hợp các đồngchí đang bị tản mác và địch khủng bố Trong lúc đó, ở trong nớc, ông ThầnSơn Ngô Quảng ở làng Tam Đa (Nghi Hng) liên kết với ông Đội Quyên ở HàTĩnh duy trì hoạt động của phái bạo động Hội Duy Tân và tìm cách chắp nốivới hoạt động của Phan Bội Châu ở ngoài nớc
Tháng 11 năm 1911, cuộc cách mạng Tân Hợi Trung Quốc thắng lợi vàkích thích mạnh mẽ tinh thần ái quốc của các chí sỹ Việt Nam Ông Đặng TửKính giao Trại Cày cho Đặng Thúc Hứa và cùng với Phan Bội Châu sangTrung Quốc để bàn chủ trơng mới Các ông quyết định giải tán Hội Duy Tân,thành lập Việt Nam Quang Phục Hội với tôn chỉ là: “Đánh đuổi giặc Pháp,khôi phục nớc Việt Nam, thành lập cộng hoà dân quốc” theo gơng cách mạngTân Hợi Trung Quốc Một số chí sĩ quê ở Nghi Lộc đợc cử giữ chức vụ quantrọng trong cuộc chính phủ lâm thời, ông Đặng Tử Kính giữ chức Uỷ viênkinh tế, ông Hoàng Trọng Mậu, tức Nguyễn Đức Công giữ chức tổng trởngquân vụ, ông Trần Hữu Lực, tức Nguyễn Thức Đờng đợc bố trí vào học trờng
đào tạo cán bộ lục quân tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), rồi cử sang tổ chứcQuang Phục quân trong Việt Kiều ở Thái Lan
Với sự vận động trên, nhân lúc chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ(1914) Hội Việt Nam Quang Phục chủ trơng chiếm đóng các đồn quân Phápdọc biên giới Việt - Trung và Việt - Lào để mở đờng về nớc, bị các thế lựcphản động trong và ngoài nớc cấu kết đánh phá nên cuộc bạo động này thấtbại
Tháng 11-1914, Nguyễn Thức Đờng (Nghi Trờng) đa một đội quângần 60 ngời trang bị vũ khí đầy đủ đến tận lãnh thổ Lào của Pháp (giữa vùngVạn Tờng và Lơ - ăng - phơ ra băng) định phối hợp với Lơng Ngọc Quyến.Tuy nhiên ngày 20-11-1914, Lơng Ngọc Quyến đã bị bắt ở Hơng Cảng nên ý
đồ tấn công vào vùng Trung Kỳ của Quang Phục Quân không thực hiện đợc
Chiến tranh thế giới nổ ra trên thế giới Xiêm tuyên chiến với Đức, chínhphủ Xiêm làm theo yêu cầu của Pháp lùng bắt các chiến sỹ cách mạng ViệtNam ám sát gắt gao Nguyễn Thức Đờng đã bị chúng bắt trao cho quân Pháp
đa về giam ở Hỏa Lò, giặc Pháp tra tấn ông rất dã man, dụ dỗ đủ đờng nhng
Trang 32vẫn không khai thác đợc gì và không lung lăy đợc tinh thần yêu nớc của ông.Không khai thác ở ông nửa lời, thực dân Pháp đã kết án ông chung thân lu đày
nh đối với Hoàng Trọng Mậu Nhng ông cứ một mực đòi đợc bắn chết oanhliệt ở pháp trờng Vừa căm tức nhng cũng vừa khâm phục tinh thần yêu nớccủa ông, bọn Pháp đã bắn Nguyễn Thức Đờng và Hoàng Trọng Mậu ở trờngbắn Bạch Mai vào tháng 10-1916, với 10 khẩu súng nh thể thức đối với một t-ớng lĩnh
Trớc khi ra pháp trờng, Nguyễn Thức Đờng đã nêu cao nguyện vọngcủa mình trong câu tuyệt mệnh, xứng đáng với những câu nói cao cả nhấttrong văn chơng yêu nớc cổ kim Đông Tây:
“Giang sơn dĩ tử, ngả ăn đắc thân sinh, thập niên lai lệ kiếm ma đao,tráng chi thệ phù hồng tổ quốc
Vũ dực vi thành, sự hốt nhiên trung bại, cửu tuyền hạ điều binh khiển ớng, hơng hồn ám trở tiếu niên quân ”
đồng bào trong nớc và ở nớc ngoài, đã vô cùng thơng tiếc ông Phan Bội Châu,
Đặng Đoàn Bằng đã ghi chép nguyên tắc tên tuổi sự ngiệp của ông trong sách
“Việt Nam nghĩa liệt sử ” “Phan Bội Châu niên biểu” và có kèm theo cả thơ
điếu dơng công trạng oanh liệt của ông
Ng
“ đảo chi tây Hồng Lĩnh Nam Linh khí chung vi khởi kỳ nan
Đồng cân thiết cốt đắc lập khí Khí phách ngang nhiên chân bất phàm ”Dịch:
Hồng Lĩnh hồ nam ng
“ đảo Tây Khí thiêng chung đúc trai khôi kỳ Gan đồng da sắt loài đặc biệt Khí phách ngang nhiên không ai bì ”
Là học trò, ngời đồng chí, ngời bạn đồng sự tin tởng của Phan Bội Châutrong công cuộc hoạt cách mạng ở nớc ngoài và trong nớc, Nguyễn Thức Đ-
Trang 33ờng đã đi vào lịch sử, vào lòng dân Nghệ Tĩnh với cả niềm tự hào và sự cảmphục.
Trong thời kỳ này cũng là lúc mà Cách mạng Tháng mời Nga bùng nổ
là một sự kiện lịch sử với các chí sỹ ở Việt Nam nói chung và Nghệ Tĩnh Nghi Lộc nói riêng đã nổi lên những nhân vật nổi tiếng và đã trở thành nhữngdanh nhân cho đất nớc ngoài Nguyễn Thức Đờng còn có Nguyễn Thức Bao
-Sau khi hai anh là Nguyễn Thức Canh và Nguyễn Thức Đờng ra đi đợctám năm, thì Nguyễn Thức Bao cũng lên đờng sang Trung Hoa Đầu tiên ởQuảng Đông hoạt động cách mạng với cụ Phan Bội Châu, ông vào Việt NamQuang Phục Hội và đợc sang hoạt động ở Thái Lan Trong công cuộc hoạt
động này có các ông Đặng Tử Kính, Võ Trọng Đài, Đặng Thúc Hứa, Lu CaiHồng và Cao Thế Nghĩa
Đến năm 1915, ông qua Quảng Đông để hội kiến cùng cụ Phan Bội Châu.Năm 1916, ông trở lại Thái Lan và bị bắt ở Vọng Các Thực dân Phápgiải ông về nớc, kết án 10 năm lu đày và dải đi Côn Lôn
Trong thời gian ở tù Côn Đảo ông đợc tin cha là cụ Nguyễn Thức Tựmất nên ông đã làm hai câu thơ
“Nghĩ bao nhiêu, thêm tức giận bấy bao nhiêu, nợ nam nhi cha trả đợcchút nào, trời bể cao sâu, mây bạt trông về nhà có mẹ.”
“Khóc cũng vậy mà than vãn cũng vậy, nghĩa hiếu trung biết làm saocho trọn, non sông đổi đời, giống vàng còn lại nớc là cha”
Lúc này ông hoạt động ở Việt - Kiều, tại đây ông ra sức huấn luyện chủyếu về t tởng chính trị Về t tởng Nguyễn Thức Bao cũng tiến bộ hơn nhiều
đồng chí khác Theo lời Đặng Thúc Hứa nguyên là cố vấn Việt Nam quangphục hội và Việt Nam thanh niên, chính nhờ những hoạt động giác ngộ củanhóm đồng chí trong đó có Nguyễn Thức Bao, mà giữa đời sống Việt Kiều đãxảy ra những cảm động, cũng trong lúc này, Nguyễn Thức Bao đã nhận cáchmạng của Việt Nam quang phục hội, vợt biển trèo non về Bắc Việt giúpHoàng Hoa Thám đẩy mạnh phong trào kháng Pháp ở Thái Nguyên Ngoài ra,
ông còn liều thân vợt sông Cửu Long qua Lào để cùng đến với hàng vạn côngnhân lao khổ nơi hai sở mỏ Boneng và Phông chiu mà hớng dẫn họ đấu tranhnữa Đây là hai cơ sở mỏ chì và thiếc lớn nhất của Pháp ở đông Dơng ở đó cóhàng vạn công nhân đang sống giữa bóng tối của hầm mỏ và bóng tối của sự
đau khổ Thực dân Pháp đã tạo hai nơi thành một thế giới riêng, có đại lí giámbinh và cảnh sát Thế giới này chính là nơi địa ngục công nhân kia và con ngời
Trang 34yêu nớc là Nguyễn Thức Bao đã vợt qua bao nguy hiểm để đến với họ ông đãnhận thấy rằng nguyên do những con tiêu diệt của những con sói trớc nhữngcon cừu không phải là sức phản kháng của những con cừu mà còn là nạn giànhmồi xâu xé lẫn nhau giữa những con sói nữa Nhận thức đó đã đợc ông trìnhbày ở trong baì thơ của ông đã cùng chia ngọt xẻ bùi với những công nhân đaukhổ ở hai hầm mỏ kia:
Lòng tham của chúng bạo hành
“
Xé chúng tan tành nát thịt xơng ra.
Chúng nó muốn cớp nớc ta Nhng dễ chi mà cớp đợc mãi sao ? Bên ngoài ta sẽ đánh vào
Còn trong, chúng tự giết nhau tan tành.
Trớc sau bay cũng sẽ thành bụi tre ” [22;17]
Năm 1918, lần thứ hai ông đã đợc giải về nớc, kết án 20 năm tù rồi lại
đày ra đảo Côn Lôn Với một đặc tính cơng quyết mạo hiểm, không bao giờchịu bỏ tay làm kiếp con nhộng trong kén của ông Nguyễn Thức Bao, các nhàchi sỹ hiện có mặt ở Côn Lôn, đợc một số công nhân thủy thủ dới tàu Pháptrên đờng hải đảo Sài Gòn, vì lòng yêu nớc nên họ đã cho ông qua vợt ngụcnày.Tuy nhiên bớc sang thời kỳ Cận đại, Nghi Lộc lại xuất hiện những nhàyêu nớc giám xả thân vì công cuộc giành độc lập cho Tổ quốc
2.2 Phong trào cách mạng Nghi Lộc dới ảnh hởng của khuynh hớng vô sản
Do tác động của phong trào Đông Du và do yêu cầu của trào lu yêu nớc.nhiều thanh niên khắp các nẻo đờng tổ quốc đan nối gót nhau ra đi tìm đờngcứu nớc Giữa năm 1911, Nguyễn Tất Thành một ngời con u tú của Xứ Nghệ
đã sang phơng Tây tìm đờng cứu nớc Sau đó phong trào xuất dơng đã khởinghĩa sôi nổi từ những năm trớc chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918) cho
đến giữa thập kỷ 20 của thế kỷ XX
Nét mới của phong trào này là hớng xuất dơng không còn là “Đông Du”sang Nhật mà “Tây Du” sang Xiêm và “Bắc Du’’ sang Trung Hoa Hòa nhậptrong phong trào chung cả nớc, nhiều sỹ phu xứ Nghệ đã từ giã quê hơng đitìm lý tởng và đã có những đóng góp rất xứng đáng cho phong trào yêu nớc vàcách mạng Việt Nam
Trang 35Sau khi cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, cuộc vận động Ngũ
Tứ (4-5-1919) ở Trung Quốc bùng nổ đa cách mạng nớc này tiến lên bớc pháttriển mới, tiếp cận với Cách mạng Tháng mời Nga, sự kiện lịch sử này ở Trungquốc một lần nữa tiếp sức cho các chí sỹ Việt Nam đang lu vong ở đây PhanBội Châu lúc này vừa mới ra tù đã liên kết với các đồng chí của mình đang ctrú ở Trung Quốc và Thái Lan để bàn đến việc cứu nớc trong tình thế mới này
Ông đã ủy nhiệm Đặng Thái Thuyến cùng với các ông Hồ Tùng Mậu (ởQuỳnh Lu) Lê Hồng Sơn (ở Nam Đàn) về nớc tuyển chọn các thanh niênsang Trung Quốc và Thái Lan để đào tạo xây dựng nòng cốt
Đặng Thái Thuyến là con của ông Đặng Thái Thân quê ở Đặng Xá(Nghi Lộc) Đặng Thái Thân là một nhân vật trọng yếu của Duy Tân Hội vàphong trào Đông Du năm 1905 -1908, ông đã cùng với Phan Bội Châu liên kếtcác sỹ phu thành lập Duy Tân hội và tiến hành cuộc vận động Đông Du nhngcuối cùng đã bị thất bại Ngày15-5-1910 ông Đặng Thái Thân bị giặc Phápvây bắt ở làng Phan Nghi Lộc, ông đã tiêu diệt hai tên lính địch rồi tự bắn vàomình, không để sa vào tay giặc, cảnh đau thơng mất mát đã hòa quyện vàotâm hồn non trẻ của Đặng Thái Thuyến và cuộc đời cứu nớc của Đặng TháiThân đã để lại những ấn tợng sâu sắc ngay từ quảng đời niên thiếu của ĐặngThái Thuyến
Sau khi Đặng Thái Thân qua đời Đặng Thái Thuyến thấy mình sốngtrong một cuộc sống hết sức khổ cực, anh đã tìm gặp các sỹ phu để yêu cầu họchỉ vẽ cho con đờng cứu nớc Ngày đêm Đặng Thái Thuyến sống trong tâmtrạng lo âu, phiền muộn
Mời sáu tuổi đầu cất gánh lo Nào ai có thấu nỗi này cho Giang sơn một gánh hai vai nặng Thân thể năm canh chín khúc vò
Nghe tin cụ Phan Bội Châu đang hoạt động ở nớc ngoài, Đặng TháiThuyến tìm đến ghặp các con của cụ ở Nam Đàn để hỏi thăm tin tức Đ ợc họhớng dẫn Đặng Thái Thuyến tích cực tham gia vận động các bạn thanh niên
có thù nhà nợ nớc sang Xiêm xây dựng Trại Cày, chuẩn bị cơ sở lâu dài chocông cuộc phục quốc
Đầu năm 1924, Đặng Thái Thuyến cùng với hàng chục thanh niên Nghệ
An rời quê hơng sang Trại Cày, Bản Thầm, tỉnh Phi Chịt ở đây ông đã sống
Trang 36gần gũi với ngời cùng họ là, Đặng Tử Kính và ông Đặng Thúc Hứa, Võ Trọng
Đài, Ngô Quảng, các ông đều là những ngời cùng quê lại là bạn chiến đấu gầngũi với thân phụ anh Đặng Thái Thuyến đã trởng thành nhanh chóng trongtình thơng yêu, dạy bảo của các bậc cha chú, những ngời đang hiến dâng cuộc
đời của mình cho công cuộc giải phóng đất nớc
Ngoài việc học tập lao động sản xuất, Đặng Thái Thuyến đã đi sâu vàocác bản làng vận động kiều bào tham gia các hoạt động yêu nớc, vừa dạy chocon em của họ học chữ Quốc ngữ
Khoảng cuối năm 1925 Đặng Thái Thuyến đợc giao nhiêm vụ liên lạcvới trong nớc, trên tuyến đờng từ Xiêm qua Lào về Nghệ Tĩnh, Đặng TháiThuyến đi lại nh con thoi, mỗi lần chuyển xong th từ, tài liệu về nớc khi trở lạiXiêm, anh lại dẫn thêm một số thanh niên sang học tập, Đặng Thái Thuyến làngời giàu tình cảm và tràn đầy tinh thần lạc quan cách mạng Mỗi lúc gặp khókhăn Đặng Thái Thuyến thờng làm thơ để nhắc nhủ mình với các bạn Thơanh bao giờ cũng xoáy vào vấn đề nóng hổi nhất, sâu sắc nhất là đánh đuổigiặc Pháp, giải phóng đất nớc mình, vì thế Đặng Thái Thuyến có mấy câu thơkhi ngủ trong rừng cùng các bạn:
Gối đá giờng cây nào có sợ.
Màn trời chiếu đất thế mà vinh Cuông kêu nh giục đến thù nớc Vợn hú giờng ai nhắc nhủ mình.
Sau ngày đồng chí Hồ Tùng Mậu từ Trung Quốc qua Xiêm tháng 6 năm
1926, chi bộ Việt Nam thanh niên Cách mạng Đồng chí hội đợc thành lập ởPhi Chịt, Đặng Thái Thuyến là một trong những hội viên đầu tiên của chi bộ
Tháng 9-1926, Đặng Thái Thuyến đợc cử đi dự lớp huấn luyện ở QuảngChâu (Trung Quốc) do Nguyễn ái Quốc trực tiếp giảng dạy, Đặng TháiThuyến đã say sa nghe ngời phân tích kinh nghiệm của các cuộc cách mạngtrên thế giới và chỉ rõ đờng lối cách mạng Việt Nam là đi theo con đờng Cáchmạng Nga
Nguyện vọng của Đặng Thái Thuyến là đợc về nớc để truyền lại cho
đồng bào, bè bạn tất cả những điều mới mẻ mà mình đã thu nhận đợc Nhng
do yêu cầu của cách mạng Đặng Thái Thuyến phải ở lại Quảng Châu giúp việctrong cơ quan Tổng bộ, vinh dự lớn đối với Đặng Thái Thuyến trong thời giannày là đợc gần gũi với đồng chí Nguyễn ái Quốc và đợc Ngời thờng xuyên
Trang 37bồi dỡng về đờng lối cách mạng vô sản, với t cách của ngời cách mạng Do đóbất cứ việc gì dù khó khăn nghuy hiểm đến mấy Đặng Thái Thuyến cũng đềuquyết tâm hoàn thành không chút do dự đắn đo, đồng chí đã góp phần tíchcực vào những phần hoạt động của Tổng bộ Hội Thanh niên.
Sau cách mạng của Tởng Giới Thạch, hoạt động của hội thanh niên ởQuảng Châu gặp nhiều khó khăn, Đặng Thái Thuyến cùng với ban huấn luyệncủa Tổng bộ chuyển sang Xiêm, đồng chí lại tham gia vào việc tổ chức cáclớp huấn luyện cho cán bộ từ trong nớc gửi sang hoạt động ở Xiêm, Đặng TháiThuyến thờng đi theo Ngời làm nhiệm vụ dẫn đờng và phiên dịch, đồng chí đ-
ợc cử vào ban lãnh đạo chi bộ Hội thanh niên tại (Xiêm) và Tổng Hội ViệtKiều, phủ định tờ báo Đồng Thanh sau đó là báo Thân ái
Đặng Thái Thuyến rất quan tâm đến việc công tác vận động quầnchúng Thông qua báo “Thân ái”, Đặng Thái Thuyến cổ động Việt Kiều thamgia các hội tơng trợ, các đoàn thể yêu nớc và tích cực giúp đỡ các đoàn thể đó,
Đặng Thái Thuyến thờng làm thơ đăng trên báo Thân ái để tố cáo chế độ bấtcông và kêu gọi quần chúng đấu tranh:
Xã hội bất bình là thế đó Búa liềm đứng dậy ớ anh em!
Tháng 5 năm 1929, Đặng Thái Thuyến đi dự Đại Hội đại biểu toànquốc Việt Nam Thanh Niên Cách mạng đồng chí Hội ở Hơng Cảng (TrungQuốc) và đợc bầu làm ủy viên dự khuyết ban chấp hành Tổng bộ, đã phụ tráchcông tác ở Xiêm sau đại hội đồng chí lại tham dự “Hội trù bị tổ chức cộngsản” dự thảo điều lệ và kế hoach xây dựng Đảng
Trở về Xiêm Đặng Thái Thuyến báo cáo với lãnh tụ Nguyễn ái Quốc
về tình hình xảy ra trong đại hội Việt Nam thanh niên Cách mạng đồng chíhội Mặt khác tiến hành việc thành lập chi bộ đảng theo kế hoach của “Hội trù
bị tổ chức cộng sản”
Sau hội nghi thống nhất Đảng (3-2-1930) đồng chí Nguyễn ái Quốctriệu tập Đặng Thái Thuyến sang Hơng cảng để phổ biến nghị quyết hội nghịlịch sử này Vừa tới Băng Cốc, Đặng Thái Thuyến đã bị nhà cầm quyền Xiêmbắt giao cho thực dân Pháp ở Đông Dơng
Một sự kiện cực kỳ quan trọng đối với cách mạng Việt Nam là từ 6-1
đến 3-2-1930 tại Cửu Long (Hơng Cảng, Trung Quốc) đồng chí Nguyễn áiQuốc 0020đã tổ chức hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản thành một Đảng
Trang 38thống nhất lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam, “Sự ra đời của đảng cộng sảnViệt Nam là một bớc ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng nớc
ta, nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản ta đã trởng thành và đủ sức lãnh đạo cáchmạng” [26; 8,10]
Yêu nớc căm thù giặc, Đặng Thái Thuyến rời quê hơng sang Xiêm đểhoạt động và gần nh suốt cuộc đời ông đã hiến dâng trọn cho quê hơng, dântộc Với cơng vị đợc đảm trách, Đặng Thái Thuyến bất chấp mọi khó khăngian khổ, tích cực hoạt động tập hợp đông đảo các thế hệ Việt Kiều ở Xiêm h-ớng về tổ quốc và đi theo con đờng giải phóng dân tộc dành độc lập tự do,hạnh phúc cho nhân dân
Đặng Thái Thuyến cùng các ông khi hoạt động không về đợc đất nớcthì các ông đã liên lạc giao nhiệm vụ cho ông Nguyễn Năng Tựu ở (Nghi Tr-ờng - Nghi Lộc) là một trong những ngời đi nhiều nơi trong và ngoài huyệnvận động ngời xuất dơng Nhiều thanh thiếu niên ở Nghệ An đã đợc ông dẫn
đờng sang Thái Lan và Trung Quốc
Riêng Nghi lộc (theo những t liệu đã có) ngoài Đặng Thái Thuyến còn
có 7 ngời sang Trung Quốc, 8 ngời sang Xiêm, 4 ngời sang Nhật, Số ngời sangTrung Quốc gồm có bà Bảo (vợ của Ngô Quảng), Trung Văn Đạt, Trơng VănBá, Trơng Văn Ngại, Trơng Văn Lĩnh, Lu Phong Số ngòi sang Xiêm gồm có,Nguyễn Xuân Bừng, Võ Thế Việt, Võ Đông, Đặng Chang, Đặng Nhụy (cháu
Đặng Thái Thân) Số ngời sang Nhật có Mai Lão Bảng, Nguyễn Đức Công,Nguyễn Thức Đờng, Nguyễn Thức Canh
Cùng với việc vận động ngời đi xuất dơng, ông còn vận động thành lậphội buôn nớc mắm ở Nghi Lộc gọi là Nghi Lộc ng hàm hội để làm tài chính
và chỗ đứng cho phong trào, nhiều thân sỹ yêu nớc trong huyện đã góp cổphần, hoạt động trong hội này do viên tri huyện làm hội trởng, ông NguyễnHuy Khơng (tức Lý Khánh) lí trởng làng Vạn Lộc (Nghi Tân) đã cấp thẻ giảcho nhiều ngời xuất dơng đã bị chính quyền thực dân Pháp và Nam TriềuNghệ An bắt cầm tù
Không tán thành chủ trơng cải tổ Việt Nam quang phục hội thành ViệtNam quốc dân Đảng theo quốc dân Đảng Trung Hoa của Phan Bội Châu, năm
1923 số thanh niên vừa ở trong nớc đã sáng lập ra Tân Việt thanh niên Đoàn(gọi là Tâm Tâm xã) nhằm mục đích “Rút kinh nghiệm về những bài học thấtbại xa để lo toan tiến hành công việc sao cho thiết thực” để thức tỉnh những
Trang 39ngời yêu nớc Việt Nam đang bi quan sau các cuộc đánh phá liên tiếp của địch.Ngày 14-6-1924 Tân Việt thanh niên Đoàn tổ chức giết tên Mác - Tanh Toànquyền Đông Dơng, nhân lúc y sang Nhật đang dừng chân tại khách sạn Vichtô ria ở Sa Diện, Trung Quốc Tuy không thành công song tiếng bom mu sátMác - Tanh đã “Báo hiệu bắt đầu một thời kỳ đấu tranh dân tộc nh chim énnhỏ báo hiệu mùa xuân”
Ngày 14-7-1925, một nhóm trí thức tiểu t sản họp tại núi Con Mèo,thành phố Vinh thành lập Hội Phục Việt, sau đổi là Hội Hng Nam, thầy Trầnvăn Tăng quê ở Nghi Hoa - Nghi Lộc đã sớm tham gia tổ chức này và đã sớmtham gia cơ sở Hội ở thành phố Vinh, mở lớp dạy chữ quốc ngữ ban đêm chocông nhân và nhân dân lao động trong thành và tích cực truyền bá t tởng yêunớc trong nhân dân Hoạt động này bị bại lộ nên thầy Trần Văn Tăng đã bịthực dân Pháp đẩy đi dạy ở các nơi xa để cách li với phong trào yêu nớc ởthành phố Vinh rồi lâm bệnh qua đời năm 1929
ở Nghi Lộc, những ngời lãnh đạo trong Hội Hng Nam đã bắt liên lạcvới các trí thức con cháu của các văn thân lớp trớc nh Nguyễn Thức Tự (NghiTrờng) Đinh Văn Chất (Nghi Long) Cao Huy Tuân (Nghi Kim) Nguyễn ĐứcCông (Nghi Trung) để xây dựng cơ sở hội từ đây cơ sở Hội phục Việt năm
1928 đổi tên là Đảng Tân Việt đã phát triển dần trong các huyện
Năm 1929, toàn huyện đã có 25 Đảng viên Tân Việt hoạt động trongcác làng: Kỳ Trân, Đông Chữ, (Nghi Trờng), (Nghi Long), Kim Cẩm, kỳ Phúc(Nghi Trung) Pha thôn (Nghi Kim), Song Lộc (Nghi Hải, Nghi Hòa), Tân Hợp(Nghi Xuân), Long Trảo, Khánh Duệ (Nghi Khánh),Thu Lũng (Nghi Thu),
Mỹ Xá (Nghi Xá)
Thông qua các hoạt động trên đây, văn thơ yêu nớc và cách mạng nhất
là văn thơ của Phan Bội Châu đợc truyền bá ngày càng nhiều ở huyện NghiLộc Sự bất bình với chế độ cai trị và hà khắc của thực dân Pháp và phong kiếnNam Triều,các cuộc đấu tranh chống ách áp bức bóc lột lần lợt nổ ra ngàycàng nhiều ở các làng xã
Cuối năm 1929, các làng xã trong huyện đã nổ ra 22 cuộc đấu tranhtrong đó có 16 cuộc chống hào lí tham nhũng, ức hiếp nhân dân, 6 cuộc chốnglính đồn Thợng, chánh lùng bắt muối lậu và rợu lậu, hào lí tham nhũng, chấpchiếm ruộng đất của nhân dân các làng Phú Hòa (Nghi Thái), Cổ Đan, LộcThọ (Phúc Thọ), Tri Thủy (Nghi Quang), Kim Khê (Nghi Long)
Trang 40Qua các cuộc đấu tranh trên đây một số làng đã hình thành hai phe, phehào (Hào lý), phe hộ (phe dân) hai phe này đã chống nhau kịch liệt.
Những vụ khủng bố đó chẳng khác gì lửa đổ thêm dầu, càng làm cholòng căm thù đế quốc - phong kiến trong nhân dân lên cao và càng làm chophong trào cách mạng phát triển mạnh
Sau hàng chục năm bôn ba ở nớc ngoài và hoạt động trong phong tràocộng sản và công nhân quốc tế, cuối năm 1924, Nguyễn á0069 Quốc đanglàm nhiệm vụ quốc tế cộng sản ở Trung Quốc tại đây ngời đã bắt liên lạc vớiTân Việt thanh niên Đoàn tức (Tâm tâm xã) đi theo con đờng cách mạngTháng Mời Nga là cuộc cách mạng đang mở ra thời đại mới, thời đại cáchmạng vô sản dới ngọn cờ chỉ đạo của chủ nghĩa Mác - Lê nin, Ngời đã lựachọn những đoàn viên u tú trong Tân việt Thanh niên Đoàn lập ra Việt NamThanh niên cách mạng đồng chí hội để truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vàonớc ta
ở nghi Lộc, một số Thanh niên học sinh đã xuất dơng sang đây tựnguyện đi theo con đờng do Ngời vạch ra, Trơng Vân Lĩnh là một trong số 3thanh niên theo đạo Thiên Chúa quê ở Nghi Phơng đã đợc Ngời giáo dục vàkết nạp vào lớp hội viên đầu tiên của “Hội thanh niên” và nhóm bí mật cộngsản Đoàn
Trơng Vân Lĩnh có tên khai sinh là Trơng Văn Thanh Trong nhữngnăm hoạt động ở nớc ngoài, Trơng Văn Lĩnh đã dùng các biệt hiệu: Vân Lĩnh,Hồng Lĩnh, Chí Quang Trơng Vân Lĩnh sinh sống trong một làng ThiênChúa giáo toàn tòng, thuộc họ công giáo Mỹ Yên nằm cạnh Xã Đoài, trungtâm đạo Thiên Chúa của ba tỉnh, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình Tại xã Đoài
có tòa giám mục địa phận với hàng trăm nhà tu hành ngời Pháp và ngời Việt,
có nhà thờ lớn, có hệ thống trờng dòng, trờng tiểu và đại chủng viên, có nhàchung quản lý hàng chục kho lúa và ba bốn mẫu ruộng đất ở các xứ họ
Trơng Vân Lĩnh là con một gia đình ngoan đạo, từ năm 13 tuổi cha mẹ
đã xin vào hoặc ở trờng tiểu chủng Xã Đoài, thời bấy giờ đợc vào tiểu chủngviên là một đặc ân đối với ngời công giáo Sau 3 năm học tiếp cảnh tù túng,lãnh lẽo của nhà trờng và tập sách chữ La Tinh dày cộm với những giáo lý sáomòn không phù hợp với tính hiếu động của anh Mặt khác thái độ khinh miệtnhững ngời tu hành Việt nam là những mánh khóe lừa đảo, bóc lột con chiêncủa các cha cố ngời Pháp càng làm cho anh giảm hẳn đức tin đối với “việc
đạo” do đó Trơng Vân Lĩnh đã quyết định bỏ học, rời trờng Trơng Vân Lĩnh