Cùng với sự giúp đỡ to lớn của các thầy cô giáo đã giảng dạytôi trong suốt quá trình được đào tạo và học tập tại trường Đại học Vinh,của các cán bộ công nhân viên thuộc các cơ quan ban n
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
………*………
PHAN TUẤN XUÂN
ĐỜI SỐNG VĂN HÓA VẬT CHẤT CỦA NGƯỜI MƯỜNG
Ở HUYỆN THẠCH THÀNH (THANH HÓA)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
VINH : 2010
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
………*………
PHAN TUẤN XUÂN
ĐỜI SỐNG VĂN HÓA VẬT CHẤT CỦA NGƯỜI MƯỜNG Ở
HUYỆN THẠCH THÀNH (THANH HÓA)
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.54
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NguyÔn Trọng Văn
Trang 3VINH: 2010
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình tiến hành làm luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn của PGS, TS Nguyễn Trọng Văn một cách xát sao, tận tình
và chu đáo Cùng với sự giúp đỡ to lớn của các thầy cô giáo đã giảng dạytôi trong suốt quá trình được đào tạo và học tập tại trường Đại học Vinh,của các cán bộ công nhân viên thuộc các cơ quan ban ngành của Thư việnQuốc gia Hà Nội, Viện Dân tộc học, Thư viện tỉnh Thanh Hóa, Thư việntỉnh Nghệ An, Thư viện huyện Thạch Thành, Thư viện trường Đại họcVinh, Bảo tàng các dân tộc Thanh Hóa, Phòng văn hóa huyện ThạchThành, Phòng dân tộc huyện Thạch Thành, Phòng Thống kê huyện ThạchThành, Huyện ủy Thạch Thành…các nghệ nhân, các nhà nghiên cứu vănhóa dân tộc Mường ở Thanh Hóa đã cung cấp tư liệu cho tôi
Nhân dịp luận văn được hoàn thành, tôi xin bày tỏ tấm lòng biết ơntrước hết đối với PGS, TS Nguyễn Trọng Văn - là người trực tiếp hướngdẫn tôi nghiên cứu đề tài luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ khoa học và nhữngngười đã giúp đỡ tôi để hoàn thành luận văn này
Mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng, song không thể tránh khỏinhững thiếu sót trong luận văn Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiếncủa quý Thầy Cô và bạn đọc
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Vinh, tháng 12 năm 2010.
TÁC GIẢ
Phan Tuấn Xuân
Trang 4CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Nxb : Nhà xuất bản
Tr.CN : Trước công nguyên
Tr : Trang
KHXH : Khoa học xã hội
Trang 5MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU……… …… ……… 1
1 Lý do chọn đề tài………… ………… ………1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề ………3
3 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu………… ………6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu…… ……… 9
5 Đóng góp của luận văn………… ……… 10
6 Cấu trúc của luận văn……… ……… 11
NỘI DUNG……… 12
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TỘC NGƯỜI MƯỜNG Ở
HUYỆN THẠCH THÀNH (THANH HÓA) …….12
1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, địa giới hành chính huyện Thạch Thành (Thanh Hóa)……… ……….………12
1.1.1 Về tự nhiên……… ……….………… 12
1.1.2 Về địa giới hành chính ……….……….15
1.2 Vài nét về dân cư, tên gọi và lịch sử cư trú của người Mường ở huyện Thạch Thành (Thanh Hóa)……… ……… …….…17
1.2.1 Dân cư và sự phân bổ dân cư……… 17
1.2.2 Tên gọi và lịch sử cư trú……… ………… …………24
1.3 Vài nét về xã hội và đời sống tinh thần của người Mường ở huyện Thạch Thành (Thanh Hóa) ………31
1.3.1 Vài nét về giáo dục, y tế và xã hội…… … ……….31
1.3.2 Một số nét về văn hóa tinh thần của người Mường ở Thạch Thành )Thanh Hóa)… ……… 34
CHƯƠNG 2: ĐỜI SỐNG VĂN HÓA VẬT CHẤT TRUYỀN THỐNG
Trang 6CỦA NGƯỜI MƯỜNG Ở HUYỆN THẠCH THÀNH
(THANH HÓA) ……… 40
2.1 Kinh tế ……… ……….……….40
2.1.1 Trồng lúa nước……… … ….……….40
2.1.1.1 Phân loại ruộng và lịch canh tác………….……… 40
2.1.1.2 Các công cụ sản xuất chính……….……… 42
2.1.1.3 Giống lúa và các biện pháp kỹ thuật……….………45
2.1.2 Kinh tế nương rẫy……… …….……… 49
2.1.2.1 Phân loại nương rẫy và lịch canh tác…….……….……… 49
2.1.2.2 Công cụ lao động……….… ………… 50
2.1.2.3 Giống và các biện pháp kỹ thuật ……… ……….…51
2.1.3 Chăn nuôi……….… ………54
2.1.4 Khai thác nguồn lợi tự nhiên ………….……….55
2.1.5 Nghề thủ công truyền thống …….……… 58
2.1.5.1 Nghề rệt……… ……….………58
2.1.5.2 Nghề mộc……….………60
2.1.5.3 Nghề rèn……….……… 60
2.1.5.3 Đan lát……….……….62
2.2 Nhà ở……….………62
2.2.1 Nhà ở và khuôn viên ngôi nhà……… 62
2.2.2 Đồ dùng sinh hoạt trong gia đình……….69
2.3 Trang phục ……… ……….70
2.3.1 Các loại trang phục cơ bản……… ………… ………… 70
2.3.2 Hoa văn trên trang phục Mường…… ……… ………75
2.3.3 Trang phục trong đời sống xã hội của người Mường ………76
2.4 Ẩm thực……….………79
2.4.1 Các món ăn……….……… … ……… 79
2.4.1.1 Các món ăn có nguồn gốc thực vật…… … ……… 80
2.4.1.2 Các món ăn có nguồn gốc động vật…… ………85
2.4.1.3 Thức chấm……… …… ……… ………87
Trang 72.4.2 Thức uống, đồ hút và ăn trầu ……… ……….88 2.4.2.1 Thức uống……… 88 2.4.2.2 Đồ hút và ăn trầu……… ………92 2.4.3 Dụng cụ và cách thức chế biến trong ăn uống… …………93
CHƯƠNG 3: GIAO LƯU VÀ BẢO TỒN, PHÁT HUY NHỮNG GIÁ
TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI MƯỜNG Ở HUYỆN THẠCH THÀNH (THANH HÓA) ………….96
3.1 Sự giao lưu văn truyền thống của người Mường ở huyện Thạch Thành (Thanh Hóa)………… ….…….……….96
3.1.1 Với các dân tộc khác trong huyện Thạch Thành……… 96 3.1.2 Với người Mường ở những nơi khác……… ……… 103
3.2 Bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của người Mường ở huyện Thạch Thành (Thanh Hóa) … ………109
3.2.1 Công tác bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thốngcủa người Mường ở huyện Thạch Thành (Thanh Hóa) ……… ……109 2.2.2 Phương hướng và một số giải pháp nhằm bảo tồn, phát huynhững giá trị văn hóa truyền thống của người Mường ở huyện ThạchThành (Thanh Hóa) trong giai đoạn hiện nay ………….………114
KẾT LUẬN……… ……… ………… 118 KIẾN NGHỊ VỀ NHỮNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO ……… 121 TÀI LIỆU THAM KHẢO……….…………122
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài.
1.1 Việt Nam là một quốc gia có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bảnsắc dân tộc Sự đậm đà bản sắc dân tộc đó là sự kết tụ văn hóa của 54 dântộc anh em sinh sống trên đất nước Việt Nam Với sự cần cù, sáng tạo củanhững bàn tay và khối óc con người, các dân tộc anh em đã tạo ra chomình một đời sống văn hóa có bản sắc riêng Mặc dù có những khác biệt
về bản sắc văn hóa, thế nhưng họ lại đoàn kết, tương ái tương trợ, giúp đỡlẫn nhau trong cuộc sống, cùng nhau xây dựng và bảo vệ quê hương, đấtnước ngày càng giàu đẹp Để có một cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn vềbức tranh văn hóa các dân tộc Việt Nam, thì cần phải có sự một hiểu biếtđầy đủ về văn hóa của mỗi dân tộc Bởi lẽ đó, chúng ta phải nghiên cứumột cách toàn diện, sâu sắc về từng dân tộc, từng lĩnh vực đời sống xã hội,
để chúng ta có thể thấy được bản sắc văn hóa đó của mỗi dân tộc Có nhưvậy mới hy vọng hiểu được bản sắc văn hóa Việt Nam như thế nào
1.2 Là một dân tộc thiểu số Việt Nam, người Mường Thạch Thànhcũng như bao dân tộc khác sinh sống ở vùng đồi núi, với những điều kiện
tự nhiên phong phú và đa dạng: có rừng núi, sông suối với đủ các loạiđộng thực vật, có các thung lũng là những cánh đồng đất đai màumỡ….Những điều kiện tự nhiên thuận lợi như vậy, người Mường ThạchThành đã tạo ra cho mình một đời sống sinh hoạt văn hóa vô cùng phongphú và đa dạng Đó là một nghề nông trồng lúa nước, kết hợp với làmnương rẫy, khai thác các nguồn lợi tự nhiên (đánh bắt cá, săn bắn chim thú
và hái lượm), kết hợp với một lối sống sinh hoạt văn hóa kiểu bản mường
đã tạo cho người Mường Thạch Thành có sắc thái văn hóa vừa mang đặcđiểm chung của một dân tộc sinh sống ở vùng đồi núi, nhưng cũmg có
Trang 9những nét văn hóa hết sức riêng biệt mà không nơi nào có được như ởMường Thạch Thành Trải qua hàng ngàn năm cùng tồn tại với nhiều thế
hệ, những bản sắc văn hóa tốt đẹp đó đã trở thành những giá trị văn hóatruyền thống của người Mường nơi đây Nghiên cứu về văn hóa truyềnthống của người Mường ở Thạch Thành để giúp cho chúng ta có nhữnghiểu biết về đời sống văn hóa của người Mường trước kia như thế nào Từ
đó giúp cho chúng ta có những nhận thức, bày tỏ thái độ đối với việc giữgìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc
1.3 Ngày nay quá trình hội nhập quốc tế đang diễn ra hết sức mạnh
mẽ trên toàn thế giới Để hợp với xu thế, Đảng và Nhà nước ta đã thựchiện chính sách “mở cửa”, giao lưu, hội nhập với bên ngoài nhằm pháttriển kinh tế, văn hóa – xã hội cho đất nước Theo đó, các dòng văn hóakhác nhau ồ ạt du nhập vào nước ta, đe dọa nền văn hóa truyền thống củadân tộc Bởi thế việc du nhập các dòng văn hóa từ bên ngoài vào cần phảihết sức chú ý, phải chọn lọc sao cho phù hợp với hoàn cảnh thực tại củađất nước, vừa đảm bảo sự phát triển nhưng cũng không làm mất đi bản sắcvăn hóa truyền thống của dân tộc Đồng thời cũng cần phải có nhữngchính sách, biện pháp nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóatruyền thống của dân tộc Có như vậy chúng ta mới có được sự phát triểncân đối về văn hóa của đất nước có nhiều thành phần dân tộc đang phấnđấu trở thành một quốc gia tiên tiến trên thế giới
1.4 Đi cùng suốt chiều dài lịch sử, Thạch Thành là địa bàn cư trúcủa chủ yếu của hai dân tộc người Mường và Kinh Hai dân tộc này vốn
có chung một nguồn gốc là tộc người Lạc Việt, từ thuở hồng hoang đã cưtrú ở vùng đồi núi Thạch Thành Do sự biến thiên của lịch sử, vào khoảngthế kỷ X, XI nhóm người Lạc Việt bản địa này đã tách ra thành hai tộcngười khác nhau, bộ phận người ở lại vùng đồi núi sinh sống gọi là ngườiMường, còn một bộ phận người tràn suống vùng đồng bằng để khai phá tựnhiên, tạo dựng cuộc sống mới gọi là người Kinh Mỗi dân tộc đã địnhhình cho mình những đời sống sinh hoạt có bản sắc và nó trở thành những
Trang 10nét văn hóa truyền thống của dân tộc mình Do sự biến thiên của lịch sử,trong nhiều thế kỷ, nhiều bộ phận người khác nhau từ các nơi trong vàngoài tỉnh đã hội tụ về đây cùng với người bản địa sinh cơ lập nghiệp, xâydựng xóm làng Vì thế, người Mường Thạch Thành có điều kiện để giaolưu và tiếp súc văn hóa, làm cho bản sắc văn hóa truyền thống có sự biếnđổi và trở nên phong phú, đa dạng hơn Nghiên cứu văn hóa truyền thốngMường Thạch Thành trong sự giao lưu văn hóa với các tộc người khác là
sự cần thiết, là cơ sở cho định hướng phát triển kinh tế, văn hóa - xã hộicủa huyện Thạch Thành trong thời kỳ đổi mới Tuy nhiên vấn đề này hiệnnay vẫn chưa có được sự quan tâm đúng mức, nên vẫn còn là một khoảngtrống trong việc nghiên cứu về vấn đề tộc người Mường này Nghiên cứu
về văn hóa truyền thống của người Mường Thạch Thành trong sự giao lưuvăn hóa còn để nắm bắt những quy luật biến đổi và hướng phát triển vănhóa, thấy được những mặt tốt, mặt xấu, Từ đó có những chính sách, biệnpháp hợp lý trong việc phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội của địa phương
Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài ” Đời sống văn hóa vật
chất của người Mường ở huyện Thạch Thành (Thanh Hóa)” làm đề tài
luận văn tốt nghiệp thạc sĩ khoa học lịch sử, hy vọng sẽ có những đónggóp cho sự phát triển đời sống của người Mường và bảo tồn, phát huynhững bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của người Mường ở ThạchThành nói riêng, của các dân tộc Việt Nam nói chung trong giai đoạn hiệnnay
2 Lịch sử nghiên cứu vấn dề
Nghiên cứu về người Mường ở Thạch Thành hiện nay không còn làmột chủ đề mới nữa nhưng hiện nay còn có quá nhiều vấn đề cần đượctiếp tục nghiên cứu để làm rõ thêm Liên quan đến nội dung nghiên cứucủa đề tài thì cũng đã có nhiều nhà nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực khácnhau như dân tộc học, văn học, ngôn ngữ học, xã hội học… đã tìm hiểu vàcông bố các công trình nghiên cứu của mình, cung cấp cho chúng tôi
Trang 11những nguồn tư liệu có giá trị khác nhau Sau đây chúng tôi xin đưa ramột số công trình có liên quan đến đề tài, cụ thể là:
- Ở lĩnh vực dân tộc học: có cuốn “Các dân tộc ít người ở Việt Nam các tỉnh phía Bắc” của Viện dân tộc học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội
(1978) Trong cuốn này tác giả có đề cập đến nguồn gốc và đời sống sinh
hoạt của người Mường nói chung Cuốn “tiếp cận văn hóa bản Mường”
của Vương Anh, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, (2001), tác giả đề cập đếnrất nhiều vấn đề như nguồn gốc hình thành người Mường xứ Thanh, vềphong tục đời sống sinh hoạt văn hóa vật chất, tinh thần của người MườngThanh Hóa, trong đó đề cập đến cả người Mường ở Thạch Thành Cuốn
“Văn hóa đánh bắt chim thú tôm cá ở Thanh Hóa” của Hoàng Tấn Phổ,
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, (2004), tác giả nói về các hình thức sinhhoạt khai thác đánh bắt truyền thống các nguồn lợi tự nhiên của đồng bào
Mường ở Thanh Hóa Cuốn “Tìm hiểu luật tục các dân tộc người ở Việt Nam” của Ngô Đức Thịnh Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, (2003), tác giả
có đề cập đến một số phong tục và lụât tục của người Mường Cuốn “Nghi
lễ Mo trong đời sống tinh thần của người Mường” của Bùi Kiến Phúc.
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội (2004), tác giả đã đề cập đến nghi lễ Mocủa người Mường trong đó tác giả cũng lấy một số bài Mo của ngườiMường ở huyện Thạch Thành
Ngoài ra còn có công trình của Hoàng Tấn Phổ “Mối quan hệ giữa người Mường và người Việt ở Thanh Hóa” Tạp chí Dân tộc học số 3, (tr
23 – 31) Tác giả chủ yếu nghiên cứu mối quan hệ về nguồn gốc củangười Mường và người Việt ở Thanh Hóa Tác giả Hoàng Anh Nhân,
Vương Anh có cuốn “Đẻ đất, đẻ nước - sử thi dân tộc Mường”, Nxb Ty
Văn hóa Thanh Hóa, (1975), tác giả nói về truyền thuyết lập bản, dựngmườmg của người Mường ở Thanh Hóa trong đó có ở Thạch Thành
- Ở lĩnh vực văn học: Vương Anh có cuốn “Sử thi và thần thoại dân tộc Mường Thanh Hóa” và cuốn “Mo sử thi dân tộc Mường” Nxb Văn hóa dân tộc Hà Nội (1997) Cuốn “Tục ngữ dân ca Mường Thanh Hóa” của
Trang 12Minh Hiệu, Văn hóa dân tộc, Hà Nội (1999) Cao Sơn Hải có cuốn
“Những bài ca đám cưới của người Mường Thanh Hóa”, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, (2003) Võ Thị Hòa có cuốn “Chuyện cổ Mường”, Nxb
Văn hóa dân tộc, Hà Nội, (2003),.Nội dung các cuốn sách này viết về lĩnhvực văn học dân gian của người Mường xứ Thanh, trong đó tác giả có sưutầm ở Thạch Thành
- Ở lĩnh vực ngôn ngữ: Phạm Đức Dương – Hà Văn Tấn có cuốn
“Về ngôn ngữ Việt – Mương”, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, (1978).
Trong công trình nghiên cứu này tác giả chú trọng đến việc nghiên cứunguồn gốc và so sánh cách phát âm của người Mường và người Việt
- Ở lĩnh vực văn hóa: Vương Anh có cuốn “Mo sử thi dân tộc Mường”, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, (1997), Đặng Văn Lung – Bùi Thiện - Bùi Văn Nội có cuốn “ Mo Mường và nghi lễ tang ma”, Nxb Văn
hóa dân tộc, Hà Nội, (1996), nói về phong tục và nghi lễ mo của người
Mường Tác giả Trần Thị Liên, Nguyễn Hữu Kiên có cuốn “Văn hóa truyền thống Mường Đủ”, Nxb Sở văn hóa Thông tin Thanh Hóa (1986).
Tác giả đề cập đến một số nét về đời sống văn hoá của người Mường ở xãThạch Bình (Thạch Thành)
Ngoài ra còn có rất nhiều sách, báo, tạp chí…đề cập đến các lĩnhvựu có liên quan đến đề tài Nhưng qua các tác phẩm, các công trìnhnghiên cứu trên ta thấy hầu hết các tác giả đều đề cập đến các lĩnh vực conngười, kinh tế, văn hóa - xã hội…Song còn ở những phạm vi rộng, cònmang tính khái quát và tản mạn Việc tìm hiểu đời sống văn hóa vật chấttruyền thống của người Mường ở huyện Thạch Thành (Thanh Hóa) thìhiện nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách sâu sắc và toàn
diện Hy vọng với đề tài “Đời sống văn hoá vật chất của người Mường ở huyện Thạch Thành (Thanh hóa)” sẽ góp phần vào việc nghiên cứu một
cách sâu sắc và toàn diện về đời sống văn hóa vật chất truyền thống củangười Mường ở huyện Thạch Thành (Thanh Hóa) Là cơ sở để giúp chochính quyền địa phương huyện Thạch Thành tìm ra những giải pháp hữu
Trang 13hiệu nhất, nhằm nâng cao đời sống cho người dân Thạch Thành nóichung, người Mường ở huyện Thạch Thành nói riêng Đồng thời cũngnhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mường ở Thạch Thànhnói riêng, 54 dân tộc Việt Nam nói chung.
3 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu.
3.1 Nguồn tư liệu.
Có thể nói trong qúa trình đi sưu tầm, khai thác nguồn tư liệu phục
vụ cho việc nghiên cứu của luận văn, chung tôi thấy rằng nguồn tư liệu để
viết về “Đời sống văn hoá vật chất của người Mường ở Thạch Thành (Thanh hóa)” cũng khá phong phú và đa dạng, Do đó chúng tôi đã tiến
hành khai thác tư liệu ở nhiều nơi như: Thư viện tỉnh Thanh Hóa; Thưviện tỉnh Nghệ An; Thư viện quốc gia Hà Nội; Viện Dân tộc học; Thưviện trường Đại học Vinh; Các phòng ban ở Huyện Thạch Thành Việcgặp gỡ tiếp cận với nhiều thế hệ người Mườmg, những người có kinhnghiệm và hiểu biết về người Mường ở Thạch Thành Việc điền dã ở các
xã, làng, bản của người Mường làng Thượng (xã Thạch Lâm), xã ThạchTượng, xã Thành Yên, xã Thành Long, xã Thạch Bình…cũng cung cấpcho chúng tôi những nguồn tư liệu quý giá, phục vụ cho công tác nghiêncứu của luận văn Tuy nhiên, trong quá trình sưu tầm, nghiên cứu tư liệu,chúng tôi cũng gặp không ít những khó khăn trở ngại, đòi hỏi ngườinghiên cứu phải có những cố gắng nỗ lực hết mình, Như vậy mới có thểmong muốn hoàn thành luận văn một cách khả thi và khách quan Đề tài
“đời sống văn hoá vật chất của người Mường ở huyện Thạch Thành (Thanh hóa)” được sử dụng các nguồn tư liệu chính sau:
• Nguồn tư liệu dân tộc học
Các sách tiêu biểu như: Trong lịch sử người Việt và người Mường
là hai dân tộc hay một dân tộc; Góp phần tìm hiểu mối quan hệ Việt Mường; Trang phục các dân tộc người thiểu số; Loại hình làm rẫy hayhình thức trinh phục đồi núi của cư dân nước ta; Người Mường ở Tân Lạc
Hòa Bình; Văn hóa ẩm thực Mường; Mối quan hệ giữa người Việt và
Trang 14người Mường ở Thanh Hóa; Người Mường và văn hóa cổ truyền MườngBi; Góp phần tìm hiểu sắc thái văn hóa dân tộc Thái – Mường; Văn hóa
ẩm thực dân gian Mường Hòa Bình; Văn hóa ẩm thực Mường; Văn hóatruyền thống dân tộc Mường Ngọc Lặc và sự giao lưu văn hóa với các dântộc trong huyện Ngọc Lặc tỉnh Thanh Hóa; Các dân tộc Miền núi trung duBắc bộ; Nhà cửa các dân tộc ở miền trung du Bắc Trung bộ Việt Nam;
Tiếp cận văn hóa bản Mường; Văn hóa đánh bắt chim thú tôm cá ở Thanh
Hóa; Trang phục các dân tộc người thiểu số nhóm ngôn ngữ Việt –Mường, Tày – Thái …
• Nguồn tư liệu văn hóa
Các sách viết về văn hóa như: Cơ sở văn hóa Việt Nam; Đẻ đất đểnước; Mo Mường và nghi lễ tang ma; Truyện cổ các dân tộc miền núi phíaBắc miền Trung; Phong tục tập quán các dân tộc Việt Nam; Về ngôn ngữViệt - Mường; Sử thi và thần thoại dân tộc Mường Thanh Hóa; Đa vấn ca:truyện cổ dân gian Mường; Truyện cổ Mường…
• Nguồn tư liệu địa phương
-Tư liệu thành văn
Bao gồm các sách viết về Thanh Hóa do Sở văn hóa thông tinThanh Hóa ấn hành: Góp phần tìm hiểu sắc thái văn hóa Thái - MườngThanh Hóa; Văn hóa truyền thống Mường Đủ; Xường về mường, Khập vềbản – lời hát dân ca Mường và Thái; Truyền thuyết dựng bản lập mườngThanh Hóa; Tục ngữ dân ca Mường Thanh Hóa; Lịch sử Thanh Hóa (tậpII); Địa chí Thanh Hóa (tập II)…
Các sách viết về địa phương: Lịch sử Đảng bộ huyện Thạch Thành;Địa chí Thạch Thành Các tài liệu thành văn, các báo cáo tổng kết, cácbảng thống kê, các nghị quyết của huyện uỷ, các phòng ban thuộc uỷ banhuyện Thạch Thành như: phòng dân tộc, phòng thống kê, phòng giáo dục,phòng văn hóa, phòng dân số, phòng y tế, Uỷ ban nhân dân xã ThạchLâm, Uỷ ban nhân dân xã Thạch Tượng, Uỷ ban nhân dân xã ThạchQuảng, Uỷ ban nhân dân xã Thành Yên, Uỷ ban nhân dân xã Thạch Long,
Trang 15Uỷ ban nhân dân xã Thành Long, Uỷ ban nhân dân xã Thành Mỹ, Uỷ bannhân dân xã Thành Minh, Uỷ ban nhân dân xã Thành Công …
- Tư liệu hiện vật:
Bao gồm nhà cửa mà chúng tôi đã điền dã để tìm hiểu và chụp ảnhlại, các trang phục của người Mường, các vật dụng, công cụ lao độngtrong gia đình của đồng bào Mường
- Tư liệu truyền miệng
Qua việc điền dã, chúng tôi đã trực tiếp gặp gỡ trò truyện, trao đổivới các già làng, trưởng bản, những người có nhiều kinh nghiệm, hiểu biết
về đời sống của người Mường như: ông Hoàng Huyênh, ông Nguyễn HữuKiên (nguyên là trưởng phòng văn hóa huyện Thạch Thành), ông PhạmMinh Khoa (phó bí thư huyện uỷ Thạch Thành), ông Lê Văn Khuyên (Phóban tổ chức huyện ủy Thạch Thành), ông (mo) Nguyễn Đình Lương(Thạch Cẩm), ông (mo) Nguyễn Văn Đình, Nguyễn Đình Phúc (thônThượng, xã Thạch Lâm) …Chúng tôi ghi chép lại, sau đó so sánh, đốichiếu và đưa ra nhận xét cuối cùng phục vụ cho luận văn của mình
3.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, để hoàn thành tốt những yêu cầu đã đặt
ra của đề tài Chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợpvới đề tài Trước hết đó là phương pháp sử học Mác-xit Vì nó là phươngpháp thường gắn liền với khoa học – cách mạng và nhân văn, gắn liền tưtưởng với hiện thực
Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng phương pháp logic, phương pháplịch sử, phương pháp thống kê đối chiếu, phương pháp so sánh Vì trongquá trình thực hiện sưu tầm tư liệu, chúng tôi rất coi trọng khâu giám địnhnguồn tư liệu đó, nhằm nâng cao mức độ chính sác và khoa học của nó
Bên cạnh đó công tác điền dã cũng là một phương pháp mà chúngtôi sử dụng nó trong công trình nghiên cứu của mình Chúng tôi đã thựchiện việc điền dã tới tận các địa bàn cư trú của người Mường Trò chuyện,tâm sự, hỏi han các người già trong làng, các trưởng bản và những người
Trang 16có hiểu biết và ghi chép lại, sử lý so sánh, đánh giá và phân tích các sựkiện để đưa ra nhận xét cuối cùng cho luận văn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài.
Đề tài tập trung đi sâu nghiên cứu đời sống văn hóa vật chất truyền
thống của người Mường ở huyện Thạch Thành (Thanh Hóa), trong đó
trọng tâm là các loại hình kinh tế, nhà cửa, trang phục, ẩm thực của ngườiMường trên dịa bàn huyện Thạch Thành (Thanh Hóa)
4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài.
- Giới hạn không gian
Người Mường được xếp vào nhóm dân tộc ít người của Việt Nam.Thế nhưng về dân số thì người Mường có dân số đứng thứ hai chỉ sau dântộc Kinh mà thôi Địa bàn cư trú của người Mường hế sức rộng lớn Họ cómặt nhiều nơi trong cả nước như ở Hòa Bình, Thanh Hóa Nghệ An, Phúthọ…Vì địa bàn cư trú quá rộng lớn nên việc xác định không gian nghiêncứu như vậy là hết sức rộng vượt quá khả năng của chúng tôi Bởi vậychúng tôi chỉ nghiên cứu đời sống văn hóa vật chất của người Mườngtrong một địa giới hành chính ổn định là huyện Thạch Thành – ThanhHóa
- Giới hạn thời gian
Người Mường và người Kinh ở Thạch Thành là hai tộc người trướcđây có chung một nguồn gốc là người Lạc Việt bản địa Ngay từ buổihồng hoang, khi con người còn ở thời kỳ vín cành hái quả, chập chữngnhững bước đi đầu tiên thì họ đã có mặt ở nơi đây Trải qua những chặngđường phát triển dài và vô cùng gian khổ, đã hình thành nên những nếpsống văn hóa của dân tộc mình Đố chính là bản sắc văn hóa truyền thống.Bởi thế, đề tài tập trung nghiên cứu về văn hóa truyền thống của ngườiMường ở Thạch Thành (Thanh Hóa)
Những nội dung khác không nằm trong phạm vi nghiên cứu củaluận văn
Trang 175 Đóng góp của luận văn.
Điều cần khẳng định đầu tiên phải nói tới đó là luận văn là côngtrình nghiên cứu khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện và đầy
đủ về đời sống văn hóa vật chất truyền thống của người Mường ở huyệnThạch Thành – Thanh Hóa
Luận văn góp phần tái hiện lại quá trình xuất hiện, định cư, pháttriển của người Mường ở huyện Thạch Thành (Thanh Hóa), qua các đợtthiên di trong lịch sử từ miền xuôi lên và từ Hòa Bình sang với lịch sử,nguồn gốc và địa bàn cư trú khác nhau
Luận văn làm rõ đời sống văn hóa vật chất truyền thống của ngườiMường ở huyện Thạch Thành (Thanh Hóa) Trong đó tìm hiểu văn hóatruyền thống và sự giao lưu văn hóa với các tộc người khác
Luận văn còn là một tài liệu giúp cho các cơ quan chức năng cóthêm những căn cứ để vạch ra những chính sách, những chiến lược nhằmphát triển kinh tế, văn hóa, xã hội nâng cao đời sống cho nhân dân tronghuyện nói chung, cho người Mường ở Thạch Thành nói riêng Đồng thờibảo tồn và phát huy những bản sắc văn hóa của đồng bào Mường nơi đây
Luận văn còn là một tài liệu để giáo dục lòng tự hào dân tộc cho cácthế hệ hôm nay và mai sau Biết được trên mảnh đất mà chúng ta đangsống hôm nay, ông cha ta từ buổi hồng hoang đã có công gây dựng nên vàchúng ta, hôm nay là chủ nhân đang kế thừa những giá trị đó và sẽ làngười kế tiếp sự nghiệp xây dựng ấy Từ đó biết trân trọng và giữ gìnnhững bản sắc văn hóa cho quê hương sứ sở
Luận văn còn là một nguồn tư liệu cho các nhà nghiên cứu dân tộchọc tiếp tục nghiên cứu về dân tộc Mường: nguồn gốc, kinh tế, văn hóa,
xã hội… ở huyện Thạch Thành (Thanh Hóa)
Là nguồn tư liệu để tiếp tục tích hợp, nghiên cứu biên soạn tài liệuphục vụ cho công tác giảng dạy lịch sử địa phương
6 Cấu trúc của luận văn.
Trang 18Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nộidung chính của luận văn chia làm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về người Mường ở huyện Thạch Thành
(Thanh Hóa)
Chương 2: Đời sống văn hóa vật chất truyền thống của người
Mường ở huyện Thạch Thành (Thanh Hóa)
Chương 3: Giao lưu và bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa
truyền thống của người Mường ở huyện Thạch Thành (Thanh Hóa)
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ TỘC NGƯỜI MƯỜNG Ở HUYỆN
THẠCH THÀNH (THANH HÓA)
1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, địa giới hành chính
huyện Thạch Thành (Thanh Hóa).
1.1.1 Về tự nhiên.
Thạch Thành là một huyện miền núi, nằm về phía Bắc Đông Bắccủa tỉnh Thanh Hóa Trung tâm huyện lỵ cách thành phố Thanh Hóakhoảng 58km Toạ độ địa lý từ 105026’ đến 105047’ kinh độ Đông Từ
20003’ đến 20005’ vĩ độ Bắc Phía Bắc Tây Bắc giáp huyện Tân lạc, LạcSơn tỉnh Hòa Bình Phía Dông Bắc giáp huyện Nho Quan tỉnh Ninh Bình.Phía Tây Tây Bắc giáp huyện Cẩm Thuỷ, Bá Thước Phía Đông giáphuyện Hà Trung Phía Nam giáp huyện Vĩnh Lộc Cực Bắc là xóm CaoĐăng xã Thạch Lâm, đến cực Nam xóm Đồng Mực xã Thành Long dài61km Từ cực Đông cầu Vạn Bảo xã Thành Tâm, đến cực Tây đồi Hang
Ma xã Thạch Long dài 26km Diện tích đất tự nhiên là 55.811ha.[37, 11]
Trang 19Địa hình Thạch Thành được kiến tạo bởi ba hệ thống núi dá vôi vàđồi đất tạo thành hai lòng máng kế tiếp nhau Lòng máng thứ nhất đượctạo bởi hệ thống núi đá vôi Phong Thổ (Ninh Bình) kéo từ Sử Thượng(Thạch Lâm) đến Thành Vân và nối với dãy đồi đất của Thành Tâm Dỉnhcao nhất là núi Cái 663m; Cao Khu (Thạch Tượng) 525m, núi Dục Giác(Thành Vân) 233m Kết hợp với dãy núi đất ở giữa huyện chạy từ dốc ôngLào đến dốc cây Trầu và đi Ngọc Trạo Núi cao nhất là đồi Vọng Thuỷcao 108m, núi Tụ (Thành Kim) 101m, dồi Phú Sơn cao 55m….Tạo thànhlòng máng thứ nhất Lòng máng thứ hai do dãy núi đất ở giữa huyện, kếthợp với dãy núi dất phía Nam là dãy Hang Ma (Thạch Long) cao 117m,với dãy núi Ô Tráng - đồi Chu (Thạch Cẩm) cao 358m, núi Bai Long (EoTrăn của Thạch Quảng) cao 258m Hai lòng máng kế tiếp nhau và dốc từBắc Tây Bắc suống phía Nam [37, 12].
Sông, suối ở Thạch Thành cũng ảnh hưởng rất nhiều tới địa hình.Sông Bưởi dài 130km, chảy xuyên qua huyện và một hệ thống lưu vựcrộng lớn Sông Bưởi bắt nguồn từ Tân Lạc (Hóa Bình), chảy dài theochiều dọc của huyện, từ xóm Bãi Nhai (Thạch Lâm), đến Thạch Long Hạlưu đổ vào sông Mã ở hai xã Vĩnh Khang và Vĩnh Hòa (huyện Vĩnh Lộc).Sông chảy qua huyện từ Thạch Lâm đến Thạch Long dài 60km Lưu vựcsông Bưởi gồm có Khe Ngang (sông Ngang), bắt nguồn từ Tân Lạc (HòaBình), đổ vào sông Bưởi ở Thạch Lâm về phía Hữu Ngạn Hón Khống cóhai nhánh bắt nguồn từ Luông Gỗ và Thành Minh đổ vào sông Bưởi ởThành Trực Hón Bầu bát nguồn từ Tây Trác (Thành Long) đổ ra sôngBưởi ở Thành Hưng Ngoài ra còn có sông Nươm bắt nguồn từ hang Treochảy qua Thành Tâm và Ngọc Trạo đổ ra sông cầu Cừ
Do sự kiến tạo của sông, suối, núi, đồi đã làm cho địa hình ThạchThành bị chia cắt tạo thành những lòng máng nhỏ như lòng máng ThànhMinh – Thành Tâm; Thành Thọ - Ngọc Trạo; Thành Kim – Thành Long.Đây là điều kiện thuận lợi để có thể canh tác lúa nước [37, 13]
Trang 20Đất đai thổ nhưỡng ở Thạch Thành nhìn chung chia thành hai loạichính : pheralit và phù sa.
Căn cứ vào địa hình và kết cấu dịa tầng thì có thể chia địa hìnhThạch Thành thành ba vùng địa hình chính:
Vùng cao: chủ yếu là đất pheralít thuật lợi cho việc trồng màu (ngô,
sắn, đậu tương, đậu xanh), cây công nghiệp (mía), cây ăn quả (cam, quýt,bưởi, vải thiều), phát triển lâm nghiệp Gồm các xã Thạch Lâm, ThạchTượng, Thành Yên, diện tích (khoảng 3000 - 4000 ha)
Vùng giữa: gồm các xã Thạch Cẩm, Thạch Sơn, Thạch Dồng,
Thạch Bình, Thành Mỹ, Thành Vinh, Thành Trực, Thành Minh,ThànhCông Khoảng 4,5 đến 5,5 ngàn ha Thuận lợi cho việc trồng các loạicây như: mía, lạc, ngô, cam, chanh, vải, nhãn, cao su, cà phê Hiện naymía đang là cây trồng mũi nhọn của vùng này Ngoài ra có một số diệntích đất có thể canh tác được hai vụ lúa nước cho năng xuất cao
Vùng bằng: bao gồm các xã Thạch Long, Thành Hưng, Thành Tiến,
Thành Long, Thành An, Ngọc Trạo, Thành Tân, diện tích khoảng 5,5 đến
6 ngàn ha đồng ruộng Đây được xem là vựa lúa của Thạch Thành, nhất làThạch Long và Thành An
Về sông ngòi: Thạch Thành có sông Bưởi chảy qua dài khoảng
60km (từ Thạch Lâm đến Thạch Long), bổ dọc huyện làm đôi Sông Bưởi
có giá trị lớn về mặt giao thông đường thuỷ Đồng thời cung cấp phần lớnnước tưới cho canh tác nông nghiệp vào mùa khô và nước cho sinh hoạtcủa người dân Ngoài ra Thạch Thành còn có một số sông, suối khác nhưHón Khống, Hón Bầu, Khe Ngang, sông Nươm…và các hồ lớn như hồĐồng Sung, hồ Đồng Nga, hồ Đồng Ngư…để cung cấp nước cho nôngnghiệp vào mùa khô, chứa nước vào mùa lũ Tuy nhiên sông Bưởi uốnkhúc quanh co, độ dốc lớn, lòng sông hẹp nhất là ở thượng nguồn nênnước chảy xiết nên vào mùa mưa thường xuyên gây ra lũ lụt chủ yếu vàotháng 8, 9 Vào mùa khô thường bị thiếu nước, giao thông đường thuỷ gặpnhiều khó khăn.[37, 13]
Trang 21Về khí hậu: Thạch Thành có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhưng ảnh
hưởng của khí hậu miền Bắc nhiều hơn miền Trung Nhiệt độ trung bìnhnăm 22,90C, độ ẩm 85%, lượng mưa trung bình năm là 1500 - 1700ml/hg,chủ yếu tập trung vào tháng 4,5,8,9,10 Tháng 8,9,10 thường có mưa lớncho nên thường xuyên sẩy ra hiện tượng lũ lụt, Ngoài ra Thạch Thànhmùa nóng còn có hiện tượng gió Tây (gió Lào) vào tháng 4 đến tháng 6.Gió mùa Đông Bắc thổi vào tháng 11 đến tháng 3 năm sau và thường kéotheo mưa phùn, sương muối, gió rét, hanh khô gây ảnh hưởng tới đời sốngsinh hoạt của bà con.[37, 27]
Cho đến trước năm 1945, Thạch Thành còn rất nhiều rừng với độtre phủ cao chiếm tới 2/3 diện tích lãnh thổ Hiện nay, theo số liệu điều tracủa huyện năm 1991 toàn huyện chỉ còn 18.337 ha Rừng tập trung ở các
xã Thạch Lâm, Thạch Tượng, Thành Yên Ngoài ra Thạch Thành còn cómột phần của khu rừng bảo tồn vườn quốc gia Cúc Phương Rừng ThạchThành có nhiều loại gỗ quý như lim, lát, sến, táu ….tre nứa, luồng, mây và
có nhiều chim, thú quý
Có thể nói với điêu kiện tự nhiên như vậy, Thạch Thành có thể pháttriển một nền kinh tế đa dạng Đất phiến thạch sét thích hợp với các loạicây rừng, cây công nghiệp và cây ăn quả; đất phù sa sông suối thích hợpvới cây lúa, cây ngô, cây mía, cây đậu, cây bông; đất dốc tụ và phù sa cổthích hợp vớí cây lúa, cây ngô, mía…Vì thế, kinh tế Thạch Thành là mộtnền kinh tế nông nghiệp, kết hợp với khai thác tài nguyên rừng, chăn nuôi
và các nghề phụ khác Một nền văn hóa đa dạng
1.1.2 Về địa giới hành chính
Sự ổn định về mặt địa giới hành chính huyện Thạch Thành nhưngày hôm nay phải trải qua một quãng thời gian biến dổi rất dài và phứctạp
Thời tiền Hán (111.tr.CN), vùng Hà Trung, Bỉm Sơn về phía ĐôngNam huyện Thạch Thành ngày nay thuộc địa phận huyện Dư Phát huyện
lỵ đóng tại xã Hà Đông (Hà Trung) ngày nay.[8, 11]
Trang 22Năm 589, sau khi nhà Tuỳ thống nhất Trung Quốc Trung Quốc tiếnhành cải cách chia lại quận, huyện ở Việt Nam Vùng Hà Trung, VĩnhLộc, Thạch Thành ngày nay thuộc huyện Nhật Nam.[8, 628].
Cuối thế kỷ XII đến cuối thế kỷ XIV phần đất phía Tây ThạchThành ngày nay là huyện Tế Giang, phần đất phía Đông của huyện ThạchThành ngày nay là huyện Yên Lạc
Đến thời hậu Lê, Thạch Thành ngày nay thuộc phủ Thiiệu Thiên cótên là huyện Quảng Bằng và Thạch Thành, là hai trung tâm huyện của phủThiệu Thiên Lúc ấy huyện Quảng Bằng được chia thành 5 tổng, 23 sách(Quảng Địa 4 sách, Án Đổ 5 sách, Phú Ổ 4 sách, Cổ Biện 4 sách, TrườngCát 6 sách); Thạch Thành có 6 tổng 30 sách (Văn Lung 4 sách, Bình Bút 4sách, Kim Đông 3 sách,Trạc Nhật 6 sách, Tự Cường 5 sách, Hòa Luật 7sách) [37, 31]
Đến thời Gia Long, Quảng Bằng đổi thành Quảng Địa rồi QuảngTế
Đến thời Minh Mệnh (1836) Các huyện Vĩnh Lộc, Cẩm Thuỷ,Quảng Tế, Thạch Thành thành phủ Quảng Hóa
Đến thời Tự Đức thì Quảng Tế và Thạch Thành hợp nhất thànhhuyện Thạch Thành thuộc phủ Quảng Hóa
Đến trước cách mạng tháng Tám (8/1945), Thạch Thành vẫn giữnguyên 11 tổng, nhưng trong thời Nguyễn, đã chuyển làng Pháp Ngờ(Pháp Ngữ) cho Vĩnh Lộc
Đến cuối năm 1945, thì 11 tổng trước đây được đổi thành 11 xã.Huyện lỵ vẫn đóng tại đồi Phú Sơn (xã Minh Dạo) [37, 43]
Đến năm 1953, Thạch Thành chuyển cho Vĩnh Lộc 5 làng là CẩmBào, Xuân Áng, Yên Phong, Đồng Mực, Mỹ Chi và nhận của Hà Trung 2làng là Yên Thanh và Dọc Giành Toàn huyện chia thành 24 xã Đến năm
1965 thành lập thêm xã Thành Vinh và 2 thị trấn nông trường là thị trấnNông trường Vân Du thuộc xã Thành Vân và thị trấn nông trường ThạchThành trên đất La Thạch (Thạch Dịnh); Yên Dạ (Thạch Bình) [37 , 43]
Trang 23Ngày 07/9/1977, theo quyết dịnh của Hội đồng Bộ trưởng, sát nhập
2 huyện Thạch Thành và Vĩnh Lộc thành huyện Vĩnh Thạch Huyện lỵđóng tại núi Chè (Vĩnh Thành - Vĩnh Lộc)
Đến ngày 14/9/1982, theo quyết định của Hội đồng Bộ trưởng lạitách huyện Vĩnh Thạch ra thành huyện Vĩnh Lộc và huyện Thạch Thành
Ngày 23/11/1990, theo quyết định 519 của Hội đồng Chính phủthành lập thi trấn Kim Tân,
Đến tháng 12/1995, Thạch Thành có 25 xã và 3 thị trấn [37 47]
Từ 12/1995 đến nay, dịa giới hành chính huyện Thạch Thành không
có sự thay dổi lớn nào đáng kể, ảnh hưởng tới sự phát triển chung của toànhuyện Sự ổn định về địa giới hành chính của huyện là cơ sở cho Đẩng bộ,chính quyền và nhân dân huyện Thạch Thành ra sức phấn đấu, hăng saylao động sản xuất, xây dựng một nền kinh tế, văn hóa – xã hội của huyệnngày càng giàu đẹp hơn, văn minh hơn trên con đường công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước
1.2 Vài nét về dân cư, tên gọi và lịch sử cư trú của người Mường ở huyện Thạch Thành (Thanh Hóa).
1.2.1 Dân cư và sự phân bổ dân cư.
Thạch Thành vốn là miền đất của tổ tiên loài người Ngay tử thủhồng hoang, con người đã có mặt ở nơi đây Bằng chứng là qua việc tìmthấy hàng loạt các di vật mà các nhà khảo cổ học đã khai quật ở các di chỉkhảo cổ trên địa bàn huyện Thạch Thành như hang Con Moong, hang Lai;hang Tó; hang Mỹ Tế; mái đá Mộc Long; hang Đắng (thuộc xã ThànhYên)…[37, 71] Điều đặc biệt đáng chú ý nhất là các di vật tìm thấy được
ở hang Con Moong, chứng tỏ con người đã có mặt ở nơi đây cách ngàynay khoảng 12 nghìn năm, từ văn hóa Sơn Vi [37, 65]
Ở thời kỳ nguyên thuỷ, con người sống dựa vào thiên nhiên: săn bắt
và hái lượm, sinh sống chủ yếu ở vùng rừng núi, nơi gần các nguồn nướcsông, suối Trải qua một quá trình phát triển, con người đã tràn suốngvùng đồng bằng khai phá vùng đất đai phù xa màu mỡ do sông Bưởi tạo
Trang 24nên Lâu dần, họ đã tách thành hai dân tộc Kinh và Mường có đời sốngvăn hóa khác nhau Người Mường làm nhà sàn để ở với kiểu sinh hoạt vănhóa bản mường Người Kinh làm nhà trệt để ở với kiểu văn hóa làng xómcủa cư dân đồng bằng Mỗi dân tộc có những bản sắc văn hóa riêng Tuynhiên, họ là những cư dân bản địa bổ những nhát rìu đầu tiên để khai phávùng đất này, là người nhen nhóm nên nền văn hóa truyền thống của cácdân tộc người ở Thạch Thành.
Do sự biến thiên của lịch sử, trong nhiều thế kỷ các dòng người chủyếu là Kinh và Mường, từ nhiều nơi đã hội tụ về đây cùng với người bảnđịa sinh cơ lập nghiệp tạo dựng cuộc sống mới, đã là cho văn hóa truyềnthống có sự biến đổi và trở nên phong phú hơn Tuy vậy, dù nguồn gốctộc người có khác nhau, thế nhưng các dân tộc sinh sống ở Thạch Thànhđều đoàn kết một lòng, cùng nhau xây dựng quê hương ngày càng pháttriển và giàu đẹp hơn Họ có quyền tự hào về những thành quả lao động
mà họ đã đóng góp để xây dựng quê hương xứ sở, tạo nên sự chuyển biếntrong đời sống của các dân tộc đang sinh sống trên địa bàn của huyệntrong nhiều thế kỷ qua Giữa các dân tộc đã xây dựng được mối quan hệvới nhau một cách bền vững trong cộng đồng cư dân sống trên cùng mộtđịa bàn Mối quan hệ bền chặt ấy được gắn kết bởi tình làng nghĩa xóm,tương trợ và giúp đỡ lẫn nhau Sự đoàn kết dân tộc đó chính là sức mạnh,
là nền tảng cho mọi sự phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội một cách bềnvững của huyện Thạch Thành
Theo địa chí Thanh Hóa cho biết thì tổ tiên sa xưa của ngườiMường ở Thạch Thành là nhóm người thuộc bộ tộc Lạc Việt cư trú ởvùng đối núi Thạch Thành Họ là những cư dân bản địa đầu tiên khai phávùng đất này Do sự biến thiên của lịch sử, vào khoảng thế kỷ X, XI, một
bộ phận người Lạc Việt cư trú ở vùng đồi núi đã ở lại trong mường, trongbản và họ tự gọi mình là “người Mường” [59, 38] Có lẽ đặc điểm hìnhthành người Mường ở Thạch Thành này cũng giống như sự hình thànhngười Mường trong cả nước Vì thế ở Thanh Hóa gọi bộ phận người
Trang 25Mường này là “Mường trong”, gọi “Mường trong” là để phân biệt với
“Mường ngoài” “Mường trong” là từ phía Bắc Thanh Hóa trở vào trongphía Nam “Mường ngoài” là từ Hòa Bình trở ra Bắc Bộ phận “Mườngtrong” của Thạch Thành cư trú đầu tiên ở các Mường lớn đó là Mường Đẹ(thuộc xã Thạch Quảng), Mường Đủ, Mường Già, Mường Ó (thuộc xãThạch Bình), Mường Yến (thuộc xã Thạch Yến) Trong qua trình pháttriển tộc người, do sự biến thiên của lịch sử, nhiều bộ phận người Mường
từ nhiều nơi khác đã di cư về đây để sinh sống như người Mường ở HòaBình, Ninh Bình Hay bộ phận bgười Kinh từ nơi khác tới Thạch Thànhsinh sống, cùng với người Mường xây dựng xóm làng, lâu dần họ trởthành người Mường, địa bàn cư trú của người Mường ngày càng được mởrộng Bộ phận người Mường từ ngoài nhập cư vào Thạch Thành chủ yếulà:
- Các họ có nguồn gốc là Mường ngoài vào cư trú ở Thạch Thành:
Họ Đinh Xuân (Tế Hộ, Ổ Công) xã Thành Long từ Hòa Bình vào
Họ Đinh (Thành Yên) từ Ninh Bình vào
Họ Quách (Thạch Quảng, Thạch Sơn, Thành Tâm, Thành Thọ) từHòa Bình sang
- Các họ có nguồn gốc là người Kinh từ nơi khác nhau đến định cư
ở Thạch Thành và trở thành người Mường:
Họ Mai gốc là người Kinh (Thành Tâm) từ Nga Sơn lên
Họ Trương (Đại Định) từ Gia Miêu (Hà Trung) lên
Họ Nguyễn Đình (Thạch Bình) từ Gia Miêu (Hà Trung) lên [37,55]
Qua Việc điền giã, xác minh tư lệu chúng tôi thấy rằng các dòng họnày từ các nơi chuyển cư đến Thạch Thành để sinh sống hiện còn đượcghi lại trong gia phả các dòng họ về gốc tích tổ tiên và hiện vẫn còn cóquan hệ qua lại với họ hàng tổ tiên ở những nơi đó Người Mường ngoài
và người Mường trong cùng nhau lao động sản xuất, xây dựng xóm làngtạo nên một vùng mường rộng lơn như ngày nay Cho đến năm 1430, khi
Trang 26Nguyễn Đình Lý (là người có công giúp vua Lê chống quân Minh), đượcnhà Lê phong thưởng chức tước, lộc điền, cho cai quản 37 xứ Mường cưtrú trên khắp địa bàn của huyện Thạch Thành.[37, 76] Tháng 12/1945,toàn huyện Thạch Thành có 18 000 người, trong đó người Mường chiếm58%, Kinh khoảng 41,9%, các dân tộc khác chiếm 0,1% [37, 55].
Năm 2004 người Kinh là 75730 chiếm 52,69%, người Mường là
67970 chiếm 47,29%, còn lại là các dân tộc khác Hiện nay người Kinhchiếm khoảng 50%, người Mường chiếm khoảng 49% dân số huyệnThạch Thành, còn lại là các dân tộc khác.[54, 1]
Mặc dù có nguồn gốc khác nhau, có nét văn hóa và sinh hoạt khácnhau, ngôn ngữ cũng có phần khác biệt, nhưng không có một rào cản nàolớn Vì thế họ dễ dàng hòa đồng với nhau, tiếp thu văn hóa của nhau Từ
đó làm cho văn hóa truyền thống của người Mường Thạch Thành có sựbiến đổi và trở nên phong phú hơn Họ biết làm nương rẫy, đi rừng, đanlát, rệt thổ cẩm, làm nhà sàn, uống rượu cần… Đã trở thành một dân tộc
có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội của huyệnThạch Thành
Người Kinh bản địa có mặt ở Thạch Thành từ rất sớm, họ vốn cóchung nguồn gốc với người Mường bản địa là người Lạc Việt Như chúngtôi đã chúng minh ở trên, thế kỷ X, XI người Lạ Việt đã tách ra thành haitộc người khác nhau Kinh và Mường Địa bàn cư trú của người Kinh là ởvùng thấp bằng phẳng hơn địa bàn sinh sống của người Mường, chủ yếu ởvùng đồng bằng do phù xa sông Bưởi bồi đắp Họ có một nền văn hóa rấtcao với trình độ canh tác lúa nước giỏi hơn người Mường Làm nhà trệt
để ở, biết chăn nuôi gia súc, thả cá, buôn bán ….Trải qua nhiều thế kỷ sốlượng người Kinh ở Thạch Thành tăng lên đáng kể Năm 2004 ThạchThành có 75730 người Kinh .[54, 1]
Ngoài ra ở Thạch Thành còn có một số tộc người khác đã tới ThạchThành để định cư sinh sống như: Dao, HMông, Thái, Tày… Mặc dù họmang theo bản sắc văn hóa riêng của dân tộc mình, thế nhưng khi vàoThạch Thành, vì số lượng quá ít (0,9% năm 2008), lại phân bổ rải rác trên
Trang 27khắp địa bàn của huyện cho nên nó không có ảnh hưởng làm biến đổi đờisống văn hóa của các tộc người cư trú trên địa bàn của huyện, mà ngượclại họ lại bị cư dân bản địa đồng hóa Trải qua thời gian đời sống sinh hoạtcủa họ dần dần giống như người bản địa.
Bảng 1.1 Dân số chia theo đơn vị hành chính và dân tộc Năm 2004.
TT Tên đơn vị Tổng số dân số (người) Kinh % Mướng % Khác %
của 27 xã và 2 thị trấn, với mật độ dân số trung bình là 243 ngươi/km2 [51,
5]
Bảng 1,2 Thống kê diện tích, dân số, mật độ dân số (năm 2008)
TT Tên đơn vị Diện tích (km2) Dân số trung bình (người) Mật độ dân số (người/km2)
Trang 28Qua hai bản thống kê (bảng 1.1 và 1.2), ta thấy rằng người Mường
và người Kinh có tỷ lệ dân số ngang nhau:
có 2962 người chiếm 97,29% dân số toàn xã Thạch Tượng có 3357 ngườichiếm 96,69% dân số toàn xã Thành Công có 3792 người chiếm
Trang 2995,41% Đối với người Kinh tập trung đông nhất ở các nơi như thị trấnKim Tân là 4819 người chiếm 97,46% dân số toàn thị trấn Thị trấn Vân
Du có 4409 người chiếm 96,15% dân số toàn thị trấn Thành Hưng có
4534 người chiếm 99,41% Thành Kim có 6366 người chiếm 97,46%.Thạch Tân có 1956 người chiếm 97,92% Nhìn chung người Mường cưtrú chủ yếu ở những nơi vùng cao, đồi núi, nơi có địa bàn giao thông đi lạicòn khó khăn, nhất là vào mùa mưa, xa các trung tâm chính trị, văn hóa, ytế… Kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp trồng trọt, chăn nuôi Đốivới người Kinh, tập trung chủ yếu ở những nơi có địa hình thấp bằngphẳng giao thông thuận lợi có các điều kiện thuận lợi về kinh tế, văn hóa,
xã hội
Trải qua nhiều thế kỷ hình thành và phát triển, nhân dân huyệnThạch Thành đã có những đóng góp to lớn trong việc cùng nhau xât dựngquê hương ngày càng giàu đẹp Truyền thống yêu quê hương xứ sở đượcphát huy một cách cao độ thể hiện trong lao động, sản xuất và bảo vệ quêhương Điều đó đã được chứng minh trong suốt các chặng đường pháttriển của lịch sử huyện Thạch Thành Nhiệm vụ đó không phải là của một
cá nhân con người mà là của cả một tập thể người có sự đoàn kết nhất trícao độ của các dân tộc anh em sống trên cùng địa bàn Điều đó không thểkhông kể đến vai trò của của người Mường
1.2.2 Tên gọi và lịch sử cư trú.
Người Mường là một dân tộc cư trú ở vùng núi và trung du nước ta
Từ phias Bắc là Phú Thọ kéo dài suống phía Nam qua các tỉnh Hà Tây,Sơn La, Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An Đó là vùng trunglưu của các con sông lớn: sông Hồng, sông Đà, sông Mã, Sông Chu Phíadưới (Đông) là khu vực giáp với cư dân người Kinh, phía trên (Tây) làkhu vực giáp với cư dân người Tày, Thái Qua sự phân bổ địa bàn cư trúcủa người Mường trong cả nước, chúng ta thấy người Mường sinh sốngkhá tập trung Bởi thế người Mường Thanh Hóa mang những yếu tố vănhóa chung của người Mường trong cả nước Tuy nhiên cũng mang những
Trang 30yếu tố văn hóa đặc thù của Mường địa phương trong sự giao lưu văn hóavới các dân tộc sống trên cùng địa bàn.
Thanh Hóa là điạ bàn cư trú của rất nhiều dân tộc thiểu số khácnhau Người Mường sống tập trung chủ yếu ở phía Bắc thuộc lưu vựcsông Chu, qua lưu vực sông Mã rồi kéo dài về phía Bắc nối liền với vùngMường Hòa Bình và Ninh Bình bằng con sông Ngang (thượng nguồn củasông Bưởi), rừng Quốc gia Cúc Phương Chủ yếu phân bố trên địa bàn cáchuyện Thạch Thành, Cẩm Thuỷ, Ngọc Lặc, Quan Hóa và rải rác ở nhiềuhuyện khác [3, 55] Vì thế người Thanh Hóa gọi là “Mường trong” và
“Mường ngoài”
Theo Vương Anh trong cuốn “tiếp cận văn hóa bản Mường” Nxb
Văn hóa dân tộc, Hà Nội, (2001); Đinh Xuân trong cuốn “Góp phần tìm hiểu sắc thái văn hóa dân tộc Thái - Mường Thanh Hóa”, Hội Văn học
nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam, (2009) và một số tài liệu nghiêncứu khác thì người Mường Thanh Hóa được hình thành từ bốn dòngchính:
Thứ nhất là người Mường từ phia Bắc Thanh Hóa tràn vào, chủ yếu
là ở Hòa Bình, ở bốn mường chính: mường Bi, mường Vang, mườngThàng, mường Động, nhất là mường Bi (gọi là Mônl Pi, khi dịch sangtiếng Việt đọc là Mọi Bi) Trong lịch sử, đã chứng minh các tài liệu nhưđịa chí Thanh Hóa, địa chí Hòa Bình, gia phả các dòng họ của ngườiMường ở Thạch Thành và nhiều tài liệu khác cho thấy cuối thế kỷ X cómột đợt di cư người đông từ Hòa Bình vào Thanh Hóa Sau đó các thế kỷtiếp theo vẫn có người Mường tiếp tục chuyển cư vào Thanh Hóa Nguyênnhân là do chống cường quyền, mâu thuẫn đẳng cấp, bất đồng chính kiến.Đến năm 1838, lại có một đợt chuyển cư rất đông từ khu vực mườngVang (Hòa Bình) vào các huyện Thạch Thành, Cẩm Thuỷ, Ngọc Lặc, BáThước mà thười gọi là “chạy vạ voi” Đó là cuộc khởi nghiã của Lê DuyLương (con của Lê Duy Hoán, cựu thần nhà Lê), lãnh đạo cuộc khởinghĩa nổ ra từ năm 1833 đến năm 1838 thì bị nhà Nguyễn dập tắt Những
Trang 31người tham gia khởi nghĩa phải đem vợ con, gia đình chạy vào Thanh Hóa
để lánh nạn [81, 16]
Thứ hai là bộ phận Mường đáng chú ý nhất Căn cứ vào rất nhiều
tài liệu như trong văn học dân gian của người Mường Thanh Hóa như cáccâu truyện truyền thuyết, truyện thơ Mường, các bài xường, tục ngữ, cadao đặc biệt là bộ sử thi Mường “đẻ đất, đẻ nước” để khẳng định ThanhHóa có bộ phận người Mường bản địa Họ đã có mặt ngay từ buổi bìnhminh trên vùng đất Thanh Hóa [81, 16]
Thanh Hóa cùng với nhiều nơi khác là một trong những cái nôi của
tổ tiên loài người Theo nghiên cứu của nhiều nhà khoa học và nhiềungành khoa học nhất là ngành nhân chủng học và ngôn ngữ học, thì ngườiMường và người Kinh có chung một nguồn gốc là người Lạc Việt xưa,thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường, chủ nhân của nền văn hóa Đông Sơnnổi tiếng Tại địa chí Thanh Hóa tập II ghi rõ “ý kiến của nhiều nhà khoahọc đề thống nhất đây là bộ phận cư dân bản địa của Việt Nam, tổ tiêntrực tiếp của họ là người Lạc Việt một trong những củ nhân của nền vănhóa Đông Sơn của văn minh Sông Hồng nổi tiếng” [3, 6]
Người Lạc Việt lúc đầu vốn cư trú ở vùng đồi núi trong các thunglũng gần các nguồn nước sông, khe suối Trong quá trình sinh sống xã hộiViệt Nam phải chịu ách đô hộ hơn ngàn năm của phong kiến phương Bắc
từ năm 111.tr.CN đến năm 938 Trong thời gian đó, phong kiến phươngBắc đặt ách đô hộ nhằm đồng hóa nhân dân ta về mặt văn hóa Bắt nhândân ta phải học tiếng Hán và các phong tục tập quán của người TrungHoa Tuy nhiên với tinh thần dân tộc, nhân dân ta đã chống lại sự đồnghóa đó, nhằm giữ gìn bản sắc văn hóa Việt Nam Tuy nhiên cũng có một
bộ phận người Việt đã chịu sự tác động của quá trình đồng hóa đó, tiếpthu có chọn lọc những yếu tố văn hóa phù hợp với hoàn cảnh cụ thể củadân tộc mình
Một bộ phận người Lạc Việt sống chủ yếu ở vùng đồi núi hiểm trở
đã thu mình lại, kiên quyết từ chối sự đồng hóa của ngoại bang để bảo vệ
Trang 32những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc và phát triển theo kiểucách riêng của mình Họ tự gọi mình là “Người Mường” (Mol) Mường tức
là người ở lại trong mường, trong bản Còn một bộ phận người Lạc Việtkhác sống ở vùng thấp hơn, địa hình bằng phẳng, đã chịu sự tác động quámạnh bởi dòng văn hóa phương Bắc Dần dần bộ phận người Lạc Việt này
đã tách dần ra khỏi nhau và họ tự gọi mình là “Người Kinh”, tức là người
ở kinh kỳ kẻ chợ Mỗi dân tộc có những đời sống sinh hoạt và tạo nênnhững bản sắc văn hóa riêng của từng dân tộc đó [81, 12]
Quá trình chuyển hóa thành hai bộ phận này diễn ra chậm chạp đếnhàng ngàn năm Mãi đến thế kỷ X, XI thì hai bộ phận này mới tách hẳnnhau ra thành hai dân tộc riêng biệt, có đời sống sinh hoạt riêng ThanhHóa là một trong những cái nôi của tổ tiên loài người nên người Mường
có mặt ở đây từ rất sớm, đó là người Mường bản địa “Mường trong”
Thứ ba là bộ phận người Kinh sống xen kẽ lâu ngày với người
Mường, hoặc qua hôn nhân, tạo nên thế hệ người Kinh - Mường hayMường – Kinh Dần dần họ trở thành người Mường hay nói đúng hơn là
bị Mường hóa, học theo văn hóa của người Mường [3, 6]
Thứ tư là bộ phận người sống ở khu biệt, ở một vùng rừng núi dọc
theo đường 15 từ Thanh Hóa đi Nghệ An Đây là vùng đất lộc điền củaCẩm quan lang, thổ giản, phụ đạo Lê Phúc Thành Cả vùng tự gọi mình làngười Thổ tức đất của người Mọi sinh hoạt như nhà ở, tập quán, tínngưỡng giống như người Mường bản địa tới 70%
Qua nguồn gốc hình thành người Mường ở Thanh Hóa, ta thấy rắng
có hai bộ phận chính Đó là Mường bản địa và Mường ngoài khu vựcThanh Hóa chuyển cư vào, chủ yếu là ở Hòa Bình Mường bản địa ThanhHóa gọi là “Mường trong”, Mường ngoài Thanh Hóa chuyển cư vào gọi là
“Mường ngoài” Mường trong và Mường ngoài có những sắc thái văn hóakhác nhau Trong quá trình sinh sống, hai nền văn hóa đã có sự giao lưulàm biến đổi văn hóa truyền thống của mỗi dân tộc
Trang 33Thạch Thành là một trong những địa bàn cư trú khá đông đúc củangười Mường Qua vệc khảo cứu, tổng hợp các ý kiến khác nhau, thuthập, xác minh tư liệu, chúng tôi thấy rằng người Mường Thạch Thànhbao gồm có cả “Mường trong” và “Mường ngoài” Để có được một cộngđồng cư dân người Mường như ngày hôm nay, thì nó được hình thành từ
ba bộ phận khác nhau
Thứ nhất, như phần trên chúng tôi đã giải thích, đó là bộ phận người
Mường có nguồn gốc chung với người Kinh là người Lạc Việt Đến thế kỷthứ X thì tách thành 2 dân tộc Mường và Kinh Đây là bộ phận ngườiMường bản địa Bằng chứng để chứng minh điều đó là trong lịch sử pháttriển của Thạch Thành thì Thạch Thành là một trong những nơi cư trú lâuđời của loài người trên đất nước Việt Nam Qua việc khai quật các di chỉkhảo cổ ở Thạch Thành, đặc biệt là ở hang Con Moong, các nhà khảo cổ
đã tìm thấy các các di vật thuộc các tầng văn hóa khác nhau, kế tiếp từ vănhóa Sơn Vi đến văn hóa Đông Sơn có niên đại cách ngày nay khoảng 12nghìn năm Các di chỉ khảo cổ đều nằm trên địa bàn thuộc các mường lớnxưa kia của người Mường như mường Đủ (có di chỉ khảo cổ là hang ĐáBạc thuộc xã Thạch Bình ngày nay), mường Đẹ (thuộc xã Thạch Yến).Đồng thời qua câu truyện lịch sử của làng Án Đổ (xã Thạch Bình) về sựtích thờ thần Thành hoàng làng, chứng tỏ rằng cư dân làng Án Đổ đã tậptrung quần tụ sinh sống ở đây rất đông từ rất sớm Vậy không thể nàongười Mường từ nơi khác (ngoài huyện) lại đến đây xua đuổi hết cư dânbản địa để lập nên mường, nên bản của họ Mà trong lịch sử Án Đổ cũngnhư lịch sử huyện Thạch Thành chưa hề nhắc tới có một cuộc sung độtgiữa các tộc người nào diễn ra ở Án Đổ hay ở những nơi khác Bên cạnh
đó người Mường Thạch Thành có một nền văn hóa truyền thống lâu đời
Họ có cả một kho tàng văn học dân gian đồ sộ, từ các câu truyện cổ dângian, truyện thơ, tục ngữ, ca dao Đặc biệt là qua việc nghiên cứu tácphẩm sử thi “đẻ đất, để nước”, đã cho chúng ta những căn cứ về việcngười Mường ở Thạch Thành là người bản địa Cuốn “đẻ đất, đẻ nước - sử
Trang 34thi dân tộc Mường” của Hoàng Anh Nhân và Vương Anh, Nxb Ty vănhóa Thanh Hóa, (1975), đã kể lại: khi cây Si chết đổ suống thì các cànhcủa cây Si đổ suống thành một nghìn chín trăm mười chín cành [47, 32].
“Một cành đổ về đất Khoòng, đất Đẹ
Nên mường Khoòng, mường Đẹ.”
Mường Khoòng ở xã Cổ Lũng - Bá Thước, mường Đẹ ở xã ThạchQuảng - Thạch Thành
“Một cành ngả về đất Lập đất Yến
Nên mường Lập mường Yến”
Mường Lập, mường Yến thuộc xã Thạch Lập - Ngọc Lặc, mườngYến cũng có ở xã Thạch Yến - Thạch Thành [47, 33]
“Một cành ngả sang đất Đủ, đất Ó
Nên mường Đủ, mường Ó”
Mường Đủ, mường Ó nay thuộc xã Thạch Bình - Thạch Thành
“Một cành ngả về đất Già
Nên mường Già”
Mường Già thuộc xã Thạch Bình - Thạch Thành [47, 34]
Qua việc nghiên cứu sử thi “Đẻ đất, đẻ nước” của dân tộc MườngThanh Hóa cho thấy các bản mường của người Mường Thạch Thành đượcthành lập cùng với nhiều bản mường ở các nơi khác của người Mườngtrong tỉnh (Ngọc Lặc, Cẩm Thuỷ, Bá Thước), ngoài tỉnh (Hòa Bình).Người Mường Thạch Thành có quyền tự hào, sánh vai ngang hàng cùngvới lịch sử hình thành tộc người với người Mường trong và ngoài tỉnh.Các tên mường được thành lập hiện nay vẫn còn dấu tích qua các địa danhtên làng, tên xã Người Mường bản địa này là “Mường trong”
Bộ phận thứ hai đó là bộ phận người Mường từ Hòa Bình di cư vàoThạch Thành Đây là quá trình tiếp tục hình thành tộc người Mường ởThạch Thành Vào cuối thế kỷ thứ X một bộ phận người “Mường ngoài”
từ Tân Lạc (Hòa Bình) thuộc các mường Bi, Vang đã di cư vào ThanhHóa Thạch Thành cũng là điểm dừng chân của họ Các thế kỷ sau vẫn
Trang 35tiếp tục diễn ra quá trình di cư đó Đến năm 1838 lại có một đợt di cư ườilớn từ huyện Tân Lạc (Hòa bình) vào các huyện Thạch Thành, Cẩm Thuỷ,Ngọc Lặc, Bá Thước [81, 16] Bởi thế, cư dân Mường Thạch Thành ngàymột đông lên chủ yếu là các dòng họ lớn đến định cư ở các xã như:
Họ Đinh Xuân (Tế Hộ, Ổ Công) xã Thành Long từ Hòa Bình vào
Họ Đinh (Thành Yên) từ Ninh Bình vào
Họ Quách (Thạch Quảng, Thạch Sơn, Thành Tâm, Thành Thọ) từ Hòa Bình sang [37, 55]
Đã cùng với người Mường bản địa dựng bản, lập mường, sinh cơlập nghiệp, cùng xây dựng quê hương Thạch Thành
Bộ phận thứ ba làm cho tộc người Mường ở Thạch Thành tăng lên
đó là bộ phận người Kinh (cả người Kinh bản địa và người Kinh từ cácvùng miền khác), đã định cư xen kẽ sinh sống cùng với người Mường.Cùng nhau xây dựng xóm làng, tạo dựng cuộc sống Lâu ngày họ đã dầndần bị ảnh hưởng bởi văn hóa của người Mường, cho nên họ đã bị
“Mường hóa” và họ trở thành người Mường Các dòng họ vốn là ngườiKinh trở thành người Mường đó là:
Họ Mai gốc là người Kinh (Thành Tâm) từ Nga Sơn lên
Họ Trương (Đại Định) từ Gia Miêu (Hà Trung) lên
Họ Nguyễn Đình (Thạch Bình) từ Gia Miêu (Hà Trung) lên… [37,55]
Qua sự trình bày ở trên, chúng ta thấy rằng ở Thạch Thành tồn tại
cả người “Mường trong” và “Mường ngoài” Do quá trình di cư của ngườiMường ngoài vào Thạch Thành từ rất sớm Bởi thế văn hóa truyền thốngcủa người Mường Thạch Thành nói chung được hình thành dựa trên sựđan xen giữa hai yếu tố văn hóa “Mường trong” và “Mường ngoài”.Nghiên cứu về văn hóa truyền thống Mường Thạch Thành trong sự giaolưu cũng rất khó có thể nói đâu là bản sắc văn hóa của người Mường bản
Trang 36địa, đâu là văn hóa của người Mường ngoài Tuy nhiên sự giao lưu vănhóa đó đã làm cho bản sắc văn hóa truyền thống của người Mường ThạchThành phong phú và đa dạng hơn
1.3 Vài nét về xã hội và đời sống tinh thần của người Mường ở huyện Thạch Thành (Thanh Hóa).
1.3.1 Vài nét về giáo dục, y tế và xã hội.
Người Mường Thạch Thành cũng giống như người Mường trong cảnước, có tiếng nói riêng nhưng không có chữ viết Từ 1945 trở về trước,việc học hành của người Mường hết sức hạn chế, không được chú ý pháttriển, mặc dù giáo dục ở Thạch Thành sớm được phát triển Theo bia vănchỉ hàng huyện Quảng Bạ đặt tại La Thạch, tổng Trường Cát, nay thuộc
xã Thạch Bình thì trước năm 1437, thời nhà Lê là huyện Quảng Bình đã
có “cửa hiền” (trường học ngày xưa) Những người được đi học chủ yếu
là người Kinh, còn người Mường được đi học chủ yếu là con nhà langđạo, chúa đất, bộ phận dân cày không có điều kiện để đi học Sang thời kỳPháp thuộc, cùng với việc thực hiện chính sách ngu dân của chúng, việcphát triển giáo dục lại càng bị hạn chế Vì thế, người Mường lại càngkhông có điều kiện để đi học
Từ năm 1920 – 1945 Thạch Thành mới có 6 trường tiểu học khônghoàn chỉnh đó là:
- Trường huyện đặt tại Kim Tân ngày nay
- Trường tổng Trường Cát đặt tại xóm Tám – Thành Hưng ngàynay
- Trường tổng Trạc Nhật đặt tại làng Trạc Nhật ngày nay
- Trường tổng Cổ Tế đặt tại làng Cổ Tế thuộc xã Thạch Long ngàynay
- Trường tổng Án đặt tại làng Án Đổ thuộc xã Thạch Bình ngàynay
- Trường tổng Ngọc đặt tại làng Đồng Chư thuộc xã Thành Côngngày nay
Trang 37Số lớp không quá 18 lớp, số học sinh không quá 700 người Sốngười đậu Prime tính đến năm 1945 toàn huyện không quá 30 người, dântộc Mường có 2 người Cho đến trước 1945 toàn huyện có từ 95% đến97% dân số mù chữ không biết đọc, biết viết [37, 455].
Việc chăm sóc sức khoẻ, y tế cho người Mường từ 1945 trở vềtrước cũng chưa được chú ý Trong nhà có người đau ốm thường thì haymời thầy cúng đến để bắt ma, xin nước thải, lấy nái Quan niệm của bàcon là “thuốc tra, mà cầu”, hoặc hái lá trong rừng để làm thuốc Do cáchchữa bệnh của bà con người Mường còn quá lạc hậu, cho nên các bệnhthường gặp thường là không chữa được dân đến tử vong Mãi đến năm
1936 thì Thạch Thành mới có nhà thương Cơ sở vật chất kỹ thuật và dụng
cụ y tế thời đó còn quá lạc hậu, trình độ thầy thuốc còn nhiều hạn chế.Nhưng cũng chỉ để khám và chữa bệnh cho quan lại, lang đạo và nhà giàu
Dân thường mời được thầy chữa là vô cùng khó khăn [37, 480].
Trước cách mạng tháng Tám (1945), chế độ chính trị của ngườiMường là chế độ lang đạo Lang đạo là người có quyền hành, thế lực nhấtđất Mường, có quyền “truyền tử độc tôn” Ở Thạch Thành có hai dòng họnhà lang có thế lực lớn nhất đó là dòng lang Nguyễn Đình và dòng langQuách Công, chia nhau cai quản các xứ Mường ở Thạch Thành:
Nguyễn Đình cai quản các mường, làng: mường Đẹ (Thạch Lâm,Thạch Quảng, Thạch Tượng); mường Vồn (Thạch Môn); mường Én(Thạch Yến); mường Ròng (Xuân Lũng); mường La Khơn (Sơn, làng LaSơn); Yên Lão, Thang Sú, Đồng Hội Trường Châu, Đồng Chư, ThủChính, Yên Đồ, Bình Công, Vô Ngao, mường Khẹ (Lệ Cẩm), mường Đòn(Đòn, Vân Đội); Đồng Luật, Nỏ Sơn, Đại Định, Phố Cát
Quách Công cai quản các mường, làng: Bái Đằng, Án Đổ, BằngPhú, Sậu, Thiềm Niêm, Phan Long, Ấp, Ban Long, Ngọc Trọ, Yên Thịnh,Phú Bản, Sơn Để, Hòa Luật, Vọng Thủy, Kim Động,Thạch Lỗi, ĐồngKhanh, Mỹ Tân [37, 107]
Trang 38Trong đó Mường Đẹ được coi là thủ đô của đất Mường ThạchThành do dòng lang Nguyễn Đình cai quản Đây là dòng lang có thế lựcmạnh nhất Ông tổ là Nguyễn Đình Lý người ở Tốnug Sơn (Hà Trung).
Tầng lớp lang đạo là giai cấp thống trị có đủ mọi quyền hành Núirừng, chim muông, cây cỏ, đồng ruộng…đều thuộc của nhà lang hay chúađất Mọi người trong Mường đều phải phục tùng nhà lang Lang đạokhông bao giờ quan tâm đến đời sống của cộng đồng cư dân trong vùng,chỉ biết bóc lột mà thôi Mọi người trong mường đều là tôi tớ nhà lang Vìthế, đời sống của người Mường dưới chế độ lang đạo vô cùng khổ cực
Thực dân Pháp sâm lược nước ta, chúng đã đặt ách cai trị lên đấtThạch Thành thì lang đạo là chỗ dựa cho chính sách cai trị của thực dânPháp Trong phong trào kháng chiến chống Pháp và bọn tay sai của chúng,người Mường cùng với nhân dân Thạch Thành đã kháng chiến chống lạichúng Đặc biệt với sự ra đời và hoạt động của chiến khu Ngọc Trạo, đãchứng tỏ sự đóng góp của người Mường trong phong trào cách mạng giảiphóng dân tộc năm 1945 ở Thạch Thành
Về tổ chức xã hội, qua các câu truyện truyền thuyết dân gian nhưtruyện Nàng Nga Đạo Hai Mối, Út Lót Hồ Liêu… chứng tỏ trước kia ởThạch Thành đã tồn tại một tổ chức xã hội truyền thống, trong đó mườngđược coi là đơn vị hành chính cao nhất, bao gồm nhiều bản Cai quản cácmường là các quan lang Quan lang cũng có những cấp bậc riêng Đứngđầu là lang Cun, dưới lang Cun có bốn lang đại không thuộc dòng dõi nhàlang Sau lang Cun thuộc dòng dõi nhà lang là lang đạo, rồi đến lang.Lang Cun cai quản cả một vùng mường rộng lớn gồm nhiều mường nhỏ.Lang đạo và lang cai quản các mường to nhỏ khác nhau Dưới mường làbản, là đơn vị hành chính nhỏ nhất, gồm nhiều hộ gia đình sinh sống gầnnhau trong một khu vực địa giới nhất định Đứng đầu bản là trưởng bảnhay còn gọi là già làng Là người nhiều tuổi, có thế lực và uy tín nhấttrong bản Bản là nơi cư trú của các gia đình và là nơi diễn ra các sinhhoạt cộng đồng của người Mường Mặc dù thiết chế xã hội truyền thống
Trang 39của người Mường tồn tại dai dẳng hàng chục thế kỷ Thế nhưng, trải quanhiều triều đại phong kiến Việt Nam, các triều đại phong kiến đã hết sứckhéo léo lồng ghép bộ máy hành chính phong kiến của mình vào trongbản, mường, tồn tại song song bên cạnh bộ máy cai quản mường là langđạo Trong hoạt động, hai bộ máy hành chính này không hề chồng chéolên nhau, mà lai cấu kết chặt chẽ với nhau trong quản lý mường bản.Thông qua việc thành lập các chức dịch trong làng bản từ cao đến thấp.Đến thời hậu Lê, Thạch Thành thuộc phủ Thuận Thiên gọi là huyệnQuảng Bằng có 5 tổng, 23 sách, thôn, trang [37, 30] Đứng đầu tổng làChánh tổng, Phó chánh Quản lý làng là lý trưởng và hôi đồng ngũ hương.
Về sở hữu đất đai thì lang đạo là chúa đất Cây cỏ, đồng ruộng, núirừng…vốn thuộc quyền sở hữu tập thể Thế nhưng lai thuộc về cai quảncái nhân là chúa đất Chúa đất có quyền ban phát hay tịch thu bất cứ thứ gì
mà chúa đất muốn Ruộng đất tốt đều bị chúa đất và các chức dịch trongmường bản chiếm đoạt Mọi người trong mường phải đi làm không công
cho nhà lang [37, 105].
Vì sự lũng đoạn của chế độ lang đạo, cho nên diễn ra việc sở hữubất bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ Lang đạo thường gắn chặt với giaicấp thống trị, bóc lột cư dân trong mường Còn cư dân trong mường đều
là tôi tớ của nhà lang, bị áp bức bóc lột thậm tệ Bởi thế, trong xã hộitruyền thống Mường Thạch Thành, mặc dù chế độ lang đạo có những nét
hà khắc với nhân dân trong mường bản Thế nhưng còn là một xã hộikhép kín, ít chịu sự sâm nhập của quá trình phong kiến hóa Do đó nócũng không quá khắt khe như chế độ phong kiến đã từng có ở các vùngnông thôn vùng xuôi
1.3.2 Một số nét về văn hóa tinh thần của người Mường ở huyện Thạch Thành (Thanh Hóa).
Trong hôn nhân của người Mường là hôn nhân một vợ một chồng,cũng giống như người Kinh phải cưới hỏi đàng hoàng Từ khi tìm hiểu
Trang 40cho đến khi tổ chức cưới hỏi phải trải qua nhiều bước với những thủ tụchết sức rườm rà hơn đám cưới của người Kinh.
Trai gái đến tuổi thì tự do tìm hiểu yêu đương Đến khi đưa ranhững quyết định cuối cùng xem có lấy nhau hay không thì cả hai bênphải về nhà hỏi ý kiến gia đình Vì thế quyết định cuối cùng của tình yêudựa vào căn cứ của cả một tập thể gia đình nội, ngoại Cô gái được chọnlàm vợ phải được dựa trên những tiêu chí khác nhau Trong đó có tiêu trí
cô gái phải giỏi giang trong công việc nữ giới thêu thùa, rệt vải, nam giớiphải thạo đan lát, đan chài, đi săn, đánh cá… Vì thế ý kiến của ông bà cha
mẹ với con cái là thuận trên thuận dưới Điều đó nó được xuất phát từ tìnhyêu thương giữa các thành viên với nhau trong gia đình Không ai nỡ để aimất lòng, tuy nhiên điều này nó cũng mâu thuẫn với quyền tự do yêuđương của con cái
Khi gia đình nhà trai ưng thuận và biết gia đình nhà gái cũng ưngtràng trai thì đi tìm ông Mơ Ông Mơ có vai trò là người mai mối để chọnngày để dạm hỏi Quá trình dạm hỏi cho đến lúc cưới phải trải qua năm lễ
mà người Mường gọi là năm nòm [37, 274]
Nòm 1 (rống xiềng): ông Mơ mang lễ đến nhà gái xem có đồng ýkhông Nếu đồng ý thì đi nòm 2 Phia nhà gái chỉ trả lời là để gia đình bànbạc và hỏi ý kiến trẻ Nếu được đồng ý thì sẽ bắn tin cho nhà trai để thựchiện nòm 2
Nòm 2 (phát khói) lễ mở đường: lễ này vẫn do ông Mơ đi, chỉ đểnhận câu trả lời của nhà trai Nếu đồng ý được thì xin được đi dạm hỏi
Nòm 3 (vọng xiếng) là lễ dạm hỏi Ông Mơ cùng với bố mẹ, chúbác tràng trai mang lễ vật sang nhà cô gái để dạm hỏi Nhà gái sẽ trả lời có
gả hay không, nếu đồng ý thì sẽ đi nòm 4
Nòm 4 (ổ họ) Cả họ nhà gái đến, ông Mơ cùng bố mẹ, chú báccùng với mấy người đem lễ vật đến Cả họ nhà gái đến để bàn bạc nòm 5