1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đời sống văn hóa tinh thần cộng đồng người chăm ở vĩnh lộc thanh hóa

124 799 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đời sống văn hóa tinh thần cộng đồng người Chăm ở Vĩnh Lộc Thanh Hóa
Tác giả Trịnh Thị Nga
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Trọng Văn
Trường học Trường đại học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử
Năm xuất bản 2009
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 7,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đã đến lúc cần trả lại cho lịch sử Việt Nam tất cả nội dung phong phú, đadạng của cuộc sống của cộng đồng c dân Việt Nam gồm nhiều tộc ngời đãtừng sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam hiện n

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạoTrờng đại học vinh

Lịch sử của một dân tộc xét cho cùng là lịch sử tâm hồn của dân tộc ấy

Nh chúng ta đã biết, Việt Nam vốn là một quốc gia đa dân tộc, đa văn hoá Vìthế muốn tìm hiểu lịch sử Việt Nam trớc hết cần nghiên cứu văn hoá và conngời Việt Nam, trong đó văn hoá là vấn đề có ý nghĩa then chốt Đặc biệt,ngày nay, đất nớc ta đang chuyển mình trong xu thế hội nhập chung của thếgiới Trớc thềm thiên niên kỷ mới - thế kỷ của nền tri thức, với quyết tâm đẩynhanh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phấn đấu đa nớc ta thoát khỏinghèo nàn và lạc hậu, nhanh chóng hội nhập vào xu thế phát triển chung của

Trang 2

các dân tộc trên thế giới Vấn đề đặt ra đối với chúng ta hiện nay là quá trìnhhội nhập, đổi mới, tiếp thu cái hiện đại nh thế nào để không bị hoà tan, bị

đánh mất mình trớc xu hớng bùng nổ thông tin và giao thoa văn hoá mang tínhtoàn cầu hiện nay Thực tiễn cho thấy, bên cạnh những quốc gia giải quyếtthành công mối quan hệ giữa văn hoá và phát triển, giữa hiện đại và truyềnthống, còn không ít quốc gia, dân tộc phải trả giá cho sự ngộ nhận, cho đờnglối phát triển bằng mọi giá, bỏ qua các giá trị truyền thống, đánh mất bản sắcvăn hoá dân tộc mình Đảng ta đã xác định văn hoá “ là nền tảng tinh thần củaxã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội

” Đại hội toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã chỉ rõ: “ Trong điều kiện kinh

tế thị trờng và mở rộng giao lu quốc tế, phải đặc biệt quan tâm gìn giữ vànâng cao bản sắc văn hoá dân tộc, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức,tập quán tốt đẹp và lòng tự hào dân tộc “ khai thác và phát triển mọi sắc thái

và giá trị văn hoá, nghệ thuật của các dân tộc trên đất nớc ta, tạo ra sự thốngnhất trong tính đa dạng và phong phú của nền văn hoá Việt Nam ” Bởi vậy,việc nghiên cứu văn hoá các dân tộc nói chung và đời sống văn hoá tinh thầncộng đồng ngời Chăm nói riêng đang là vấn đề đặt ra không chỉ trong nhậnthức và tầm quan trọng của di sản văn hoá dân tộc, mà còn là đòi hỏi cấp báchcủa chiến lợc đại đoàn kết dân tộc trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đạihoá đất nớc hiện nay

Phải nghiên cứu thật kỹ và toàn diện toàn bộ các mặt của đời sống từngdân tộc, nắm vững đặc điểm từng dân tộc, đánh giá đúng đắn di sản văn hoátruyền thống từng dân tộc, lấy đó làm xuất phát điểm để đi lên công nghiệphoá và hiện đại hoá Nghiên cứu đời sống văn hoá tinh thần cộng đồng ngờiChăm ở Vĩnh Lộc Thanh Hoá trớc hết là để đáp ứng yêu cầu đó

Đặc biệt, cho đến nay, trên lĩnh vực nghiên cứu đời sống văn hoá tinh thầncộng đồng ngời Chăm ở Vĩnh Lộc Thanh Hoá còn tồn tại nhiều vấn đề cần đisâu nghiên cứu và thảo luận, còn nhiều khoảng trống cần phải san bằng Baonhiêu bí mật, bao nhiêu ẩn số về lịch sử quá trình xuất hiện, định c và pháttriển của cộng đồng ngời Chăm ở Vĩnh Lộc cho đến nay vẫn còn đang để ngỏ,vẫn nh một dấu chấm hỏi thách thức mọi sự lý giải

Đã đến lúc cần trả lại cho lịch sử Việt Nam tất cả nội dung phong phú, đadạng của cuộc sống của cộng đồng c dân Việt Nam gồm nhiều tộc ngời đãtừng sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam hiện nay, trong đó có lúc yên bình, êm

đẹp, nhng có lúc sóng gió với những mâu thuẫn và xung đột lịch sử phức tạp

Trang 3

ở mỗi khu vực khác nhau, văn hoá của các dân tộc cũng có những đặc

tr-ng, sắc thái khác nhau Vĩnh Lộc Thanh Hoá là một khu vực lịch sử - dân tộchọc có ba dân tộc cùng sinh sống nh: dân tộc Kinh, dân tộc Mờng và dân tộcChăm, trong đó ngời Chăm chiếm tỷ lệ nhỏ Song trong suốt chiều dài lịch sửcùng tồn tại và phát triển với các dân tộc, ngời Chăm ở đây đã tạo dựng đợcnhững giá trị văn hoá hết sức đặc sắc cần đợc bảo tồn và phát huy

Với tác giả may mắn đợc tìm hiểu về đời sống văn hoá tinh thần cộng

đồng ngời Chăm ở Vĩnh Lộc, là niềm tự hào của một ngời con xứ Thanh, làniềm đam mê của một học viên ngành Lịch sử Tác giả thiết nghĩ việc nghiêncứu, tìm hiểu đời sống văn hoá tinh thần cộng đồng ngời Chăm ở Vĩnh LộcThanh Hoá là đề tài hấp dẫn và mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, góp phần nêucao vai trò của các yếu tố văn hoá Chăm trong nền văn hoá Việt và trong nềnvăn hoá của cộng đồng các dân tộc ở nớc ta

Mặt khác nó còn giúp chúng ta nhận ra trong đời sống văn hoá của ngờiChăm ở Vĩnh Lộc có những mặt tốt, mặt hạn chế để từ đó chọn giải pháp choviệc bảo tồn, phát huy những nét đẹp văn hoá, loại trừ những tập tục lạc hậu,cha phù hợp, những ảnh hởng không tốt, góp phần bảo vệ bản sắc văn hoá củaquê hơng, của dân tộc Việt Nam

Có thể nói, cộng đồng ngời Chăm là một bộ phận của cộng đồng các dântộc Việt Nam Tìm hiểu lịch sử văn hoá cộng đồng ngời Chăm tức là tìm hiểumột bộ phận của đời sống văn hoá dân tộc Việt Nam Tác giả mạnh dạn chọn

vấn đề Đời sống văn hoá tinh thần cộng đồng ngời Chăm ở Vĩnh Lộc

Thanh Hoá làm đề tài luận văn Thạc sĩ với mong muốn sẽ góp một phần vào

việc nâng cao thêm một bớc nhận thức khoa học về lịch sử văn hoá cộng đồngngời Chăm và vùng đất Vĩnh Lộc

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vĩnh Lộc là một huyện đa dân tộc, đa văn hoá Vì thế muốn tìm hiểu lịch

sử, văn hoá và con ngời Vĩnh Lộc, trớc hết cần nghiên cứu các tộc ngời và vănhoá các dân tộc, trong đó văn hoá cộng đồng ngời Chăm ở Vĩnh Lộc là vấn đề

có ý nghĩa sâu sắc

Xuất phát từ nhận thức đó, trong mấy thập kỷ gần đây, các nhà nghiên cứuViệt Nam trong và ngoài nớc đặc biệt quan tâm đến đời sống văn hoá tinhthần cộng đồng ngời Chăm và gắn với nó là vùng đất Vĩnh Lộc Nhiều côngtrình nghiên cứu về vấn đề này đã đợc xuất bản, công bố

Trang 4

Ngay từ thời phong kiến đã có những tác phẩm đề cập đến vùng đất Vĩnh

Lộc và các dân tộc thuộc vùng đất đó nh bộ Đại Việt sử ký toàn th của Ngô Sỹ Liên, bộ Lịch triều hiến chơng loại chí của Phan Huy Chú, bộ Khâm định Việt

sử thông giám cơng mục, bộ Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều

Nguyễn, Có thể nói, đây là những công trình địa chí sớm nhất khảo về vùng

đất Vĩnh Lộc và văn hoá cộng đồng các dân tộc ngời Vĩnh Lộc Tuy nhiên, vìnhiều lý do những thông tin chi tiết về lịch sử văn hoá cộng đồng ngời Chăm ởVĩnh Lộc vẫn cha đợc đề cập đến và còn rất sơ lợc

Ngoài các bộ sử biên niên, còn có những tác phẩm tuy không tập trungnghiên cứu về lịch sử văn hoá cộng đồng ngời Chăm ở Vĩnh Lộc Thanh Hoá.Nhng ít nhiều đã đề cập đến vấn đề này và cung cấp cho chúng ta những t liệu

phong phú, có giá trị nh : Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam của Phan Huy

Lê - Chu Thiên - Vơng Hoàng Tuyên - Đinh Xuân Lâm, Di dân của ngời Việt

từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX của Viện sử học, Nhận diện văn hoá các dân tộc thiểu số ở Việt Nam của Nguyễn Đăng Duy, Đây là những công trình

nghiên cứu đã đề cập đến lịch sử, văn hoá và con ngời Vĩnh Lộc nói chung vàvăn hoá cộng đồng ngời Chăm nói riêng nhng rất sơ lợc, còn nhiều khoảngtrống, thậm chí đôi khi có phần né tránh các vấn đề phức tạp của lịch sử

Ngoài ra, trong các tài liệu nh : Thanh Hoá tỉnh chí của Hoàng Mậu - Lê Bá Đằng, Thanh Hoá quan phong của Vơng Duy Trinh, Thanh Hoá Vĩnh Lộc huyện chí của Lu Công Đạo, là những tác phẩm đợc biên soạn khá công

phu, sâu sắc về địa lý, lịch sử, văn hoá và con ngời xứ Thanh Tuy nhiên, cáctác phẩm này mới chỉ dừng lại ở việc nhìn nhận lịch sử văn hoá cộng đồng ng-

ời Chăm một cách rải rác, khái quát dới góc độ lịch sử

Trong những năm gần đây, nhiều học giả, nhà nghiên cứu đặc biệt quantâm đến lịch sử văn hoá cộng đồng ngời Chăm ở Vĩnh Lộc Nhiều công trìnhnghiên cứu về văn hoá cộng đồng ngời Chăm ở Vĩnh Lộc đã đợc xuất bản,

công bố Trong đó tiêu biểu và điển hình nhất là: Lịch sử văn hoá và kiến trúc nghệ thuật chùa Hoa Long của Nguyễn Đăng Ngân, Chùa Hoa Long xã Vĩnh Thịnh một giá trị lịch sử kiến trúc văn hoá độc đáo ở xứ Thanh của Trịnh

Đình Hoè, Có thể nói, đây là những công trình nghiên cứu sớm nhất về vănhoá cộng đồng ngời Chăm ở Vĩnh Lộc với những góc độ và khía cạnh khácnhau

Tóm lại, hầu hết các tác phẩm, các công trình nghiên cứu đó chỉ mang tínhtổng quan, cha có những chuyên khảo thực sự sâu sắc về đời sống văn hoá tinh

Trang 5

thần cộng đồng ngời Chăm ở Vĩnh Lộc Thanh Hoá Hay nhìn chung các tácphẩm, các công trình nghiên cứu khoa học mới chỉ dừng lại tìm hiểu, biênsoạn, nghiên cứu ở một lĩnh vực, một khía cạnh nhất định nào đó chứ cha phản

ánh đợc một cách toàn diện, đầy đủ về lịch sử xuất hiện, định c và phát triểncủa cộng đồng ngời Chăm ở Vĩnh Lộc Thanh Hoá

Mặt khác đối với học viên ngành Lịch sử - trờng Đại học Vinh, vấn đề đờisống văn hoá tinh thần cộng đồng ngời Chăm ở Vĩnh Lộc là một vấn đề tơng

đối mới, cha đợc tìm hiểu nghiên cứu đầy đủ và sâu sắc Riêng tác giả bớc đầumạnh dạn tìm hiểu vấn đề này với mong muốn sẽ mở ra một hớng nghiên cứumới cho học viên khoá sau Hy vọng nó sẽ ít nhiều góp phần vào việc giữ gìn

và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Chăm nói riêng, văn hoá các dân tộc ởVĩnh Lộc Thanh Hoá nói chung, từ đó góp phần bảo vệ bản sắc văn hoá củadân tộc Việt Nam

3 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu

3.1 Nguồn tài liệu

Tác giả đã cố gắng tập hợp và khai thác thông tin từ nhiều nguồn tài liệukhác nhau Song để hoàn thành luận văn này, nguồn tài liệu của tác giả phầnlớn tập trung ở một số lĩnh vực sau:

3.1.1 Nguồn tài liệu thành văn

Đây là một trong những nguồn tài liệu có ý nghĩa to lớn đối với luận văn

Tài liệu thành văn là các sử liệu gốc, bao gồm các bộ sử nh bộ Đại Việt sử ký toàn th của Ngô Sĩ Liên, bộ Khâm định Việt sử thông giám cơng mục và bộ

Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn, bộ Lịch triều hiến chơng loại chí của Phan Huy Chú Có thể nói, đây là những công trình sử liệu

sớm nhất khảo về vùng đất Vĩnh Lộc Tuy nhiên, riêng về đời sống văn hoátinh thần cộng đồng ngời Chăm ở Vĩnh Lộc cũng nh những di tích lịch sử cóliên quan cha đợc đề cập tới nhiều và còn rất sơ lợc

Ngoài các bộ sử biên niên, một nguồn tài liệu thành văn khác cũng có giátrị đặc biệt quan trọng là địa bạ Đây là loại tài liệu chứa đựng các thông tin vềruộng đất, qua đó có thể hiểu đợc tình hình ruộng đất và chế độ sở hữu ruộng

đất của huyện Vĩnh Lộc Đặc biệt, địa bạ của các xã, thôn liên quan đến lịch

sử văn hoá cộng đồng ngời Chăm nh xã Vĩnh Thịnh, xã Vĩnh Ninh đã đợckhảo sát, phân tích Kết quả phân tích từ nguồn tài liệu này góp phần làm sáng

tỏ tình hình kinh tế - xã hội của huyện Vĩnh Lộc nói chung và cộng đồng ngờichăm nói riêng

Trang 6

Cùng với địa bạ, gia phả cũng là một nguồn tài liệu đợc quan tâm khaithác Tuy chỉ nói về một dòng họ, nhng trong mỗi quyển gia phả của các dòng

họ lớn, quan trọng nh họ Trịnh, họ Hoàng,họ Vũ, có quan hệ chặt chẽ vớicác sự kiện lịch sử Đặc biệt là gia phả của dòng họ Vũ đã đợc khai thác và sửdụng trong luận văn Theo gia phả họ Vũ thì ông tổ dòng họ này là một tớnglĩnh ngời Chăm, bị quân đội của vua Lê Thánh Tông bắt về sau lần chinh phạtnăm (1471) Trải qua nhiều thế hệ, ngày nay họ Vũ là một trong những dòng

họ lớn trên vùng đất Vĩnh Lộc

Để thực hiện đợc đề tài, tác giả còn khai thác triệt để nguồn t liệu dân tộc

học và nguồn t liệu văn hoá học nh: Góp phần nghiên cứu văn hoá và tộc ngời của Nguyễn Từ Chi, Nhận diện văn hoá các dân tộc thiểu số ở Việt nam của Nguyễn Đăng Duy, Đặc điểm phân bố các tộc ngời ở miền núi Thanh hoá của Lê Sỹ Giáo, Việt Nam văn hoá sử cơng của Đào Duy Anh, Văn hoá các dân tộc thiểu số từ một góc nhìn của Vi Hồng Nhân, Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam của Trần Ngọc Thêm, Bản sắc văn hoá Việt Nam của Nguyễn Khoa

Có thể nói, để hoàn thành đợc luận văn, tác giả đã cố gắng tập hợp và khaithác thông tin triệt để từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau

3.1.2 Nguồn t liệu vật chất (di tích, di vật lịch sử)

Luận văn không phải là một công trình chuyên sâu về các hiện vật khảo cổcủa cộng đồng ngời Chăm trên đất Vĩnh Lộc nên các di tích và di vật chỉ đợc

sử dụng nh những t liệu làm sáng tỏ thêm lịch sử vùng đất này

Tác giả đã đi khảo sát ở một số làng, xã tiêu biểu của huyện Vĩnh Lộc, đặcbiệt là đến làng Kênh Thuỷ (xã Vĩnh Thịnh), xã Vĩnh Thịnh, xã Vĩnh Ninh,nơi đợc xem là điển hình văn hoá của ngời Chăm Ngoài ra tác giả đã đi khảosát thực địa tại di tích chùa Hoa Long (xã Vĩnh Thịnh), chùa Thông (xã VĩnhNinh) nơi chứa đựng những di vật lịch sử mang đậm dấu ấn Chăm Bằngchứng còn lại là phong cách kiến trúc, điêu khắc đá ở Hơng án thờ phật, bệ đátoà sen đặc tả các vũ nữ Chăm với những động tác múa uyển chuyển, hình t-

Trang 7

ợng sấu đá, hay tợng võ sỹ, tợng phỗng quỳ, hình tợng đầu rồng, mình ngựa,rồng ẩn dới đài sen, các bia ký,

Có thể nói, trong quá trình khảo sát thực địa, tác giả luận văn mới chỉdừng lại qua các cuộc điều tra khảo sát di tích trên bề mặt và chủ yếu đợc giớihạn trong phạm vi nhỏ hẹp của chùa nội Tuy kết quả khảo sát mới chỉ dừnglại với t cách là di chỉ khảo cổ học nhằm phục vụ công tác bảo tồn, trùng tu,tôn tạo di tích này Nhng bớc đầu đã định hớng cho việc tìm hiểu, nghiên cứu

về đời sống văn hoá tinh thần cộng đồng ngời Chăm ở Vĩnh Lộc

3.1.3 Nguồn tài liệu dân gian

Để nghiên cứu lịch sử, nguồn t liệu này có một hạn chế lớn là tính thiếuchính xác Vì vậy, khi sử dụng phải xử lý thận trọng và tham chiếu với nhiều

t liệu khác Tuy nhiên, t liệu dân gian lại có giá trị phản ánh chân thật cuộcsống và cách nghĩ của nhân dân nên có thể là nguồn t liệu bổ sung có hiệu quảcho những thiếu hụt của chính sử Qua những t liệu truyền miệng, ca dao, dân

ca, văn hoá dân gian, đợc thể hiện sâu sắc qua phơng ngữ giao tiếp và sinhhoạt hàng ngày có thể bớc đầu định hớng cho tác giả nhận biết, tìm hiểu vềlịch sử nguồn gốc, văn hoá cộng đồng ngời Chăm ở Vĩnh Lộc, những điều

mà dựa vào chính sử không thể biết đợc

3.2 Phơng pháp nghiên cứu

Trên cơ sở nguồn tài liệu su tầm đợc, đề tài cố gắng trình bày theo phơngpháp logic kết hợp với phơng pháp lịch sử nhằm phác hoạ lại một cách chânthực, khách quan bức tranh tổng thể về lịch sử nguồn gốc, văn hoá cộng đồngngời Chăm ở Vĩnh Lộc Thanh Hoá Bên cạnh đó, tác giả luận văn còn sử dụngkết hợp nhiều phơng pháp khác nh: phơng pháp tổng hợp, thống kê, so sánh,

đối chiếu, phân tích, với tất cả những phơng pháp tiếp cận này, các vấn đềnghiên cứu luôn đợc xem xét trong mối quan hệ tơng tác với nhau và trongquan hệ với điều kiện tự nhiên và môi trờng sinh thái

Đặc biệt, để luận văn đợc phong phú, đa dạng và thể hiện sâu sắc tínhchân thực, tác giả luận văn đã sử dụng phơng pháp điền dã dân tộc học trongquá trình nghiên cứu Tác giả đã trực tiếp khảo sát thực địa tại một số địa bàn

c trú của ngời Chăm ở Vĩnh lộc, trực tiếp khảo sát thực địa tại các di tích, divật lịch sử, tham gia sinh hoạt văn hoá, quan sát thực tế, tìm hiểu phong tụctập quán, lễ hội, tín ngỡng, tôn giáo, những thành tố cơ bản tạo nên bản sắcvăn hoá Chăm Từ đó phân tích, đánh giá, rút ra những nhận xét, những kếtluận khoa học, khách quan

Trang 8

4 Mục đích, nhiệm vụ, đối tợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở hệ thống, phân tích các nguồn t liệu, khảo sát thực tế, luận vănnhằm đạt tới các mục tiêu sau:

1 Hệ thống lại các thành quả của điều tra xã hội học, của các công trìnhnghiên cứu khoa học trớc đây, xây dựng lại thành một chỉnh thể về bản sắcvăn hoá của cộng đồng ngời Chăm ở Vĩnh Lộc

2 Cung cấp thêm t liệu và qua đó đính chính một số nhận định lệch lạchoặc thiếu quan điểm lịch sử và góp phần tìm hiểu chung về lịch sử nguồngốc, văn hoá cộng đồng ngời Chăm ở Vĩnh Lộc

3 Xây dựng một hệ thống t liệu lịch sử địa phơng, từ đó nâng cao chất ợng dạy - học lịch sử Việt Nam, lịch sử địa phơng trong nhà trờng, giáo dục,bồi dỡng và nâng cao hiểu biết những giá trị văn hoá, làm giàu cho hành trangtri thức văn hoá truyền thống của dân tộc

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện đợc đề tài, tác giả đã sử dụng tổng hợp nhiều nguồn t liệu: tliệu thành văn, t liệu vật chất, t liệu dân gian kết hợp với điều tra khảo sát thực

địa Tác giả tự đặt cho mình những nhiệm vụ?

1 Luận văn góp phần vào việc nhận thức một cách đầy đủ và chính xáchơn về lịch sử nguồn gốc xuất hiện, quá trình định c và phát triển của cộng

đồng ngời Chăm ở Vĩnh Lộc Thanh Hoá

2 Trên cơ sở nhận thức đầy đủ, chính xác những chặng đờng lịch sử củacộng đồng ngời Chăm ở Vĩnh Lộc Thanh Hoá, bớc đầu sẽ góp phần làm sáng

tỏ đợc đời sống văn hoá vật chất, văn hoá tinh thần, cũng nh những đóng góp

to lớn của văn hoá cộng đồng ngời Chăm ở Vĩnh Lộc, góp phần làm phongphú thêm kho tàng văn hoá, văn nghệ của các dân tộc trên toàn bộ lãnh thổViệt Nam

3 Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên có tính hệ thống, toàn diện

về đời sống văn hoá tinh thần cộng đồng ngời Chăm ở Vĩnh Lộc, góp một cáinhìn tổng quan về quá trình giao thoa văn hoá của cộng đồng ngời Chăm vớicác dân tộc Kinh, dân tộc Mờng ở Vĩnh Lộc Từ đó cũng góp phần tìm ra sựkhác biệt giữa văn hoá truyền thống của ngời Chăm bản địa và cộng đồng ngờiChăm ở Vĩnh Lộc Thanh Hoá

4 Từ việc nghiên cứu vùng đất Vĩnh Lộc và nghiên cứu đời sống văn hoátinh thần cộng đồng ngời Chăm ở Vĩnh Lộc trong mối quan hệ giữa thế giới

Trang 9

biểu trng và thế giới thực tại Từ đó, đề ra những giải pháp, những chính sáchhợp lý để giữ gìn, bảo lu và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống đó nhằmgóp phần xây dựng một nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dântộc.

4.3 Đối tợng nghiên cứu

Luận văn tìm hiểu về đời sống văn hoá tinh thần cộng đồng ngời Chăm ởVĩnh Lộc Thanh Hoá Bởi vậy, đối tợng nghiên cứu trọng tâm là đời sống vănhoá tinh thần và quá trình giao thoa văn hoá của cộng đồng ngời Chăm với cácdân tộc khác ở Vĩnh Lộc

4.4 Phạm vi nghiên cứu

* Về thời gian: Có thể nói, thời gian nghiên cứu của luận văn tơng đối dài,xuyên suốt gần VII thế kỷ (từ giữ TK XIV đến cuối thế kỷ XX), tức từ khixuất hiện những ngời Chăm đầu tiên trên vùng đất Vĩnh Lộc đến nay

* Về không gian: Bối cảnh không gian nghiên cứu của luận văn nhìnchung chỉ bó hẹp trong phạm vi xã Vĩnh Thịnh và xã Vĩnh Ninh, nơi đợc xem

là “ốc đảo” của ngời Chăm Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu, tác giả có

đặt văn hoá cộng đồng ngời Chăm trong mối quan hệ với các dân tộc Kinh,dân tộc Mờng ở Vĩnh Lộc

5 Đóng góp của luận văn

1 Đây là lần đầu tiên những chặng đờng lịch sử của cộng đồng ngời Chăm

ở Vĩnh Lộc Thanh Hoá đợc tái hiện lại một cách đầy đủ, toàn diện và sâu sắcnhất Qua đó, luận văn góp phần khắc hoạ quá trình xuất hiện, định c và pháttriển của cộng đồng ngời Chăm ở Vĩnh Lộc Thanh Hoá

2 Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên có tính hệ thống, toàn diện

về đời sống văn hoá tinh thần của cộng đồng ngời Chăm ở Vĩnh Lộc vừaphong phú, đa dạng nhng vẫn có những đặc điểm riêng biệt, những bản chắcvăn hoá riêng tạo nên nét khu biệt độc đáo, hấp dẫn, góp phần làm phong phúthêm kho tàng văn hoá của các dân tộc trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam

3 Từ việc nghiên cứu vùng đất Vĩnh Lộc và đời sống văn hoá tinh thầncộng đồng ngời Chăm ở Vĩnh Lộc, luận văn góp phần tìm ra sự khác biệt giữavăn hoá truyền thống của ngời Chăm bản địa và cộng đồng ngời Chăm ở VĩnhLộc, cũng nh quá trình giao thoa văn hoá của cộng đồng ngời Chăm với cácdân tộc Kinh, dân tộc Mờng ở Vĩnh Lộc Thanh Hoá Từ đó, giúp các nhà quản

lý văn hoá hoạch định những chính sách, những giải pháp hợp lý để giữ gìn,

Trang 10

bảo lu và phát huy những truyền thống văn hoá đó nhằm góp phần xây dựngmột nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

4 Luận văn còn là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị phục vụ cho côngtác nghiên cứu, biên soạn và giảng dạy bộ môn lịch sử Việt Nam, lịch sử địaphơng, dân tộc học, văn hoá học, góp phần hiểu biết thêm về đất nớc, danhthắng và con ngời xứ Thanh

5 Đặc biệt, luận văn còn có tác dụng tuyên truyền, giáo dục lòng tự hàodân tộc, tình cảm trân trọng và biết giữ gìn những giá trị văn hoá, truyền thốngcủa dân tộc Việt Nam nói chung, cộng đồng ngời Chăm nói riêng, trong mọitầng lớp nhân dân Thanh Hoá nói chung, nhân dân huyện Vĩnh Lộc nói riêng,

đặc biệt là thế hệ trẻ - những chủ nhân tơng lai của nớc nhà

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần phụ lục, mục lục và tài liệu thamkhảo Luận văn của tác giả đợc triển khai trong 3 chơng

Chơng 1: Khái quát về cộng đồng ngời Chăm ở Vĩnh Lộc Thanh Hoá

Chơng 2: Đời sống văn hoá tinh thần của ngời Chăm ở Vĩnh Lộc Thanh

1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của Vĩnh Lộc Thanh Hoá

Vĩnh Lộc là một huyện có vị thế quan trọng của tỉnh Thanh Hoá Nằmtrong khu vực chuyển tiếp từ vùng núi xuống đồng bằng nên từ xa xa vùng đấtnày đã là nơi tụ hội của nhiều luồng c dân và là nơi diễn ra quá trình giao thoacủa những truyền thống văn hoá khác nhau Có thể nói, vị trí địa lý và điềukiện tự nhiên phong phú, đa dạng và phức tạp là những yếu tố có ý nghĩaquyết định đến việc hình thành và phát triển của huyện Vĩnh Lộc

Trang 11

1.1.1 Vị trí địa lý

Vĩnh Lộc là huyện nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Thanh Hoá Đây là một vùng

có kiến tạo địa chất phức tạp Nằm giữa miền núi và đồng bằng, Vĩnh Lộc làvùng đất bán sơn địa có đủ các dạng địa hình, địa mạo, có núi đá vôi, núi thấp,

đồi, có sông suối lại có cả đồng bằng

Vĩnh Lộc có diện tích tự nhiên rộng 157,41km2 [78, 8] nằm trên toạ độ

19057’ - 20008’ độ vĩ Bắc, 105033’ - 105046’ độ kinh Đông, cách thành phốThanh Hoá 45km, cách thị xã Bỉm Sơn 20km và cách đờng mòn Hồ Chí Minh(ở Cẩm Thuỷ) 25km Vĩnh Lộc giáp huyện Hà Trung về phía Đông, huyệnCẩm Thuỷ về phía Tây, huyện Yên Định về phía Nam và huyện Thạch Thành

về phía Bắc [47, 1]

Về địa hình, Vĩnh Lộc nằm trong khu vực chuyển tiếp từ vùng núi xuống

đồng bằng với những dãy núi đá vôi bị phong hoá mạnh, đồi núi đất thấp xen

kẽ các cánh đồng phù sa cổ do các con sông Mã, sông Bởi bồi đắp [4, 11]

Sách ĐNNTC viết về huyện Vĩnh Lộc nh sau: Đông Tây cách nhau 79 dặm, Nam Bắc cách nhau 26 dặm, phía Đông đến địa giới huyện Nga Sơn phủ Hà Trung 37 dặm, phía Tây đến địa giới huyện Cẩm Thuỷ 42 dặm, phía Nam đến địa giới huyện Yên Định phủ Thiệu Hoá 2 dặm, phía Bắc đến địa giới huyện Thạch Thành và địa giới huyện Tống Sơn phủ Hà Trung 24 dặm

[65, 232]

Nằm ở vị thế quan trọng của xứ Thanh, Vĩnh Lộc không chỉ có quan hệvới các huyện trong tỉnh mà còn thuận lợi trong giao lu nhiều mặt với cácvùng lãnh thổ trong khu vực Từ xa xa Vĩnh Lộc là địa bàn sinh tụ của nhiềutộc ngời khác nhau, trong đó ngời Kinh giữ vai trò chủ thể

Đặc điểm phong phú về điều kiện tự nhiên, môi trờng sinh thái, đa dạng về

c dân đã có tác động không nhỏ đến phơng thức sản xuất, trồng trọt và chănnuôi, tạo nên những đặc trng văn hoá của các cộng đồng c dân Vĩnh Lộc

1.1.2 Điều kiện tự nhiên

Nằm giữa miền núi và đồng bằng, Vĩnh Lộc là vùng đất bán sơn địa có đủcác dạng địa hình, địa mạo, có điều kiện tự nhiên phong phú, đa dạng và phứctạp

* Hệ thống núi, đồi và đồng bằng

Núi, đồi là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên diện mạo tự nhiêncủa Vĩnh Lộc Tuy nhiên, trải qua quá trình khai thác lâu dài của con ngời,các dãy núi đá không còn nguyên vẹn, bề mặt đã bị chia cắt bào mòn thành

Trang 12

những vách đá có độ dốc cao Thiên nhiên hiển yếu của vùng đất Vĩnh Lộc đ

-ợc tạo bởi hệ thống các dãy núi đá vừa tạo nên những thuận lợi cho việc pháttriển kinh tế - văn hoá, nhng đồng thời cũng đặt ra không ít những thách thứcbuộc con ngời phải luôn sáng tạo để khắc phục và thích ứng

Có thể nói, các dãy núi đá không chỉ là địa bàn c trú, hoạt động của conngời thời kỳ đầu tiên mà còn là ranh giới tự nhiên của vùng đất Vĩnh Lộc quacác thời kỳ lịch sử Tại địa phận xã An Tôn, xa gọi là động An Tôn, vùng đất

đắc địa mà Hồ Quý Ly đã lựa chọn cuối cùng khi định đô, là “…nơi cuối nớc

đầu non” [46, 190], “ở cách huyện Vĩnh Lộc 29 dặm về phía Tây, mạch núi từ huyện Cẩm Thuỷ theo ven sông kéo đến” [65, 256] là núi An Tôn Đây là dãy

núi đá có độ dốc cao, vách đứng bao quanh khu vực thành Tây Đô

Cách huyện Vĩnh Lộc 24 dặm về phía Tây là núi Hý Mã Mạch núi cũngchạy ven sông Mã từ phía Nam núi An Tôn đến Với hình thế đặc biệt, núi cao

sừng sững, vách đá cheo leo, mở ra khép lại giống nh “trờng đua ngựa” nên có tên gọi là Hý Mã Theo sách ĐNNTC thì núi này có tên gọi nữa là Du Anh,

núi đứng một mình, phong cảnh rất đẹp [65, 257]

Cạnh núi Du Anh là núi Xuân Đài, nằm trên địa phận xã Vĩnh Ninh hiệnnay Đây là dãy núi đá vôi dáng cao, vách đứng, có ngọn nh lâu đài nên có têngọi là núi Xuân Đài Mạch núi từ núi Hý Mã kéo đến, phía Đông có sông Mã

ôm lại, phía Bắc có sông Bởi vòng quanh

Sách ĐNNTC viết: “Ngoài động có khối đá trông nh hình con cóc cúi

đầu thạch nhũ ở trong động sắc đỏ; lại có hang đá quanh co dài hơn 10 ợng, có thể đi vào đợc, chổ tận cùng có giếng đá, sâu không cùng; cửa động

tr-có hai tợng đá, tơng truyền là tợng của Hồ Công và Phí Trờng Phòng”[65,

226-227]

Cạnh núi Xuân Đài là núi Tiến Sĩ Núi có dáng ngời ngồi cạnh chồng

“sách đá” nên gọi là núi Tiến Sĩ Truyền thuyết dân gian cho rằng: ông Tiến sĩquay mặt về làng Bồng nên làng Bồng có nhiều ngời đỗ Tiến sĩ

Phía Tây Bắc huyện Vĩnh Lộc là nơi ngự trị của núi Đốn Sơn và núi TrácBút Đây là dãy núi đá vôi có sờn dốc và bị các dòng chảy chia cắt dữ dội.Theo quan niệm dân gian núi Đốn Sơn đợc coi là tiền án của thành Tây Đô

Đốn Sơn gắn liền với sự tích Thợng tớng Trần Khát Chân mu giết Hồ Quý Ly.Trên núi có đàn tế Nam Giao, giếng Ngự Dục, xếp đá làm thành thềm bậc vẫncòn

Trang 13

Theo kết quả nghiên cứu của các nhà địa lý học, phía Đông huyện VĩnhLộc là nơi quy tụ của hệ thống các dãy núi đá vôi đợc cấu tạo từ Đại cổ sinh,cách ngày nay khoảng 129 triệu năm và đã trải qua thời kỳ bào mòn, xâm thựcrất dài nh: núi Hùng Lĩnh - cái nôi của cuộc khởi nghĩa Hùng Lĩnh do TốngDuy Tân lãnh đạo; núi Kim Sơn vách đứng với 26 ngọn, tầng tầng vút cao nhlâu đài, bên trong có nhiều hang đợc tạo bởi hiện tợng Caxtơ nh động TiênPhan, Tiên Sơn và động Ngọc Long với thạch nhũ óng ánh sắc vàng

Sách ĐNNTC viết: Đứng xa mà trông, hiện ra nhiều hình nh tàn, nh lọng, nh lâu đài, nh cờ quạt, nh voi ngựa, nh triệu gấm hoa, nh bình phong, khi râm khi nắng, buổi sáng, buổi chiều, khí sắc luôn thay đổi”[65, 228] Núi Cô Sơn hình sắc nh vẽ “có các ngọn nh nhị thập bát tú bày la liệt”

[28, 12]; núi Kim Âu rậm rạp xanh ngắt; núi Nham Sơn với những dòng suối

“từ trong khe đá chảy ra, nhìn trong suốt đáy” [65, 259]; núi ấn Sơn chỗ chìm

chỗ nổi, có chỗ lại vút cao, trên núi có chùa Linh Xứng, tháp Chiêu Ân; núiKim Tử, núi Eo Cò trùng điệp làm ranh giới tự nhiên với huyện Hà Trung

Có thể nói, hệ thống núi đá vôi ở đây không những tạo thành những dảinúi hiểm trở mà còn tạo nên những danh thắng nổi tiếng nh động Hồ Công(Vĩnh Ninh), động Kim Sơn (Vĩnh An), Đặc biệt, xét từ phơng diện địa -chính trị và địa - quân sự, Vĩnh Lộc có nhiều lợi thế phù hợp với việc xâydựng một trung tâm chỉ huy quân sự trong thời kỳ có chiến tranh Đây là vùng

đất có thể tận dụng địa hình hiểm trở với hệ thống núi, đồi liên hoàn để phòngthủ Hơn thế, đá núi còn là nguồn vật liệu tại chỗ có thể dùng vào việc xâydựng những công trình quân sự kiên cố

Là một huyện nằm trên con đờng thợng đạo Bắc - Nam và là nơi hợp lucủa sông Bởi với sông Mã Vĩnh Lộc còn là vùng đất bán sơn địa độc đáo vớinhững vùng đồi đá cuội và đồi đất phong phú, đa dạng, kéo dài xuyên suốt từphía Tây xuống phía Đông Hai hệ thống đồi đất và đồi đá cuội tơng đối thấp,liên hoàn, tạo thành một ranh giới tự nhiên giữa vùng châu thổ và vùng núi,vừa không cách trở về mặt giao thông mà lại tạo điều kiện thuận lợi cho sựphát triển kinh tế và văn hoá

Xen kẽ hệ thống núi đồi cao thấp là những cánh đồng bằng đợc bồi đắpbởi hệ thống phù sa cổ của các con sông Bởi và sông Mã

Đồng bằng là một vùng có vị thế quan trọng trên địa bàn huyện Vĩnh Lộc

Đây là vùng có kiến tạo địa chất phức tạp, đan xen các dạng địa hình đồngbằng đất trũng, vùng đất bãi và đồng bái

Trang 14

Do bị các núi đá và các dải đồi cao thấp chia cắt nên đồng bằng ở VĩnhLộc nhỏ hẹp và có độ dốc khá lớn với nhiều ô trũng Tuy không rộng và bằngphẳng nhng đồng bằng vùng hạ lu sông Mã đợc hình thành khá sớm và ngay

từ đầu đã đợc con ngời chiếm lĩnh khai phá [25, 9] Trung tâm đông bằngVĩnh Lộc là vùng đất Ngã - Ba - Bông Đây là nơi sông Mã trổ thêm nhánhsông Lèn có lợng phù sa đợc bồi đắp rất lớn, tạo nên một vùng đất tự nhiên ởngã ba sông Tuy diện tích canh tác không lớn nhng đất đai ở đây tơng đốimàu mở, phì nhiêu, nguồn nớc tới tự nhiên dồi dào nên rất thuận lợi cho việccanh tác và sản xuất nông nghiệp

Cùng với những cánh đồng bằng phẳng là những vùng đất trũng, đất thấp

và đầm lầy Do đợc che chắn bởi các đồi gò xen kẽ nên ngay cả trong mùa lũvẫn không bị ngập nớc Những ô trũng của vùng đất này còn tạo điều kiện rấtthuận lợi cho việc phát triển chăn nuôi thuỷ sản nớc ngọt (cá, tôm, )

Ngoài đồng bằng và đất trũng, Vĩnh Lộc còn có vùng đất bãi ở ven hoặcgiữa sông, vùng đồng bái nỗi lên giữa các cánh đồng trũng Tuy diện tíchkhông lớn nhng loại đất này rất phù hợp cho việc phát triển các loại rau thựcphẩm và canh tác hoa màu

Tóm lại, đồng bằng là một vùng có vị trí đặc biệt quan trọng trên địa bànhuyện Vĩnh Lộc Đây là vùng có đầy đủ tính chất của đồng bằng châu thổ,màu mỡ, phì nhiêu và có ý nghĩa to lớn đối với việc hình thành và phát triểncủa huyện Vĩnh Lộc

đất cát kết phù hợp cho trồng các loại cây lâm nghiệp và ăn quả có hơn 4.900

ha, chiếm 31,61% Hiện nay, Vĩnh Lộc đã đa vào sử dụng 8.810,69 ha, trong

đó đất nông nghiệp 6.587,70 ha, đất lâm nghiệp 556,90 ha, đất chuyên dùng1.270,5 ha, đất ở 403,58 ha Tuy nhiên, cho đến nay toàn huyện vẫn còn6.930,30 ha (chiếm 43,98% diện tích tự nhiên), bao gồm diện tích mặt sông vànúi đá cha đợc khai thác [78, 4]

Trang 15

Nhìn chung, chiếm phần lớn diện tích tự nhiên của huyện là loại đấtferalit, một số nơi đã bị xói mòn trơ sõi đá Phần còn lại là đất phù sa đ ợc bồi

đắp thờng xuyên hàng năm bởi sông Mã và sông Bởi

Có thể nói, hệ thống đất đai ở Vĩnh Lộc phong phú và rất đa dạng Tính đadạng này là kết quả của một quá trình lịch sử kiến tạo lâu dài và phức tạp Nh-

ng cũng chính trên mảnh đất đầy nắng gió này, thiên nhiên dờng nh đã vun

đắp cho các tộc ngời ở đây một cảnh quan địa lý đồng nhất mà đa dạng trong

“khuôn viên” của khu vực huyện Vĩnh Lộc: đó là dãy núi vòng cung, trùng

điệp đợc tạo thành cách ngày nay chừng 129 triệu năm do chấn động của cáctạo sơn, đó là những dòng sông mẹ nh hình cái quạt xoè ra tạo nên nhữngvùng đồng bằng bồn địa, châu thổ màu mỡ phì nhiêu, trong đó sự hợp lu củasông Bởi với sông Mã nh một hệ thống tuần hoàn mang lại nhịp sống cho conngời

6 và tháng 10, 11 Độ ẩm trung bình là 85 - 90% Sự luân chuyển giữa hai mùa

ma và khô đã có những tác động không nhỏ đến sự phát triển kinh tế - xã hộicủa vùng đất Vĩnh Lộc

Gió thổi theo mùa, hớng gió chủ yếu vẫn là gió Đông Nam thổi vào mùa

hè và mùa thu, gió mùa Đông Bắc thổi từ cuối thu đến cuối xuân Xen kẽ các

đợt gió mùa, từ tháng 5 đến tháng 7 có khoảng 20 - 25 ngày bị ảnh hởng củagió Phơn Tây Nam khô nóng và hạn hán kéo dài Thiên tai nguy hiểm nhất làrét đậm, bão, úng, lũ, đôi khi có ma đá

Tóm lại, khí hậu là một trong những yếu tố tự nhiên quan trọng và có ýnghĩa to lớn đối với quá trình phát triển của huyện Vĩnh Lộc trên tất cả mọiphơng diện nh kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội,

* Hệ thống sông, suối

Trang 16

Tuy là một huyện chuyển tiếp từ miền núi xuống đồng bằng thế nhngVĩnh Lộc lại là vùng đất quy tụ của rất nhiều con sông, suối lớn nhỏ khácnhau.

Sông Mã hay sông Tất Mã là một trong những con sông lớn nhất trong cácdòng chảy Việt Nam Khởi nguồn từ Sơn La chảy qua nớc Lào, sau gần mộtngàn cây số quanh co khắp vùng núi Tây Bắc chảy vào đất Thanh Hoá SôngMã có độ dài 522 km, gần một nửa chiều dài của sông (242km) nằm trên đấtThanh Hoá [89, 16 - 17] Trớc khi đến địa phận huyện Vĩnh Lộc, sông Mãchảy qua địa phận các huyện Quan Hoá, Cẩm Thuỷ là những huyện miền núi

có địa hình phức tạp Đoạn chảy trên địa phận Vĩnh Lộc của sông Mã chính làranh giới tự nhiên với huyện Yên Định Đây là đoạn không có thác ghềnh, độdốc không cao nên dòng chảy chậm, hình thành nên một số vực nhỏ, các bãicát và những vùng trên bến dới thuyền với những điểm buôn bán đờng sôngtấp nập, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành sớm những thị tứ ven sông

nh phố Giáng, phố Bồng

Chảy hết đất Vĩnh Lộc, trớc khi ra biển sông Mã trổ thêm nhánh sông Lèn,tạo nên một vùng đất tự nhiên ở ngã ba sông (Ngã - Ba - Bông) Vùng đất này

là địa bàn quan trọng không chỉ đối với vĩnh lộc mà của cả xứ Thanh

Sông Mã là một trong những con sông lớn ở Việt Nam đợc hợp lu bởinhiều nhánh sông nh sông Chu, sông Bởi, sông Cầu Chày Mỗi chi giang làmột chi long mạch, mà sông Mã đoạn chảy qua địa phận vùng đất Tây Đô đợchợp lu với chi long mạch sông Bởi tại ngã ba cầu Công (xã Vĩnh Khang), tạothành thế “lỡng long chầu nguyệt”

Sông Mã không chỉ có vai trò gắn kết hai vùng châu thổ Bắc Bộ mà còngắn liền với Lam giang và vùng Nam Thanh - Bắc Nghệ [33, 13] Nằm trong

hệ thống giao thông trao đổi quan trọng ở Việt Nam thời xa, sông Mã nh chiếccầu nối vùng đất Vĩnh Lộc với phơng Bắc và phơng Nam Đây là một trongnhững yếu tố tự nhiên quan trọng có ý nghĩa quyết định đến việc hình thành

và phát triển của huyện Vĩnh Lộc

Sông Bởi bắt nguồn từ vùng núi Hoà Bình, chảy vào Thanh Hoá qua huyệnThạch Thành rồi vào đất Vĩnh Lộc ở làng Bào Thôn thuộc xã Vĩnh Tiến vàhợp lu với sông Mã ở địa phận cầu Công (xã Vĩnh Khang) Sông Bởi còn cómột số tên gọi khác nh sông Bái, sông Vải, sông Bảo, sông Định Tuy khôngrộng, dòng chảy chậm, quanh co uốn khúc, nhng sông Bởi lại khá sâu, nhiều

Trang 17

lam chớng và thờng xuyên tạo nên lũ quét, ít nhiều đã ảnh hởng đến đời sống

c dân khu vực này

Ngoài sông Bởi và sông Mã, Vĩnh Lộc còn có một số sông suối nhỏ khác.Các dòng sông suối nhỏ này cha có tên trên bản đồ các dòng chảy Việt Nam,nhng lại góp phần quan trọng, bổ sung nớc tới cần thiết cho các vùng đồngbãi, thoát nớc trong mùa lũ và góp nớc bổ sung vào dòng chảy của sông Mã vàsông Bởi Các dòng suối nhỏ đợc hình thành từ các hệ thống núi đồi ở một sốxã có địa hình cao

Cùng với hệ thống sông, suối, hệ thống núi đồi xen kẽ đã tạo ra nhữngthác nớc mà tiêu biểu nhất phải kể đến thác Kim Sơn (còn gọi là đền Hàn) naythuộc địa phận huyện Hà Trung Hai bên bờ thác đều là núi, có đá ngầm, nớcchảy xiết, gây cách trở về mặt giao thông

Nói tới hệ thống sông suối không thể không nói tới cảng Chiếu Bạch Trớc

đây cảng thuộc huyện Vĩnh Lộc, nay là địa phận Hà Trung Đờng cảng từ dớibến đò Đại Lại của sông Mã ngoặt về phía Bắc quanh co khuất khúc Bờ phía

Đông là địa giới huyện Nga Sơn Núi này giáp với các núi Hoa Lâm, Ngọ Xá.Thời Trung Hng nớc cạn dần Đến thời Nguyễn, huy động dân định khai thôngnhng không xong, đến nỗi có nơi không có nớc [28, 24]

Trong hệ thống sông suối xứ Thanh thì Vĩnh Lộc là nơi hợp lu của sôngMã và sông Bởi và một số sông suối nhỏ khác Do địa hình Vĩnh Lộc thấp dầntheo hớng Tây Bắc - Đông Nam nên sông ngòi của Vĩnh Lộc cũng chảy theohớng này Hệ thống sông suối ở Vĩnh Lộc tơng đối phức tạp và đa dạng, vớicác chi lu dày đặc, dòng chảy xiết, tạo nên nhiều ghềnh thác hiểm trở và lũquét, ít nhiều đã ảnh hởng đến đời sống c dân khu vực này Tuy nhiên, trongsuốt chiều dài lịch sử của mình, sông ngòi Vĩnh Lộc đã tạo nên một vị thế tựnhiên đặc biệt mang lại nhịp sống cho con ngời Hệ thống sông suối ở VĩnhLộc không chỉ có vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế

- xã hội mà còn là một yếu tố tự nhiên có tầm quan trọng về an ninh quốcphòng

* Tài nguyên thiên nhiên

Do cấu trúc địa chất phức tạp nên nguồn tài nguyên thiên nhiên ở VĩnhLộc rất phong phú và đa dạng Qua khảo sát, thăm dò, đã phát hiện 16 điểm

có khoáng sản, phân bổ trên diện tích 540,27 ha, trong đó chủ yếu là các loại

đá với trữ lợng khoảng 0,8 tỷ tấn và 46 ha đất làm vật liệu xây dựng

Trang 18

Là một huyện chuyển tiếp từ miền núi xuống đồng bằng, Vĩnh Lộc có thểxem là trung tâm - nơi gặp gỡ nhiều đại diện thực vật quý hiếm có giá trị nh:

gỗ lim, gỗ mun, gỗ nghiến, lát, Ngoài ra núi rừng Vĩnh Lộc còn là nơi quy

tụ của vô số loại cây thuốc và dợc liệu quý khác nhau, trong đó nổi tiếng nhất

là cây long cốt, sâm Báo thổ sản độc đáo trên núi Trác Bút và Cô Sơn

Tóm lại, Vĩnh Lộc là một huyện có vị thế quan trọng trên địa bàn tỉnhThanh Hoá Đây là một vùng có kiến tạo địa chất phức tạp, đan xen các dạng

địa hình đồng bằng, vùng đồi và núi đá Đặc điểm phong phú về điều kiện tựnhiên, môi trờng sinh thái, đa dạng về c dân đã có tác động không nhỏ đến ph-

ơng thức sản xuất, trồng trọt và chăn nuôi, tạo nên những đặc trng văn hoá củacác cộng đồng c dân Vĩnh Lộc

Trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, Thanh Hoá là nơi có 7 dân tộc(Kinh, Mờng, Thổ, Thái, Dao, H’ Mông và Khơ Mú) cùng sinh sống VĩnhLộc là một huyện nằm ở vùng chuyển tiếp giữa miền núi xuống đồng bằng,với đầy đủ các dạng địa hình, tạo điều kiện thuận lợi để nhiều dân tộc cùng ctrú Ngoài ngời Kinh là chủ yếu, Vĩnh Lộc còn là địa bàn c trú của ngời Mờng

và ngời Chăm, trong đó ngời Chăm chiếm tỷ lệ nhỏ Song trong suốt chiều dàilịch sử cùng tồn tại và phát triển với các dân tộc, ngời Chăm ở đây đã tạo dựng

đợc những giá trị văn hoá hết sức đặc sắc, phong phú và đa dạng

1.2.1 Tên gọi

Có thể nói, trong lịch sử danh xng của dân tộc Chăm là một vấn đề hết sứcphức tạp, phong phú và đa dạng Dân tộc Chăm đợc biết đến với nhiều tên gọikhác nhau nh: Chàm, Chiêm Thành, Hời, Mỗi một danh xng đều mang một

ý nghĩa riêng biệt, độc đáo

Chăm là tên một nhóm dân c gốc Nam Đảo (Malayo - Polynesian) trớc kia

là thần dân vơng quốc Chiêm Thành (Campa, champa, hay Chămpa) cũ, sinhsống trên những vùng đất thấp dọc duyên hải miền Trung Chămpa là toàn thểcác nhóm dân c thuộc vơng quốc Chiêm Thành cũ gồm cả ngời Chăm đồngbằng lẫn ngời Thợng (gốc Nam Đảo hoặc Môn Khmer), sinh sống rải rác trêncác vùng rừng núi phía Tây dãy Trờng Sơn hay Tây Nguyên

Chămpa là tên một loài hoa màu trắng hồng nhạt hay trắng vàng nhạt, cóhơng thơm ngào ngạt có thể tìm thấy tại khắp nơi trên duyên hải miền Trung.Ngời Việt gọi là hoa Sứ hay hoa Đại, tên khoa học là Michelia ChampacaLinn Không biết ngời Chăm đã chọn loài hoa này đặt tên cho xứ sở mình từ

Trang 19

hồi nào, nhng chữ Champa đã đợc tìm thấy trên một bia ký tại Mỹ Sơn (DuyXuyên - Quảng Nam), viết bằng chữ Phạn (Sanscrit) với niên đạt 579 (Saka)tức 657 năm sau Tây lịch.

Trớc đó, trong độ Geographica năm 150 SCN, Claudius ptolémée) 168), nhà địa lý gốc Hy Lạp và là sứ giả của hoàng đế La Mã Marc - AurèleAntonin tại Alexandrie (Ai Cập), đã có lần nói tới một xứ tên Zamba trênvùng Viễn Đông Sau này trong quyển sách địa chí của mình Ptolémée đề cập

(90-đến vơng quốc này là Canf

Sách Tân Đờng th, do Âu Dơng Tu và Tổng Kỳ biên soạn thế kỷ X, phiên

âm là Chiêm Bà khi nói về Hoàn Vơng Quốc (vơng quốc Lâm ấp cũ) Về sauChampa đợc ngời Việt biết qua tên phiên âm Hoa ngữ là Chiêm Thành (Tchan

- Tcheng)

Trớc kia ngời Việt gọi cộng đồng ngời Chăm là Chiêm, Chàm, Hroi, Những danh xng này đợc đọc theo cách viết của ngời Trung Hoa, hay theocách phát âm của ngời miền Trung, do đó không phản ánh trung thực danh x-

ng chính xác của ngời Chăm hiện nay

Chiêm là tên gọi những c dân sinh sống trên lãnh thổ Chiêm Thành Danhxng Chiêm thỉnh thoảng vẫn đợc nhắc tới trong sử sách và tài liệu nghiên cứu,ngoài dân gian ít ai nói tới

Chàm là cách đọc trại đi từ chữ Champa Danh xng Chàm hiện còn rấtthông dụng trong dân gian, một vài địa danh còn giữ chữ Chàm kèm theo nh:

Cù Lao Chàm tại Quảng Nam, Tháp Chàm tại Phan Rang, quận Phan LýChàm, xã Ma Lâm Chàm tại Bình Thuận, Trong nớc, những nhà dân tộc học

đã thay chữ Chàm thành chữ Chăm Điều này đã làm hài lòng cộng đồng ngờiChăm tại Việt Nam

Danh xng Hời rất ít đợc nhắc đến, ngời ta chỉ thấy chữ này xuất hiện mộtvài lần trong tập thơ Điêu Tàn (1937) của Chế Lan Viên

Hời là cách đọc trại đi từ chữ Hroi (H’roi hay Hờ Roi), tên của một bộ lạcsơn cớc sinh sống trên vùng rừng núi phía Tây các tỉnh Quảng Nam, QuảngNgãi và Bình Định Ngời Hroi thật ra cũng là ngời Chămpa, vì trớc kia là thầndân của vơng quốc Chiêm Thành cũ di tản lên Tây Nguyên tránh loạn rồi định

c luôn tại đây, họ vẫn còn giữ ngôn ngữ và một số phong tục tập quán của

ng-ời Chăm đồng bằng trong những sinh hoạt thờng nhật Ngoài ra còn phải kểthêm những nhóm Bahnar Chăm, Bru - Vân Kiều, Kaho, Raglai, Rhadé,Djarai, Stiêng, Churu, tất cả đều là thần dân của vơng quốc Chiêm Thành cũ

Trang 20

di tản lên cao nguyên trong những giai đoạn loạn lạc rồi ở luôn tại đây Trênkhắp cao nguyên, những nhóm ngời mới hoà nhập và pha trộn với các nhómngời cũ tạo thành những sắc dân hỗn hợp mang hai dòng máu Chăm - Thợngtrong những thời điểm khác nhau Ngời Chăm lai Thợng gọi là Chăm pal, nh-

ng ngời Việt ít biết đến tên này

Vì không có truyền thống đặt tên cho từng nhóm ngời, dân chúng gốcKinh gọi chung tất cả những c dân sinh sống trên miền núi phía Tây là ngờiHroi, sau đó biến âm thành ngời Hời

Chữ Hời mang một nội dung xấu, đó là những nhóm man di chuyên đi cớpbóc, vì trong quá khứ ngời Hroi đã nhiều lần tiến công vào các làng xã ngờiKinh cớp bóc lơng thực trong những giai đoạn khó khăn dới thời các chúaNguyễn

Sau này ngời Chăm tại Thuận Hải gọi những c dân gốc Chăm sinh sống tạicác tỉnh Quảng Nam, Quãng Ngãi và Bình Định là Chăm Hoi hay Chăm Hroi

Sử sách Việt Nam thời Nguyễn gọi chung là "Mọi đá vách"

Ngoài ra cũng có một số ngời Chăm lai Việt gọi là Chăm Yuôn (Yuôn hayYun có nghĩa là ngời Việt) Ngời Việt gọi là Kinh Cựu, nhng danh xng này rất

ít ngời biết đến vì ngời Kinh Cựu luôn tự nhận mình là ngời Kinh Trớc đây,những binh sĩ hay tội đồ gốc Kinh, bị đày ra vùng biên địa giáp ranh vớiChiêm Thành đã lập gia đình với những phụ nữ Chăm (mà họ cho là ngời Kinh

cổ xa), từ đó mới sinh ra chữ Kinh Cựu

Về ngôn ngữ, ngời Chăm đợc nhiều nhà nhân chủng học xếp vào họ Nam

Đảo (Malayo - Polynesian), nghĩa là có nguồn gốc xuất phát từ các hải đảophía Nam vùng biển Đông Nam á Điều này có thể đúng khi đối chiếu vănminh ,văn hoá của ngời Chăm với văn minh ,văn hoá của các dân tộc cùng hệngôn ngữ tại Đông Nam á vào thời tạo dựng Nhng qua những khám phá khảo

cổ gần đây, văn minh và văn hoá của ngời Chăm tại Việt Nam không hoàntoàn do ngoại nhập mà có sự pha trộn yếu tố văn minh và văn hoá của nhữngnhóm c dân bản địa có mặt từ trớc

Trong thực tế không có bộ tộc nguyên thuỷ nào có tên Chăm Chăm chỉ làtên gọi của nhiều nhóm c dân sau này chọn sinh sống trên lãnh thổ của vơngquốc Chămpa hay Chiêm Thành cũ, gọi chung là ngời Chămpa, chứ khôngphải tên riêng của một nhóm chủng tộc Sau này cộng đồng ngời Chăm đồngbằng chấp nhận danh xng Chăm và đồng hoá nguồn gốc Nam Đảo của mìnhvới nền văn minh và văn hoá Chiêm Thành cũ để phân biệt với các nhóm

Trang 21

Chămpa khác xuất phát từ nhiều nguồn gốc ngôn ngữ và chủng tộc khác nhau.

Có thể nói, vơng quốc Chiêm Thành xa kia là một liên bang đa chủng và đavăn hoá

Thiên di theo dòng lịch sử, vào Vĩnh Lộc Thanh Hoá, tộc danh Chăm,Chiêm, Chàm là những danh xng cho cộng đồng dân tộc Chăm trên vùng đấtnày Tuy nhiên, tộc danh Chăm là danh xng chung nhất Danh xng này đợckhẳng định mang tính pháp lý từ khi có bảng danh mục thành phần các dântộc Việt Nam vào năm 1979 Bản thân ngời Chăm ở Vĩnh Lộc Thanh Hoácũng có ý thức về danh xng này rất rõ ràng

Bên cạnh đó ngời Chăm ở Vĩnh Lộc Thanh Hoá còn mang những tộc danhnh: Chăm Bàlamôn, Chăm Bà Ni, Chăm Ixlam Đây là những danh xng đợcphân định rõ ràng theo từng nhóm, từng khu vực tôn giáo và chịu ảnh hởngsâu sắc của tôn giáo Ví nh ngời Chăm theo đạo Bàlamôn thì gọi là ChămBàlamôn; ngòi Chăm theo Hồi giáo đợc chia làm hai nhóm đó là Chăm Bà Ni(Hồi giáo cũ) và Chăm Ixlam (Hồi giáo mới)

Mặc dù tên gọi khác nhau nhng về cơ bản họ đều có những đặc trng tộcngời giống nhau thể hiện trên nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội và cảnguồn gốc lịch sử Một trong những đặc trng cơ bản thống nhất giữa họ làngôn ngữ nhng cái cơ bản nhất chính là ý thức về tên gọi chung: Chăm Bởivậy, từ năm 1979 trở đi, với sự ra đời mang tính pháp lý của Bảng danh mụcthành phần các dân tộc Việt Nam, những nhóm Chăm này mới tự nhận lànhững bộ phận của ngời Chăm

Tóm lại, tên gọi theo từng nhóm tôn giáo là hiện tợng phổ biến của ngờiChăm ở Vĩnh Lộc Thanh Hoá nói riêng cũng nh ngời Chăm nói chung Têngọi của các nhóm Chăm ít nhiều đã phản ánh rõ nét về lịch sử, văn hoá, xã hộicủa tộc ngời Chăm

1.2.2 Lịch sử c trú

Nằm ở trung lu sông Mã là khu vực khá thuận tiện cho môi trờng sống nênngay từ thời dựng nớc trên vùng đất này đã có con ngời đến khai phá và tụ c,hình thành các làng cổ Đặc biệt, từ khi trở thành kinh đô của đất nớc (cuối thế

kỷ XIV đầu thế kỷ XV) vùng đất này đã trở nên trù mật một cách đột biến mànguyên nhân chủ yếu là quá trình di c, lập làng mới

Vĩnh Lộc là nơi có 3 dân tộc (Kinh, Mờng, Chăm) cùng sinh sống Trong

đó ngời Kinh (ngời Việt) là thành phần dân tộc chủ yếu So với ngời Kinh,

ng-ời Mờng và ngng-ời Chăm chiếm tỷ lệ không lớn

Trang 22

Tuy nhiên, hiện nay có một thực tế là những t liệu đề cập đến dân tộcChăm đang có nguy cơ thất truyền hàng ngày hàng giờ Những t liệu viết vềcác sinh hoạt có tính văn hoá và xã hội phần lớn không tồn tại, trong khi phầnlịch sử và sinh hoạt chính trị của dân tộc này cũng hoàn toàn thiếu vắng, nếu

có chăng thì nội dung cũng bị bóp méo để phù hợp với nhu cầu tuyên truyềncủa các chế độ đơng quyền Chính vì thế mỗi khi đề cập tới cộng đồng ngờiChăm, ngời Việt thờng có một nhận thức rất mơ hồ chỉ biết đại khái đó là mộtsắc tộc thiểu số có nớc da ngăm đen, phong tục tập quán, tín ngỡng và văn hoákhác với ngời Kinh, Mờng Trầm trọng hơn, phần lớn những ngời lãnh đạocũng không nắm rõ nguồn gốc những cộng đồng chủng tộc đã góp phần tạothành dân tộc Việt Nam, do đó khó có thể xây dựng một chính sách dân tộcphù hợp với ớc vọng của từng cộng đồng

Ngời Chăm vốn là tộc ngời thuộc nhóm ngôn ngữ Mã Lai - Đa Đảo(Malayo - Polynesian) Dân tộc Chăm vốn có một nền văn hoá riêng gắn liềnvới lịch sử vơng quốc Chămpa hình thành từ cuối thế kỷ II trên khu vực miềnTrung Việt Nam ngày nay Trong khoảng thời gian tồn tại và phát triển của v-

ơng quốc Chămpa, bên cạnh những giá trị văn hoá đặc sắc riêng của mình,

ng-ời Chăm chịu ảnh hởng sâu sắc của cả văn minh ấn Độ và văn hoá Việt

Từ rất sớm, ngời Chăm đã tiếp xúc và cùng chung sống với cộng đồngViệt trên nhiều vùng lãnh thổ và dần dần trở thành một bộ phận của dân tộcViệt Nam Ngay từ khi Chămpa còn là một vơng quốc độc lập đã có một bộphận ngời Chăm sống trên lãnh thổ Đại Việt Số ngời Chăm này có nguồn gốcchủ yếu là tù binh và nghệ nhân hoặc vũ nữ bị bắt trong cuộc chiến tranh Ng-

ời chăm ở Vĩnh Lộc nói riêng và Thanh Hoá nói chung cũng không nằm ngoàinhững nguồn gốc đó

Thanh Hoá vốn là đất phát tích của các triều vua nh: Lê Hoàn, Hồ Quý Ly,

Lê Thánh Tông, Chúa Trịnh, dòng họ Nguyễn là những ngời đã từng đích thânchỉ huy các cuộc chinh phạt lớn về phía Nam nên số binh sỹ Chăm bị bắt saumỗi lần thắng trận không chỉ bị đa về Thăng Long mà còn để lại Thanh Hoá

sử dụng vào việc khẩn hoang, khai ấp, lao động trong các sở đồn điền Phần

đông ngời Chăm ở Vĩnh Lộc có thể đã đợc đa về Tây Đô sau lần chinh phạtChămpa của Hồ Quý Ly (1402) và Lê Thánh Tông (1471)

Sau này ngời Chăm đã có mặt ở hầu hết các huyện ven biển và đồng bằngThanh Hoá nh: Quảng Xơng, Tĩnh Gia, Hậu Lộc, Hà Trung, Thiệu Hoá, TriệuSơn, Đông Sơn, Trên thực tế, hầu hết những làng Chăm đợc thành lập trớc

Trang 23

đó đều là những trại tù binh do quân đội khai hoang sản xuất Tớng sỹ, tù binh

đã đợc cấp đất làm ăn sinh sống ở nhiều làng nh: Đồn điền Quảng Thái(Quảng Xơng), Xuân Phơng (Quảng Châu, Quảng Xơng), Du Vinh (QuảngVinh, Quảng Xơng), Đại Khánh (Thiệu Khánh, Thiệu Hoá),

Mặc dù cha có số liệu cụ thể về thời gian và số lợng các tớng lĩnh, tù binhChăm bị bắt sau mỗi trận chiến thắng cũng nh bao nhiêu làng, trang của ngờiChăm đợc lập nên trên đất Thanh Hoá, nhng qua khảo sát ngôn ngữ, phongtục, tập quán cũng nh những dấu vết, ảnh hởng của văn hoá Chăm có thể biếtrằng Vĩnh Lộc là vùng đất không chỉ có số lợng ngời Chăm khá đông mà cáclàng Chăm ở đây còn điển hình nhất trong số làng Chăm ở Thanh Hoá (thểhiện qua phơng ngữ c dân thuộc xã Vĩnh Thịnh)

Trong số các danh tớng gốc Thanh có Quận Công Lê Thọ Vực ngời VĩnhLộc đã từng có công lớn cùng vua Lê Thánh Tông chinh phạt Chămpa Chắchẳn sự hiện diện của các tù binh Chăm ở Thanh Hoá ít nhiều cũng liên quan

đến các tớng lĩnh này Mặt khác, cùng với những biến thiên lịch sử, ngờiChăm cũng dần tìm đợc vị thế của mình trong cộng đồng ngời Việt Đã từng

có ngời Chăm trở thành khai quốc công thần thời Lê, mà điển hình là trờnghợp tớng Vũ Uy Những điều trên đây phần nào lý giải vì sao ngời Chăm cómặt khá đông đảo ở Vĩnh Lộc, trở thành một bộ phận dân c chỉ đứng sau ngờiKinh và ngời Mờng

Thiên di theo dòng lịch sử, bên cạnh các làng Việt cổ, các trang của ng ờiChăm cũng đợc hình thành trên đất Vĩnh Lộc Theo Gia phả họ Vũ thì ông tổdòng họ này là một tớng lĩnh ngời Chăm, bị quân đội của vua Lê Thánh Tôngbắt về sau lần chinh phạt năm 1471 Trải qua nhiều thế hệ, ngày nay, họ Vũ làmột trong những dòng họ lớn trên vùng đất Vĩnh Lộc

Sách THVLHC cho biết thêm, Lê Thọ Vực ngời thôn Đoài, xã Thái Đờng

(huyện Vĩnh Lộc) đã cùng Lê Thánh Tông đánh giặc Chiêm, vây thành ĐồBàn, nhờ lập đợc công lớn bình Chiêm nên đợc vua phong là Sùng Quận Công

và ban cho ông nhiều tù binh, về quê lập trang sở, khai khẩn đất đai, mở các

đạo lộ, nay trở thành các trang nh Quan Bổ, Quan Bốn, phần lớn đều mang

họ Vũ [28, 34 - 35]

Ngoài số lợng ngời Chăm vốn là các tù bình rồi sau này lập làng trên vùng

đất Thanh Hoá nói chung, Vĩnh Lộc nói riêng, phải kể đến lực lợng nhân côngxây thành Để đáp ứng cho công việc xây thành Tây Đô và các nhu cầu khácphục vụ cho một kinh đô, dân khắp nơi, trong số đó có cả thợ thuyền khéo tay

Trang 24

ngời Chăm đã đợc triệu tập về đây Lực lợng này khá đông đúc và họ cũng là

c dân của các làng mới lập Những phát hiện mới trong đợt khai quật khảo cổtháng 8 năm 2004 của đoàn nghiên cứu Việt - Nhật cho thấy nhiều khả năngnhà Hồ đã sử dụng ngời Chăm trong việc kiến thiết kinh đô mới

Việc Hồ Quý Ly đã cho dỡ một số cung điện Thăng Long ghi chép trong

ĐVSKTT và một vài hiện vật nh ngói ống có trang trí hình rồng tìm thấy ở

thành Tây Đô và đàn Nam Giao trong quá trình khai quật các nhà khảo cổ họcbớc đầu đã nhận định ngoài những hiện vật đã mang sẵn từ Thăng Long, cókhả năng nhà Hồ đã sử dụng thợ Chămpa Bởi vì, phần trên của các lá đề trangtrí rồng của ngói ống, có thể họ đã mang cả khuôn từ Thăng Long vào, nêncác nghệ nhân chỉ làm thêm phần chân lá đề gắn vào ngói [76, 22] Đặc biệt,loại ngói trang trí trên ngói hình hộp chữ nhật có chữ đinh ở một rìa cạnh,những nhủ đinh này mang ảnh hởng của kiến trúc Chămpa

Ngoài ra, có rất nhiều khả năng là khi rời đô, Hồ Quý Ly đã đa vào Tây

Đô toàn bộ các vũ nữ, nghệ nhân Chăm đang phục vụ tại kinh đô Thăng Long.Vào thời Trần, số lợng này khá lớn Nếu vậy ngời Chăm có mặt tại Vĩnh Lộcvào cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV không chỉ là những tù binh đợc nhà Hồ đa

về sau mỗi lần chinh phạt, mà trong số đó còn có cả vũ nữ, nghệ nhân Chămchủ yếu phục vụ nhu cầu cung đình

Bằng chứng cho những giả thuyết trên là phong cách kiến trúc, điêu khắc

đá ở hai ngôi chùa Hoa Long (Vĩnh Thịnh), chùa Thông (Vĩnh Ninh) (thờiTrần) Nhìn vào điêu khắc đá ở hơng án thờ phật chùa Hoa Long (VĩnhThịnh), có thể thấy bệ đá đặc tả các thiếu nữ dâng hoa lên phật với các độngtác múa uyển chuyển mang phong cách giống các bức tợng vũ nữ Chăm đợcchạm khắc phổ biến ở các tháp Chăm cổ Hình tợng sấu đá ở Chùa Thông(Vĩnh Ninh) hay tợng võ sỹ, tợng phỗng quỳ ở Hoa Long Tự đều mang đậmphong cách Chăm

Trải qua một quá trình làm ăn, sinh sống lâu dài, hiện nay ngời Chăm trênvùng đất Vĩnh Lộc cũng nh ở tỉnh Thanh Hoá nói chung đã bản địa hoá, nhngmặc dù vậy, ngời Chăm vẫn giữ đợc những sắc thái riêng về văn hoá và yếu tốgiúp ta có thể dễ dàng nhận ra, đó là phơng ngữ giao tiếp và sinh hoạt hàngngày

1.2.3 Dân c và sự phân bố dân c

Vĩnh Lộc là một huyện có vị thế đặc biệt quan trọng trên địa bàn tỉnhThanh Hoá Đây là một vùng có kiến tạo địa chất phức tạp đan xen các dạng

Trang 25

địa hình đồng bằng, vùng đồi và núi đá Từ xa xa Vĩnh Lộc đã là địa bàn sinh

tụ của nhiều tộc ngời khác nhau Trong đó ngời Kinh giữ vai trò chủ thể, sovới ngời Kinh, ngời Mờng và ngời Chăm chiếm tỷ lệ không lớn

Hiện nay trong số 16 xã và thị trấn, Vĩnh Lộc là địa bàn c trú chủ yếu củangời Kinh Ngời Kinh chủ yếu c trú trên 10 xã thuộc đồng bằng và trung tâmhuyện Ngời Mờng chủ yếu c trú ở 6 xã có núi, đồi cao nh Vĩnh Quang, VĩnhThịnh, Vĩnh Hùng, Vĩnh Long, Vĩnh Hng và Vĩnh An

Ngời Chăm ở xen kẽ cùng ngời Kinh và ngời Mờng Từ các trại, đồn điền

từ binh Chăm do triều đình quản lý dần dần thành làng Chăm Địa bàn c trú

tr-ớc kia là vùng đất thuộc hơng Đại Lại và các vùng đất lân cận

Dấu tích địa bàn c trú của tù binh Chăm hiện vẫn còn lu lại trên vùng đấtVĩnh Lộc nh: xã Vĩnh Thịnh và các xã Hà Sơn, Hà Đông, Hà Lĩnh, Hà Tân(nay thuộc Hà Trung)

ở xã Hà Đông hiện nay "vẫn còn rất nhiều dấu tích Chăm nh một vài

giếng cổ hình vuông, rồi ngôi đình làng Thợng Phú là công trình kiến trú cổ

mà các mảng điêu khắc trên các bức cốn còn lại cho đến nay đều là vũ nữ Chăm Về ngôn ngữ, nhiều từ Chăm và ngữ điệu Chăm vẫn còn rơi rớt lại trong cách nói của ngời dân địa phơng" [7, 335] Làng Kênh Thuỷ (Vĩnh

Thịnh) đợc xem nh là "ốc đảo" của ngôn ngữ Chăm ở Châu thổ sông Mã Vùng đất Vĩnh Ninh xa bao gồm cả vùng núi, đồi thấp của huyện VĩnhLộc là địa bàn c trú của ngời Chăm Do những biến động của lịch sử nên đếnnay ngời Chăm ở Vĩnh Ninh chiếm số lợng ít Tuy nhiên đây là vùng giao thoavăn hoá Việt - Chăm nên dấu ấn văn hoá Chăm khá rõ nét ở Vĩnh Ninh

Hiện nay, mặc dù cha có số liệu cụ thể về thời gian và số lợng các tớnglĩnh, tù binh Chăm bị bắt sau mỗi trận chiến thắng cũng nh bao nhiêu làng,trang của ngời Chăm đợc thành lập trên đất Vĩnh Lộc, nhng qua khảo sát ngônngữ, phong tục tập quán cũng nh những dấu vết, ảnh hởng của văn hoá Chăm

có thể biết bằng Vĩnh Lộc là vùng đất không chỉ có số lợng ngời Chăm khá

đông mà các làng Chăm ở đây còn điển hình nhất trong số làng Chăm ở ThanhHoá

Mật độ dân số trung bình ở Vĩnh Lộc Thanh Hoá là 568 ngời/km2 (Tuynhiên, con số này chỉ là tơng đối)

Có thể nói, quá trình phân bố dân c ở Vĩnh Lộc Thanh Hoá tơng đối phứctạp và đa dạng Trong đó, điểm rõ nét nhất là sự phân bố không đồng đều về

Trang 26

mật độ dân số, thành phần dân tộc,… giữa khu vực miền núi, trung du và đồngbằng.

Tại Vĩnh Lộc, yếu tố c trú xen kẽ giữa các thành phần dân tộc tơng đối phổbiến, có thể trên cùng một địa bàn nhng vẫn tồn tại cả ba thành phần dân tộcKinh, Mờng, Chăm cùng c trú

Mặc dù sống xen kẽ hay biệt lập, ở thị trấn đông ngời hay vùng cao, vùngsâu xa xôi và với số lợng chênh lệch nhau nhng mối quan hệ giữa các dân tộcvẫn luôn gắn kết chặt chẽ và không ngừng đợc cũng cố

Nhìn chung, đặc diểm phân bố dân c ở Vĩnh Lộc có những tác động khôngnhỏ đến sự phát triển toàn diện của vùng đất này

1.3 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội của Vĩnh Lộc Thanh Hoá

Vĩnh Lộc là một huyện có vị thế quan trọng của tỉnh Thanh Hoá Trớc hết,

do vị trí chuyển tiếp giữa đồng bằng và miền núi nên từ xa xa vùng đất này đã

là nơi tụ hội của nhiều luồng c dân và là nơi diễn ra quá trình giao thoa củanhững truyền thống văn hoá khác nhau Với địa hình và cảnh quan môi trờngphức hợp vừa tạo nên những thuận lợi cho việc phát triển kinh tế - xã hội, nh-

ng đồng thời cũng đặt ra không ít những thách thức buộc con ngời phải luônsáng tạo để khắc phục và thích ứng Là một huyện nằm trên con đờng thợng

đạo Bắc - Nam, là nơi hợp lu của sông Bởi với sông Mã, Vĩnh Lộc có u thế vềgiao thông đờng bộ lẫn đờng thuỷ Tuy đất đai không thật phì nhiêu, nhng do

điều kiện tự nhiên đa dạng, phong phú và giao lu tiện lợi, vùng đất Vĩnh Lộc

có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội

1.3.1 Kinh tế

Nằm ở vị thế quan trọng của xứ Thanh, Vĩnh Lộc có thể xem là trung tâmcủa các huyện Tây Bắc của Thanh Hoá Vừa từng là cố đô - trung tâm chínhtrị của cả nớc một thời rồi sau đó trở thành một địa bàn có vị trí đặc biệt quantrọng về địa - chính trị, địa - quân sự qua nhiều thời kỳ lịch sử nên sớm trởthành nơi tụ hội của nhiều thành phần kinh tế phát triển mạnh mẽ, phong phú,

đa dạng

* Nông nghiệp

Trong xây dựng kinh tế, nhân dân Vĩnh Lộc luôn xác định nông nghiệp lànghề truyền thống căn bản Trong suốt quá trình lao động sản xuất, ngoài câylúa nớc truyền thống, nông dân Vĩnh Lộc đã lựa chọn đợc nhiều giống câytrồng thích nghi với điều kiện tự nhiên của địa phơng, trong đó có nhiều sảnphẩm cây trồng đã trở nên nổi tiếng, gắn liền với những địa danh ở địa phơng

Trang 27

nh: da Don, cà Giáng, táo Phơng Giai, khoai lang Bồng, thuốc lá sợi vàng SócSơn, sâm Báo, long cốt (Đa Bút) Ngoài ra còn có một số cây khác đợc trồngphổ biến trong huyện nh: bông vải, dâu tằm, mía,

Trong số những giống cây trồng trên, cây thuốc lá sợi vàng Sóc Sơn đợcxem là một trong những sản phẩm cây trồng phát triển mạnh mẽ nhất, với tổngdiện tích lên tới 1.000 ha và sản lợng đạt 1.200 tấn sản phẩm [3, 5] TỉnhThanh Hoá đã đầu t xây dựng nhà máy thuốc lá Vĩnh Hoà, tiền thân của nhàmáy thuốc lá Thanh Hoá ngày nay

Bên cạnh nông nghiệp trồng trọt, hoạt động kinh tế chăn nuôi ở Vĩnh Lộccũng phát triển mạnh mẽ với nhiều loại vật nuôi phong phú, đa dạng nh: trâu,

bò, lợn, nhím, Toàn huyện có 133 trang trại, trong đó có 4 trang trại quy môlớn đợc hởng chính sách đầu t của tỉnh

Mặt khác, Vĩnh Lộc còn tập trung khai thác có hiệu quả các vùng đồi núi

và diện tích mặt nớc tự nhiên để phát triển ngành lâm nghiệp và nuôi trồngthuỷ sản Tổng diện tích mặt nớc nuôi trồng thuỷ sản có 277,89 ha, sản lợngnuôi trồng đạt 423 tấn Diện tích trồng rừng là 1700 ha, hàng năm trồng câyphân tán 400.000 cây

Để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, công tác thuỷ lợi và phòng chốnglụt bão ở huyện Vĩnh Lộc luôn đợc xem là “trọng điểm” và từng bớc đợc cảithiện, nâng cao

* Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp

Bên cạnh hoạt động kinh tế nông nghiệp, Vĩnh Lộc còn là vùng đất nổitiếng với nhiều nghề thủ công truyền thống nh nghề nấu chè lam ở Phủ Quảng(Vĩnh Thành), kéo mật ở làng Còng (Vĩnh Hng), lụa tơ tằm ở Hồ Nam [6,113]; những vật dụng hàng ngày của nghề rèn Đa Bút (Vĩnh Tân), sản phẩm

đá xây dựng ở Vĩnh Minh, Vĩnh An

Trong lĩnh vực công nghiệp, Vĩnh Lộc tập trung đẩy mạnh khai thácnguồn tài nguyên khoáng sản sẵn có của địa phơng, nhất là sản phẩm đá ốp lát

để cung cấp cho thị trờng trong nớc và xuất khẩu Bên cạnh đó các ngành sửachữa cơ khí, điện dân dụng, vật liệu xây dựng, phát triển mạnh mẽ, đa dạng Toàn huyện Vĩnh Lộc có 78 doanh nghiệp trong đó có 17 doanh nghiệphoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

* Thơng mại - dịch vụ

Nằm trên trục đờng giao thông thuỷ, bộ quan trọng lại từng là đất kinh đô

và có nhiều sản vật nổi tiếng nên việc trao đổi, giao lu hàng hoá ở Vĩnh Lộc

Trang 28

đ-ợc phát triển từ rất sớm Từ thời nhà Nguyễn, Vĩnh Lộc đã có một số chợ,quán khá nổi tiếng nh chợ Nhân Lộ, chợ Biện, chợ Bản Thuỷ Trong quá trìnhtrao đổi hàng hoá, hệ thống chợ tiếp tục phát triển, nhiều nơi tạo thành nhữngkhu phố chợ sầm uất với nhiều nhà buôn chuyên nghiệp trong đó có cả ngờiHoa nh phố Giáng, phố Bồng.

Ngày nay, hoạt động kinh tế thơng mại - dịch vụ ở Vĩnh Lộc phát triển

t-ơng đối đồng đều trên tất cả các lĩnh vực Tổng mức bán lẻ hàng hoá đạt 160

tỷ đồng bằng 150,4% so với thời kỳ năm 2007 Tổng giá trị xuất khẩu đạt

305040 USD bằng 113% so với thời kỳ 2007 Các dịch vụ nh: bu chính viễnthông, vận tải, tín dụng, phát triển phong phú, đa dạng

Đặc biệt, với 104 di tích lịch sử và các danh lam thắng cảnh nổi tiếng,Vĩnh Lộc là một trong những địa phơng có tiềm năng to lớn thuận lợi cho việcphát triển các “tour” du lịch

Nằm giữa miền núi và đồng bằng, với đặc thù là một huyện nông nghiệp.Nhng hiện nay, Vĩnh Lộc có thể xem là một trong những huyện tơng đối pháttriển trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị,văn hoá, xã hội, xứng đáng là trung tâm của các huyện Tây Bắc của ThanhHoá

Cũng nh ngời Kinh và ngời Mờng, hiện nay đời sống kinh tế của ngờiChăm ở Vĩnh Lộc Thanh Hoá đã có nhiều bớc khởi sắc Những năm qua nhờchính sách của Đảng và Nhà nớc đầu t vào các dự án phát triển kinh tế - xã hộicho vùng sâu, vùng xa, các xã đặc biệt khó khăn, các dân tộc thiểu số,… Bởivậy, đời sống kinh tế - xã hội của ngời Chăm ngày càng đợc cải thiện, pháttriển

Tại các làng Chăm ở Vĩnh Lộc Thanh Hoá nói chung và các gia đình ngờiChăm nói riêng đã sử dụng điện, nớc máy, các gia đình đã có tivi, xe máy,

điện thoại,… Để hiểu rõ hơn về đời sống văn hoá vật chất và đời sống văn hoátinh thần của nguời Chăm ở Vĩnh Lộc Thanh Hoá, chúng ta hãy điểm qua cácthành phần kinh tế cụ thể của ngời Chăm nơi đây

Ngời Chăm là một trong những tộc ngời làm ruộng lúa nớc tơng đối sớmtrong khu vực Đông Nam á Việc trồng lúa nớc luôn giữ vai trò chính và lúa

là giống cây trồng chủ đạo của ngời Chăm Cây lúa đợc trồng từ hai đến ba vụtrong một năm, đây là hình thức trồng trọt đã mang tính ổn định trên nhữngmãnh ruộng vĩnh viễn

Trang 29

Ngời Chăm đã biết sử dụng thành thạo các phơng tiện hiện đại nh: các loạiphân bón, máy cày, máy bừa,… xen kẽ cùng với những phơng tiện truyềnthống nh: liềm, cuốc,…

Bên cạnh việc trồng cây lúa nớc truyền thống, ngời Chăm đã sớm biếttrồng thêm các loại cây lơng thực khác nh: ngô, khoai,… và hoa màu nh: rau,

đậu, lạc, bầu bí,…

Cùng với hoạt động kinh tế nông nghiệp trồng trọt, hoạt động kinh tế củangời Chăm ở Vĩnh Lộc Thanh Hoá còn có chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm,nuôi trồng thuỷ sản,…; làm các nghề thủ công nh: đan lát, rèn sắt, mộc,…;ngời Chăm cũng tham gia sôi nỗi trong hoạt động kinh tế buôn bán, trao đổi,

Có thể nói, hiện nay đời sống kinh tế của ng

Hoá phát triển tơng đối mạnh mẽ, phong phú và đa dạng Tuy nhiên, hoạt

động kinh tế nông nghiệp trồng trọt, nhất là việc trồng cây lúa nớc vẫn đóngvai trò chủ đạo Tất cả các hoạt động kinh tế khác chỉ mang tính chất bổ trợnhằm đáp ứng nhu cầu của cuộc sống Ví nh chăn nuôi cha trở thành ngànhriêng, thủ công nghiệp cha tách khỏi nông nghiệp, việc buôn bán trao đổi cònyếu ớt, các mặt hàng còn nghèo nàn,…

1.3.2 Văn hoá giáo dục

Để không ngừng vơn lên, chế ngự thiên nhiên xây dựng quê hơng, đất nớcngày một giàu đẹp Nhân dân Vĩnh Lộc từ thủa xa xa đã có truyền thống hiếuhọc, trọng nhân tài Ngay từ thế kỷ XIV, Phạm Bản - ngời quê Vĩnh Lộc đã cốgắng học hỏi, nghiên cứu các bài thuốc chữa bệnh nên đợc vua Trần AnhTông mời vào cung giữ chức Thái Y, chuyên lo việc chữa bệnh cho nhà vua.Thời Lê Sơ, Vĩnh Lộc có 8 ngời trong tổng số 49 ngời đỗ đạt tiến sĩ của lộThanh Hoá, trong đó có bảng nhãn Lu Hng Hiếu Ông là hội viên hội Tao Đàn

và đợc cử giữ chức Thợng th kiêm Đông các đại học sĩ Ông đã cùng ThânNhân Trung, Đàm Văn Lễ soạn văn bia ở Chiêu Lăng (Lam Sơn) Từ sau thời

Lê Sơ, Vĩnh Lộc tiếp tục có nhiều ngời đổ đạt cao, trong đó có trạng nguyênTrịnh Huệ, ngời làng Sóc Sơn, Biện Thợng (Bồng Thợng) Vĩnh Lộc Ông đỗtrạng nguyên trong khoa thi năm 1736, dới thời vua ý Tông Ông là trạngnguyên cuối cùng trong lịch sử khoa bảng Việt Nam Ông từng đợc cử giữchức Thợng th bộ hình, Tế tửu Quốc Tử Giám

Để giữ gìn truyền thống hiếu học của địa phơng, vấn đề xây dựng trờnghọc cũng luôn đợc quan tâm chú ý Kể từ khi thành An Tôn bị mất vị trí quantrọng vào năm Minh Mạng thứ 16 (1835), Vĩnh Lộc đã lại có trờng học ở phía

Trang 30

Nam phủ lỵ Quảng Hoá Đến năm 1913, dới thời thuộc Pháp, Vĩnh Lộc có ờng tiểu học Pháp - Việt Quảng Hoá (nay là Trờng phổ thông trung học VĩnhThành) Đây là trờng học đợc thành lập khá sớm của tỉnh Thanh Hoá.

Phát huy truyền thống của cha ông, ngày nay công tác giáo dục ở VĩnhLộc luôn đạt kết quả tốt Tất cả các xã đều có trờng tiểu học và trung học cơ

sở Huyện có trờng trung học phổ thông Hàng năm có nhiều con em của nhândân trong huyện thi đỗ vào các trờng đại học, cao đẳng và trung học chuyênnghiệp Công tác xoá mù chữ đã căn bản hoàn thành Đời sống văn hoá củanhân dân không ngừng đợc nâng cao

Hiện nay, Vĩnh Lộc có 03 trờng trung học phổ thông, 16 trờng trung họccơ sở, 17 trờng tiểu học và 16 trờng mầm non Trong đó có 45 trờng đợc xâydựng kiên cố, cao tầng, 07 trờng bán kiên cố và cấp bốn Vĩnh Lộc có 46,15%trờng đạt chuẩn quốc gia, có 03 xã đạt chuẩn quốc gia ở cả 3 bậc học nh VĩnhYên, Vĩnh Thành, Vĩnh Minh Cơ sở vật chất, trang thiết bị trờng học đợc tăngcờng theo hớng hiện đại hoá; trình độ đạt chuẩn, trên chuẩn của đội ngũ giáoviên, cán bộ quản lý giáo dục ngày càng tăng; chất lợng giáo dục khôngngừng đợc nâng cao

Cùng với giáo dục, hoạt động văn hoá ở Vĩnh Lộc cũng phát triển mạnh

mẽ, phong phú, đa dạng

Tại Vĩnh Lộc, các phong trào xây dựng làng văn hoá, cơ quan văn hoá, gia

đình văn hoá không ngừng đợc phát triển nâng cao Đặc biệt, để góp phần đẩylùi các tệ nạn xã hội, nâng cao đời sống văn hoá, tinh thần cho nhân dân, khơinguồn các giá trị văn hoá dân gian của các vùng miền huyện Vĩnh Lộc khôngngừng đẩy mạnh các phong trào văn nghệ quần chúng, tổ chức làng vui chơi,làng ca hát, khôi phục và tổ chức các lễ hội truyền thống,

Việc bảo tồn và trùng tu các di tích lịch sử văn hoá cũng đợc quan tâm nh:

di tích Nghè Vẹt, Phủ Trịnh, đền thờ Trần Khát Chân, chùa Xuân áng,…

Có thể nói, văn hoá giáo dục là một trong những lĩnh vực phát triển tơng

đối mạnh ở Vĩnh Lộc Sự phát triển này đã có những tác động không nhỏ gópphần thay đổi hình ảnh, diện mạo của vùng đất này

Ngời Chăm ở Vĩnh Lộc Thanh Hoá cũng có một nền văn hoá giáo dụcmang đậm nét riêng

Về tiếng nói, tiếng Chăm thuộc ngữ hệ Mã Lai - Đa Đảo

Trang 31

Về chữ viết, ngời Chăm có chữ viết từ thời cổ Chữ Chăm có nguồn gốc từchữ Phạn Hiện nay, nhà nớc đã chủ trơng xây dựng bộ chữ Chăm La Tinh,nhng việc sử dụng chữ còn rất hạn chế.

Về giáo dục, ở Vĩnh Lộc Thanh Hoá tất cả các xã có ngời Chăm sinh sống

đều đã có trờng mầm non, cấp 1 và cấp 2, hầu hết đợc xây dựng kiên cố Đa sốtrẻ em Chăm đều đợc đến trờng học, đồng thời phần lớn ngời Chăm ở VĩnhLộc Thanh Hoá đều biết tiếng phổ thông, mặc dù chỉ ở mức độ hạn chế

Ngời Chăm ở Vĩnh lộc Thanh Hoá có nền văn học dân gian rất phong phú,giàu tính nhân văn và chữ tình, với đầy đủ các loại hình nh: ca dao - tục ngữ,truyện cổ tích, truyện thần thoại,… các làn điệu dân ca nh: hát ân tình, hát đố,hát ru, hát đối đáp, hò,… ợc nhiều ngời a thích Ngời Chăm có các lễ hội nh: đ

lễ hội Katê, Rija Ngar, Ramwan,…Về nghệ thuật dân gian có các điệu múanh: múa quạt, múa chèo thuyền, múa âm dơng,… độc đáo và mang đậm sắcthái riêng

1.3.3 Xã hội

Vĩnh Lộc là một vùng đất chuyển tiếp từ miền núi xuống đồng bằng, giápranh giữa miền núi và miền xuôi, vừa từng là cố đô - trung tâm chính trị củacả nớc một thời, rồi sau đó trở thành địa bàn có vị trí đặc biệt quan trọng về

địa - chính trị, địa - quân sự qua nhiều thời kì lịch sử nên sớm trở thành nơi tụhội của ngời Kinh (ngời Việt) là thành phần dân tộc chủ yếu, ngoài ra còn cóngời Mờng và ngời Chăm

Trên địa bàn Vĩnh Lộc, mối quan hệ Việt - Mờng - Chăm đợc thể hiện đầy

đủ, đang dạng và phức tạp trong tôn giáo, tín ngỡng, lễ tục,… Điều kiện địa lí

- nhân văn không chỉ tác động đến thình hình kinh tế, chính trị, văn hoá,… màcòn là một trong những yếu tố quyết định đến tình hình xã hội và đời sống cdân vùng đất Vĩnh Lộc

Dựa vào những truyện kể dân gian, những ghi chép trong các th tịch cổ,chứng tỏ đã từng tồn tại ở Vĩnh Lộc Thanh Hoá một tổ chức xã hội Chămtruyền thống ổn định từ khoảng cuối thế kỷ XIV cho đến nay

Ngời Chăm sống xen kẽ cùng ngời Kinh và ngời Mờng Địa bàn c trú chủyếu là các xã Vĩnh Thịnh, Vĩnh Ninh, trong đó làng Kênh Thuỷ (xã VĩnhThịnh) đợc xem nh là "ốc đảo" của ngời Chăm ở châu thổ sông Mã

Ngời Chăm sống xen kẽ cùng ngời Kinh và ngời Mờng tại các làng, xã

Đây là những đơn vị hành chính cao nhất trong xã hội truyền thống của ngờiChăm ở Vĩnh Lộc Thanh Hoá Trong những đơn vị hành chính này đều có một

Trang 32

hệ thống tổ chức quản lí nhất định, với nhiều hình thức quản lí khác nhau vàchịu sự chi phối của hệ thống luật, tục.

Về chế độ sở hửu và quan hệ sở hữu trong xã hội Chăm tơng đối đa dạng

và phức tạp Trớc đây xã hội Chăm cổ là một xã hội phân chia đẵng cấp và bấtbình đẵng, điều này đã kéo theo sự bất bình đẵng về quyền và nghĩa vụ củangời dân Chăm trong suốt nhiều thế kỷ dài

Ngày nay, trong xã hội Chăm vẫn còn có sự phân biệt đẵng cấp Thế nhng,

sự phân biệt này chỉ tồn tại một cách biệt lập, mờ nhạt, với các tầng lớp nh: tu

sĩ Bàlamôn, quý tộc, bình dân, nô lệ, tôi tớ

Trong gia đình ngời Chăm ở Vĩnh Lộc Thanh Hoá phần lớn là gia đìnhnhỏ mẫu hệ Dấu vết gia đình lớn mẫu hệ chỉ còn rơi rớt lại ở làng Kênh Thuỷ(xã Vĩnh Thịnh) nhng không rõ nét và có sự pha trộn Trong gia đình mẫu hệngời Chăm quyền lực tập trung vào ngời chủ gia đình Ngời mẹ có quyềnquyết định mọi công việc trong gia đình từ tổ chức sản xuất, quyết định hônnhân cho con cái đến việc tham gia vào các hoạt động xã hội

Hôn nhân của ngời Chăm là hôn nhân một vợ một chồng, có tục "nữ đi hỏirể" Đây là nét nỗi bật của văn hoá hôn nhân và gia đình Chăm

Về tín ngỡng, ngời Chăm chịu ảnh hởng sâu sắc, mạnh mẽ của các tôngiáo nh: Bàlamôn giáo, Hồi giáo (Hồi giáo Bà Ni và Hồi giáo Ixlam) ĐạoPhật cũng có những tác động nhất định đến đời sống xã hội Chăm một cáchtoàn diện Có thể nói, các hình thức tín ngỡng của ngời Chăm rất phong phú,

đa dạng và phức tạp Tất cả đều thể hiện quan niệm vạn vật hữu linh, tín ỡng đa thần trong thế giới quan và nhân sinh quan của ngời Chăm

1.3.4 Một số nét văn hoá vật chất của cộng đồng ngời Chăm ở Vĩnh

Lộc Thanh Hoá

Văn hoá vật chất của ngời Chăm ở Vĩnh Lộc Thanh Hoá rất phong phú và

đa dạng, nó là một lĩnh vực khá quan trọng trong văn hoá truyền thống củangời Chăm nói chung, ngời Chăm ở Vĩnh Lộc Thanh Hoá nói riêng Điều này

nó đợc biểu hiện qua cách ăn uống, trang phục và nhà cửa của ngời Chăm Đồ ăn thờng ngày của ngời Chăm trớc đây là gạo tẻ, gạo nếp, kê, đậu,vừng, các món ăn đợc chế biến từ lơng thực nh xôi nếp, cơm lam, nếp đồtrộn kê, các loại bánh trái trong ngày lễ, tết, lễ dạm hỏi hay trong dịp thămviếng nhau cũng rất phong phú và đa dạng

Nếu nh lơng thực chính là gạo (gạo tẻ và gạo nếp) thì thực phẩm chính làcá Cá không chỉ là nguồn đạm chính trong bữa ăn hàng ngày mà nó còn là lễ

Trang 33

vật bắt buộc trong cới, hỏi, trong các lễ tết thờng kỳ Cá là nguyên liệu chính

để chế biến ra nhiều món ăn nh: cá nớng, cá chua, cá nấu canh lá chua, măngchua, cá gỏi, cá nấu với mẻ, đã trở thành những món ăn truyền thống gópphần để hình thành các giá trị văn hoá vật chất của ngời Chăm Riêng món cácúng tết có thể rán, kho nhng truyền thống vẫn là cá tơi, cá khô, cá chua, cá n-ớng

Cá tơi: Thờng là một khúc cá tơi đợc xếp trên cỗ xôi hay đợc trộn lẫn vớigạo và gói trong lá hông chín Dân tộc Chăm dùng cá tơi để cúng tế trong cácngày lễ, tết,

Cá khô: Là loại cá đợc xẻ dọc sống lng từ đầu đến đuôi rồi đem hông chín,sấy khô Món cá khô vừa dai, vừa bùi và hấp dẫn nên rất đợc a thích

Cá chua: Là thứ cá muối chua trong các ống nứa, lá hông chín, sau khi đã

bỏ đầu, bỏ ruột, chặt khúc rồi trộn với muối và thính Cá chua thờng đợcchuẩn bị từ một đến hai tháng mới có thể ăn đợc Khi ăn thờng đợc kẹp với rauthơm, tỏi, hành

Cá nớng: Là loại cá đợc cắt xẻ nhiều đờng trên thân rồi kẹp vào que và ớng trên than hồng Cá nớng có màu sắc vàng sộm, ăn vào có vị ngọt đầu lỡi,lại có mùi thơm phức

Ngời Chăm ăn đợc nhiều thứ, từ các loại côn trùng nh ong non, trứng kiến,niềng niễng đến ếch, nhái, rắn, các loại chim, các loại gia súc, thú rừng, các món ăn chế biến từ thịt nh: thịt luộc, thịt xấy, thịt chua, thịt tái,

Bên cạnh những thực phẩm chính độc đáo, bổ dỡng, ngời Chăm còn có vô

số các loại rau, măng để nấu canh, luộc, làm chua, làm nộm, ăn ghém Tậpquán trong bữa ăn thờng phân chia ngôi thứ, chủ khách, nam nữ, cùng với cáckiêng kỵ liên quan

Đồ uống thông thờng của ngời Chăm trớc đây là nớc mát dới sông, suối.Dân tộc Chăm cũng có hái các loại lá trong rừng làm chè nấu nớc uống nh: lácây vằng, lá cây cơm xôi, gần đây ngời Chăm đã uống nớc chè xanh, có gia

đình tự trồng trong vờn, có gia đình tự mua ngoài chợ về Ngời chăm rất thíchuống rợu và có thói quen dùng rợu để tiếp khách Rợu của ngời Chăm chủ yếu

có các loại nh: rợu trắng, rợu cần đợc chế từ ngũ cốc

Điều đặc biệt chúng ta cần nhấn mạnh ở đây là tập quán làm rợu cần vàcách thức uống rợu cần là một trong những yếu tố làm nên sắc thái giá trị vănhoá riêng của ngời Chăm ở Vĩnh Lộc Thanh Hoá Với các món ăn thực phẩm

đặc sắc nh: cá chua, măng chua, thịt chua, đã cho thấy kỹ thuật làm chín

Trang 34

thức ăn bằng cách gây lên men chua đặc trng của ngời Chăm và họ còn sửdụng phơng pháp này để chế biến men rợu, để ủ các loại rợu Men đợc làm từbột gạo tẻ, trộn với một số lá quế, lá cây đu đủ và một số lá khác tạo hơngthơm, độ đắng ngọt của rợu Thế nhng, thành phần chủ yếu vẫn là gạo Gạosau khi ngâm thì đợc vớt lên để cho ráo nớc và đem giã nhỏ, giã đều với cácloại lá đã đợc chuẩn bị sẵn, sau đó lại đem trộn đều với nớc và vắt thành bánh.Những điều này đã cho chúng ta thấy đợc nét đặc trng tinh tuý của rợu cầnChăm.

Việc chọn trấu để ủ rợu cũng là một công đoạn không kém phần quantrọng, trấu phải là trấu của lúa nếp mới sạch và thơm Trấu đợc giã bằng cối

gỗ, sau đó lấy trấu và rửa sạch, loại bỏ trấu lép nỗi trên mặt nớc, phần còn lại

đem phơi khô, để ráo nớc, sau đó trộn đều với gạo đã đợc giã nhỏ và bắc lênbếp hông, giống nh hông xôi Khi chín nó đợc đổ ra và quạt nguội, rắc men vàtrộn đều Cuối cùng cho nguyên liệu vào vò nén chặt và bịt kín miệng Vò nhỏ

từ 15 đến 20 ngày là dùng đợc, vò to từ 1 tháng đến 6 tháng mới dùng đợc

R-ợu để càng lâu uống càng ngon

Có nhiều loại vò rợu, loại 4 cần, 6 cần, 8 cần và 12 cần Tuỳ theo vò to hay

vò nhỏ mà quy định cắm cần cho hợp lý Cần rợu hay còn gọi là “xe rợu” đợclàm bằng cây trúc trên rừng hoặc bằng cây mây Gáo múc nớc làm bằng gáotre, lùng hoặc nứa già Những dụng cụ khác cũng phải có trong việc tợu nh:nồi đựng nớc, vò to thì sử dụng nồi đồng 4 quai, vò nhỏ thì sử dụng nồi đồng 2quai

Ngời uống rợu đầu tiên bao giờ cũng là khách quý cao tuổi và ngời phụ nữchủ nhà, sau đó mới đến những ngời cao tuổi khác, sắp xếp trật tự vừa có sự

đan xen giữa chủ và khách, vừa có nam vừa có nữ, có ngời khoẻ, ngời yếu,

điều này có đảm bảo ai cũng đợc uống và đạt quy định về số lợng nớc thêmvào vò trong một thời gian nhất định đợc đo bằng lợng nớc chảy từ trongphong rợu ra

Với quy mô uống rợu cần đợc tổ chức chặt chẽ, nó thể hiện tình đoàn kếtgắn bó trong cộng đồng dân c và nó tạo nên nét văn hoá riêng có của đồng bàoChăm nói chung và đồng bào Chăm ở Vĩnh Lộc Thanh Hoá nói riêng

Song song với tập quán văn hoá ẩm thực nói trên, ngời Chăm đã sáng tạo

ra một hệ thống đồ dùng vật đựng nh: chõ đồ xôi, giỏ ép cơm, đã trở thànhnhững vật dụng không thể thiếu đợc trong đời sống hàng ngày của họ Chính

Trang 35

sở thích và tập quán trong ăn, uống là một mặt quan trọng góp phần hìnhthành tính cách ngời Chăm.

Trong lĩnh vực văn hoá vật chất, nhà cửa và trang phục của ngời Chămluôn thể hiện những giá trị mang bản sắc văn hoá tộc ngời độc đáo, phong phú

và đa dạng

Nhà cửa của ngời chăm vừa mang nét chung của nhà sàn Chăm nói chungnhng có những nét riêng mang tính đặc thù của địa phơng ở Vĩnh Lộc ThanhHoá, nhà cửa của ngời Chăm thờng có kích thớc nhỏ, cân xứng và thoáng mát,chắc chắn và ấm cúng Về cấu trúc, nhà của ngời Chăm thờng có hình dángvuông, cân đối và ổn định Hai mái có độ dốc lớn để chống ma gió Nhà đợctrổ cửa sổ ở hai phía đầu hồi, nhà bớc lên cầu thang là một khoảng sân hẹp lộthiên trông nh một cái hành lang Khoảng sân này ngoài dùng để phơi phóngcòn có tác dụng làm cho ngôi nhà thêm xinh xắn Nhà của ngời Chăm thờng

đợc làm với 3 gian Gian đầu tiên giành riêng cho việc thờ cúng tổ tiên, nơitiếp những khách quý, những ngời có chức vụ Gian này bao giờ cũng có váchngăn với các gian khác Gian giữa là nơi sinh hoạt của gia đình với nhữngbuồng nhỏ khác nhau và có vách ngăn Buồng đầu tiên bao giờ cũng là buồngcủa cha mẹ (nếu còn ông bà là của ông bà), tiếp theo là của anh chị cả, rồi đếnanh chị hai, và của con trai cha vợ, con gái cha chồng trong gia đình Giancuối cùng là nơi chứa đựng những đồ dùng trong gia đình ở đó có đặt một cáibếp để nấu ăn hàng ngày, chạn bát, Nhìn chung, trong nhà của ngời Chăm,tuy có một số vách ngăn qua các buồng, song các cột lại đợc xen lẫn vào bêntrong nên rất rộng rãi, thoáng đãng Nhà cửa ngời Chăm thờng có mặt cắt hìnhvòm cuốn, hai đầu mái hồi tròn, hơi cong lên và nhô ra nh mái thuyền

Điều đáng chú ý về kiểu nhà cổ truyền của ngời Chăm ở Vĩnh Lộc ThanhHoá là sự thống nhất kết cấu nhà sàn, từ vật liệu cho đến hình dáng, phongcách kiến trúc

Có thể nói, ngôi nhà là một sáng tạo độc đáo, mang đậm nét riêng và rấtduyên dáng của ngời Chăm Hiện nay, đến các làng Chăm, xu hớng nhà sànchuyển sang nhà đất là rất phổ biến, nhất là những nơi gần thị trấn và các trục

Trang 36

hoàn toàn còn giữ đợc lối ăn mặc của tổ tiên từ những thế kỷ trớc Đối với dântộc Chăm ở Vĩnh Lộc Thanh Hoá hiện nay, các em học sinh, sinh viên haynhững công chức thì ăn mặc đồ âu Tây, nhng những ngời ở nhà, nhất là phụ nữChăm thì luôn luôn mặc chăn và áo dài chăn muôn thuở, nhìn cách ăn mặc đi

từ xa ta có thể biết ngay đó là ngời Chăm Riêng đàn ông cỡ trung niên màkhông phải là công chức thì mặc quần áo bà ba nh ngời Việt Tuy nhiên, nếu

có lễ hội chung thì họ có xu hớng ăn mặc theo lối cổ truyền của dân tộc Còncác vị chức sắc tôn giáo, các thầy tế tự, hiến tế dù Bàlamôn giáo hay Bà Nigiáo, Hồi giáo Ixlam thì họ luôn ăn mặc theo lối cổ truyền về đạo giáo nh cảngàn năm trớc không hề thay đổi

Trong y phục của nam giới Chăm cũng có nhiều nét độc đáo riêng biệt:

Đó là một tấm vải rộng trên dới một mét, chiều dài gấp 1/5 lần ôm vừa vòngbụng Khi mặc chăn ngời ta gấp hai mép chăn cuộn quanh ngời ra phía hôngbên nách, xếp lại hai đến ba nếp vừa ôm chặt vòng bụng rồi rắt cạp vải cuộnvào trong Sau đó dùng một thắt lng gọi là “talay - khăn” đợc thả trùng xuốngphía trớc Cái chăn “khăn bek” này thờng là màu trắng hay màu mỡ gà

Ngời Chăm mặc áo "áo lakay”, là loại áo ngắn rủ xuống đến mông, phíatrớc có đờng xẻ và đâm khuy vạt trớc hai túi áo, cổ áo hình tròn, tà áo hai bênsờn đợc xẻ dài khoảng một gang tay Nếu là chức sắc tôn giáo thì mặc áo màu

ở dới mép chăn tuỳ theo thứ bậc tôn giáo của chức sắc

Y phục nữ giới Chăm bao giờ cũng rất rực rỡ và đẹp đẽ Phụ nữ Chăm mặcchăn đủ màu nhng chăn mặc để cúng lễ thì phải là màu trắng và mặc áo “aotăh” Chăn của phụ nữ Chăm gọi là chăn mở, là loại chăn quấn bằng một tấmvải mà hai mép vải không khâu dính lại Còn chăn kín là loại chăn hai mép đ -

ợc khâu dính lại thành hình ống tròn Mỗi khi mặc, cạp chăn đợc xếp mép lại

và lật vào bên trong giữ cho chặt eo hông, vì phụ nữ Chăm mặc chăn không códây thắt lng nh đàn ông và chăn thờng chùng xuống gót chân

áo phụ nữ chăng là loại dài không xẻ vạt, mặc chui đầu vào và gọi là “aoloak”, không có nút áo áo phụ nữ Chăm có đủ màu nh: chàm, xanh, trắng,hồng, tím, Lúc sinh hoạt hàng ngày phụ nữ chăm thờng mặc áo “ao koh”, áomặc trong ngày lễ hội hay cúng tế gọi là “ao săn” còn áo dành riêng cho bàbóng khi hành lễ là áo chăn Phần thân áo hơi rộng, ống tay áo bó hơi sát vàocánh tay

Cấu tạo áo phụ nữ Chăm gồm bốn mảnh vải ghép dọc theo chiều đứng củathân ngời, hai phía sau và hai phía trớc Ngoài ra ở hai bên sờn áo có hai mảnh

Trang 37

nhỏ ghép lại Cổ áo của phụ nữ Chăm có nhiều hình nh: hình tròn, lá trầu, quảtim, Ngày nay, giới trẻ Chăm mặc áo có cổ đợc khoét rộng hơn để có thểthấy đợc đồ trang sức Phụ nữ Chăm thờng phải mặc áo lót bên trong có dâyvải buộc qua vai và vòng qua phía sau lng.

Có thể nói, trang phục của ngời Chăm ở Vĩnh Lộc Thanh Hoá ngoài nhữnggiá trị văn hoá vật thể, chúng còn đợc sử dụng nh những tín hiệu để xác địnhnghề nghiệp hoặc địa vị của từng ngời trong xã hội Trang phục đi hỏi kháctrang phục thờng ngày, trang phục quý tộc khác trang phục bình dân, trangphục của các chức sắc tôn giáo khác với trang phục dân thờng, Với tập quánsinh hoạt văn hoá xung quanh trang phục nó có giá trị nh các chuẩn mực để

đánh giá các cá nhân trong xã hội và những bộ trang phục này còn bảo lunhiều giá trị về mặt lịch sử, văn hoá tộc ngời, đồng thời thể hiện những triết lýsâu sắc về vũ trụ và nhân sinh Ngày nay, trang phục Chăm cổ truyền chỉ cònthấy ở những phụ nữ cao tuổi Hầu hết đàn ông Chăm và lớp trẻ đều ăn mặctheo lối ngời Kinh, những bộ trang phục truyền thống chỉ xuất hiện trong cácdịp tang ma, tế lễ và hội hè

đóng vai trò cân bằng cho những từ thức duy lý của con ngời

Có thể nói, tín ngỡng của ngời Chăm ở Vĩnh Lộc Thanh Hoá rất phongphú và đa dạng Là bộ phận cấu thành nền văn hoá Chăm, tín ngỡng ngờiChăm chi phối sâu sắc trong đời sống cộng đồng và tồn tại dới nhiều hình thức

Trang 38

khác nhau nh: tín ngỡng sơ khai, thờ cúng tổ tiên, thờ mẫu, tín ngỡng phồnthực, ; các nghi lễ liên quan đến chu kỳ vòng đời ngời nh: lễ cũng đứa trẻmới sinh, đám cới, đám tang, lễ nhập kút; các nghi lễ liên quan đến nôngnghiệp nh: lễ cúng thần lúa, lễ xuống cày, lễ đắp đập khai mơng, cầu ma; cácnghi lễ liên quan đến cộng đồng nh: lễ hội Rija Harei, Tất cả các lễ nghi đó

đều thể hiện quan niệm vạn vật hữu linh, tín ngỡng đa thần trong thế giới quan

và nhân sinh quan của ngời Chăm

* Tín ngỡng sơ khai

Đời sống tín ngỡng là một yếu tố rất quan trọng trong đời sống văn hoátinh thần của ngời Chăm ở Vĩnh Lộc Thanh Hoá Tín ngỡng sơ khai Chăm nóichung là biểu hiện của nhận thức, lý trí và tình cảm về các hiện tợng xã hội, tựnhiên xung quanh mình Đó là những quan niệm và cách giải thích về vũ trụ,thế giới, linh hồn,

Ngời Chăm cũng nh các dân tộc khác, trong thế giới tâm linh của mìnhbao giờ cũng hớng niềm tin vào một thế giới huyền bí, linh thiêng Theo họvạn vật đều có linh hồn và hữu linh Thế giới của sự sống gồm sự tồn tại củamuôn vật và con ngời mà chúng ta có thể nhận thức bằng trực giác Thế giới

h vô tồn tại trong ý niệm của con ngời, đó là thế giới con ngời gửi gắm niềmtin của mình vào những thế lực siêu nhiên vô hình nh: tục thờ các loại cây, thờdòng núi, dòng biển của các dòng họ Chăm; tôn thờ các vị thần núi, thần sông,thần sấm sét, thần mặt trời, thần sóng biển,

Với niềm tin có một thế giới của các linh hồn tồn tại song song và cónhững mối liên hệ qua lại với thế giới thực tại của con ngời, nó gồm tất cảnhững thần, thánh, những mãnh lực tự nhiên hay các cây cỏ, đất đá, sôngnúi, đến muôn loài đều có hồn, do đó ngời Chăm đã tổ chức nhiều loại lễnghi, lễ hội để cầu xin, để tạ ơn

Có thể nói, tín ngỡng sơ khai của ngời Chăm ở Vĩnh Lộc Thanh Hoá làmột vấn đề vô cùng phức tạp, phong phú và đa dạng Chính tín ngỡng này đã

in dấu sâu đậm và có một sự ảnh hởng, chi phối nhất định đến đời sống tinhthần nói chung, lễ hội nói riêng của ngời Chăm Lịch sử cho thấy rằng, conngời hàng ngày phải va chạm với những điều mình không nhận thức nổi, tiếpxúc với những đối tợng không hiểu nổi, đối diện với những nỗi đau và nghịch

lý của cuộc đời, Con ngời dờng nh đã hoàn toàn bất lực, tuyệt vọng và rồi họbắt đầu tìm kiếm, bắt đầu hớng niền tin vào một thế giới huyền bí, thiêngliêng, vào một thế giới h vô tồn tại trong ý niệm của con ngời để cầu mong đ-

Trang 39

ợc cứu vớt, giải thoát Nói cho cùng, tín ngỡng sơ khai của ngời Chăm ở VĩnhLộc Thanh Hoá là lòng tin vô điều kiện, thể hiện sự trông đợi hay thậm chí sự

ký sinh tinh thần của con ngời vào ngời khác, vào những lực lợng siêu nhiên,vô hình

Tuy nhiên, chúng ta cần lu ý rằng không phải con ngời nào tìm đến tín ỡng cũng đều để nghỉ ngơi Có những ngời, vì lý do này hay lý do khác, mất

ng-đi trạng thái chủ động về t duy Có những ngời và thậm chí có những cộng

đồng ngời ẩn mình hoàn toàn trong đời sống tín ngỡng và tôn giáo Đấy làbiểu hiện sự phát triển không đồng đều của xã hội loài ngời và cũng là quyluật tự nhiên

Qua đây cho chúng ta thấy một triết lý hết sức sâu sắc của ngời Chăm, đó

là càng lên cao thế giới dờng nh có sức mạnh hơn gấp bội và có những tác

động, ảnh hởng rất lớn đối với đời sống tâm linh của con ngời Xét cho cùngthì trung tâm của vũ trụ vẫn là thế giới của con ngời Và từ thế giới này, conngời đã sáng tạo ra biết bao tín ngỡng, thực hành nghi lễ liên quan đến đờisống tâm linh của mình

* Tín ngỡng thờ cúng tổ tiên

Tín ngỡng thờ cúng tổ tiên của mỗi dân tộc đợc coi nh những viên ngọc đã

đợc sàng lọc, chau chuốt lâu đời qua thời gian, trong không gian và mang đậmtính bản sắc Đối với dân tộc Chăm cũng vậy, tín ngỡng thờ cúng tổ tiên Chămgiữ một vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của cộng đồng ngờiChăm Từ bao đời xa xa cho đến nay, nét đẹp văn hoá thiêng liêng, cao cả ấyvẫn còn mãi giữ nguyên giá trị, toả sáng và mang nhiều ý nghĩa sâu sắc

Trong tâm thức của ngời Chăm thì một con ngời chết đi là bắt đầu tiếp tụccuộc sống ở bên kia thế giới, họ có niềm tin về sự tồn tại của linh hồn sau khichết Theo họ ngời chết linh hồn vẫn tiếp tục sống ở nơi chín suối, ở thế giớibên kia, linh hồn ngời chết vẫn có nhu cầu sinh hoạt nh ngời sống Bởi vậy họ

đã chuẩn bị chu đáo mọi thứ cần thiết để ngời quá cố tiếp tục về sống với tổtiên Họ đã tổ chức tang ma rất linh đình với nhiều nghi thức nhằm mục đíchbáo hiếu với ngời đã khuất, thể hiện tình sâu nghĩa nặng của con cháu đối vớingời đã khuất trớc sự chứng kiến của bà con chòm xóm Về sau họ đốt vàngmã cho ngời chết mỗi khi cúng lễ cầu khấn ngời chết

Từ ý niệm trên đây, mối liên hệ giữa ngời sống và ngời chết đợc tiếp tụcduy trì, nhất là đối với ông bà, cha mẹ qua đời thì việc thờ cúng dần trở thànhmột tín ngỡng - tín ngỡng thờ cúng tổ tiên Đặc biệt trong quan niệm của ngời

Trang 40

Chăm, đạo thờ cúng tổ tiên còn là biểu hiện của việc đề cao chữ hiếu nghĩa.Bởi vậy “cha mẹ sống lấy lễ mà thờ, cha mẹ chết lấy lễ mà táng”, đối với cha

mẹ “tôn khi sống, thờ khi chết” Và cứ nh thế đời này qua đời khác, cha mẹ

đối với ông bà, con đối với cha mẹ, tiếp tục kế nhau thành tín ngỡng thờ cúngcha mẹ, ông bà tổ tiên Dần về sau, đạo thờ cúng tổ tiên của ngời Chăm ởVĩnh Lộc Thanh Hoá đợc quy định nh một luật tục khá chi tiết đầy đủ, khôngmột gia đình, gia tộc ngời Chăm nào không có bàn thờ tổ tiên, đợc thiết kếquy mô, đặt ở nơi trang trọng nhất trong nhà hoặc riêng ở nhà Từ đờng thờ họ

Có thể nói, tín ngỡng thờ cũng tổ tiên của ngời Chăm ở Vĩnh Lộc ThanhHoá là một trong những nét đẹp văn hoá đã in dấu sâu đậm và có một sự ảnhhởng, chi phối nhất định đến đời sống tâm linh của ngời Chăm Đạo thờ cúng

tổ tiên không chỉ đơn giản là lòng thành kính và biết ơn của con ngời đối vớingời đã khuất, là cầu mong tổ tiên ban tốt lành mà trong đó còn bao hàm mộtkhía cạnh bản chất văn hoá thiêng liêng là nhớ về cội nguồn

Trong tín ngỡng thờ cúng tổ tiên của ngời Chăm, bên cạnh việc thờ nhữngngời có công sinh dỡng đã khuất (ngời cùng huyết thống) thì ngời Chăm cònthờ những ngời có công với cộng đồng làng xã, đó là những ngời đầu tiên cócông “khai sơn phá thạch”, mở đất lập làng Theo họ đấy là những vị thần bảo

hộ phúc hậu, luôn quan tâm chăm sóc và bảo vệ cho cuộc sống của con ngời

Do đó họ làm lễ tạ ơn và cầu xin sự phù trợ, giúp đỡ để có cuộc sống an lành,thịnh vợng

Tóm lại, tín ngỡng thờ cúng tổ tiên là một bộ phận quan trọng trong đờisống văn hoá tinh thần của dân tộc Chăm ở Vĩnh Lộc Thanh Hoá Mặc dù trảiqua bao thăng trầm của lịch sử với nhiều đổi mới, cách tân thế những truyềnthống và những nét đặc trng trong đạo thờ cúng tổ tiên Chăm cổ vẫn nh nhữngviên ngọc quý âm thầm tồn tại và sáng mãi với thời gian

* Tín ngỡng phồn thực

Tín ngỡng phồn thực là một trong những tín ngỡng truyền thống điển hìnhcủa ngời Chăm ở Vĩnh Lộc Thanh Hoá Nói đến tín ngỡng phồn thực của ngờiChăm không thể không nhắc tới tục thờ Linga và Yoni Lin ga (dơng vật) biểuhiện đặc tính dơng, Yoni (âm vật) biểu hiện đặc tính âm Trong vạn vật âm vàdơng luôn là hai mặt trái ngợc nhau, đối lập nhau, nhng khi hai thuộc tính nàytơng giao với nhau sẽ tạo thành vạn vật, vạn vật sẽ sinh sôi, nảy nở

Linga và Yoni có thể đợc coi là một trong những biểu tợng văn hoá tín ỡng độc đáo, phong phú và đa dạng nhất của ngời Chăm ở Vĩnh Lộc Thanh

Ngày đăng: 19/12/2013, 15:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
17. Ngô Văn Doanh (1994), Văn hoá Chămpa, NXB Văn hoá - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá Chămpa
Tác giả: Ngô Văn Doanh
Nhà XB: NXB Văn hoá - Thông tin
Năm: 1994
28. Lu Công Đạo (1816), Thanh Hoá Vĩnh Lộc huyện chí, lu tại Viện nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh Hoá Vĩnh Lộc huyện chí
29. Đạo sắc tại Đền thờ Trần Khát Chân ban ngày 01/7 niên hiệu Đồng Khánh thứ 2(1887), lu tại Phòng văn hoá huyện Vĩnh Lộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo sắc tại Đền thờ Trần Khát Chân ban ngày 01/7 niên hiệu Đồng Khánh thứ 2
30. Đạo sắc tại Đền thờ Trần Khát Chân ban ngày 20/2 niên hiệu Đồng Khánh thứ 2(1892), lu tại Phòng văn hoá huyện Vĩnh Lộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo sắc tại Đền thờ Trần Khát Chân ban ngày 20/2 niên hiệu Đồng Khánh thứ 2
31. Gia phả họ Lê (Vĩnh Lộc, Thanh Hoá), lu tại Phòng văn hoá huyện Vĩnh Lộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia phả họ Lê
32. Gia phả họ Vũ (Vĩnh Lộc, Thanh Hoá), lu tại Phòng văn hoá huyện Vĩnh Lộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia phả họ Vũ
45. Ngô Sĩ Liên (1971), Đại Việt sử ký toàn th, tập 1, NXB KHXH, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toàn th
Tác giả: Ngô Sĩ Liên
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1971
46. Ngô Sĩ Liên (1985), Đại Việt sử ký toàn th, tập 2, NXB KHXH, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toàn th
Tác giả: Ngô Sĩ Liên
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1985
49. Lý lịch di tích Đền thờ Trần Khát Chân ở thôn Trung, xã Vĩnh Thịnh , huyện Vĩnh Lộc, tài liệu địa chí huyện Vĩnh Lộc, lu tại Phòng văn hoá huyện Vĩnh Lộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý lịch di tích Đền thờ Trần Khát Chân ở thôn Trung, xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Lộc
50. Lý lịch di tích chùa Hoa Long thôn Trung, xã Vĩnh Thịnh, tài liệu địa chí huyện Vĩnh Lộc, lu tại Phòng văn hoá huyện Vĩnh Lộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý lịch di tích chùa Hoa Long thôn Trung, xã Vĩnh Thịnh, tài liệu địa chí huyện Vĩnh Lộc
51. Hoàng Mậu - Lê Bá Đằng, Thanh Hoá tỉnh chí, lu tại Viện nghiên cứu Hán Nôm, trờng đại học (sử dụng bản dịch của Vũ Ngọc Định - Giáo viên Hán Nôm trờng Đại học Hồng Đức) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh Hoá tỉnh chí
59. Hoàng Anh Nhân - Lê Huy Trâm (2001), Lễ tục, lễ hội truyền thống xứ Thanh, NXB Dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ tục, lễ hội truyền thống xứ Thanh
Tác giả: Hoàng Anh Nhân - Lê Huy Trâm
Nhà XB: NXB Dân tộc
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w