Để góp phần đánh giá đúng giá trị tài nguyên cây thuốc thì việcnghiên cứu đa dạng cây thuốc và các bài thuốc trong dân c thực sự có ý nghĩacho việc sử dụng hợp lí và bảo tồn nguồn nguyên
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trờng Đại học Vinh -*** -
nguyễn thị hồng
xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập
sáng tạo nhằm phát triển t duy cho học sinh
Trang 2Bộ giáo dục và đào tạo Trờng Đại học Vinh -*** -
Trang 3Mở đầu
Thực vật nói chung và thực vật làm thuốc nói riêng đã gắn bó với đời sốngcủa con ngời từ xa xa Theo ông Old Foeld- tổng th kí hiệp hội các vờn bách thảoquốc tế nhận xét:” Phần lớn dân số thế giới trong đó có 80 % ngời dân Châu phihoàn toàn phụ thuộc vào các nguồn cây dợc liệu” Trên thế giới có khoảng 500
000 loài thực vật đợc sử dụng làm thuốc nhng có đến 150 000 loài có nguy cơtuyệt chủng Vì vậy việc nghiên cứu và bảo tồn các cây thuốc là một vấn đề cấpthiết
Theo kết quả nghiên cứu điều tra của Viện Dợc liệu ( Bộ y tế), nớc ta cókhoảng 3920 loài cây và nấm lớn, thuộc 1572 chi, 307 họ làm thuốc Phần lớnchúng mọc tự nhiên rải rác khắp nơi trên cả nớc, trong các loài đợc sử dụng làmthuốc có loài đợc sử dụng làm cảnh, lơng thực, thực phẩm, tinh dầu nhiều loài
có giá trị kinh tế cao góp phần xoá đói giảm nghèo nâng cao đời sống cho nhândân
Mặc dù những năm gần đây một số dự án bảo tồn cây thuốc quý đã và
đang tiến hành tại Việt Nam Với 5000 ngời hành nghề y học cổ truyền, 400 cơ
sở chẩn trị đông y, 700 loài cây thuốc đợc nhắc đến trong các sách đông y với
39381 bài thuốc Nhiều ông lang bà mế đã băng rừng vợt núi để tìm và gìn giữcác cây thuốc quý Vậy mà vẫn có khoảng 600 loài cây dợc liệu đang có nguy cơ
bị tuyệt chủng Để góp phần đánh giá đúng giá trị tài nguyên cây thuốc thì việcnghiên cứu đa dạng cây thuốc và các bài thuốc trong dân c thực sự có ý nghĩacho việc sử dụng hợp lí và bảo tồn nguồn nguyên liệu này
Hải Phòng là một trong những thành phố có sự phát triển mạnh, các nhàmáy mọc lên ngày càng nhiều, tài nguyên ngày càng bị thu hẹp trong đó có tàinguyên cây thuốc Bên cạnh đó việc sử dụng cây thuốc để chữa trị các bệnhthông thờng hàng ngày ít dần, ô nhiễm môi trờng ngày càng làm xuất hiện nhiềubênh mới Năm 2003 Sở y tế Hải Phòng đã phát động phong trào trồng và sửdụng cây thuốc nam tại 37 xã thuộc huyện thuỷ nguyên trong đó có 29 xã có vờnthuốc nam với trên 30 loài cây đợc chú ý phát triển, góp phần thay đổi dần thóiquen của dân c các xã, tăng cờng sức khoẻ cho nhân dân.Trong tự nhiên cácnguồn cây thuốc còn rất đa dạng và phong phú cần phải su tầm và bảo vệ Vì
những lí do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài” Điều tra đa dạng cây
thuốc và bài thuốc đợc sử dụng tại một số xã thuộc huyện Thuỷ thành phố Hải phòng”
Trang 4Nguyên-Chơng I: Tổng quan tài liệu
1.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở một số nớc trên thế giới.
Nghiên cứu thực vật nói chung và nghiên cứu về cây thuốc nói riêng ở cácquốc gia trên thế giới từ lâu đã đợc con ngời rất quan tâm.Từ khi con ngời xuấthiện để tồn tại và phát triển, họ đã biết sử dụng các cây cỏ phục vụ cho cuộcsống của mình nh làm thức ăn, làm nhà ở, làm thuốc chữa bệnh Từ đó nhữngkinh nghiệm dần dần đợc tích luỹ đợc xem là tài sản quý giá của nhân loại.Với
sự phát triển của loài xã hội loài ngời, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia đều có nền yhọc cổ truyền riêng Vốn hiểu biết về cây thuốc, cây làm lơng thực, thực phẩm,
đặc biệt là về kinh nghiệm dân gian trong sử dụng cây cỏ đợc nghiên cứu ở cácmức độ khác nhau tuỳ thuộc vào sự phát triển của quốc gia đó
Khoảng năm 3216 hoặc 3080 trớc công nguyên Thần Nông – một nhàdợc học tài năng đã chú ý tìm hiểu tác động của cây cỏ đến sức khoẻ con ngời
Trang 5Ông đã dùng các loài cây thuốc để thử nghiệm trên bản thân mình, bằng cáchuống, nếm sau đó ghi lại những đặc điểm và hiểu biết mà ông cảm nhận đợctrong cuốn sách “Thần nông bản thảo” gồm 365 vị thuốc rất có giá trị.
Vào đầu thập kỷ thứ II nhân dân Trung Quốc đã biết dùng các loài cây cỏ
để chữa bệnh nh: Nớc chè đặc; rễ cây cốt khí củ (Polygonum cuspidatum); vỏ rễ
(Panax) để phục hồi ngũ quan, trấn tĩnh tinh thần, chế ngự cảm xúc, chặn đứng
kích động, giải trừ lo âu, sáng mắt, khai sáng trí tuệ, gia tăng sự thông thái đợc
sử dụng phổ biến từ lâu ở Trung Quốc [23]
Trơng Trọng Cảnh là một vị thánh trong Đông y vào thời Đông Hán cách
đây 1700 năm, đã viết “Thơng hàn tập bệnh luận” chỉ các bệnh dịch và các bệnh
về thời tiết nói chung và đề ra những cách chữa trị bằng thảo dợc
Cuốn “Cây thuốc Trung Quốc” (1985) đã liệt kê một danh lục các cây cỏ
chữa bệnh nh rễ cây Gấc (Momordica cochimchinensis) chữa nhọt độc, viêm
tuyến hạch, hạt trị sng tấy đau khớp, sốt rét, vết thơng tụ máu; Cải Xoang
(Rorippa aquaticum (L.)) giải nhiệt, chữa lỡ mồm, chảy máu chân răng, chữa
mỏi, kháng lị trực khuẩn; Cây lẩu (Psychotria rubra) toàn thân giả nhỏ làm
thuốc chữa gãy xơng, tiêu sng, rửa mụn nhọt độc [34] Mới đây trong luận ántiến sỹ của Teddy Yang Tatchi (Hồng Kông) kết luận rằng Catechin trong chèxanh cha lên men có hoạt chất làm giảm lipit trong máu và làm giảm bệnh timmạch do cholesterol gây ra [28]
Với sự phát triển của khoa học kỷ thuật, việc nghiên cứu các bài thuốc dângian tìm ra các hoạt chất để làm thuốc chữa bệnh ở đời Hán (năm 186 trớc côngnguyên) trong cuốn sách “Thủ hậu bị cấp phơng” đã kê 52 đơn thuốc chữa bệnh
từ các loài cây cỏ Vào giữu thế kỷ XVI Lý Thời Trân đã thống kê đợc 12000 vịthuốc trong tập “Bản thảo cơng mục” xuất bản năm 1595[21], đã giúp cho việcchữa bệnh bằng cây cỏ còn lu truyền tới ngày nay
ở Châu Âu, theo y học dân gian của Liên Xô con ngời đã sử dụng nớc sắc
vỏ quả cây Bạch dơng (Bentula alba), vỏ cây Sồi (Quecus robus) – Các nớc Nga, Đức, đã dùng cây Mã đề (plantago major) sắc nớc hoặc giả lá tơi đắp chữa
trị vết thơng, viêm tiết niệu, sỏi thận Y học dân tộc Bungari đã coi Hoa Hồng
(Rosa Sinensis) là một vị thuốc chữa trị đợc nhiều bệnh, ngời ta dùng hoa, lá, rể
để làm tan huyết và chữa phù thũng Ngày nay khoa học đã chứng minh đợctrong cánh hoa hồng có chứa một lợng tanin, glucosit, tinh dầu đáng kể [32]
Theo các nhà khoa học ở Viện hàn Lâm Hoàng Gia Anh thì chè xanh ( Thea
Sinensit L.) ngăn chặn sự phát triển các loại tế bào ung th ở gan, dạ dày nhờ hợp
chất của phenol có tên là Gallat épigallocatechol (GEGC) [28]
Trang 6Echinacea angustifolia chữa bệnh nhiểm khuẩn và thuốc chế từ củ cây này chữa
trị vết thơng mng mủ và vết rắn cắn Sau này (1950) Stoll và cộng sự đã tách đợcmột glucosit gọi là Echinacoit, kiềm chế đợc tụ cầu gây bệnh [30]
Cách đây khoảng 3000-5000 năm ấn Độ đã dùng phổ biến cây cỏ làm
thuốc, dùng lá cây Ba chẽn (Desmodium triangulare) sao vàng sắc đặc để chữa
kiết lỵ và tiêu chảy rất hiệu nghiệm[36] Từ lâu ngời Peru đã dùng hạt cây Sen
cạn (Tropaeolum majus) để trị bệnh về phổi và đờng tiết niệu [32]
Từ năm 400 trớc công nguyên, ngời Hy Lạp và La Mã cổ đại đã biết đến
Gừng (Zingiber Officinale) Dùng gừng để chữa bệnh cúm, cảm lạnh, kém ăn,
viêm khớp Thời cổ xa, các chiến binh Hy Lạp và La Mã đã biết dùng dịch cây
Lô hội (Aloe vera) để làm thuốc tẩy xổ[33] Cũng từ rất lâu ngời Haiti Trung Mỹ) dùng cây Cỏ lào (Eupatorium odoratum) làm thuốc đắp vào chữa
(Dominíc-các vết thơng bị nhiễm khuẩn dùng để cầm máu, chữa đau nhức răng, làm lành
Ngời cổ Hy lạp dùng rau Mùi tây (Coriandrum Officinale) để đắp vết
ơng mau lành Dùng vỏ quả óc chó (Juglans regia L.) để chữa vết loét, vết
th-ơng[41] Gelien một thầy thuốc thời cổ đại Ai Cập đã dùng Tỏi (Allium Sqtìvum
L.) làm thuốc chữa bệnh, có tác dụng lợi tiểu, trị giun, giải độc, chữa hen suyển
và đau răng
ở vùng Đông Nam Châu á, ngời Malaixia dùng lá cây Húng chanh
(Coleus amboinicus) sắc cho phụ nữ sau khi đẻ uống lấy lá giả nhỏ vắt nớc cho
tài nguyên thiên nhiên ở khu vực Đông Nam á, Perry đã nghiên cứu và ghi nhậnnhiều cây thuốc của y học cổ truyền và đã kiểm chứng tổng hợp thành cuốn sách
“Medicinal plants of East and Sontheast Asia” 1985 giới thiệu cây thuốc vùng
Đông Nam á[ Các nhà khoa học trên thế giới đi sâu nghiên cứu cơ chế và cáchợp chất hoá học trong cây cỏ Tokin, Klain, Penneys công nhận rằng hầu hếtcây cỏ đều có tính kháng sinh, đây là một trong các yếu tố miễn dịch tự nhiên,
do các hợp chất hay gặp nh: Phenolic, antoxyan, các dẫn xuất quinin, alkaloids,heterozit, saponin Theo Anon (1982) trong vòng gần 200 năm trở lại đây ít nhất
đã có 121 hợp chất hoá học tự nhiên con ngời đã nắm đợc cấu trúc đợc chiết từcây cỏ và từ đó tổ hợp nên các loại thuốc chữa trị có hiệu quả Ví dụ nh từ cây
Lô hội (Aloe vera) theo Gotthall (1950) đã phân lập đợc chất glucosit barbaloin
có tác dụng diệt vi khuẩn lao ở ngời Lucas và Lewis (1944) đã chiết đợc từ Kim
ngân (Lonicera tataria) một hoạt chất tiêu diệt đợc các loài vi khuẩn gây bệnh tả
lị Các nhà khoa học cũng đã chiết đợc chất Becberin từ cây Hoàng liên(Coptis
teeta) chữa bệnh đờng ruột Lebedev nhận xét rằng Beccberin có tác dụng đối
Trang 7với tụ cầu, liên cầu, và trực khuẩn ho gà, trực khuẩn lị, thơng hàn và trực khuẩnlao [35] Năm 1948 Shen-chi-Shen phân lập đợc một hoạt chất Odorin từ cây hẹ
ít độc với động vật cao cấp nhng lại có tính kháng khuẩn mạnh Trong hạt cây hẹ
nhiều loài Ba gạc (Rauvolfia spp.) chiết đợc chất Resecpin, Serpentin làm thuốc
hạ huyết áp
Vinblastin, vincristin, đợc chiết từ cây Dừa cạn (Catharanthus roseus) vừa
có tác dụng hạ huyết áp vừa chống ung th Digitalin strophantin đợc chiết từ các
loài Sừng dê (Steophanthus spp.) dùng làm thuốc trợ tim từ nhiều thập kỷ nay.
Vài chục năm gần đây, ứng dụng các thành tựu nghiên cứu cấu trúc, hoạt tínhcủa các hợp chất hoá học tự nhiên, bằng con đờng tổng hợp hoặc bán tổng hợp,
và một số loại thuốc chữa bệnh có hiệu quả cao lần lợt ra đời
ở quốc đảo CuBa ngời ta đã dùng bột papain lấy từ mủ cây Đu đủ (Carica
papaya) để làm rụng hoại tử, kích thích tổ chức hạt ở vết thơng phát triển [25].
ở Campuchia, Malaixi dùng cây hơng nhu tía (Ocinum sanctum) trị đaubụng, sốt rét; lá tơi ép lấy nớc trị long đờm, giả nát đắp trị bệnh đau khớp [19]
Tại vùng á Đông, cách đây hơn 6000 năm dùng Củ nghệ (Curcuma longa) vừa
làm chất màu làm gia vị, bảo quản thức ăn tốt[23] Phụ nữ Philíppin dùng củNghệ chữa kinh nguyệt không đều; lá cùng với hoa chữa ho, giun, giúp tiêu hoá
tốt Cây Ngãi cứu (Artemisia vuilgris) dùng trị thổ huyết, chữa trực tràng, tử
cung xuất huyết, còn chữa đau bụng, bế kinh, phụ nữ bị động thai[23] Những
cây mọc hoang phổ biến nh cây Bồ cu vẽ (Breynia fruticosa) sắc vỏ cây làm
thuốc cầm máu hoặc tán bột rắc chữa mụn nhọt, vết lỡ loét chóng khỏi [31]
Nhân dân Campuchia dùng củ khoai sáp (Alocasi macrrhiza) chữa ghẻ, ngứa Ngời dân Lào ngâm vỏ cây Đại (Plumeria rubra) với rợu để chữa ghẻ lở Dân
Thái Lan dùng nhựa mủ cây đại trộn với dầu dừa bôi ngoài da trị viêm khớp [31]
Gần đây theo thống kê của tổ chức y tế thế giới (WHO) thì đến năm 1985
đã có gần 20000 loài thực vật (trong tổng số 250000 loài đã biết) đợc sử dụnglàm thuốc hoặc cung cấp các hoạt chất để chế biến thuốc Trong đó ở ấn Độ cókhoảng 6000 loài, Trung Quốc 5000 loài, Vùng nhiệt đới Châu Mỹ hơn 1900loài thực vật có hoa Theo số liệu của WHO yêu cầu sử dụng cây thuốc ngàycàng cao ở Trung Quốc tiêu thụ hàng năm 700000 tấn dợc liệu, sản phẩm thuốc
y học dân tộc đạt giá trị hơn 1,7 tỉ USD vào năm 1986 Tổng giá trị về thuốc cónguồn gốc thực vật trên thị trờng Âu – Mỹ và Nhật bản vào năm 1985 là hơn 43
tỉ USD Tại các nớc có nền công nghiệp phát triển tăng từ 335 triệu USD (1976)lên 551 triệu USD (1980) Còn ở Nhật bản nhập khẩu dợc liệu tăng 21000tấn(1979) lên 22640 tấn dợc liệu (1980) tơng đơng 50 triệu USD ở Mỹ 4,5 %
Trang 8phục vụ cho nên y học cổ truyền [39].
Trên thế giới có rất nhiều loài cây thuốc quý hiếm nhng do con ngời khaithác không hợp lí, cây thuốc càng trở nên khan hiếm, nguy cơ chúng bị tuyệtchủng hoặc sẽ tuyệt chủng Ước tính từ năm 1990 đến 2020 có khoảng 5-10% sốloài cây thuốc trên thế giới sẽ biến mất và số loài bị diệt chủng sẽ tăng lên 25%vào khoảng năm 2050
Vì vậy song song với việc nghiên cứu sử dụng cây thuốc, vấn đề cấp bách
là bảo tồn các loài cây thuốc cần đặt ra cho tất cả các nớc Tại hội nghị Quốc tế
về bảo tồn quỹ gen cây thuốc họp từ ngày 21 đến 27 tháng 3 năm 1983 tạiChieng Mai (Thái Lan), hàng loạt các công trình nghiên cứu về tính đa dạng và
sự sụt giảm nguồn gen cây thuốc trên toàn thế giới đợc đặt ra khẩn thiết
Thế kỷ XXI, để bảo vệ và nâng cao sức khoẻ cho con ngời, sự phát triểnkhông ngừng của xã hội, để chống lại các bệnh tật trong đó có bệnh nan y, cầnnhiều cây thuốc và cách sử dụng chúng phải kết hợp Đông và Tây y, giữa y họchiện đại với king nghiệm cổ truyền của các dân tộc Cho nên việc khai thác, kếthợp với bảo tồn các loài cây thuốc là điều hết sức quan trọng
I.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở Việt Nam
Nền y dợc học cổ truyền Việt Nam có truyền thống rất lâu đời, có vai trò
và tiềm năng lớn trong việc chăm sóc sức khoẻ nhân dân ta.Trên 4000 năm dựngnớc và giữ nớc Nền y học cổ truyền nớc nhà đã phát triển không ngừng ngàycàng phong phú, đa dạng, góp phần chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ nhân dân NớcViệt Nam nằm trong khu vực Đông Nam á, thuộc miền nhiệt đới gió mùa, có khíhậu nóng ẩm và nhiều thiên tai Đó là những điều kiện cho nhiều chứng bệnh pháttriển làm ảnh hởng đến sức khoẻ, đời sống cũng nh công cuộc xây dựng đất nớc củanhân dân ta Bên cạnh đó Việt Nam là một quốc gia có nhiều dân tộc ( Kinh, Thái,Tày, Nùng, Hmông, Cống, Giao vv ) nhân dân các dân tộc có truyền thống rất lâu
đời về sử dụng cây thuốc xây dựng nền y học cổ truyền độc đáo của mình theo thờitiết, địa lí, con ngời và phong tục tập quán của Việt Nam
Ngay từ thời vua Hùng (2879- 257 trớc công nguyên) qua các văn tự HánNôm còn sót lại (“Đại việt sử ký ngoại ký”, Lĩnh nam chính quái liệt truyện”, tổtiên ta đã biết sử dụng cây cỏ chữa bệnh nh: cây búng báng, quả tro, quả móc[22] Trớc năm 11 trớc công nguyên đã có tục ăn trầu, nhuộm cho chắc răng.Thế kỷ thứ III trớc công nguyên đã phát hiện một số cây cỏ làm thuốc nh: Sắndây, cam, Nhãn, Vải, Rau muống, Khoai Lang Theo Long Uý chép lại, vào đầuthế kỷ II trớc công nguyên có hàng trăm vị thuốc từ đất giao chỉ nh: ý dĩ, Hoắc
Trang 9dụng cây thuốc của nhân dân phát triển, gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp củacác danh y nổi tiếng đơng thời.
Vào đời nhà Lý (1010-1224) nhà s Nguyễn Minh Khổng (tức Nguyễn ChíThành) đã dùng cây cỏ chữa bệnh cho nhân dân và cho nhà vua, nên đợc tấnphong “Quốc sử” – Triều Lý
Vào đời nhà Trần (1225-1339), Phạm Ngủ Lão thừa lệnh Hng Đạo Trần Quốc Tuấn xây dựng một vờn thuốc lớn gọi là “Sơn Dợc” để chữa bệnh choquân sĩ, nay còn di tích tại một quả đồi thuộc xã Hng Đạo (Chí Linh – Hải H-ng) Chu Tiên lần đầu tiên biên soạn cuốn “Bản thảo cơng mục toàn yếu” đây làcuốn sách thuốc đầu tiên, của nớc ta đợc xuất bản năm 1429
Vơng-Hai danh y nổi tiếng cùng thời là Phạm Công Bân, Tuệ Tĩnh thế kỷ 13 đãtừng nêu quan điểm “Nam dợc trị nam nhân” dùng thuốc nam chữa bệnh cho ng-
ời Việt Nam Tuệ Tĩnh biên soạn bộ “Nam dợc thần hiệu” gồm 11 quyển với 496
vị thuốc nam trong đó có 241 vị thuốc có nguồn gốc thực vật và 3932 phơngthuốc để trị 184 chứng bệnh của 10 khoa lâm sàng Ông còn viết cuốn “Hồngnghĩa Giác t y th” tóm tắt công dụng của 130 loài cây thuốc cùng 13 phơng giagiảm và cách trị cho các chứng bệnh Trong “Nam dợc thần hiệu” có mô tả và
ghi tác dụng chữa bệnh của nhiều cây thuốc nh: Tô mộc (Caesalpinia Sappan)
(Quisqualis) sát khuẩn, chữa Tả lị, Sầu đâu (Brucea javanica) sát trùng, trị đau
(Mentha arvensis) chữa sốt nhức đầu
Tuệ Tĩnh đợc coi là một bậc danh y kỳ tài trong lịch sử y học nớc ta, là “vịthánh thuốc nam”.Ông chủ trơng lấy “ Nam dợc trị nam nhân ” Bộ sách quý của
ông về sau bị Quân Minh thu gần hết nay chỉ còn lại [22]: “ Nam dựơc thần hiệu
”, “ Tụê Tĩnh y th”, “ Thập tam phơng gia giảm”, “ Thơng hàn tam thập thấttrùng pháp ” Sau Tuệ Tĩnh đến thơi Lê Dụ Tông có Hải Thợng Lãn Ông – tênthật là Lê Hữu Trác (1721-1792) ở thế kỷ XVIII cũng là một danh y nổi tiếng
ông đã kế thừa, tổng kết và phát triển t tởng của Tuệ Tĩnh trong việc dùng thuốcnam chữa bệnh Ông là ngời am hiểu nhiều về y học, sinh lý học, đọc nhiều sáchthuốc Trong 10 năm khổ công tìm tòi nghiên cứu, ông viết bộ “Lãn ông tâmlĩnh” hay “Y tôn tâm lĩnh” gồm 66 quyển đề cập đến nhiều vấn đề về y d ợc Nh
“Y huấn cách ngân”, “Y lý thân nhân”, “Lý ngôn phụ chính”, “Y nghiệp thầnchơng” xuất bản năm1772 Trong bộ sách này ngoài sự kế thừa “Nam thần dợchiệu” ông còn bổ sung thêm 329 vị thuốc mới Trong quyển “Lĩnh nam bảnthảo” ông đã tổng hợp đợc 2854 bài thuốc chữa bệnh bằng kinh nghiệm dângian Mặt khác ông còn mở trờng đào tạo y sinh, truyền bá t tởng và hiểu biết
Trang 10Nam [22].
Vào thời kỳ Tây sơn và Nhà Nguyễn (1788-1883) có tập “Nam dợc”,
chép 500 vị thuốc nam trong dân gian dùng để chữa bệnh Tập “Nam dợc tậpnghiệm quốc âm” của Nguyễn Quang Lợng viết về các bài thuốc nam đơn giảnthờng dùng Nguyễn Đình Chiểu với Cuốn “Ng tiều vấn đáp y thuật” mô tảnhiều bài thuốc và thuật chữa bệnh của Nam bộ “Nam thiên đức bảo toàn th”của Lê Đức Huệ mô tả 511 vị thuốc nam và cách chữa bệnh Trần Nguyên Phơng(1858) mô tả công dụng của trên 100 bài thuốc trong cuốn “Nam bang thảomộc” [27] Thời kỳ 1884-1945, dới ách đô hộ của thực dân Pháp, việc nghiêncứu cây thuốc gặp nhiều khó khăn Duy chỉ có một số nhà thực vật học, dợc họcngời Pháp nghiên cứu nhng với mục đích chính là khai thác tài nguyên Điểnhình là các nhà dợc học nổi tiếng ngời Pháp nh: Erevost, Petelot, Perrol Hurrier
đã xuất bản bộ “Catalogue des produits de L’indochine” (1928-1935) trong đótập V (Produits medicanaux, 1928) đã mô tả 368 cây thuốc và vị thuốc Đến năm
1952 Petelot bổ sung và xây dựng thành bộ “Les plantes medicinales duCambodge, du laos et du Việt Nam” gồm 4 tập đã thống kê 1482 vị thuốc thảomộc có ở ba nớc Đông Dơng [27]
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, với phơng châm của Đảng ta
“Tự lực cánh sinh, tự cung tự cấp”, phong trào dùng thuốc nam đã đợc phát huy vaitrò to lớn của các bài thuốc dân gian đợc ngành y tế đã xây dựng nên các “Toa cănbản”, chữa bệnh bằng 10 vị thuốc thông thờng đợc phổ biến khắp nơi [27]
Sau khi nớc nhà dành độc lập Đảng và Bác Hồ rất quan tâm đến việc chữabệnh cho nhân dân bằng thuốc nam Bác Hồ đã phát động phong trào “Nhà nhàtrồng thuốc nam, ngời ngời dùng thuốc nam” Ngày 27/2/1955, trong th của chủtịch Hồ Chí Minh gửi hội nghị ngành y tế, ngời đã đề ra đờng lối xây dựng nền yhọc Việt Nam là khoa học, dân tộc, đại chúng, kết hợp giữa y học cổ truyền củadân tộc và y học hiện đại Đông y phát triển, việc nghiên cứu thuốc nam đợc xúctiến mạnh mẽ Mạng lới y học từ trung ơng đến địa phơng thành lập, Viện y họcdân tộc ra đời để đào tạo y, bác sỹ Đông y, thành lập các bệnh viện y học dântộc, hội Đông y, su tầm thuốc nam, tổ chức điều tra, phân loại, tìm hiểu dợc tính,thành phần hoá học, lập bản đồ dợc liệu trong cả nớc và sản xuất các loại thuốc
từ nguồn cây cỏ có trong tự nhiên[18]
Viện dợc liệu thuộc bộ Y tế cùng với hệ thống trạm nghiên cứu dợc liệu
đã điều tra ở 2795 xã phờng thuộc 351 huyện, thị xã của 47 tỉnh thành trong cảnớc đã có những đóng góp đáng kể trong công tác điều tra su tầm nguồn tàinguyên cây thuốc và king nghiệm sử dụng cây thuốc trong y học cổ truyền Kết
Trang 11quả nghiên cứu trên đợc đúc kết trong “Danh lục cây thuốc miền Bắc Việt Nam”,
“Danh lục cây thuốc Việt Nam”, tập “Atlas (bản đồ) cây thuốc” đã công bố danhsách về cây thuốc từ 1961-1972 ở Miền Bắc là 1114 loài, từ 1977-1985 ở miềnNam 1119 loài Tổng hợp trong cả nớc đến năm 1985 là 1863 loài và dới loài,phân bố trong 1033 chi, 136 họ, 101 bộ, 17 lớp, 11 ngành và mỗi loài giới thiệucông dụng, cách sử dụng
Đỗ Tất Lợi (1969) cho xuất bản bộ “Những cây thuốc và vị thuốc ViệtNam” giới thiệu trên 500 vị thuốc có nguồn gốc thực vật động vật và khoáng vật
Ông tiếp tục nghiên cứu, bổ sung về cây thuốc lần tái bản thứ 11 (2003) gồm
792 loài cây thuốc đợc mô tả hình thái, phân bố, thành phần hoá học và côngdụng chữa các nhóm bệnh khác nhau [35]
Võ Văn Chi (1976) trong luận văn TS của mình ông đã thống kê 1360 loàicây thuốc thuộc192 họ trong ngành hạt kín ở Miền Bắc Đến năm 1991, trongmột báo cáo tham gia hội thảo quốc gia về cây thuốc lần thứ 2 tổ hức ở thànhphố Hồ Chí Minh, tác giả đã giới thiệu một danh sách các loài cây thuốc ViệtNam với 2280 loài cây thuốc bậc cao có mạch, thuộc 254 họ trong 8 ngành Năm
2000 trong “Từ điển cây thuốc Việt Nam” ông đã giới thiệu 3200 loài cây thuốc,mô tả tỉ mỉ về hình thái, các bộ phận sử dụng, cách chế biến, các đơn thuốc đikèm tác giả còn nghiên cứu cây thuốc ở một số địa phơng nh “cây thuốc của tỉnhLâm Đồng” (1982), “Hệ cây thuốc Tây nguyên” (1985), “Cây thuốc Đồng Tháp
Đỗ Huy Bích, Bùi Xuân Chơng và cộng sự đã cho ra cuốn “Sổ tay câythuốc Việt Nam” (1980) [4] và “Tài nguyên cây thuốc Việt Nam” (1993) [3] đãthống kê hàng năm có khoảng 300 loài cây thuốc đợc khai thác và sử dụng ở cácmức độ khác nhau trong toàn quốc
Năm 1994, trong công trình nghiên cứu cây thuốc Lâm Sơn-Lơng Sơn HàSơn Bình, Nguyễn Nghĩa Thìn đã giới thiệu 112 loài thuộc 50 họ Năm 1990-
1995 trong hội thảo quốc tế lần thứ 2 về dân tộc sinh học tại Côn Ninh TrungQuốc tác giả cũng đã giới thiệu lịch sử nghiên cứu dân tộc dợc học và đã giớithiệu 2300 loài thuộc 1136 chi, 234 họ, thuộc 6 ngành thực vật có mạch bậc cao
ở Việt Nam đợc sử dụng làm thuốc và giơi thiệu hơn 1000 bài thuốc đợc thunhập ở Việt Nam [52] Phong trào dùng thuốc nam đã đợc Đảng, nhà nớc ngàycàng quan tâm chú trọng phát triển với nhiều dự án trồng và bảo vệ các loài câythuốc có giá trị sử dụng.Nhiều dự án trồng và sử dụng thuốc nam tại các trạm y
tế xã, khuyến khích bà con trồng cây dùng làm cảnh, đồng thời làm rau và cũng
có thể làm thuốc khi cần thiết Đây đợc xem là một hớng phát triển tốt cho câythuốc Việt Nam hiện nay với vai trò cung cấp nguồn nguyên liệu cho côngnghiệp dợc, chiết xuất các hợp chất tự nhiên để làm thuốc chỉ tính trong vòng
Trang 12thuốc đại trà Hiện nay bình quân mỗi năm Vịêt nam xuất khẩu 500 tấn Sa nhân,
5000 – 6000 tấn vỏ quế, long nhãn, ích mẫu, chè đắng, cỏ xuớc Các công tydợc trong nớc đang dần chú trọng đầu t sản xuất các loại thuốc chữa bệnh cónguồn gốc thảo dợc, hàng năm xây dựng vùng nguyên liệu để sản xuất phục vụnhu cầu trong nớc và xuất khẩu Nhiều cây thuốc đã đợc nghiên cứu hoạt chấtcủa chúng, chứng minh tác dụng dợc lý và đã trở thành mặt hàng xuất khẩu Một
số hoạt chất đã đợc chiết xuất nh rutin, Strophantin, becberin, palmatin, tetrahydropalmatin, rrtemisinin đã đợc chế biến thành nhiều dạng thuốc khácnhau chúng có hoạt tính cao chữa bệnh tốt [5]
L-Theo công bố của Trần Ngọc Ninh (1994), Lê Trần Đức (1995), ngànhhoá dợc Việt Nam bớc đầu cũng đã chiết đợc hợp chất Taxol từ loài Thông đỏ
(Taxus Sp.) có tác dụng chống đợc bệnh ung th [3].
Hiện nay ở nớc ta cây cỏ dùng làm thuốc rất đa dạng và phong phú, đã vợtquá 3200 loài, và 1200 chi, trên 300 họ, trong đó phần lớn là thực vật có hoa vớihơn 2500 loài thuộc 1050 chi, trên 320 họ [5]
I.3 Tình hình nghiên cứu cây thuốc ở Hải Phòng
Hải Phòng với đặc trng riêng là thành phố cảng, kinh tế chủ yếu là côngnghiệp, bên canh đó là nông nghiệp, nuôi trồng và đánh bắt thuỷ hải sản Nguờidân thành phố luôn có xu hớng sử dụng các loại thuốc tây.Nhng trớc khi nền yhọc hiện đại xâm nhập vào nớc ta thì sử dụng cây cỏ làm thuốc là hệ thống y dợcduy nhất đợc sử dụng Nhiều danh y nổi tiếng của thành phố đã đợc biết đến bởicác bài thuốc quý.Trong nhiều năm qua với tinh thần phát huy vai trò y học cổtruyền của dân tộc nhân dân đã dần sử dụng nguồn cây thuốc sẵn có để chữa cácbênh đơn giản thờng gặp Bên cạnh đó tiếp thu tinh thần của nghị quyết đại hội
đảng cộng sản Việt Nam lần thứ III, IV, V, VI, VII, VIII về việc chăm sóc sứckhoẻ nhân dân và phát huy y học cổ truyền kết hợp với y học hiện đại Phát triểnnuôi trồng cây con làm thuốc Trong suốt thời gian trờng kỳ kháng chiến chốngthực dân Pháp, nền kinh tế nớc nhà còn vô cùng nghèo nàn Hải Phòng đã làmtốt công tác y tế hậu phơng với việc sử dụng các loại cây thuốc nam kết hợpthuốc tây để chữa bệnh cho bà con nhân dân và các chiến sĩ [12]
Sau năm 1954 miền Bắc hoàn toàn giải phóng sở y tế thành phố cũng nhnhiều tỉnh phía bắc đợc nhà nớc quan tâm, thời gian này nhiều phong trào trồng,
sử dụng thuốc nam két hợp với châm cứu đã hình thành thói quen sử dụng cây cỏthờng gặp ở dân c nhất là y té xã, phờng những nơi xa trung tâm đờng xá đi lạikhó khăn Nhiều phong trào có ảnh hởng lớn nh: “Phá hàng rào gai cài cây thuốc
“ với 80 % số xã có vờn thuốc nam, 70 -80% số hộ gia đình có “ khóm thuốc gia
Trang 13đình”, 100% các đơn vị bộ đội đóng trên địa bàn có vờn thuốc nam và đợc duytrì tốt [12].
Để đẩy mạnh phong trào dùng cây thuốc sẵn có tại vờn nhà và bảo tồn cácloài cây thuốc Năm 2003 huyện Thuỷ Nguyên đã triển khai xây dựng vờn câythuốc mẫu của 37 xã thị trấn trong huyện Nhiều vờn thuốc mẫu đã thu thập đợcnhững cây thuốc quý Trong đó các trạm xá xã Liên Khê, Lu Kiếm, Lu Kì trungbình có khoảng 60 loài có tác dụng chữa 7 nhóm bệnh khác nhau nh: Bạch Đồngnữ, Đơn Xơng, Kim ngân hoa, huyết dụ, Rẻ quạt, Sâm đại hành, Bùng bục bôngbét, Sài đất, Bạc hà, Gừng gió, Địa liền, Cam thảo nam Với phong trào này đãgiúp bà con nhân dân trong vùng tin tởng hơn về tác dụng chữa bệnh của cây cỏ
có trên địa bàn Năm 2004 Với dự án trồng và phát triển vùng nguyên liệu cáccông ty sản xuất tân dợc đã triển khai dự án trồng Bạc Hà trên địa bàn nhiềuhuyện của thành phố Cho đến nay đã có nhiều tác giả nghiên cứu về cây thuốctại Hải Phòng nhng tập trung chủ yếu mới dừng lại ở các nghiên cứu tại vờnquốc gia Cát Bà Qua các công trình nghiên cứu Cát Bà đợc xem nh khu dự trữnguồn dợc liêu lớn của thành phố và của cả nớc với 350 loài Tuy nhiên câythuốc tại vùng Thuỷ Nguyên của thành phố vẫn cha có tác giả nào đề cập đến
Trang 14thời gian và phơng pháp nghiên cứu
2.1 Đối tợng nghiên cứu
Cây thuốc và bài thuốc đợc dân c xã Lu kiếm, Lu kì và Liên Khê huyệnThuỷ Nguyên - Hải Phòng sử dụng
2.2 Mục tiêu
Đánh giá sự đa dạng cây thuốc giá trị sử dụng và su tầm các bài thuốc
đ-ợc ngời dân sử dụng tại một số xã thuộc huyện Thuỷ Nguyên thành phố HảiPhòng
2.3 Nội dung nghiên cứu
nghiên cứu sử dụng để làm thuốc
sống, mức độ gặp và bộ phận sử dụng
xuất các biện pháp bảo vệ và phát triển
2.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.5.1.Phơng pháp điều tra, thực địa
2.5.1.1 Phơng pháp phỏng vấn và thu thập mẫu vật.
- Phát phiếu điều tra và phỏng vấn bà con nhân dân tại địa bàn nghiên cứunhất là các thầy lang và các lơng y để su tầm, các cây thuốc sử dụng trong dân c
- Thu thập bài thuốc đợc nhân dân sử dụng Mỗi cây thuốc, bài thuốc đều ghichép các thông tin cần thiết nh tên thờng gọi, địa điểm điều tra, công dụng vàliều lợng sử dụng
Trang 15- Mỗi loài cây thu thập đợc cho vào cặp ép báo, có nhãn.
2.5.1.2 Xử lý mẫu vật.
Mẫu các loài cây đợc thu hái và xử lý theo các phơng pháp:
- Phơng pháp điều tra cây thuốc và vị thuốc theo “Những cây thuốc và vịthuốc Việt Nam” của Đỗ Tất Lợi (1995) [32]
- Quy trình điều tra dợc liệu qua “Sổ tay thuốc nam thờng dùng ở cơ sở” của
- Mỗi mẫu cây đợc thu 3-5 mẫu, thành nhiều đợt, có đánh số hiệu và đặt vào
tờ báo gấp 4 lần, kẹp vào cặp mắt cáo 29x41cm Mỗi cặp khoảng 20-30 mẫu,phía ngoài lót một lớp báo Khi ép phải ép lá sấp, lá ngữa, phơi ngoài nắng hoặcsấy khô ở nhiệt độ thích hợp
- Phơng pháp giám định nhanh họ và chi ngoài thiên nhiên theo tài liệu
“Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật”, của Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [40]
và “Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam” củaNguyễn Tiến Bân (1997) [2]
2.5.2 Phơng pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm.
2.5.2.1 Chỉnh lý tên khoa học.
Mẫu đợc định loại, chỉnh lý tên khoa học dựa trên các tài liệu sau:
- Cây cỏ Việt Nam của Phạm Hoàng Hộ, 3 tập (1991-1993) [25]
- Tạp chí sinh học, chuyên đề, 6 quyển (1994-1995)
- Cây cỏ thờng thấy ở Việt Nam, 6 tập, Lê Khả Kế chủ biên (1969-1976)
Mẫu đợc định loại và xử lý xong đính trên giấy croki trắng có kích thớc 29 cm x
41 cm và dán nhãn kích thớc 7cm x 10cm
Trên nhãn có các thông tin sau:
2.5.2.2 Xây dựng danh lục.
Sau khi đã định loại các loài cây thuốc đợc sắp xếp vào các họ và các chitheo R.K.Brummit (1992) [50]
Trật tự các cột danh mục đợc xếp nh sau: Số thứ tự, tên khoa học, tên
Trang 16gặp, công dụng, cách dùng.
2.5.2.3 Đánh giá tính đa dạng sinh học của cây thuốc [30][40]
* Đánh giá đa dạng các taxon trong ngành [30][40].
Thống kê só loài, chi và họ theo từng ngành thực vật từ thấp đến cao trên cơ sởdựa vào bảng danh lục thực vật đã xây dựng, tính tỉ lệ % của các taxon để từ đóthấy đợc mức độ đa dạng
* Đánh giá đa dạng loài của các họ
Xác định họ nhiều loài, tính tỉ lệ % số loài số loài các chi đó so với số loài của cả
hệ thực vật
* Đánh giá đa dạng loài của các chi
Xác định chi nhiều loài, tính tỉ lệ % số loài của các chi đó so với toàn bộ số loàicủa cả hệ thực vật
* Đa dạng về dạng thân
* Đánh giá sự đa dạng về bộ phận sử dụng
Dựa vào kinh nghiệm của ngời dân và các thầy lang tại vùng nghiên cứu
* Đánh giá đa dạng về môi trờng sống
Dựa vào sự phân bố môi trờng sống khi thu mẫu
* Mức độ gặp
Theo Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) trong “Cẩm nang nghiên cứu đa dạngsinh vật” [4] Công thức tính nh sau: Trong tổng số 21 làng mỗi làng đợc chiathành 4 khu vực thu mẫu có đặc điểm sinh thái nh đồi ( nơng, rẫy), núi (ven đờng
đi), sông , vờn nhà
Mức độ gặp C% đợc tính theo phần trăm số lần lấy mẫu có loài đợc xét
trên tổng số lần thu mẫu
% 100
%
p
P C
P tổng số lần lấy mẫu
Dựa vào C% đợc chia thành 5 lớp:
- Lớp 1: C% từ 0%-20%: loài rất hiếm (+)
- Lớp 2: C% từ 20%-40%: loài ngẫu nhiên (++)
- Lớp 3: C% từ 40%-60%: loài thờng gặp (+++)
- Lớp 4: C% từ 60%-80%: loài phong phú (++++)
- Lớp 5: C% từ 8%-100%: loài rất nhiều (+++++)
* Đánh giá về các loài khan hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng
- Dựa vào thực tế điều tra, phỏng vấn, thu mẫu
- Dựa vào “Sách đỏ Việt Nam” (tập 2 – phần thực vật), 2007 [6]
Trang 17* Đa dạng chữa trị các nhóm bệnh.
Việc phân loại các cây thuốc và bài thuốc chữa trị theo các nhóm bệnhdựa vào tài liệu của Đỗ Tất Lợi (2003) [13],[32]
* Đa dạng về cách bào chế và chữa bệnh
Cách bào chế và sử dụng dựa vào tài liệu “Từ điển cây thuốc Việt Nam”của Võ Văn Chi (2003) [13], “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của ĐỗTất Lợi (2003), [32]
Chơng III: Điều kiện tự nhiên và xã THUộC HUYệN THUỷ NGUYÊN hội
khu vực nghiên cứu
3.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.Vị trí địa lý
Thành phố Hải Phòng cách thủ đô Hà Nội 102 Km về phía Đông Phía
Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, Phía Đông giáp vịnh Bắc Bộ, Phía nam giáp tỉnh Thái
(năm 2008) Thành phố có 5 quận, 1 thị xã và 8 huyện trong đó có 2 huyện đảo
Thuỷ nguyên là một huyện lớn nằm ở phía Bắc thành phố, bên dòng sôngBạch Dằng lịch sử Phía bắc và phía Đông Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh Phía TâyNam giáp huyện An Dơng và nội thành Hải phòng Huyện gồm 2 thị trấn và 35xã, cơ quan hành chính của huyện đóng ở thị trấn Núi Đèo, có diện tích 224,76
của đề tài đợc tiến hành trên 3 xã Lu Kiếm, Lu Kì và Liên Khê nằm ở phía TâyBắc của huyện Đây là 3 trong số 5 xã miền núi của huyện Thuỷ Nguyên
Về mặt hành chính, nằm trong vùng tiếp giáp sau:
Trang 18Bản đồ hành chính huyện Thuỷ Nguyên – Hải Phòng
3.1.2 Địa hình
Các xã trên địa bàn nghiên cứu có địa hình chủ yếu là đồi núi thấp Trong
đó núi đất thấp chiếm đa số càng xa quốc lộ 10 vào sâu trong vùng nghiên cứu
địa hình càng phức tạp dần xuất hiện nhiều núi đá vôi, hệ thống sông ngòi baoquanh trong đó có các sông lớn nh sông Đá Bạc, sông Giá tuy nhiên có một sốvùng thuộc xã Liên Khê và Lu Kì tiếp giáp vùng nớc lợ thuỷ triều lên xuống
3.1.3 Đất đai
Nhìn chung các xã nghiên cứu có đất đai thuộc các nhóm chủ yếu sau
đây: Đất hoạt động sâu mặn, đất đỏ vàng trên đá sét và biến chất, đất nâu vàngtrên đá vôi, đất vàng nhạt trên đá cát, đất sú vẹt đớc
3.1.4 Khí hậu, thuỷ văn
Chế độ gió: Là một huyện của thành phố cảng nên Thuỷ Nguyên có mức
độ gió lớn Tần suất lặng gió thấp và tốc độ gió trung bình cao, giảm dần từ
Đông Nam lên Tây Bắc
Lợng ma: Trung bình 1400 -1700 mm cao nhất vào tháng 8 Huyện là mộttrong những địa điểm có lợng ma cao của thành phố
Chế độ nhiệt: Mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa lạnh từ tháng 11
và thấp nhất ở tháng 1
Độ ẩm: Khá điều hoà cực đại vào tháng 3 và cực tiểu vào tháng 12
Chế độ bức xạ: ít biến động về ngày nắng, lợng bức xạ dồi dào, cực đạivào tháng 7 cực tiểu vào tháng 2 (theo số liệu thống kê của trạm khí tợng PhùLiễn - Kiến An - Hải phòng)
3.1.5 Thảm thực vật.
Trang 19Hầu hết diện tích đất các xã nghiên cứu đều đợc ngời dân nơi đây sử dụng cómục đích, phục vụ cho kinh tế hộ gia đình Phần lớn diện tích đất trồng lúa Các đồi,núi đất trồng các loại cây ăn quả và cây lấy gỗ có giá trị kinh tế cao Các núi đá vôi ởnhiều thôn đã và đang đợc khai thác Rừng chủ yếu là rừng trồng, diện tích ngàycàng thu hẹp.
3.2 Điều kiện xã THUộC HUYệN THUỷ NGUYÊN hội
3.2.1 Dân số, c dân các xã vùng nghiên cứu
Dân c các xã thuộc vùng nghiên cứu
- Về giao thông: Giao thông các xã nghiên cứu trong mấy năm gần đây đã
đợc chú trọng Tuy nhiên với địa bàn rộng, phức tạp dân c ở một số địa điểm còntha, phân bố khônng đồng đều nên việc bê trông hoá cha đợc đồng bộ Với sựxâm nhập của các dự án nh: Khai thác đá phụ gia, sân gôn nhằm phát triển cácnguồn tài nguyên của các xã nhng cùng với đó là đầu t cho giao thông khôngnhiều mà còn làm h hại các tuyến đờng lớn, khiến giao thông đi lại càng khókhăn Tuy nhiên đây là vùng tiếp giáp với tỉnh Quảng Ninh do đó các nguồn câythuốc cũng đợc dân c chú trọng trao đổi, mua bán
Chơng IV: Kết quả nghiên cứu
Trang 204.1 Thành phần các Taxon cây thuốc của dân c các xã THUộC HUYệN THUỷ NGUYÊN Liên Khê,
Lu kiếm, Lu kì huyện Thuỷ Nguyên thành phố Hải Phòng
Qua quá trình điều tra, thu thập các loài cây thuốc
và những kinh nghiệm hiểu biết của các thầy thuốc nam
xử lý, xác định tên khoa học và xây dựng bảng danh lục.Trong bảng danh lục các Taxon đợc sắp xếp theoR.K.Brummit (1992) [50]
Mỗi loài đợc trình bày theo thứ tự nh sau:
Trang 22Bảng 1: Danh lục các loài cây thuốc đợc dân c các xã Lu Kiếm, Lu Kì, Liên khê sử dụng
III Magnoliophyta Ngành Ngọc lan
III 1 Dicotyliopsida Lớp Ngọc lan
áp
Thân và lá sắc uống, Xúc miệng, uống trong đắp ngoài
nhỏ rịt vào chổ bị cắn
6 Anacardiaceae Họ đào lộn hột
Trang 23ăn ít một sau bữa ăn.
gân,tiêu chảy, kiết lị
Lá vò uống trị cảm hàn, hạt ngâm rợu gội đầu chữa bệnh gầu lá đắp
đắp
10 Araliaceae Họ nhân sâm
lá rịt chổ muỗi, vắt cắn
20 Polyscias fruticosa (L.)
thấp
Lá ăn sống hay phơi hay phơi khô nấu uống Ngâm rợu uống
11 Asclepiadaceae Họ Thiên lý
Trang 24tê liệt, an thai,kinh nguyệt kéo dài, cảm sốt,
đau họng
Lá giả nhỏ trị đau mắt đỏ, phong thấp,
đắp ở trán trị cảm sốt Thân sắc uống làm an thai
lấy nớc uống
V,D
+++++ Sốt xuất huyết, sốt rét,
cảm lạnh, bổ, giải độc, cầm máu trĩ ra máu trẻ tia lỡi
Thân lá vò và sắc lấynớc uống.đắp
sắc uống
Trang 2534 Lactuca indica L. Bå c«ng anh Th T, L N,
D,V
gi· nhá rÞt chèng viªm
14 Brassicaceae Hä C¶i
gµ
17 Chenopodiaceae Hä Rau muèi
ho¸
Níc s¾c ngËm hoÆc nÊu canh ¨n
18 Convolvulaceae Hä Khoai lang
19 Combretaceae Hä Bµng
Trang 26nhỏ 4-5cm nấu nớc tắm.
chấm đờng ăn
50 Luffa cylindrica (L.)
dùng tơi nấu nớc uống, giải nhiệt, kíchthích tiêu hoá
chổ bong gân, vỏ ngoài hạt nấu xôi ăn sáng mắt, bổ
23 Dilleniaceae Họ Sổ
Trang 27vµng nÊu níc uèng ch÷a nãng ruét.
26 Euphorbiaceae Hä ThÇu dÇu
Th¸i nÊu cho lîn ¨n nhiÒu s÷a
nhiÒu s÷a NÊm tãc.§¹i tiÖn ra m¸u
C¶ c©y gi¶ nhá rÞt vµo vó ch÷a t¾c s÷a Th¸i nÊu cho lîn ¨n
ra nhiÒu s÷a.nÊu lÊy níc
thÇn kinh.TrÜ
Th©n, l¸ s¾c uèng ch÷a bÖnh thËn; l¸ gi· nhá sao nãng rÞt trÞ phong thÊp, ®au thÇn kinh
Trang 2827 Caesalpiniaceae Họ vang
xát Hạt nấu nớc uống giải nhiệt
64 Gleditsia fera (Lour.)
tắc tia sữa
Quả nấu nớc gội đầu,xông đẻ, gaiohầm với đậu đen ăn chốngmụn nhọt.gai sắc uóng với xơ mứơp
vào chổ rộp
72 Elsholtzia ciliata
n-ớc uống, bả đắp ở trán
75 Perilla frutescens (L.)
Trang 29Lá giã rịt chữa đau mắt đỏ.
t-ơi pha nớc rữa chữa mụn nhọt
có mụn
sắc uống trị viêm xoang, cây sắc uống chữa sỏi thận, cảm hàn
Trang 30(Derr.) A Juss tắm hoặc vò xát chổ
35 Mimosaceae Họ trinh nữ
khớp lá nấu tắm chotrẻ trị khó ngủ
lá giã đắp chữa sái khớp, bong gân
sinh không kiêng trong
ăn
5 quả nấu nớc uống hoặc ăn tơi
non hầm với hạt sen
Trang 3138 Nelumbonabaceae Họ Sen
cho vào quả dừa đốt chín ăn trị đau đầu
39 Nymphaeaceae Họ súng
ex Salisb
40 Onagraceae Họ rau dừa nớc
Thân, lá giã rịt trị sáichân tay Cả cây giả nhỏ dùng nớc trị sốt, kiết lỵ, cảm hàn
42 Oxalidaceae Họ chua me đất
ứng mề đay, vỏ lấy ởcành phía mặt trời lặn sắc uống trị ung th
43 Passifloraceae Họ Lạc tiên
hoà ít đờng cùng với nớc sôi để uống
uống
Trang 32tốt nhỏ trộn ít muối ăn.
45 Piperaceae Họ Hồ tiêu
hoà nớc sôi, với muối để rửa vết th-
46 Plantaginaceae Họ Mã đề
48 Portulacaceae Họ rau sam
mắt đỏ, vò lắynớc uống giải nhiệt
uống hoặc ngâm rợu
Trang 33và mật ong
hen Lá nhai nuốt
n-ớc, bã đắp trị rắn cắn
đỏ, quả vắt nớc pha với đờng, muối uống mát
125 Euodia lepta (Spreng.)
và thân nấu đặc tắm trị ghẻ
Trang 34(Thunb.) Swingle mật ong cho uống
53 Sapindaceae Họ Bồ hòn
136 Camellia sinensis (L.)
uống nấu nớc đặc rửa sạch
58 Verbenaceae Họ cỏ roi ngựa