Tác động của kinh tế đến tôn giáo, tín ngưỡng 106Tuy nhiên không phải mọi vấn đề liên quan đến vương triều nhàNguyễn đã được đề câp trong các hội thảo, các công trình nghiên cứu đó.Việc
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
-*** -LÊ THỊ PHƯƠNG MAI
TÌNH HÌNH KINH TẾ NGHỆ AN DƯỚI TRIỀU VUA
GIA LONG VÀ MINH MẠNG (1802 - 1840)
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số ngành: 60.22.54
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN QUANG HỒNG
VINH, 2010
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Khóa luận được hoàn thành dưới sự hướng dẫn nhiệt tình, chu đáo của PGS.TS Nguyễn Quang Hồng Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy giáo, cô giáo trong khoa Lịch sử
và khoa Sau đại học và các bạn học viên đã động viên giúp đỡ trong quá trình thực hiện đề tài Tôi thành thật cảm ơn mọi sự quan tâm của gia đình trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn.
Do hạn chế về thời gian cũng như tài liệu tham khảo và năng lực nghiên cứu, nên khóa luận không tránh khỏi thiếu sót Tác giả mong nhận được sự góp ý của quý thầy, cô giáo và đồng nghiệp.
Vinh, tháng 12 năm 2010
Tác giả
Lê Thị Phương Mai
Trang 33 Nhiệm vụ, đối tượng, phạm vi nghiên cứu: 4
B NỘI DUNG Chương 1: Khái quát tình hình kinh tế Nghệ An từ cuối thế kỷ
XVIII đến trước khi Nguyễn Ánh lên ngôi (1802) 7
1.2.1 Khái quát tình hình nông nghiệp nước ta và Nghệ An cuối
Chương 2: Tình hình kinh tế Nghệ An từ năm 1802 đến năm 1840 252.1 Khái quát tình hình kinh tế nước ta đầu thế kỷ XIX 252.1.1 Vài nét về tinh hình nông nghiệp ở nước ta đầu thế kỷ
Trang 4Mạng3.3 Tác động của kinh tế đến tôn giáo, tín ngưỡng 106
Tuy nhiên không phải mọi vấn đề liên quan đến vương triều nhàNguyễn đã được đề câp trong các hội thảo, các công trình nghiên cứu đó.Việc nghiên cứu về tình hình kinh tế ở Nghệ An dưới thời Nguyễn nói chung
và trong thời gian các vị vua đầu triều nhà Nguyễn nói riêng chưa được quan
tâm đúng mức Do đó, đề tài “Tình hình kinh tế Nghệ An dưới triều vua Gia
Trang 5Long và Minh Mạng (từ năm 1802 đến năm 1840) góp phần thiết thực vào
việc nghiên cứu vương triều nhà Nguyễn
Trong công cuộc đổi mới (1986 -2010), có rất nhiều luận văn cao họcThạc sĩ, luận án Tiến sĩ sử học đã chọn vương triều Nguyễn và thời kỳ cácchúa Nguyễn làm đề tài nghiên cứu Nhưng, qua các kinh thông tin chúng tôithấy rằng việc tập trung nghiên cứu về thực trạng kinh tế của trấn Nghệ An (1802 -18 30), tỉnh Nghệ An (1831 -1884) lại chưa được thực hiện
Dưới triều vua Gia Long, Nghệ An là một trong 29 doanh trấn của cảnước, có diện tích: “Đông - Tây - Nam - Bắc, cách nhau 500 dặm”, bao gồm
cả phần đất Nghệ An lẫn phần đất tỉnh Hà Tĩnh ngày nay Đến cải cách hànhchính của Minh Mạng (1831-1832), tánh trấn Nghệ An thành tỉnh Nghệ An
và lập đạo Hà Tĩnh, nhưng mọi công văn, giấy tờ, sổ sách vẫn mang tên
“Nghệ An tĩnh” Chính trường hợp khá độc đáo này làm nảy sinh nhiều vấn
đề cần được quan tâm nghiên cứu Do đó, chọn đề tài “Tình hình kinh tế Nghệ
An dưới triều vua Gia Long và vua Minh Mạng” là góp phần thiết thực vào
việc nghiên cứu tình hình kinh tế nước ta đầu thế kỷ XIX, dưới sự trị vì củahai ông vua đầu triều Nguyễn
Theo các bộ sử được biên soạn dưới thời Nguyễn như: Đại Nam thực lục
tiền biên, Đại Nam thực lục chính biên, Khâm định Đại Nam hội điển sự lễ,v.v… các vua đầu triều Nguyễn đã thực thi một số chính sách nhằm ổn định
tình hình kinh tế, chính trị, xã hội,… trên phạm vi cả nước, với mục đích sớmxác lập và củng cố vương quyền của dòng họ Nguyễn Nghệ An là đất tổ củaTây Sơn, là trấn, tỉnh, liền kề với vùng đất tổ của dòng họ Nguyễn Phúc, ởđây có lắm hiền tài có thể giúp nhà Nguyễn dựng nghiệp bền lâu, hoặc có thểlàm cho cơ đồ họ Nguyễn lung lay Nhận thức rõ điều đó, Gia Long, MinhMạng, Thiệu Trị, … một mặt kiên quyết xoá bỏ những thành quả của Tây sơntrên đất Nghệ An, một mặt ban hành các ân điển để cư dân xứ Nghệ đứng vềphía nhà Nguyễn Thực hiện đề tài chúng tôi hy vọng có thể làm rõ đượcnhững chính sách vừa kiên quyết vừa khéo léo mà nhà Nguyễn đã thực thi
Trang 6trên vùng đất ở lưu vực sông Lam vào đầu thế kỷ XIX, nhưng lại chưa được
đề cập trong các công trình đã nghiên cứu
cơ sở khoa học, đủ mặt hạn chế như: “Cõng rắn cắn gà nhà”, “rước voi giày
mả tổ”, “vị vua tàn đạo, thâm độc” Trong khi những kết quả nghiên cứu
mới về các vị vua đầu triều Nguyễn nói chung và 2 vị vua trên nói riêng đãđưa ra nhiều nhận định hoàn toàn khác so với trước Mặt khác, trên cơ sởnhững nguồn tư liệu mà chúng tôi hiện có, trong khoảng 40 năm đầu thế kỷXIX, trên vùng đất Nghệ An, cho dù nhà Nguyễn đã thực thi nhiều chính sáchkhôn khéo cả về chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục,… song phong trào nôngdân khởi nghĩa vẫn bùng nổ từ miền xuôi đến miền ngược
Chúng tôi hi vọng, thông qua kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phầnlàm sáng tỏ thêm những nội dung trên
Từ những lí do trên, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Tình hình kinh tế
Nghệ An dưới triều vua Gia Long cà Minh Mạng (1802 - 1840)” làm đề tài
luận văn của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tuy có nhiều công trình nghiên cứu về vương triều nhà Nguyễn đã vàđang tiếp tục được công bố nhưng chưa có công trình nào trực tiếp đề cập đếnphạm vi không gian, thời gian đề tài xác định Tuy nhiên, với Kỷ yếu hội thảo
về văn chương triều Nguyễn (1996), Hội thảo về nhà Nguyễn 1998, 2001,2005,… hay tập Kỷ yếu về nhà Nguyễn vừa được trung tâm khoa học quốcgia phối hợp với Tỉnh ủy, UBND tỉnh Thanh Hóa xuất bản gần đây, có nhiềubài viết đề cập đến tình hình kinh tế nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp,
Trang 7thương nghiệp,… dưới thời vua Nguyễn Đây thực sự là những tài liệu thamkhảo hữu ích để chúng tôi thực hiện đề tài.
Trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử, tạp chí Huế xưa Nay cũng đã đăng tảinhiều bài viết của nhà sử học trong và ngoài nước có nội dung đề cập đếnkinh tế, tài chính, thương mại,… dưới thời Nguyễn Đây cũng thực sự lànhững tài liệu hữu ích giúp chúng tôi thực hiện đề tài
Cần phải khẳng định những nghiên cứu của tác giả Nguyễn MinhTường, Đỗ Bang, Nguyễn Quang Trung Tiến, Phan Thuận An, Nguyễn KhắcThuần,… về các vị vua đầu triều nhà Nguyễn được công bố gần đây, thực sựhữu ích cho chúng tôi trong quá trình phân tích, đối sánh tư liệu để thực hiện
đề tài
Gần đây các công trình lịch sử địa phương của Nghệ An, Hà Tĩnh cũng
có đề cập ít nhiều đến tình hình kinh tế Nghệ An, Hà Tĩnh ở đầu thế kỷ XIX,nhưng không có công trình nào nghiên cứu về những nội dung cụ thể trongphạm vi đề tài xác định
Các bộ sử do quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn như: Đại Nam thựclục chính biên, Đại Nam nhất thống chí, Khâm định Đại Nam hội điển sự lễ,Đông Khánh ngự lãm địa dư chí lược,… cung cấp một số tư liệu quý về tìnhhình kinh tế, chính trị, xã hội của cả nước nói chung và Nghệ An nói riêng ởđầu thế kỷ XIX Đây là những tài liệu hữu ích để chúng tôi thực hiện đề tài
Tóm lại, tuy có nhiều công trình nghiên cứu về đời sống, kinh tế, chínhtrị, văn hóa, giáo dục,… thời Nguyễn, nhưng cho đến nay chưa có công trìnhnào nghiên cứu về những nội dung đề tài đặt ra một cách toàn diện, hệ thống.Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu của những người đi trước thực sự lànguồn tài liệu hữu ích để chúng tôi thực hiện đề tài này
3 Nhiệm vụ, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình kinh tế ở Nghệ An từ năm 1802đến năm 1840 qua hai đời vua Gia Long (1802 - 1819), Minh Mạng (1820 -1840)
Trang 8Nội dung chính của đề tài là : Tình hình kinh tế Nghệ An (bao gồm cảphần đất Nghệ An và Hà Tĩnh hiện nay) từ khi Gia Long lên ngôi (1802), đếnnăm 1840
Để làm rõ nội dung đó, chúng tôi trình bày khái quát tình hình kinh tế xãhội ở nước ta và Nghệ An cuối thế kỷ XVIII cho đến trước khi Nguyễn Ánhlên ngôi để người đọc có cái nhìn bao quát Ngoài ra, chúng tôi còn dành mộtphần nội dung để đánh giá những tác động của kinh tế đối với đời sống chínhtrị, văn hoá, giáo dục, tín ngưỡng, tôn giáo của cộng đồng cư dân xứ Nghệtrong 40 năm đầu thế kỷ XIX
Những nội dung khác không nằm trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này
4 Nguồn tài liệu
Thực hiện đề tài, chúng tôi tập hợp các nguồn tư liệu thành văn có nộidung liên quan hiện đang lưu giữ tại Thư viện quốc gia Hà Nội, thư viện tỉnhNghệ An, thư viện trường Đại học Vinh, thư viện một số gia đình Nguồn tàiliệu chính bao gồm: các bộ sử biên soạn dưới thời Nguyễn, các công trìnhnghiên cứu về nhà Nguyễn được đăng tải trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử, tạpchí Huế xưa nay, tạp chí Xưa & Nay,… hay các Kỷ yếu Hội thảo khoa học vềnhà Nguyễn,…
Ngoài ra, chúng tôi còn thu thập được một số gia phả của các dòng họtrên địa bàn Nghệ An, Hà Tĩnh Một số Hương ước, khoán ước ở các làng xãthuộc lưu vực sông Lam được biên soạn ở thế kỷ XIX, đầu thế thế kỷ XXcũng là nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng khi thực hiện đề tài
Chúng tôi cũng tham khảo một số luận văn Thạc sĩ, Luận án Tiến sĩ có
nội dung nghiên cứu về nhà Nguyễn Một số công trình nghiên cứu lịch sử
địa phương trên địa bàn Nghệ An, Hà Tĩnh cũng được chúng tôi tham khảo,
sử dụng khi thực hiện đề tài Nguồn tài liệu sử dụng trong luận văn, chúng tôi
thống kê trong Thư mục tài liệu tham khảo.
5 Phương pháp nghiên cứu
Trang 9Thực hiện đề tài này, tác giả vận dụng phương pháp lịch sử và phươngpháp logic Đây là những phương pháp cơ bản sử dụng trong luận văn Trong đó,phương pháp lịch sử đóng vai trò chủ đạo Ngoài ra, chúng tôi sử dụng phươngpháp thống kê, so sánh, phân tích,… để là rõ những nội dung của đề tài.
6 Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu về tình hình kinh tế Nghệ
An (bao gồm cả Nghệ An và Hà Tĩnh hiện nay) trong 40 năm đầu thế kỷ XIX.Thông qua việc nghiên cứu về tình hình kinh tế, chúng tôi đánh giá những tácđộng của kinh tế đối với đời sống văn hoá vật chất và tinh thần của cộng đồng
cư dân xứ Nghệ trong phạm vi đề tài xác định
Chúng tôi tập hợp, hệ thống hóa một nguồn tư liệu phong phú, đa dạng
có nội dung liên quan đến đề tài tiện cho việc nghiên cứu, so sánh
Là tài liệu hữu ích cho việc nghiên cứu, biên soạn lịch sử địa phươngtrước mắt cũng như lâu dài
Luận văn là tài liệu để biên soạn và giảng dạy lịch sử địa phương trongtrường THPT, Đại học, Cao đẳng
Là tài liệu hữu ích để giáo dục truyền thống yêu quê hương cho thế hệ trẻ
7 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dungcủa luận văn được chia làm 3 chương
Chương 1: Khái quát tình hình kinh tế Nghệ An cuối thế kỷ XVIII đến trước
khi Nguyễn Ánh lên ngôi (1802)
Chương 2: Tình hình kinh tế Nghệ An từ năm 1802 đến năm 1840.
Chương 3: Tác động của kinh tế đến đời sống chính trị, xã hội, văn hóa, giáo
dục của cộng đồng dân cư xứ Nghệ
Trang 11
B NỘI DUNG Chương 1 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH KINH TẾ NGHỆ AN CUỐI THẾ KỶ XVIII
ĐẾN TRƯỚC KHI NGUYỄN ÁNH LÊN NGÔI (1802)
Đỉnh cao của phong trào nông dân khởi nghĩa là cuộc khởi nghĩa TâySơn, bùng nổ năm 1771 tại ấp Tây Sơn, do ba anh em Nguyễn Nhạc, NguyễnHuệ, Nguyễn Lữ, tổ chức, lãnh đạo Được sự ủng hộ của đông đảo các tầnglớp nhân dân trong xã hội, phong trào nông dân Tây Sơn đã cơ bản loại bỏhoàn toàn nền thống trị của các chúa Nguyễn ở Đàng trong Nguyễn Nhạc lênngôi Hoàng Đế, lấy niên hiệu là Thái Đức, sửa sang xây đắp lại thành ĐồBàn, phong vương tước cho các em, sắp đặt lại bộ máy chính quyền Nhưngđiều đáng lưu ý, là ngay từ đầu, thay vì xây dựng một nhà nước phong kiếntrung ương tập quyền, Thái Đức Hoàng đế đã mở đường cho sự phân quyềnbởi sự phân chia quyền lực trong nội bộ Tây Sơn Đây là một trong nhữngnguyên nhân sâu xa dẫn đến tình trạng mâu thuẫn ngày càng trở nên gay gắttrong bộ máy chính quyền mà Thái Đức hoàng đế xây dựng khi cơ nghiệpthống nhất đất nước chưa thành và còn đó bao khó khăn thử thách sau nhiềuthế kỷ chia cắt, tranh giành quyền lực giữa các thế lực phong kiến cát cứ
Trang 12Sau khi hạ thành Phú Xuân, Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc Hà, cơnghiệp nhà Trịnh nhanh chóng sụp đổ Mặc dù Bắc Bình Vương Nguyễn Huệrất muốn khôi phục lại trật tự xã hội, kinh tế, văn hóa ở Bắc Hà song do nhiềunguyên nhân, mong ước tốt đẹp của ông không trở thành hiện thực.
Năm 1788, quốc gia dân tộc buộc phải đối mặt với cuộc chiến tranhxâm lược của triều đình Mãn Thanh Lịch sử chứng kiến thiên tài quân sự củahoàng đế Quang Trung trong cuộc hành binh thần tốc và tiêu diệt toàn bộ 29vạn quân Thanh cùng bè lũ Lê Chiêu Thống, bảo vệ vững chắc độc lập chủquyền của quốc gia dân tộc trong mùa xuân Kỷ Dậu 1789 Chiến thắng ngoạixâm, Hoàng đế Quang Trung lo xây dựng, củng cố đất nước cả về kinh tế,chính trị, văn hóa, xã hội Ông cho thực hiện nhiều chính sách táo bạo như:Chiêu nạp hiền tài, ban thưởng công trạng cho những người có công lớn trongcông cuộc chinh chiến trên khắp các chiến trường, cải cách chữ viết, tiến hành
đo đạc ruộng đất, đúc tiền,… Chính điều này đã góp phần đưa tình hình kinh
tế, chính trị từ Phú Xuân trở ra Bắc Hà từng bước ổn định
Tuy nhiên, ngay khi Hoàng đế Quang Trung còn sống, những bề tôi củaông như: Nguyễn Hữu Chỉnh, Vũ Văn Nhậm,… đã có ý xây dựng lực lượng,chờ thời cơ chống lại Tây Sơn Việc Quang Trung, loại bỏ Nguyễn HữuChỉnh, Vũ Văn Nhậm, cho thấy tình hình chính trị ngay trong bộ máy chínhquyền trên vùng đất ông cai quản cũng bộc lộ nhiều hạn chế Nguy cơ cát cứphong kiến luôn thường trực, chưa kể đến tình trạng lộn xộn, khủng hoảngtrong nội bộ triều đình nhà Lê trước khi Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc Hàloại bỏ cơ nghiệp nhà Trịnh Ngay cả khi, Nguyễn Huệ kết duyên cùng côngchúa Ngọc Hân, kết tình thông gia giữa nhà Tây Sơn với nhà Lê, thì các cựuthần nhà Lê và cả Hoàng thái hậu nhà Lê vẫn không đứng hẳn về Tây Sơn.Thậm chí, lực lượng bảo thủ này còn dùng đủ phương sách , mở đường cho Tôn
Sĩ Nghị đưa 29 vạn quân vào xâm lược nước ta Chiến thắng ngoại xâm, loại bỏnội phản, song tầng lớp nho sĩ Bắc Hà và một số cựu thần nhà Lê còn đó, không
dễ gì dốc toàn tâm, toàn tài cho sự nghiệp chấn hưng đất nước Tình hình Bắc
Trang 13Hà sau 1789, tuy có những chuyển biến tích cực, song, trên thực tế Hoàng đếQuang Trung phải đương đầu với muôn vàn khó khăn thử thách, nhất là nạn baochiếm đất đai của giai cấp địa chủ phong kiến ở các địa phương.
Trong khi đó, tình hình ở vùng đất do Trung ương Hoàng đế NguyễnNhạc cai quản lại hoàn toàn khác Nguyễn Nhạc chỉ lo ăn chơi, hưởng thụtuổi già Chính Quang Trung đã phải thừa nhận về việc Thái Đức hoàng đế
bỏ bê triều chính, phó mặc công việc cho bề tôi Tình hình chính trị càng trởnên phức tập khi chính anh em Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ bất đồng, huyđộng đại quân để giải quyết mâu thuẫn Cuộc chiến kéo dài hơn ba tháng giữaanh em Tây Sơn tại Đồ Bàn cuối cùng cũng được giải quyết, nhưng mối bấthoà và vết thương đó không dễ gì lành hẳn Bề tôi của Nguyễn Nhạc, NguyễnHuệ không trởp thành một lực lượng chính trị thống nhất, mà nghi ngờ, dèchừng lẫn nhau Trong khi, tình hình đất nước đang đặt ra nhiều yêu cầu cấpthiết cần phải giải quyết cả về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội Vòng luẩnquẩn mà anh em Tây Sơn đặt ra là dấu hiệu báo trước cho sự khủng hoảngchính trị kéo dài sau đó và cơ sở cho sự tồn tại bền vững của nhà Tây Sơnkhông dễ gì có được
Tình hình ở Gia Định lại càng khó khăn hơn Nguyễn Lữ không đủ khảnăng cai quản toàn bộ vùng đất Gia Định, tạo điều kiện thuận lợi cho NguyễnÁnh trở lại, ngấm ngầm, kiên trì, xây dựng lực lượng, từng bước giành lại đấtđai ở quanh Gia Định và thực sự trở thành mối quan ngại đối với nhà Tây Sơn
Lẽ ra, Nguyễn Nhạc phải giúp Nguyễn Lữ, loại bỏ Nguyễn Ánh, nhưng điều đókhông diễn ra, một mình Nguyễn Lữ không đủ sức chống đỡ lực lượng củaNguyễn Ánh có sự hậu thuẫn của đại bộ phận địa chủ ở vùng Gia Định
Tình hình trở nên trầm trọng ngay sau khi Quang Trung đột ngột từ trần(1792) Quang Toản còn nhỏ tuổi được đặt lên ngai vàng Thái sư Bùi ĐắcTrụ, Bùi Đắc Tuyên thừa cơ lộng hành Nội bộ Tây Sơn phân hóa, chia thành
5 bè 7 mảng, thậm chí các dũng tướng như Trần Quang Diệu, Vũ Văn Dũngđem quân đánh nhau, vua Cảnh Thịnh phải đích thân can ngăn mới tạm ổn
Trang 14Một số trung thần tìm cớ lui về quê ẩn dật, một số khác bị đám lộng thầngiáng chức, hoặc điều đi đảm nhận những chức vụ ở xa kinh thành Phú Xuân.Nội bộ Tây Sơn rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng.
Đỉnh cao của mâu thuẫn ấy là việc Cảnh Thịnh nghe lời xúi dục của nịnhthần, đem đại quân vào thành Đồ Bàn, Nguyễn Nhạc uất hận, thổ huyết màchết Cảnh Thịnh cho thu hết vàng bạc của cải, cho con cháu Nguyễn Nhạchưởng lộc một huyện, sau đó rút quân về Đến đây, cơ nghiệp Tây Sơn đã thực
sự đứng trước bờ vực thẳm Nguy cơ sụp đỗ là điều khó có thể tránh khỏi
Khi còn sống, Hoàng đế Quang Trung có ý định dời đô từ Phú Xuân vềNghệ An Ông đã nhờ La sơn phụ tử Nguyễn Thiếp xem thế đất và chọn vùngDũng Quyết để xây dựng Trung Đô Phượng Hoàng thành Trong chiếu gửi La
sơn phu tử Nguyễn Thiếp Hoàng đế Quang Trung khẳng định: “Nhờ buổi hồi
loan trước, lúc qua Hoành Sơn, quả cung đã từng mở xem địa đồ, thấy huyện Chân Lộc, xã Yên Trường, hình thế rộng rãi, khí tượng tươi sáng, có thể chọn xây dựng kinh đô mới Thực là chỗ đất đẹp để đóng đô vậy Đã sắc cho quan Trấn sửa soạn gỗ ngói, khí cụ, hẹn ngày làm việc…”.[10,437]
Công cuộc xây dựng Trung Đô Phượng Hoàng thành đang tiến hành dởdang, Quang Trung mất, Cảnh Thịnh bỏ luôn ý định xây dựng kinh đô mới.Trong bối cảnh triều chính đó, vùng đất Bắc Hà nói chung và Nghệ An nóiriêng trộm cướp, thổ phỉ nổi lên như ong Mất mùa, đói kém, diễn ra liên miên
Đứng trước nguy cơ đó, lẽ ra, vua Cảnh Thịnh phải dựa vào các trungthần, trọng dụng hiền tài, thực thi các biện pháp nhằm chấn chỉnh lại triềuchính và mang lại lợi ích cho dân chúng Nhưng, vua Cảnh Thịnh nối nghiệpcha mà không đủ tài, đức để nối chí cha Triều đình Phú Xuân tựa như mộtngôi nhà xiêu vẹo, thiếu người chống đỡ Vua Cảnh Thịnh chỉ còn biết trôngchờ vào một số võ tướng như: Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân, Vũ VănDũng… để đối phó với các cuộc tiến công của Nguyễn Ánh đang diễn ra vớiquy mô ngày càng lớn hơn Phần đất đai ở Gia Định mất dần vào tay NguyễnÁnh Tiếp đó, phần đất Nam Trung bộ cũng dần dần bị Võ Tánh, Nguyễn Văn
Trang 15Thành (Thiềng)… và các tướng lĩnh dưới quyền Nguyễn Ánh chiếm lại Đếnnăm 1796 - 1798, tức là chỉ mới 5, 7 năm kể từ khi Hoàng đế Quang Trungbăng hà, cơ nghiệp nhà Tây Sơn đã lung lay đến tận gốc Chớp thời cơ đó,trong hai năm: 1799 - 1800, Nguyễn Ánh dốc toàn bộ binh lực, liên tục tiếncông bao vây lực lượng ít ỏi còn lại của Tây Sơn và giành được nhiều thắnglợi quan trọng Các tướng lĩnh tài ba của Tây Sơn, người bị bắt, kẻ bị chếttrên chiến trường, người đầu hàng Nguyễn Ánh Vua Cảnh Thịnh buộc phảiđưa toàn bộ gia quyến bỏ Phú Xuân chạy ra Bắc, nhưng không nhận được sựgiúp đỡ của dân chúng và sĩ phu Bắc Hà Kết cục bi thảm của vương triều TâySơn được định đoạt khi Cảnh Thịnh bị bắt, đóng cũi giải về Phú Xuân cùngmột số tướng lĩnh cuối cùng Nguyễn Ánh vào Phú Xuân và được các bộtướng đem toàn bộ đất Bắc Hà về báo công, lĩnh thưởng Lịch sử dân tộcthêm một lần thay ngôi đổi chủ Dòng họ Nguyễn Phúc bắt tay chấn chỉnh,phục hưng lại đất nước sau bao thế kỷ chia cắt.
Dường như, mọi biến động chính trị, xã hội cuối thế kỷ XVIII đều inđậm dấu ấn trên đất Nghệ An Trước khi ra Tây Sơn ra Bắc Hà, trấn Nghệ An
là một trong những trấn liên tục chịu cảnh mất mùa, đói kém, lũ lụt hạn hánlên tục xảy ra Hải thượng Lãn ông Lê Hữu Trác đã ghi lại tình cảnh đói kémcủa cư dân ở Nghệ An, Hà Tĩnh tỷong các tác phẩm của ông Đặc biệt, khiông được phủ chúa Trịnh mời ra chữa bệnh cho Trịnh Cán, ông có ghi lại
những điều tận mắt chững kiến trong tác phẩm: Thượng kinh ký sự Tình thế
lịch sử rối ren ở kinh thành Thăng Long được ông mô tả rất sinh động trongphần nói về nạn kiêu binh nổi loạn giết chết quân Huy, sau đó kéo đi cướpbóc của cải vàng bạc, ức hiếp dân lành khắp các phố phường Thăng Long.Trong những bài thơ của ông, người đọc đời sau xót xa cho nhân tình thế thái
và những hậu quả mà sự khủng hoảng của chế độ phong kiến trong buổi chiều
tà đổ xuống những người dân vô tội Đốc đồng Nghệ An Bùi Huy Bích, cũng
để lại nhiều bài thơ cho hậu thế khi ông vào cai quản vùng đất xứ Nghệ cuối
Trang 16thế kỷ XVIII, mà qua đó người đọc có thể hình dung một phần những nổithống khổ của đại bộ phận nhân dân ở lưu vực sông Lam.
La sơn phu tử Nguyễn Thiếp, chán cảnh tranh giành quyền bính ở cungvua phủ chúa, đau lòng vì những nổi khổ của nhân dân, bỏ đất Bắc vào núiNam Hoa (nay thuộc xã Nam Kim, huyện Nam Đàn) ở ẩn Nhưng ở vùng đấtsơn thuỷ hữu tình này tình cảnh dân chúng điêu linh, tiêu điều do đói kém,nạn tham quan ô lại và những cuộc nổi dậy của những người dân chống lạitriều đình cũng chẳng khác gì vùng đất ông sinh ra Trong những trước táccủa ông, người đọc cảm nhận rõ một nỗi lòng day dứt khi thế cuộc đảo điên,vua chẳng ra vua, quan chẳng ra quan Điều này lý giải vì sao, khi NguyễnHuệ ra Bắc, lật đổ chúa Trịnh, có gửi thư mời ông xuống núi, đem tài nănggiúp đời, ông một mực từ chối Cùng tâm trạng như ông là cả một thế hệ tríthức Nho học ở lưu vực sông Lam Nhiều người do tư tưởng trung quân mùquáng, bất hợp tác với Nguyễn Huệ, một số người ở Thạch Hà, Nghi Xuân,Hưng Nguyên, Nam Đàn,… còn tập hợp dân chúng chống lại Tây Sơn Khiloại bỏ xong nhà Trịnh, Nguyễn Huệ trở lại Phú Xuân, Hữu Chỉnh bơ vơ giữađất Bắc Hà chạy về Nghệ An Tại đây, Nguyễn Hữu Chỉnh chiêu tập binh lực,buộc dân tình cung đốn lương thảo có ý làm phản Tây Sơn Nguyễn Huệ raBắc, loại bỏ Hữu Chỉnh, nhưng tình hình Bắc Hà nói chung, Nghệ An nóiriêng chưa yên
Khi hoàng đế Quang Trung ra Bắc để tiêu diệt 29 vạn quân Thanh và
bè lũ Lê Chiêu Thống, có dừng lại ở Nghệ An để tuyển quân Với tinh thầnyêu nước, hàng vạn trai tráng trên vùng đất Nghệ An, Hà Tĩnh đã tình nguyệnlên đường giết giặc Chiến thắng oanh liệt trong mùa xuân Kỷ Dậu 1789 mở
ra một cơ hội mới cho cả dân tộc Riêng Nghệ An, hoàng đế Quang Trung,xuống chiếu cho Hiệp trấn Nguyễn Văn Soạn, cùng La sơn phu tử NguyễnThiếp, chọn vùng đất Vĩnh Yên và Yên Trường để xây dựng Trung đôphượng hoàng thành Công cuộc xây dựng kinh đô mới ở chân núi DũngQuyết, thành phố Vinh ngày nay, đang tiến hành dở dang thì Quang Trung
Trang 17mất Ý định dời đô về Nghệ An không được thực hiện, triều đình Phú Xuântrượt dài trên con đường khủng hoảng, suy vong, bỏ mặc dân chúng Bắc Hàcho đám quan lại Nguyễn Ánh vào Phú Xuân, rồi tiến quân ra Bắc Nhân dânNghệ An, Hà Tĩnh, phải tận mắt chững kiến cảnh trả thù tàn bạo của NguyễnÁnh đối với tất cả những ai tham gia, ủng hộ vương triều Tây Sơn Thậm chí,con cháu họ Hồ ở Hưng Nguyên, Nam Đàn, Quỳnh Lưu, … nhiều người phảilẩn trốn, thay tên đổi họ, mới mong thoát được sự trả thù triệt để đó Chưađược hưởng ân điển của dòng họ Nguyễn Phúc, người dân Nghệ An, Hà Tĩnh
đã phải gánh chịu những hậu quả nặng nề Điều này lý giải vì sao, trongkhoảng 10 năm đầu dưới thời Gia Long, kẻ sĩ xứ Nghệ thờ ơ với thời thế,quan ngại khi hợp tác với Gia Long
Từ những trình bày khái quát trên cho thấy tình hình chính trị xã hội ởBắc Hà nói chung, Nghệ An, Hà Tĩnh nói riêng từ cuối thế kỷ XVIII, đến khiNguyễn Ánh lên ngôi, hết sức rối ren, đầy biến động Người phải gánh chịumọi hậu quả của những biến động đó không ai khác chính là những người dânsống ở làng xã
1.2 Vài nét về tình hình kinh tế ở Nghệ An cuối thế kỷ XVIII
1.2.1 Khái quát tình hình kinh tế nước ta cuối thế kỷ XVIII đến trước năm 1802
Khi chế độ phong kiến, bước vào thời kỳ khủng hoảng suy vong, thìnền kinh tế mà trực tiếp là nông nghiệp chịu sự tác động trực tiếp Nhữngnghiên cứu của: GS Trương Hữu Quýnh, GS Nguyễn Đức Nghinh, PGSNguyễn Phan Quang, PGS Nguyễn Cảnh Minh, PGS Đào Tố Uyên,… về lịch
sử Việt Nam trong giai đoạn này nói chung và nguyên nhân dẫn đến sự bùng
nổ của phong trào nông dân khởi nghĩa cuối thế kỷ XVIII nói riêng cho thấybức tranh kinh tế Đàng ngoài cũng như Đàng Trong không có gì sáng sủa.Trong đó, nạn bao chiếm đất đai của địa chủ phong kiến và tầng lớp quan lại
ở làng xã đã vượt ra ngoài tầm kiểm soát của vua Lê, chúa Trịnh ở Đàngngoài Thất bại của phủ chúa Trịnh trong những năm từ 1740 -1770, khi cố
Trang 18gắng thực thi một số biện pháp nhằm đo đạc lại đất đai, định các loại thuế,…
đã cho thấy điều đó Ở Đàng Trong, quyền thần Trương Phúc Loan, lấn át cảngôi chúa, vơ vét vàng bạc châu báu chất đầy nhà Trong khi đó, tầng lớptham quan ô lại ở làng xã, câu kết với địa chủ phong kiến bao chiếm đất đai,
vơ vét mọi tài sản của dân chúng, đẩy nông dân làng xã vào bước đường cùngbuộc phải nổi dậy khởi nghĩa
Sách: “Lịch sử Việt Nam” tập I, in lần thứ hai năm 1971, trang 320,
321,viết về tình hình nông nghiệp Việt Nam cuối thế kỷ XVIII, như sau:
“Ruộng đất công của làng xã còn tồn tại phổ biến nhưng càng ngày càng bị
thu hẹp trước sự chiếm đoạt của địa chủ, cường hào Số ruộng đất còn lại phần lớn họ Trịnh dùng để ban cấp cho quan lại và quân lính, phần để quân cấp cho nông dân không còn bao nhiêu Chế độ quân điền có nơi chỉ còn tồn tại trên giấy tờ, hoặc có được thực hiện chăng cũng đã mất hết tác dụng tích cực của nó Quân điền trở thành công cụ trong tay giai cấp thống trị để trói buộc nông dân vào ruộng đất, giam hãm họ trong tổ chức thôn xã để bắt họ chịu tô thuế., đi phu, đi lính cho chính quyền phong kiến Chế độ chiếm hữu ruộng đất của công xã bị phá huỷ nghiêm trọng.
Người nông dân đã bị tước đoạt phần ruộng đất tư ít ỏi của mình, lại không được chia ruộng đất công của xã bao nhiêu, nên bị lệ thuộc nặng nề vào địa chủ Trong điều kiện một nền kinh tế nông nghiệp mang tính chất
tự nhiên, kinh tế của nông dân là cơ sở của sản xuất nông nghiệp Nông dân
bị bòn rút đến kiệt quệ, kinh tế nông dân bị phá sản, làm cho toàn bộ sản xuất nông nghiệp bị đình trệ Khắp nơi đồng ruộng bỏ hoang, xóm làng tiêu điều
xơ xác ”.[10,320].
Các tác giả biên soạn bộ : Đại cương lịch sử Việt Nam, tập 1, khi trình
bày về tình hình kinh tế nước ta cuối thế kỷ XVIII, đã đưa ra nhiều dẫnchứng khẳng định sự suy thoái của kinh tế, nhất là kinh tế nông nghiệp trướcnạn chiếm đoạt ruộng đất của địa chủ phong kiến và quan lại, cũng như nạnmất mùa đói kém, dân cư phiêu tán khắp nơi GS Nguyễn Quang Ngọc, khi
Trang 19biên soạn “Tiến trình lịch sử Việt Nam”, đã viết về thực trạng kinh tế nước ta
cuối thế kỷ XVIII là một nền kinh tế kém phát triển cả Đàng Trong lẫn Đàngngoài và ông cho đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự bùng nổ củaphong trào nông dân trên phạm vi cả nước Tác giả Nguyễn Khắc Thuần khi
biên soạn: “Lịch sử Việt Nam từ khởi thuỷ đến 1884” cùng có quan điểm
tương đồng với GS Nguyễn Quang Ngọc khi trtình bày về thực trạng kinh tếnước ta cuối thế kỷ XVIII
PGS Nguyễn Cảnh Minh và các tác giả ở trường Đại học sư phạm 1 Hà
Nội khi biên soạn giáo trình Lịch sử Việt Nam, phần viết về tình hình kinh tế,
chính trị xã hội nước ta thế kỷ XVIII, trên cơ sở trích dẫn các nguồn sử liệu
cũ và tư liệu văn bia đã khẳng định tình hình kinh tế nước ta cuối thế kỷXVIII, trong tình thế lạc hậu, nhất là nền kinh tế nông nghiệp mang tính tựcung tự cấp Tình trạng nông dân ở đồng bằng Bắc bộ và Thanh - Nghệ -Tĩnhbuộc phải lưu tán do mất mùa, đói kém, dịch bệnh… là khá phổ biến
Trở lại với những ghi chép của nhà Bác học Lê Quý Đôn trong cáccông trình của ông khi dến Đàng trong hay những ghi chép của nhà sử họcPhan Huy Chú mà các nhà nghiên cứu sử học về sau thường hay trích dẫntrong các công trình của mình, ta có thể hình dung bức tranh kinh tế lạc hậu,luẩn quẩn khép kín trong vành đai làng xã ở nước ta vào thời điểm chế độphong kiến Việt Nam trượt dài trên con đường khủng hoảng suy vong
Điều đáng lưu ý là trong bối cảnh nền kinh tế nông nghiệp ở Đàng trong
và Đàng ngoài đang rơi vào vòng lạc hậu, thì hoạt động buôn bán thương mại ởkinh thành Thăng Long cũng như ở các cảng thị Đàng ngoài và cả Đàng trong
cũng chịu tác động không nhỏ GS Nguyễn Quang Ngọc, trong Tiến trình lịch
sử Việt Nam ở trang 174 có mô tả hoạt động buôn bán thương mại như sau: “… Lúc này tàu buôn phương Tây hầu như không đến nữa, tàu buôn nước ngoài tham gia vào hoạt động ngoại thương ở Đàng trong chủ yếu chỉ còn thương nhân Hoa kiều Nếu như trong 10 năm cuối thế kỷ XVII số tàu Trung Quốc nối liền quian hệ thương mại giữa Đàng trong với với Nagazaki (Nhật Bản) còn là
Trang 2029 chuyến thì đến 10 năm đầu thế kỷ XVIII rút xuống còn 11 chuyến và 10 năm tiếp theo còn 5 chuyến Đến giữa thế kỷ XVIII, thương cảng Hội an vốn rất sầm uất đã trở nên thưa thớt tàu bè ra vào…”
Hoạt động khai mỏ ở Đàng trong và Đàng ngoài cũng không mấy pháttriển Các ngành nghề thủ công truyền thống như: gốm, dệt, sản xuất chiếu cói,sản xuất giấy… cũng chỉ hoạt động cầm chừng và thu hẹp dần quy mô sản xuất
vì hoạt động buôn bán trao đổi có chiều hướng giảm sút cả các cảng thị, phố thịcũng như hệ thống chợ ở các địa phương “Nông suy bách nghệ bại”, nôngnghiệp đình đốn, đời sống dân chúng khó khăn, chính trị rối ren, khủng hoảng,thì các ngành nghề thủ công truyền thống khó có điều kiện để phát triển
Khi loại bỏ nhà Trịnh, đập tan quân xâm lược Mãn Thanh và bè lũ LêChiêu Thống, Hoàng đế Quang Trung có thực thi một số chính sách tiến bộnhằm khôi phục tình hình kinh tế, chính trị xã hội trên vùng đất mà ông caiquản Trên thực tế, những chính sách đó đã mang lại một số kết quả thiết thực
và nền kinh tế ở Bắc Hà cũng như ở vùng Phú Xuân có những chuyển biếntích cực Đáng tiếc, ở vùng đất do Thái Đức hoàng đế cai quản và vùng GiaĐịnh thì tình hình lại hoàn toàn khác Cuộc chiến liên miên giữa Nguyễn Ánh
và Nguyễn Lữ cùng các bộ tướng Tây Sơn quanh vùng đất Gia Định vào cuốithế kỷ XVIII, ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế Ở vùng đấtNguyễn Nhạc cai quản, tình trạng chiếm hữu đất đai của địa chủ ngày cànggia tăng Khi Quang Trung từ trần, nội bộ Tây Sơn mâu thuẫn sâu sắc, CảnhThịnh không đủ sức giải quyết những đòi hỏi bức thiết đang đặt ra cả về kinh
tế, chính trị, lẫn văn hoá, xã hội Hậu quả là vùng đất Bắc Hà cũ chính trị rốiren, kinh tế trở lại tình trạng lạc hậu với nạn kiêm tính ruộng đất tràn lan củađịa chủ và quan lại Mất mùa đói kém diễn ra liên miên Trong khi đó, từ
1793 trở đi, Nguyễn Ánh huy động binh lực liên tiếp tiến đánh và giành lạiđất đai từ anh em Tây Sơn Kinh tế nông nghiệp cũng như các ngành nghềtiểu thủ công nghiệp, thương mại không có cơ sở để phát triển Thất bại liêntiếp của anh em Tây Sơn và sự thắng thế của Nguyễn Ánh hoàn toàn không
Trang 21tạo ra những tiền đề cho sự phát triển kinh tế của đất nước Khi Nguyễn Ánhvào Phú Xuân rồi sau đó cho các bộ tướng tin cẩn cùng đại quân vượt sôngGianh ra Bắc Hà thì tình hình kinh tế, chính trị xã hội ở Bắc Hà thực sự rốiren Nguyễn Ánh loại bỏ hoàn toàn Tây Sơn chỉ trong một thời gian ngắn,nhưng để khôi phục được tình hình kinh tế, ổn định chính trị trên phạm vi toàn
bộ lãnh thổ lại đặt ra cho dòng họ Nguyễn Phúc muôn vàn khó khăn thử thách
Năm 1803 quan lại Bắc thành tâu: “Ruộng đất… thì đến cuối thời Lê,
bọn cường hào kiêm tính mỗi ngày một quá Nay xin phàm ruộng đất công tư đều dồn cả về sổ dân, ai có tư điền thì để lại 3 phần, còn 7 phần thì giao cho
xã dân quân cấp Lại ở trong số quân cấp thì để lại 2/10 chờ cấp cho dân mới
về sau” hoặc “Từ loạn Tây Sơn bỏ hết luật cũ, dân gian nhiều người đổi ruộng công làm ruộng tư, cũng có kẻ tạ sự việc công mà cầm bán ruộng công…”[10,446].
Hơn nữa, do sổ sách mất mát, “cách ghi chép không được thực”, “dân
xiêu tán nhiều, ruộng đất bị làng bên chiếm đoạt”…
Những ghi chép của sử quan nhà Nguyễn đã phần nào phản ánh bứctranh kinh tế nước ta vào những năm cuối cùng của thế kỷ XVIII Đó cũngchính là một trong những thách thức mà ngay khi ngồi lên ngai vàng vua GiaLong và cả triều đình nhà Nguyễn buộc phải giải quyết
1.2.2 Khái quát về tình hình kinh tế Nghệ An cuối thế kỷ XVIII
Sau khi cuộc chiến Trịnh - Nguyễn kết thúc, sông Gianh trở thành ranhgiới ngăn cách giữa Đàng Trong và Đàng ngoài Như vậy, trên bản đồ lãnhthổ của quốc gia Đại Việt từ nửa sau thế kỷ XVII, trấn Nghệ An trở thànhvùng đất cực Nam mà vua Lê - chúa Trịnh kiểm soát Thay vì thực thi nhữngchính sách tiến bộ như thời Lý - Trần nhằm mang lại sự ổn định kinh tế, chínhtrị xã hội cho vùng đất ở lưu vực sông Lam, từ cuối thế kỷ XVII đến thế kỷXVIII, dường như vua Lê, chúa Trịnh không tiến hành những biện pháp tíchcực để đối phó với tình trạng lũ lụt, hạn hán ở vùng đất Nghệ An Trong khi
đó, cư dân từ Quỳnh Lưu, Diễn Châu đến Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh,
Trang 22thường xuyên phải đối mặt với nạn triều dâng Nhà cửa, thuyền bè thậm chí làtính mạng của họ thường xuyên bị đe doạ Chỉ cần một trận mưa bão kết hợpvới triều dâng là các xóm làng ngư dân cùng toàn bộ nhà cửa, tài sản bị cuốn
ra biển Đối phó với sự khắc nghiệt của biển cả, phần lớn ngư dân lùi sâu vàođất liền để lập làng, định cư Kết quả khảo sát bước đầu của chúng tôi trên địabàn hai huyện Diễn Châu (Nghệ An) và Nghi Xuân (Hà Tĩnh) về lịch sử hìnhthành các làng xã ven biển cho thấy, phần lớn làng xã dọc biển trên địa bànhuyện Diễn Châu và Nghi Xuân vào thế kỷ XVII – XVIII đều lùi khá xa so
với hệ thống làng xã hiện nay Khi biên soạn: “ Địa chí huyện Quỳnh Lưu”
PGS Ninh Viết Giao cũng cho biết thêm về phạm vi địa giới hành chính cáclàng xã ven biển Quỳnh Lưu ở thế kỷ XVII - XVIII cũng có nhiều điểm giốngvới các làng xã ven biển Diễn Châu Nhà nghiên cứu địa phương học Thái
Kim Đỉnh khi công bố công trình: “Làng cổ ở Hà Tĩnh” cũng cho biết địa
giới hành chính của các làng cổ ở huyện Nghi Xuân, huyện Cẩm Xuyên và
Kỳ Anh đều lùi sâu vào đất liền nhằm tránh bão và triều dâng Đời sống kinh
tế của cư dân làm muối ở làng Hộ Độ, hay ngư dân đánh cá ven biển Hà Tĩnhcũng chẳng khác là bao so với ngư dân ở Nghệ An Ngư cụ vẫn là nhữngchiếc thuyền nhỏ mong manh giữa biển cả cùng một ít lưới cước Họ chủ yếuchỉ khai thác những nguồn lợi hải sản ven bờ và quanh quẩn tiêu thụ sảnphẩm ở những chợ nhỏ cách không xa địa bàn cư trú để đổi lấy gạo, đảm bảocái ăn cho gia đình Một số nghề làm mắm, ruốc, như ở làng Vạn phần DiễnChâu cũng không mấy phát triển Phụ nữ trẻ em cày cấy trên những thửaruộng cát chưa nắng đã khô, chưa mưa đã ngập úng, năng suất lúa chỉ khoảng
30 - 40 kg/1sào Người ta phải trồng thêm khoai lang, đậu lạc, vừng để thaythế gạo hoặc đổi gạo Khi khảo sát địa bàn xã Diễn Hùng và xã Diễn Bích ởDiễn Châu, Nghệ An, chúng tôi thu được một số tư liệu cho thấy phần lớn đấtđai ngập nước ở đây chỉ mới được khai phá vào nửa sau thế kỷ XIX đầu thế
kỷ XX, còn trước đó chỉ là những cánh đồng ngập mặn Tình trạng tương tựcũng diễn ra trên địa bàn xã Hưng Hoà thuộc địa phận thành phố Vinh ngày
Trang 23nay Đại bộ phận đồng lác, rừng cây ngập nước, lau sậy… mọc bao quanh địabàn cư trú của một số cư dân đầu tiên đến lập làng ở đây Cho đến thời TựĐức, phần lớn đất đai ở đây vẫn còn để ngập nước, chưa được khai phá đểphát triển nông nghiệp Tóm lại đời sống kinh tế của cư dân ven biển Nghệ
An, Hà Tĩnh cuối thế kỷ XVIII chưa có gì thay đổi so với các thế kỷ trước đó.Bức tranh kinh tế bao trùm là nền kinh tế nông nghiệp truyền thống mang tính
tự cung tự cấp, đất đai hoang hoá chưa được khai phá, nghề đánh cá, làmmuối, làm nước mắm, hay đan lưới đóng thuyền… vẫn được duy trì theophương thức tự ngàn xưa
Khác với cư dân ven biển, cư dân dọc đôi bờ Tả - Hữu sông Lam thuộccác huyện : Hưng Nguyên, Nam Đàn, Thanh Chương, Đô Lương, Anh Sơn,Con Cuông,… (Nghệ An), Đức Thọ, Hương Sơn, Hương Khê, Can Lộc,…(Hà Tĩnh) lại phải quanh năm đối mặt với nạn lũ lụt do sông Lam và các sôngnhánh của nó gây nên Vua Lê, chúa Trịnh không có chính sách đắp đê trịthuỷ dọc sông Lam do đó, cư dân sống dọc đôi bờ sông Lam thường xuyênphải chịu cảnh lũ lụt, nhà cửa trâu bò, hoa màu có thể bị lũ lụt cuốn trôi bất cứlúc nào Kết quả khảo sát từ chân núi Dũng Quyết thuộc địa bàn thành phốVinh ngày nay dọc theo các xã Hưng Khánh, Hưng Lam, Hưng Phú, HưngXuân (huyện Hưng Nguyên, Nghệ An), cho thấy ở thế kỷ XVIII, cư dân ở đâychỉ cư trú trên những vùng đất cao ít khi bị ngập lụt Còn phần lớn diện tíchđất đai ở đây chỉ có thể gieo trồng một vụ trong năm Một diện tích lớn bịngập úng quanh năm là nơi cho cỏ lác, lau sậy mọc um tùm Người dân có thểđánh bắt các loại cá, tôm,…còn như việc khai hoang để mở rộng diện tích
trồng lúa thì ít được tiến hành vì: “ có làm mà chẳng có ăn”, bởi chỉ cần một
trận lũ lụt là mọi công sức bị cuốn theo dòng nước Cuối thế kỷ XVIII, sôngLam có sự đổi dòng, chảy thẳng vào chân núi Thành làm sạt lở nhiều đoạn,cuốn trôi nhiều làng mạc Dân cư bỏ đi phiêu tán khắp nơi Đây là một trongnhững lý do, để La sơn phu tử Nguyễn Thiếp không chọn Lam Thành - Phù
Trang 24Thạch làm nơi xây dựng kinh đô mới theo yêu cầu của Bắc Bình VươngNguyễn Huệ - Hoàng đế Quang Trung.
Khi được ông tộc trưởng họ Bạch, họ Trần và Họ Nguyễn ở xã HưngPhú, huyện Hưng Nguyên cho tiếp cận Gia phả của dòng họ chúng tôi cóthêm một số tư liệu khẳng định về tình trạng lũ lụt vào cuối thế kỷ XVIII,cuốn trôi nhà cửa, buộc cư dân ven sông Lam phải lưu tán đến những vùngđất cao hơn để định cư Trong tình trạng lũ lụt thường xuyên xẩy ra, vua Lê -chúa Trịnh bỏ mặc cho cư dân ven sông Lam đối phó với trời đất thì rõ ràngnền kinh tế nông nghiệp ở đây hoàn toàn trông chờ vào yếu tố: “Ơn trời mưanắng phải thì” mới có được hạt gạo
Khảo sát của chúng tôi trên địa bàn các huyện Nam Đàn, ThanhChương, Hưng Nguyên, Nghi Lộc, kết hợp với nguồn sử liệu cũ cho thấy, ởcác làng xã thuộc các huyện đồng bằng Nghệ An và Hà Tĩnh vào giai đoạnlịch sử đầy biến động đó có một số ngành nghề tiểu thủ công nghiệp với quy
mô nhỏ mang tính gia đình, sản xuất những loại hàng hoá như: Chiếu cói, đanlát các loại thúng mủng dần sàng, nong nia, làm chỏng tre, mươn tre, ghế ngồibằng tre,… nghề mộc, nghề rèn,… Tiêu biểu có nghề trồng và chế biến thuốclào ở Diễn Châu, Quỳnh Lưu, nghề rèn ở làng Nho Lâm (Diễn Châu), TrungLương (Đức Thọ), nghề mộc ở Đức Bình (Đức Thọ), nghề đóng thuyền ở LộcChâu (Nghi Lộc), Hoành Sơn (Nam Đàn), Đức Thọ (Hà Tĩnh),… Tuy nhiên
tư tưởng trọng nông đã kìm hãm sự phát triển của các ngành nghề thủ côngtruyền thống Sản phẩm chủ yếu để phục vụ cho cư dân trong vùng Một sốsản phẩm được đưa đi tiêu thụ ở chợ Phủ, chợ Trấn Nhưng các nghề thủ côngtruyền thống không vượt ra khỏi luỹ tre làng người ta chỉ tranh thủ lúc nôngnhàn để làm thêm Kinh tế nông nghiệp tự cung tự cấp cột chặt nông dân làng
xã Nghệ An, Hà Tĩnh trong luỹ tre làng
Các huyện miền núi mà các nhà chép sử trước đây gọi là các châu Ki
Mi, tình trạng kinh tế hết sức lạc hậu Chính quyền Lê - Trịnh dựa vào cácdòng họ có thế lực người Thái ở Quỳ Châu, Quế Phong,… để quản lý đất đai
Trang 25ở đây Các dòng họ Lang, Lương, Vi,… trở thành những người chiếm hữu đấtđai và buộc cư dân định cư trên vùng đất này thực hiện những luật tục màchính họ đặt ra Kết quả nghiên cứu của các nhà Dân tộc học như : CầmTrọng, Vi Văn An, La Quán Miên, Nguyễn Đình Lộc,… gần đây về các dântộc thiểu số ở miền Tây Nghệ An đã cho thấy cuối thế kỷ XVIII, dòng di cưcủa người Thái, người Khơ Mú,… vào Nghệ An ngày càng nhiều Trong quátrình định cư trên địa bàn miền núi Nghệ An, họ buộc phải chấp nhận nhữngluật tục khắt khe mà cacvs chúa đất ở đây đặt ra như: nộp thuế, thực hiệnnghĩa vụ lao dịch,… Nền kinh tế nương rẫy chiếm địa vị độc tôn trong đờisống kinh tế của họ Cuộc sống du canh, du cư quanh năm kéo theo sự đóinghèo lạc hậu đến khắp các bản mường Chính quyền Lê - Trịnh hoàn toàntrông cậy vào tầng lớp chúa đất, lang đạo, phìa tạo Điều này giải thích vì saokhi Lê Duy Mật chạy vào Nghệ An và cả Nguyễn Hữu Cầu đều nhận được sựgiúp đỡ của đông đảo cư dân nghèo đói cư trú trong các bản mường ở miềnTây Nghệ An.
Trong những bài thơ của đốc đồng Nghệ An Bùi Huy Bích, Tồn traiBùi Dương Lịch, La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp có đề cập đến hoạt động buônbán ở cửa Đan Nhai (Nghi Xuân- Hà Tĩnh), Hội Thống (Nghi Lộc) và LamThành - Phù Thạch Theo ghi chép của Bùi Dương Lịch, đến cuối thế kỷXVIII, Lam Thành - Phù Thạch vẫn giữ vai trò là lỵ sở của trấn Nghệ An và
là một trong những trung tâm buôn bán thương mại khá sầm uất ở Nghệ An,
Ở đây có cả thuyền buôn đến từ phương Tây, thuyền buôn của Hoa kiều, Ấnkiều Sản phẩm trao đổi chủ yếu là các lâm đặc sản, tơ tằm, sừng tê, ngà voi,
da lông thú, sa nhân mộc nhĩ,… thuốc bắc, vải vóc tơ lụa Cuối thế kỷ XVIII,khi chính quyền Tây Sơn đứng trước nguy cơ sụp đổ hoàn toàn thì hoạt độngbuôn bán thương mại ở Lam Thành - Phù Thạch cũng lụi tàn và chấm dứt hẳnvào đầu thế kỷ XIX
Ngoài Lam Thành - Phù Thạch, hệ thống chợ làng, chợ huyện, chợ phủ,chợ trấn, góp phần tích cực trong việc giải quyết nhu cầu trao đổi hàng hoá
Trang 26của các tầng lớp cư dân ở lưu vực sông Lam Kết quả khảo sát của chúng tôitrên địa bàn Nghệ An cho thấy vào thế kỷ XVIII - XIX, mỗi huyện đồng bằng
có từ 6 - 8 chợ, họp chéo phiên Có chợ họp vào buổi sáng mai hoặc buổichiều tối thường gọi là chợ Hôm, chợ Mai, có chợ họp mỗi tháng 7 – 9phiên Ngoài các chợ làng, xã họp luân phiên, mỗi phủ có một chợ lớn họpthường xuyên Đáng chú ý là trên địa bàn Nghệ An, Hà Tĩnh có một số chợbán trâu bò như: Chợ Giát (Quỳnh Lưu), Chợ Si (Diễn Châu), chợ Cồn(Thanh Chương), Chợ Phủ (Hà Tĩnh),… Tại các chợ này vào những ngày chợphiên, lái buôn đưa trâu bò khắp nơi đến tiêu thụ Hoạt động buôn bán trâu
bò góp phần giải quyết sức kéo cho việc duy trì nền nông nghiệp truyềnthống Trong hoạt động buôn bán thương mại trên địa bàn Nghệ An ở thế kỷXVIII, đáng chú ý là sự hiện diện của tầng lớp thương nhân Hoa Kiều ở hầukhắp các chợ Phủ, huyện từ đồng bằng đến miền núi Họ buôn bán vải vóc, tơlụa, thuốc Bắc và mua các loại da, lông thú, lâm đặc sản Ở Lam Thành - PhùThạch có cả một phố của người Hoa Kiều chuyên buôn bán các loại hàng hoá.Khi lỵ sở Nghệ An chuyển về Vĩnh Yên và Yên Trường thì đại bộ phận Hoakiều ở đây cũng chuyển về Vinh, kết thúc một thời kỳ buôn bán kinh doanhthịnh đạt của thương nhân Hoa Kiều ở lưu vực sông Lam từ thế kỷ XV - XVIII
Giống như nhiều trấn thành khác, cho đến hết thế kỷ XVIII, ở Nghệ Anchưa hình thành một tầng lớp thương nhân chuyên hoạt động kinh doanhbuôn bán Hơn nữa, thương nhân các nước Hà Lan, Anh, Pháp,… có đến HộiThống, Lam Thành - Phù Thạch để buôn bán, trao đổi nhưng không rõ vì lý
do nào cho đến cuối thế kỷ XVIII, ngoài hoạt động truyền giáo khá sôi nổi vàliên tục trên địa bàn Nghệ An, Hà Tĩnh, thương nhân phương Tây không mấyquan tâm đến vùng đất này Kết quả là cho đến khi Nguyễn Ánh thu phụctoàn bộ vùng đất Bắc Hà, trên địa bàn Nghệ - Tĩnh chưa có bất cứ một thươngđiếm nào của các thương nhân phương Tây
Trang 27Tiểu kết chương 1:
Thế kỷ XVIII, chế độ phong kiến Việt Nam trượt dài trên con đườngkhủng hoảng suy vong Phong trào nông dân bùng nổ khắp cả Đàng trong lẫnĐàng ngoài mà đỉnh cao là phong trào nông dân Tây Sơn Dưới sự lãnh đạocủa Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ, phong trào nông dân Tây Sơn
đã nhanh chóng lật đổ nền thống trị của dòng họ Nguyễn ở Đàng Trong, đậptan quân Xiêm, loại bỏ nhà Trịnh và sau đó giành thằng lợi oanh liệt trong mùaxuân Kỷ Dậu 1789, quét sạch 29 vạn quân Thanh và bè lũ Lê Chiêu Thống
Ánh hào quang của phong trào nông dân Tây Sơn vừa rực sáng thì sựphân hoá, mâu thuẫn trong nội bộ Tây Sơn đã đưa lịch sử tiếp tục rơi vàovòng luẩn quẩn Nguyễn Ánh loại bỏ Tây Sơn, thu phục Bắc Hà kết thúc mộtthời kỳ lịch sử đầy bi kịch của dân tộc
Những biến động chính trị của trtiều đình Lê - Trịnh, Tây Sơn in dấuđậm nét trên đất Nghệ An Khởi nghĩa nông dân chống Lê - Trịnh, Nho sĩ xứNghệ buổi đầu chưa hợp tác với Tây Sơn, sau đó bắt tay hợp tác với Tây Sơn,Nguyễn Ánh loại bỏ Tây Sơn, Nhân dân Nghệ An, Hà Tĩnh chứng kiến baocảnh trả thù tàn bạo của Nguyễn Ánh với những người đã giúp Tây Sơn haycon cháu họ Hồ Những biến động dồn dập của tình hình chính trị xã hội cuốithế kỷ XVIII, tác động toàn diện đến đời sống kinh tế của cả nước
Trấn Nghệ An cũng như những trấn thành khác của Bắc Hà chịu sựquản lý của triều đình Lê - Trịnh, Tây Sơn, nhưng trước những biến đổi dồndập của chế độ phong kiến phân quyền đang trên đà khủng hoảng hay sự phânhoá sâu sắc trong nội bộ Tây Sơn không có điều kiện bền vững cho sự tồn tại
và phát triển củat nền kinh tế tiểu nông truyền thống Bức tranh kinh tế ởNghệ An cuối thế kỷ XVIII cho đến khi Nguyễn Ánh lên ngôi phản ánh mộtcách khá đầy đủ tình cảnh của người dân trong chế độ phong kiến suy vi, sụp
đổ, liên tiếp thay ngôi, đổi chủ Chính trị, xã hội và nhất là kinh tế ở trấnNghệ An nói riêng cả nước nói chung đặt ra nhoều vấn đề buộc các vị vua đầutriều nhà Nguyễn phải giải quyết Từ năm 1802, Gia Long bắt tay trực tiếp
Trang 28giải quyết những yêu cầu cấp thiết đó, những những chính sách về kinh tế,chính trị xã hội, văn hoá, giáo dục, tôn giáo,… mà Gia Long, Minh Mạngthực thi trên lãnh thổ vương quốc Đại Nam nói chung, trấn, tỉnh Nghệ An nóiriêng trong 40 năm đầu thế kỷ XIX cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khenchê khác nhau về tính hiệu quả của nó.
Trang 29
Chương 2 TÌNH HÌNH KINH TẾ NGHỆ AN TỪ NĂM 1802 ĐẾN NĂM 1840
2.1 Khái quát tình hình kinh tế nước ta đầu thế kỷ XIX
Nhà Nguyễn là triều đại phong kiến cuối cùng và rất quan trọng tronglịch sử Việt Nam Đối với nhà Nguyễn, giới học thuật có tranh luận khácnhau Trong những năm đầu khi nhà Nguyễn mới lập ra, về mặt kinh tế có haiđiều đáng khen: một là thi hành chính sách nhượng bộ nghỉ ngơi dưỡng sức,xây dựng đồn điền và doanh điền, phục hồi và phát triển nông nghiệp; hai làthiết lập quan hệ bang giao hòa mục hữu nghị với Trung Quốc, phát triểnquan hệ kinh tế thương mại giữa hai nước Trung -Việt
2.1.1 Vài nét về tình hình nông nghiệp ở nước ta đầu thế kỷ XIX
Trong nửa đầu thế kỷ XIX, xã hội nhà Nguyễn vẫn lấy nông nghiệplàm cơ sở, nông dân chiếm phần lớn dân số xã hội, ruộng đất là tư liệu sảnxuất chính của nông nghiệp Do nội chiến liên tiếp trong thời kỳ Nam Bắcchia cắt và cuộc chiến tranh đánh dẹp Chiêm Thành, nhà Nguyễn mới lập ra
đã gặp phải những khó khăn nặng nề là nền kinh tế bị phá hoại, nông nghiệp
bị suy sụp, theo Đại Nam thực lục, từ miền Nam đến miền Bắc, ở khắp nơiViệt Nam, vì “lâu năm binh hỏa, dân lực tiêu hao”, “thuế phiên dịch nặng”,
“nhiều người lưu tán”, “ruộng hoang vu” Để hàn gắn vết thương chiến tranh,sau khi dựng nước, Gia Long, Minh Mạng, đã thực hành một loạt chính sách
để phục hồi và phát triển kinh tế xã hội, trong đó quan trọng bậc nhất là chínhsách nông nghiệp:
1/ Chỉnh lý quy định lệ thuế, giảm nhẹ gánh nặng cho dân chúng Saukhi làm chủ được miền Bắc, Gia Long hạ lệnh miễn thuế một năm cho dânchúng Nhà Nguyễn đã đặt lại số đinh, chỉnh lý quy định lệ thuế, thực hànhthuế điền và thuế đinh lấy địa tô hiện vật làm chính và kết hợp với địa tô tiền
tệ Và quy định điều lệ giảm thuế: nếu gặp tai hại thì có thể giảm thuế theo
Trang 30tình hình cụ thể, nếu bị tổn thất toàn bộ thì có thể, nếu bị tổn thất toàn bộ thì
có thể được miễn thuế
2/ Cấm mua ruộng công, hạn chế thôn tính ruộng đất, năm Gia Long 2(1803) đã ban hành điều lệ cấm mua bán ruộng công, đất công, trừ phi khi nàothôn xã cần dùng chung, mới cho phép có ruộng, nhưng phải trả lại trong thờigian ba năm Nếu quá hạn không trả thì sẽ bị tội
Năm 1804, Gia Long ban hành phép quân điền, quy định cứ ba nămchia ruộng công một lần Năm 1839, triều đình lại ban lệnh sung công mộtnửa số ruộng đất tư, đem chia cho nông dân Tuy địa chủ cường hào tiếp tụccưỡng chiếm ruộng đất, nhưng những giải pháp này đã tỏ rõ những năm đầutriều đình Nguyễn có ý đồ hạn chế tình trạng thôn tính ruộng đất ngày càngnghiêm trọng ở làng xã Mặt khác, thông qua việc thực thi chính sách quânđiền và các chính sách khác về ruộng đất, Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị,muốn từng bước củng cố vương quyền, vương pháp của dòng họ NguyễnPhúc trên phạm vi cả nước và khẳng định quyền sở hữu tuyệt đối về đất đaicủa nhà vua
3/ Chiêu an lưu dân, khai hoang lập đồn điền Trước khi lập quốc,Nguyễn Ánh đã “hạ lệnh khuyến nông” ở vùng Gia Định, khuyên bảo nhândân và quân sĩ khai hoang cày cấy, đồng thời ban trâu bò cày và nông cụ choquân dân khai khẩn đất hoang Tháng 5 Gia Long năm thứ 4 (1805), ban lệnhcho lưu dân ở các nơi phía Bắc Nghệ An về làng “lĩnh trưng ruộng đất”, quiđịnh phàm đất hoang vô chủ trước Gia Long nguyên niên thì không do quân sĩcày cấy nữa, lưu dân có thể “hồi phục quản nghiệp”, và được miễn thuế khóabinh dịch ba năm Những ruộng đất hoang mà lưu dân chưa hồi phục thì chophép nông dân khác tạm cày bừa và trồng trọt
Trong những năm đầu, nhà Nguyễn đã lập đồn điền ở nhiều nơi nhất là
ở Nam Kỳ và mấy tỉnh cực nam Trung Kỳ Lực lượng đồn điền bao gồmnhiều loại: binh sĩ, người bị lưu đầy, dân nghèo Việt hay Hoa, nhiều đồn điềnsau khi khai phá xong thì được chuyển thành làng xã, ruộng đất do xã quản và
Trang 31nộp thuế cho nhà nước Đợt xây dựng đồn điền quy mô nhất là do Nguyễn TriPhương - bấy giờ làm kinh lược sứ Nam Kỳ - tổ chức vào các năm 1853-
1854 Kết quả lập được 124 ấp phân phối ở cả 6 tỉnh
Vào đời Minh Mạng, năm 1828, Tham tán quân vụ Bắc Thành làNguyễn Công Trứ đề xuất một hình thức khai hoang mới - doanh điền Đây làmột hình thức có sự góp vốn ban đầu của nhà nước dưới sự chỉ đạo của mộtquan chức nhà nước, nhân dân cùng nhau khai hoang Ruộng đất sau khi khaihoang sẽ được phân phối cho những người có công Nguyễn Công Trứ được bổnhiệm làm Doanh điền sứ, đã chiêu mộ dân nghèo tổ chức nhiều đợt khaihoang lập làng lớn ở ven biển Bắc Kỳ, khai khẩn đất hoang 409.900 mẫu với4.190 đinh ở huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình, huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình vàhai huyện tỉnh Nam Hà Hình thức doanh điền còn được mở rộng ra các tỉnhphía Nam Triều Nguyễn còn khuyến khích nhân dân tự động tổ chức khaihoang theo nhiều phương thức khác nhau, nhờ đó mà tổng diện tích ruộng đấtthực trưng bày ngày càng tăng lên, đến năm 1847 đã đạt 4.273.013 mẫu
4/ Khởi công xây dựng thủy lợi, nạo vét khơi thông đường sông Lâunăm chiến tranh, thủy lợi không được tu sửa, đường sông tắc nghẽn, tạo ranạn lụt, đe dọa sự phát triển của nông nghiệp Nhà Nguyễn coi trọng côngcuộc trị thủy và thủy lợi Năm 1803, Bắc Kỳ xảy ra một nạn lụt lớn, Gia Longđược chứng kiến sự nguy hại của nạn lụt, thấy rõ quan hệ giữa công tác thủylợi với nông nghiệp Gia Long lập tức ban dụ hỏi về vấn đề đê: “Đắp đê và bỏ
đê, cách nào lợi, cách nào hại?” Triều đình đã nhiều lần cấp kinh phí cho địaphương làm việc này, mỗi lần từ 7-9 vạn quan tiền Gia Long từng nhiều lần
đi thị sát địa phương, hạ lệnh nạo vét đường sông, khởi công xây dựng thủylợi Tháng 11 năm Gia Long 16, có một đoạn sông của sông Thụy nằm ở thịtrấn Vĩnh Thanh tỉnh Gia Định “nước nhỏ bùn ứ, cỏ cây tắc ngẽn, tàu thuyềnkhông thể qua được”, nhà nước quyết định nạo vét, chỉ một tháng đã xong,dân chúng các dân tộc ở đấy được hưởng lợi
Trang 32Trong thời Minh Mạng cũng đã 14 lần cấp kinh phí, tiền, gạo cho việcsửa đắp đê điều, đào kênh, sông Năm 1828, Minh Mạng cho thành lập Nha
đê chính, phụ trách công tác thủy lợi Năm 1833, Minh Mạng bỏ nha đêchính, giao cho mọi việc đê diều, thủy lợi cho các tỉnh với bản điều lệ chốnglụt 4 điểm, chia đê làm hai loại: Đê công ở các sông lớn do nhà nước quản lí,
đê tư ở các sông nhánh do địa phương quản lí Làng xã cũng góp phần vàoviệc sửa đắp đê điều, phòng lụt lội Tuy trong thời triều Nguyễn, lụt lội, vỡ đêvẫn liên tiếp xảy ra, nhất là ở các vùng ven biển dễ bị mưa bão, năm náo cũngxảy ra nạn lụt nạn bão, nhưng thành tích trị thủy chống lụt của triều đình nhàNguyễn và nhân dân các nơi lúc bấy giờ vẫn đáng khen ngợi
5/ Xây dựng đường sá, phát triển công nghiệp, đặc biệt là khai mỏ.Trong những năm đầu, để phat triển giao thông, nhà Nguyễn đã dựng lên hệthống liên lạc, trạm dịch từ kinh đô Huế đến các tỉnh Từ Huế đến Gia Định
xa hơn một nghìn cây số chỉ cần 9 đến 13 ngày; từ Huế đến Hà Nội xa hơn
650 cây số chỉ cần 4 - 5 ngày Sự phát triển của giao thông có lợi cho việcthúc đẩy sự phát triển của thị trường và công thương nghiệp trong nước Đểbảo hộ ngành giao thông vận tải có liên quan đến công thương nghiêp, triềuđình đặt điều lệ yêu cầu thuần túy các nơi phải “thu thuế theo lệ”, không được
“thu quá mức”, không được “thương hại nhân dân” Tháng 9 năm Gia Long
11 năm 1813, triều đình ban hành “Điều lệ bến đò Bắc Thành, Thanh Hóa,Nghệ An”, thống nhất quy định các nơi trên đặt bến đò, lập tiêu chuẩn thuthuế thống nhất, nghiêm cấm “Trưng nối” Nếu phát hiện ai thu gấp đôi hoặclàm khó dễ thì sẽ bị bắt quan Điều này đã ức chế được hiện tượng sưu caothuế nặng trên một mức độ nào đó.[52,333]
Nhà Nguyễn coi trọng công nghiêp khai mỏ, ngành khai thác mỏ củacác nơi phát triển khá nhanh, nảy nở phương thức sản xuất mới Trong cảnước có 139 mỏ, trong đó có 39 mỏ vàng, 32 mỏ sắt, 15 mỏ bạc, 9 mỏ đồng
Để khuyến khích khai mỏ, Gia Long đã áp dụng những biện pháp như miễngiảm thuế của chủ mỏ và sưu dịch cửa thợ mỏ Lúc bấy giờ loại mỏ do nhà
Trang 33nước trực tiếp kinh doanh ra, còn có loại mỏ do thương nhân Hoa kiều lĩnhtrưng nộp thuế hàng năm, nhân công phân lớn là Hoa kiều, có trình độ chuyênmôn Việc khai thác được tổ chức theo công đoạn, mang tính chất tư bản chủnghĩa Loại mỏ do thổ tù thiểu số lĩnh trưng co quy mô sản xuất lớn nhưngphương thức khai thác lạc hậu Loại mỏ do người Việt lĩnh trưng có số lượngkhông nhiều, cũng là tư do thuê nhân công khai thác.
Trong những năm đầu triều Nguyễn, các biện pháp nghỉ ngơi dưỡngsức, giảm nhẹ thuế thu, khuyến khích khẩn hoang, lập đồn điền, doanh điền,xây dựng đường sá, phát triển công nghiệp, đặc biệt là khai mỏ có lợi cho sựphát triển của kinh tế xã hội, và đã dành được hiệu quả xã hội nhât định Quanhững năm từ Gia Long đến Minh Mạng, ruộng đất được khai phá, số dântăng thêm, nông nghiệp phục hồi, công thương nghiêp cũng có sự phát triểnnhất định, xã hội nhà Nguyễn tỏ ra cảnh tượng hưng thịnh, nhất là vùng Nam
kỳ được khai thác ngày càng phồn thịnh dưới sự khai phá của nhân dân cácdân tộc [52,336]
Năm 1803, Gia Long cho tiến hành một đợt đo đạc rung đất lớn, lập
“địa bạ” các xã Trải qua nhiều lần làm đi làm lại, năm 20, bộ hộ chính thứcbáo cáo: tổng diện tích ruộng đất của cả nước là 3.076.300 mẫu và 26.750khoảnh Thời Minh Mạng, sau nhiều lần lập thêm địa bạ các xã chưa làm vàđặc biệt sau đợt đo đạc ruộng đất Nam kì năm 1836, bộ hộ đã cho con số(1840): tổng diện tích ruộng đất thực canh là 4.036.892 mẫu, trong đó tổngdiện tích ruộng là 3.396.584 mẫu công tư, trong số ruộng này có 2.816.221mẫu ruộng tư và 580.363 mẫu ruộng công (tức 17%) Không chỉ ở Nam kì córất ít ruộng công mà ở bắc kì, trải qua nhiều thế kỉ biến chuyển, nhiều xã hoặckhông có hoặc rất ít ruộng công tất nhiên, giờ đây số địa chủ rất lớn khôngcòn nữa nhưng hàng loạt nông dân không có ruộng đất hoặc phiêu tán hoặctrông chờ vào khẩu phần ruộng công mà ruộng công ở nhiều xã hoặc khôngcòn hoặc còn lại quá ít Không dám thực hiện đề nghị của quan lại bắc thành,
Trang 34nhưng lại không thể xoá bỏ ruộng đất công làng xã, Gia Long, Minh Mạngbuộc phải tìm giải pháp trong chế độ quân điền.
Năm 1804, Gia Long ban hành phép quân điền, theo đó tất cả mọi ngườiđều được chia ruộng công ở xã, trừ các quý tộc vương tôn được cấp 18 phầnquan lại nhất phẩm được cấp 15 phần, cứ tuần tự hạ mức cho đến dân nghèođược 3 phần Không những thế, theo lệ, ruộng đất được chia trước cho cácquan chức có phẩm hàm, sau đến lính và cuối cùng mới đến xã dân
Năm 1831, Minh Mạng cho nhắc lại nguyên tắc nói trên Nhận thấyruộng đất công quá ít ỏi, “các quan viên không cứ chức phẩm cao thấp đềuxin thôi dự cấp”, năm 1839 Minh Mạng đành chấp nhận đề nghị đó, chỉ “gia
ân chiếu lệ chia cấp ruộng đất khẩu phần cho… các viên đã hưu trí” Tiếp đó,đến năm 1840, một lần nữa Minh Mạng sửa lại phép chia ruộng, cho tất cảmọi người đều được hưởng một phần như nhau, riêng lão nhiêu, tàn tật được1/2 phần, lương điền của lính không thay đổi
Vào cuối đời Minh Mạng, chế độ quân điền cũng được đưa vào Nam kìnhưng không được bao nhiêu
Chính sách quân điền không có tác dụng đáng kể vì làng nào làm theotục lệ làng ấy, dân nghèo vẫn không có ruộng đất Đặc biệt là tình hình ở BìnhĐịnh Theo báo cáo của tổng đốc bình - phú là Vũ Xuân Cẩn năm 1838, ở đâyruộng công chỉ có trên 5000 mẫu, ruộng tư đến 17000 mẫu, mà ruộng tư thìbọn hào phú chiếm cả, người nghèo không nhờ cậy gì Sự thực theo thượngthư bộ hộ Hà Duy Phiên, ở đây ruộng công là 6-7000 mẫu, ruộng tư hơn
70000 mẫu, mà “nhà hào phú kiêm tính đến 1-200 mẫu, người nghèo khôngmột thước, một tấc đến nỗi phải làm đầy tớ cho người” Do đó, Vũ Xuân Cẩn
đã đề nghị “phàm ruộng tư, định hạn là 5 mẫu, ngoài ra lấy làm ruộng công
cả, chia cấp cho binh dân để làm ruộng lương, ruộng khẩu phần” Ban đầuMinh Mạng không chấp nhận, sau do thực tế yêu cầu, phải ban lệnh sungcông một nửa số ruộng đất tư, đem chia cho dân theo phép quân điền Kếtquả, theo lời tâu của Thượng thư bộ hình Đặng Văn Thiêm với Tự Đức: “…
Trang 35Lúc trước định lệ quân điền cứ 10 mẫu thì 5 mẫu làm công, 5 mẫu làm tư.Nhưng ruộng công màu mỡ thì cường hào cưỡng chiếm, còn thừa chỗ nào thìhương lí bao chiếm, dân chỉ được phân xương xẩu mà thôi” và khi Tự Đứchỏi Hà Duy Phiên có nên trả lại ruộng cho địa chủ Bình Định không, thì DuyPhiên cho rằng “tăng giảm thêm bớt không bao nhiêu mà lại sinh ra việc
phiền phức bối rối”.[10,144].
Một trong những phương thức quen thuộc nhằm mở rộng ruộng đất củanhà Nguyễn là lập đồn điền khẩn hoang và khuyến khích nhân dân khaihoang, phục hoá Vấn đề càng trở nên cấp bách hơn là ruộng đất bỏ hoangtăng giảm thất thường ngay từ những năm 1802, 1803, Gia Long đã nhiều lần
hạ lệnh cho quan lại khuyến khích nhân dân, quân sĩ phục hoá, thế nhưngnhăm 1806, theo báo cáo của quan lại Bắc thành, nhân dân tiếp tục phiêu tánđến hơn 370 thôn xã Năm 1826 theo quan lại Bắc thành dâng sớ về triều tâu
13 huyện trong hạt trấn Hải Dương, nhân dân vì đói phiêu tán đến 108 xãthôn, ruộng bỏ hoang hoá đã lên đến 1.314.927 mẫu
Đồn điền được thiết lập ở nhiều nơi, nhất là ở Nam Kì và các tỉnh cựcnam Trung kì Lực lượng đồn điền bao gồm nhiều loại: binh sĩ, người bị lưuđày dân nghèo việt hay hoa Nhiều đồn điền sau khi khai phá xong thì đượcchuyển thành làng xã, ruộng đất do xã quản và nộp thuế Đợt xây dựng đồnđiền quy mô nhất là do Nguyễn Tri Phương -bấy giờ làm Kinh lược sứ Nam
Kì - tổ chức vào các năm 1853 - 1854 kết quả lập được 21 cơ với 124 ấpphân phối ở cả 6 tỉnh Tuy nhiên, ruộng đất khai phá được cũng không nhiều
Năm 1828, theo đề xuất của Tham tán quân vụ Bắc thành là NguyễnCông Trứ, một hình thức khai hoang mới ra đời: hình thức doanh điền Đây làmột hình thức kết hợp giữa nhà nước và nhân dân trong khai hoang, theo đódưới sự chỉ đạo của một quan chức nhà nước và có sự góp vốn ban đầu củanhà nước, nhân dân cùng nhau khai hoang ruộng đất sau khi khai hoang sẽđược phân phối cho những người có công tuỳ theo thời điểm cho phép Được
sự đồng ý của Minh Mạng, doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ đã tổ chức nhiều
Trang 36đợt khai hoang lập làng lớn, trong đó lớn nhất là việc thành lập hai huyệnmới: Tiền Hải (Thái Bình) với 18.970 mẫu 2350 đinh; Kim Sơn (Ninh Bình)với 14.620 mẫu và 1260 đinh Đồng thời ở đây xuất hiện hai hình thức tư điềnthế nghiệp và tư điền quân cấp Hình thức doanh điền được mở rộng ra cáctỉnh phía nam, diện tích ruộng đất tăng thêm đáng kể.
Ngoài ra, triều Nguyễn còn khuyến khích nhân dân tự động tổ chứckhai hoang theo nhiều phương thức khác nhau, kết hợp với việc tích cực phụchoá có lẽ nhờ đó mà tổng diện tích ruộng đất thực trưng ngày càng tăng lên:năm 1847 đã là 4.273.013 mẫu
Công tác trị thuỷ và thuỷ lợi là những việc làm xuyên suốt thờiNguyễn Mặc dầu ở miền Trung cũng có nhiều lần nước lũ dâng tràn, cuốntrôi nhà cửa, nhưng có lẽ năm 1803, lần đầu tiên Gia Long được chứng kiếnmột nạn lụt lớn do vỡ đê Bắc thành gây ra Thấy rõ mỗi quan hệ giữa công tác
thuỷ lợi và nông nghiệp, Gia Long lập tức ban dụ hỏi về vấn đề đê: “Bọn
ngươi, người thì sinh ở nơi đó, người thì làm việc ở nơi đó, vậy đắp đê và bỏ
đê, cách nào lợi, cách nào hại, cho được bày tỏ ý kiến, lời nói mà có thể thực hành sẽ được nêu thưởng” Cuộc thảo luận về đê, đắp đê nói riêng ở thời Gia
Long, nhà nước đã 11 lần cấp kinh phí cho địa phương làm việc này, mỗi lần
từ 7 - 9 vạn quan tiền Hơn 47 km đê được tu sửa, nhưng nạn vỡ đê lụt lội vẫndiễn ra năm 1883, Minh Mạng lại hiểu dụ các quan lại kiểm đê sông đượcbền vững mãi mãi Trong thời gian trị vì, Minh Mạng cũng đã 14 lần cấp kinhphí (tiền, gạo) cho việc sửa đắp đê điều điều ở bắc thành Năm 1828 theo đềnghị của các quan, Minh Mạng cho thành lập Nha đê chính gồm nhiều quanchức và thơ lại, phụ trách công tác thuỷ lợi Năm 1883, Minh Mạng bỏ nha đêchính, giao mọi việc cho tỉnh với bản điều lệ chống lụt 4 điểm Cùng với sựhình thành của các cơ quan, viên chức phụ trách thuỷ lợi, nhà nước chia đêlàm hai loại: Đê công ở các sông lớn do nhà nước quản lí, đê tư ở các sôngnhánh do địa phương quản lí Làng xã cũng góp phần vào việc sửa đắp đêđiều, phòng lụt lội Nhiều đoạn sông được nạo vét, khơi thông, nhiều cống
Trang 37đập được xây dựng… Thế nhưng do thiếu phối hợp và quy hoạch chung, dotác động của môi trường sinh thái, lụt lội, đê vỡ vẫn liên tiếp xảy ra Từ 1802-1858 cả nước phải chịu 38 lần mưa bão lụt lội lớn, trong đó có 16 lần vỡ đê.Các năm 1803, 1804, 1806, 1819, 1828, 1842, 1844, 1847, 1856, 1857 hầunhư cả vùng đồng bằng bắc kì bị ngập lụt, theo đó là mất mùa, đói kém.
Công cuộc trị thuỷ và thuỷ lợi được tiếp tục trong những năm sau, dướithời Tự Đức, nhưng nói chung kết quả không có gì khả quan Nhà Nguyễn đã
tỏ ra bất lực, trong công cuộc trị thuỷ ở đồng bằng Bắc bộ và Bắc Trung bộ
Để bù lại những mất mát do con người hay trời đất gây ra, người nôngdân Việt Nam chỉ còn biết tận dụng những kinh nghiệm của mình trong sảnxuất “nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống” trở thành câu đúc kết lí luậnchỉ đạo việc sản xuất quy trình sản xuất được khẳng định: Gieo mạ, cày bừa,cấy lúa, làm cỏ, bỏ phân, tát nước… Vấn đề nhân giống được phát huy,người nông dân đã được 65 giống lúa tẻ và 27 giống lúa nếp: Trong số này cónhững giống lúa ngắn ngày 3 – 4 tháng (từ cấy đến gặt) hoặc ít hơn, chỉ 40ngày (lúa câu) Điều đáng chú ý là trong khi tìm ra được nhiều giống lúa chogạo thơm, trắng, dẻo ngon thì người nông dân lại không tạo được đều kiệntăng năng xuất lúa
Tận dụng khả năng của đất và thời tiết, người nông dân trồng thêmnhiều loại cây lương thực như khoai các loại, sắn, kê, đậu,… kinh tế vườnphát triển, đặc biệt là ở Nam kì Hàng loạt loại rau, củ, bầu, bí, hoa quả đượctrồng, nhằm đáp ứng nhu cầu của từng hộ gia đình nông dân trong nền kinh tếtiểu nông mang tính tự cung tự cấp
Các loại cây công nghiệp thời nguyễn khá đa dạng, phong phú nhưngvẫn không vượt ra khỏi phương thức sản xuất cổ truyền, góp phần tạo nềntình trạng ổn định cho xã hội trong lúc đó thiên tai, mất mùa, dịch bệnh xảy
ra liên miên đã ảnh hưởng to lớn đến cuộc sống của nhân dân
Tuy có nhiều nỗ lực để phục hồi và duy trì trở lại nền kinh tế nôngnghiệp truyền thống làm nền tảng cho sự tồn tại của chế độ phong kiến trung
Trang 38ương tập quyền, song Gia Long (1802 – 1819), Minh Mạng (1820 – 1840),Thiệu Trị (1840 – 1847),… không thể kiểm soát nổi nạn chiếm hữu đất đaicủa quan lại, địa chủ ở làng xã, cũng như không biết nên bỏ đê hay đắp đê màhậu quả là trong 40 năm đầu thế kỷ XIX, hàng trăm cuộc khởi nghĩa lớn nhỏcủa nông dân đã bùng nổ từ đồng bằng Bắc bộ đến Thanh - Nghệ -Tĩnh, Namtrung bộ và cả vùng đất Gia Định.
2.1.2 Vài nét về tình hình tiểu thủ công nghiệp ở nước ta đầu thế kỷ XIX
Giống các triều đại trước, thủ công nghiệp Nhà nước thời Nguyễn chiếmmột vị trí rất quan trọng: nó chế tạo tất cả những đồ dùng cho hoàng gia, thamgia đóng thuyền cho quân đội, đúc vũ khí, đúc tiền, Chính vì vậy, nhàNguyễn cũng tập trung xây dựng hệ thống các xưởng thủ công Nhà nước, nhất
là ở kinh đô và các vùng phụ cận Năm 1803, Gia Long thành lập xưởng đúc
tiền Bắc Thành tiền cục ở Thăng Long Nhà Nguyễn cũng lập các Ti trông coi các ngành thủ công, như ti Vũ khố chế tạo quản lý nhiều ngành thủ công khác
nhau, gồm 57 cục: làm đất, đúc, làm đồ vàng bạc, vẽ tranh, làm ngói, làm đồ
pha lê, khắc chữ, đúc súng, làm trục xe, luyện đồng, Ti Thuyền chịu trách
nhiệm về các loài thuyền công và thuyền chiến, gồm 235 sở trên toàn quốc
Ngoài ra còn có các ti Doanh kiến, ti Tu tạo, ti Thương bác hoả dược
Phần lớn nhân lực trong các xưởng thủ công Nhà nước là do triều đìnhtrưng dụng thợ khéo trong các ngành như khảm xà cừ, kim hoàn, thêu thùa tới làm việc để cung cấp đồ dùng cho triều đình Vì vậy người thợ luôn tìmcách trốn tránh dù triều đình áp dụng những biện pháp trừng phạt nặng nề đểngăn chặn Họ chỉ dám làm những thứ nhỏ để bán cho dễ, những người nàochế tạo đồ tốt cũng phải mạo danh là hàng ngoại quốc để vua quan đừng để ý.Đầu thế kỷ XIX, có người chế được men sứ tốt hơn của Trung Quốc nhưngphải bỏ trốn vì sợ bị trưng dụng làm cho triều đình; một số khác phải giả làm
đồ Trung Quốc để không bị các quan mua rẻ hay lấy không
Trong nghề đóng tàu, năm 1820 sĩ quan người Mỹ John White đã nhận
xét:" Người Việt Nam quả là những người đóng tàu thành thạo Họ hoàn thành
Trang 39công trình của họ với một kỹ thuật hết sức chính xác." Ngoài các thuyền gỗ,
người thợ thủ công Việt Nam còn đóng cả các loại tàu lớn bọc đồng Ngoài ra
họ đã sáng chế được nhiều máy móc tiên tiến và có chất lượng vào thời đó, ví
dụ các máy cưa xẻ gỗ, máy tưới ruộng, và cả máy hơi nước
Trong ngành khai mỏ, đến nửa đầu thế kỷ 19, triều đình đã quản lý 139
mỏ, và năm 1833 có 3.122 nhân công trong các mỏ nhà nước Tuy nhiên,phương thức khai mỏ thời bấy giờ vẫn kém phát triển so với thế giới Khi màcác vị vua nhà Nguyễn thực thi chính sách trọng nông ức thương, lấy nôngnghiệp làm cơ sở cho sự tồn tại của chế độ phong kiến trung ương tập quyềnlỗi thời và lạc hậu thì các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp khó có điều kiện
để phát triển với quy mô rộng lớn Đây là một trong những hạn chế trong việcxây dựng và phát triển đất nước của các vị vua đầu triều nhà Nguyễn
2.1.3 Hoạt động buôn bán thương mại:
+ Nội thương
Việc thống nhất đất nước vào đầu thế kỷ 19 là một điều kiện thuận lợicho thương mại phục hồi và tái phát triển sau một thời gian dài suy thoái Tuynhiên, thương mại Việt Nam vẫn không phát triển, tổ chức thương mại của
người Việt sơ sài, trong phạm vi gia đình Nếu có những hội buôn lớn thìcũng chỉ là những phường họp vài thương gia hùn vốn với nhau để kinhdoanh rồi chia tiền ngay, không liên kết lại thành những hội buôn làm ăn lâudài Nhiều người Việt Nam dùng tiền của để mua ruộng đất chứ không đầu tư
kinh doanh, khuếch trương thương mại hay công nghệ
Việc buôn bán ở các chợ quy mô lớn do thương nhân Hoa kiều chiphối, dù những người này chỉ là thiểu số Các mặt hàng tiêu dùng họ kinhdoanh gồm có: mua thổ sản như gạo, lúa, bắp, đường, hạt tiêu và bán vànhập cảng trà, thuốc Bắc, vải, đồ đồng, giấy Trong vùng nông thôn, hoạtđộng thương mại cũng chỉ nhằm trao đổi nông sản và hàng tiểu thủ công ở cácchợ Ở đó, ngoài những cửa hàng tạp hóa quy mô nhỏ hay các cửa tiệm bán
thuốc Bắc, còn có những nông dân bán thổ sản và nông sản địa phương và
Trang 40một số thương nhân nhỏ bán vải vóc, hàng xén, cau thuốc, đi rong từ chợ nàysang chợ khác.
Theo sử gia Trần Trọng Kim, người Việt Nam chỉ quanh quẩn trongnước, buôn bán những hàng hóa lặt vặt, nên bao nhiêu mối lợi lớn về tay
người ngoài mất
Ở Kẻ Chợ trong thế kỷ XIX các thương khu (phường) đã thay đổi bảnchất, thoát ly khỏi trạng thái chợ phiên có kỳ hạn và đã có thương gia cùngthợ thuyền cư trú thường xuyên Trấn sở mới của trấn thành Thanh Hoá đượcbắt đầu xây dựng đầu thời Gia Long (1804) và tới năm 1840 đã là 1 trung tâm
thương mại Ở kinh đô Huế, năm 1837, triều đình đã cho lập chợ Gia Hội cótất cả 399 gian, dài suốt hơn 319 trượng
Những trung tâm thương mại từ cuối thế kỷ XVIII cũng vẫn tiếp tụchoạt động trong thế kỷ XIX Hội An tương tự 1 Bazar lớn của Ấn Độ vớikhoảng 60.000 dân mà 1/3 là Hoa kiều Hàng năm có những thuyền buồm
Trung Hoa lường đến 600 tấn tới buôn bán
Ở Huế, người Tàu và người Việt buôn bán rất lớn Thuyền buôn TrungQuốc chở đến vải vóc, đồ sứ, trà, thuốc Bắc, đồ chơi và chở về thổ sản như
cau khô, tơ sống, gỗ, sơn, sừng tê và ngà voi
Ngoài các tổ chức buôn bán đại quy mô ra, Hoa kiều trong các đô thịlớn còn kinh doanh sòng bạc, đánh đề hay đút lót cho các quan để được đúc
tiền, trưng thầu thuế đò, thuế chợ hay độc quyền rượu Có những Hoa thương
có thế lực còn chiếm độc quyền cung cấp hàng cho triều đình Dù vậy, guồngmáy triều đình cản trở nhiều sự trao đổi hàng hoá bởi sự nhiêu khê của cácthủ tục hành chính ở các cửa ải và sở thuế
Cải cách tiền tệ giúp cho thương mại phát triển hơn so với thế kỷ trước.Vua Gia Long và Minh Mạng đã cho đúc những nén vàng, nén bạc, nhờ đóthương mại đã có bước tiến hơn trước Tuy nhiên, tiền ít được đầu tư và đượcdân chúng đem cất trữ bởi tâm lý dân chúng còn mang nặng tính nông nghiệp