- Tác giả Nguyễn Thị Luyến chủ biên và một số tác giả khác viết cuốn "Một số vấn đề về đặc khu kinh tế" xuất bản năm 1993 với những bài tổng thuật, lược thuật và dịch thuật từ tài liệu n
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS PHẠM NGỌC TÂN
VINH - 2010
Trang 3Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới ngời hớng dẫn khoa học PGS.TS Phạm Ngọc Tân, đã tận tình giúp đỡ, hớng dẫn, chỉ bảo cho chúng tôi kể từ khi nhận đề tài cho đến khi hoàn thành luận văn này.
Chúng tôi vô cùng biết ơn các thầy giáo, cô giáo trong khoa Sau Đại học, khoa Lịch sử, nhất là các thầy, cô giáo trong tổ bộ môn Lịch sử thế giới
- khoa Lịch sử - Trờng Đại học Vinh đã chỉ dẫn tận tình và tạo điều kiện giúp đỡ chúng tôi trong quá trình học tập và làm luận văn.
Chúng tôi cũng xin chân thành cảm ơn Viện Nghiên cứu Trung Quốc, Thông tấn xã Việt Nam, Viện Nghiên cứu kinh tế thế giới, Th viện Quốc gia Việt Nam, Th viện trờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Th viện tr- ờng Đại học S phạm Hà Nội 2, Th viện trờng Đại học Vinh đã giúp đỡ chúng tôi trong quá trình tìm tài liệu.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với những ngời thân yêu trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn động viên, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình học tập và làm luận văn vừa qua.
Vinh, thỏng 12 năm 2010
Tỏc giả
Trang 4AFTA : Khu vực mậu dịch tự do Đông Nam Á
APEC : Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình DươngASEAN : Tổ chức hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
ASEM : Diễn đàn hợp tác Á - Âu
CEPA : Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện
VAT : Thuế giá trị gia tăng
WTO : Tổ chức thương mại thế giới
Trang 5
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 8
6 Đóng góp của luận văn 9
7 Bố cục của luận văn 10
Chương 1 SỰ HÌNH THÀNH ĐẶC KHU KINH TẾ THÂM QUYẾN (TRUNG QUỐC) 11
1.1 Những nhân tố tác động đến sự ra đời đặc khu kinh tế Thâm Quyến 11
1.1.1 Nhân tố bên ngoài 11
1.1.2 Nhân tố trong nước 16
1.2 Sự hình thành đặc khu kinh tế Thâm Quyến ở Trung Quốc .21
1.2.1 Sự hình thành các Đặc khu kinh tế ở Trung Quốc 21
1.2.2 Sự hình thành Đặc khu kinh tế Thâm Quyến 23
Tiểu kết chương 1 25
Chương 2 QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA ĐẶC KHU KINH TẾ THÂM QUYẾN (TRUNG QUỐC) TỪ NĂM 1980 ĐẾN NĂM 2009 27
2.1 Những chủ trương chính sách nhằm phát triển Đặc khu kinh tế Thâm Quyến 27
2.1.1 Đặc điểm và mục tiêu chung của Đặc khu kinh tế Trung Quốc .27
Trang 62.1.2 Các chính sách, biện pháp phát triển Đặc khu kinh tế Thâm
Quyến 29
Trang 7phát triển (1980 - 2009) 38
2.2.1 Vấn đề dân số và tốc độ tăng trưởng kinh tế 38
2.2.2 Thành công trong xây dựng cơ sở hạ tầng 41
2.2.3 Thu hút vốn đầu tư nước ngoài 49
2.2.4 Thành công trong xuất nhập khẩu 56
2.2.5 Tốc độ công nghiệp hóa 63
2.2.6 Trên các lĩnh vực khác 69
Tiểu kết chương 2 82
Chương 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA ĐẶC KHU KINH TẾ THÂM QUYẾN (TRUNG QUỐC) VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM 84
3.1 Nhận xét về quá trình phát triển của Đặc khu kinh tế Thâm Quyến .84
3.1.1 Những đóng góp của Đặc khu kinh tế Thâm Quyến cho công cuộc cải cách mở cửa ở Trung Quốc 84
3.1.2 Nguyên nhân thành công của quá trình xây dựng và phát triển ở Đặc khu kinh tế Thâm Quyến 92
3.1.3 Những vấn đề tồn tại và triển vọng của Đặc khu kinh tế Thâm Quyến 99
3.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong công cuộc đổi mới hiện nay 103
3.2.1 Những lợi thế của Việt Nam khi xây dựng các khu kinh tế .103
3.2.2 Một số gợi ý cho việc phát triển các khu kinh tế ở Việt Nam .106
Tiểu kết chương 3 110
Trang 8KẾT LUẬN 112 TÀI LIỆU THAM KHẢO 115 PHỤ LỤC
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Từ thập kỷ 70 (thế kỷ XX), cho đến cuộc khủng hoảng kinh tếnăm 1997, nhờ vào chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu thựchiện “cải cách”, “mở cửa”, nhiều quốc gia trên thế giới đã đạt được tốc độtăng trưởng cao,làm thay đổi diện mạo kinh tế - xã hội nước mình Mặtkhác, xu thế toàn cầu hoá về kinh tế lại đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới,vấn đề cải cách mở cửa nói chung và phát triển các đặc khu kinh tế nói riêngđang là vấn đề mang tính thời sự vừa mang tính lý luận khoa học Nó có ýnghĩa lớn lao đối với các nước đang phát triển và đang trên con đường côngnghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Trong định hướng phát triển nền kinh tếcủa mình trước bối cảnh quốc tế mới hiện nay, sự xuất hiện các "con rồng" ởĐông Á, Trung Quốc, ASEAN là kết quả của quá trình cải cách mở cửa nềnkinh tế vốn lạc hậu của các nước này theo xu hướng phù hợp với đặc điểm
và ưu thế riêng của từng nước
1.2 Có thể nói, nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đặc sắc TrungQuốc là nền kinh tế mở thành công bậc nhất trên thế giới hiện nay Từ khi xâydựng thể chế kinh tế thị trường XHCN đặc sắc Trung Quốc, họ đã xác định rõchiến lược mở cửa với bên ngoài ở nhiều cấp độ “Trọng điểm mở cửa khuvực Duyên Hải, từng bước mở cửa lục địa”, chú trọng phát triển ĐKKT, từ đóhình thành kết cấu mở toàn diện, đa tầng Trong đó, đặc biệt phải kể tới việcxác định ngay từ đầu, phương hướng ưu tiên phát triển các đặc khu kinh tế,xây dựng các thành phố mở của Duyên Hải, xây dựng các khu khai phát kinh
tế Duyên Hải nhằm tạo nên cơ sở vật chất vững chắc, thúc đẩy toàn bộ nềnkinh tế đất nước phát triển trong cải cách Vấn đề cải cách mở cửa của TrungQuốc không phải ngẫu nhiên được đặt ra Nó ra đời trong bối cảnh lịch sửnhất định, trong đổi mới và phát triển chung của lý luận và CNXH về cải cách
Trang 10mở cửa Quá trình cải cách mở cửa nói chung và phát triển các đặc khu kinh
tế nói riêng ba mươi năm qua đã đạt được những thành tựu đáng khẳng định
và có tác dụng to lớn đối với những bước đi tiếp theo trong sự nghiệp hiện đạihoá đất nước Song đây cũng là một quá trình tự điều chỉnh, tự hoàn thiện đầykhó khăn phức tạp
1.3 Đặc khu Thâm Quyến là một trong năm đặc khu kinh tế lớn củaTrung Quốc Nó trở thành "kiểu mẫu" của Trung Quốc trong quá trình thựchiện chính sách cải cách mở cửa Như ông Đặng Tiểu Bình đã từng phát biểu:
"Sự phát triển và kinh nghiệm của Thâm Quyến chứng tỏ chính sách xây dựng kinh tế là đúng đắn, cần xây dựng đặc khu nhanh hơn nữa, tốt hơn nữa” Điều
này góp phần quan trọng để Trung Quốc xây dựng lí luận một đất nước hai chế
độ [5; tr.221]
Qua 30 năm hình thành và phát triển (1980 - 2009), Thâm Quyến làmột điển hình về phát triển kinh tế hướng ra bên ngoài, sử dụng vốn có hiệuquả và đổi mới thể chế hành chính cũng như phát triển kinh tế hàng hoá Vìvậy, nghiên cứu vấn đề phát triển của đặc khu kinh tế Thâm Quyến TrungQuốc) dưới góc độ lịch sử và tìm hiểu nó trong quá trình lịch sử là đề tài hấpdẫn và có ý nghĩa lý luận thực tiễn Qua việc nghiên cứu sự phát triển củađặc khu kinh tế Thâm Quyến có thể tìm hiểu sâu hơn về Trung Quốc trêncon đường cải cách, mở cửa và triển vọng mô hình đặc khu kinh tế trong xuthế toàn cầu hóa hiện nay Bên cạnh đó, việc nghiên cứu về đặc khu kinh tếThâm Quyến - Trung Quốc, một nước có nhiều điểm tương đồng với ViệtNam về chế độ kinh tế, chính trị, xã hội sẽ rút ra những bài học cần thiết choViệt Nam trong công cuộc đổi mới hiện nay
Vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Quá trình hình thành và
phát triển của đặc khu kinh tế Thâm Quyến (Trung Quốc) từ năm 1980 2009” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành Lịch sử Thế giới.
Trang 11-2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Sự phát triển của các đặc khu kinh tế ở Trung Quốc nói chung và đặckhu kinh tế Thâm Quyến nói riêng đã thu hút sự tìm tòi nghiên cứu của nhiềuhọc giả Trung Quốc, trên thế giới và ở Việt Nam Việt Nam đang trên đườngcải cách, mở cửa và hội nhập quốc tế, đặc biệt hiện nay chúng ta đang chútrọng phát triển các khu kinh tế ven biển, các khu chế xuất và đặc khu kinh tế
để tạo bước đột phá cho nền kinh tế Vì vậy, tìm hiểu về các đặc khu kinh tếTrung Quốc là một việc làm hết sức cần thiết đối với chúng ta Qua một sốnguồn tài liệu chúng tôi tiếp cận được viết về vấn đề này tương đối đa dạngnhư các sách chuyên khảo, các sách tham khảo, các đề tài khoa học, các luậnvăn, các bài viết đăng trên báo, tạp chí như Nghiên cứu Trung Quốc, Kinh tếthế giới, Thông tấn xã Việt Nam, Lao động, Ngoại thương, Sài Gòn giảiphóng, tài liệu lưu hành nội bộ, các trang website điện tử… để làm tư liệunghiên cứu luận văn
Trước hết là những công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài:
- Bài viết: "Cuộc cách mạng đặc khu kinh tế" bản dịch của Lưu Ngọc
Trịnh từ tạp chí The SEZ Revolution - năm 1982, đây là một bài viết của tạpchí nước ngoài đánh giá khá khách quan trong việc ban hành các chính sáchnhằm xây dựng các đặc khu kinh tế
- Tác giả Wen Tianshen (Lưu Ngọc Trịnh dịch) với bài "Đặc khu kinh
tế ở Thâm Quyến" đăng trên tạp chí China ruonstruets, số 7/1983, đã nhấn
mạnh vấn đề "đặc khu" và những biểu hiện về sự phát triển của đặc khu kinh
tế Thâm Quyến sau 3 năm thành lập
- Vũ Quang Viễn (Trung Quốc) với bài viết "Bàn về nhận thức một số
vấn đề đối với khu kinh tế đặc biệt Thâm Quyến", trên tạp chí Nghiên cứu
kinh tế Trung Quốc, số 2/1983, do Phạm Xuân Mai dịch, đã trình bày về sự
ra đời của đặc khu Thâm Quyến, tính chất xã hội cũng như đặc điểm của đặckhu này
Trang 12- Dương Tế (TQ) với bài viết "Nhìn lại suy nghĩ về việc cải cách ở đặc
khu kinh tế Thâm Quyến", Vũ Hoàng Địch dịch, 1988, đã trình bày về sự đổi
thay hết sức to lớn của Thâm Quyến sau 8 năm hình thành
- Tác giả Vương Văn Tường (Trung Quốc) với tác phẩm "Đặc khu kinh
tế và 14 thành phố mở cửa của Trung Quốc" - Nhà xuất bản Bắc Kinh, 1986,
do Đỗ Nga Toàn dịch, đã khái quát về các đặc khu kinh tế Trung Quốc về vấn
đề chính trị, kinh tế, xã hội trong hơn 5 năm
- Cuốn "Đặng Tiểu Bình - một trí tuệ siêu việt" của tác giả Lưu Cường
Ân và Uông Đợi Lý (Trung Quốc) do Tạ Ngọc Di và Nguyễn Viết Chi dịch,xuất bản năm 2008, là một cuốn sách viết về một nhân vật nhưng cũng đã đềcập đến công lao của Đặng Tiểu Bình đối với sự hình thành và phát triển đặckhu kinh tế Thâm Quyến (Trung Quốc)
Đặc khu kinh tế kinh tế Thâm Quyến (Trung Quốc) còn được các nhàkhoa học Việt Nam bước đầu nghiên cứu và công bố một số công trình như :
- Tác giả Phạm Xuân Mai với báo cáo khoa học "Đặc khu kinh tế Thâm
Quyến", năm 1985 của Viện Châu Á - Thái Bình Dương cũng so sánh một
Thâm Quyến trước cải cách mở cửa và sau 5 năm xây dựng đặc khu kinh tế
- Tác giả Nguyễn Thị Luyến (chủ biên) và một số tác giả khác viết
cuốn "Một số vấn đề về đặc khu kinh tế" xuất bản năm 1993 với những bài
tổng thuật, lược thuật và dịch thuật từ tài liệu nước ngoài, các tác giả đã giớithiệu về vai trò, vị trí của việc xây dựng và phát triển các đặc khu kinh tế củaTrung Quốc trong hơn 10 năm, từ đó rút ra những kinh nghiệm lý thú củaTrung Quốc và một số nước trên thế giới
- Dương Tế (TQ) với bài viết "Nhìn lại suy nghĩ về việc cải cách ở đặc
khu kinh tế Thâm Quyến", Vũ Hoàng Địch dịch, 1988, đã trình bày về sự đổi
thay hết sức to lớn của Thâm Quyến sau 8 năm hình thành
Trang 13- Nguyễn Văn Hồng (chủ biên) và một số tác giả viết cuốn "Trung
Quốc cải cách và mở cửa, những bài học kinh nghiệm" xuất bản năm 2003, đã
đánh giá những thành tựu của 35 năm cải cách mở cửa của Trung Quốc, trong
đó đánh giá vai trò quan trọng của các đặc khu kinh tế và đặc khu kinh tếThâm Quyến - những bài học kinh nghiệm được rút ra
- Hoa Hữu Lân (Viện Kinh tế chính trị thế giới) chủ nhiệm đề tài cấp
Bộ: “Các mô hình khu kinh tế tự do ở một số nước châu Á”, năm 2000 Có thể
nói đây là một công trình nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam giới thiệu cơ chếquản lý đặc trưng và các biện pháp thực hiện, tác động của các khu kinh tế tự
do đối với nền kinh tế của các nước Từ đó rút ra những kinh nghiệm đối vớicác loại hình khu kinh tế tự do ở Việt Nam hiện nay
Đặc biệt là cuốn “Thâm Quyến phát triển thần kỳ hiện đại hóa
-quốc tế hóa” của GS TSKH Võ Đại Lược (chủ biên) cùng nhóm tác giả,
Nhà xuất bản thế giới Hà Nội năm 2008, được biên tập trên cơ sở các báo cáokhoa học của cán bộ giảng dạy Trường Đảng thuộc thành phố Thâm Quyến.Chủ đề được lựa chọn là cải cách thể chế của Thâm Quyến và ĐKKT ThâmQuyến Trung Quốc xem Thâm Quyến là nơi thí điểm các cải cách của TrungQuốc, theo một ý nghĩa nào đó, điều này cũng có ích cho Việt Nam
Bên cạnh đó, còn có những bài viết của các tác giả quan viết trên cáctạp chí và báo trong nước như :
- TS Phùng Thị Huệ với bài "Khu kinh tế và khu chế xuất ở Trung
Quốc" trên Thông tin KHXH, số 7/1994 Giới thiệu và đánh giá về sự thành
công của các đặc khu kinh tế và khu chế xuất Trung Quốc
- Bài "Thâm Quyến, điểm sáng về mở cửa kinh tế của Trung Quốc" của
tác giả Việt Nga đăng trên báo Ngoại thương số 1 và số 2 - 1/2006;
- Tác giả Nguyễn Minh Hằng với bài: "Việc thành lập các đặc khu kinh
tế ở Trung Quốc" đăng trên tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 5/1996, trình
Trang 14bày về sự hình thành, vai trò, mục tiêu của các đặc khu kinh tế, những kết quả
và hậu quả của việc thành lập các đặc khu kinh tế
- Tác giả Thái Nguyễn Bạch Liêu với bài "Kinh nghiệm Trung Quốc:Thế mạnh Thâm Quyến" trên báo Sài Gòn giải phóng ngày 12/4/2003
- Bài "Đặc khu kinh tế Thâm Quyến" của Đặng Phương Hoa đăng trên
tạp chí Kinh tế và chính trị thế giới số 6/2008;
- Bài viết "Đặc khu kinh tế Thâm Quyến Trung Quốc những đột phá và
phát triển" của tác giả Cù Chí Lợi và Hoàng Thế Anh đăng trên tạp chí Nghiên
cứu Trung Quốc, số 5/2008, cũng đã khái quát về sự phát triển của đặc khukinh tế Thâm Quyến, những điều kiện và đột phá chính sách góp phần vào sựthành công của Thâm Quyến, với những tư liệu khai thác từ chuyến đi thực tếmắt thấy tai nghe của nhóm tác giả
- Tác giả Lê Văn Sang và Nguyễn Minh Hằng với bài: "Các đặc khu
kinh tế của Trung Quốc, những gợi ý cho Việt Nam" đăng trên tạp chí Nghiên
cứu Trung Quốc, số 2/2009, đã trình bày về những loại hình đặc khu kinh tếcủa Trung Quốc cũng như một số kết luận rút ra và qua sự phát triển của cácđặc khu kinh tế của Trung Quốc với những số liệu mới mẻ
- Tác giả Ngọc Miên với bài "Trung Quốc mở cửa, nhìn từ Thâm
Quyến" trên báo Lao động xã hội, ngày 21/2/1999 hay bài “Đặc khu Thâm Quyến và những kiến nghị cho Việt Nam” trong http://tailieu.vn và những bài,
tin được đăng trên Thông tấn xã Việt Nam trong suốt 30 năm qua đã mô tảmột cách rõ nét về sự thành công của đặc khu kinh tế Trung Quốc
Trên cơ sở những tài liệu trên đã giúp chúng tôi trong quá trình nghiêncứu có được diện mạo tổng quan về quá trình hình thành và phát triển của đặckhu kinh tế Thâm Quyến Trung Quốc trong suốt ba mươi năm qua Các côngtrình bài viết trên đã cung cấp cho chúng tôi nguồn tư liệu quý giá, bổ íchgiúp chúng tôi khi thực hiện đề tài này
Trang 153 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
3.1 Mục đích
Dựa vào nguồn tư liệu nằm rải rác ở một số đầu sách về các bài viết trêncác tờ báo, tạp chí và báo, tác giả luận văn đã cố gắng tập hợp, khái quát, đánh
giá một cách có hệ thống vấn đề "Quá trình hình thành và phát triển của
đặc khu kinh tế Thâm Quyến (Trung Quốc) từ năm 1980 đến năm 2009"
nhằm mục đích trả lời cho câu hỏi: Vì sao Thâm Quyến trước năm 1980 chỉ là
một làng chài nghèo nàn lạc hậu nay trở thành một đặc khu kinh tế thịnh vượng nhất ở Trung Quốc ? góp phần không nhỏ cho ngân sách Nhà nước.
Đồng thời, đề tài cũng đưa ra những bài học kinh nghiệm từ sự hình thành vàphát triển của Thâm Quyến cho công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay
Từ đó, giúp chúng ta thấy được một cái nhìn toàn cảnh về sự phát triểncủa đặc khu kinh tế Thâm Quyến (Trung Quốc), một hiện tượng đặc biệttrong bức tranh kinh tế Trung Quốc thời kỳ cải cách, mở cửa cũng như nhữngtồn tại của loại hình kinh tế đặc khu ở Trung Quốc
3.2 Nhiệm vụ
Để làm rõ được quá trình hình thành và phát triển của đặc khu kinh tếThâm Quyến (Trung Quốc) trong ba mươi năm từ 1980 đến 2009 tác giả luậnvăn đã cố gắng đi đến giải quyết một số nhiệm vụ trọng tâm sau đây:
Thứ nhất, phân tích về tình hình Thâm Quyến trước cải cách mở cửa vànhững chủ trương của Nhà nước Trung Quốc nhằm xây dựng đặc khu kinh tếnói chung và đặc khu Thâm Quyến nói riêng
Thứ hai, nghiên cứu về quá trình hình thành và phát triển của đặc khukinh tế Thâm Quyến (Trung Quốc) trong ba mươi năm (từ 1980 đến 2009)
Thứ ba, rút ra một số nhận xét về sự phát triển này và những bài họckinh nghiệm đối với Việt Nam cũng như những triển vọng trong việc xâydựng các khu kinh tế ở Việt Nam
Trang 164 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn xác định đối tượng nghiên cứu là sự hình thành và các giaiđoạn phát triển của ĐKKT Thâm Quyến từ 1980 đến 2009 Tuy nhiên, đểxác định được đặc khu Thâm Quyến là đặc khu thành công nhất trong cácĐKKT ở Trung Quốc đề tài cũng đặt Thâm Quyến trong sự so sánh với cácĐKKT khác
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Căn cứ vào nguồn tư liệu, chúng tôi xác định phạm vi nghiên cứu của
đề tài là:
- Về thời gian: Thời gian nghiên cứu của đề tài được giới hạn bởi mốc
mở đầu là năm 1980 và mốc kết thúc là năm 2009 Tuy vậy, vì là một đề tàinghiên cứu dưới góc độ sử học, vì thế luận văn không thể không đề cập đếnmột số nội dung liên quan đến thời kỳ trước cải cách mở cửa ở Trung Quốc(1978), nhằm giúp chúng ta có cơ sở để làm sáng rõ về sự phát triển của đặckhu kinh tế Thâm Quyến (Trung Quốc)
- Về mặt không gian: Không gian nghiên cứu chủ yếu của đề tài là đặckhu kinh tế Thâm Quyến
- Về mặt nội dung: Sự phát triển của đặc khu kinh tế Thâm Quyến(Trung Quốc) thể hiện trên các mặt kinh tế, chính trị, xã hội như : Tốc độcông nghiệp hoá - dịch vụ; thu hút vốn đầu tư nước ngoài, xây dựng cơ sở hạtầng, du lịch đóng góp cho ngân sách Nhà nước, việc làm cho người lao động,hay vấn đề tự chủ về chính trị, kinh tế từ khi hình thành đặc khu này cho đếnnăm 2009
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu
Luận văn được thực hiện dựa trên các nguồn tài liệu sau đây:
Trang 17- Nhóm tài liệu gốc: Bao gồm những quyết định, chủ trương của Nhànước Trung Quốc về việc thành lập các đặc khu kinh tế nói chung và đặc khukinh tế Thâm Quyến nói riêng Các công bố về số liệu phát triển của các đặckhu qua từng giai đoạn.
- Nhóm tài liệu chuyên khảo về cải cách, mở cửa ở các đặc khu kinh tếcủa Trung Quốc
- Nhóm tài liệu gồm các công trình nghiên cứu, bài viết trên các sách,báo, tạp chí nghiên cứu Trung Quốc và các tạp chí trong nước
- Nhóm tài liệu là đề tài khoa học cấp Bộ, luận văn tốt nghiệp Cao họcThạc sĩ, Luận văn tốt nghiệp đại học liên quan đến đề tài
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết những vấn đề mà đề tài đặt ra, chúng tôi dựa vào chủnghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, phương pháp luận Mác-Lênin, quan điểm của Đảng và Nhà nước trong quan hệ hợp tác với TrungQuốc và các nước để làm cơ sở phương pháp luận cho việc nghiên cứu Luậnvăn cố gắng trình bày các sự kiện trung thực, khách quan, xem xét sự vậnđộng của chúng trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau, từ đó rút ra những nhậnxét và đánh giá
Đây là một đề tài lịch sử nên phương pháp lịch sử và phương pháplôgic được đặc biệt coi trọng Luận văn dựa trên những tài liệu lịch sử thuthập được để phân tích, đánh giá, hệ thống hoá, khái quát hoá vấn đề
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp chuyên ngành và liênngành như: tổng hợp, thống kê, phân tích, đối chiếu, so sánh và suy luận lôgicnhằm hỗ trợ cho hai phương pháp chủ yếu trên
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn có những đóng góp nhất định sau:
- Luận văn là một công trình nghiên cứu mang tính chuyên đề về mộtđịa phương cụ thể Đưa ra một cái nhìn cụ thể, toàn diện dưới góc độ sử học
Trang 18về quá trình hình thành và phát triển của đặc khu kinh tế Thâm Quyến (TrungQuốc) trong suốt ba mươi năm từ 1980 đến 2009.
- Bước đầu đánh giá những thành công của đặc khu kinh tế ThâmQuyến trên mọi lĩnh vực thể hiện sự vượt trội trong năm đặc khu kinh tế củaTrung Quốc Luận văn lý giải những nguyên nhân tạo nên sự khác biệt và cácbài học trên những thành công đó
- Với kết quả đạt được, luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảocho những ai quan tâm đến các đặc khu kinh tế và đặc khu Thâm Quyến củaTrung Quốc và cũng có thể phục vụ cho việc giảng dạy và biên soạn bàigiảng Đồng thời góp phần so sánh những đặc điểm của đặc khu kinh tế củaTrung Quốc với các đặc khu kinh tế của các nước khác trong khu vực và trênthế giới
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính củaluận văn được bố cục thành ba chương:
Chương 1 Sự hình thành đặc khu kinh tế Thâm Quyến (Trung Quốc)Chương 2 Quá trình phát triển của đặc khu kinh tế Thâm Quyến
(Trung Quốc)Chương 3 Một số nhận xét về quá trình phát triển của đặc khu kinh
tế Thâm Quyến và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Trang 19Chương 1
SỰ HÌNH THÀNH ĐẶC KHU THÂM QUYẾN (TRUNG QUỐC)
1.1 Những nhân tố tác động đến sự ra đời đặc khu kinh tế Thâm Quyến
1.1.1 Nhân tố bên ngoài
Kể từ giữa thế kỷ XVII, sự ra đời và phát triển của CNTB gắn liền với
sự phát triển của sức sản xuất xã hội nhằm làm tăng nhanh khối lượng hànghóa, đáp ứng nhu cầu trao đổi trên thị trường thế giới Cuộc cách mạng kỹthuật lần thứ nhất đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn, đồ sộ hơn lựclượng sản xuất của tất cả các thế kỷ trước kia gộp lại Nền đại công nghiệp đãxóa bỏ kinh tế khép kín của chế độ phong kiến, nó đòi hỏi những nhu cầu vềtrao đổi hàng hóa thay cho tình trạng cô lập trước kia của các địa phương vàdân tộc tự cung tự cấp Như vậy, cách đây hơn hai thế kỷ, xu thế quốc tế hóanền kinh tế thế giới đã hình thành và được khẳng định
Sau Đại chiến thế giới lần thứ hai, xu thế đó lại càng phát triển với tốc
độ mạnh mẽ hơn Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và sự lớn mạnh của sứcsản xuất không chỉ có ý nghĩa tạo điều kiện thuận lợi cho nhu cầu giao lưukinh tế văn hóa quốc tế Bản chất của vấn đề ở chỗ, nó là nguyên nhân phá
vỡ giới tuyến quốc gia, đưa nền kinh tế mỗi nước hòa nhập vào thị trườngquốc tế Sự phân chia thế giới làm hai hệ thống CNXH và TBCN thực sựcàng đòi hỏi một cách đầy thuyết phục rằng những đòi hỏi đến sự nhất thểhóa nền kinh tế thế giới là tất yếu Trong thời gian dài tồn tại, các nướcXHCN ở mức độ nào đó đã co mình trong sự nhất thể hóa kinh tế trrong hệthống XHCN [45, tr.5]
Xuất phát từ quan điểm hai cực về chế độ chính trị các nước XHCNcũng muốn liên kết với nhau, tạo thành hệ thống kinh tế song song với hệthống kinh tế TBCN, chủ trương không phát triển dựa vào hệ thống kinh tế
Trang 20TBCN, mặc cho nó là nền kinh tế có cơ sở vật chất, kỹ thuật sớm hơn và cótrình
độ cao hơn Việc phân chia thành hai hệ thống kinh tế thế giới như vậy
ít nhiều làm ảnh hưởng đến quá trình và tiến độ quốc tế hóa kinh tế Sự đổ vỡcủa các nước Đông Âu và Liên Xô và đặt ra cho các nước XHCN còn lại cầnphải hòa nhập vào nền kinh tế thế giới Trong thời đại ngày nay việc kinh tếmột nước thịnh hay suy trên mức độ rất lớn phụ thuộc vào khả năng thích ứng
và giao lưu trong môi trường kinh tế thế giới Nền sản xuất công nghiệpkhông thể mở rộng quy mô hiện đại hóa nếu chỉ sử dụng nguồn vốn, kỹ thuật,nguyên liệu trong nước, thậm chí trong một số nước Sản phẩm của nó cũngkhông thể tiêu thụ hết bằng nhu cầu nội địa Đó là chưa kể những nhu cầu lạikhông được thỏa mãn bằng sản phẩm của chính ngành sản xuấ trong nước.Tóm lại, từ cuối thế kỷ XVII đến nay, nhất là thời đại chúng ta đang sống, bất
cứ quốc gia nào muốn phát triển hưng thịnh đều phải trong guồng quay chungcủa nền kinh tế thế giới, nằm trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau
Việc lựa chọn con đường mở cửa nền kinh tế ở các nước là khác nhau,trong đó những nước có những thuận lợi về vị trí địa lý mà chủ yếu là gầnbiển đã lựa chọn các loại hình khu kinh tế tự do, đặc biệt là ĐKKT (theo môhình Trung Quốc) Thực ra, các đặc khu kinh tế không phải là sáng kiến riêngcủa Trung Quốc, nó đã có lịch sử hàng trăm năm, là sản phẩm của sức sảnxuất ngày càng được quốc tế hóa Đặc khu kinh tế trên thế giới được phânthành bốn kiểu dựa theo chức năng tác dụng của nó (khu mậu dịch tự do, khugia công xuất khẩu, khu công nghiệp khoa học và khu mang tính tổng hợp).Đặc khu thương mại đầu tiên trên thế giới là cảng Ligen của Italia năm 1547,sau đó một số thành phố nổi tiếng Châu Âu cũng lần lượt xây dựng một sốđặc khu kinh tế Những năm 30 của thế kỷ XX, Mỹ xây dựng khu buôn bán
Trang 21với nước ngoài Năm 1959, Aixơlen lập lại khu công nghiệp xuất khẩu đầutiên trên thế giới.
Trong thực tiễn kinh tế thế giới sau Chiến tranh thế giới thứ hai, ở một
số nước thuộc “Thế giới thứ ba” đã xuất hiện những khu tự do (zones
franches) có những đặc trưng giống như đặc khu kinh tế Trung Quốc saunày Đó chủ yếu là những vùng thu hút vốn đầu tư của tư bản nước ngoài,nhất là các công ty xuyên quốc gia Những vùng này gần cảng biển hay sânbay lớn, trong thực tế được miễn các thứ thuế và được tự do đưa nguyên liệu
và nửa thành phẩm vào Ở đây, các công ty nước ngoài được hưởng ưu đãi
về thuế đất đai, điện, nước, đường sá, nhà cửa với giá thấp Ở đây không quyđịnh tiền công tối thiểu, cũng không cho phép các công đoàn hoạt động Đó
thực sự là “những quốc gia trong những quốc gia” như báo chí phương Tây gọi Những nước thuộc “thế giới thứ ba” dùng các “khu tự do” này làm đầu
cầu thu hút tiền vốn đầu tư và công nghệ tiên tiến của các nước tư bản pháttriển, dùng những tiền vốn và những công nghệ ấy vào mục đích phát triểnnền kinh tế còn lạc hậu của mình
Ở các nước XHCN, các đặc khu kinh tế kiểu như thế cũng được đềxướng vào những năm 70 - đầu những năm 80 khi nền kinh tế các nước đólâm vào tình trạng khủng hoảng Những mục tiêu được đặt ra hồi đó là: Thuhút tư bản nước ngoài, thu hút kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, phát triển sảnxuất, xuất khẩu, áp dụng các phương pháp quản lý tiên tiến, đào tạo cán bộkinh doanh và quản lý Một số nước đã thông qua đạo luật về mặt này: ởBungari luật thành lập các khu miễn thuế (1987); ở Hungari, Rumani, Nam
Tư cũng có đạo luật tương tự Tuy nhiên, ở những nước Đông Âu chưa đạtđược thành công, vì mấy lẽ: trước hết, thời gian còn ít và những quy chế hoạtđộng của các đặc khu chưa rành mạch, thứ hai quan niệm về các điều kiệnkinh tế còn chật hẹp, nói chung chỉ mới dành cho chúng một số chức năng
Trang 22hạn chế với những phương pháp cũng còn hạn chế (chủ yếu về thuế) khác hẳn
ở Trung Quốc vào thời điểm đó
Các khu kinh tế tự do không chỉ sớm xuất hiện ở phương Tây mà vào
dầu thế kỷ XVIII, dưới hình thức “Cảng tự do” ở Singapo, Denang
(Malaixia), Hồng Kông, Philipin với mục tiêu khi đó là tái sản xuất và cungứng cho tàu biển cũng như khuyến khích mậu dịch hàng chuyển khẩu Hànghóa được miễn thuế quan xuất nhập khẩu trong cả một vùng hay khu mậudịch tự do (Free trade zone) như ở Gibơranta (1790), Singapo (1819), Hồng
Kông (1842) Thập kỷ 60, 70 của thế kỷ XX là “thời kỳ hoàng kim” trong
phát triển kinh tế ven biển của các nước trên thế giới nói chung và Châu Á nóiriêng Bất kỳ quốc gia nào, thành phố nào muối phát triển cũng đều tích cựctham gia phát triển rộng rãi về vật chất - khoa học - kỹ thuật, thông tin trênthế giới Đó là nguyên nhân khiến các thành phố trên vịnh Tokyo, vịnh Ôxacabiển kín Nakai của Nhật Bản sau chiến tranh phát triển nhanh chóng Theothống kê, cuối những năm 80 của thế kỷ XX, hơn 120 quốc gia trên thế giới
đã có hơn 600 đặc khu kinh tế, giá trị mậu dịch của khu vực này đã chiếm hơn20% mậu dịch quốc tế Nhiều nước đang phát triển ở châu Á, châu Phi và MỹLatinh cũng đang xây dựng các đặc khu kinh tế
Châu Á- Thái Bình Dương là khu vực bao gồm nhiều quốc gia có trình
độ không đồng đều Song ở đây lại có ưu thế trong việc bổ sung, hỗ trợ lẫnnhau, tạo tiềm năng lớn cho sự gia nhập nền kinh tế khu vực và thế giới NhậtBản với vai trò đầu tàu về kinh tế đã trở thành nước cung cấp vốn, kỹ thuật,sản phẩm tiên tiến cho khu vực Đồng thời Nhật Bản cũng là thị trường lớntiêu thụ nguyên liệu, hàng tiêu dùng trong khu vực Các nước công nghiệpmới (NICs) là nơi cung cấp thiết bị, linh kiện, sản phẩm trung gian tiên tiến
và cũng là nguồn cung cấp vốn to lớn cho nền kinh tế mở cửa Trong đó đặcbiệt phải kể đến Đài Loan với số lượng ngoại tệ lớn (trên 50 tỷ đô la Mỹ -
Trang 23những năm 80), Đài Loan đã tăng số đầu tư vào châu Á nhất là vào Indonesia
và Philippin Thập kỷ 80, hai tỉnh Quảng Đông và Phúc Kiến (Trung Quốc)
đã nhận số vốn đầu tư khá lớn của Đài Loan trong quá trình mở cửa Khôngthể phủ nhận sự hưng thịnh của vành đai kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương
là yếu tố chính tạo nên sự phát triển mạnh mẽ và khả năng tiềm tàng của cácquốc gia trong khu vực Việc hình thành các khu kinh tế tự do hay các ĐKKT
ở các vùng kinh tế ven biển trong mối liên hệ, hợp tác khu vực khăng khít, cóhiệu quả mang ý nghĩa thực tiễn đối với mỗi nước cần đẩy mạnh nền kinh tếcủa mình Muốn vậy, mỗi nước trong khu vực, nhất là các nước đang pháttriển cần định ra chiến lược mở của kinh tế - trước hết là chiến lược mở củakinh tế ven biển mới mô hình ĐKKT
Nói tóm lại, quốc tế hóa nền kinh tế thế giới là xu thế tất yếu, mỗi nướcphát triển đều phải gia nhập nền kinh tế thế giới Cục diện thế giới cuối thế kỷ
XX đầu thế kỷ XXI càng đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ và có hiệu quả giữa cácnền kinh tế từng nước, từng khu vực nhằm bổ sung, hỗ trợ nhau cùng pháttriển Trong giao lưu kinh tế, các đặc khu kinh tế vùng ven biển bao giờ cũngđóng vai trò quan trọng và luôn phát huy tác dụng lôi kéo các vùng kinh tếtrong nước cùng phát triển Những đặc điểm và ưu thế của nó ảnh hưởng rấtlớn bởi tính toán chiến lược phát triển kinh tế của mỗi nước, của khu vực vàtoàn thế giới Bởi vậy, trong bối cảnh thế giới lấy kinh tế làm trọng điểm nhưngày nay, không nước nào có thể thịnh vượng bằng con đường đóng cửa tựsản xuất tự tiêu thụ cũng không một quốc gia biển hay có vùng biển nào lạikhông tính đến, bước đi từ biển, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, xuất khẩubằng đường biển thông qua các điều kiện kinh tế đó là những tính toán có ýnghĩa chiến lược lâu dài để phát huy lợi thế của mình Ở châu Á Thái BìnhDương sự hưng thịnh của những quốc gia có lợi thế về biển để thành lập khukinh tế tự do như (Singapo) hoặc những vùng ven biển để khẳng định tiềm
Trang 24năng đất nước và chính sách mở cửa vùng kinh tế ven biển Điều đó đã đónnhận vốn và kỹ thuật hiện đại của thế giới, đưa nguồn hàng, kỹ thuật củamình đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của thị trường thế giới, từ đó khẳng định vị trícủa mình trong quan hệ của mình là hướng đi phù hợp với rất nhiều nước, vấn
đề là cần lập ra các ĐKKT với những cơ chế mở cửa như thế nào để có hiệuquả trên cơ sở phù hợp với đặc điểm và vị thế của từng nước từng vùng
Trung Quốc là những nước đóng vai trò quan trọng đối với sự pháttriển kinh tế và ổn định an ninh trong khu vực Vùng ven biển Trung Quốc lạichứa đựng nhiều yếu tố thuận lợi độc đáo trong giao lưu kinh tế khu vực vàthế giới Chính sách mở cửa trước hết là việc lập ra các ĐKKT trên bối cảnhlịch sử khách quan thuận lợi ấy và phù hợp với nhu cầu chấn hưng nền kinh tếTrung Quốc trong thời đại mới
1.1.2 Nhân tố trong nước
1.1.2.1 Tình hình Trung Quốc trước cải cách, mở cửa
Từ ngày thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (1/10/1949)đến trước năm 1978, nền kinh tế Trung Quốc hầu như nằm trong trình trạngđóng cửa Hoặc có thời kỳ mở cửa cũng chỉ bó hẹp trong quan hệ với cácnước thuộc hệ thống XHCN Có thể phân tích hai nguyên nhân dẫn đến tìnhtrạng đóng cửa kinh tế gần 30 năm như sau:
Thứ nhất, về nguyên nhân chủ quan: Do chưa nhận thức đầy đủ, đúngđắn quy luật phát triển kinh tế nền thời kỳ đầu, Trung Quốc chủ trương xâydựng CNXH theo mô hình Liên Xô Thể chế kinh tế tập trung, quan liêu baocấp đã bó chặt mọi hoạt động kinh tế trong khuôn khổ của kế hoạch chỉ huycứng nhắc: Mọi tư tưởng quan điểm và quy luật kinh tế thị trường đều bị coi
là xét lại hoặc phản bội XHCN Sau thời kỳ cải cách dân chủ, khôi phục kinh
tế (1949 - 1950) với sự giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc đã đạt được một sốthành tựu nhất định trong xây dựng kinh tế Xuất phát từ quan điểm chính trị,
Trang 25Đảng Cộng sản Trung Quốc, đứng đầu là Mao Trạch Đông, nhận thức rằng:Hoàn toàn có thể xây dựng thành công CNXH trên cơ sở phát huy đầy đủ ýchí và nhiệt tình cách mạng của quần chúng, giữ vững nền độc lập, tự chủ của
dân tộc Từ phong trào “Đại nhảy vọt”, Trung Quốc đóng cửa đến từng công
xã Mỗi công xã là một đơn vị khép kín tự cung, tự cấp, quản lý bằng biện
pháp hành chính, quân sự, phân phối bình quân kiểu “ăn nồi cơm to” Bằng
biện pháp đóng cửa giữ nền độc lập, huy động toàn dân nấu gang thép, Trung
Quốc hi vọng sẽ có những bước “tiến vọt” trong xây dựng kinh tế, cung cấp
nhiều gang thép cho sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước Kết quả của sựnóng vội, duy ý chí bất chấp quy luật khách quan, muốn đi lên bằng hai bàntay trắng đã đẩy nền kinh tế “nhảy vọt” đến chổ đỗ vỡ và khủng hoảngnghiêm trọng Tình hình buộc Trung Quốc phải tiến hành ba năm điều chỉnh(1962 - 1965) để ổn định nền kinh tế đầy nguy cơ sụp đổ
Sau thời kỳ “Đại nhảy vọt”, nền kinh tế Trung Quốc rơi vào tình trạng
suy đốn hơn trong 10 năm “Đại cách mạng văn hóa” (1966 - 1976) Thực tiễn của chính sách “Ba ngọn cờ hồng” là sai lầm và thất bại Năm 1966 Mao Trạch Đông quyết định phát động cuộc “Cách mạng hóa” với quan điểm cho
rằng: Mâu thuẫn chủ yếu và lâu dài của Trung Quốc là mâu thuẫn giữa giaicấp vô sản và giai cấp tư sản, nhiệm vụ trọng tâm của đất nước là đấu tranhgiai cấp tiêu diệt âm mưu phá hoại công cuộc xây dựng CNXH Khẩu hiệu
hành động của giai cấp này là “nắm khâu cách mạng, thúc đẩy sản xuất”,
“chính trị là thống soái” Có thể nói, đây là thời kỳ đóng cửa hoàn toàn nền kinh tế, văn hóa đất nước để thực hiện nhiệm vụ cốt tử là “đấu tranh giai
cấp” Tình trạng rối loạn về chính trị, đóng cửa về kinh tế đã đẩy Trung Quốc
sát bờ vực thẳm - kinh tế tiêu điều, khoa học kỹ thuật lạc hậu xa với thời đại,giáo dục, văn hóa suy đốn Kết quả là: đến năm 1977, sau những năm khôi
phục và băng bó vết thương của “Cách mạng văn hóa”, nền kinh tế của Trung
Trang 26Quốc cũng chỉ đạt được những chỉ tiêu thấp: thép 24 tấn, than 403 triệu tấn,điện 137 tỷ KW/h, dầu thô 65 triệu tấn, lương thực 300 triệu tấn [ 7; tr.10 ]
Đường lối đóng cửa về kinh tế của Trung Quốc vừa thể hiện sự hạnchế về trình độ nhận thức chủ nghĩa Mác - Lênin vửa thể hiện sự thiếu hụttrong kinh nghiệm xây dựng kinh tế XHCN nói riêng, trong quan hệ quốc tếnói chung
Từ thập kỷ 50 đến đầu thập kỷ 70 (thế kỷ XX), Trung Quốc thực hiệnchính sách đóng cửa với các nước phương Tây Còn với các nước XHCN,Trung Quốc cũng chỉ mở cửa giao lưu kinh tế qua một số hình thức chủ yếunhư vay vốn, nhận hoặc gửi nợ, gửi người đi đào tạo nước ngoài Những hạnchế về tư tưởng, đường lối xây dựng kinh tế và những diễn biến chính trị, xãhội trong nước đã không cho phép những ý tưởng và kế hoạch cải cách mởcửa nền kinh tế đất nước có cơ hội bất bắt rễ và khẳng định mình
Bên cạnh nguyên nhân chủ quan như đã phân tích, không thể khôngthừa nhận nguyên nhân khách quan đã đẩy nền kinh tế Trung Quốc lâm vàotình trạng đóng cửa, hoặc nửa đóng cửa trong hơn hai thập kỷ
Trước hết, nói về nguyên nhân từ phía các nước TBCN Trong thập kỷ
50 của thế kỷ XX, các nước TBCN phương Tây lo khôi phục kinh tế ổn địnhđất nước sau Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 - 1945) Lúc này, nhìn chung,nền kinh tế TBCN chưa có nhu cầu cấp thiết phải mở rộng hệ thống thị trườngcủa thế giới Bước sang thập kỷ 50 và 60, quan hệ quốc tế tồn tại mâu thuẫnđối đầu về chính trị và quân sự giữa hai phe TBCN và XHCN là chủ yếu, hệthống TBCN đứng đầu là Mỹ đã thực hiện chính sách bao vây nền kinh tế đốivới các nước XHCN đang còn non trẻ và nghèo nàn Vì vậy, Trung Quốccũng như các nước XHCN nghĩa khác chưa có điều kiện để giao lưu với cácnước TBCN Bước sang những năm đầu của thập niên 70, việc bình thườnghóa quan hệ Trung - Mỹ (1971), Trung - Nhật (1972) đã tạo ra những biến
chuyển có lợi cho nền kinh tế Trung Quốc Song thời điểm này, cuộc “Đại
Trang 27các mạng văn hóa” trong nước chưa cho phép những chính sách kinh tế mới
có điều kiện hoạch định và thực hiện
Những quan điểm sai lầm và sự bất hòa trong cộng đồng các nướcXHCN cũng là nguyên nhân kìm hãm hướng đi mở cửa của Trung Quốc Cácnước XHCN đã sai lầm khi chỉ chấp nhận sự phân công lao động trong hệthống, tách quan hệ kinh tế thế giới thành hai tuyến song song - TBCN vàXHCN Mọi giao lưu kinh tế, văn hóa với TBCN, thậm chí việc thừa nhận quyluật kinh tế thị trường TBCN đều bị coi là xét lại, là phản bội XHCN, chỉ cóXHCN là tốt đẹp, ưu việt vì nó ngược lại với TBCN, nó sáng ngời nên khôngsống nhờ vào TBCN Do vậy, Trung Quốc cũng như các nước XHCN kháckhông muốn xây dựng nền kinh tế đất nước bằng sự giúp đỡ của các nướcTBCN, dù là vốn hay kỹ thuật Mặt khác, quan hệ trong các nước XHCN nóichung cũng không hoàn toàn thuận buồm xuôi gió và tạo thuận lợi cho giao lưukinh tế của Trung Quốc với các nước trong hệ thống Cuối thập kỷ 50, đầu thập
kỷ 60 (thế kỷ XX), quan hệ Xô - Trung bắt đầu rạn nứt Sang thập kỷ 60 - 70,không những quan hệ này căng thẳng mà quan hệ giữa Trung Quốc và cácnước Đông Âu cũng xấu đi Điều đó làm Trung Quốc mất đi những nguồn trợgiúp đáng kể từ phía Liên Xô Sang thập kỷ 70 quan hệ Trung - Việt cũng bắtđầu rạn nứt Nói tóm lại, vào những năm đầu của thập kỷ 70, Trung Quốc lâmvào khủng hoảng nghiêm trọng Về chính trị là cuộc nổi loạn kéo dài của cáchmạng văn hóa, về kinh tế là tình hình đóng cửa với các nước XHCN nhưng lại
mở cửa với các nước TBCN Theo cách nói chung của Trung Quốc, chính sách
đóng cửa đã cho nền kinh tế đất nước “ăn đòn” [45, tr.10].
1.1.2.2 Những vấn đề đặt ra đối với nền kinh tế Trung Quốc.
Cách mạng văn hóa kết thúc, Mao Trạch Đông chết (1976), tình hìnhTrung Quốc bắt đầu chuyển biến Năm 1978, Đặng Tiểu Bình chính thức trở
Trang 28lại chính trường, từng bước nắm quyền điều hành đất nước Hàng loạt vấn đềcấp thiết đặt ra lúc này:
Một là, vấn đề khôi phục và phát triển kinh tế kém phát triển hàng chụcnăm, cải tạo KHKT tiến kịp với thế giới Đây là vấn đề - nhiệm vụ hàng đầu,bức xúc nhất của đất nước một tỷ dân này
Hai là, trong xu thế thế giới đang chuyển dần từ đối đầu sang đối thoại,không khí giữa các nước TBCN và XHCN đã cởi mở hơn Nhiều nướcphương Tây mà trước hết là Mỹ và Nhật Bản đã nhìn thấy xu thế đổi mớitrong chính sách phát triển kinh tế ở Trung Quốc Vì vậy, Trung Quốc và cácnước tư bản phương Tây có nhu cầu và sẵn sàng hợp tác về khoa học kỹ thuật
để cùng đạt được mục đích: giàu có và phát triển
Để tiến hành cải cách mở cửa Trung Quốc là nước có nhiều lợi thế màcác nước phát triển đang muốn hợp tác đầu tư Đây là nước có dân số đông,một thị trường bao la, tiềm tàng và đầy hứa hẹn cho nguồn vốn đầu tư khổng
lồ từ nước ngoài Trung Quốc cũng là thị trường tiêu thụ hàng hóa lớn, và lànơi đang cần đầu tư nhiều về khoa hoc công nghệ cũng như hệ thống côngnghiệp hiện đại Với vị trí thuận lợi đặc biệt là bờ biển dài, Trung Quốc trởthành điểm đến hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài
Từ hội nghị Trung ương 3 khóa 19 năm 1978, đánh dấu thời kỳ mở cửacải cách ở Trung Quốc Việc mở cửa của Trung Quốc vào thời điểm đó là rấtthuận lợi khi mà các nước tư bản đang thừa vốn và ráo riết tìm kiếm thịtrường tạo sự trùng hợp về lợi ích giữa hai bên Hơn nữa một thị trường tolớn, tài nguyên giàu có và lực lượng lao động dồi dào chưa được khai thác làlợi thế cạnh tranh và hấp dẫn lớn các nhà đầu tư nước ngoài vào Trung Quốc
Như vậy, chủ trương cải cách, mở cửa của Trung Quốc là phù hợp vớiquy luật phát triển của lịch sử Tuy nhiên một nước rộng như Trung Quốc thìviệc mở cửa thời kỳ đầu ồ ạt cả nước là rất mạo hiểm, khó thực hiện được.Mặt khác, giữa các vùng địa lý của Trung Quốc có sự phát triển không đều,
Trang 29khả năng tiếp nhận vốn đầu tư nước ngoài khác nhau nên cần có chính sáchriêng rẽ cho từng khu vực Vì vậy, cần có thể nghiệm ở phạm vi hẹp Thêmvào đó, Trung Quốc lúc nay rất eo hẹp về nguồn lực trong nước nên cần tậptrung vào một số vùng cụ thể, lấy đó làm động lực thúc đẩy các vùng khácphát triển.
Vào thời điểm này, ba “con rồng nhỏ” xung quanh Trung Quốc đã
chứng minh cho sự thành công đang phát triển trên cơ sở mở cửa thu hút vốn
đầu tư nước ngoài Đặng Tiểu Bình thường nói “Trung Quốc mới có một
Hồng Kông, phải có nhiều Hồng Kông thì nước giàu mạnh” Mặt khác, theo
thống kê, Trung Quốc có tới 57 triệu Hoa Kiều ở hải ngoại và quê hương của
họ chủ yếu là ở ba tỉnh Quảng Tây, Phúc Kiến, Hải Nam Vùng Triều Sán củatỉnh Quảng Đông có 6 triệu Hoa Kiều ở hơn 40 nước trên thế giới, trong đó80% ở Đông Nam Á [3, tr.523]
Cùng với sự ra đời và thành công của hàng trăm khu kinh tế tự do trênthế giới đã tác động mạnh tới ý đồ của các nhà lãnh đạo Trung Quốc Từ đó,các vùng kinh tế đặc biệt được nghiên cứu thay đổi phù hợp với Trung Quốc
Do những nhân tố nêu trên, tháng 4 năm 1978, trong một cuộc họp của Trungương, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã quyết định xây dựng một vài vùng kinh
tế phát triển thử nghiệm, đó là các ĐKKT
1.2 Sự hình thành Đặc khu kinh tế Thâm Quyến ở Trung Quốc
1.2.1 Sự hình thành các Đặc khu kinh tế ở Trung Quốc
Có thể nói, ĐKKT là một loại hình kinh tế tự do mang tính chất tổnghợp và rất đặc biệt Cho đến nay rất có nhiều khái niệm về ĐKKT, xét theonghĩa rộng, tất cả các khu vực địa lý được áp dụng những chính sách kinh tếđặc biệt đều có thể gọi là ĐKKT Song xét theo nghĩa hẹp, theo định nghĩacủa Trung Quốc thì ĐKKT là một mô hình được tổ chức theo hình thức caonhất, đầy đủ nhất như một xã hội thu nhỏ Đó là một khu vực địa lý riêng biệt,được áp dụng những chính sách kinh tế đặc biệt nhằm thu hút đầu tư nước
Trang 30ngoài, công nghệ, kiến thức về quản lý của nước ngoài để phát triển kinh tếvới một cơ cấu ngành nghề đầy đủ.
Trong chính sách mở cửa của mình, chính phủ Trung Quốc đã coi việcxây dựng ĐKKT là nhiệm vụ trọng tâm và bước đi đầu trong chiến lược mởcửa vùng kinh tế ven biển Ba chục năm qua ĐKKT góp phần làm rạng sángbức tranh kinh tế - xã hội Trung Quốc, trở thành mô hình độc đáo trong cuộccải cách mở cửa ở Trung Quốc
Đến tháng 7 năm 1979, chính phủ Trung Quốc quyết định cắt đất ở một
số vùng thuộc Thâm Quyến, Chu Hải, Sán Dầu (thuộc tỉnh Quảng Đông và
Hạ Môn (thuộc tỉnh Phúc Kiến) để thành lập các khu vực đặc biệt nhằm thu
hút đầu tư nước ngoài tăng cường xuất khẩu với tên gọi “đặc khu xuất khẩu”.
Ban đầu các khu vực này được thiết kế theo kiểu các Khu chế xuất dựa vào cụthể địa lý ven biển, gắn với các khu vực kinh tế phát triển và nhân tố để tăngcường thu hút
Năm 1980, chính phủ Trung Quốc tiếp tục chủ trương thành lập cácĐKKT Thâm Quyến, Sán Dầu, Chu Hải và Hạ Môn gần với khu vực kinh tếphát triển như ĐKKT Thâm Quyến, gần với Hồng Kông, ĐKKT Chu Hải,gần với Ma Cao, ĐKKT Hạ Môn gần, với Đài Loan và ĐKKT Sán Dầu là quêhương của nhiều Hoa Kiều
Bảng 1.1 Diện tích 5 ĐKKT của Trung Quốc
2 ) Khi thành lập Mở rộng
Thâm Quyến Quảng Đông 327,5 327,5
Hải Nam Hải Nam 34.500,0 34.500,0
Trang 31Nguồn: Bài viết “Đặc khu Thâm Quyến nguyên nhân của sự thành công” PGS Nguyễn Công Nghiệp, Tạp chí Tài chính, số tháng 10/1999, tr.41
-Sau này vào năm 1988 và năm 1990, Trung Quốc lần lượt thành lập cácĐKKT Hải Nam (tỉnh Hải Nam), Phố Đông (thuộc thành phố Thượng Hải).Mục đích ban đầu của các ĐKKT này là chủ yếu thu hút vốn, kỹ thuật củanước ngoài, thúc đẩy trong nước thực hiện 4 hiện đại hóa ở Trung Quốc (đó làhiện đại hóa công nghiệp, nông nghiệp, khoa học công nghệ và quốc phòng).Các đặc khu này trước tiên thông qua các chính sách ưu đãi về đầu tư đối vớicác thương gia nước ngoài, xây dựng các đặc khu thành cơ sở công nghiệptheo hướng xuất khẩu Sau đó áp dụng những chính sách ưu đãi đối với doanhnghiệp trong nước như đã áp dụng với thương mại nước ngoài, thu hút cácdoanh nghiệp đến đầu tư xây dựng kinh tế ở các đặc khu, thúc đẩy các doanhnghiệp trong nước tiếp cận với kỹ thuật và phương thức quản lý của nước
ngoài Các đặc khu kinh tế Trung Quốc đảm nhận chức năng là “cửa sổ” nhìn
ra thế giới là “cầu nối” hỗ trợ, lôi kéo và gắn kết hoạt động kinh tế của các
vùng nội địa với đặc khu cũng như với thế giới bên ngoài, là nơi thử nghiệmcác chính sách và phương thức hoạt động kinh tế mới nhằm từng bước nhânrộng mô hình hướng ngoại của các vùng, các tổ chức kinh tế trong nước
Có thể nói rằng, mặc dù các đặc khu kinh tế ở Trung Quốc có các môhình phát triển khác nhau, nhưng chính sách phát triển ĐKKT là một trongnhững chính sách thành công Trong số các ĐKKT ở Trung Quốc thì ThâmQuyến, một trong những Đặc khu kinh tế thí điểm đầu tiên, đã phát triểnnhanh và là điển hình thành công ở Trung Quốc
1.2.2 Sự ra đời Đặc khu kinh tế Thâm Quyến
Thâm Quyến là thành phố trực thuộc tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc
Thâm Quyến nghĩa là “con lạch sâu” nhưng hay bị gọi sai là Thẩm Quyền.
Hiện nay còn có con sông Thâm Quyến (Thâm Quyến hà) ngăn Thâm Quyến
Trang 32với Hồng Kông Thành phố Thâm Quyến bao gồm 6 quận La Hồ, Phúc Điền,Nam Sơn, Diêm Điền, Bảo An và Long Cương.
Trước khi trở thành ĐKKT, Thâm Quyến cũng là một làng chài nghèo
và lạc hậu, với những vùng đất sinh lầy, hoang vu, cơ sở hạ tầng hầu nhưchưa có gì Năm 1979, ngay sau khi thực hiện mở cửa chính sách đối ngoại,thu hút đầu tư nước ngoài, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã sớm nhận ra ưuthế nổi trội hiếm có của khu vực này, đó là vị trí liền kề Hồng Kông (lúc đócòn là thuộc địa của vương quốc Anh) Với vai trò là trung tâm tài chínhthương mại quốc tế, Hồng Kông sẽ là đối tác cực kỳ lý tưởng đối với ThâmQuyến trong mục tiêu thu hút vốn và trao đổi ngoại thương Việc thành lậpđặc khu này được coi như là thử nghiệm mô hình kinh tế thị trường TBCN tạinước Trung Quốc cộng sản Địa điểm này được chọn là cả dân Thâm Quyến
và dân Hồng Kông cùng có chung ngôn ngữ (tiếng Quảng Đông), chung vănhóa và dân tộc nhưng lại có giá nhân công, đất đai rẻ hơn nhiều Tháng5/1980, với việc chính thức thành lập ĐKKT, Thâm Quyến có diện tích 2020
km2 Là thành phố giáp biên giới với Hồng Kông, cách Quảng Châu 160 km
về phía Nam Năm 1988, Thâm Quyến được cho phép có thẩm quyền về kinh
tế cấp tỉnh của Trung Quốc
Nằm trong trung tâm của đặc khu và sát bên Hồng Kông, La Hồ làtrung tâm tài chính thương mại, diện tích 18,89 km2 Phúc Điền là trung tâmhành chính của thành phố, là trái tim của đặc khu, rộng 78,04 km2 Nam Sơnrộng 164,92 km2 là trung tâm của công nghệ cao, quận này nằm phía Đôngcủa đặc khu Nằm bên ngoài của đặc khu, Bảo An rộng 712,92 km2 tọa lạcphía Tây Bắc và Long Cương rộng 844,07 km2 tọa lạc về phía Đông Bắc củaThâm Quyến Diêm Điền (75,68 km2) là cơ sở dịch vụ hậu cần hàng hải.Cảng Nhan Điền là cảng nước sâu container lớn thứ 2 Trung Quốc và lớnthứ 4 thế giới
Trang 33Có thể khái quát các giai đoạn hình thành và phát triển của ĐKKTThâm Quyến như sau:
- Giai đoạn 1 (từ 1980 - 1985): Là thời kỳ xây dựng đặc khu bằng việchình thành cơ sở hạ tầng, phân bố theo ba miền đó là miền Đông, miềnTrung, miền Tây với những chức năng nhiệm vụ nhất định Miền Đông chủyếu phát triển công nghiệp thương mại, du lịch Miền Trung là trung tâmnghiên cứu khoa học công nông nghiệp, Miền Tây phát triển công nghiệpcảng và du lịch
- Giai đoạn 2 (từ 1986 - 2000): Là giai đoạn hình thành đặc khu, giaiđoạn này được xác định phải giải quyết một cách căn bản các nhiệm vụ nhưxây dựng các cấu ngành nghề và sản phẩm hợp lý, du nhập kỹ thuật và côngnghệ tiên tiến, nâng cao trình độ quản lí và trình độ người lao động nói chung(đến cuối năm 1989, ĐKKT Thâm Quyến đã có 8 khu công nghiệp, 2570 xínghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, với 48 vạn công nhân )
- Giai đoạn 3 (từ 2000 đến nay): Đây là giai đoạn nâng cấp và hoàn
thiện ĐKKT, biến đặc khu thực sự trở thành “Hồng Kông xã hội chủ nghĩa”,
có trình độ phát triển ngang bằng hoặc cao hơn Hồng Kông, nhưng về mặttinh thần lại mang màu sắc XHCN
Như vậy, từ một làng chài nghèo, Thâm Quyến đã biến đổi một cáchthần kỳ thành một thành phố hiện đại, đời sống nhân dân nhanh chóng đạt đếnmức sung túc Thâm Quyến nhanh chóng trở thành một điển hình về sự pháttriển kinh tế mở của Trung Quốc
Tiểu kết chương 1:
Các khu kinh tế tự do từ lâu đã được xây dựng ở nhiều quốc gia trên thếgiới Trung Quốc đã xây dựng những đặc khu kinh tế (một loại hình của khukinh tế tự do) từ 1980, trong đó ĐKKT Thâm Quyến được xây dựng đầu tiên
và cũng là đặc khu thu được những thành công nổi bật nhất
Trang 34* Về nhân tố bên ngoài:
Thứ nhất: Xu thế toàn cầu hóa về kinh tế đã trở thành tất yếu trên thế
giới trước và sau chiến tranh thế giới thứ hai nó đòi hỏi phải đi đến phá vỡnền kinh tế khép kín của các nước nếu muốn phát triển
Thứ hai: Việc phân chia thế giới thành hai phe TBCN và XHCN sau
Chiến tranh thế giới thứ hai Điều đó làm cho các nước XHCN đóng kín cửa
và phủ nhận nền kinh tế thị trường XHCN
Thứ ba: Trên thế giới đã xuất hiện nhiều khu KTTD và ĐKKT hoạt
động có hiệu quả trở thành bài học cho các nước tiến hành cải cách mở cửatác động trực tiếp đến Trung Quốc
* Về nhân tố chủ quan:
Thứ nhất: Sau ba mươi năm đóng kín cửa làm cho nền kinh tế Trung
Quốc lâm vào Khủng hoảng nghiêm trọng, đặt ra yêu cầu phải cải cách, mở cửa
Thứ hai: Những lợi thế của Trung Quốc về địa lý, thị trường nguyênliệu và những nhà lãnh đạo đã quyết tâm mở cửa trong việc thành lập cácĐKKT nhất là Thâm Quyến
Trang 35Chương 2 QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA ĐẶC KHU KINH TẾ THÂM QUYẾN
(TRUNG QUỐC) TỪ NĂM 1980 ĐẾN NĂM 2009
2.1 Những chủ trương chính sách nhằm phát triển Đặc khu kinh tế ở Thâm Quyến
2.1.1 Đặc điểm và mục tiêu chung của Đặc khu kinh tế Trung Quốc
* Những đặc điểm chung:
Sau khi nghiên cứu kinh nghiệm thế giới về việc thành lập các khu kinh
tế tự do, chính phủ Trung Quốc quyết định chọn Thâm Quyến là nơi đầu tiêntiến hành thí điểm chính sách mở cửa
Ban đầu, Thâm Quyến được chọn là nơi để thành lập khu chế xuất đểthu hút vốn và công nghệ chủ yếu từ Hồng Kông và thúc đẩy xuất khẩu Tuy
nhiên, theo tinh thần “đối ngoại mở cửa, đối nội làm ăn” của Hội nghị Trung
ương khóa XI, việc hình thành ĐKKT sẽ tốt hơn khu chế xuất Vì quy mô
và vị trí của các ĐKKT có ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện ý đồ chiến lượccủa chính sách Trung Quốc Đặc điểm chung của ĐKKT ở Trung Quốc lànhư sau:
- Có vị trí thuận lợi nằm sát nách các đô thị hoặc trung tâm có truyềnthống buôn bán quốc tế như: Ma Kao, Hồng Kông, thành phố cảng Hạ Môn,gần các đường giao thông quốc tế dọc Biển Đông
- Quy mô nhỏ, cơ sở hạ tầng ban đầu hầu như không có gì hầu hết được
đặt ở những vùng nông thôn nghèo nàn, những ĐKKT Trung Quốc là “căn cứ
địa” để huy động tổng lực vốn đầu tư của Hoa Kiều sau nhiều năm xa quê
hương để nhằm thúc đẩy quá trình đô thị hóa đất nước
- Dân số tuy không nhiều nhưng là “cửa ngõ” thông thương với thế giới
bên ngoài và tiếp giáp với các vùng nội địa Trung Quốc, vị trí địa lý chiến
Trang 36lược đem lại nhiều cơ hội việc làm cho người dân Trung Quốc Năm 1978dân số Thâm Quyến là 2 vạn người, năm 1994 là 3,4 vạn người Dân sốĐKKT Sán Dầu năm 1994 là 3,9 triệu người, Chu Hải là 6 vạn người, HạMôn là 1,2 triệu người Dân số ít nhưng với một lực lượng lao động trongnước hùng hậu và có thị trường rộng lớn ở trong nước các ĐKKT sẽ là cơ hộithu hút các nhà đầu tư nước ngoài.
* Những mục tiêu chung của ĐKKT Trung Quốc:
- Thu hút vốn, kỹ thuật công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến củanước ngoài, đặc biệt là huy động vốn của kiều bào để giải quyết tình trạngthiếu vốn và lạc hậu về công nghệ trong nước Những điều kiện ưu đãi về vịtrí địa lý, nhân lực và lực lượng Hoa Kiều đông đảo, kết hợp với các chínhsách ưu đãi đặc biệt, các ĐKKT sẽ là nơi lý tưởng cho các nhà đầu tư nướcngoài Bên cạnh đó các ĐKKT còn là địa bàn tạo việc làm và đào tạo laođộng trong nước
- Thúc đẩy xuất khẩu: Lợi dụng những mối quan hệ thương mại củađồng bào Hoa Kiều ở nước ngoài, các ĐKKT sẽ không ngừng mở rộng thịtrường, phát triển thị trường mới Các chính sách ưu đãi về hàm lượng xuấtkhẩu trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các lĩnh vực kinhdoanh mở rộng cả về kinh tế, du lịch sẽ giúp các đặc khu mở rộng Bêncạnh đó, những cơ chế linh hoạt của đặc khu như cho phép các doanh nghiệptrong đặc khu được tiêu thụ một phần sản phẩm trong nội địa, thực hiệnnguyên tắc vừa hướng nội, vừa hướng ngoại, những đòi hỏi đối với các khuvực ngoài đặc khu sẽ phải tăng lên nhằm phục vụ cho việc cung cấp nguyênvật liệu thay thế nhập khẩu và cạnh trang với các sản phẩm sản xuất trongđặc khu
- Tạo nên mối liên kết kinh tế tích cực với khu vực khác trong nền kinh
tế Trung Quốc Về thực chất, ĐKKT là một măt xích quan trọng đầu tiên củamột chính sách phát triển tổng thể thống nhất để phát triển các vùng kế cận
Trang 37sau đó mở rộng ra nhiều khu vực kinh tế khác, mà trước hết là vùng kinh tếven biển phía Đông.
- ĐKKT được coi là “phòng thí nghiệm” để cải cách thể chế ở Trung
Quốc Sau 3 thập kỷ phát triển kinh tế theo cơ chế bao cấp, kế hoạch hóa tậptrung, ĐKKT là nơi đầu tiên vận dụng quy luật của nền kinh tế thị trườngtrước khi áp dụng cho cả nước Hơn thế nữa, việc thành lập ĐKKT là sự trảinghiệm “giải phóng tư tưởng” của một nhà nước quan liêu, mạnh dạn phânquyền trực tiếp cho địa phương
- Tăng cường mối liên kết với nền kinh tế Hồng Kông, Đài Loan, “tạo
điều kiện để thu hồi các vùng lãnh thổ với mục tiêu xây dựng ĐKKT không chỉ mang ý nghĩa kinh tế quan trọng mà còn mang ý nghĩa chính trị xâu xa đối với ổn định nhân tâm ở Hồng Kông, đối vợi việc đưa Đài Loan về với Trung Quốc, các ĐKKT đó là cầu nối hữu hiệu để Trung Quốc thu hồi Hồng Kông vào năm 1997, Ma Cao vào cuối năm 1999 và Đài Loan trong tương lai trên thực tế mối quan hệ giữa Trung Quốc với các vùng lãnh thổ trên ngày càng được cải thiện Các nền kinh tế Quảng Đông, Phúc Kiến đã dần có sự hợp nhất chặt chẽ hơn với Hồng Kông và Đài Loan vào đất liền” [35; tr.125].
2.1.2 Các chính sách, biện pháp phát triển Đặc khu kinh tế Thâm Quyến
Được xác định có chức năng cửa sổ giao lưu với thế giới bên ngoàitrong lĩnh vực thu hút vốn đầu tư, du nhập công nghệ kỹ thuật hiện đại, tiếpthu kinh nghiệm và phương thức quản lý tiên tiến, mở rộng buôn bán mậudịch và hợp tác văn hóa khoa học, đồng thời là cầu nối lôi kéo gắn kết hoạtđộng, ĐKKT Trung Quốc nói chung và Thâm Quyến nói riêng đòi hỏi thỏamãn 4 điều kiện:
- Thực hiện cơ cấu nhiều thành phần, trong đó xí nghiệp ba loại vốn(liên doanh, hùn vốn với nước ngoài và 100% vốn nước ngoà) đóng vai tròchủ đạo
Trang 38- Nguồn vốn xây dựng ĐKKT được huy động từ đối tác nước ngoài làchủ yếu.
- Hàng hóa sản xuất từ các đặc khu kinh tế phải đáp ứng mục tiêu xuấtkhẩu là chủ yếu
- Các ĐKKT hoạt động theo sự quản lý, chỉ đạo của nhà mước nhưngchủ yếu vẫn tuân theo quy luật điều kiện của thị trường
Trong điều kiện thực tiễn của Trung Quốc những năm đầu thập kỷ 80của thế kỷ XX, đây là mô hình hoàn toàn mới Với những mục tiêu trên,Trung Quốc xây dựng và phát triển Thâm Quyến theo mô hình mở linh hoạt
Để làm được điều đó, Trung Quốc chú trọng đế hai lĩnh vực đó là cải cách thểchế quản lý và thực thi chính sách đặc biệt
2.1.2.1 Cải cách thể chế hành chính và kinh tế
Quản lý hành chính ở ĐKKT được phân thành 3 cấp: Cấp chính quyềntrung ương, cấp chính quyền tỉnh và cấp chính quyền địa phương
Ở cấp Trung ương: Đó chính là cấp cao nhất điều khiển quản lý chung
hoạt động của tất cả các ĐKKT trên toàn đất nước Hội đồng nhà nước TrungQuốc thành lập một văn phòng về ĐKKT, văn phòng này có trách nhiệmchính trong việc phối hợp các chính sách đặc khu, giám sát sự phát triển củađặc khu, đưa ra hướng dẫn cho từng đặc khu và tham mưu cho trung ương vềnhững chính sách thống nhất về đặc khu Cấp chính quyền này sẽ thẩm định
và phê chuẩn những dự án có vốn đầu tư lớn hoặc những dự án có ảnh hưởngtới quy hoạch kết cấu cơ sở hạ tầng
Cấp chính quyền thứ hai: là cấp chính quyền tỉnh và vùng có ĐKKT.
Đây là cấp chính quyền quản lý gần đặc khu hơn cấp chính quyền trung ươngnên có thể giám sát, quản lý chi tiết cụ thể hơn Cấp chính quyền tỉnh có thểthẩm định các dự án tướng đối lớn đầu tư vào ĐKKT, nhưng dự án mà cấpthứ ba - Ban quản lý ĐKKT, không đủ điều kiện để phê duyệt Ở Trung Quốc,
Trang 39chính quyền tỉnh Quảng Đông chịu trách nhiệm quản lý 3 đặc khu: ThâmQuyến, Chu Hải, Sán Dầu Đặc khu Hạ Môn chịu sự quản lý nhà nước củachính quyền tỉnh Phúc Kiến Riêng tỉnh Hải Nam thì chính quyền tỉnh cũng làchính quyền đặc khu và đặc khu Hải Nam trải rộng trên toàn bộ tỉnh đảo Do
tự tỉnh Quảng Đông có 3 ĐKKT nên chính quyền tỉnh Quảng Đông đã thànhlập một ủy ban quản lý các ĐKKT cấp tỉnh
Cấp thứ ba: Là cấp trực tiếp quản lý hoạt động của từng ĐKKT Bốn
ĐKKT nằm trong đất liền Trung Quốc được qủn lý bởi chính quyền địaphương độc lập của riêng từng ĐKKT Về mặt nguyên tắc chính quyềnĐKKT nắm được nhiều quyền hạn Tuy nhiên việc thực thi các quyền hạn nàytrên thực tế chịu sự chi phối dưới nhiều hình thức của chính quyền tỉnh vàchính quyền Trung ương
Vào thời gian ban đầu, chính quyền ĐKKT được quyền cấp giấy phépđầu tư vào trong đặc khu Hiện tại chính quyền đặc khu chỉ có thể cấp giấyphép đầu tư cho các dự án trong nước với các giới hạn: 100 triệu NDT đối vớicác dự án phi sản xuất, 50 triệu NDT đối với các dự án vào công nghiệp nặng
và 30 triệu đối với các dự án đầu tư vào công nghiệp nhẹ Trên nguyên tắc,chính quyền ĐKKT có quyền cấp giấy phép cho tất cả các dự án đầu tư nướcngoài Tuy nhiên, trên thực tế, vì các doanh nghiệp liên doanh có một phầnđóng góp vốn từ phía Trung Quốc và ngay cả doanh nghiệp100% vốn nướcngoài sử dụng hệ thống hạ tầng cơ sở phát triển bằng nguồn vốn trong nướcnên giới hạn 100/50/30 vẫn được áp dụng Ban quản lý ĐKKT trực tiếp điềuhành các hoạt động của ĐKKT, như cấp visa đi lại trong khu, tuyên truyềnquảng cáo về khu với các nhà đầu tư nước ngoài, hướng dẫn đầu tư dựa trêntinh thần các cơ chế chính sách của nhà nước và những quy định riêng đặc thùcủa mỗi ĐKKT Chính quyền các thành phố Chu Hải, Sán Dầu, Hạ Môn lập
ra các ủy ban quản lý các đặc khu tương ứng là Chu Hải, Sán Dầu, Hạ Môn
Trang 40Riêng đặc khu Thâm Quyến không chịu sự quản lý của một ủy ban tương tựnhư các đặc khu trên, thay vào đó người ta lập ra một chính quyền nhân dân,
vì vậy mà ở Đặc khu Thâm Quyến tính tự chủ cao hơn
Chính phủ Trung Quốc giao quyền tự chủ cao cho chính quyền và doanhnghiệp tại Thâm Quyến, nghĩa là chính quyền đặc khu có quyền ban hành cácquy chế mang tính pháp quy, phù hợp với tình hình và nhu cầu phát triển cụthể, tự xem xét, phê duyệt một số hạng mục, dự án đầu tư kinh tế, văn hóa,khoa học kỹ thuật mà không cần báo cáo lên trên, miễn là không trái với hiếnpháp, pháp luật đã ban hành Tương tự, các đặc khu cũng được hưởng quyền
tự chủ cao, nhờ đó mà xí nghiệp được hoàn toàn chủ động, tự quyết địnhphương thức kinh doanh, quản lý nhân công điều hành nguồn vốn và tự chịu
lộ lãi Đây là yếu tố cởi trói để chính quyền đặc khu và các doanh ngiệp trongđặc khu tránh khỏi sự lệ thuộc, chủ động sáng tạo định ra hướng đi lâu dài và
tự chủ cho mình Thực tế chứng minh rằng, khi đưa ra ý tưởng xây dựngThâm Quyến thành một ĐKKT, Đặng Tiểu Bình đã tuyên bố rõ ngay từ đầurằng, đặc khu Thâm Quyến phải tự mình đi lên và chính quyền Trung ương sẽkhông có những hỗ trợ về tài chính, nhưng nhờ được tự chủ và bằng một loạtcác chính sách năng động và linh hoạt, Thâm Quyến đã huy động được đầy
đủ nguồn lực bao gồm ngân sách, đầu tư nước ngoài giúp Thâm Quyến vượtqua cửa ải quan trọng trong tiến trình phát triển Ví dụ, để thực hiện chínhsách đổi đất lấy cơ sở hạ tầng, theo báo cáo của Ngân hàng thế giới, trongnhững năm 1990 khoảng 80% ngân sách của chính quyền Thâm Quyến là cónguồn gốc từ bán và cho thuê đất công, và đây chính là nguồn ngân sách chủyếu để xây dựng hệ thống hạ tầng của Thâm Quyến Việc bán đất công vớithời gian sử dụng từ 40 năm đến 70 năm lúc đầu được thực hiện theo phươngthức mặc cả giữa chính quyền và người mua, nhưng do hiện tượng thôngđồng và tham nhũng sau này Thâm Quyến cũng như nhiều nơi khác tiến hành