Khách thể nghiên cứu: Mối quan hệ và tác động qua lại của Hiệu trưởng và giáo viên trong quátrình thực hiện các biện pháp kiểm tra chuyên môn của Hiệu trưởng.. Phương pháp điều tra xã h
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong thế giới ngày nay, hầu hết các Quốc gia đều nhận thấy vai trò to lớncủa giáo dục đối với sự phát triển kinh tế- xã hội của Quốc gia mình Những bàihọc về sự thành công thần kỳ của các nền kinh tế Nhật Bản, Hàn Quốc… và một
số quốc gia khác, đã cho thấy từ giáo dục những Quốc gia này đã đạt được sựphát triển nhanh chóng về kinh tế - xã hội Trước hết phải hướng tới sự pháttriển con người- nguồn nhân lực của xã hội- động lực của mọi sự phát triển.Giáo dục là bước mở đầu của chiến lược con người, là điều kiện cơ bản để hìnhthành , phát triển và hoàn thiện lực lượng sản xuất xã hội Con người cùng vớitrí tuệ trở thành nhân tố phát triển kinh tế- xã hội Con người cũng là nguyênnhân làm tăng của cải xã hội, sự giàu có và thịnh vượng
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng cộng sản Việt Nam đãxác định: “Cùng với khoa học và công nghệ, Giáo dục và đào tạo là quốc sáchhàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho sựnghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” (Văn kiện Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ VIII của Đảng cộng sản Việt Nam) đã định hướng chiến lược pháttriển Giáo dục và đào tạo trong thời kỳ đổi mới của đất nước
Để thực hiện được định hướng chiến lược phát triển Giáo dục và đào tạotrong thời kỳ Công nghiệp hoá, hiện đại hoá Nghị quyết hội nghị lần thứ II Banchấp hành Trung ương khoá VIII đã đề ra 4 giải pháp cơ bản đó là:
- Tăng cường các nguồn lực đầu tư cho Giáo dục và đào tạo
- Xây dựng đội ngũ giáo viên tạo động lực cho người dạy, người học
- Tiếp tục đổi mới nội dung phương pháp Giáo dục và đào tạo
- Đổi mới và tăng cường công tác quản lý của Giáo dục và đào tạo Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng cộng sản Việt Nam lạikhẳng định rõ: “Phát triển Giáo dục và đào tạo là một trong những độnglực quantrọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để pháttriển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” Đại hội chủ trương: “Tiếp
Trang 2tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạyhọc, hệ thống truờng lớp và hệ thống quản lý giáo dục Thực hiện chuẩn hoá,hiện đại hoá, xã hội hoá giáo dục (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
IX của Đảng cộng sản Việt Nam) đã đặt ra nhiệm vụ cụ thể cho Ngành Giáo dục
và đào tạo được xem như một giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượngGiáo dục và đào tạo
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng cộng sản Việt Nam đã đánh giá
về tồn tại của giáo dục và đào tạo là chất lượng giáo dục và đào tạo còn thấp, nhiềuvấn đề hạn chế yếu kém chậm được khắc phục Trong đó công tác quản lý giáo dục vàđào tạo chậm được đổi mới và còn nhiều bất cập Thanh tra giáo dục còn nhiều yếukém; những hiện tượng tiêu cực như bệnh thành tích, thiếu trung thực trong đánh giákết quả giáo dục, trong học tập tuyên sinh, thi cử, cấp bằng và tình trạng dạy thêm họcthêm tràn lan kéo dài, chậm được khắc phục Tại Đại hội này Đảng ta đã đề ra một sốđịnh hướng phát triển Ngành Giáo dục và đào tạo trong đó có nội dung: “Đổi mới vànâng cao năng lực quản lý Nhà nước về giáo dục và đào tạo; Nhà nước thực hiện đúngchức năng định hướng phát triển, tạo lập khung pháp lý và kiểm tra, thanh tra, giám sátviệc thực thực thi pháp luật, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh trong giáo dục vàđào tạo, chống bệnh thành tích Đổi mới tổ chức và hoạt động, đề cao và bảo đảmquyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của nhà trường, nhất là các trường Đại học, Caođẳng, Trung học chuyên nghiệp và dạy nghề tập trung khắc phục những tiêu cựctrong dạy thêm, học thêm, thi cử, tuyển sinh, đánh giá kết quả học tập và cấp chứngchỉ, văn bằng” (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng cộng sảnViệt Nam)
Đối với ngành Giáop dục và đào tạo trong hội nghị tổng kết năm học2005-2006, triển khai nhiệm vụ năm học 2006-2007 đã đánh giá một số vấn đềcòn hạn chế của Ngành giáo dục trong đó có đề cập đến nội dung: “Công tácquản lý giáo dục chậm được đổi mới, không ít cơ quan quản lý giáo dục cònlúng túng khi sử lý các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn Việc thi cử đánh giá cònchậm đổi mới; tình hình tiêu cực trong giáo dục chưa được khắc phục… ”
Trang 3Nhiệm vụ của năm học 2006-2007 là: “Tiếp tục thực hiện đổi mớichương trình, nội dung, phương pháp giáo dục, trọng tâm là tổ chức thực hiệntốt phân ban kết hợp với tự chọn của lớp 10, trên cơ sở giáo dục toàn diện, chútrọng giáo dục đạo đức, lối sống, giáo dục hướng nghiệp về luật pháp Hệ thốngkhảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục cần phát triển; tiếp tục đổi mới côngtác thi, kiểm tra đánh giá đúng chất lượng giáo dục” Điểm nhấn mạnh củanhiệm vụ này là kế hoạch tổ chức cuộc vận Nhiệm vụ của năm học2006-2007 là: “Tiếp tục thực hiện đổi mới chương trình, nội dung, phương phápgiáo dục, trọng tâm là tổ chức thực hiện tốt phân ban kết hợp với tự chọn củalớp 10, trên cơ sở giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục đạo đức, lối sống, giáodục hướng nghiệp về luật pháp Hệ thống khảo thí và kiểm định chất lượng giáodục cần phát triển; tiếp tục đổi mới công tác thi, kiểm tra đánh giá đúng chấtlượng giáo dục” Điểm nhấn mạnh của nhiệm vụ này là kế hoạch tổ chức cuộcvận động: “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáodục”.
động: “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”
Từ các định hướng qua các kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng cộngsản Việt Nam cũng như đánh giá và định hướng thực hiện nhiệm vụ của Ngànhgiáo dục và đào tạo từ các năm học trước đặc biệt là năm học 2006-2007 chothấy: Tính cấp thiết của việc đổi mới công tác quản lý giáo dục, công tác kiểmtra đánh giá trong các nhà trường là rất quan trọng
Trong hoạt động quản lý, kiểm tra vừa là biện pháp vừa là một trong bốn chức năngchung đó là: Hoạch định kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra Muốn có quyếtđịnh quản lý đúng đắn thì phải kiểm tra, không có kiểm tra thì không có quản lý
Thực hiện quy chế chuyên môn là một trong những hoạt động quan trọngcủa giáo viên nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường Muốn quản
lý quy chế chuyên môn thì Hiệu trưởng phải kiểm tra việc giáo viên thực hiệnquy chế chuyên môn Không kiểm tra hoặc kiểm tra không đến nới đến chốn thì
sẽ không điều khiển được hoạt động dạy- học đúng với mục tiêu yêu cầu đề ra
Trang 4Trong thực tế hiện nay Hiệu trưởng một số trường tiểu học chưa chú ý đúngmức việc kiểm tra giáo viên thực hiện quy chế chuyên môn Biểu hiện là: Quatheo dõi sổ kiểm tra của hiệu trưởng các nhà trường thì có gần 100% số giáo viênđược kiểm tra toàn diện, chuyên đề có kết quả kiểm tra tốt Một số Hiệu trưởnggiao hết cho Hiệu phó chuyên môn và Tổ trưởng chuyên môn từ đó dẫn tới giáoviên thực hiện chưa tốt các hoạt động chuyên môn Kết quả là người hiệu trưởngkhông thể thực hiện một cách tối ưu hoạt động quản lý chuyên môn của mình Trên địa bàn huyện Tứ Kỳ- Tỉnh Hải Dương có 29 trường tiểu học điều
là trường Công lập Các trường này thực hiện quy chế chuyên môn của giáo viênchưa đồng bộ, việc kiểm tra của Hiệu trưởng về quy chế chuyên môn của giáoviên vẫn còn chưa thống nhất Một số Hiệu trưởng chưa có nhiều kinh nghiệmtrong công tác kiểm tra chuyên môn; một số Hiệu trưởng chưa nhận thực đúng
và chưa coi trọng công tác kiểm tra chuyên môn… Do đó việc nâng cao chấtlượng giáo dục toàn diện trong mỗi nhà trường chưa thật tốt vì vậy muốn có sựthống nhất hợp lý trong quá trình kiểm tra cần có một số biện pháp hữu hiệu hơncủa Hiệu trưởng tại các trường tiểu học trong huyện Tứ Kỳ
Từ những lý do trên tôi chọn đề tài “Một số biện pháp kiểm tra
chuyên môn của Hiệu trưởng trường tiểu học tại huyện Tứ Kỳ- tỉnh Hải Dương” để nghiên cứu.
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Trên cơ sở lý luận và khảo sát thực tiễn về công tác kiểm tra chuyên môn củaHiệu trưởng để tìm một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chuyên môncủa hiệu trưởng các trường tiểu học tại huyện Tứ Kỳ- tỉnh Hải Dương
3 KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU- ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
3.1 Khách thể nghiên cứu:
Mối quan hệ và tác động qua lại của Hiệu trưởng và giáo viên trong quátrình thực hiện các biện pháp kiểm tra chuyên môn của Hiệu trưởng Vai tròkiểm tra chuyên môn của Hiệu trưởng tại các nhà trường
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Trang 5Các biện pháp kiểm tra chuyên môn của Hiệu trưởng các trường tiểu họctại huyện Tứ Kỳ- tỉnh Hải Dương.
4 Giả thuyết khoa học
Nếu có các biện pháp điều tra, khảo sát khoa học, phù hợp sẽ khảo sát và đánhgiá đúng thực trạng kiểm tra chuyên môn của người Hiệu trưởng trong các trường tiểuhọc từ đó đề xuất các biện pháp kiểm tra chuyên môn phù hợp thì sẽ nâng cao hiệuquả quản lý chuyên môn tại các trường tiểu học ở huyện Tứ Kỳ- tỉnh Hải Dương
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài của luận văn: Khái niệmquản lý, quản lý nhà trường, kiểm tra, các hình thức kiểm tra, kiểm tra chuyên môn…… 5.2 Nghiên cứu thực trạng kiểm tra chuyên môn của Hiệu trưởng cáctrường tiểu học tại huyện Tứ Kỳ- tỉnh Hải Dương
5.3 Đề xuất biện pháp kiểm tra chuyên môn của Hiệu trưởng các trườngtiểu học tại huyện Tứ Kỳ- tỉnh Hải Dương
6 Giới hạn nghiên cứu
6.1 Giới hạn về nội dung:
Quản lý có nhiều chức năng: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo thực hiện,kiểm tra Trong luận văn này chỉ nghiên cứu một chức năng kiểm tra
Trong chức năng kiểm tra chỉ nghiên cứu một số biện pháp kiểm tra chuyên môncủa Hiệu trưởng đối với việc giáo viên thực hiện hoạt động giảng dạy ở cấp tiểu học
7 Các phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:
Để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài làm nền tảng cho quá trình nghiên cứu cụthể chúng ta đã hệ thống, phân tích, tổng hợp các tài liệu về quản lý, công tác kiểm
Trang 6tra đánh giá: Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, kiểm tra đánh giá, kiểmtra chuyên môn, các văn bản pháp quy của Nhà nước, Bộ, Ngành gáo dục và đào tạocũng như các Nghị quyết của Đảng về công tác giáo dục - đào tạo.
Mục đích:
- Nghiên cứu đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về quản lý, công tác kiểm tra đánhgiá, kiểm tra chuyên môn trong ngành Giáo dục và các nhà trường
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn và phương pháp hỗ trợ khác:7.2.1 Phương pháp điều tra xã hội học; khảo sát thực tiễn:
Mục đích:
- Thu thập số liệu liên quan như số học sinh, số trường, số lớp, số giáo viên,
cán bộ quản lý các nhà trường; tư liệu về thực tế các biện pháp kiểm tra chuyên môncủa Hiệu trưởng đã và đang được áp dụng ở các trường tiểu học trong huyện Tứ Kỳ
để đánh giá thực trạng về công tác kiểm tra chuyên môn của Hiệu trưởng
- Phỏng vấn, điều tra, sử dụng hệ thống các câu hỏi và phiếu điều tra các
chuyên viên, lãnh đạo phòng Giáo dục huyện Tứ Kỳ; Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởngcác nhà trường, giáo viên các nhà trường về việc chỉ đạo, thực hiện, đánh giá côngtác kiểm tra chuyên môn ở các trường tiểu học trong huyện Tứ Kỳ Hải Dương hiệnnay cũng như đánh giá tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất
- Trao đổi với các chuyên gia, các Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng để tập hợptổng kết kinh nghiệm kiểm tra chuyên môn có hiệu quả cao
7.2.2 Phương pháp phân tích tổng hợp:
Mục đích:
Trang 7- Từ kết quả của việc điều tra xã hội học; khảo sát thực tiễn, tổng hợp số liệu
từ đó phân tích thực trạng phát triển giáo dục ở huyện Tứ Kỳ cũng như thực trạngcủa công tác kiểm tra chuyên môn của Hiệu trưởng các trường tiểu học ở huyện Tứ
Kỳ trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp kiểm tra chuyên môn có hiệu quả cao hơn
Nội dung:
- Tổng hợp phân tích thực trạng phát triển giáo dục ở huyện Tứ Kỳ
- Tổng hợp phân tích thực trạng công tác kiểm tra chuyên môn của Hiệutrưởng các trường tiểu học
- Tổng hợp phân tích tính khả thi của các biện pháp kiểm tra chuyên môn đã đềxuất
7.2.3 Các phương pháp kiểm tra, đánh giá:
Mục đích:
- Kiểm tra, đánh giá thực trạng việc kiểm tra chuyên môn của Hiệu trưởngcác trường tiểu học ở huyện Tứ Kỳ cũng như tính khả thi của những biện pháp kiểmtra chuyên môn đã đề xuất ở đề tài
Nội dung:
- Kiểm tra, đánh giá công tác kiểm tra chuyên môn của Hiệu trưởng
- Kiểm tra đánh giá tính khả thi của các biện pháp kiểm tra chuyên môn đã đề xuất
Trang 8Phỏng vấn các chuyên gia có độ sâu về lý luận quản lý và có nhiều kinh nghiệmtrong thực tiễn quản lý, kiểm tra chuyên môn ở các trường tiểu học để đánh giá thực trạng
và biện pháp nâng cao hiệu quả kiểm tra chuyên môn của Hiệu trưởng các trường tiểu học
7.2.5 Phương pháp thống kê toán học:
Mục đích:
- Phương pháp thống kê toán học để sử lý, phân tích các số liệu từ các
mẫu điều tra thu được
Nội dung:
- Thống kê các số liệu lấy từ giáo viên, Phó hiệu trưởng, Hiệu trưởng, cácchuyên gia… đánh giá về các biện pháp kiểm tra chuyên môn của Hiệu trưởng cáctrường tiểu học ở huyện Tứ Kỳ
Cách tiến hành:
- Thống kê các số liệu theo mẫu phiếu điều tra
- Kết luện vấn đề về công tác kiểm tra chuyên môn…
8 Đóng góp mới của đề tài nghiên cứu
Đề tài này sẽ đề xuất các biện pháp kiểm tra chuyên môn của Hiệu trưởng vàgiúp cho các Hiệu trưởng trường tiểu học nhìn rõ mục tiêu của công tác kiểm trachuyên môn nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng giáo dục ở các nhà trường
9 Cấu trúc luận văn
- Phần nội dung: Gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề cần nghiên cứu.
Trang 9Chương 2: Nghiên cứu thực trạng biện pháp kiểm tra chuyên môn của người
Hiệu trưởng ở các trường tiểu học trên địa bàn huyện Tứ Kỳ- tỉnh Hải Dương
Chương 3: Một số biện pháp kiểm tra chuyên môn của người Hiệu trưởng ở
các trường tiểu học trên địa bàn huyện Tứ Kỳ- tỉnh Hải Dương
- Phần kết luận và kiến nghị:
Trang 10
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỂ TÀI
1.1 TỔNG QUAN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:
1.1.1 Những công trình nghiên cứu trên thế giới về vấn đề kiểm tra:
Đã có nhiều nhà khoa học giáo dục có những công trình nghiên cứu vềgiáo dục, quản lý giáo dục, vai trò chức năng của người Hiệu trưởng… và mớichỉ đề cập tới lĩnh vực kiểm tra đánh giá quy trình dạy- học đặc biệt là quá trìnhhọc tập của học sinh
Một số nhà khoa học mới chỉ đề cập tới vai trò, ý nghĩa của hoạt động kiểmtra và coi kiểm tra là một chức năng trong công tác quản lý của nhà quản lý chứchưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập sâu sắc tới vấn đề kiểm tra, kiểmtra chuyên môn của Hiệu trưởng như: “Cơ sở lý luận của khoa học quản lý giáodục” của M.I Konđacốp Công trình nghiên cứu về “Quản lý giáo dục quốc dân
ở địa bàn quận, huyện” của nhà lý luận giáo dục Xô Viết- Khuđominsky; côngtrình nghiên cứu “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” của nhà khoa học giáo dụcMỹ- Hanold Koontz;…
1.1.2 Những công trình nghiên cứu ở Việt Nam về vấn đề kiểm tra:
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý, quản lý nhà trường nóichung và quản lý hoạt động dạy học nói riêng… của các nhà nghiên cứu khoahọc giáo dục, các thầy cô giáo rongnhà trường sư phạm nhưngcũng mới chỉ đềcập tới côngtác kiểm tra chuyên môn dưới gọc độ chức năng kiểm tra đánh giácông tác quản lý của mỗi nhà quản lý ở từng nhà trường
Trong những năm gần đây một số luận văn Thạc sỹ khoa học giáo dụcchuyên ngành quản lý giáo dục bước đầu đã có nghiên cứu tới thực trạng và biệnpháp quản lý chuyên môn ở các trường học từ cấp mầm non đến tiếu học, trunghcj cơ sở và trung học phô thông có đè cập tới chức năng kiểm tra chuyên môncủa Hiệu trưởng như: “Các biện pháp quản lý chuyên môn của Hiệu trưởng cáctrường tiểu học ở Quảng Nam” - Nguyễn Đăng Hưng (1999); “Thực trạng vàbiện pháp quản lý chuyên môn của Hiệu trưởng trường trung học phổ thông
Trang 11miền núi Thanh Hoá nhằm nâng cao kết quả giảng dạy” – Lương Hữu Hồng(2000); “Một só biện pháp quản lý chuyên môn của Hiệu trưởng nhằm góp phầnnâng cao kết quả hcọ tập của học sinh trung học phổ thông Thị xã Sơn La” –Nguyễn Khắc Tâm (2000); Một số biện pháp quản lý hoạt động chuyên môn của
Sở giáo dục – đào tạo tỉnh Bắc Ninh đối với trường trung học phổ thôngngoàicông lập” – Nguyễn Nho Hoài (2004);…
Nhìn chung các đề tài trên đã đề cập tới thực trạng quản lý chuyên môn nóichung và công tác kiểm tra chuyên môn nói riêng ở các trường và đè xuất một
số biện pháp quản lý chuyên môn cũng như một số biện pháp kiểm tra chuyênmôn ở các nhà trường Về ý nghĩa thực tiễn của các luận văn trên đã góp phầnphổ biến kinh nghiệm quản lý chuyên môn cho đôi ngũ cán bộ quản lý các nhàtrường ơ từng địa phương nhất định
Kiểm tra chuyên môn của Hiệu trưởng trong các nhà trường là hoạt độngkhông thể thiếu được nhằm nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục trong mỗinhà trường, đồng thời nó còn mang ý nghĩa quan trọng đó là bồi dưỡng đội ngũ,nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực sư phạm cho giáo viên Mặtkhác kiểm tra chuyên môn trong nhà trường tạo ra việc thực hiện quy chế , quyđịnh chuyên môn của giáo viên mang tình nghiêm túc, ổn định hơn
Hoạt động kiểm ta chuyên môn của Hiệu trưởng nói chung thực tế vẫnđược thực hiện theo đúng quy định Tuy nhiên mỗi mọtt trường có đặc điểmriêng về đội ngũ và quan điểm làm việc… thì hiệu quả hoạt động kiểm trachuyên môn của các Hiệu trưởng lại đạt dược một cách khác nhau Trongcôngtác quản lý của Hiệu trưởng thì hoạt động kiểm tra chuyên môn trong nhàtrường phải được tiến hành theo quy định: Mỗi năm họcHiệu trưởng phải tiểnhành kiểm tra toàn diện ít nhất 1/3 tổng số giáo viên và tất cả giáo viên còn lạiđược kiêểmtra theo chuyên đề xem xét hồ sơ kiểm tra và việc việc sử lý kết quảkiểm tra của Hiệu trưởng
Cho đến nay trước nhu cầu thực tế nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo,đáp ứng nguồn nhân lực cho sự nghiệp Công nghiệp hoá, hiện đại hoá của địaphương và cả nước Ngành giáo dục Hải Dương đã nhận thức công tác trọng tâm
Trang 12cua rcác nhà trường để nâng cao chất lượng hoạt động chuyên môn và hiệu lựcquản lý chuyên môn đó là công tác thanh tra của thanh tra, cộng tác viên thanhtra kiểm tra chuyên môn của Hiệu trưởng trong các nhà trường Vấn đề nàyđược các hội nghị, hội thảo đề cập nhiều song công tác kiểm tra chuyên môn thìgặp nhiều khó khăn về chỉ đạo và tổ chức thực hiện trong mỗi nhà trường.
Do đó đề tài nghiên cứu này mong muốn qua nghiên cứu thực trạng côngtác kiểm tra chuyên môn của HIệu trưởng các trường tiểu học ở huyện Tứ Kỳ -Hải Dương đề xuất được một số biện pháp kiểm tra chuyên môn có tính hệthống và khả thi nhằm tăng cường công tác kiểm tra chuyên môn của Hiệutrưởng các trường tiểu học để nâng các chất lượng hoạt động chuyên môn trongcác nhà trường
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI:
1.2.1 Khái niệm quản lý:
Người ta có thể tiếp cận khía niệm quản lý từ nhiều goc độ khác nhau Đó
là cai quản, chỉ huy, lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra theo góc độ tổ chức, theo góc độđiều khiển học từ quản lý là lái, điều khiển, điều chỉnh
Theo cách tiếp cận hệ thống thì quản lý là sự tác động của chỉ thể quản lý đếnkhách thể quản lý (hay đối tượng quản lý) nhằm tổ chức phối hợp hoạt động củacon người trong các quá trình sản xuất xã hội để đạt được mục đích nhất định Các Mác đã lột tả bản châấtcủa quản lý là: “Nhằm thiết lập sự phối hợpgiữa công việc cá nhân và thực hiện những chức năng chung, nảy sinh từ sự vậnđộng của toàn bộ cơ chế sản xuất khác với sự vận động của các bộ phận riêng lẻcủa nó Một người đốc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình còn một dàn nhạc thìcần phải có nhạc trưởng” (C.Mác P Ăng nghen tập 23, trang 342) Như vậytheo Các Mác quản lý là loại lao động sẽ điều khiêể mọi quả trình lao động, pháttriển xã hội
* Các nhà khoa học trên thể giới đã đưa ra nhiều định nghĩa quản lý từ
các góc độ khác nhau:
Trang 13Theo Frederich Wiliam Taglog (1856 - 1915) người Mỹ: Quản lý là nghệthuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phươngpháp tốt nhất và rẻ tiền nhất.
Theo nhà quản lý người Pháp Henri Fagol (1841 – 1925): “Quản lý là đưa
xí nghiệp tới đích cố gắng sử dụng tốt nhất các nguồn lực của nó”
Khi nói tới vai trò quản lý trong xã hội: Paul hersey và ken Balanc Heardtrong cuốn “Quản lý nguồn nhân lực” đã viết: “Quản lý là một quá trình cũng làviệc giữ nhà quản lý với người bị quản lý, nhằm thông qua hoạt động của cánhân, của nhóm, huy động các nguồn lực khác để đạt được mục tiêu của tổchức” Hay có thể hiểu: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu nó đảm bảo phốihợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được những mục tiêu của nhóm với thờigian, tiền bạc và sự bất mãn cá nhân ít nhất” Harold Koontz- 1993
Quản lý một hệ thống xã hội là khoa học và nghệ thuật tác động vào hệthống mà chủ yếu là vào những con người nhằm thành đạt các 2mục tiêu kinh tế
- xã hội xác định (Aunapu - 1983)
Quản lý là cai trị một tổ chức bằng cách: Đặt ra mục tiêu và hoàn chỉnhcác mục tiêu cần đạt , lựa chon và sử dụng các phương tiện nhằm đạt các mụctiêu đã định
Quản lý xã hội một cách khoa học, không phải cái gì khác mà chính là việctác động một cách hợp lý đến hệ thống xã hội, việc làm cho hệ thống đó phù hợpvới tính quy luật vốn có của nó (M.I.Konđacôp - 1984)
* Quan điểm của các nhà khoa học Việt Nam vê quản lý:
Khái niệm quản lý trong tiếng Việt lột tả được bản chất của hoạt động này: Quátrình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì tổ chức ở trạng thái ổn định; quátrình “lý”gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới, đưa tổ chức vào thế phát triển Nếungười quản lý chỉ lo việc “quản” tức chỉ lo việc coi sóc, giữ gìn, thì tổ chức trìtrệ; những người quản lý chỉ quan tâm đến việc “lý” tức là chỉ lo việc sắp xếp tổchức, đổi mới mà không đặt trên nền tảng của sự ổn định thì sự phát triển của tổchức không bền vững Vì vậy trong quá trình “quản” phải có “lý” và ngược lại
Trang 14“Quản lý là sự tác động của các cơ quan quản lý vào đối tượng quản lý đểtạo ra một sự chuyển biến của toàn bộ hệ thống nhằm đạt một mục đích nhấtđịnh” (Học viện Chính trị Quốc gia - 1976).
Quản lý là những hoạt động cần thiết đã được thực hiện khi những conngười kết hợp với nhau trong các nhóm, tổ chức nhằm đạt được những mục tiêuchung (Khoa học tổ chức và quản lý - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn – NXBthống kê Hà Nội - 1999)
Quản lý là một nghệ thuật đạt được mục tiêu đề rathông qua việc điềukhiển, phối hợp, hướng dẫn, chỉ huy hoạt động của những người khác
Quản lý là tác động có mục đích, có kết quả của chủ thể quản lý đến tập thểnhững người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện đượcnhững mục tiêu đã dự kiến (Nguyễn Ngọc Quang - Những khái niệm cơ bản về
lý luận quản lý giáo dục - Trường CBQL- GDĐT, Hà Nội 1989)
G.S Nguyễn Văn Lê - Học viện CHính trị Quốc gia quan niệm: “Quản lýmột cơ sở kinh doanh với tư cách là một hệ thống xa hội, là khoa học và nghệthuật tác động vào từng thành tố của hệ thống bằng những phưưong pháp thíchhợp, nhằm đạt các mục tiêu đề ra cho hệ và từng thành tố của hệ”
Theo G.S Nguyễn Minh Đạo “Quản lý lơngsuwj tác động liên tục, có tổchức, có định hướng của chủ thể lên khách thể về các mặt: chính trị, văn hoá,kinh tế, xã hội, giáo dục…… bằng một hệ thống các luật định, chính sách,nguyên tắc, phương pháp, biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiệncho sự phát triển của đối tượng”
G.S Đặng Vũ Hoạt và G.S Hà Thế Ngữ cho rằng: “Quản lý là một quá trìnhđịnh hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được nhữngmục tiêu nhất định”
Ý kiến của G.S Mái Hữu Khuê “Hoạt động quản lý là một dạng hoạt độngđăc biệt của người lãnh đạo mang tính tổng hợp của các loại lao động trí óc, liênkết bộ máy quản lý thành một chỉnh thể thống nhất điều hoà phối hợp các khâu
và các cấp quản lý làm cho hoạt động nhịp nhàng đưa đến hiệu quả”
Trang 15Quan điểm cư G.S Nguyễn Bá Sơn “Quản lý là sự tác động có hướng đíchcủa chủ thể quản lýđến đối tượng quản lý bằng một hệ thông các giải pháp nhằmthay đổi trạng thái của đối tượng, quản lý đưa hệ thống tiếp cận mục tiêu cuôicùng phục vụ lợi ích con người”.
Từ rất nhiều định nghĩa của các nhà khoa học ở các góc độ khác nhau.Chúng ta có thể hiểu một cách khái quát là: “Quản lý là một đơn vị (cơ sở sảnxuất, cơ quan, trường học, địa phương….) với tư cách là một hệ thống xã hội, làkhoa học và nghệ thuật tác động vào hệ thống, vào từng thành tố của hệ thốngbằng phương pháp thích hợp nhằm đạt được mục tiêu đề ra” Theo P.G.S – T.SPhạm Khắc Chương (Nài giảng về quản lý giáo dục đại cương)
Hay theo P.G.S- TS Nguyễn Quốc Thành: “ Quản lý là sự tác động có ýthức của chủ thể quản lý để chỉ huy điều khiển hướng dẫn các quy trình xã hội,hành vi và hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí nhàquản lý, phù hợp với quy luật khách quan” (Bài giảng khoa học quản lý đạicương)
Như vậy, khái niệm quản lý bao gồm những khí cạnh sau:
- Đối tượng tác động của quản lý là một hệ thống xã hội hoàn chỉnh nhưmột cơ thể sống bao gồm nhiều yếu tố liên kết hữu cơ theo một quy luật nhấtđịnh tồn tại trong thời gian, không gian cụ thể (gọi là môi trương quản lý)
Hệ thống quản lý bao gồm các thành tố: chủ thể quản lý, khách thể quản
lý, cơ chế quản lý (hình thức quản lý) và mục tiêu quản lý
- Chủ thể quản lý tạo ra các tác động quản lý, còn khách thể quản lý tạo ra các sảnphẩm có giá trị sử dụng, hiện thực hoá mục tiêu quản lý và thoả mãn mục đích của nhàquản lý Chủ thể quản lý luôn là con người và có cơ cấu tổ chức phụ thuộc vào quy
mô, độ phức tạp của khách thể quản lý Khách thể quản lý là đối tượng chịu sự điềukhiển ,tác động của chủ thể quản lý, bao gồm con người, các nguồn tài nguyên, tư liệusản xuất… Cơ chế quản lý chính là hình thức quản lý những phương thức mà nhờ nóhoạt đông quản lý được thực hiện và quan hệ tương tác giữa chủ thể quản lý và kháchthể quản lý được vận hành, điều chỉnh để đạt đến mục tiêu quan lý” Có thể mô hìnhhoá cấu trúc quản lý bằng sơ đồ sau :
Trang 16Môi trường quản lý
Sơ đồ 1: Cấu trúc hệ thống quản lý được đặt trong môi trường quản lý
- Mục tiêu cuối cùng của quản lý là chất lượng, sản phẩm vì lợi ích phục
vụ con người Người quản lý tựu trung lại là nghiên cứu khoa học, nghệ thuậtgiải quyếtcác mối quan hệ giữa con người với nhau vô cùng phức tạp không chỉgiữa chủ thể và khách thể trong hệ thống mà còn có mối quan hệ tương tác vớicác hệ thống khác cũng song song tồn tại trong môi trường quản lý: Theo côngthức Mqh = n(n-1) trong đó n là số lượng các yếu tố (hay thành viên) tham gia
hệ thống Các mối quan hệ này phát sinh rất nhanh theo cấp số nhân Ví dụ: n =
3 thì Mqh = 3(3-1) = 6 n =6 thì Mqh = 6(6-1) = 30 Ta dễ dàng nhận thấy cácyếu tố n tham gia vào hệ thống chỉ tăng lên 2 lần thì tổng các mối quan hệ tănglên gấp 5 lần
- Quản lý là hoạt động trí tuệ mang tính sáng tạo bằng những quyết địnhđúng quy luật và có hiệu quả của chủ thể quản lý những cũng phải tuân theonhững nguyên tắc nhất định có tính định hướng đến mục tiêu Đó là những chứcnăng chung và cơ bản của hoạt động quản lý
Quản lý theo ý nghĩa của điều khiển học là sự tác động chống lại Entrôpycủa một hệ thống nhằm đưa hệ thống đến những mục tiêu xác định
Theo từ điển tiêng việt thì quản lý là “Hoạt động của con người tác động vàotập thể hoặc người khác để phôi hơpự điều chỉnh, phân công thực hiện mục tiêuchung”, “Quản lý là hoạt động bắt nguồntừ sự phân công của hợp tác lao độngnhằm đạt hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn trong công việc Hoạt độngquản lý đòi hỏi sự chỉ huy, phối hợp, điều hành, kiểm tra, chỉnh lý do đó phải có
Mục tiêu quản lý
Chủ thể
quản lý
Cơ chế quản lý (hình thức quản lý)
Khách thể quản lý
Trang 17người đứng đầu (Thủ trưởng) Thủ trưởng phối hợp nỗ lực của các thành viêntrong nhóm theo mục tiêu đề ra.
Một cách tổng quát nhất có thể định nghĩa về quản lý như sau: Quản lý là
sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lýnhằm đạt được mục tiêu đề ra
Từ những khái niệm trên có thể rút ra một số điểm của quản lý như sau:
- Quản lý là hoạt động điều khiển lao động
- Quản lý là một nghệ thuật tác động vào hệ thống
- Quản lý là sự thể hiện một tổ hợp các phương pháp nhằm vận hành một
hệ thống đạt được mục tiêu đề ra
Theo định nghĩa của các tác giả trên thì quản lý phải boa gồm các yếu tố sau:
- Phải có một mục tiêu về một quỹ đạo đặt ra cho tất cả đối tượng và chủthể quản lý, mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động
- Có ít nhất một đối tượng quản lý tiếp nhận trực tiếp các tác động của chủthể quản lý tạo ra các khách thể chịu các tác động gián tiếp của chủ thể quản lý Chủ thể phải thực hành việc tác động Chủ thể có thể là một hoặc nhiềungười, một thiết bị, còn đối tượng có thể là con người (một hoặc nhiều
hoặc giới vô sinh, giới sinh vật Do vậy: Quản lý không chỉ là một khoa học màcòn là một nghệ thuật
- Quản lý là một hệ thống mở mà bản chất của nó là sự phối hợp nỗ lựccủa con người thông qua việc thực hiện các chức năng quản lý
1.2.2 Khái niệm quản lý giáo dục, quản lý nhà trường.
1.2.2.1 Quản lý giáo dục:
Khoa học quản lý giáo dục là một phân ngành của khao học quản lý,
chính vì vậy cũng như khoa học quản lý, nó được tiếp cận dưới nhiều góc độkhác nhau Với phạm vi của đề tài chúng tôi chỉ xin đề cập tới khái niệm quản lýgiáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân mà cốt lõi của hệ thống là cơ sở cáctrường học
Hiện nay, định nghĩa thế nào là quản lý giáo dục tuy chưa hoàn toànthống nhất với nhau nhưng đã có nhiều ý kiến cơ bản đồng nhất với nhau
Trang 18Quản lý giáo dục theo nghĩa rộng nhất là quản lý quá trình hình thành vàphát triển nhân cách con người trong các chế độ chình trị, xã hội khác nhau màtrách nhiệm là của Nhà nước và hệ thống đa cấp của ngành giáo dục từ Trungương đến các địa phương là Bộ giáo dục, Sở giáo dục, phòng giáo dục và đơn vị
cơ sở là các nhà trường
Quản lý giáo dục trên cơ sở quản lý nhà trường là một phương hướng cảitiến quản lý giáo dục theonguyên tắc tăng cường phân cấp quản lý nhà trườngnhằm phát huy tối đa năng lực, trách nhiệm và quyền hạn của mọi cá nhân trongquản lý nhà trường, quản lý giáo dục
Trong tác phẩm “Cơ sở lý luận của khoa học quản lý giáo dục” tác giảM.I.Kônđacôp đã cho rằng: “Quản lý giáo dục là tập hợp các biện pháp tổ chứccán bộ giáo dục, kế hoạch hoá, tài chính… nhằm đảm bảo sự vận hành bìnhthường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển và mởrộng hệ thống cả về số lượng cũng như chất lượng”
Trong tác phẩm “Quản lý giáo dục quốc dân ở địa bàn quận, huyện”.Nhà lý luận Xô Viết Khuđônninsky đã viết: “Quản lý khoa học hệ thống giáodục có thể xác định như là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức vàhướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của
hệ thống (từ Bộ đến nhà trường, đến các cơ sở giáo dục) nhằm mục đích đảmbảo việc giáo dục Xã hội chủ nghĩa cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vậndụng những quy luật chung của chủ nghĩa xã hội cũng như những quy luật củaquá trình xã hội, của sự phát triển thể lực và tâm lý trẻ em, thiếu niên và thanhniên, đảm bảo sự phát triển toàn diện và hài hoà của họ”
Ở Việt Nam trong quá trình nghiên cứu để xây dựng cơ sở lý luận cho quản
lý giáo dục nước nhà, nhiều tác giả đã đề cập tới khái niệm quản lý giáo dục
Theo G.S Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tácđộng có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý, nhằm làm cho
hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được cáctính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà mục tiêu điểm hội tụ là
Trang 19quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến tiến lêntrạng thái mới về chất”.
Theo quan điểm của G.S Phạm Minh Hạc: “Quản lýnhà trường, quản lýgiáo dục là tổ chức hoạt động dạy và học… có tổ chức được hoạt động dạy vàhọc thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủnghĩa… mới quản lý được giáo dục, túc là cụ thể hoá đường lối giáo dục củaĐảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng yêu cầu của nhân dân củađất nước”
Theo G.S Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát làhoạt động điều hành phối hợp của các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy công tácđào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội”
Theo P.G.S T.S Phạm Viết Vượng quan niệm rằng: “Mục đích cuối cùngcủa quản lý giáo dục là tổ chức quá trình giáo dục có hiệu quả để đào tạo lớpthanh niên thông minh, sáng tạo, năng động, tự chủ, biết sống và biết phấn đấu
vì hạnh phúc của bản thân và của xã hội”
Từ những quan điểm trên có thể hiểu rằng: Quản lý giáo dục là hoạt độngđiều hành, phối hợp các lực lượng giáo dục nhằm thúc đẩy mạnh công tác giáodục và đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội Như vậy quản lýgiáo dục là sự tác động có tổ chức có định hướng phù hợp với quy luật kháchquan của chủ thể quản lý ở các cấp lên đối tượng quản lý nhằm đưa hoạt độnggiáo dục từng cơ sở trường học và của toàn hệ thống giáo dục đạt tới mục tiêu
đã định
Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quyluật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lýgiáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủnghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ,đưa hệ giáo dục đến mục tiêu dự kiến lên trạng thái mới về chất
Trong lý luận và thực tiễn quản lý cũng khẳng định quản lý nhà trườnggồm hại loại quản lý:
Trang 20- Quản lý của các chủ thể bên trong và bên ngoài nhà trường nhằm địnhhướng cho nhà trường và tạo điều kiện cho nhà trường hoạt động và phát triển.
- Quản lý chính chủ thể bên trong nhà trường, nhằm cụ thể hoá các chủtrương, chính sách giáo dục…… thành các kế hoạch hoạt động, tổ chức chỉ đạo
và kiểm tra đưa nhà trường đạt tới mục tiêu đã đặt ra
Trên cơ sở lý luận, chúng ta thấy rằng thực chất của nội dung quản lý dạyhọc của giáo viên và hoạt động học của học sinh nhằm đạt hiệu quả cao nhấttrong việc hình thành nhân cách của học sinh Trong sự vận hành của hệ thống
cơ sở này chịu nhiều tác động của các yếu tố khách quan ngoài trường học Hiểu
rõ đặc điểm này của quản lý cơ sở trường học sẽ là cơ sở lý luận cần thiết đểchứng ta đề ra các biện pháp cụ thể trong kiểm tra chuyên môn- hoạt độngchuyên môn của đội ngũ giáo viên
1.2.2.2 Quản lý nhà trường:
Trường học là tổ chức giáo dục cơ sở, là tế bào của hệ thống giáo dục,quản lý nhà trường là bộ phận của quản lý giáo dục Quản lý nhà trường theoquan điểm của G.S Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lốicủa Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vào vậnhành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục đào tạo đối vớingành giáo dục với thế hệ trẻ và từng học sinh”
Nói một cách cụ thể hơn theo G.S Nguyễn Ngọc Quang là: “QUản lý nhàtrường là tập hợp những tác động tối ưu (cộng tác, tham gia, hỗ trợ, phối hợp,huy động, can thiệp…) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh vàcác cán bộ khác, nhằm tậm dụng các nguồn dự trữ do Nhà nước đầu tư, lựclượng xã hội đóng góp, do lao động xây dựng và vốn lao động tự có hướng vàoviệc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạothế hệ trẻ, thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trườngtiến lên trang thái mới
Quản lý nhà trường bao gồm hai loại tác động sau:
Tác động chủ thể quản lý bên ngoài và bên trong nhà trường (đó là nhữngtác động quản lý của các cơ quan quản lý giáo dục cấp trên nhằm hướng dẫn và
Trang 21tạo điều kiện cho hoạt động giảng dạy học tập, giáo dục của nhà trường hoặcnhững chỉ dẫn, những quyết địnhcủa những thực thể bên ngoài nhà trườngnhưng có liên quan trực tiếp đến nha trường như cộng đồng được đại diện dướihình thức Hội đồng giáo dục nhằm định hướng sự phát triển của nhà trường và
hỗ trợ, tạo điều kiện choviệc thực hiện phương hướng phát triển đó) tác độngcủa những chủ thể bên ngoài nhà trường (bao gồm các hoạt động : quản lý giáoviên, quản lý học sinh, quản lý quá trình dạy học, giáo dục, quản lý cơ sở vậtchất, trang thiết bị trường học, quản lý tài chính trường học, quản lý mối quan hệgiữa nhà trường và cộng đồng)
Qua đó ta thấy quản lý nhà trường chính là quản lý giáo dục trong mộtphạm vi nhà trường là cơ sở của hệ thống giáo dục Vì vậy quản lý nhà trường làmột hoạt động được thực hiện trên cơ sở những quy luật chung của quản lý đồngthời có những nét riêng mang đặc thù của quản lý giáo dục Do đó quản lý nhàtrường cần vận dụng tất cả các nguyên lý chung của quản lý giáo dục để đảymạnh mọi hoạt động của nhà trường theo mục tiêu đào tạo
Tóm lại nhà trường là một thành tố cơ bản của hệ thống giáo dục nên quản lýnhà trường cũng được hiểu như là một bộ phận của quản lý giáo dục Thực chất củaquản lý nhà trường , suy cho cùng là tạo điều kiện cho các hoạt động trong nhàtrường (mà trọng tâm bao trùm mọi hoạt động là hoạt động dạy- học) vận hànhtheo đúng mục tiêu tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam
1.2.3 Khái niệm quản lý chuyên môn:
Quản lý chuyên môn là: hệ thống tác dụng có mục đích, có kế hoạch việcthực hiện quy chế chuyên môn hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho
hệ điều hành theo đường lối, theo nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện đượccác tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Quản lý chuyên môn là quản lý việc thực hiện quy chế chuyên môn trongnhà trường đó là:
Chuẩn bị giáo án:
Đảm bảo đủ số lượng giáo án (1 giáo án/giờ dạy)
- Thể hiện rõ các bước lên lớp trong giáo án.;
Trang 22- Xây dựng đủ kiến thức kỹ năng cơ bản, có liên hệ với thực tế.
- Lên cụ thể công việc trên lớp của thầy và trò
Thực hiện chương trình giảng dạy:
Thực hiện đúng phân phối chương trình và giảng dạy theo đúng nội dungtheo tinh thần đổi mới nội dung phương pháp dạy- học
Kiểm tra, chấm và chữa bài:
- Đủ số lượng bài theo phân phối chương trình
- Đề kiểm tra phù hợp với yêu cầu chương trình
- Chấm và chữa bài công băng chu đáo
- Chấm bài chính xác theo biểu điểm
- Khi chấm có chữa bài
- Có nhận xét và lời khuyên
Thực hành thí nghiệm - sử dụng đồ dùng:
- Đảm bảo thực hành đầy đủ thí nghiệm theo quy định
- Sử dụng đò dùng một cách có hiệu quả trong giờ dạy
Bồi dưỡng, tự bồi dưỡng:
- Tham gia bồi dưỡng theo kế hoạch và tụe bồi dưỡng thường xuyên
1.2.4 Khái niệm kiểm tra.
1.2.4.1 Khái niệm kiểm tra:
Khái niệm kiểm tra đã được nhiều tác giả nước ngoài và trong nước đề cậpdưới những góc độ khác nhau của khoa học và thực tiễn Ngày nay việc đổi mớicôngtác kiểm tra đã trở thành một xu hướng chiến lược trong công cuộc đổi mớicông tác quản lý Khái niệm kiểm tra cần được xem xét từ nội hàm của khái niệm,trên cơ sở một hệ thống nhất và quán triệt được tinh thần đổi mới của quản lý
Có quan niệm cho rằng: “Kiểm tra là một quá trình thông qua đó ngườiquản lý đảm bảo cho hoạt động hiện tại diễn ra phù hợp với hoạt động đã kếhoạch hoá”
Đây là một cách xác định ngắn gọn về kiểm tra song nó gợi lên vấn đề về mụcđích kiểm tra mà chưa chỉ rõ kiểm tra là gì, kiểm tra bao gồm những yếu tố nào
Trang 23Một cách cụ thể hơn có tác giả cho rằng : “Kiểm tra là xem xét thực để tìm
ra những sai lệch so với quyết định, kế hoạch và chuẩn mực đã quy định; pháthiện ra trạng thái thực tế, so sánh trạng thái đó với khuôn mẫu đã đặt ra; khi pháthiện ra những sai sót thì cần phải điều chỉnh, uốn nắn và sửa chữa kịp thời”.Cách xác định này đã nêu ra nhiều yếu tố của kiểm tra trong quá trình quản lý,song ở đây tác giả chưa chỉ rõ những yếu tố cơ bản đặc trưng của kiểm tra vàsắp xếp theo một trật tự lôgic hợp lý
Kiểm tra là phản ành thực trạng tình hình, kết quả thực hiện các nhiệm vụcủa nhà trường; công tác quản lý của Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng và giáo viên,đối chiếu thực trạng đó với quy định của điều lệ nhà trường và các văn bản liênquan; kết quả kiểm tra là cơ sở để thực hiện tiếp các nhiệm vụ đánh giá tư vấn
và thức đẩy (Nghiệp vụ Thanh tra giáo dục Việt Nam)
Kiểm tra là một trong những chức năng quan trọng của quản lý Quản lý
mà không kiểm tra coi như không quản lý Trong việc quản lý chuyên môn; hoạtđộng dạy và học trong nhà trường, khâu kiểm tra đánh giá hoạt động giảng dạycủa giáo viên có vai trò hết sức quan trọng Nó giúp cho Hiệu trưởng đánh giáđung thực trạng hoạt động của người giáo viên và đội ngũ giáo viên nhà trườngnói chung, kịp thời đè ra các quyết định chấn chỉnh, uốn nắn kịp thời, cũng như
đè ra những biện pháp thích ứng, hiệu quả để nâng cao chất lượng dạy học củanhà trường
Sơ đồ 2: Mối quan hệ giữa chức năng kiểm tra với các chức năng quản lý khác
Từ những vấn đề nêu trên, có thể xác định nội hàm của kiểm tra như sau:
LËp kÕ ho¹ch
KiÓm tra
Trang 24Kiểm tra trong quản lý là một hệ thống những hoạt động bao gồm:
a)Đánh giá thành tích:
- Xác định những chuẩn mực và phương pháp đo thành tich
- So sánh sựphù hơpự của thành tích đã đạt được với những chuẩn mực đã
dự kiến
b) Phát hiện những lệch lạc:
- Sự phát hiện kịp thời những sai lệch, thiếu sót so với mcụ tiêu dự kiến
- Đo lường chính xác những sai lệch, thiếu sót
- Tìm nguyên nhân những sai lêch, thiếu sót
c) Điều chỉnh:
- Phát huy những ưu điểm
- Uốn nắn nhữung sai lêch, thếu sót
đồ sau:
Sơ đồ 3: Các yếu tố cơ bản của quá trình kiểm tra:
Từ cách trình bày trên có thể rút gọn định nghĩa như sau: Kiểm tra trongquản lý là hệ thống những hoạt động đánh giá- phát hiện - điều chỉnh nhằm đưa
Uèn n¾n
So s¸nh thµnh tÝch cã phï hîp víi chuÈn kh«ng
Trang 25ra toàn bộ hệ thống được quản lý tới mục tiêu dự kiến và đạt trình độ chất lượngcao hơn.
Phân biệt các loại hình kiểm tra trong quản lý:
Trong lý luận và thực tiễn quản lý, có một số khái niệm gần gũi nhau cầnphải phân biệt để tránh sai lầm, đó là kiểm tra, thanh tra, giám sát
Tất cả các khái niệm đó đều có cùng một chức năng như nhau là đánh giá,phát hiện lệch lạc và điều chỉnh, uốn nắn Nhưng tuỳ theo việc đánh giá đó diễn
ra ở thời điểm nào của quá trình quản lý và do ai thực hiện mà phân biệt chúng:
- Kiểm tra sơ bộ: Diễn ra khi chuẩn bịi kế hoạch hoá, lúc chuẩn bi để xácđịnh trạng thái xuất phát của hệ
- Kiểm tra cuối cùng: đánh giá trạng thái kết thúc của hệ ở giai đoạn cuốicùng của chu kỳ quản lý
- Giám sát: Là kiểm tra hay đánh giá thường xuyên lúc hệ đang vận hành,bất cứ ai trong hệ quản lý cũng có quyền giám sát người khác theotinh thần dânchủ hoá quản lý
- Thanh tra: Là kiểm soát, xét tại chỗ những việc làm của cơ quan (tổchức) để đánh giá việc thi hành pháp luật, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa
và sử lý sai phạm, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổchức, cá nhân trong lĩnh vực hoạt động (Cũng có chức năng như kiểm tra giámsát nhưng do chủ thể bên ngoài hệ thực hiện đối với hệ)
1.2.4.2 Đánh giá trong quản lý giáo dục.
Đánh giá là đưa ra một phán xét về giá trị đạt được sơ với chuẩn mực.Theo định nghĩa trên thì đánh giá không chỉ giới hạn trong phạm vi củamột biên bản đơn thuần mà nó còn góp phần cải thiện các đối tượng đánh giá,giúp cho sự lựa chọn quyết định
Trong hệ thống giáo dục, đanh giá là một công cụ thiết yếu hướng tới hiệuquả, nhằm phù hợp với thực tế địa phương, giảm bớt chi phí, thoả mãn các yêucầu cấp bách về kinh tế Hệ thống giáo dục giống như mọi hệ thống khác phảiđảm bảo sự cân đối, một bên là hiệu quả đầu tư nhân lực, vật lực; còn một bên làduy trì, thích ững và phát triển
Trang 26Khái niệm đánh giá trong lĩnh vực giáo dục còn tương đối mới Nó rađời là do nhu cầu cần phải xem xét lại toàn bộ các yếu tố, từ mục tiêu cuối cùngđạt được cho đến phương pháp và nội dung chương trình trên một quan điểm hếtsức khoa học nhằm mục đích tăng cường tính dân chủ hoá giáo dục và phát huyngày càng tốt hơn toàn bộ tiềm năng của giáo viên và học sinh Các thao tácđánh giá đang dần dần trở thành phổ biến trong hệ thống giáo dục Để đạt được
sự hoàn thiện về các tiêu chuẩn đánh giá cần phải nghiên cứu tìm ra được cáccách đo lường, cách nhận biệt và định lượng các giá trị chất lượng thực của mỗihoạt động trong nhà trường
Kiểm tra dán tiếp: là hình thức kiểm tra mà người (một hoặc nhiều) kiểmtra không trực tiếp tiếp xúc với đối tượng được kiểm tra mà kiểm tra đối tượngthông qua công cụ, phương tiện, kết quả, tác động… của đối tượng được kiểmtra để đánh giá đối tượng
Ví dụ: Hiệu trưởng lập các phiếu điều tra về giảng dạy của giáo viên, vềviệc chấm bài …… thông qua phỏng vấn học sinh…
Kiểm tra hỗn hợp: Là hình thức kiểm tra mà nhiều người kiểm tra cùngphối hợp kiểm tra một nội dung, hoặc mỗi người kiểm tra một nội dung kiểm tracủa đối tượng được kiểm tra
Ví dụ: Hiệu trưởng, Hiệu phó, Tổ trưởng dự giờ của giáo viên, cùng kiểmtra bài soạn của giáo viên, cung chấm lại 1 bài kiểm tra của một lớp…
Trang 271.2.4.4 Vai trò của kiểm tra, đánh giá trong quản lý giáo dục:
Nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà trường tiểu học nói chung và hiệuquả quản lý giáo viên tiểu học thực hiện quy chế chuyên môn nói riêng Hiệutrưởng trường tiểu học cần năm vững cư sở pháp lý qua nhiệm vụ năm học mà
Bộ giáo dục và đào tạo đã đề ra; các chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, Quốc hội;Chương trình hành động, Nghị quyết của Chính phủ liên quan đến vấn đề này
Vai trò của kiểm tra, đánh giá trong quản lý giáo dục được thể hiện quacác văn bản gần đây nhất như:
* Chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo về nhiệm vụ trọng tâm của toàn ngành năm học 2002-2003 ngày 01/8/2002.
Có 5 nhiệm vụ trọng tâm trong đó nhiệm vụ trọng tâm thứ 5 là: Tiếp tục
chấn chỉnh và tăng cường nề nếp, kỷ cương; kiện toàn cơ bản cơ quan quản
lý giáo dục các cấp; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra; nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý nhà nước về giáo dục.
Nhiệm vụ này yêu cầu: Các cơ quan quản lý giáo dục, các nhà trường và
cơ sở giáo dục khác phải tiến hành rà soát, bổ sung hoàn chỉnh quy trình,quyphạm quản lý hành chính và quản lý chuyên môn; chấn chỉnh ngăn ngừa và
sử lý nghiêm minh đối với các sai phạm trong việc thực hiện các quy định vềchuyên môn, về quản lý tài chính, về việc thực hiện chỉ tiêu kế hoạch; báo cáocấp trên, xin ý kiến chỉ đạo để giải quyết các vụ việc tồn đọng Thủ trưởng các
cơ quan đơn vị trong ngành phải tranh thủ sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng, phối
hợp chặt chẽ với các đoàn thể quần chúng, phát huy dân chủ ở cơ sở, nâng cao
hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, quản lý chuyên môn, nghiệp vụ; tăng cường kiểm tra, phát hiện uốn nắn và ngăn chặn các thiếu sót, yếu kém trong
cơ quan.
* Chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo về nhiệm vụ trọng tâm của toàn ngành năm học 2003-2004 ngày 01/8/2003.
Có 6 nhiệm vu trọng tâm trong đó nhiệm vu trọng tâm thứ 6 là: Tiếp tục
đổi mới quản lý giáo dục, tăng cường nề nếp kỷ cương,ngăn chặn khắc phục các hiện tượng tiêu cực trong lĩnh vực giáo dục.
Trang 28* Chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo về nhiệm vụ trọng tâm của toàn ngành năm học 2004-2005 ngày 02/8/2004.
Có 7 nhiệm vu trọng tâm trong đó nhiệm vu trọng tâm thứ 2 là: Xây dựng
nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục.
Nhiệm vụ thứ 7 là: Thực hiện cải cách hành chính, đối mới công tác
quản lý nhà nước trong lĩnh vực giáo dục
* Chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo về nhiệm vụ trọng tâm của toàn ngành năm học 2005-2006 ngày 15/8/2005.
Có 7 nhiệm vụ trọng tâm trong đó nhiệm vu trọng tâm thứ 6 là: Khẩn
trưởng xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục; tích cực đổi mới công tác thi, kiểm tra, đánh giá kết quả quá trình dạy-học.
Nhiệm vụ thứ 7 là: Dổi mới mạnh mẽ công tác quản lý nhà nước về giáo
dục; tăng cường công tác thành tra giáo dục; đẩy mạnh cải cách hành chính trong các cơ quan quản lý giáo dục, nhà trường và các cơ sở giáo dục.
* Chỉ thị 40-CT/TW của Ban Bí thư ngày 15 tháng 6 năm 2004 “Về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục”.
Sau khi nêu tầm quan trọng, thực trạng chất lượng của đội ngũ nhà giáo
và cán bộ quản lý giáo dục hiện nay chỉ thị nêu rõ:
Mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đượcchuẩn hoá, đam rbảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chútrọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất lối sống, lương tâm, tay nghề của nhàgiáo; thông qua việc quản lý, phát triển đúng định hướng và có hiệu quả sự nghiệpgiáo dục để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đáp ững những đòi hỏingày càng cao của sự nghiệp công ngiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Để đạt mục tiêu trên chỉ thị yêu cầu thực hiện tốt một số nhiệm vụ sau:
- Củng cố, nâng cao chất lượnghệ thống các trường Sư phạm, các trườngcán bộ quản lý giáo dục
- Tiến hành rà soát, sắp xếp lại đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục
để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng bảo đảm đủ số lượng và cân đối về cơ cấu,
Trang 29nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức cho đội ngũ nhà giáo, cán bộquản lý giáo dục.
- Đẩy mạnh việc đổi mới nội dung, chương trìh và phương pháp giáo dụctheo hướng hiện đại và phù hợp với thực tiễn Việt Nam
- Xây dựngvà hoàn thiện một số chính sách, chế độ đối với đội ngũ nhàgiáo, nhà quản lý giáo dục
- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc xây dựng và nâng caochất lượng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục
Các nhiệm vụ bêu trong chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo vềnhiệm vụ của toàn ngành và chỉ thị 40- CT/TW của Ban Bí thư bao quát nhiệm
vụ của toàn ngành trong đó đều có yêu cầu, phạm vi trách nhiệm của Hiệutrưởng để nâng cao hiệu quả quản lý thực hiện quy chế chuyên môn trong cácnhà trường nói chung và ở các trường tiểu học nói riêng
Hệ thống lý luận và thực tiễn quản lý nói chung đã khẳng định: Quản lý màkhông có kiểm tra thì xem như không lãnh đạo Kiểm tra đánh giá là chức năng vôcùng quan trọng xuất hiện từ giai đoạn chuẩn bị lập kế hoạch cho đến khi kết thúcchu trình quản lý Kiểm tra, đánh giá của hoạt động quản lý nhằm các mục đích:
- Tìm hiểu xem các mục tiêu, các quyết định được thực hiện như thế nào?đến đâu? phát hiện kịp thời những hiện tượng lêch lạc, trì trệ và nguyên nhân đểkịp thời đề ra các biện pháp khắc phục chúng
- Thu thập thông tin từ các mối quan hệ ngược về tình trạng hoạt động củanhà trường, về hiệu quả của các quyết định, các kế hoạch các biện pháp….để kịpthời có những quyết định mới nhằm thực hiện mục tiêu đã xác định
- Tác động kịp thời đúng lúc đến hoạt động của giáo viên nhằm nâng caotinh thần trách nhiệm, động viên khích lệ tính tích cực, sáng tạo của họ đưa nhàtrường đến một mục tiêu dự kiến tốt hơn
Vậy: Kiểm tra là quá trình thiết lập các tiêu chuẩn đo lwongf kết quả, thựchiện mục tiêu, phân tích và điều chính các sai lệch nếu có nhằm đạt các kết quảmong muốn
Trang 30Kiểm tra thực chất là thu thập thông tin phản hồi từ phía đối tượng quản lý
để biết kết quả hoạt động của nhà trường, kịp thời điều chỉnh các sai lệch, làmcho hoạt động của nhà trường đạt hiệu quả, đạt mục đích đề ra
1.2.4.5 Chức năng kiểm tra đánh giá:
- Thu thập thông tin một cách có hệ thống chính xác, khách quan làm biểu
lộ những bản chất và kết quả đạt được trong từng bộ phận hay toàn cục, ở từngthời điểm hay cả quá trình của một chu kỳ
- Kiểm tra bao giờ cũng đi đôi với đánh giá, kiểm tra mà không đánh giácũng như không kiểm tra và cũng coi như không quản lý, Đánh giá nhằm khẳngđịnh chất lượng, hiệu quả từng mặt, từng bộ phận, từng cá nhân Riêng đối vớigiáo dục nói chung, nhà trường nói riêng đánh giá nhằm vạch ra những ưu điểm,
và những tồn tại trong Giáo dục và đào tạo, trong lao động dạy và học Đánh giá
để giúp thầy và trò khẳng định được kết quả lao động của mình từ đó vạch ra kếhoạch hoạt động cho giai đoạn tiếp theo
- Chỉ có kiểm tra, đánh giá thường xuyên và định kỳ để thu thập thông tinđậy đủ chính xác, thì người quản lý giáo dục mới có quyết định chính xác đảmbảo hệ vận hành để đạt mục tiêu
1.2.4.6 Yêu cầu của kiểm tra, đánh giá giáo dục:
- Đối với giáo dục công việc kiểm tra phải được thiết kế theo kế hoạchhoạt động của nhà trường, tuỳ theo kế hoạch hoạt động của nhà trường mà xâydựng kế hoạch kiêmt tra cho phù hợp, tuỳ theo bản chất hoạt động của nhàtrường mà xây dựng những nội dung kiểm tra cụ thể
Có rất nhiều hình thức, biện pháp kiểm tra trong nhà trường song cần phảichú ý các yêu cầu cơ bản sau:
Kiểm tra bao giờ cũng phải đi theo hoạt động đánh giá kiểm tra, không cóđánh giá hoặc kiểm tra mà không đánh giá được cũng coi như thiếu sự quản lýlãnh đạo
- Kiểm tra phải dựa vào các quy định, quy tắc, chế độ, các chỉ tiêu kế hoạch
để kiểm tra có nghĩa là dựa vào những tiêu chí có tính chất pháp quy nếu các quyđịnh chỉ tiêu đã lạc hậu thì cần có sự thay đổi trước khi tiến hành kiểm tra
Trang 31- Có nhiều cách kiểm tra nhưng tốt nhất là đến tận nơi, xem tại chỗ.
- Muốn kiểm tra thì người kiểm tra phải thông thạo chuyên môn đặc biệt
là phải có phẩm chất trung thực khách quan
- Trong kiểm tra phải tôn trọng công việc và phải chú ý đến đặc điểmriêng của người đi kiểm tra và người được kiểm tra
- Kịp thời tìm ra các nguyên nhân sai lệch và có thiện chí giúp người cósai sót sửa chữa, khắc phục Khi kiểm tra phải linh hoạt, không máy móc
- Có thể kiểm tra để ngăn ngừa, ngăn chặn sai sót có thể xảy ra Không đểsai sót xảy ra rồi mới kiểm tra
- Kiểm tra phải phù hợp với bầu không khí tâm lý của nhà trường, độngviên khuyến khích kịp thời để tạo không khí thuận lợi cho hoạt động của nhàtrường
- Mọi vấn đề kiểm tra phải tiến hành ghi chép đầy đủ, chính xác, nghiêmtúc, phải có biên bản đầy đủ Kiểm tra phải tiết kiệm chống lãng phí
- Cần phân biệt việc kiểm tra một công việc cụ thể khác với sự đánh giácon người cụ thể Bởi vì khi kiểm tra, đánh giá công việc cần phải dựa vào cáctiêu chí, các tiêu chuẩn để đánh giá cái được, cái chưa được nhưng khi đánh giácon người còn phải theo quan điểm phát triển Đó là tiêu chuẩn ICCP
I: Input: Đầu vào, là trình độ năng lực, phẩm chất ban đàu
C: Context: Hoàn cảnh, là điều kiện môi trường sống, học tập rèn luyện… P: Process: Quá trình, thừi gian sống, học tập, rèn luyện công tác
P: Product: Sản phẩm, là kết quả về trình độ, năng lực phẩm chất so vớiđầu vào
1.2.4.7 Các kỹ thuật kiểm tra:
- Lựa chọn vấn đề, nội dung kiểm tra
- Xây dựng các tiêu chuẩn: Căn cứ vào các chỉ tiêu kế hoạch, căn cứ vàocác yêu cầu quản lý để định ra các tiêu chuẩn kiểm tra
- Xây dựng kế hoạch kiểm tra: Kiểm tra cái gì? Để làm gì? Bằng hìnhthức nào? ai kiểm tra? Bắt đầu từ đâu?
- Sau đó tiến hành kiểm tra:
Trang 32+ Nghe báo cáo, xem sổ sách, hồ sơ, văn bản lưu trữ.
+ Quan sát thực tế, cân đong đo đếm các sản phẩm do bộ máy làm ra
+ Kiểm tra chất lượng sản phẩm và quy trình đạt sản phẩm
- So sánh kết quả đạt được với yêu cầu, tiêu chuẩn để kết luận về hiệntrạng của đối tượng được kiểm tra Chỉ ra các sai lệch và phân tích các nguyênnhân sai lệch, đi đến đánh giá chính thức về đối tượng được kiểm tra
- Lập kế hoạch, chương trình khắc phcụ sai lệch nếu có
- Tiến hành khắc phục các sai lệch nhằm đưa hoạt động của nhà trường tố hơn
Sơ đồ 4: Các hoạt động trong quá trình kiểm tra
1.2.4.8 Nội dung kiểm tra của Hiệu trưởng trong nhà trường được tập trung vào các mặt cụ thể sau:
* Về kế hoạch kiểm tra:
a/ Kế hoạch kiểm tra toàn năm:
Trong kế hoạch này được ghi toàn bộ các đàu việc theo trình tực thời gian
từ tháng 9 năm trước đến tháng 5 năm sau Dựa vào kế hoạch năm để tiến hànhchỉ đạo kiểm tra cụ thể từng tháng, từng tuần
b/ Kế hoạch kiểm tra tháng:
Nội dung kiểm tra mối tháng dựa vào các đầu việc của kế hoạch kiểm tra
cả năm nhưng cần chi tiết hơn Không chỉ ghi đầu việc mà phải chỉ rõ đích danh,thời gian tiến hành Sao cho các đối tượng được kiểm tra có ý thức chủ độngkiểm tra phòng ngừa và tự kiểm tra phần việc của họ
c/ Kế hoạch kiểm tra trong tuần:
Nội dung kiểm tra trong tuần được ghi chi tiết
Xác định các
sai lệch
So sánh với các tiêu chuẩn
Đo lường kết quả thực tế
Kết quả thực tế
Phân tích các
nguyên nhân
sai
Chương trình hoạt động điều chỉnh
Thực hiện các điều chỉnh
Kết quả mong muốn
Trang 33- Người và đơn vị được kiểm tra.
- Nội dung kiểm tra chi tiết
- Người được tham gia lực lượng kiểm tra
- Thời gian kiểm tra, thời gian hoàn thành
Lịch kiểm tra hàng tuần được ghi công khai trên bảng công tác tuần trongphòng họp hội đồng Các kết quả kiểm tra được công bố và được lưu hồ sơ đầy đủ
* Về lực lượng kiểm tra:
Trong trường học có nhiều đối tượng phải kiểm tra, do tính chất đa dạng
và phức tạp, thường Hiệu trưởng không đủ thông thạo về nhiều bộ môn, nhiềuthời gian để trực tiếp kiểm tra trong trường Hiệu trưởng phải xây dựng đượcban chuyên môn gồm đội ngũ cốt cán các phân môn để thực hiện chức năngkiểm tra, lực lượng này phải bao gồm nhiều thành phần, đảm bảo tính khoa học,tính dân chủ Lực lượng kiểm tra trong nhà trường phải đạt các yêu cầu:
- Hiệu trưởng quyết định thành lập ban kiểm tra do Hiệu trưởng làmtrưởng ban
- Thành viên ban kiểm tra phải là người thông thạo chuyên môn nghiệpvụ: Giỏi về nghề, tốt về đức, sáng suốt và linh hoạt trong công việc
- Các thành viên trong ban kiểm tra được phân công cụ thể phần việcđược giao, xác định rõ tracnh nhiệm, quyền hạn và quyền lợi, được hướng dẫnđầy đủ về mục đích yêu cầu, nội dung và nghiệp vụ kiểm tra
* Hiệu trưởng chỉ đạo kiểm tra các hoạt động chính trong nhà trường gồm các nội dung sau:
a/ Nội dung kiểm tra giáo viên:
Yêu cầu kiểm tra giáo viên là đi sâu kiểm tra 4 nội dung lớn sau:
- Trình độ nghiệp vụ
- Việc thực hiện quy chế chuyên môn
- Kết quả giảng dạy
- Việc tham gia các công tác khác
Trang 34b/ Nội dung kiểm tra tổ chuyên môn:
Yêu cầu kiểm tra tổ chuyên môn là giúp Hiệu trưởng thấy được mối quan hệhoạt động của tập thể sư phạm và mối quan hệ tác động của tập thể đó đối với họcsinh, thấy được tính thống nhất và tình hợp tác của mỗi giáo viên trong tập thể
Nội dung kiểm tra cụ thể là: Trình độ hoạt động tập thể thông qua kếhoạch tổ chức và chỉ đạo thực hiện, các hồ sơ chuyên môn thông qua các buổisinh hoạt khoa học, bồi dưỡng và tự bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ; kiểm trađánh giá vai trò, năng lực của các tổ chuyên môn, cũng thông qua việc kiểm tra
tổ chuyên môn để hiểu sâu sắc hơn từng giáo viên trong tổ đó
c/ Nội dung kiểm tra học sinh:
Mọi kết quả hoạt động sư phạm của giáo viên được phản ánh vào trình độđược giáo dục của học sinh, kiểm tra học sinh là để so sánh với mục tiêu đào tạocủa trường, nó cũng giúp Hiệu trưởng nhận biệt được sự tác động của tập thể sưphạm có đồng bộ hay không
Nội dung kiểm tra học sinh căn cứ vào 2 mặt sau đây:
- Trình độ được giáo dục về tư tưởng, đạo đức, tác phong (còn gọi là hạnh kiểm)
- Trình độ tiếp thu và năng lực tự giác nghiên cứu khoa học, kỹ thuật (còngọi là văn hoá)
d/ Nội dung kiểm tra cơ sở vật chất, thiết bị:
Nội dung kiểm tra cơ sở vật chất, thiết bị tập trung vào các mặt sau:
- Cơ sở, nhà cửa, phòng làm việc, lớp học
- Các trang thiết bị trong phòng học và phòng làm việc như bàn, ghế,bảng…
- Các thiết bị máy mọc và các trang thiết bị, đồ dùng dạy học của thầy –trò trên lớp
- Các thiết bị trong phòng thí nghiệm
- Các loại máy móc ở xưởng thực hành
- Thư viện nhà trường gồm phòng đọc, phòng mượn, kho sách…
e/ Nội dung kiểm tra công tác hành chính quản trị:
Trang 35Nội dung công tác hành chính quản trị trong nhà trường tiểu học có một
số công việc chủ yếu sau:
- Phục vụ quá trình quản lý dạy- học, các hồ sơ học sinh
- Phục vụ quá trình quản lý tổ chức – nhân sự
- Phục vụ quá trình quản lý tài lực, vật lực
- Phục vụ quá trình quản lý môi trường quản lý
g/ Nội dung kiểm tra công tác quản lý tài chính:
Nội dung công tác quản lý tài chính gồm các nội dung sau:
- Quản lý các laọi phiếu thu, chi và các loại hoá đơn, chứng từ khác phảitheo đúng mẫu của Bộ tài chính
- Quản lý quỹ tiền mặt
Nhiệm vụ thúc đẩy: Nhằm kích thích phát hiện và phổ biến kinh nghiệmđồng thời kiến nghị với nhà trường và các cấp quản lý điều chỉnh công tác quản
lý, nhằm dần hoàn thiện công tác quản lý của Hiệu trưởng, phát triển nhàtrường, góp phần phát triển hệ thống giáo dục
1.2.4.9 Một số đặc điểm của công tác kiểm tra ở nhà trường:
Đặc điểm của công tác kiểm tra đánh giá ở nhà trường:
Nhà trường cũng như những hệ hoạt động xã hội khác, khi tiến hành kiểmtra đánh giá cũng có những mục đích, nội dung chương trình và yêu cầu cơ bản
đã nêu ở trên Tuy nhiên theo bản chất hoạt động các mặt trong nhà trường: Xâydựng trường sở, mua sắm trang thiết bị, hoạt động kinh tế, hoạt động dạy củathầy, hoạt động học của trò… mà xây dựng nội dung kiểm tra, đánh giá khác
Trang 36nhau Nhưng kiểm tra đánh giá chất lượng giảng dạy, học- giáo dục của thầy vàtrò là hoạt động chủ yếu và thường xuyên trong nhà trường.
Nội dung kiểm tra quá trình dạy học- giáo dục chính là việc đánh giá quátrình thực hiện mục tiêu kế hoạch năm học, quy chế chuyên môn, nề nếp dạy vàhọc, hoạt động giáo dục trong và ngoài nhà trường
Yêu cầu cơ bản của công tác kiểm tra đánh giá trong nhà trường là: Tậptrung kiểm tra trực tiếp kết quả lao động dạy và học của giáo viên và học sinh làchính Lấy mục tiêu giáo dục làm đích kiểm tra
So sánh đặc điểm kiểm tra đánh giá ở nhà trường với kiểm tra đánh giá ở các tổ chức xã hội khác:
Giống nhau: Nhà trường cũng như các đơn vị hành chính sự nghiệp khác
trong xã hội đều có chung các mục đích, yêu cầu, nội dung, chương trình củacông tác kiểm tra đánh giá trong hoạt động quản lý
Khác nhau:
- Do chức năng giáo dục của nhà trường đó là: truyền thụ tri thức, tổ chứcquá trình giáo dục (quá trình dạy học và giáo dục); giáo dục nên mcụ đích củakiểm tra đánh giá trong nhà trường đó là lấy mục tiêu giáo dục, giáo dưỡng làmđích kiểm tra
- Do mục đích kế hoạch, nội dung, chương trình hoạt động của nhà trườngkhác với mục đích, kế hoạch, nội dung, chương trình của các tổ chức xã hộikhác như đơn vị kinh tế, đơn vị quản lý nhân sự,… lên khi kiểm tra đánh giátrong nhà trường phải dựa vào các mục tiêu quy định, quy tắc, quy chuẩn… cáctiêu chí có ý nghĩa pháp quy của nhà trường, của ngành giáo dục làm cơ sở, điềukiện để phân tích và đối chiếu khi kiểm tra
- Kiểm tra đánh giá, xếp loại con người một cách toàn diện là công việchết sức phức tạp bởi vì bản chất, nhân cách con người là một tổ hợp rất nhiềuphẩm chất, rất nhạy cảm có thể thay đổi trong rất nhiều điều kiện, hoàn cảnhkhác nhau nên phương pháp kiểm tra, đánh giá trong các nhà trường phải hếtsức khoa học, chính xác và khách quan
Trang 371.2.5 Khái niệm kiểm tra chuyên môn:
1.2.5.1 Khái niệm kiểm tra chuyên môn:
Kiểm tra chuyên môn trong quản lý là hệ thống những hoạt động đánhgiá- phát hiện- điều chỉnh nhằm đưa toàn bộ hệ thống được quản lý tới mục tiêu
dự kiến trong việc thực hiện quy chế chuyên môn
Kiểm tra chuyên môn trong nhà trường là xem xét cụ thể việc thựchiệnquyy chế chuyên môn và kết quả thực hiện của giáo viên, tổ chuyên môn đốichiếu với những yêu cầu, tiêu chuẩn, những quy định để xem giao viên đạt haychưa đạt, làm tốt hay chưa làm tốt các nhiệm vụ được giao Kết quả kiểm tra là
cơ sở chủ yếu cho việc đánh giá, tự vấn và thúc đẩy
Kiểm tra chuyên môn nhằm đánh giá việc thực hiện quy chế chuyên môn
và hiểu thêm về trình độ nghiệp vụ sư phạm của giáo viên
Dự giờ kiểm tra trình độ nghiệp vụ sư phạm, năng lực sử dụng phươngpháp, kết quả giảng dạy
Kiểm tra hồ sơ chuyên môn:
- Kiểm tra để đánh giá kết quả giảng dạy
1.2.5.2 Hệ thống quản lý chuyên môn trong nhà trường tiểu học:
Ban giám hiệu gồm:
- Hiệu trưởng: Phụ trách chung, kế hoạch tổ chức, kiểm tra, tài chính.+ Phó hiệu trưởng: Phụ trách công tác chuyên môn (bao gồm cả công tácsách, thiết bị và các trang thiết bị phục vụ dạy- học)
Các tổ chuyên môn: Mỗi tổ chuyên môn có một tổ trưởng và một tổ phó.Lực lượng kiểm tra là ban chuyên môn gồm Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng,các tổ trưởng, tổ phó chuyên môn Tuỳ theo nội dung hoặc tính chất của công việckiểm tra và sự phân công của Hiệu trưởng mà lực lượng này có thể kiểm tra trựctiếp hoặc dán tiếp, độc lập hay phối hợp với nhau để cùng kiểm tra một nội dung
Trách nhiệm trong công tác kiểm tra giáo viên thực hiện qy chế chuyênmôn trong nhà trường thông thường được phân công như sau:
- Hiệu trưởng:
+ Lập kế hoạch chung về công tác kiểm tra
Trang 38+ Lập kế hoạch chi tiết về kiểm tra đột xuất và kiểm tra toàn diện (địnhkỳ) với 1/3 số giáo viên của trường được kiểm tra trong năm học.
+ Duyết kế hoạch chi tiết kiểm tra đồng loạt giáo viên trong từng nội dung.+ Trực tiếp hoặc phối hợp với lực lượng kiểm tra tiến hành kiểm tra tuỳtheo mức độ yêu cầu đề ra
+ Tổ chức rút kinh nghiệm với giáo viên được kiểm tra
+ Triển khai, đôn đốc, kiểm tra hoạt động kiểm tra của ban chuyên môn.+ Tập hợp hồ sơ kiểm tra của ban chuyên môn để tiến hành sơ kết hoặctổng kết
+ Lập hồ sơ lưu trữ
- Phó hiệu trưởng:
+ Kết hợp cùng với Hiệu trưởng lập kế hoạch chung về công tác kiểm tra.+ Lập kế hoạch chi tiết kế hoạch kiểm tra đồng loạt để trình Hiệu trưởng duyệt.+ Thiết lập các biểu mẫu giấy tờ phục vụ cho công tác kiểm tra
+ Tiến hành kiểm tra giáo viên theo sự phân công của Hiệu trưởng
+ Tham dự các buổi rút kinh nghiệm của ban chuyên môn với các giáoviên được kiểm tra
- Các tổ trưởng, tổ phó chuyên môn:
+ Tiến hành kiểm tra trực tiếp hoặc phối hợp với các kiểm tra viên kháctiến hành kiểm tra giáo viên
+ Tổ chức rút kinh nghiệm với giáo viên được kiểm tra
+ Hoàn thiện hồ sơ của các cá nhân và viết các báo cáo theo quy định nộpcho Hiệu trưởng
Thông thường ở trường tiểu học các nội dung được tiến hành kiểm tra như sau:+ Kiểm tra bài soạn: Hiệu trưởng và Hiệu phó kiểm tra thường xuyên 4lần/tháng, kiểm tra đột xuất cần tuỳ thuộc vào tình hình thực hiện quy chếchuyên môn của nhà trường, kiểm tra đồng loạt trong phạm vi do tổ trưởng, tổphó chuyên môn đảm nhiệm, Phó Hiệu trưởng kiểm tra giáo viên mới ra trườngđang trong thời gian tập sự
Trang 39+ Kiểm tra thực hiện chương trình, giảng dạy: Hiệu trưởng cùng tổ trưởngchuyên môn hoặc nhóm trưởng dự giờ đột xuất 5% tổng số giáo viên/tháng, cảnăm dự 30% tổng số giáo viên, còn lại Phó hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn,
tổ phó dự
+ Kiểm tra chấm bài, chữa bài giao cho tổ trưởng chuyên môn hoặc tổphó thực hiện, Phó hiệu trưởng giám sát
+ Kiểm tra công tác thực hành, thí nghiệm
+ Kiểm tra công tác bồi dưỡng, tự bồi dưỡng
1.2.6 Hoạt động thực hiện quy chế chuyên môn:
Hoạt động thực hiện quy chế chuyên môn là một trong những hoạtđộngchủ yếu của người thầy giáo trong nhà trường gồm thực hiện việc chuẩn bịgiáo án, thực hiện chương trình giảng dạy, kiểm tra chấm và chữa bài, thực hànhthí nghiệm, bồi dưỡng và tự bồi dưỡng theo quy chế chuyên môn
- Chuẩn bị giáo án: Theo quy chế là soạn bài theo phân phối chương trìnhcủa Bộ Giáo dục và đào tạo đúng theo số tiết trong chương trình của từng bộmôn học, tiết học, tiết thực hành, tiết kiêmtra 1 tiết, kiểm tra học kỳ, trong kiểmtra phải có câu hỏi phù hợp cho 3 đối tượng học sinh giỏi, khá, trung bình, cóđáp án biểu điểm Soạn bài phải đầy đủ các mục đó là: Mục đích yêu cầu, tưtưởng thế giới quan duy vật biện chứng, phương pháp, công việccủa thầy, củatrò, đồ dùng dạy học minh hoạ, kiểm tra bài cũ, củng cố kiến thức
- Thực hiện chương trình giảng dạy: Theo quy chế là giáo viên phải thựchiện đúng phân phối chương trình Thể hiện đầy đủ 5 bước lên lớp:
- Ổn định tổ chức
- Kiểm tra bài cũ
- Dạy bài mới
Trang 40sinh đều thực hiện dưới sự tác động tương hỗ giữa các yếu tố cơ bản của quátrình dạy học, đó là mục đích, nội dung, pương pháp, phương tiện và cách thức
tổ chức phù hợp với nội dung của giờ dạy đó Giờ giảng đó phải phù hợp vớiđặc điểm của bộ môn, của kiểu bài lên lớp thuộc môn học đó Giờ học đó phảiphù hợp với điều kiện cụ thể về đối tượng học sinh, về cơ sở vật chất, thiết bịdạy học của giờ lên lớp mà giáo viên đó thực hiện
- Kiểm tra chấm bài và chữa bài theo quy chế chuyên môn: Nhằm kiểmtra đánh giá kiến thức mà học sinh đã tiếp thu ở tiết học trước (kiểm tra 15 phút)hoặc trong một chương, một số chương (kiểm tra 1 tiết) hoặc cả một học kỳ, mộtnăm học Chấm bài phải theo đáp án, biểu điểm người thầy chuẩn bị trước, dựatrên từng câu, từng phần trong câu hỏi kiểm tra Chấm bài theo quy chế là giaiđoạn cuối cùng của một quá trình thi công của người thầy Nếu kiểm tra màkhông đánh giá, chấm bài mà không chữa thì xem như không kiểm tra
- Chữa bài là một khâu quan trọng nhằm giúp học sinh nhìn nhận nhữngsai trái, thiếu sót về kiến thức của mình để tránh những sai phạm tiếp theo, giúpcho học sinh tiếp tục hoàn thiện và nâng cao kiến thức của mình ngày càng hoànchỉnh hơn
- Thực hành thí nghiệm: Đảm bảo thực hành, sử dụng đồ dùng đầy đủtheo quy định và đạt được hiệu quả
- Bồi dưỡng, tự bồi dưỡng: Tham gia bồi dưỡng thường xuyên theo kếhoạch nhà trường và tự bồi dưỡng tốt
Phải có sổ tích luỹ ghi chép đầy đủ các nội dung bồi dưỡng chuyên môn.Tích cực dự giờ, thăm lớp, trao đổi kinh nghiệm, hội thảo về nội dungchương trình giảng dạy cũng được coi là bồi dưỡng thường xuyên