Yêu cầu của việc sử dụng biện pháp dùng lời giúp trẻ hiểu từ thông qua quá trình cho trẻ làm quen tác phẩm văn học.. Tuy nhiên đối với trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi do t duy, ngôn ngữ của trẻ đã
Trang 1Trờng đại học vinh
Khoa giáo dục tiểu học - *** -
Trần Thị Thanh Hiền
một số biện pháp dùng lời nhằm giúp trẻ mẫu giáo (4 - 5 tuổi) hiểu từ thông qua quá trình
làm quen tác phẩm văn học
khoá luận tốt nghiệp đại học
ngành giáo dục mầm non
Vinh, 5/2007 Lời nói đầu
“Một số biện pháp dùng lời nhằm giúp trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi hiểu từ
qua quá trình cho trẻ làm quen tác phẩm văn học” là một đề tài mới, khá
phức tạp nhng cũng đầy lý thú và bổ ích Việc nghiên cứu đề tài có ý nghĩa cảtrên quan điểm nhận thức luận, lẫn quan điểm khảo sát và trên thực tế dạy trẻ
Kết quả nghiên cứu khoá luận này chỉ là bớc đầu, chúng tôi thấy cónhiều vấn đề cần đợc bàn đến, cần đợc nghiên cứu sâu hơn Hy vọng những ýkiến của khoá luận sẽ góp phần tạo điều kiện thuận lợi trong việc giáo dục trẻtốt hơn
Trang 2Trong quá trình thực hiện khoá luận, chúng tôi đã nhận đợc sự giúp đỡtận tình của giảng viên khoa GDTH Đặc biệt là sự hớng dẫn của Cô giáo Thạc
sỹ Trần Thị Hoàng Yến
Nhân đây chúng tôi xin tỏ lòng biết ơn chân thành của mình đối với cácthầy cô giáo và các bạn, đặc biệt là sự cảm ơn sâu sắc đến cô giáo hớng dẫn.Chúng tôi mong nhận đợc sự góp ý của các thầy cô
ngữ Bác Hồ đã dạy: “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời, và vô cùng quý
báu của dân tộc Chúng ta phải giữ gìn nó, tôn trọng nó ” Thực tế, trong côngtác giáo dục thế hệ mầm non cho đất nớc, chúng ta càng thấy rõ vai trò củangôn ngữ đối với việc giáo dục trẻ thơ
Usinxky đã từng nói: “Từ là một đơn vị ngôn ngữ không thể thiếu trong
tạo lập lời nói để giao tiếp của trẻ ” Cho nên đối với trẻ mầm non nói chung,trẻ mẫu giáo nhỡ (4-5 tuổi) nói riêng việc cung cấp, củng cố và tích cực hoávốn từ là nhiệm vụ rất quan trọng trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ Thực
tế, trẻ mầm non còn hạn chế nhiều về năng lực ngôn ngữ, chẳng hạn: vốn từ
Trang 3của trẻ nghèo nàn, các nét nghĩa của từ mà trẻ nắm đợc còn đang rất phiếndiện Trẻ sử dụng từ cha chính xác, tinh tế Đặc biệt ở trẻ 4- 5 tuổi vốn từ củatrẻ mới chỉ dừng lại ở sự phát triển chiều rộng (số lợng từ) chứ khả năng hiểu
từ và sử dụng từ chính xác, linh hoạt, sáng tạo còn rất hạn chế Có thể nói,nhiều khi trẻ hiểu nghĩa và sử dụng từ còn thụ động
Đối với trẻ mầm non, việc làm giàu vốn từ có thể tiến hành thông quamọi hoạt hoạt động giáo dục, hoạt động sinh hoạt hàng ngày của trẻ.Tuynhiên,việc cung cấp vốn từ và giúp trẻ hiểu từ phù hợp và hiệu quả nhất làthông qua quá trình cho trẻ làm quen tác phẩm văn học Vì văn học là một loạihình nghệ thuật mà trẻ đợc tiếp xúc từ rất sớm Ngay từ thuở còn nằm trongnôi trẻ đã đợc làm quen với các giai điệu nhẹ nhàng, tha thiết của lời hát ru,lớn thêm chút nữa trẻ thích đợc nghe ngời lớn kể chuyện Quá trình trẻ làmquen với tác phẩm văn học, với những hình tợng văn học mà trẻ rất yêu thíchkhiến trẻ dễ dàng tiếp thu tác phẩm, hiểu đợc một phần nào đó cuộc sống tựnhiên, xã hội xung quanh mình Trẻ biết đợc những điều hay lẽ phải, biết cáixấu, cái đẹp Mặt khác tác phẩm văn học còn là công trình nghệ thuật bằngngôn từ, nơi hội từ vẻ đẹp ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ
Vì vậy việc xác định các biện pháp để giúp các em hiểu từ một cách đầy
đủ, chính xác, nhẹ nhàng và hứng thú thông qua quá trình cho trẻ làm quen vớitác phẩm văn học là điều trăn trở, khó khăn của nhều giáo viên mầm non
Chính những lý do trên đã thôi thúc chúng tôi mạnh dạn thực hiện đề tài: “Một
số biện pháp dùng lời nhằm giúp trẻ 4- 5 tuổi hiểu từ thông qua quá trình làm quen tác phẩm văn học ”
2 Mục đích nghiên cứu.
- Tìm hiểu thực trạng về các biện pháp dùng lời nhằm giúp trẻ 4-5 tuổihiểu từ qua quá trình làm quen tác phẩm văn học
- Đề xuất một số biện pháp dùng lời nhằm giúp trẻ 4-5 tuổi hiểu từthông qua quá trình làm quen tác phẩm văn học
3 Nhiệm vụ nghiên cứu.
a) Xây dựng cơ sở lý luận liên quan: Từ, Nghĩa của từ, các biện phápdùng lời nhằm giúp trẻ 4-5 tuổi hiểu từ thông qua quá trình làm quen tác phẩmvăn học
b) Tìm hiểu thực trạng về các biện pháp nhằm giúp trẻ 4-5 tuổi hiểu từqua quá trình làm quen tác phẩm văn học
c) Đề xuất một số biện pháp dùng lời nhằm giúp trẻ 4-5 tuổi hiểu từthông qua quá trình làm quen tác phẩm văn học
Trang 44 Khách thể và đối tợng nghiên cứu.
4.1 Khách thể nghiên cứu.
Quá trình cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học
4.2 Đối tợng nghiên cứu.
Một số biện pháp dùng lời nhằm giúp trẻ 4- 5 tuổi hiểu từ thông quaquá trình làm quen tác phẩm văn học
5 Phạm vi nghiên cứu.
Nghiên cứu một số biện pháp dùng lời giúp trẻ 4-5 tuổi hiểu từ thôngqua quá trình làm quen tác phẩm văn học ở một số trờng mầm non trên địabàn thành phố Vinh
6 Giả thuyết khoa học.
ở trờng Mầm non, nếu giáo viên sử dụng hợp lý một số biện pháp dùnglời thông qua quá trình cho trẻ làm quen tác phẩm văn học thì sẽ nâng cao khảnăng hiểu từ cho trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi
7 Phơng pháp nghiên cứu.
7.1 Phơng pháp nghiên cứu lý luận.
Thu thập, phân tích tài liệu, giáo trình có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
7.2 Phơng pháp nghiên cứu thực tiễn.
- Quan sát
- Điều tra phỏng vấn
Nhằm nghiên cứu thực tiễn dạy nghĩa từ trong giờ cho trẻ làm quen vớitác phẩm văn học
Trang 5Phần nội dung Chơng I: cơ sở lý luận
I Sơ lợc về lịch sử vấn đề nghiên cứu
Nghĩa của từ, là vấn đề từ trớc đến nay đợc rất nhiều tác giả đề cập đến.Các tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến Khi nghiêncứu nghĩa của từ đã cho rằng: Nghĩa của từ là những liên hệ phản ánh mangtính quy ớc, đợc xây dựng bởi những cộng đồng bản ngữ Nh vậy, trong ýthức, trong bộ óc con ngời chỉ tồn tại sự hiểu biết về nghĩa của từ chứ khôngphải là nghĩa của từ mà nghĩa của từ tồn tại trong từ, nói rộng ra là tồn tạitrong hệ thống ngôn ngữ Các tác giả này cũng phân biệt các thành phần ngữnghĩa của từ, đối với việc xác định nghiã của từ vào trong sinh hoạt ngôn ngữ,
từ đó phân chia ra các loại nghĩa khác nhau
Tác giả Nguyễn Thiện Giáp cho rằng: Tín hiệu bao giờ cũng có tính haimặt: cái biểu hiện và cái đợc biểu hiện, tức là nói tới hình thức và nội dung.Tín hiệu chỉ là một tín hiệu khi nó có nghĩa và các tín hiệu ngôn ngữ cũng cótính chất hai mặt nh vậy, nó tồn tại khách quan trong lời nói Từ các côngtrình nghiên cứu của các tác giả chúng ta thấy:
Khi bàn về vấn đề nghĩa của từ phần lớn các tác giả đều đặt vào bảnchất tín hiệu của từ Tức là hớng từ trong hệ thống ngôn ngữ vào trong hoạt
động giao tiếp bởi những chức năng của nó: Chức năng miêu tả, chức năngdụng học, chức năng kết học Cho nghĩa của từ là một bản thể nào đó có thể là
đối tợng (G.Sukha, B.Rutxen), khái niệm (R.Carnap), sự phản ánh(A.I.Ximirnitxki) Cho nghĩa của từ là một quan hệ nào đó: quan hệ của từ với
đối tợng hoặc quan hệ của từ với khái niệm…
Ngoài ra có thể kể đến các công trình nghiên cứu của các tác giả sau:
- Các biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ em nhà trẻ, mẫu giáo qua cáccông trình nghiên cứu của các tác giả nh: L.P.Phedorenco, G.A.Phomitreva,B.KLotarep, Nguyễn Gia Cầu (1986), Hà Thị Dân (1986)…
- Đặc biệt một số công trình nghiên cứu về vốn từ và khả năng hiểu từcủa trẻ đó là:
+ Công trình nghiên cứu của Thạc sỹ Lu Thị Lan “Các yếu tố ảnh hởng
đến việc hình thành, phát triển vốn từ ở trẻ 1 - 3 tuổi”(Tạp chí lý luận khoahọc giáo dục - BGD - Nghiên cứu giáo dục số 8 – 1989) Bà đã trực tiếpnghiên cứu hai con của mình cùng 30 trẻ khác ở trờng mầm non nội thành HàNội và rút ra kết luận rằng: Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ chịu ảnh hởng rất
Trang 6lớn của yếu tố gia đình và sự tích cực giao tiếp của trẻ với mọi ngời xungquanh.
+ Công trình nghiên cứu của Thạc sỹ Nguyễn Xuân Thức, TS DơngDiệu Hoa: “Nghiên cứu khả năng hiểu từ của trẻ em 5 - 6 tuổi” Đó là khảnăng hiểu các từ loại nh: danh từ, tính từ, động từ, đại từ, số từ, h từ… và đa rakết luận rằng: ở mỗi lứa tuổi trẻ hiểu nghĩa từ với các mức độ khác nhau ởmỗi trẻ cũng khác nhau, tuỳ theo điều kiện sống và tiếp xúc của trẻ
+ Luận văn Thạc sĩ của Lu Thị Lan “Một số biện pháp dùng lời nhằmnâng cao mức độ hiểu từ cho trẻ 5 - 6 tuổi” Bà đã đa ra một số biện pháp nh:Dùng tranh ảnh cho trẻ quan sát, đàm thoại; sử dụng các tình huống thực tếkhi dạo chơi, tham quan; tổ chức cho trẻ vẽ; tổ chức cho trẻ chơi xây dựng
+ Luận văn Thạc sỹ của Nguyễn Thị Mai: “Thực trạng hiểu từ của trẻmẫu giáo 3 - 6 tuổi” (1998) Qua nghiên cứu thực trạng để thấy đợc nhận thứccủa giáo viên về vai trò của việc hiểu từ trong nhiệm vụ phát triển ngôn ngữcho trẻ và thực trạng hiểu từ ở trẻ 3 - 6 tuổi
Qua quá trình tìm hiểu vài nét về lịch sử của vấn đề nghiên cứu chúngtôi thấy các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ và sự phát triển ngôn ngữ trẻ
em rất đa dạng, phong phú ở nhiều khía cạnh khác nhau Riêng nghiên cứu vềlĩnh vực hiểu từ ở trẻ em còn rất ít, mặc dù giữa sự hiểu từ và các thành phầnngôn ngữ có quan hệ chặt chẽ với nhau Hầu hết các công trình nghiên cứudừng lại ở mức độ khảo sát khả năng hiểu từ của trẻ chứ cha vạch ra biện pháp
để nâng cao mức độ hiểu từ của trẻ mẫu giáo Mong rằng vấn đề này sẽ đợcnhiều nhà tâm lý học, giáo dục học quan tâm hơn nữa trong nghiên cứu
II Một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài
1 Một số vấn đề chung về từ và nghĩa của từ.
1.1 Khái niệm từ.
Từ là một khái niệm rất phức tạp Nó đợc bàn luận và tranh cãi rất nhiều
trong lịch sử nghiên cứu của ngôn ngữ học F.DeSaussure đã viết: “Từ là một
đơn vị luôn luôn ám ảnh t tởng chúng ta, nh một cái gì đó trung tâm trong toàn bộ cơ cấu ngôn ngữ mặc dù khái niệm này khó định nghĩa Tính đến thời
điểm này thì đã có hàng trăm định nghĩa về từ, song cha có một định nghĩanào thoả mãn đối với các nhà nghiên cứu Bởi vì ngôn ngữ trên thế giới rất đadạng, phong phú đợc biểu hiện dới nhiều hình thức khác nhau Đối với cácnhà nghiên cứu ngôn ngữ ấn - Âu, những ngời đã đa ra khái niệm đầu tiên về
từ, họ nhận thức từ nh một cái gì có sẵn, thực hiện một chức năng cụ thể Từ
đó họ đa ra định nghĩa từ cũng nh đặc điểm của từ và lấy đó làm căn cứ để
Trang 7xem xét đến từ trong các ngôn ngữ khác.Tuy nhiên áp dụng nhận thức đó vàotiếng Việt thì không có sự phù hợp vì:
- Từ trong tiếng Việt không có sự biến hình
- Có hiện tợng từ trùng với hình vị
Tác giả Cao Xuân Hạo viết: “Sự phân biệt giữa các cấp độ ngôn ngữ là
sự phân biệt về chất chứ không phải về lợng Một đơn vị không phải vì ngắnhơn, đơn giản hơn các đơn vị cùng bậc, mà có một cơng vị mới thấp hơn vàtiêu chuẩn, “tự do, ràng buộc” chỉ xuất hiện sau danh từ để hạn định thì nó vẫn
a) Từ của tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất, có ý nghĩa dùng để cấutạo câu nói, nó có hình thức của một âm tiết, một “chữ” viết rời
b) Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, cómột ý nghĩa nhất định nằm trong một phơng thức (hoặc kiểu cấu tạo), cấu tạonhất định, tuân theo những kiểu đặc điểm ngữ pháp nhất định, lớn nhất trongtiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu
c) Từ là một đơn vị cơ bản của ngôn ngữ có thể tách rời khỏi các đơn vịkhác của lời nói để vận dụng một cách độc lập và là một khối hoàn chỉnh vềngữ âm, ý nghĩa (từ vựng hoặc ngữ pháp) và chức năng ngữ pháp
Từ tất cả những định nghĩa trên, chúng ta tôi thấy tất cả các nhà Việtngữ đều có sự thống nhất chung về từ ở một số đặc điểm chính: âm thanh, ýnghĩa, cấu tạo và khả năng hoạt động từ đó đi đến định nghĩa
Từ là một đơn vị của ngôn ngữ, gồm một hoặc một số âm tiết, có nghĩa
“
nhỏ nhất có cấu tạo hoàn chỉnh và đợc vận dụng tự do để tạo nên câu” (Ngữ
nghĩa lời hội thoại (tr 8) Đỗ Thị Kim Liên - NXB Giáo dục - 1999)
1.2 Nghĩa của từ.
Để trả lời câu hỏi nghĩa của từ là gì? Trớc hết chúng ta phải trở lại với
bản chất tín hiệu của từ Từ là tín hiệu trong hình thức ngôn ngữ, khi một ngờinghe hoặc nói một từ nào đó mà anh ta quy chiếu gán nó vào đúng sự vật cótên gọi của từ đó nh cả cộng đồng xã hội vẫn gọi, đồng thời ít nhiều anh tahiểu đợc những đặc trng bản chất của sự vật đó để sử dụng từ đó trong giaotiếp Ta nói rằng anh ta đã hiểu nghĩa của từ đó
Trang 8Trong sử dụng từ ngữ, nghĩa từ là rất quan trọng, đồng thời là cái rấtphức tạp Theo tác giả Phan Thiều thì nghĩa của từ rất đa dạng, có nhiều kiểuloại khác nhau nh: Nghĩa từ điển (nghĩa trong ngôn ngữ) (là nghĩa khái quátnhất) là cơ sở để ngời nói lựa chọn từ mà vận dụng vào trong lời nói, nó lànghĩa để thực hiện trong các định nghĩa, là tổ hợp tất cả các khả năng nghĩacủa một từ có thể biểu hiện trên thực tế), nghĩa thực tế, nghĩa từ nguyên, nghĩabách khoa, nghĩa ngôn ngữ học.
Có thể hiểu từ có các thành phần nghĩa sau:
a) Nghĩa biểu vật:
Đó là quan hệ từ với đối tợng mà từ biểu thị Đối tợng mà từ biểu thịkhông phải chỉ là các sự vật mà là quá trình, tính chất hoặc hiện tợng trongthực tế nào đó…Những sự vật, quá trình, tính chất hoặc hiện tợng mà từ biểuthị đợc gọi là cái sở chỉ của từ Mối quan hệ của từ với cái sở chỉ đợc gọi lànghĩa sở chỉ
b) Nghĩa biểu niệm:
Đó là quan hệ của từ với biện tợng, khái niệm.Khái niệm hoặc biểu tợng
có quan hệ với từ đợc gọi là cái sở biểu và quan hệ giữa từ và khái niệm hoặcbiểu tợng đợc gọi là nghĩa biểu niệm
Một từ có thể có nhiều nghĩa biểu niệm nếu nó ứng với nhiều cấu trúcbiểu niệm
Ví dụ: Từ “chạy” có các nghĩa biểu niệm khác nhau nh sau:
+ Chạy: hoạt động, tự dời chỗ, bằng chân, của ngời hay động vật, ở trênmặt đất, với tốc độ cao (mỗi nét nghĩa đợc tách ra bằng dấu phẩy)
+ Chạy: hoạt động, dời chỗ một vật khác, với tốc độ cao
+ Chạy: hoạt động tìm kiếm ngời hay vật cần thiết, một cách khẩn
tr-ơng, vất vả
+ Chạy: hoạt động trốn tránh điều nguy hiểm, một cách khẩn trơng
c) Nghĩa biểu thái:
Bên cạnh nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm, mỗi từ còn có các nghĩa “phụthuộc” do chủ quan ngời nói đem lại Đó là nghĩa cảm xúc, yếu tố gợi cảm,
đồng thời cũng là giá trị tu từ học của từ Giá trị gợi cảm này thêm vào nghĩa
sự vật, biểu thị khía cạnh chủ quan của ngời nói
Ví dụ: Trong tiếng Việt, từ “đàn bà” mang sắc thái không trang trọngtrong thời đại phong kiến thống trị Ngời đàn bà hồi đó ở địa vị thấp hèn, bịkhinh bỉ cho nên từ đàn bà lúc đầu mang sắc thái khinh bỉ từ chủ quan giai cấpthống trị và lan ra mọi ngời Các sắc đó đã trở thành nghĩa tơng đối ổn định
Trang 9d) Nghĩa ngữ pháp:
Từ mang nghĩa ngữ pháp trớc hết đó là nghĩa khái quát chung cho tất cảcác từ thuộc cùng một từ loại, một tiểu loại Nghĩa khái quát này dựa trên nétnghĩa phạm trù trong cấu trúc biểu niệm của từ Ví dụ: Nghĩa sự vật ở danh từ,nghĩa hoạt động - trạng thái ở động từ, nghĩa đặc điểm, tính chất ở tính từ,nghĩa số lợng ở số từ… Hoặc các nghĩa ngữ pháp ở các tiểu loại nh các nghĩa
ở động từ chỉ hoạt động tác động, chỉ hoạt động sai khiến, chỉ hoạt động biếnhoá, chỉ hoạt động tri giác, suy nghĩ, nói năng…
Có những từ chuyên làm thành tố phụ để làm dấu hiệu cho một số ýnghĩa bổ sung: ý nghĩa đồng nhất (đều, vẫn, cứ, cũng, còn, lại…), ý nghĩa phủ
định (không, cha, chẳng…), ý nghĩa mức độ (rất, quá, lắm, vô cùng, cực
kỳ…)
Nh vậy, nghĩa ngữ pháp là thành phần nghĩa luôn có mặt trong từ, kể cả
ở thực từ và h từ Tất cả các thành phần ý nghĩa (nghĩa biểu vật, nghĩa biểuthái, nghĩa biểu niệm, nghĩa ngữ pháp) hợp thành bình diện nghĩa của từ, tồntại bên trong từ Trong bình diện nghĩa của từ, các thành phần ý nghĩa đanquyện vào nhau, chế định lẫn nhau, chứ không phải là tồn tại một cách biệt lập
và không phải là một đờng gianh giới thật rõ ràng dứt khoát Ngay cả sự phânbiệt nghĩa từ vựng và nghĩa ngữ pháp cũng không có tính tuyệt đối, trongnhiều trờng hợp có thể thấy rõ bằng nghĩa ngữ pháp có cơ sở ngay trong nghĩa
từ vựng của từ
* Các loại nghĩa của từ
Nghĩa của từ đợc thể hiện khi sử dụng từ trong lời nói, nó không có tính
ổn định, vì bản thân mối quan hệ của từ với các sự vật, hiện tợng có thể thay
đổi tuỳ theo hoàn cảnh nói năng cụ thể Bên cạnh sự hiện thực nghĩa vốn có,trong hoạt động giao tiếp từ có thể biến đổi về nghĩa Những sự biến đổi nàydiễn ra trong từng hoàn cảnh giao tiếp cụ thể, tuỳ thuộc vào từng nhân vật giaotiếp nhất định Tuy nhiên những sự biến đổi này không phải diễn ra một cáchtuỳ tiện, ngẫu hứng mà vẫn diễn ra theo những cách thức và quy tắc chung.Dựa vào tiêu chí nguồn gốc của nghĩa ta có:
- Nghĩa cơ bản (nghĩa gốc)
- Nghĩa phái sinh (nghĩa bóng)
Nghĩa cơ bản (nghĩa gốc) đợc hiểu là nghĩa vốn có của từ Đây là nghĩacơ bản, nghĩa gốc ai cũng có thể hiểu đợc, trên cơ sở nghĩa đó mà ngời ta xâydựng nên nghĩa khác Nghĩa gốc thờng là nghĩa không giải thích đợc lý do và
có thể đợc nhận ra một cách độc lập, không cần thông qua nghĩa khác
Trang 10Nghĩa phái sinh (nghĩa bóng) là nghĩa đợc suy ra từ nghĩa đen, bắtnguồn từ nghĩa đen Nghĩa bóng của từ chỉ đợc bộc lộ rõ ràng khi đặt chúngvào một ngữ cảnh nhất định.
Ví dụ 1: “Chân 1” bộ phân thân thể động vật ở phía dới cùng, để đỡthân thể đứng yên hoặc vận động rời chỗ
“Chân 2”: Cơng vị, phận sự của một ngời với t cách là một thành viêncủa một tổ chức (có chân trong ban quản trị)
Điểm chung của các từ nhiều nghĩa là các nghĩa đó luôn luôn có quan
hệ với nhau trên cơ sở duy trì một nét nghĩa chung từ nghĩa gốc (ban đầu) đếncác nghĩa chuyển Nét nghĩa chung đó là sự phản ánh một thuộc tính chungnào đó của các đối tợng mà từ biểu hiện Đến lợt mình các thuộc tính chungnày lại là kết quả của sự nhận thức, cảm nhận về thế giới xung quanh mà conngời đã tri giác khi tiếp xúc với thế giới xung quanh con ngời nhận thức ramột số thuộc tính giống nhau của các đối tợng, hoặc có một số thuộc tínhgiống nhau từ đó dùng tên gọi (từ) của đối tợng này để gọi tên cho đối tợng cóthuộc tính giống (hoặc tơng tự) với nó
1.3 Ngữ cảnh - cơ sở xác định nghĩa của từ.
Khi dùng ngôn ngữ để giao tiếp, ngời ta nói ra những câu, những phátngôn chứ không phải là những từ rời rạc tại đó, các từ kết hợp với nhau theonhững quy tắc và chuẩn mực của ngôn ngữ Cũng trong câu hoặc phát ngôn cụthể, ngời ta mới biết đợc rằng: tại trờng hợp, hoàn cảnh cụ thể này, từ có nghĩagì? (tức là bộc lộ nghĩa nào trong các nghĩa của nó)
Ví dụ: Khi ta nghe thấy chỉ một từ “chắc” trong tiếng Việt thôi thìkhông thể biết đợc ngời nói muốn nói tới nghĩa nào của từ này Thế nhng từng
nghĩa một của một từ “chắc” sẽ xuất hiện rất rõ ràng, nếu ta nghe thấy nó trong các phát ngôn, những chuỗi từ đại loại nh: lúa đã chắc hạt, nhà xây
chắc, lời nói chắc nh đinh đóng cột, ông này chắc đã có con lớn…
Do vậy để hiểu đợc từ ta phải đặt nó vào ngữ cảnh Vậy ngữ cảnh là gì?
Ngữ cảnh của một từ là chuỗi từ kết hợp với nó hoặc bao xung quanh
nó, đủ để làm cho nó đợc cụ thể hoá và hoàn toàn xác định về nghĩa.
Sở dĩ từ bộc lộ một nghĩa xác định nào đó trong ngữ cảnh chứa nó là vìtrong mỗi ngữ cảnh, từ thể hiện khả năng kết hợp từ vựng và khả năng kết hợpngữ pháp của mình Khả năng kết hợp ngữ pháp của từ là khả năng nó có thể
đứng vào một vị trí nhất định trong những cấu trúc nhất định nào đó Nó khác
đi, đó là khả năng từ có thể tham gia vào cấu trúc ngữ pháp nào đó
Trang 11Ví dụ: Trong tiếng Việt, động từ có khả năng kết hợp với các từ: đã,
đang, sẽ, sắp, mới… ở phía trớc; và, mãi, xong rồi… ở phía sau: (ví dụ: đang
đi, làm mãi )
Nếu từ thuộc lớp ngữ pháp nào, thuộc từ loại nào… thì sẽ đợc quy địnhcho những những khả năng tơng ứng, những vị trí tơng ứng trong các mô hìnhcấu trúc ngữ pháp
Ngợc lại khả năng kết hợp từ vựng của từ là khả năng kết hợp giữa mộtnghĩa của từ này với một nghĩa của từ khác sao cho tổ hợp đợc tạo thành phảiphản ánh đúng với thực tế, phù hợp với logic và thói quen sử dụng ngôn ngữcủa ngời bản ngữ
Ví dụ: Ngời Việt vẫn nói: ăn cơm, học bài, nhắm mắt … và cũng nói
bây giờ đang mùa thu, trông vẫn con gái nh ai, nhà này cũng năm tầng… mà
không thể nói: ăn bài, học cơm, nhắm miệng, bây giờ đang nhà…
Khả năng kết hợp từ vựng của các từ quy định cho phép chúng có thểkết hợp với nhau đợc hay không Ngợc lại thông qua các kết hợp cụ thể từ nàyvới các từ khác, ta có thể phát hiện dần từng nghĩa riêng của từ, tiến tới xác
định cả một cơ cấu của nghĩa từ
1.4 Vai trò của từ trong hoạt động ngôn ngữ.
Từ là một trong số các đơn vị cơ bản nhất của ngôn ngữ Nó ở vào vị trítrung tâm của hệ thống ngôn ngữ Nó là cơ sở để con ngời có thể tiến hànhhoạt động nhận thức và tạo ra mọi sản phẩm ngôn ngữ (câu, đoạn, văn bản)phục vụ cho nhu cầu giao tiếp của con ngời Hoạt động nhận thức và giao tiếpcủa con ngời chính là bắt đầu từ đơn vị cơ sở là từ
ở trạng thái hoạt động của ngôn ngữ, tức là trạng thái ngôn ngữ đợc sửdụng vào các hoạt động nhận thức, t duy, giao tiếp của con ngời ở trạng tháinày các yếu tố của hệ thống ngôn ngữ mới thực sự có cuộc sống sinh động củachúng và mới thực sự thực hiện các chức năng xã hội của chúng - chức nănglàm công cụ t duy và giao tiếp Tình hình cũng nh vậy đối với từ nói riêng.Trong hoạt động giao tiếp, các từ mới thực sự bộc lộ các thuộc tính và đặc
điểm vốn có của chúng trong hệ thống ngôn ngữ, mới hiện thực hoá cụ thể cácbình diện của nó, hơn nữa trong hoạt động giao tiếp, từ còn có thể biến đổi vàchuyển hoá những thuộc tính vốn có để cho phù hợp với các nhân tố cụ thểcủa từng hoạt động giao tiếp, để nhằm đạt đợc hiệu quả giao tiếp tốt nhất
Trong giao tiếp nếu không nắm đợc từ, ngời tiếp nhận sẽ không hiểu hếtnội dung thậm chí hiểu sai lệch ý của ngời phát ngôn Còn bản thân ngời phát
Trang 12thì lại khó làm cho ngời nhận hiểu đợc ý của mình Cùng với những non yếu
về ngữ pháp, những non yếu trong việc hiểu biết và sử dụng từ ngữ làm choviệc giao tiếp gặp nhiều khó khăn và không đạt hiệu quả Điều đó chứng tỏrằng để phát huy chức năng làm công cụ giao tiếp của ngôn ngữ, chúng ta nhấtthiết phải hiểu đợc từ, có khả năng huy động và sử dụng đợc từ
Đối với hoạt động t duy thì ngôn ngữ là phơng tiện ghi lại sản phẩm vàkết quả của quá trình t duy Các kết quả hoạt động t duy bao giờ cũng đợckhoác một cái vỏ vật chất âm thanh Để thể hiện ra ngoài dới dạng vật chấtnhằm làm cho những ngời khác “thấy đợc” Chính ở trong ngôn ngữ và nhờ cóngôn ngữ mà ý thức tiềm tại trở nên đợc hiện thực hoá, thực tại hoá Đúng nhMác đã nói “Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của t duy”
Về mặt nhận thức và t duy, từ giúp con ngời nhìn hiện thực phong phú,phức tạp và đa dạng thành những nhóm sự vật hiện tợng đồng nhất với nhữngnét đồng nhất và khác biệt của chúng Sự khác biệt và đồng nhất này giúp conngời vợt lên trên sự phản ánh đơn giản hiện thực qua tiếp nhận của tính đơnthuần giúp chúng ta nhìn vào bản chất của sự vật, nắm đợc bản chất của sự vậtkhách quan thông qua hệ thống khái niệm chứa đựng trong từ
2 Vấn đề hiểu từ trong ngôn ngữ của trẻ 4 - 5 tuổi.
2.1 Đặc điểm vốn từ của trẻ 4 - 5 tuổi.
- Về số lợng: So với các lứa tuổi trớc, trẻ mẫu giáo 4 -5 tuổi có số lợng
từ nhiều hơn hẳn Các nhà ngôn ngữ và tâm lý học đã đa ra những số liệu khácnhau về số lợng từ của trẻ 4 - 5 tuổi
Y.V.V.Pratoxevtch: 4 tuổi: 1900 từ
5 tuổi: 2500 từ
Theo nghiên cứu của Nguyễn Xuân Khoa về ngôn ngữ của trẻ nội thành
Hà Nội thì vốn từ của trẻ 4 tuổi: 1900 - 2000 từ
trẻ 5 tuổi: 2500 - 2600 từ
Mặc dù số lợng từ của trẻ mẫu giáo do các nhà tâm lý học, ngôn ngữhọc đa ra không khớp nhau, nhng sự chênh lệch không lớn lắm và các tác giảkhẳng định: Số lợng từ của trẻ phụ thuộc rất nhiều yếu tố khác nhau, trong đóquan trọng nhất là các tác động của môi trờng nh: sự tiếp xúc ngôn ngữ thờngxuyên của những ngời xung quanh, trình độ của bố, mẹ
- Về chất lợng vốn từ xét về mặt từ loại:
Cơ cấu từ loại trong vốn từ của trẻ là một tiêu chí để đánh giá chất l ợngvốn từ của trẻ Số lợng từ loại của trẻ càng nhiều bao nhiêu thì càng tạo điềukiện thuận lợi cho trẻ diễn đạt dễ dàng
Trang 13Theo Lu Thị Lan, trẻ mẫu giáo có tỷ lệ các từ loại nh tính từ, trạng từ,quan hệ từ đợc tăng lên, động từ giảm đi so với trẻ tuổi nhà trẻ.
Trẻ 5 tuổi: Danh từ chiếm: 35,52%
Những từ chỉ nghề nghiệp của ngời lớn tăng ở trẻ còn có những danh
từ mang tính văn học Ví dụ: áng mây, đoá hoa…
Trẻ biết sử dụng một số từ chỉ khái niệm trừu tợng (ví dụ: kiến trúc tàinăng) mặc dù trẻ cha biết nghĩa của những từ đó
Về động từ: phần lớn là những động từ gần gũi, tiếp tục phát triển thêmnhững nhóm từ mới nh: nhảy nhót, rơi lộp độp, leng keng…, những động từchỉ sắc thái thác nhau nh: chạy lèo vèo, chạy lung tung, chạy loạn xạ
Xuất hiện thêm những động từ có nghĩa trừu tợng: giáo dục, khánhthành…
- Về tính từ: Phát triển về số lợng cũng nh về chất lợng tính từ Trẻ sửdụng nhiều những từ có tính chất gợi cảm Ví dụ: chua chua, chua loét, trònvo…
Từ tợng hình, tợng thanh: Ví dụ: bập bùng, rì rào…
Trẻ biết dùng những từ trái nghĩa Ví dụ: dày mỏng, khoẻ yếu, caothấp…
- Về trạng từ: Trẻ đợc mở rộng, trẻ sử dụng đúng các trạng từ: ngày xa,hồi trớc, lúc này, hôm qua…
- Về quan hệ từ: Trẻ biết sử dụng các từ: Nếu, thì, thế, mà, thế là, nhng,và…
- Về các loại từ: Trẻ biết nhiều từ đơn hơn từ ghép, trẻ hiểu nhiều từ láy
và biết sử dụng chúng
2.2 Đặc điểm hiểu từ của trẻ 4 - 5 tuổi.
Trong quá trình phát triển ngôn ngữ, trẻ em không chỉ lĩnh hội vốn từmới mà còn lĩnh hội nghĩa của từ Nghĩa của từ mang tính chất khái quát, phản
ánh dấu hiệu của hàng loạt sự vật, hiện tợng giống nhau Việc lĩnh hội đợc
Trang 14nghĩa của từ đã giúp trẻ lĩnh hội đợc ngôn ngữ làm phơng tiện giao tiếp vànhận thức thế giới xung quanh Đối với đặc điểm phát triển t duy cha hoànthiện, việc hiểu nghĩa từ của trẻ em thờng diễn ra chậm hơn và khó hơn việcnắm vốn từ, ngữ âm, ngữ pháp.
Việc lĩnh hội từ ở trẻ em khác ngời lớn Đối với ngời lớn lĩnh hội nghĩacủa từ là lĩnh hội khái niệm với đầy đủ nội hàm và ngoại diện của nó Nhng
đối với trẻ lứa tuổi mẫu giáo, đặc điểm t duy trực quan hình tợng chiếm u thế,
t duy trừu tợng cha phát triển, khả năng khái quát hoá cha cao Khi lĩnh hộinghĩa của từ, trẻ em phải trực tiếp thao tác hoặc quan sát đối tợng qua tranh
ảnh, mô hình tợng trng cho nghĩa của đối tợng Bởi vậy nghĩa của từ mà trẻ
em lĩnh hội đều mang một nghĩa cụ thể, đại diện cho một sự vật, hiện tợngriêng lẻ Hay nói cách khác, mỗi từ của trẻ em chỉ chứa đựng một biểu tợng,phản ánh hiện thực một cách sinh động, rõ ràng khái niệm của ngời lớn songchúng không có tính khái quát, chính xác, hệ thống nh đặc trng của khái niệm
Chẳng hạn nh trẻ em hiểu các từ chỉ các đồ vật trong gia đình, đồ vật có
liên quan đến sinh hoạt của trẻ em nh quần áo, mũi, tất … Các từ chỉ thức ăn
cụ thể nh cơm, cháo… Các từ chỉ các con vật nuôi trong gia đình: chó, mèo,
gà, lợn… Các từ chỉ hành động của trẻ nh: đi, chạy, nhảy… Tất cả các từ chỉ
đồ vật, thức ăn, con vật nuôi… đều là những biểu tợng cụ thể đợc đúc kếttrong từ Trẻ em hiểu từ trên cơ sở gắn từ với các biểu tợng cụ thể đó
Với đặc điểm nhận thức phát triển ở mức độ nhất định, mức độ hiểu biếtcủa trẻ em mẫu giáo mới chỉ dừng lại ở mức độ gọi tên, nhận biết sự vật hiệntợng qua tranh ảnh, mô hình nh nhìn vào tranh trẻ biết đây là con gì, vật gì,cây gì… hoặc nhìn vào tranh, trẻ nhận biết đợc dấu hiệu bề ngoài của sự vậttrong mối tơng quan với các sự vật khác nh cao - thấp, xa - gần, to - nhỏ, dài -ngắn, trên - dới Còn hiểu khái niệm ở mức độ nh hiểu một khái niệm khoahọc, thì chỉ có đợc ở trẻ khi chúng lĩnh hội tri thức khoa học thực sự tronghoạt động học tập ở trờng phổ thông
Tuy nhiên trẻ em mẫu giáo đã bắt đầu có ý thức tìm hiểu nghĩa của từ
và nguồn gốc của ngôn ngữ khi sử dụng ngôn ngữ Nhng do kinh nghiệm sốngcòn nghèo nàn, do t duy còn nặng tính trực quan cụ thể và trình độ khái quátcòn kém, trẻ mới chỉ dựa vào những đặc điểm bên ngoài hoặc dựa vào kinhnghiệm cụ thể của bản thân, cha phân biệt đợc những đặc điểm bản chất của
sự vật cho nên còn nhiều biểu hiện: Trẻ hiểu ngôn ngữ cha chính xác, kết luậnphiến diện Nhất là những từ trẻ sử dụng thờng xuyên hoặc trừu tợng đối vớitrẻ
Trang 15Một hiện tợng trong đặc điểm hiểu từ của trẻ là trẻ có thể hiểu một từkhông phải để chỉ một sự vật hiện tợng nhất định mà là từ chung cho một sựvật gần giống nhau về đặc điểm bên ngoài hay có công dụng gần giống nhau.
Chẳng hạn trẻ gọi từ “chỉ” là từ “dây”., hay các từ ấm, thìa, cốc, bát trẻ gọi bằng từ “cái nớc” Đây là hiện tợng đa nghĩa trong ngôn ngữ của trẻ, nó
biểu hiện cách hiểu nghĩa rất riêng biệt ở trẻ em Từ của trẻ em hiểu ở đâykhông phải là từ hiểu theo nghĩa thực sự của nó vì đây không phải những từ cótính khái quát hoá các sự vật đang tồn tại dới hình thức các khái niệm mà lànhững tổ hợp ngữ nghĩa bao quát các sự vật có nghĩa tơng tự nhau về đặc điểmbên ngoài, về chức năng mà trẻ cảm thấy trong quá trình tiếp thu và biểu hiện
Theo quan điểm của L.X.Vgôtxki: Về mặt tâm lý, hiện tợng trên ứngvới giai đoạn trẻ nhận thức sự vật theo những mối liên hệ chủ quan mà các emhiểu biết, biểu tợng tiếp thu riêng gợi lên cho trẻ Sự việc đợc ghi chép chungthành một loại và gộp lại với một ý nghĩa chung không phải là do các đặc trngvốn có mà là do tính chất họ hàng quen thuộc giữa các sự vật ấy trong ấn tợngcủa trẻ
Hiểu từ là một bộ phận quan trọng trong các khả năng sử dụng ngônngữ Hiểu từ đã giúp trẻ sử dụng ngôn ngữ giao tiếp chủ động, có nội dung rõràng, mạch lạc ở mỗi độ tuổi mẫu giáo Trẻ em hiểu từ ở mức khác nhau đã
ảnh hởng đến việc sử dụng ngôn ngữ của trẻ khác nhau
Theo quan điểm của L.X.Vgôtxki: “Nghĩa của từ không cố định màthay đổi trong quá trình phát triển của trẻ, nó thay đổi cả ngay trong các hìnhthức vận hành khác nhau của ý nghĩa”
Trẻ em 4 - 5 tuổi hiểu từ tốt hơn trẻ 3 - 4 tuổi, đã biết đa những câuchính xác phù hợp với nội dung giao tiếp Tuy nhiên câu của trẻ cha chuẩn, cókhi thiếu, khi thừa từ Trật tự sắp xếp từ trong câu cha đúng đôi khi gây sựlủng củng Nhất là khi trẻ kể lại một điều gì đó cho ngời khác nghe, câu và nộidung diễn đạt của trẻ cha rõ ràng, mạch lạc
Sự hiểu từ cũng phát triển một kiểu ngôn ngữ khác ở trẻ, đó là hiểungôn ngữ giải thích, một kiểu ngôn ngữ đòi hỏi tính chặt chẽ, mạch lạc Trẻ
em đã biết sử dụng ngôn ngữ để trình bày ý kiến của mình theo trình tự nhất
định, nêu bật đợc điểm chủ yếu để ngời nghe dễ đồng tình, dễ hiểu
Nhìn chung, trẻ em khi kết thúc giai đoạn mẫu giáo đã có khả nănghiểu đợc ý nghĩa của những từ thông dụng trong giao tiếp hàng ngày Nhờ đótrẻ có thể nắm đợc phong cách ngôn ngữ sinh hoạt mới thêm màu sắc của
Trang 16phong cách nghệ thuật giúp trẻ có thể sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ mộtcách có ý thức hơn, toàn diện và sâu sắc hơn.
2.3 ý nghĩa của việc hiểu từ trong hoạt động giao tiếp ngôn ngữ đối với trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi.
Trẻ lứa tuổi mẫu giáo (4-5 tuổi) là khoảng thời gian không dài, nhng
đối với sự phát triển ngôn ngữ là rất quan trọng, bởi đây là thời kỳ phát cảmcủa sự phát triển ngôn ngữ Điều đó khiến cho sự phát triển ngôn ngữ ở thời
kỳ này diễn ra với tốc độ nhanh, cờng độ mạnh, nhịp độ đều Sở dĩ có điều đó
là do nhu cầu giao tiếp của trẻ ngày càng phát triển mạnh, phạm vi giao tiếp
đ-ợc mở rộng Do đó đòi hỏi ở trẻ phải nhanh chóng hoàn thiện các phơng tiệngiao tiếp trong đó ngôn ngữ là chủ yếu Trong thực tiễn đời sống xã hội và cánhân, hoạt động giao tiếp lại luôn luôn diễn ra trong những hoàn cảnh cụ thể,xác định Vì thế để phục vụ cho các hoạt động giao tiếp đợc tốt thì cũng đặt rayêu cầu sử dụng linh hoạt vốn từ một cách chính xác, phù hợp với hoàn cảnhgiao tiếp
Nói đến ý nghĩa của việc hiểu từ trong hoạt động giao tiếp ngôn ngữ đốivới trẻ 4 - 5 tuổi nó đợc thể hiện rõ qua hai quá trình: quá trình tạo lập ngônbản và quá trình lĩnh hội ngôn bản
Quá trình tạo lập ngôn bản, ở nhiều trờng hợp dờng nh trẻ phát ngôn tựnhiên (không cố ý) thốt ra những từ cần thiết Có hiện tợng đó là vì những từ
đó trẻ đã hiểu đợc nghĩa, đã quen sử dụng trong giao tiếp sinh hoạt đời thờng.Nhng khi hoạt động giao tiếp đòi hỏi sự chính xác, thận trọng (kể lại chuyện)thì quá trình tạo lập ngôn bản ở trẻ diễn ra một cách khá rõ Nhờ hiểu nghĩa từ
mà trẻ có thể huy động từ, lựa chọn từ sao cho thích hợp với các nhân tố củahoàn cảnh và đạt hiệu quả giao tiếp cao Tuy nhiên, trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi,ngôn ngữ còn mang tính chất hoàn cảnh, tình huống Khi giao tiếp với mọi ng-
ời xung quanh trẻ thờng gắn với tình huống cụ thể đang xảy ra trớc mắt để hỗtrợ cho ngôn ngữ của mình Chỉ có ngời đang giao tiếp với trẻ mới hiểu đợc trẻmuốn nói gì
Trong quá trình lĩnh hội ngôn bản trẻ (ngời nhận) cần phải huy độngnhững ngữ năng cần thiết, vừa phải căn cứ vào hoàn cảnh giao tiếp để hiểu, đểchiếm lĩnh đợc nội dung giao tiếp mà ngời phát ngôn truyền đi (hoặc không có
ý thức truyền đạt nhng lại hàm chứa trong ngôn bản) Muốn lĩnh hội ngôn bảntrẻ phải hiểu đợc từ ở độ tuổi 4 - 5 tuổi, ngôn ngữ đã có tác dụng điều chỉnh
đợc hành động của trẻ Nhờ hiểu từ mà trẻ đã thực hiện đợc lời chỉ dẫn của
Trang 17ng-ời lớn một cách có ý thức Bởi vậy, ngng-ời lớn có thể dùng ngôn ngữ để bồi dỡngtình cảm, đạo đức uốn nắn hành vi đạo đức cho trẻ.
3 Ngôn từ trong tác phẩm văn học và ảnh hởng của nó đến đời sống tinh thần trẻ thơ.
“Văn học là nghệ thuật ngôn từ” Khả năng nghệ thuật của ngôn từ thểhiện ở tính hình tợng của nó Khái niệm tính hình tợng đó chính là khả nănggợi lên những hình tợng nghệ thuật, đa ta thâm nhập vào thế giới của nhữngcảm xúc, ấn tợng, suy tởng mà ngôn ngữ thông thờng ít khi truyền đạt đợc
Tính hình tợng của ngôn từ đợc thể hiện rất nhiều mặt Thông thờng nó
đợc nhận ra trớc hết ở các loại từ “hình tợng” nh các từ tợng thanh, tợng hình,
từ mô tả cảm giác, trạng thái nh vi vu, xào xạc, chênh vênh, lởm chởm … Tiếp
theo tính hình tợng của ngôn từ thể hiện ở các phơng thức chuyển nghĩa của từ
nh ví von, ẩn dụ theo kiểu “Thuyền về có nhớ bến chăng Bến thì một dạ
khăng khăng đợi thuyền”… Nhng thông thờng hơn, ta bắt gặp những câukhông có từ hình tợng hay từ “chuyển nghĩa” mà chỉ giản đơn là những từ gợi
ra sự vật hay đặc điểm sự vật trong những tơng quan, quan hệ nhất định và
nhờ thế mà tạo nên tính hình tợng Chẳng hạn “Sen tàn, cúc lại nở hoa Sầu
dài ngày ngắn đông đà sang xuân ”
Một bình diện khác trong khả năng nghệ thuật của ngôn từ thể hiện ởchỗ bất cứ lời nói, lời viết nào có thể xem nh một chi tiết của đời sống, bộc lộnhững bản chất sâu kín khác với nội dung trực tiếp của lời nói
Trong đời sống, ngôn từ nào cũng là phát ngôn của một chủ thể nhất
định không có một ngôn từ “vô chủ”, không là của ai cả ở đây ngôn từ cókhả năng thể hiện nhiều mặt của một hình tợng chủ thể lời nói: giọng điệu, t t-ởng, tình cảm, văn hoá, địa vị xã hội… Từ ngôn từ ta có thể nhận ra hình tợngnhân vật
Ngôn từ nghệ thuật đó là ngôn từ của tác phẩm văn học, của thế giớinghệ thuật, kết quả sáng tạo của nhà văn Đó là ngôn từ giàu tính hình tợngnhất và giàu sức biểu hiện nhất, đợc tổ chức một cách đặc biệt để phản ánh đờisống, thể hiện t tởng, tình cảm và tác động thẩm mỹ tới ngời đọc
Văn học là một loại hình nghệ thuật mà trẻ đợc tiếp xúc từ rất sớm.Ngay từ thuở còn nằm trong nôi trẻ đã đợc làm quen với các giai điệu nhẹnhàng, tha thiết của lời hát ru, lớn thêm chút nữa trẻ thích đợc nghe nhiều lớn
kể chuyện Quá trình trẻ làm quen với tác phẩm văn học, với những hình tợngvăn học mà trẻ rất yêu thích khiến trẻ dễ dàng tiếp thu tác phẩm, hiểu đợc một
Trang 18phần nào đó cuộc sống tự nhiên, xã hội xung quanh mình Trẻ biết đợc những
điều hay lẽ phải, biết cái xấu, cái đẹp Mặt khác, tác phẩm văn học còn làcông trình nghệ thuật bằng ngôn từ, nơi hội từ vẻ đẹp ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ.Vìvậy cho trẻ làm quen tác phẩm văn học là bồi dắp tâm hôn cho trẻ, đồng thờigiúp trẻ làm giàu vốn ngôn ngữ, giúp trẻ nói đúng, nói hay…
4 Các biện pháp dùng lời nhằm giúp trẻ hiểu từ.
4.1 ý nghĩa của việc sử dụng các biện pháp dùng lời nhằm giúp trẻ hiểu từ.
Phát triển vốn từ cho trẻ là nhiệm vụ quan trọng trong nội dung pháttriển ngôn ngữ Mục đích của chơng trình là giúp trẻ làm giàu vốn từ, hiểunghĩa từ và sử dụng vốn từ một cách có hiệu quả trong giao tiếp
Việc tích luỹ và sử dụng vốn từ tiếng mẹ đẻ có thể thực hiện bằng nhiềucon đờng Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra một cách có hệ thống các nhóm ph-
ơng pháp phát triển vốn từ phù hợp với đặc điểm tiếp nhận của trẻ lứa tuổimầm non: trực quan, dùng lời, thực hành - trò chơi Và do đặc thù nhận thức ở
độ tuổi, ở trẻ kinh nghiệm và vốn sống còn ít ỏi Nên tất cả tựu trung ý kiến:Nhấn mạnh nhóm phơng pháp trực quan và nhóm phơng pháp thực hành tròchơi và xem đây là những phơng pháp dạy học chủ đạo Tuy vậy, thực tếchúng ta không thể phủ nhận tầm quan trọng của việc dùng lời để cung cấpvốn từ, đặc biệt là giúp trẻ hiểu nghĩa từ - một công đoạn khó khăn và phứctạp
Về mặt ngôn ngữ, do các quan hệ xã hội ngày đợc mở rộng hơn Nêntrẻ đã tích luỹ đợc vốn từ phong phú biểu thị tên gọi của các sự vật, hiện tợng,
đặc điểm, tính chất, trạng thái, hành động của các sự vật, hiện tợng gần gũivới trẻ Trẻ có thể hiểu đợc một số từ khái quát Vì vậy không nhất thiết phảiquá chú trọng sử dụng phơng pháp trực quan hoặc thực hành trò chơi phối hợpvới phơng pháp dùng lời nhằm giúp trẻ hiểu từ Do đó đối với trẻ ở độ tuổi nàycần nhấn mạnh hơn việc sử dụng phơng pháp dùng lời để nang cao mức độhiểu từ
4.2 Các biện pháp dùng lời để giúp trẻ hiểu từ trong quá trình giáo dục trẻ 4-5 tuổi.
- Khái niệm biện pháp dùng lời : là cách thức sử dụng lời nói để gỉảng giải giúp trẻ nắm cách làm, cách giải quyết những vấn đề còn gặp nhiều khó
khăn trong thực tế về việc hiểu từ của trẻ Từ đó nhằm mục đích nâng cao mức
độ hiểu từ góp phần thiết thực vào nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ cho trẻ
Trang 19Để nâng cao khả năng hiểu từ cho trẻ, bên cạnh nhóm phơng pháp, biệnpháp trực quan, phơng pháp thực hành thì phơng pháp dùng lời cũng chiếmmột vị trí hết sức quan trọng.
ở trờng mẫu giáo, nhóm phơng pháp dùng lời này gồm các biện pháptrao đổi (hay trò chuyện), kể và đọc.ở tuổi mẫu giáo các biện pháp dùng lời h-ớng cho tri giác trực tiếp của trẻ sáng tỏ hơn, tập trung hơn Các biện phápdùng lời cho phép phát triển ở trẻ kỹ năng hiểu đợc tài liệu học tập trình bàydới dạng lời lẽ Lúc đầu trẻ 3-4 tuổi và 4-5 tuổi chỉ nắm đợc những lời giảithích của giáo viên có kèm theo các đối tợng tơng ứng Từng bớc một làm chokhối lợng tài liệu trực quan giảm bớt và tiến tới chỗ trẻ có thể nắm đợc nộidung phức tạp chỉ dựa trên cơ sở các biện pháp dùng lời Điều đó là b ớc pháttriển cao của trẻ em ở cuối tuổi mẫu giáo
-Các biện pháp dùng lời giúp trẻ hiểu từ đợc sử dụng trong quá trình giáo dục trẻ 4-5 tuổi.
- Kể: là hình thức tiếp nhận tri thức có hiệu quả và dễ hiểu đối với trẻmẫu giáo Trong lời kể, tri thức đợc truyền thụ cho trẻ dới hình thức hình ảnhhay một câu chuyện hấp dẫn, sinh động Bằng lời kể, có thể truyền thụ cho trẻnhững tri thức khác nhau, những tri thức cụ thể, riêng biệt phản ánh các hiện t-ợng đơn nhất cũng nh các tri thức chung, phản ánh những mối liên hệ và quan
hệ của hiện thực Lời kể hay chuyện kể phải có bố cục rõ ràng, súc tích, mangtính nghệ thuật cao, phải có cấu trúc lôgic rành mạch và chứa đựng thông tinmới Nh vậy lời kể không những tác động đến sự phát triển trí tuệ mà còn tác
động giáo dục sâu sắc
- Trao đổi (hay trò chuyện) là một hình thức khác của biện pháp dùnglời nói Trong biện pháp trò chuyện (trao đổi) giáo viên giao tiếp với trẻ bằngnhững câu hỏi đã đợc lựa chọn nhằm kích thích hoạt động nhận thức theo h-ớng cần thiết Giáo viên giúp trẻ phát hiện tri thức mới, uốn nắn và phát triểnnhững câu trả lời trẻ, tập cho trẻ suy luận đơn giản, giúp trẻ tự đề ra câu hỏi và
tự mình trả lời Nh vậy sẽ phát triển t duy và hứng thú nhận thức cho trẻ
Các câu hỏi phải đợc chuẩn bị sao cho dễ hiểu đối với trẻ Câu hỏi đặt
ra cho trẻ đòi hỏi chúng phải suy luận, câu hỏi chỉ yêu cầu trẻ trả lời bằng một
từ hay một câu không giúp trẻ suy nghĩ mà còn giúp trẻ đoán ra câu trả lời
- Đọc- đọc nghệ thuật có vị trí quan trọng trong việc dạy trẻ Cô giáo
đọc truyện, ngâm thơ, để giới thiệu tác phẩm nghệ thuật, truyền đạt những trithức mới, gây ra trạng thái cảm xúc cần thiết: hân hoan, vui sớng, tự hào, xúc
Trang 20cảm… Bởi vậy giáo viên phải nắm vững nghệ thuật đọc truyện để nâng caohiệu quả biện pháp này.
5 Các biện pháp dùng lời nhằm giúp trẻ hiểu từ thông qua quá trình làm quen tác phẩm văn học.
5.1 Biện pháp đọc, kể diễn cảm.
Trẻ mẫu giáo cha biết đọc, trẻ tiếp nhận tác phẩm văn học qua trunggian là giáo viên (ở trờng) và ngời lớn (ở nhà) Tác phẩm văn học lại là mộtvăn bản nghệ thuật ngôn từ - một công trình nghệ thuật nên việc cảm thụ tácphẩm đối với các em gặp nhiều khó khăn
Vì vậy khi trình bày một tác phẩm nghệ thuật, giáo viên cần truyền đạtlại những suy nghĩ và tình cảm của tác giả Nhiệm vụ của ngời đọc, ngời kể làgiúp ngời nghe nhìn thấy cái đã nghe, làm cho những bức tranh và hình ảnh t-
ơng ứng nổi lên chân thực, gợi lên những tình cảm và xúc cảm nhất định Giáoviên phải trình bày một cách nghệ thuật trong bức tranh âm thanh đó khi miêutả sự kiện, hành vi, cảm xúc của nhân vật, tránh trình bày theo lối tự nhiên chủnghĩa
Trong quá trình nghiên cứu tác phẩm phải chỉ ra những con đờng truyền
đạt nghệ thuật, phơng tiện chủ yếu là dùng âm thanh âm thanh truyền cảmtác phẩm là giọng đọc, giọng kể Tất cả những ngữ điệu muôn vẻ và sắc tháitrầm bổng, phong phú của giọng đọc, giọng kể, nhịp điệu phù hợp với nộidung sẽ góp phần vào việc tạo ra bức tranh có sức thuyết phục về tác phẩm đó.Nhờ vậy mà trẻ có thể cảm thụ, hiểu đợc phần nào nội dung tác phẩm
5.2 Biện pháp đàm thoại, trích dẫn.
Đàm thoại là thông qua các câu hỏi (là sự trao đổi giữa cô và trẻ) côhỏi, trẻ trả lời để tăng cờng t duy cho trẻ, hớng trẻ vào việc tri giác các vậtthật, các hiện tợng ở môi trờng xung quanh, các vấn đề nội dung, các giá trịnghệ thuật… trong tác phẩm văn học, tái hiện lại cái đã tri giác, hệ thống hoácác kiến thức đã biết và dẫn đến các kết luận một cách tổng quát
Trong quá trình sử dụng câu hỏi phải mang tính gợi mở nhằm mục đíchphát huy tính sáng tạo cho trẻ và khi thực hiện phơng pháp này cần phải giảithích những khúc mắc cho trẻ, giải thích những từ khó Đòi hỏi giáo viên phải
có vốn hiểu biết nhất định để giải thích cho các em một cách đơn giản, dễ hiểunhất, không đợc làm phức tạp trừu tợng hoá vấn đề lên
Mặt khác, để trẻ hiểu hơn về ý nghĩa từ khó, hiểu đợc cách dùng từ đó
nh thế nào nhờ mối quan hệ với các từ bên cạnh Sau khi cô đàm thoại, giảnggiải về từ đó cô có thể củng cố lại bằng cách trích dẫn từ đó trong một đoạn
Trang 21thơ, truyện mà chứa từ cần giải thích Ví dụ: Để giúp trẻ hiểu từ tráng sĩ“ ” (làmột ngời cao to, khoẻ mạnh và luôn làm việc tốt giúp đỡ mọi ngời) (Trong
“Chuyện ông Gióng”) Sau khi cô giúp trẻ hiểu từ cô có thể trích dẫn: “Sứ giả
đi rồi, Gióng bảo mẹ thổi cơm cho ăn… và trở thành một tráng sĩ to lớn khoẻmạnh”
5.3 Đóng kịch (đối với truyện), đọc diễn cảm (đối với thơ).
Đóng kịch là một hình thức trẻ kể lại chuyện, qua đó phát triển ngônngữ, rèn luyện khả năng nói, kể diễn cảm, rèn luyện khả năng ghi nhớ có chủ
định ở trẻ Thông qua đóng kịch, trẻ kể lại đợc nội dung truyện và làm sốnglại tâm trạng hành động, ngôn ngữ của các nhân vật trong truyện Ngoài ra trẻcòn thể hiện tình cảm và sự đánh giá của mình đối với các nhân vật Để đảmnhiệm tốt vai mình đóng, trẻ phải nắm vững cốt truyện theo vai Cô giáo cầngiúp trẻ hiểu đúng nội dung câu chuyện, nhớ tên nhân vật, nhớ hành động củanhân vật, nhận ra tính cách, hình dung ra hình dáng,điệu bộ, nét mặt, hành
động của từng nhân vật Giúp trẻ biết nghe bạn đóng các vai khác, trả lời vàlàm động tác đáp lại đúng lúc, kịp thời… Đây cũng là biện pháp giúp trẻ hiểu
từ khó đợc sâu sắc hơn và biết cách dùng từ đó vào đúng những hoàn cảnh củacâu chuyện
Theo quan điểm của giáo dục học, việc đọc diễn cảm thơ là việc làmgiàu hình ảnh Đây là một trong những hoạt động bồi dỡng năng lực nghệthuật cho trẻ Qua việc đọc diễn cảm thơ giúp trẻ cảm thụ sâu sắc tác phẩmvăn học và để có điều kiện giúp trẻ trải nghiệm với nghệ thuật, tích lũy vốn từnghệ thuật cho trẻ, trẻ biết tô điểm cho giọng đọc của mình, hình thành cho trẻlòng tự tin đứng trớc đám đông để thể hiện tác phẩm văn học
Hơn nữa trẻ có thể trình bày tác phẩm thành công thì trẻ phải hiểu đ ợc
ý nghĩa từ mới, từ khó, từ mang sắc thái tu từ để có thể truyền đ ợc t tởng tìnhcảm mà tác giả muốn gửi tới ngời nghe
6 Yêu cầu của việc sử dụng biện pháp dùng lời giúp trẻ hiểu từ thông qua quá trình cho trẻ làm quen tác phẩm văn học
.
- Giáo viên đọc trớc tác phẩm, lựa chọn một số từ mới, từ khó mà trẻcha có khả năng hiểu đợc, và tìm những biện pháp dùng lời phù hợp để giúptrẻ hiểu ý nghĩa từ đó
- Giáo viên đọc, kể tác phẩm văn học cho trẻ nghe, để trẻ nắm đợc sơqua về nội dung tác phẩm
- Để trẻ hiểu kỹ hơn nội dung tác phẩm ở phần đàm thoại, trích dẫngiáo viên đi sâu vào trao đổi với trẻ về nội dung tác phẩm bằng hệ thống câu
Trang 22hỏi có trình tự phù hợp với nhận thức của trẻ Bên cạnh đó giáo viên giúp trẻ
hiểu từ mới, từ khó và từ mang sắc thái tu từ bằng các biện pháp dùng lời để
giúp trẻ hiểu và nhớ lâu tác phẩm Để sử dụng các biện pháp dùng lời có hiệuquả giáo viên cần chủ động biết đợc: với một từ nhất định nào, cần sử dụngphơng pháp cụ thể gì, hay sử dụng phối hợp nhiều phơng pháp với nhau đểgiúp trẻ nắm đợc nghĩa của từ trong hệ thống và nắm đợc nghĩa của từ tronghoạt động giao tiếp
- Khi trẻ đã nắm đợc nghĩa của từ khó, trẻ nắm đợc tác phẩm Giáo viêntiến hành cho trẻ đóng kịch đối với tiết truyện, đọc diễn cảm đối với tiết thơ đểgiúp trẻ củng cố, tích cực hoá từ đó về mặt âm thanh, ý nghĩa trên cơ sở trình bày tác phẩm văn học
Kết luận chơng I
Từ vựng là thành tố cơ bản, thành tố trung tâm của ngôn ngữ Hiểunghĩa của từ đối với trẻ mẫu giáo là điều kiện quan trọng giúp trẻ chủ động sửdụng từ ngữ nh một phơng tiện để nhận thức, để giao tiếp với mọi ngời trongquan hệ xã hội Để giúp trẻ hiểu nghĩa của từ, các nhà giáo dục đã sử dụngnhiều phơng pháp, biện pháp khác nhau: phơng pháp dùng lời, phơng pháptrực quan, phơng pháp thực hành Tuy nhiên đối với trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi do
t duy, ngôn ngữ của trẻ đã phát triển hơn nên ở độ tuổi này cần nhấn mạnhhơn việc sử dụng phơng pháp dùng lời để nâng cao mức độ hiểu từ cho trẻ.Trong đó việc sử dụng biện pháp dùng lời nhằm giúp trẻ hiểu nghĩa của từthông qua quá trình cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học là một cách làmkhả quan Việc áp dụng các biện pháp dùng lời thông qua quá trình cho trẻlàm quen với tác phẩm văn học nh: kể diễn cảm, đàm thoại, trích dẫn, đóngkịch giúp trẻ hiểu, nhớ đợc nội dung tác phẩm, hoặc các từ khó, từ mới trongnhững câu truyện, bài thơ một cách tự nhiên, phù hợp với đặc điểm tâm lýnhận thức của trẻ
Việc nhận thức và thực trạng sử dụng các biện pháp dùng lời nhằmnâng cao khả năng hiểu nghĩa từ qua quá trình cho trẻ làm quen với tác phẩmvăn học của giáo viên trên thực tế hiện nay nh thế nào là một vấn đề rất cầnquan tâm Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi sẽ đi vào nghiên cứu
Trang 23nhận thức và thực trạng của việc sử dụng các biện pháp dùng lời nhằm giúp trẻhiểu nghĩa từ qua quá trình cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học để từ đó cónhững giải pháp thích hợp.
Trang 24Chơng II Thực trạng sử dụng các biện pháp dùng lời nhằm giúp
trẻ 4 - 5 tuổi hiểu từ qua quá trình làm quen tác phẩm văn học
1 Mục đích nghiên cứu thực trạng
- Tìm hiểu nhận thức của giáo viên mầm non về vai trò của việc sử dụngcác biện pháp dùng lời nhằm giúp trẻ 4-5 tuổi hiểu từ qua quá trình làm quentác phẩm văn học
- Tìm hiểu thực trạng sử dụng các biện pháp dùng lời nhằm giúp trẻ 4-5tuổi hiểu từ qua tiết Thơ
- Tìm hiểu thực trạng sử dụng các biện pháp dùng lời nhằm giúp trẻ 4-5tuổi hiểu từ qua tiết Truyện
2 Nội dung, cách thức nghiên cứu thực trạng.
Để nắm đợc nhận thức của giáo viên về vai trò của việc hiểu từ trong quátrình lĩnh hội và phát triển vốn từ và ý nghĩa của việc giúp trẻ 4-5 tuổi hiểu từ quaquá trình cho trẻ làm quen tác phẩm văn học; cũng nh nắm đợc thực trạng sửdụng các biện pháp đó để giúp trẻ hiểu từ qua tiết Truyện, tiết Thơ Chúng tôi đãtiến hành điều tra 40 giáo viên phụ trách lớp 4-5 tuổi của các trờng mầm non trên
địa bàn thành phố Vinh qua phiếu thăm dò ý kiến Và chúng tôi đã rút ra đợcmột số kết quả sau
3 Phân tích kết quả nghiên cứu thực trạng
3.1 Nhận thức của giáo viên mầm non về vai trò của việc hiểu từ trong quá trình lĩnh hội và phát triển vốn từ, tầm quan trọng cũng nh ý nghĩa của việc hiểu từ qua quá trình cho trẻ làm quen tác phẩm văn học
Các giáo viên cho rằng việc hiểu từ có vai trò quan trọng trong việc giúp trẻnghe, hiểu, tích lũy và sử dụng vốn từ một cách chính xác hiệu quả Bên cạnh đóviệc giúp trẻ 4-5 tuổi hiểu từ qua quá trình cho trẻ làm quen tác phẩm văn học làrất cần thiết bởi vì nó góp phần làm giàu, củng cố và tạo điều kiện để trẻ có thể sửdụng vốn từ tiếng mẹ đẻ
Để đánh giá đúng vai trò của việc hiểu từ qua quá trình cho trẻ làmquen với tác phẩm văn học chúng tôi đã điều tra và có kết quả nh sau:
Bảng 1 Vai trò của việc hiểu từ trong quá trình lĩnh hội và phát triển vốn từ đối với trẻ 4-5 tuổi.
- Giúp trẻ nghe, hiểu lời nói của ngời khác dễ dàng 0 0(%)
Trang 25- Giúp trẻ tích lũy vốn từ hiệu quả 0 0(%)
- Giúp trẻ nghe, hiểu và tích lũy vốn từ chính xác, hiệu quả 0 0(%)
- Giúp trẻ nghe, hiểu, tích lũy và sử dụng vốn từ chính xác,
hiệu quả
40 100(%)
Qua số liệu thu đợc ta thấy 100% giáo viên đều nhận thức đúng vai tròcủa việc hiểu từ Đó là giúp trẻ nghe, hiểu, tích lũy và sử dụng vốn từ mộtcách chính xác hiệu quả Từ việc nhận thức đợc vai trò của việc hiểu từ sẽ gópphần giúp giáo viên có ý thức trong việc giúp trẻ hiểu từ thông qua hoạt độnggiáo dục và có sự định hớng đúng đắn trong việc lựa chọn các biện pháp đểthực hiện nhiệm vụ củng cố vốn từ nói riêng và phát triển ngôn ngữ cho trẻ nóichung
Bảng 2 Tầm quan trọng của việc giúp trẻ hiểu từ qua quá trình Làm quen với tác phẩm văn học.
Nhìn vào bảng 2 ta thấy 87,5% giáo viên đã nhận thức đợc tầm quantrọng của việc hiểu từ qua việc cho trẻ làm quen tác phẩm văn học là rất cầnthiết Bên cạnh đó có 12,5% giáo viên cho rằng việc giúp trẻ hiểu từ chỉ ở mức
độ cần thiết Với các quan niệm trên có thể thấy phần lớn giáo viên đã nhậnthức đúng tầm quan trọng của việc hiểu từ thông qua hình thức mà trẻ rất yêuthích Đó là việc cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học
Nhng trên thực tế một số tiết dự giờ chúng tôi thấy có khá nhiều giáoviên còn cha quan tâm đến việc giải thích nghĩa những từ mới, từ khó cho trẻ.Nếu có giải thích thì còn dài dòng, khó hiểu đối với trẻ hoặc giải thích một
Trang 26cách qua loa, hời hợt, có khi thiếu chính xác Mặt khác cách giải thích cha đadạng, linh hoạt, phù hợp với nhận thức mong muốn của trẻ.
Bảng 3 tác dụng của việc giúp trẻ hiểu từ qua quá trình cho trẻ làm quen tác phẩm văn học.
tác dụng của việc giúp trẻ hiểu từ qua việc cho trẻ
Tỷ lệ (%)
- Giúp trẻ hiểu nội dung câu văn, câu thơ xuất hiện từ ngữ đó 3 7.5%
- Giúp trẻ hiểu nội dung tác phẩm văn học đó 2 5%
- Giúp trẻ hiểu tính đa nghĩa và khả năng vận dụng từ trong
đó ,7.5% cho ý nghĩa là giúp trẻ hiểu nội dung câu văn câu ,thơ xuất hiện từngữ đó, 2.5% cho rằng ý nghĩa đó là giúp trẻ hiểu tính đa nghĩa và khả năngvận dụng từ trong ngữ cảnh ,5% ý kiến giáo viên lại cho rằng đó là việc làmgiúp trẻ hiểu nội dung tác phẩm văn học ,10% giáo viên lựa chọn ý nghĩa củaviệc hiểu từ qua quá trình làm quen tác phẩm văn học đó là làm giàu ,củng cố
và tích cực hoá vốn từ 62.5% giáo viêm lựa chọn tất cả các phơng ántrên Nh vậy ,mặc dù có tới 62.5% giáo viên lựa chọn đúng ý nghĩa của việcgiúp trẻ hiểu từ qua quá trình làm quen tác phẩm văn học Nhng bên cạnh đóvẫn còn nhiều giáo viên chỉ nhìn thấy đợc ý nghĩa ở trên một khía cạnh nhấ
định mà không thấy đợc đầy đủ mối quan hệ giữa việc làm quen tác phẩm vănhọc và nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ
Qua điều tra nhận thức của giáo viên về vai trò của việc giúp trẻ hiểu từtrong quá trình lĩnh hội và phát triển vốn từ, cũng nh thông qua hình thức làmquen với tác phẩm văn học thì chúng tôi thấy rằng phần lớn giáo viên đã nhậnthức đúng về vai trò, tầm quan trọng nhng khi đợc hỏi về ý nghĩa của việc hiểu
từ thông qua tác phẩm văn học thì vẫn còn nhiều giáo viên cha nắm đợc mục
đích sâu xa của việc phát triển ngôn ngữ ngoài việc cho trẻ làm quen tác phẩmvăn học
3.2 Thực trạng của việc sử dụng các biện pháp dùng lời nhằm giúp trẻ hiểu từ qua tiết thơ.
Bảng 4:
Trang 27số (%)
Để giúp trẻ hiểu từ qua hoạt động làm quen với Thơ, chúng tôi đã đ a
ra các biện pháp dùng lời truyền thống nh đọc diễn cảm và đàm thoại, tríchdẫn Khi tiến hành điều tra thực trạng của việc sử dụng các biện pháp trênthì có 15% giáo viên cho rằng biện pháp giúp trẻ hiểu từ qua làm quen với
thơ là đọc diễn cảm Với việc đọc diễn cảm, cô giáo sẽ giúp trẻ nắm đợc nội
dung tác phẩm, nắm đợc ngôn từ trong tác phẩm Nhng trên thực tế, khi đợcnghe giáo viên đọc diễn cảm dù hay đến mấy thì trẻ cũng chỉ nắm đợc tácphẩm ở bên ngoài Do vậy muốn hiểu sâu sắc tác phẩm, cảm thụ đ ợc tácphẩm và hiểu đợc từ mới, từ khó thì ngòai việc đọc diễn cảm giáo viên cầntiến hành đàm thoại, trích dẫn.Sau đó tiến hành cho trẻ đọc diễn cảm Và có
34 giáo viên (85%) lựa chọn các biện pháp dùng lời để giúp trẻ hiểu từ quatiết thơ là biện pháp đọc diễn cảm và biện pháp đàm thoại, trích dẫn
Bên cạnh đó khi đợc hỏi về biện pháp nào là biện pháp hữu hiệu nhất thì
có 80% ý kiến cho rằng đó là biện pháp đọc diễn cảm vì chính giọng đọc diễncảm của giáo viên sẽ tạo nên sức hấp dẫn lôi cuốn trẻ đi vào thế giới kỳ diệucủa bài thơ; giúp trẻ nhìn thấy đợc các hình ảnh, các chi tiết trong tác phẩm vàcảm nhận đợc vẻ đẹp của tiếng mẹ đẻ bên cạnh đó khi trẻ đọc diễn cảm ,đó làcơ hội để trẻ vận dụng từ trong ngữ cảnh Ngoài ra có 20% giáo viên lại thừanhận biện pháp đàm thoại, trích dẫn nội dung bài thơ là biện pháp hữu hiệunhất bởi vì với một hệ thống câu hỏi mà cô giáo đa ra xoay quanh nội dung tácphẩm sẽ giúp trẻ nắm đợc nội dung bài thơ, nắm đợc t tởng tình cảm mà tácgiả muốn gửi gắm qua tác phẩm và đây cũng là lúc mà giáo viên có thể giảithích nghĩa những từ mới, từ khó
Từ thực trạng trên chúng tôi thấy rằng vẫn còn số ít giáo viên cha xác
định đợc đầy đủ các biện pháp dùng lời cũng nh cha nắm đợc tác dụng củatừng biện pháp để giúp trẻ hiểu từ thông qua tiết Thơ Do vậy dẫn tới việc chakhai thác hết hiệu quả của việc kết hợp các biện pháp
3.3 Thực trạng sử dụng các biện pháp dùng lời nhằm giúp trẻ 4- 5 tuổi hiểu từ qua tiết Truyện.
Bảng 5
Các biện pháp dùng lời Tần số Tỷ lệ (%)
Trang 28sử dụng biện pháp này giáo viên có thể kết hợp với việc giảng giải từ khó Và
để tích cực hóa vốn từ cho trẻ thì giáo viên sử dụng biện pháp đóng kịch, đatrẻ vào hoạt động văn học nghệ thuật Nh vậy trẻ đợc đóng vai các nhân vật,bắt chớc hành động và ngôn ngữ nhân vật Do vậy trẻ sẽ có cơ hội sử dụng từtrong ngữ cảnh.Điều đó giúp trẻ hiểu từ tốt hơn
Khi đợc hỏi về biện pháp dùng lời nào ở trên là hữu hiệu nhất có 75%giáo viên cho rằng đó là kể diễn cảm, 17,5% cho là đàm thoại, trích dẫn và7,5% giáo viên cho rằng biện pháp hữu hiệu nhất là đóng kịch Nh vậy qua sốliệu thu đợc cho thấy đợc thực trạng của việc sử dụng các biện pháp dùng lời
Đó là vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về các biện pháp dùng lời đợc sử dụng
để giúp trẻ hiểu từ trong làm quen với tác phẩm văn học và biện pháp nào làhữu hiệu nhất để giúp trẻ hiểu từ qua tiết truyện Điều đó chứng tỏ rằng việcgiúp trẻ hiểu từ còn cha đợc chú trọng nên vẫn còn một số giáo viên cha pháthuy hết đợc tác dụng của các biện pháp cùng với việc sử dụng các biện pháptruyền thống họ vẫn cha có sự tìm tòi, nghiên cứu các biện pháp mới cho phùhợp với trẻ để giúp trẻ hiểu từ thông qua hoạt động làm quen với thơ, truyện
3.4 Những kiến nghị của giáo viên về việc sử dụng các biện pháp dùng lời nhằm giúp trẻ hiểu từ qua quá trình làm quen tác phẩm văn học.
Để hiểu rõ hơn ý kiến, nguyện vọng của giáo viên mầm non mongmuốn sử dụng có hiệu quả các biện pháp dùng lời giúp trẻ hiểu từ qua quátrình làm quen với tác phẩm văn học Chúng tôi đã điều tra, phỏng vấn và đãtổng hợp những kiến nghị sau:
- Cần có nhiều sách, tài liệu nghiên cứu về các biện pháp dùng lời nhằmgiúp trẻ hiểu từ thông qua các hoạt động giáo dục nói chung và qua việc chotrẻ làm quen với tác phẩm văn học nói riêng
Trang 29- Ngoài việc sử dụng các biện pháp dùng lời có thể kết hợp với biệnpháp trực quan, biện pháp thực hành để giúp trẻ hiểu từ.
- Cần có sự kết hợp các biện pháp trên và bổ sung ngữ điệu, cử chỉ, nétmặt để giúp trẻ hiểu tác phẩm, hiểu từ
- Khi sáng tác truyện, thơ cho trẻ những từ ngữ trong tác phẩm cần gầngũi với trẻ, lời truyện cần hóm hỉnh và có tính chất đối thoại nhiều hơn
Qua điều tra thực trạng việc sử dụng các biện pháp và đề xuất của giáoviên chúng tôi đã tiến hành đi sâu vào một số biện pháp dùng lời truyền thống,bên cạnh đó chúng tôi có đề xuất thêm một số biện pháp dùng lời mới Hyvọng sẽ giúp giáo viên có thêm tài liệu tham khảo trong việc giúp trẻ hiểu từqua quá trình làm quen tác phẩm văn học
4 Đề xuất một số biện pháp dùng lời nhằm giúp trẻ 4-5 tuổi hiểu từ thông qua quá trình làm quen tác phẩm văn học.
Biện pháp 1: Đọc, kể diễn cảm.
Nói văn học là nghệ thuật ngôn từ, thực chất là nói văn học là nghệthuật sử dụng câu văn, lời văn, bài văn (nói, viết) và mục đích nghệ thuật Bởivì phải là câu, sự kết hợp của từ ngữ tạo thành đơn vị lời nói và văn bản, mộtcấu trúc trên câu mới có khả năng phản ánh các yếu tố hiện thực, các mốiquan hệ tơng quan lẫn nhau Do đó để nắm đợc tác phẩm giáo viên cần tiếnhành đọc, kể toàn bộ tác phẩm cho trẻ nghe Việc nắm vững đợc những thủthuật đọc, kể diễn cảm sẽ giúp giáo viên sử dụng đợc toàn bộ kho tàng sắc tháicủa giọng mình để truyền đạt tác phẩm đến cho trẻ một cách có hiệu quả caonhất Do vậy giáo viên cần:
- Nắm vững âm điệu cơ bản của tác phẩm văn học Tùy thuộc vào từngthể loại mà âm điệu cơ bản khi trình bày lúc trầm tĩnh, khi hào hùng hoặc vuitơi, buồn rầu
Ví dụ: Âm điệu vui tơi, náo nhiệt đợc thể hiện trong bài thơ "Kể cho bénghe" của Trần Đăng Khoa
"Hay nói ầm ĩ
Là con vịt bầuHay hỏi đâu đâu
Là con chó vệnHay chăng dây điện
Là chị nhện con…"
- Nắm vững ngữ điệu: Ngữ điệu đóng vai trò quan trọng trong việc trìnhbày tác phẩm và nhờ có ngữ điệu mà ngời đọc có thể tác động mạnh đến cảm