1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số biện pháp dạy bài tập phân loại, quản lý vốn từ theo quan điểm giao tiếp cho học sinh lớp 4,5 luận văn tốt nghiệp đại học

126 1K 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Biện Pháp Dạy “Bài Tập Phân Loại, Quản Lý Vốn Từ” Theo Quan Điểm Giao Tiếp Cho Học Sinh Lớp 4,5
Tác giả Vũ Thị Thu Hằng
Người hướng dẫn PGS. TS. Chu Thị Thủy An
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Giáo Dục Tiểu Học
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 1,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu của chương trình Tiếng Việt ởtiểu học là hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việtnghe, nói, đọc, viết để học tập và giao tiếp trong môi trường hoạt độn

Trang 1

Trờng đại học vinh KHOA GIáO DụC

khóa luận tốt nghiệp đại học

chuyên ngành: giáo dục tiểu học

Vinh - 2011

Trang 2

Trờng đại học vinh KHOA GIáO DụC

===  ===

Một số biện pháp dạy “ bài tập phân loại, quản lý vốn từ ” theo quan điểm giao tiếp

cho học sinh lớp 4,5

khóa luận tốt nghiệp đại học

chuyên ngành: giáo dục tiểu học

GV hớng dẫn: PGS TS Chu Thị Thủy An

SV thực hiện: Vũ Thị Thu Hằng

Lớp: 48A1 - GDTH

Vinh - 2011

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Với ham muốn tìm tòi, học hỏi, nghiên cứu nhằm nâng cao hiểu biết vềviệc dạy học LTVC ở tiểu học mà cụ thể là vấn đề dạy bài tập phân loại, quản

lý vốn từ cho học sinh lớp 4,5 Tôi đã quyết định chọn đề tài Một số biện

pháp dạy “Bài tập phân loại, quản lý vốn từ” theo quan điểm giao tiếp cho học sinh lớp 4,5.

Trong quá trình thực hiện đề tài này, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bảnthân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo trong khoaGiáo dục, sự động viên ủng hộ của gia đình và bạn bè Qua đây, tôi xin bày tỏlòng biết ơn sâu sắc tới tất cả những người đã ủng hộ và giúp đỡ tôi nhiệt tình

trong thời gian vừa qua, đặc biệt là PGS TS Chu Thị Thuỷ An - người đã tận

tình chỉ dẫn , giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài này ngay cả những khi tôi khó khănnhất Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới tập thể các thầy, cô giáokhoa Giáo dục của Trường Đại học Vinh, tập thể các thầy, cô giáo của cáctrường tiể học đã nhiệt tình giúp đỡ và dành cho tôi những góp ý chân thànhnhất cũng như những điều kiện thuận lợi trong quá trình thực hiện đề tài

Đây là công trình nghiên cứu mang tính tập dượt đầu tiên trong đời,thực hiện trong một thời gian ngắn, trình độ bản thân còn nhiều hạn chế nênchắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tôi rất mong nhậnđược những ý kiến nhận xét, bổ sung từ phía các thầy cô giáo và các bạn sinhviên để đề tài được hoàn thiện hơn

Vinh, tháng 5 năm 2011

Sinh viên

Vũ Thị Thu Hằng

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Mục đích nghiên cứu 5

4 Đối tượng và khác thể nghiên cứu 6

5 Giả thuyết khoa học 6

6 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

7 Phương pháp nghiên cứu 6

8 Cấu trúc của khoá luận 7

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 8

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 8

1.1.1 Quan điểm giao tiếp trong dạy học tiếng Việt ở tiểu học 8

1.1.1.1 Hoạt động giao tiếp 8

1.1.1.2 Quan điểm giao tiếp và nội dung dạy học tiếng Việt ở tiểu học 10

1.1.1.3 Quan điểm giao tiếp và phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học 11

1.1.1.4 Quan điểm giao tiếp và hình thức dạy học tiếng Việt ở tiểu học 11

1.1.2 Bài tập phân loại, quản lý vốn từ ở tiểu học 12

1.1.2.1 Mục tiêu, nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu ở tiểu học 12

1.1.2.2 Vị trí, nhiệm vụ của việc dạy học bài tập phân loại quản lý vốn từ ở tiểu học 14

1.1.3 Đặc điểm tâm lý HS lớp 4,5 với việc dạy học bài tập phân loại quản lý vốn từ 16

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 21

Trang 5

1.2.1 Thực trạng dạy học “bài tập phân loại quản lý vốn từ” ở tiểu học 21

Trang 6

1.2.1.1 Phân tích hệ thống bài tập phân loại, quản lý vốn từ

trong chương trình TH mới 21 1.2.1.2 Phân tích thực trạng dạy học bài tập phân loại, quản lý

vốn từ cho HS lớp 4,5 26

1.3 TIỂU KẾT CHƯƠNG I 33

Chương 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY BÀI TẬP PHÂN LOẠI, QUẢN

LÝ VỐN TỪ CHO HỌC SINH LỚP 4, 5 THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP 352.1 CÁC NGUYÊN TẮC DẠY BÀI TẬP PHÂN LOẠI, QUẢN LÝ

VỐN TỪ THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP 352.1.1 Bảo đảm mục tiêu môn học 352.1.2 Đảm bảo mối quan hệ giữa các nhân tố trong hoạt động giao tiếp,

góp phần tích cực hóa hoạt động học tập môn TV của học sinh 352.1.3 Phù hợp thực tiễn dạy học lí thuyết về từ ở tiểu học, phù hợp đặc

điểm tư duy và trình độ ngôn ngữ của HSTH 362.1.4 Đảm bảo tính hấp dẫn 382.2 BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HƯỚNG DẪN HS GIẢI BÀI TẬP PHÂN

LOẠI, QUẢN LÝ VỐN TỪ THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP 382.2.1 Biện pháp hướng dẫn học sinh lớp 4,5 nhận thức đề bài trong quá

trình thực hành làm bài tập về phân loại, quản lý vốn từ theo quanđiểm giao tiếp 39

2.2.1.1 Hướng dẫn học sinh đọc kỹ yêu cầu đề bài của SGK 39 2.2.1.2 Xây dựng hệ thống các câu hỏi giúp HS nhận thức đúng

yêu cầu đề bài 40 2.2.1.3 Cụ thể hoá hình thức thực hiện bài tập trên cơ sở nội

dung yêu cầu đề bài cũ 41

2.2.2 Biện pháp hướng dẫn HS thực hiện nhiệm vụ bài tập yêu cầu 45

2.2.2.1 Biện pháp hướng dẫn HS giải bài tập phân loại, quản lý

vốn từ theo phạm vi sử dụng 45

Trang 7

2.2.2.2 Biện pháp hướng dẫn HS giải bài tập phân loại, quản lý

vốn từ theo tiêu chí nghĩa 48

2.2.2.3 Biện pháp hướng dấn HS giải bài tập phân loại, quản lý vốn từ theo đặc điểm cấu tạo từ 49

2.2.2.4 Biện pháp hướng dấn HS giải bài tập phân loại,quản lý vốn từ dựa vào yếu tố Hán của từ Hán - Việt 49

2.2.3 Biện pháp hướng dẫn HS tự kiểm tra, đánh giá kết quả luyện tập 52

2.2.3.1 Tổ chức hướng dẫn HS kiểm tra, đánh giá theo lớp 52

2.2.3.2 Tổ chức cho HS kiểm tra đánh theo nhóm 52

2.2.3.3 Xây dựng những tiêu chí đánh giá cho từng bài tập để làm thước đo giúp HS tự đánh giá được kết quả về việc phân lọai, quản lý vốn từ của mình 53

2.2.3.4 Xây dựng bài tập kiểm tra chất lượng học sinh về việc luyện tập vấn đề phân loại quản lý vốn từ 55

2.4 CÁC BIỆN PHÁP LỰA CHỌN HÌNH THỨC TỔ CHỨC DẠY HỌC BÀI TẬP PHÂN LOẠI, QUẢN LÝ VỐN TỪ THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP 64

2.4.1 Biện pháp 1: Sử dụng tình huống có vấn đề để dạy bài tập phân loại quản lý vốn từ cho học sinh lớp 4, 5 64

2.4.1.1 Tình huống có vấn đề là như thế nào? 64

2.4.1.2 Cơ sở lựa chọn biện pháp 65

2.4.1.3 Các yếu tố của tình huống có vấn đề 65

2.4.1.4 Cách thực hiện 66

2.4.2 Biện pháp 2: Sử dụng phương pháp thảo luận nhóm trong dạy bài tập phân loại, quản lý vốn từ cho HS lớp 4,5 70

2.4.2.1 Phương pháp làm việc theo nhóm 70

2.4.2.2 Ý nghĩa của việc sử dụng phương pháp làm việc theo nhóm đối với việc dạy bài tập phân loại, quản lý vốn từ cho HS 70

Trang 8

2.4.4.3 Điều kiện đảm bảo thành công cho việc thảo luận nhóm

71

Trang 9

2.4.3 Biện pháp 3: sử dụng các trò chơi học tập để dạy học bài tập phân

loại, quản lý vốn từ cho học sinh lớp 4, 5 theo quan điểm giao tiếp

74

2.4.3.1 Trò chơi học tập 74

2.4.3.2 Mục đích của trò chơi học tập 75

2.4.3.3 Ý nghĩa trò chơi học tập 75

2.4.3.4 Nội dung trò chơi học tập 76

2.5 TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 79

Chương 3 THỬ NGHIỆM SƯ PHẠM 81

3.1 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ QUÁ TRÌNH THỬ NGHIỆM 81

3.1.1 Mục đích thử nghiệm 81

3.1.2 Nội dung thử nghiệm 81

3.1.3 Phương pháp thử nghiệm 81

3.1.4 Tổ chức thử nghiệm 81

3.1.5 Tiến hành thử nghiệm 83

3.1.6 Các tiêu chí đánh giá kết quả thử nghiệm 83

3.1.7 Xử lý kết quả thử nghiệm 85

3.1.7.1 Phương pháp sử lí về mặt định lượng 85

3.1.7.2 Phương pháp sử lí về mặt định tính 85

3.2 KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM 86

3.2.1 Đánh giá kết quả luyện tập của HS về phân loại, quản lý vốn từ trong giờ LTVC 86

3.2.2 Đánh giá mức độ hứng thú học tập của HS về phân loại, quản lý vốn từ trong giờ luỵên từ và câu 88

3.2.3 Đánh giá sự chú ý của HS trong tiến trình bài học 89

3.3 KẾT LUẬN TỪ VIỆC THỬ NGHIỆM 90

KẾT LUẬN CHUNG 92

1 KẾT LUẬN 92

2 KIẾN NGHỊ 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

Trang 10

PHỤ LỤC

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Để chuẩn bị nguồn nhân lực đáp ứng sự phát triển của nền kinh tếcông nghiệp, kinh tế tri thức và xu thế toàn cầu hóa mạnh mẽ trong nhữngnăm đầu thế kỷ XXI, nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam, đã từng bước đổimới chương trình giáo dục theo những định hướng của UNESCO đề ra là: học

để biết, học để làm, học để cùng chung sống và học để tự khẳng định mình.Với mục tiêu như vậy, ngày 9/11/2001 Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo đã

kí quyết định số 43/2001/QD-BGD&ĐT ban hành Chương trình Tiếng Việttiểu học áp dụng thống nhất cả nước Mục tiêu của chương trình Tiếng Việt ởtiểu học là hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt(nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong môi trường hoạt động củalứa tuổi, giúp học sinh ngày sử dụng ngày một tốt hớn tiếng mẹ đẻ vào nhữnghoạt động giao tiếp đa dạng của xã hội

Dạy học Tiếng Việt theo định hướng giao tiếp có thể được hiểu nhưmột nguyên tắc hay một phương pháp dạy học nhưng đều có chung một mụcđích: làm cho học sinh có khả năng sử dụng thành thạo ngôn ngữ, có khảnăng vận dụng tốt các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết khi trực tiếp tham gia vàocác hoạt động giao tiếp của cộng đồng

Phân môn Luyện từ và câu là một phân môn có vị trí đặc biệt quantrọng ở trường tiểu học Ngoài việc xây dựng thành phân môn độc lập, cáckiến thức và kỹ năng về Luyện từ và câu còn được tích hợp trong những phânmôn khác của môn Tiếng Việt và cả các môn học khác ở trường tiểu học Mộttrong những nhiệm vụ quan trọng của phân môn Luyện từ và câu là giúp họcsinh hình thành và rèn luyện kỹ năng hệ thống hoá vốn từ, giúp học sinh sắpxếp các từ thành một trật tự nhất định trong trí nhớ nhanh nhiều, và tạo rađược tính thường trực của từ

Trang 13

Tầm quan trọng của phân môn này được quy định bởi tầm quan trọngcủa từ và câu trong hệ thống ngôn ngữ Từ là một đơn vị của hệ thống ngônngữ, muốn nắm được một ngôn ngữ nào đó đầu tiên ta phải nắm được vốn từ.Nếu như không làm chủ được vốn từ của một ngôn ngữ thì không thể sử dụngngôn ngữ đó như một công cụ để học tập và giao tiếp.

Ngoài ra, vốn từ của một người càng phong phú bao nhiêu thì khả nănglựa chọn từ ngữ của người đó càng lớn thì khả năng lựa chọn từ ngữ củangười đó càng chính xác và tinh tế bấy nhiêu Vì vậy, dạy học luyện từ và câucho học sinh tiểu học tức là cần làm giàu vốn từ cho các em, phải chú trọng

“số lượng từ, tính đa dạng của từ và tính năng động của từ”

Xuất phát từ tầm quan trọng của vấn đề phân loại quản lý vốn từ,chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4,5 đã đưa kiểu bài tập phân loại

và quản lý vốn từ vào kiểu bài tập mở rộng vốn từ (MRVT) trong phân mônLTVC để giúp học sinh có ngững kỹ năng đơn giản và sơ giản nhất về việcsắp xếp các từ vào những nhóm nhất định dựa vào một số tiêu chí hoặc sự sựliên tưởng nào đó như: quan hệ đồng nghĩa - trái nghĩa, đề tài, chủ đề,cấu tàotừ,nghĩa của các yếu tố Hán - Việt để hệ thống hoá lại vốn từ của mình Tuy nhiên, kiến thức về phân loại quản lý vốn từ là tương đối mới mẻvới học sinh tiểu học, và nó cũng không kém phần phức tạp Vì thế, cần phải

tổ chức cho học sinh luyện tập nhiều không chỉ trong giờ LTVC mà còn trong

cả các phân môn khác của môn Tiếng Việt

1.2 Luyện từ và câu là một phân môn mới Mục tiêu của phân môn nàyđặt ra là nhằm mở rộng, làm giàu vốn từ cho học sinh và hướng dẫn cho họcsinh sử dụng từ - câu một cách chính xác trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể

Để đạt được mục tiêu dạy học tiếng Việt nói chung và dạy học phânloại quản lý vốn từ cho học sinh Tiểu học nói riêng, chúng ta phải thực hiệntốt các yêu cầu của nguyên tắc giao tiếp bởi vì đây là nguyên tắc trung tâm,chi phối toàn bộ quá trình dạy học Tiếng Việt Với yêu cầu này, dạy học phân

Trang 14

loại, quản lý vốn từ càng phải chú trọng thích đáng các yêu cầu của nguyêntắc giao tiếp Việc dạy bài tập phân loại quản lý vốn từ phải có tác dụng hìnhthành, phát triển năng lực thực tiễn hoạt động ngôn ngữ của học sinh, nói cáchkhác phải gắn với các kỹ năng sử dụng tiếng Việt của học sinh.

Trong thưc tế dạy và học, khi hướng dẫn học sinh phân loại và quản lý vốn

từ giáo viên còn gặp nhiều khó khăn dẫn tới hiệu quả chưa cao Giáo viên còn

tỏ ra lúng túng khi đưa ra các biện pháp hướng dẫn học sinh làm bài phân loại

và quản lý vốn từ trong giờ MRVT Về phía HS lớp 4,5, các em đã nhận biếtcác từ khá tốt, nhưng khả năng phân loại và sử dụng từ trong giao tiếp, làmbài tập còn nhiều hạn chế Trong khi đó, các công trình nghiên cứu về việcdạy học phân loại và quản lý vốn từ ở tiểu học hầu như chưa có Đây chính làkhó khăn đối với việc tìm kiếm tài liệu tham khảo cho giáo viên hiện nay

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: Một số biện pháp

dạy “Bài tập phân loại, quản lý vốn từ” theo quan điểm giao tiếp cho học sinh lớp 4,5”.

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Về dạy học Tiếng Việt theo định hướng giao tiếp

Trên thế giới, từ 1970, các quốc gia đã xác định mục tiêu quan trọng

nhất dạy tiếng mẹ đẻ đó là “sự thành thạo ngôn ngữ”, “biết sử dụng ngôn ngữ”, “khả năng dùng ngôn ngữ”, “làm chủ ngôn ngữ ” Chương trình dạy

Tiếng Pháp của bang Quy - bách (Ca - na - đa) quy định “Việc giảng dạyTiếng Pháp phải dựa trên việc thực hành ngôn ngữ và trong các lớp TiếngPháp, HS phải luôn luôn được đặt vào trong các tình huống giao tiếp” [Dẫn

theo Nguyễn Trí, tr14, Ở một giai đoạn khác, trương trình lại nhấn mạnh: “cơ bản là phải đặt HS trong một tình huống giao tiếp làm sản sinh lời nói hoặc

sự thông hiểu” Chương trình dạy tiếng Đức- 1987 của nước Cộng hòa dân

chủ Đức đã xác định: “nguyên tắc chỉ đạo việc quy hoạch và tổ chức dạy học

Trang 15

tiếng mẹ đẻ ở nhà trường là triệt để phục vụ cho năng lực giao tiếp của họ”.

Chương trình dạy tiếng Ma- lai- xi- a bao gồm: “những kĩ năn cơ bản vềnghe, nói, đọc, viết nhằm làm cho HS sử dụng lời nói vì những mục đích thực

tiễn, sáng tạo” Chương trình dạy Tiếng Anh qui định: “Cần làm cho HS hiểu được tầm quan trọng của Tiếng Anh chuẩn Tạo điều kiện để HS xem xét lời nói của mình và cách mình giao tiếp với người khác Khuyến khích HS tự tin

để thích ứng điều mình nói với người nghe và với tình huống khác nhau ”.

Ở trong nước, từ hơn mười năm nay, phương pháp dạy tiếng Việt theohướng giao tiếp đã ra đời và được đông đảo GV, các nhà phương pháp dạyhọc Tiếng Việt ủng hộ Từ những năm 1994 - 1995 hàng loạt các cuộc hội

thảo đánh giá chương trình tiểu học đang được thực hiện lúc đó (Chương trình cải cách giáo dục, Chương trình thực nghiệm của công nghệ giáo dục ) và sự xuất hiện của giáo trình phương pháp dạy học tiếng Việt, một số

tập chuyên luận như: Dạy ngữ pháp ở tiểu học (Lê Phương Nga), Dạy từ ngữ

ở tiểu học (Phan Thiều, Lê Hữu Tỉnh) Những thành tựu đó đã đặt cơ sở líthuyết và tổng kết kinh nghiệm cho các hoạt động nghiên cứu, biên soạnSGK, đổi mới PPDH tiếng Việt Chương trình Tiếng Việt mới đã khẳng định,dạy tiếng Việt ở Tiểu học nhằm mục tiêu dạy kĩ năng tiếng Việt và rèn luyệnnăng lực sử dụng tiếng Việt để học tập và giao tiếp trong môi trường hoạtđộng của lứa tuổi

2.2 Về “dạy bài tập phân loại quản lý vốn từ cho học sinh lớp 4, 5”

Từ đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong hệ thống ngôn ngữ, từ làđơn vị trung tâm của ngôn ngữ nên việc dạy học từ cho HS Tiểu học nói riêng

và cho HS phổ thông nói chung đều rất được chú trọng Đã có rất nhiều côngtrình nghiên cứu về phương pháp dạy học từ ngữ ở Tiểu học Một số cuốn

sách đề cập đến mảng nghiên cứu này như: Phương pháp dạy học Tiếng Việt

của các tác giả Lê A- Nguyễn Quang Ninh- Bùi Minh Toán- NXB Giáo

dục-1997, Phương pháp dạy học Tiếng Việt (tập 1) (Giáo trình đào tạo giáo viên

Trang 16

Tiểu học hệ CĐSP và SP 12+2), Giáo trình Phương pháp dạy học Tiếng Việt

ở Tiểu học (tập 1, tập 2), Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học (tập

hợp các kết quả nghiên cứu được công bố trên các báo, tạp chí) của tác giả LêPhương Nga,

Tác giả Lê Phương Nga trong cuốn “Phương pháp dạy học Tiếng Việt

ở Tiểu học” (tập hợp các kết quả nghiên cứu được công bố trên các báo, tạp

chí) đưa ra các dạng bài tập bồi dưỡng kiến thức và kĩ năng từ ngữ cho họcsinh tiểu học, tập trung bàn về cách nhận diện, phân loại từ đơn, từ ghép, từ

láy Trong các bài viết của mình, tác giả đã nhấn mạnh “khi dạy, cần cố gắng làm nổi bật giá trị ngữ nghĩa của từ đơn, từ ghép, từ láy”, giúp học sinh sử

dụng đúng tiến tới sử dụng hay trong hoàn cảnh giao tiếp khác nhau

Bên cạnh đó, có rất nhiều bài báo bàn về vấn đề này Tác giả Lê ThịMinh Nguyệt: “Một số nội dung dạy học cấu tạo từ theo định hướng giaotiếp”, Lê Thị Thanh Bình, Chu Thị Hà Thanh: “Quan điểm giao tiếp trong dạyhọc tiếng Việt ở tiểu học Các tác giả đều cho rằng: việc trang bị tri thức vềngôn ngữ không nhằm mục đích tự thân mà là phương tiện nhận diện đơn vịngôn ngữ, nắm chức năng của chúng để từ đó sử dụng trong lời nói

Các tài liệu được dẫn ở trên và các tài liệu chưa được nhắc tới trongluận văn đã đề cập khá nhiều đến vấn đề dạy từ ngữ cho học sinh Song, cóthể nói, các tài liệu nghiên cứu nói trên không bàn về việc dạy bài tập phânloại, quản lý vốn từ theo quan điểm giao tiếp một cách riêng biệt Vì vậy, vấn

đề luận văn đưa ra là một vấn đề mới, cần được nghiên cứu

3 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất một số biện pháp dạy học bài tập phân loại và quản lý vốn từ chohọc sinh lớp 4,5 theo quan điểm giao tiếp Qua đó, góp phần giải quyết một sốkhó khăn của giáo viên trong việc hướng dẫn học sinh lớp 4-5 làm bài tập phânloại, quản lý vốn từ và góp phần nâng cao kỹ năng giao tiếp cho học sinh

Trang 17

4 Đối tượng và khác thể nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Một số biện pháp dạy học bài tập phân loại, quản lý vốn từ cho họcsinh lớp 4,5 theo quan điểm giao tiếp

4.2 Khách thể nghiên cứu

Quá trình dạy học kiểu bài Mở rộng vốn từ theo chủ đề cho học sinhlớp 4,5

5 Giả thuyết khoa học

Chúng tôi giả định rằng: nếu xây dựng thành công các biện pháp hướngdẫn dạy kiểu bài phân loại, quản lý vốn từ cho học sinh lớp 4,5 theo quanđiểm giao tiếp thì sẽ sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy học kiểu bài tập này

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

 Tìm hiểu những vấn đề lý thuyết có liên quan đến đề tài

 Tìm hiểu nội dung dạy học phân loại, quản lý vốn từ và thực trạngcủa việc dạy học vấn đề này cho học sinh lớp 4, 5 ở tiểu học

 Đề xuất một số biện pháp dạy kiểu bài phân loại, quản lý vốn từtheo quan điểm giao tiếp cho học sinh lớp 4,5

 Tiến hành thử nghiệm để kiểm tra tính khả thi của các biện pháp đã

đề xuất

7 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài đã sử dụng các nhóm phương pháp sau:

 Nhóm phương pháp nghiên cứ lý thuyết nhằm thu thập, xử lý cácvấn đề lý luận về quan điểm giao tiếp trong dạy học tiếng Việt, về bài tập vềphân loại, quản lý vốn từ, về đặc điểm tâm lý của học sinh lớp 4- 5

Trang 18

 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn nhằm điều tra thực trạngdạy học bài tập phân loại, quản lý vốn từ ở lớp 4, 5 để phát hiện những vấn đềcần nghiên cứu.

 Nhóm phương pháp phân tích, thống kê nhằm xử lý các số liệu thuđược trong quá trình điều tra và quá trình thử nghiệm sư phạm

8 Cấu trúc của khoá luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dungchính của khoá luận gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn.

Chương 2: Một số biện pháp dạy kiểu bài phân loại, quản lý vốn từ

theo quan điểm giao tiếp cho học sinh lớp 4, 5

Chương 3: Thử nghiệm sư phạm.

Trang 19

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1.1 Quan điểm giao tiếp trong dạy học tiếng Việt ở tiểu học

1.1.1.1 Hoạt động giao tiếp

a Khái niệm giao tiếp

Giao tiếp là một hoạt động quan trọng để phát triển xã hội loài người

Có nhiều phương tiện giao tiếp, trong đó ngôn ngữ là phương tiện quan trọngnhất, cơ bản nhất

Giao tiếp là hoạt động trao đổi tư tưởng, tình cảm, cảm xúc nhằmthiết lập quan hệ, sự hiểu biết hoặc sự cộng tác giữa các thành viên trong xãhội với nhau Mỗi cuộc giao tiếp tối thiểu phải có hai người và phải dùngcùng một ngôn ngữ nhất định

b Hoạt động giao tiếp

Hoạt động giao tiếp bao gồm các hành vi giải mã (nhận thông tin) và kí

mã (phát thông tin); trong ngôn ngữ, mỗi hành vi đều có thể thực hiện bằnghai hình thức là khẩu ngữ (nghe, nói) và bút ngữ (đọc, viết)

Theo quan điểm giao tiếp, mục đích của việc dạy bất kì ngôn ngữ nàocũng phải hình thành và phát triển cho người học cả bốn kĩ năng: nghe, nói,đọc, viết.Trước hết, căn cứ vào hai cực đối lập của sự giao tiếp (phát thôngtin- nơi thu nhận thông tin), sẽ có hai hoạt động cơ bản là phát và nhận Theokiểu loại ngôn ngữ (ngôn ngữ nói- ngôn ngữ viết) làm phương tiện giao tiếpthì các hoạt động phát và nhận lại được phân làm hai, là viết và đọc Như vậy,

là có bốn loại hoạt động cơ bản: nghe, nói, đọc,viết Ở phương diện cách thứchoạt động, nói và viết đi theo lộ trình từ ý đến lời, tạo nên lời để phát ra.;Nghe và đọc đi theo lộ trình từ lời đến ý Đứng ở góc độ hoạt động của người

Trang 20

sử dụng ngôn ngữ, nói và viết là hoạt động chủ động hay là kĩ năng sản sinh,trong đó nghe và đọc là hoạt động bị động hay kĩ năng tiếp nhận.

Sản sinh/ chủ động Tiếp nhận/ thụ động

Có thể hình dung theo sơ đồ sau:

Dạy học tiếng phải chú ý phát triển cả bốn kĩ năng này cho người học

để họ có thể tham gia chủ động và tích cực vào tất cả các hoạt động giao tiếp.Rèn cho học sinh nói và viết là rèn cho HS cách sản sinh lời nói Rèn cho HSnghe và đọc là rèn cho HS tiếp nhận để hiểu người khác

Muốn tham gia vào hoạt động giao tiếp, HS vừa phải biết tiếp nhận,vừa phải biết sản sinh ra văn bản (bao gồm cả nói và viêt) Nhưng các kĩ năng

đọcviết

Sản sinh

Ngôn ngữ nói

Ngôn ngữ viết

Tiếp nhận

Trang 21

đó phải có sự biến đổi, chuyển hóa về chất tức là tạo ra và làm giàu năng lực

sử dụng lời nói của cá nhân Vì dạy giao tiếp chính là dạy lời nói Theo hướngnày, người học sẽ ít quan tâm đến các quy tắc ngôn ngữ, quan tâm đến việctạo ra câu nói, lời nói cụ thể Lời nói thì vô cùng phong phú, sinh động, vôhạn, biến đổi trong các hoàn cảnh sử dụng (giao tiếp) khác nhau

1.1.1.2 Quan điểm giao tiếp và nội dung dạy học tiếng Việt ở tiểu học

- Cung cấp kiến thức về ngôn ngữ

Kiến thức về ngôn ngữ được cung cấp ở Tiểu học nhằm quán triệt quanđiểm giao tiếp Nhà trường không nhằm mục đích dạy kiến thức khoa học líthuyết về ngôn ngữ, mà có nhiệm vụ phát triển lời nói cho HS, giúp HS sử dụngTiếng Việt như một công cụ giao tiếp hiệu quả Việc trang bị các kiến thức ngônngữ không có mục đích tự thân mà là phương tiện nhận diện các đơn vị ngônngữ, nắm chức năng của chúng để từ đó sử dụng trong lời nói Vì thế, giờ dạy líthuyết hay luyện tập kĩ năng cần được thực hiện theo tinh thần giao tiếp: Kiếnthức về từ, câu, dấu câu phải được rút ra từ sự phân tích các mẫu lời nói: Cácbài thực hành kĩ năng cần tuân thủ yêu cầu luyện tập theo hệ thống các thao táccủa hoạt động nói năng ; xây dựng hệ thống bài tập phản ánh cơ chế sản sinh vàlĩnh hội lời nói thông qua các tình huống giao tiếp

- Rèn luyện các kĩ năng sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp

Rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ cho HSTH là một nhiệm vụ quantrọng bởi vì trình độ ngôn ngữ có phát triển tốt thì trình độ tư duy mới đượcnâng cao HS có kĩ năng sử dụng được ngôn ngữ thì mới có trong tay mộtcông cụ tốt, một công cụ không thể thiếu được để tiến tới tiếp thu tri thứckhoa học kĩ thuật ngày nay để hoàn thiện công việc giáo dục toàn diện đối vớibản thân mình Trong giao tiếp bằng ngôn ngữ, khi ở ta ở địa vị người nhận

(người nghe /đọc) ta phải hiểu những từ mà người phát (người nói/viết) sử

dụng trong ngôn bản Vì vậy, các kĩ năng mà HSTH cần được rèn luyện với

Trang 22

tư cách là người nhận, đó là kĩ năng nghe (nghe-hiểu) và kĩ năng (đọc- hiểu).

Khi ở vị trí người phát (người nói/viết) ta cần phải biết huy động từ, lựa chọn

và kết hợp từ để diễn tả ý, để tạo ra phát ngôn, ngôn bản Các kĩ năng màHSTH cần được rèn luyện với tư cách là người phát, đó là kĩ năng lựa chọn

từ, thay thế từ, kết hợp từ để tạo ra các ngôn bản dạng nói, viết Vì vậy, việcrèn các kĩ năng sử dụng ngôn ngữ đòi hỏi các nội dung và yêu câù luyện tậpgắn với sự đa dạng, sinh động hoạt động lời nói trong các tình huống giao tiếpkhác nhau, sắp xếp các tài liệu học tập sao cho vừa cung cấp tri thức ngônngữ vừa rèn luyện cho học sinh những kỹ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ mộtcách hiệu quả nhất Vì thế, rất nhiều lời khuyên đưa ra với GV như: người dạycần linh hoạt tổ chức được các hình thức và hoạt động dạy học phong phú đểngười học trực tiếp tham gia thực hành giao tiếp, cần tạo điều kiện cho HS cónhu cầu giao tiếp, làm cho các em muốn và thích được nói, được viết, có tâmthế hòa hứng tham gia nói, viết làm sao để HS dễ dàng xác định nội dung,mục đích giao tiếp, biết xác định và phân tích đặc điểm của hoàn cảnh giaotiếp, đối tượng giao tiếp

1.1.1.3 Quan điểm giao tiếp và phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học

Các nhà nghiên cứu cho rằng tổ chức giờ học theo phương pháp giaotiếp cần đảm bảo các yêu cầu sau:

- Sắp xếp các tài liệu, nội dung bài học phải theo định hướng của hoạtđộng giao tiếp

- Tạo ra các tình huống giao tiếp và sử dụng các tình huống đó trongdạy học

- Nâng cao tính thực hành trong việc dạy học Tiếng Việt

- Khi dạy ngôn ngữ cần đặt các đơn vị bậc thấp trong lòng các đơn vịbậc cao

1.1.1.4 Quan điểm giao tiếp và hình thức dạy học tiếng Việt ở tiểu học

Trang 23

- Phương hướng tốt nhất để dạy các đơn vị ngôn ngữ trong hệ thốnghành chức là tìm mọi cách hướng HS vào hoạt động nói năng Muốn thựchiện được điều này cần tạo các tình huống giao tiếp khác nhau để kích thíchcác động cơ giao tiếp cho các em HS Vì thế, việc dạy học Tiếng Việt có thểdiễn ra ở mọi lúc, mọi nơi trong lớp học, trong sinh hoạt gia đình, ngoài xãhội và trên tất cả các hoạt động giao tiếp ngôn ngữ, giờ học chính khóa, hoạtđộng ngoại khóa Bởi môi trường và sinh hoạt là hình thức dạy Tiếng Việttheo quan điểm giao tiếp hiệu quả nhất

- Kết hợp các hình thức dạy học: trò chơi học tập

1.1.2 Bài tập phân loại, quản lý vốn từ ở tiểu học

1.1.2.1 Mục tiêu, nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu ở tiểu học

a Mục tiêu của phân môn Luyện từ và câu

- Mở rộng hệ thống hóa vốn từ và cung cấp cho HS một số hiểu biết sơgiản về từ và câu

- Rèn luyện cho HS các kĩ năng dùng từ đặt câu và sử dụng các dấu câu

- Bồi dưỡng cho HS thói quen dùng từ đúng, nói và viết thành câu; có ýthức sử dụng TV trong giao tiếp và thích học TV

Có thể nói, mục tiêu cung cấp cho HS những kiến thức sơ giản về từnhằm bồi dưỡng cho các em sử dụng từ đúng, tiến tới sử dụng từ hay là mộttrong những mục tiêu quan trọng của phân môn Luyện từ và câu

b Ý nghĩa cuả việc MRVT cho HS tiểu học

- Vốn từ của một các nhân là toàn bộ các từ và đơn vị tương ứng từ tồntại trong trí nhớ của cá nhân đó và được cá nhân đó sử dụng trong hoạt độnggiao tiếp

Trang 24

- Vốn từ được hình thành theo hai con đường: con đường tự nhiên, vôthức (qua việc nghe, đọc sách báo, xem tivi từ ngữ tự nhiên xâm nhập vàongười) và con đường có ý thức (qua học tập)

- Vốn từ tích luỹ trong đầu óc chúng ta không phải là một mớ hỗn độn màđựoc sắp xếp thành hệ thống, trật tự nhất định dựa trên những nét chung về hìnhthức hoặc nội dung, nhờ đó đựoc tích luỹ nhanh chóng và sử dụng dễ dàng

Trang 25

c Nhiệm vụ cua phân môn luyện từ và câu

* Làm giàu vốn từ cho HS và phát triển năng lực dùng từ đặt câu cho

các em Nhiệm vụ này bao gồm các công việc sau:

- Dạy nghĩa từ

Làm cho HS nắm nghĩa từ bao gốm việc thêm vào vốnt từ của HSnhững từ mới và những nghĩa mới của từ đã biết, làm cho các em nắm đượctình nhiều nghĩa và sự chuyển nghĩa của từ Dạy từ ngữ phải hình thànhnhững khả năng phatd hiện ra những từ mới chưa biết trong văn bản cần tiếpnhận, nắm một số thao tác giải nghĩa từ, phát hiện ra những nghĩa mới của từ

đã biết, làm rõ những sắc thái nghĩa khác nhau của từ trong những ngữ cảnhkhác nhau

- Hệ thống hóa vốn từ

Dạy HS biết cách sắp xếp các từ một cách có hệ thống trong trí nhớ đểtích lũy từ được nhanh chóng và tạo ra tính thường trực của từ, tạo điều kiệncho các từ đi vào hoạt động lời nói được thuận lợi Công việc này hình thành

ở HS kỹ năng đối chiếu từ trong hệ thống hàng dọc của chúng, đặt từ trong hệthống liên tưởng cùng chủ đề, đồng nghĩa, gần nghĩa, trái nghĩa, đồng âm,cùng cấu tạo, Tức là kỹ năng liên tưởng để huy động vốn từ

- Tích cực hóa vốn từ

Dạy cho HS sử dụng từ, phát triển kỹ năng sử dụng từ trong lời nói và lờiviết của mình, đưa từ vào trong vốn từ tích cực được HS dùng thường xuyên.Tích cực hóa vốn từ tức là dạy HS biết dùng từ ngữ trong nói năng của mình

- Dạy HS biết cách đặt câu, sử dụng các kiểu câu đúng mẫu phù hợp với hoàn cảnh, mục đích giao tiếp.

* Trên cơ sở vốn ngôn ngữ trước khi đến trường từ những hiện tượng

cụ thể của tiếng mẹ để, phân môn Luyện từ và câu cung cấp cho HS một sốkiến thức về từ và câu cơ bản, sơ giản, cần thiết và vừa sức với em LT&Ctrang bị cho HS những hiểu biết về cấu tạo từ, nghĩa của từ, các lớp từ, từ

Trang 26

loại, các kiến thức về câu như cấu tạo câu, các kiểu câu, dấu câu, các quy tắcdùng từ đặt câu và tạo văn bản để sử dụng trong giao tiếp.

Ngoài các nhiệm vụ chuyên biệt trên, LT&C còn có nhiệm vụ rèn luyện

tư duy và giáo dục thẩm mĩ cho HS

1.1.2.2 Vị trí, nhiệm vụ của việc dạy học bài tập phân loại quản lý vốn từ ở tiểu học

a Khái niệm bài tập phân loại, quản lý vốn từ

Bài tập phân loại quản lý vốn từ là những bài tập cho sẵn các từ, yêucầu HS phân loại theo một căn cứ nào đó Giữa từ này với những từ khácthường có một nét gì đó chung khiến nghĩ tới nó là ta nhớ tới những từ kia.Nhờ quy luật này, từ được tích luỹ nhanh chóng hơn, đồng thời từ mới có thểđựơc sử dụng trong lời nói, vì khi sử dụng từ, nhờ hệ thống liên tưởng, HS sẽnhanh chóng huy động, lựa chọn được từ ngữ phù hợp với yêu cầu giao tiếp Với mục đích tích luỹ nhanh chóng vốn từ và tạo điều kiện để sử dụngchúng một cách dễ dàng, người ta đã huy động vốn từ bằng cách yêu cầu họcsinh tìm từ hoặc phân loại từ theo một dấu hiệu chung nào đó Dựa vào cácquy luật liên tưởng khác nhau, người ta đã xây dựng bài tập tìm từ và phânloại từ theo những dấu hiệu khác nhau

b Vị trí, nhiệm vụ của bài tập phân loại, quản lý vốn từ

Mỗi từ thường đựơc sắp xếp trong trí nhớ con người thông qua các mốiquan hệ như sau:

Phân loại từ ngữ theo phong cách sử dụng

Trang 27

đích chính là tạo lập trong đầu HS một hệ thống các từ thường trực và có sựsắp xếp theo trật tự nhất định.

Như trên đã nói, hệ thống bài tập Luyện từ và câu được phân loại theocác cơ sở khác nhau Dựa vào mục tiêu dạy học, phạm vi nội dung kiến thức,

kỹ năng được hình thành người ta chia bài tập luyện từ và câu thành haimảng lớn:

+ Mảng bài tập làm giàu vốn từ

+ Mảng bài tập theo các mạch kiến thức về, kỹ năng về từ và câu

Trong đó bài tập làm giàu vốn từ được chia làm 3 nhóm lớn: Bài tậpdạy nghĩa từ; Bài tập hệ thống hóa vốn từ; Bài tập sử dung từ Trong mỗinhóm lớp này lại chia thành nhiều nhóm nhỏ Và bài tập phân loại, quản lývốn từ là một trong ba tiểu nhóm của nhóm bài tập hệ thống hóa vốn từ

Do nằm trong hệ thống bài tập về luyện từ nên nhiệm vụ chung của bàitập phận loại, quản lý vốn từ cũng chính là nhiệm vụ của phân môn Luyện từ

và câu Ngoài ra nhóm bài tập này còn thực hiện một số nhiệm vụ khác củaphần mở rộng vốn từ đó là giúp HS hệ thống các từ trong đầu óc một cách trật

tự có logic và khoa học Từ đó tào ra tính thường trực của từ, góp phần họctốt các môn học khác cũng như tăng dần khả năng giao tiếp của HS trong đờisống hàng ngày

Bài tập phân loại từ thường cho sẵn các từ, yêu cầu HS phân loại theomột căn cứ nào đó Bài tập có thể cho sẵn các từ rời, cũng có thể cho sẵn các

từ trong câu, đoạn văn Các căn cứ để phân loại cũng chính là các tiêu chí đểtìm từ trong nhóm bài tập tìm từ Vì thế nhóm bài tập này có thể phân loạithành các dạng:

Bài tập phân loại từ theo chủ đề

Bài tập phân loại theo các lớp từ vựng

Bài tập phân loại theo các nhóm nghĩa

Bài tập phân loại theo yếu tố Hán - Việt

Trang 28

Giải bài tập phân loại, quản lý vốn từ, HS sẽ xây dựng được nhữngnhóm từ khác nhau Để hướng dẫn HS làm nhóm bài tập này, GV cần có vốn

từ cần thiết và biết phân loại từ Các bài tập loại này cần vừa sức với các em

HS và được các em thực hiện một cách tự nhiên và có hứng thú

1.1.3 Đặc điểm tâm lý HS lớp 4,5 với việc dạy học bài tập phân loại quản

lý vốn từ

Tư duy của học sinh tiểu học là tư duy cụ thể, mang tính hình thức

bằng cách dựa vào các đặc tính bên ngoài của đối tượng và hình tượng cụ thể.Nhà tâm lý học J.Piagiê (Thụy Sỹ) đã cho rằng, tư duy của trẻ từ 7 đến 10 tuổi

về cơ bản đang ở trong giai đoạn thao tác cụ thể, trên cơ sở đó, có thể diễn raquá trình hệ thống hoá các thuộc tính, tài liệu trong kinh nghiệm tực quan.Đặc điểm tâm lý HSTH nói chung, HS lớp 5 nói riêng thể hiện trên một sốmặt như sau:

* Đặc điểm tri giác: Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít

đi vào chi tiết và mang tính không ổn định: ở đầu tuổi tiểu học tri giác thườnggắn với hành động trực quan, đến cuối tuổi tiểu học tri giác bắt đầu mang tínhxúc cảm, trẻ thích quan sát các sự vật hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp hẫn,tri giác của trẻ đã mang tính mục đích, có phương hướng rõ ràng - Tri giác cóchủ định (trẻ biết lập kế hoạch học tập, biết sắp xếp công việc nhà, biết làmcác bài tập từ dễ đến khó, )

Nhận thấy điều này, chúng ta cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt độngmới, mang màu sắc, tích chất đặc biệt khác lạ so với bình thường, khi đó sẽkích thích trẻ cảm nhận, tri giác tích cực và chính xác

* Đặc điểm chú ý: Ở đầu tuổi tiểu học chú ý có chủ định của trẻ còn

yếu, khả năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế Ở giai đoạn này chúkhông chủ định chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định Trẻ lúc này chỉ quan tâmchú ý đến những môn học, giờ học có đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn

Trang 29

có nhiều tranh ảnh,trò chơi hoặc có cô giáo xinh đẹp, dịu dàng, Sự tập trungchú ý của trẻ còn yếu và thiếu tính bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ

bị phân tán trong quá trình học tập

Ở lớp 4,5 trẻ dần hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú ý củamình Chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế, ở trẻ đã có sự nỗ lực

về ý chí trong hoạt động học tập như học thuộc một bài thơ, một công thứctoán hay một bài hát dài, Trong sự chú ý của trẻ đã bắt đầu xuất hiện giớihạn của yếu tố thời gian, trẻ đã định lượng được khoảng thời gian cho phép đểlàm một việc nào đó và cố gắng hoàn thành công việc trong khoảng thời gianquy định

Biết được điều này các nhà giáo dục nên giao cho trẻ những công việchay bài tập đòi hỏi sự chú ý của trẻ và nên giới hạn về mặt thời gian Chú ýđến tính cá thể của trẻ, điều này là vô cùng quan trọng và ảnh hưởng trực tiếpđến kết quả giáo dục trẻ

Khả năng phảt triển chú ý có chủ định, bền vững, tập trung đối vớiHSTH trong quả trình học tập là rất cao Bản thân quá trình học tập đài hỏihọc sinh phải rèn luyện thường xuyên chú ý có chủ định Sự chú ý có chủđịnh sẽ được phát triển cùng sự phát triển dộng cơ mang tính xã hội mà cụ thẻvới học sinh tiể học là động cơ học tập Mặt khác, đó là sự trưởng thành về ýthức, trách nhiệm đối với kết quả học tạp của mình ở học sinh Vì vậy, GVcần có kỹ năng tổ chức điều chỉnh chú ý của HS một cách thuần thục và phùhợp K.Ousinxki đã viết: “Hãy rèn luyện cho trẻ không chỉ vì cái gì trẻ thíchthú mà còn những cái không lý thú nữa, tức là hành động khoái cảm khi hoànthành trách nhiệm của mình.”

* Đặc điểm trí nhớ: Ở HSTH loại trí nhớ trực quan hình tượng chiếm

ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ - lôgic Sự phát triển trí nhớ của HSTH có sự biếnđổi về chất Đó là sự hình thành và phát triển của ghi nhớ có chủ định pháttriển ở mức cao.Tuy vậy, với HSTH cả ghi nhớ có chủ định và không chủ

Trang 30

định vẫn tồn tại song song chuyển hóa va bổ sungcho nhau trong quá trìnhhọc tập Vì vậy,GV cần nắm chắc và rèn luyện cho HS sử dụng hai loại trínhớ này một cách hợp lý, hiệu quả.

Giai đoạn lớp 4,5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăngcường Ghi nhớ có chủ định đã phát triển Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghinhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích cực tậptrung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lý tìnhcảm hay hứng thú của các em Ngoài ra, chúng ta thấy rằng, ngôn ngữ đóngvai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển trí nhớ có chủ động Nhờ cóngôn nhữ mà HS có thể diễn đạt tri thức đã biết bằng lời nói, chữ viết Điềunày không những quan trọng trong viẹc phát triển trí nhớ mà còn thúc đẩy sựphát triển của trí tưởng tưởng, tư duy của HS sau này

Nắm được điều này, các nhà giáo dục phải giúp các em biết cách kháiquát hóa và đơn giản mọi vấn đề, giúp các em xác định đâu là nội dung quantrọng cần ghi nhớ, các từ ngữ dùng để diễn đạt nội dung cần ghi nhớ phải đơngiản dễ hiểu, dễ nắm bắt, dễ thuộc và đặc biệt phải hình thành ở các em tâm lýhứng thú và vui vẻ khi ghi nhớ kiến thức

* Đặc điểm tư duy: Tư duy cũng là một quá trìng tâm lý nhưng khác

với quá trình nhận thức cảm tính, quá trình tư duy phản ánh dấu hiệu, mốiquan hệ bản chất ben trong của các sự vật hiện tượng khách quan

Tuy nhiên theo các nhà tâm lý học, sự phát triển tư duy của HSTH diễn

ra theo 2 giai đoạn cơ bản Đó là giai đoạn tư duy trực trực quan cụ thể và giaiđoạn tư duy trừu tượng khái quát Tư duy của HSTH chuyển dần từ tính trựcquan cụ thể sang tính trừu tượng, khái quát thường căn cứ vào đặc điểm bềngoài cụ thể, trực quan

Ở HS lớp 4,5, tư duy mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tưduy trực quan hành động Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thểsang tư duy trừu tượng khái quát.Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo

Trang 31

lứa tuổi, lớp 4, 5 bắt đầu biết khái quát hóa lý luận Tuy nhiên, hoạt độngphân tích, tổng hợp kiến thức còn sơ đẳng ở phần đông học sinh tiểu học.

* Đặc điểm trí tưởng tượng: Tưởng tượng của học sinh tiểu học đã

phát triển phong phú hơn so với trẻ mầm non nhờ có bộ não phát triển và vốnkinh nghiệm ngày càng dầy dạn Tuy nhiên, tưởng tượng của các em vẫnmang một số đặc điểm nổi bật sau:

Ở đầu tuổi tiểu học thì hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bềnvững và dễ thay đổi

Ở cuối tuổi tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từnhững hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới Tưởng tượng sángtạo tương đối phát triển ở giai đoạn cuối tuổi tiểu học, trẻ bắt đầu phát triểnkhả năng làm thơ, làm văn, vẽ tranh Đặc biệt, tưởng tượng của các em tronggiai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hìnhảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các rung động tình cảm của các em

Qua đây, các nhà giáo dục phải phát triển tư duy và trí tưởng tượng củacác em bằng cách biến các kiến thức "khô khan" thành những hình ảnh cócảm xúc, đặt ra cho các em những câu hỏi mang tính gợi mở, thu hút các emvào các hoạt động nhóm, hoạt động tập thể để các em có cơ hội phát triển quátrình nhận thức lý tính của mình một cách toàn diện

* Đặc điểm về ngôn ngữ: Hầu hết học sinh tiểu học có ngôn ngữ nói

thành thạo Khi trẻ vào lớp 1 bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết Đến lớp 5 thìngôn ngữ viết đã thành thạo và bắt đầu hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả

và ngữ âm Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ có khả năng tự đọc, tự học, tựnhận thức thế giới xung quanh và tự phá bản thân thông qua các kênh thôngtin khác nhau

Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảmtính và lý tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởngtượng của trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ

Trang 32

nói và viết của trẻ Mặt khác, thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta có thểđánh giá được sự phát triển trí tuệ của trẻ.

Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng như vậy nên các nhà giáo dụcphải trau dồi vốn ngôn ngữ cho trẻ trong giai đoạn này bằng cách hướng hứngthú của trẻ vào các loại sách báo có lời và không lời, có thể là sách văn học,truyện tranh, truyện cổ tích, báo nhi đồng, đồng thời cũng có thể kể cho trẻnghe hoặc tổ chức các cuộc thi kể truyện đọc thơ, viết báo, viết truyện, dạy trẻcách viết nhật kí Tất cả đều có thể giúp trẻ có được một vốn ngôn ngữ phongphú và đa dạng

Nói tóm lại, sáu tuổi vào lớp 1 là bước ngoặt lớn của trẻ thơ Môitrường thay đổi: đòi hỏi trẻ phải tập trung chú ý thời gian liên tục từ 30 - 35phút Chuyển từ hiếu kỳ,tò mò sang tính ham hiểu biết, hứng thú khám phá.Bước đầu kiềm chế dần tính hiếu động, bột phát để chuyển thành tính kỷ luật,nền nếp, chấp hành nội quy học tập Phát triển độ tinh nhạy và sức bền vữngcủa các thao tác tinh khéo của đôi bàn tay để tập viết, Tất cả đều là thử tháchcủa trẻ, muốn trẻ vượt qua được tốt những điều này thì phải cần có sự quantâm giúp đỡ của gia đình, nhà trường và xã hội dựa trên sự hiểu biết về trithức khoa học

- Việc giới bài tập phân loại quản lý vốn từ cho HSTH nói chung vàhọc sinh lớp 4,5 nói riêng là một việc vô cùng cần thiết Kiểu bài tập này giúphọc sinh quản lý vốn từ, phát triển tư duy hẹ thống, thu thập từ nhanh chóng

sử dụng từ dễ dàng

Cũng qua việc tìm hiểu, nghiên cứu tâm lý HS lớp 4,5 về những đặcđiểm nhận thức, tư duy, ngôn ngữ, trí nhớ Chúng tôi thấy rằng, việc đưa ranhững biện pháp hướng dẫn dạy kiểu bài tập phân loại quản lý vốn từ tronggiờ LTVC là việc có cơ sở khoa học và cần thiết

Trang 33

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.2.1 Thực trạng dạy học “bài tập phân loại quản lý vốn từ” ở tiểu học

Để xác định được cơ sở thực tiễn cho việc dạy phân loại quản lý vốn từcho HSTH theo quan điểm giao tiếp, chúng tôi khảo sát thực tiễn dạy học bàitập phân loại quản lý vốn từ cho HSTH Kết quả phân tích của phần này sẽgiúp chúng ta rút ra được đặc điểm của nội dung, phương pháp dạy học bàitập này, đặc biệt là những bài tập đã được thực tiễn dạy học sử dụng, nhữngthuận lợi và khó khăn của HS và GV khi dạy học bài tập phân loại quản lývốn từ, từ đó xây dựng những bài tập hữu hiệu, đảm bảo yêu cầu của nguyêntắc giao tiếp, nhằm nâng cao hiệu quả dạy và học môn Tiếng Việt nói chung

và MRVT cho HS nói riêng

Để đạt được mục đích trên, chúng tôi tiến hành công việc sau:

+ Phân tích hệ thống bài tập phân loại quản lý vốn từ trong chươngtrình TH mới

+ Phân tích thực trạng dạy học phân loại quản lý vốn từ cho HSTH theochương trình mới

1.2.1.1 Phân tích hệ thống bài tập phân loại, quản lý vốn từ trong chương trình TH mới

Qua tìm hiểu chúng tôi đã thống kê được, hệ thống bài tập dạy họcphân loại quản lý vốn từ cho học sinh lớp 4, 5 gồm có 4 nhóm như sau:

Phân loại quản lý vốn từ dựa vào tiêu chí nghĩa: (11 bài)

VD: Xếp những từ chứa tiếng công cho dưới đây vào nhóm thích hợp:

Công dân, công bằng, công cộng, công lí, công nghiệp, công chúng,công minh, công tâm

a) Công có nghĩa là “của nhà nước, của chung”

b) Công có nghĩa là “không thiên vị”

c) Công có nghĩa là “thợ khéo tay”

Tuần 20: MRVT: Công dân Bài 2 (SGK trang 18, TV 5, tập II)

Trang 34

Phân loại quản lý vốn từ dựa vào phạm vi sử dụng của từ: (3 bài) VD: Viết vào vở bảng phân loại theo mẫu cho dưới đây Xếp các trò

chơi sau vào ô thích hợp trong bảng: nhảy dây, kéo co, ô ăn quan, lò cò, vật,

cờ tướng, xếp hình, đá cầu

Trò chơi rèn luyện sức mạnh

Trò chơi rèn luyện sự khéo léo

Trò chơi rèn luyện trí tuệ

Tuần 15:MRVT:Đồ chơi - trò chơi Bài 1 (SGK trang 157, TV4, tập I.)

Phân loại quản lý vốn từ dựa vào yếu tố Hán- Việt: (5 bài)

VD: Xếp những từ có tiếng hữu cho dưới đây thành hai nhóm a và b:

Hữu nghị, hữu hiệu, chiến hữu, hữu tình, thân hữu, hữu ích, hữu hảo, bằng hữu, bạn hữu, hữu dụng.

a) Hữu có nghĩa là “bạn bè” M: hữu nghị

Theo Tô Ngọc Hiến

b) Dưới ô cửa máy bay hiện ra ruộng đồng, làng xóm, núi non Những

gò đồng, bãi bờ hiện ra với những mảng màu xanh, nâu, vàng, trắng và nhiều hình dạng khác nhau gợi những bức tranh giàu màu sắc.

Theo Trần Lê Văn

Trang 35

Từ ghép có nghĩa tổng hợp M:ruộng vườn

Từ ghép có nghĩa phân loại M: đường ray

Nhận xét

+ Ngữ liệu: Đa số ngữ liệu được lựa chọn khá kĩ, điển hình, dung

lượng hạn chế, bám sát mục đích yêu cầu, nội dung bài học, phù hợp với trình

độ tâm lý của HS

Các ngữ liệu được chọn khá phù hợp với văn phong của trẻ, gắn bó vớithực tiễn đời sống của các em Rất nhiều ngữ liệu được chọn là câu tục ngữ,

ca dao, các bài thơ dễ nhớ, dễ thuộc kích thích được hứng thú học tập của HS:

Ví dụ: Bài “Danh từ” (SGK trang 52,TV4, tập I)

Tìm các từ chỉ sự vật trong bài thơ sau:

Mang theo truyện cổ tôi đi Nghe trong cuộc sống thầm thì tiếng xưa Vàng cơn nắng, trắng cơn mưa Con sông chảy có rặng dừa nghiêng soi

Đời cha ông với đời tôi Như con sông với chân trời đã xa Chỉ còn chuyện cổ thiết tha Cho tôi nhận mặt ông cha của mình.

LÂM THI MỸ DẠ

Các ngữ liệu được chọn còn thể hiện rất rõ quan điểm tích hợp củaSGK Nhiều ngữ liệu được chọn trích từ bài tập đọc hoặc liên quan đến chủđiểm đang học Ví dụ: Từ đồng nghĩa (TV 5, tập 1, tr7) ngữ liệu của bài tập

nhận diện (tiết 1) trích từ bài “Quang cảnh làng mạc ngày mùa”.

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm trên, ngữ liệu của một số bài chưađiển hình, gây khó khăn với HS

Trang 36

+ Câu hỏi phân tích ngữ liệu

Các câu hỏi và bài tập có ưu điểm là tập trung khai thác những vấn đềtrọng tâm của bài học, làm cơ sở cho việc phân tích ngữ liệu để thực hiện tốtyêu cầu của đề bài

Ví dụ: Bài 2 (SGK trang 17, TV 4, tập I)

Cho các từ sau: nhân dân, nhân hậu, nhân ái, công nhân, nhân loại, nhân đức, nhân từ, nhân tài Hãy cho biết:

a Trong những từ nào tiếng nhân có nghĩa là “người’’.

b Trong những từ nào tiếng nhân có nghĩa là “lòng thương người”.

Bài 2: (SGK trang 53, TV4, tập I)

Xếp các từ em mới tìm được vào nhóm thích hợp:

- Từ chỉ người: ông cha,

- Từ chỉ vật: sông,

- Từ chỉ hiệ tượng: mưa,

- Từ chỉ khái niệm: cuộc sống,

trùng với ranh giới của đường âm tiết - tiếng) SGK yêu cầu HS như sau:

1) Hãy chia các từ trên thành hai loại:

- Từ gồm một tiếng (từ đơn) M: nhờ

- Từ gồm nhiều tiếng (từ phức) M: giúp đỡ

2) Theo em: - Tiếng dùng để làm gì?

- Từ dùng để làm gì?

Như vậy, SGK đưa sẵn đơn vị từ không dạy HS cách phân cách đơn vị

từ Cách dạy như vậy mang tính áp đặt, gây khó khăn HS trong làm bài tập, vì

Trang 37

để tìm được từ đơn và từ phức, thao tác đầu tiên HS phải phân cách được ranhgiới đơn vị từ (Ở đây chưa kể đến trường hợp có những tiếng không trùngvới từ) Tốt nhất nên để HS tự phân cách đơn vị từ.Với câu hỏi 1 chỉ yêu cầu

HS viết lại cái mà SGK đã làm sẵn Câu hỏi 2, không lôgic với câu hỏi 1 Nếu

HS trả lời câu hỏi hai, không thể rút ra được kết luận mong muốn như phần

ghi nhớ trong SGK, hơn nữa câu Tiếng dùng để làm gì? khá mơ hồ với HS vì

theo quan điểm của SGK tiếng trùng với từ

+ Bài tập: Các bài tập đều có ưu điểm lớn là tập trung khai thác nhữngvấn đề trọng tâm của bài học, đảm bảo mục tiêu trong dạy học Tiếng Việt.Nội dung bài tập phong phú, đã chú trọng đến rèn luyện kĩ năng sử dụng từcủa HS

Ví dụ: Tuần 3 MRVT:Nhân hậu - Đoàn kết

Bài 2 (SGK trang 33,TV4, tập I)

Xếp các từ sau vào ô thích hợp trong bảng: nhân ái, tàn ác, bất hoà, luc đục, hiền hậu, chia rẽ,cưu mang, che chở, phúc hậu,hung ác, độc ác, đôn hậu, đùm bọc, trung hậu, nhân từ, tàn bạo.

(Cột có dấu +để ghi các từ thể hiện lòng nhân hậu hoặc tinh thần đoànkết Cột có dấu - để ghi các từ có nghĩa trái với nhân hậu, đoàn kết.)

Đoàn kết M: đùm bọc, M: chia rẽ,

Trang 38

1.2.1.2 Phân tích thực trạng dạy học bài tập phân loại, quản lý vốn

từ cho HS lớp 4,5

Chúng tôi tiến hành tìm hiểu thực trạng của việc dạy bài tập phân loại,quản lý vốn từ cho HSTH ở địa bàn tỉnh Nghệ An

Đối tượng điều tra là 270 giáo viên đang trực tiếp giảng dạy ở khối lớp

4 và khối lớp 5 trên địa bàn và 575 học sinh của các trường Tiểu học trên địabàn trung tâm thành phố (Trường TH Lê Lợi, Trường TH Hà Huy Tập II,Trường TH Lê Mao )

Về phía giáo viên

Chúng tôi sử dụng phương pháp điều tra theo phiếu câu hỏi (dạng trắcnghiệm lựa chọn và trả lời ngắn) đối với giáo viên

Nội dung khảo sát tập trung vào một số vấn đề sau: Tâm lí của giáoviên khi dạy học bài tập phân loại quản lý vốn từ (thích hay không thích, tạisao); Việc chuẩn bị của giáo viên khi dạy bài tập phân loại, quản lý vốn từ;Ngữ liệu sử dụng để dạy bài tập phân loại quản lý vốn từ; Những thuận lợi vàkhó khăn của GV khi dạy bài tập này; Cuối cùng là đề xuất của GV để nângcao hiệu quả của giờ dạy

- Hình thức khảo sát là trả lời câu hỏi bằng văn bản thông qua sự lựachọn ở bảng trắc nghiêm và thông qua phỏng vấn

Trang 39

Bảng 1: Bảng điều tra thực tế dạy học bài tập phân loại,

quản lý vốn từ ở lớp 4, 5

TT Nội dung điều tra

Mức độ Rất thành

thạo

Thành thạo Khó khăn

107(39.63%)

76(28.15%)

2

Nắm được nội dung và mứuc

độ của từng bài tập phân loại,

quản lý vốn từ

53(19.63%)

129(47.78%)

88(32.59%)

123(45.55%)

98(36.3%)

4

Thiết kể thêm hệ thống bài tập

giúp học sinh luyện tập về

phyân loại, quản lý vốn từ

35(12.96%)

77(28.52%)

158(58.52%)

89(32.96%)

133(49.25%)

Bảng trên cho thấy, 33,22% GVTH được hỏi cho rằng họ rất thành thạotrong việc xác định mục đích của việc dạy vấn đề phân loại và quản lý vốn từcho học sinh lớp 4,5 Có 39,63% cho rằng họ ở mức thành thạo và vẫn còn28,15% cho rằng họ khó khăn, lúng tứng trong vấn đề này

Chỉ có 19,63% GVTH được hỏi cho rằng họ rất thành thạo trong việcxác định nội dung, múc độ của từng bài dạy về phân loại, quản lý vốn từ Có47,78% cho rằng học ở mức độ thành thạo Còn 32,59% cho rằng họ còn lúngtúng trong việc nắm mức độ nội dung của bài tập

Trang 40

Chỉ có 18,15% GVTH cho rằng họ rất thành thạo với việc đưa ra biệnpháp hướng dẫn HS lớp 4,5 thực hành làm bài tập phân loại, quản lý vốn từ.

Có 45,55% GV cho rằng họ ở mức độ thành thạo Có 36,3% GV cho ràng họcòn lúng túng trong vấn đề này

Chỉ có 12,96% GVTH cho rằng Họ rất thành thạo trong việc thiết kếbài tập để giúp HS luỵện tập về phân loại, quản lý vốn từ Có 28,52% ở mức

độ thành thạo và có tới 58,52%cho rằng họ còn khó khăn

Chỉ có 22,59% GVTH được hỏi cho rằng họ rất thành thạo trong việc

tổ chức quá trinh kiểm tra đánh giá để xác định mức độ lĩnh hội tri thức củahọc sinh.Có 41,48% cho ràng họ ở mức độ thành thạo.Và vẫn còn 35,93%

GV cho ràng họ còn khó khăn trong vấn đề này

Qua kết quả khảo sát ở trên chúng tôi có những nhận xét sau đây: Nhìn chung, nhiều GV đã nắm được mục đích của bài tập phân loại,quản lý vốn từ cho HS lớp 4,5 Biết sử dụng phối hợp, linh hoạt nhiều phươngpháp dạy học mới nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của HS, biết phốihợp nhiều hình thức dạy học để tổ chức các hoạt động để HS tự tin hơn, bộc

lộ hết năng lực của bản thân Một số GV đã biết vận dụng linh hoạt cácphương tiện dạy học để giúp HS dễ dàng tiếp cận với vấn đề phân loại, quản

lý vốn từ Một số GV đã tự thiết kế thêm hệ thống các bài tập nhằm giúp HSluyện tập thành thạo vấn đề này Ngoài ra, một số GV cũng đã chú ý hướngdẫn HS luyện tập trong các giờ học khác của phân môn TV nhằm giúp HSnắm vững tri thức, MRVT

Tuy nhiên, một số GV vẫn lúng túng trong việc xác định phương phápdạy học vì thời lượng dành cho việc dạy học vấn đề nay quá ít,do khi học vấn

đề phân loại, quản lý vốn từ HS không được hướng dẫn qua các giờ lý thuyết

mà đó chỉ là một dạng bài tập của MRVT,để làm được bài tập này phần lớn là

HS phải huy động vốn từ và kiến thức mà các em đã tiếp thu được trong cácmôn học khác để giải quyết bài tập Chính vì thế, trong quá trìng dạy bài tập

Ngày đăng: 19/12/2013, 15:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Trí (2009), Một số vấn đề dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp ở tiểu học, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp ở tiểu học
Tác giả: Nguyễn Trí
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
2. Lê Phương Nga, Lê A, Đặng Kim Nga, Đỗ Xuân Thảo (2009), Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học I, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học I
Tác giả: Lê Phương Nga, Lê A, Đặng Kim Nga, Đỗ Xuân Thảo
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2009
3. Lê Phương Nga, Lê A, Đặng Kim Nga, Đỗ Xuân Thảo (2009), Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học II, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học II
Tác giả: Lê Phương Nga, Lê A, Đặng Kim Nga, Đỗ Xuân Thảo
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2009
4. Lê Phương Nga, Nguyễn Trí (2008), Giáo trình phương pháp dạy học Tiếng Việt 2,NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phương pháp dạy học Tiếng Việt 2
Tác giả: Lê Phương Nga, Nguyễn Trí
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2008
5. Nguyễn Thiện Giáp (2008), Giáo trình ngôn ngữ học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2008
6. Lê Thị Thanh Bình, Chu Thị Hà Thanh (2002), Quan điểm giao tiếp trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu Học, Tạp chí Giáo dục, số 41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Quan điểm giao tiếp trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu Học
Tác giả: Lê Thị Thanh Bình, Chu Thị Hà Thanh
Năm: 2002
7. Phan Thiều, Lê Hữu Tỉnh (2002), Dạy học Từ ngữ ở Tiểu học, NXB Giáo dục. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học Từ ngữ ở Tiểu học
Tác giả: Phan Thiều, Lê Hữu Tỉnh
Nhà XB: NXB Giáo dục. Hà Nội
Năm: 2002
8. Lê Phương Nga (2001), Dạy học ngữ pháp ở tiểu học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học ngữ pháp ở tiểu học
Tác giả: Lê Phương Nga
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
9. Lê Phương Nga, Nguyễn Trí (1999), Phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học
Tác giả: Lê Phương Nga, Nguyễn Trí
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 1999
10. Lê Thị Minh Nguyệt (2006), Một số nội dung dạy học cấu tạo từ theo định hướng giao tiếp, Khoa học Giáo dục, số 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nội dung dạy học cấu tạo từ theo định hướng giao tiếp
Tác giả: Lê Thị Minh Nguyệt
Năm: 2006
11. Lê Thị Minh Nguyệt (2006), Dạy học tiếng Việt theo định hướng giao tiếp, Tạp chí Giáo dục, số 151 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học tiếng Việt theo định hướng giao tiếp
Tác giả: Lê Thị Minh Nguyệt
Năm: 2006
12. Nguyễn Quang Ninh (1998), Một số vấn đề dạy ngôn bản nói và viết ở tiểu học theo định hướng giao tiếp. Sách bồi dưỡng thường xuyên chu kì 1997- 2000 cho giáo viên tiểu học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề dạy ngôn bản nói và viết ở tiểu học theo định hướng giao tiếp
Tác giả: Nguyễn Quang Ninh
Năm: 1998
13. Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên) (2000), Bộ sách giáo khoa, Sách giáo viên Tiếng Việt lớp 4,5, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ sách giáo khoa, Sách giáo viên Tiếng Việt lớp 4,5
Tác giả: Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
15. Nguyễn Thùy Dung (2009), Thiết kế tài liệu dạy học luyện từ cho giờ học tự chọn ở Tiểu học, Luận văn Thạc sĩ, khoa Tiểu học, Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế tài liệu dạy học luyện từ cho giờ học tự chọn ở Tiểu học
Tác giả: Nguyễn Thùy Dung
Năm: 2009
16. Lê Phương Nga (2009), Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt ở Tiểu học. NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt ở Tiểu học
Tác giả: Lê Phương Nga
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2009
17. Bùi Minh Toán (1999), Từ trong hoạt động giao tiếp Tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ trong hoạt động giao tiếp Tiếng Việt
Tác giả: Bùi Minh Toán
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
18. Đỗ Hữu Châu (2007), Giáo trình từ vựng học Tiếng Việt, NXB Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình từ vựng học Tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2007
19. Nguyễn Thiện Giáp (2009), Từ vựng học Tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học Tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2009
20. Lê A, Nguyễn Quang Ninh, Bùi Minh Toán (1997), Phương pháp dạy học Tiếng Việt), NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt)
Tác giả: Lê A, Nguyễn Quang Ninh, Bùi Minh Toán
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
21. Đỗ Hữu Châu (2002), Đại cương ngôn ngữ học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Bảng điều tra thực tế dạy học bài tập phân loại,  quản lý vốn từ ở lớp 4, 5 - Một số biện pháp dạy bài tập phân loại, quản lý vốn từ theo quan điểm giao tiếp cho học sinh lớp 4,5 luận văn tốt nghiệp đại học
Bảng 1 Bảng điều tra thực tế dạy học bài tập phân loại, quản lý vốn từ ở lớp 4, 5 (Trang 37)
Bảng 2: Các lớp thử nghiệm và đối chứng - Một số biện pháp dạy bài tập phân loại, quản lý vốn từ theo quan điểm giao tiếp cho học sinh lớp 4,5 luận văn tốt nghiệp đại học
Bảng 2 Các lớp thử nghiệm và đối chứng (Trang 92)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w