Đó là việc hớng dẫn học sinh từng bớcnhận diện, làm quen, hiểu biết và sáng tạo đợc các sản phẩm thẩm mĩ… Với Vớitác phẩm văn chơng, bồi dỡng năng lực cảm thụ chính là nhằm giúp các emnh
Trang 1Mở đầu1.Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Giáo dục tiểu học là bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân, cơ
sở ban đầu hết sức quan trọng, đặt nền móng cho sự phát triển toàn diện conngời, đặt nền tảng cho giáo dục phổ thông Mục tiêu giáo dục tiểu học hiệnnay là hình thành cho học sinh những t tởng, tình cảm, trí tuệ, thể chất và các
kĩ năng cơ bản mang tính đúng đắn và lâu dài để các em học tiếp Trung họccơ sở Hiện nay, đất nớc ta đang bớc vào thời kì mới, chất lợng giáo dục là vấn
đề số một trong nội dung công tác của ngành giáo dục
Để đáp ứng nhu cầu hiện nay của xã hội, cần đến nhân tài, những ngời
có trí tuệ sắc bén, có bàn tay vàng, có kĩ năng đặc biệt, việc phát hiện và bồidỡng nhân tài là việc làm thật sự cần thiết
ở tiểu học, việc bồi dỡng học sinh là trách nhiệm của giáo viên và nhàtrờng Trong hệ thống các môn học ở tiểu học thì môn Tiếng Việt là môn họcrất quan trọng, đợc coi là môn học công cụ để học tốt các môn học khác MônTiếng Việt gồm nhiều phân môn, trong đó phần cảm thụ văn học là phầnnhằm phát triển t duy cho học sinh, nhằm bồi dỡng để các em có thể trở thànhhọc sinh giỏi môn Tiếng Việt
Khi cảm thụ đợc tác phẩm văn chơng, con ngời không chỉ đợc thức tỉnh
về mặt nhận thức mà còn rung động về tình cảm Từ đó, con ngời sẽ nảy nởnhững ớc mơ tốt đẹp, khơi dậy năng lực hành động, cũng nh đợc bồi dỡng vềtâm hồn
Bồi dỡng năng lực cảm thụ văn chơng cho học sinh nhằm hớng tới việckhám phá nghệ thuật của tác phẩm Đó là việc hớng dẫn học sinh từng bớcnhận diện, làm quen, hiểu biết và sáng tạo đợc các sản phẩm thẩm mĩ… Với Vớitác phẩm văn chơng, bồi dỡng năng lực cảm thụ chính là nhằm giúp các emnhận biết nhanh nhạy và chính xác các tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm Giúphọc sinh xác định đúng nội dung chính của tác phẩm, hình thành một số kĩnăng sơ giản trong phân tích, đánh giá nội dung và nghệ thuật của tác phẩm
Từ đó sẽ hình thành và phát triển tình cảm, tâm hồn, nhân cách cho các em.Giúp các em cảm nhận đợc cái hay, cái đẹp trong văn chơng và trong cuộcsống… Với, môn Tiếng Việt sẽ dần dần xây dựng đợc những tâm hồn, nhân cáchtheo mục tiêu giáo dục đề ra trong chiến lợc phát triển con ngời
Trang 21.2 Vấn đề bồi dỡng năng lực cảm thụ văn chơng cho học sinh lớp 4;5
là một vấn đề khó, cha đợc nhiều công trình khoa học nghiên cứu Đây là vấn
đề phức tạp vì học sinh tiểu học t duy trừu tợng đang đợc hình thành và pháttriển, các em tiếp nhận vấn đề này tơng đối vất vả Mà ở tiểu học lại cha cóphân môn học riêng cho cảm thụ văn chơng, chủ yếu giáo viên phải bồi dỡnglồng ghép thông qua các phân môn của môn Tiếng Việt nh Tập đọc, Kểchuyện, Tập làm văn… VớiKhông những thế, cảm thụ văn chơng cũng đợc đánhgiá là một vấn đề khó đối với giáo viên
Thực tế cho thấy, khả năng cảm thụ văn chơng của giáo viên và họcsinh còn nhiều hạn chế Học sinh không tìm đợc những từ “chìa khoá”, những
từ cốt lõi, ẩn chứa nội dung, những dấu hiệu mang tính nghệ thuật của vănbản Học sinh cha phát hiện đợc, cha hiểu hết đợc cái hay, cái đẹp của từ, ngữ,
ý thơ, câu văn… Với trong một văn bản cụ thể Nếu có cảm nhận đợc thì học sinhdiễn đạt ý còn rờm rà hoặc cộc lốc cha thể hiện hết nội dung cảm nhận Đóchính là những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến năng lực cảm thụ văn chơng củahọc sinh còn nhiều hạn chế
Chính vì vậy, chúng tôi cho rằng, việc nghiên cứu để tìm ra những biệnpháp hữu hiệu nhằm bồi dỡng năng lực cảm thụ văn chơng cho học sinh ở bậctiểu học là một việc làm thiết thực, cấp bách, góp phần thực hiện đổi mới nộidung, phơng pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Cách mạng tháng Tám thành công, đất nớc giành đợc độc lập, việc dạyCTVC ở nhà trờng tiểu học đã đợc quan tâm thông qua việc dạy tập đọc Trớcnhững năm chín mơi của thế kỉ XX, nhóm tác giả Trịnh Mạnh, Đặng Anh,Nguyễn Đức Bảo đã đặt vấn đề nghiên cứu dạy CTVC cùng với việc dạy đọchiểu và đọc diễn cảm Tuy nhiên, trong những năm đầu, lí luận về dạy đọchiểu cũng nh lí luận về dạy CTVC mới đợc đặt ra nh một vấn đề độc lập cần
đợc nghiên cứu, tiêu biểu là các tác giả: Hoàng Hoà Bình [3], Nguyễn ThịHạnh [7, 8], Phan Trọng Luận [15], Trần Mạnh Hởng [11], Đinh Trọng Lạc[12,13]
Các công trình nghiên cứu trên đây đã có nhiều ý kiến sâu sắc và đã
đóng góp rất lớn vào vấn đề bồi dỡng năng lực CTVC cho HS Nhóm tác giả
Trang 3Tạ Đức Hiền, Nguyễn Việt Nga, Phạm Đức Minh với Cảm thụ Văn tiểu học“
4, Cảm thụ Văn tiểu học 5” dựa vào các văn bản bài đọc Tập đọc ở lớp 4,5 để
gợi ý hớng dẫn theo một hệ thống câu hỏi, giúp các em đọc hiểu bài đọc Đốivới những bài văn, bài thơ hay thì có thêm phần “nêu cảm nhận” hoặc “nêucảm nghĩ” Đặc biệt một số công trình đã đợc đầu t nghiên cứu trong thời giandài và có tính bao trùm toàn bộ vấn đề CTVC ở Tiểu học nh các tác giả Lê Ph-
ơng Nga [20], Phan Trọng Luận [15], Đinh Trọng Lạc [12]
Tuy nhiên, theo chúng tôi, việc bồi dỡng năng lực cảm thụ các tác phẩmvăn chơng mà các tác giả đa ra cha cụ thể, còn nặng về mặt lí thuyết, kết quảcủa việc cảm thụ tác phẩm văn chơng phụ thuộc nhiều vào chủ quan của tácgiả (cảm thụ của ngời lớn)
Trong đề tài nghiên cứu này, chúng tôi muốn nhằm tích cực hoá hoạt
động nhận thức của HS, giúp HS, GV cảm thụ các tác phẩm văn chơng trongchơng trình đồng thời biết thể hiện kết quả cảm thụ đợc bằng các văn bản cụthể (văn bản lời, văn bản viết ), góp phần nâng cao chất lợng dạy học mônTiếng Việt ở trờng tiểu học, làm tiền đề cho việc học tốt môn Văn- Tiếng Việt
ở các bậc học tiếp theo
3 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số biện pháp bồi dỡng năng lực cảm thụ văn chơng chohọc sinh lớp 4, 5 nhằm nâng cao năng lực CTVC cho HS, góp phần giải quyếtnhững khó khăn vớng mắc của giáo viên và học sinh trong quá trình rèn luyện
kĩ năng cảm thụ văn chơng
4 Khách thể và đối tợng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình bồi dỡng năng lực cảm thụ văn chơng cho học sinh lớp 4, 5
4.2 Đối tợng nghiên cứu
Biện pháp bồi dỡng năng lực CTVC cho cho học sinh lớp 4, 5
5 Giả thuyết khoa học
Chúng tôi cho rằng: Nếu trong quá trình rèn kĩ năng cảm thụ văn chơngcho học sinh thông qua phân môn Tập đọc, giáo viên đa ra đợc các biện phápphù hợp thì hiệu quả của công tác bồi dỡng năng lực cảm thụ văn chơng cho
HS tiểu học sẽ đợc nâng lên
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
Khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi giải quyết các nhiệm vụ cơ bản sau đây:
Trang 46.1 Nghiên cứu các vấn đề lí thuyết về cảm thụ văn chơng, cơ sở lí luận
về bồi dỡng năng lực cảm thụ văn chơng cho học sinh tiểu học
6.2 Nghiên cứu về nội dung, chơng trình SGK phân môn Tập đọc lớp4;5 và thực trạng năng lực cảm thụ văn chơng của học sinh ở lớp 4,5
6.3 Đề xuất một số biện pháp bồi dỡng năng lực cảm thụ văn chơngcho học sinh lớp 4,5
6.4 Dạy thực nghiệm và đánh giá kết quả của những đề xuất trên
8 Phơng pháp nghiên cứu
- Nhóm các phơng pháp nghiên cứu lí luận:
Gồm các phơng pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, hệ thống hoá, tổngkết các quan điểm khoa học trong các tài liêu có liên quan để đề ra giả thuyếtkhoa học của luận văn
- Nhóm các phơng pháp nghiên cứu thực tiễn nhằm điều tra thực trạngdạy bồi dỡng năng lực cảm thụ văn chơng cho học sinh để phát hiện nhữngvấn đề cần nghiên cứu, tìm ra các giải pháp
- Nhóm các phơng pháp thống kê nhằm xử lí kết quả điều tra, kết quảthực nghiệm
9 Những đóng góp mới của đề tài
- Hệ thống hoá những vấn đề lí luận về cảm thụ văn chơng, bồi dỡngnăng lực cảm thụ văn chơng cho học sinh trong quá trình dạy học phân mônTập đọc ở trờng tiểu học
- Điều tra, khảo sát, phân tích làm sáng tỏ thực trạng dạy bồi dỡng nănglực cảm thụ văn chơng của giáo viên, chất lợng cảm thụ văn chơng của họcsinh ở trờng tiểu học, nguyên nhân cơ bản của thực trạng
- Tiếp thu những thành tựu đổi mới phơng pháp dạy học hiện đại, luận văn đã đề xuất các biện pháp bồi dỡng năng lực cảm thụ văn chơng cho học
Trang 5sinh nhằm tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh, góp phần nâng cao chất lợng dạy học môn Tiếng Việt ở trờng tiểu học.
10 Cấu trúc của đề tài
Ngoài các phần Mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm
Trang 6Bàn về vấn đề CTVC, có rất nhiều ý kiến tranh luận, có ý kiến chorằng: CTVC là một đối tợng “phi phơng pháp luận” [16- 306] Nh thế, nghĩa làchúng ta không nghiên cứu đợc CTVC vì tính chất “thiên biến vạn hoá” và sự
lệ thuộc của nó vào những thiên kiến chủ quan của ngời đọc
Trong Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn
Khắc Phi đồng chủ biên chỉ giải thích các thuật ngữ: Tiếp nhận văn học, thởng
thức văn học, phê bình văn học [6] mà không có thuật ngữ cảm thụ văn học
( hay cảm thụ văn chơng) Nh vậy có thể suy ra rằng, CTVC không đợc coi làmột thuật ngữ, không đợc coi là một khái niệm mà CTVC đợc coi là một hiệntợng bao trùm tất cả ba khái niệm trên
Cũng có ý kiến đề nghị hiểu CTVC đồng nhất với tiếp nhận văn chơng theo tinh thần thiết thực và đơn giản hơn: Nói một cách đơn giản, CTVC là“
quá trình tiếp nhận, hiểu, cảm đợc văn chơng, tính hình tợng của văn chơng,
đặc trng ngôn ngữ nghệ thuật, đặc trng phản ánh nghệ thuật của văn
ch-ơng”[18- 131].
Tác phẩm văn học đợc viết ra là để cho ngời đọc đọc, thởng thức, cảm
nhận, suy ngẫm- nhờ đó mà ngời đọc có thêm nhận thức, nâng cao năng lực tiếp nhận, có đời sống tâm hồn phong phú Ngời ta gọi tất cả các hoạt động nói
trên là tiếp nhận để nhấn mạnh mối quan hệ giữa tiếp nhận của ngời đọc với
thông điệp nghệ thuật do tác giả gửi gắm vào tác phẩm Nhng chúng ta cũng
hiểu thêm rằng: Không phải mọi sự đọc đều là tiếp nhận văn học Đọc để tìm
các dữ kiện ngôn ngữ, tâm lí, dân tộc học, dấu vết của thái độ chính trị… Vớiđềuchỉ là nghiên cứu chứ không phải là tiếp nhận văn học Tiếp nhận đòi hỏi ngời
đọc phải sống với tác phẩm bằng toàn bộ tâm hồn để cảm nhận cái thông điệpthẩm mĩ mà tác giả gửi đến cho ngời đọc tác phẩm văn học
Đọc văn học trớc hết đòi hỏi ngời đọc phải hiểu đợc ngôn từ, chữ nghĩa,
biện pháp nghệ thuật, cảm nhận đợc các chi tiết, tình tiết trong tác phẩm, nhận
ra đợc các nhân vật và tính cách trong sự toàn vẹn của hình tợng nghệ thuật
Thứ hai là ngời đọc tiếp xúc đợc với ý đồ sáng tạo của tác giả, thâm nhập vào
thế giới nghệ thuật nh là sự kết tinh sâu sắc của t tởng và tình cảm tác giả Thứ
ba là liên hệ hình tợng với các văn cảnh đời sống và kinh nghiệm cá nhân để
thể nghiệm, đánh giá ý nghĩa lớn, nhỏ, sâu, nông của tác phẩm Cuối cùng,
liên hệ tác phẩm với truyền thống văn học , bối cảnh văn hoá để đánh giá vị trí
Trang 7tác phẩm trong đời sống nghệ thuật Điều này đòi hỏi phải có trình độ cao.Tuỳ trình độ và điều kiện mà ngời đọc vơn tới các mức độ tiếp nhận
Các hoạt động tiếp nhận này chịu sự chi phối của những qui luật:
Trớc hết là tính tích cực chủ động của ngời tiếp nhận Tác phẩm văn
học tuy là miêu tả cuộc sống cụ thể, toàn vẹn, sinh động song vẫn còn cónhững điều bí ẩn mà tác giả gửi vào trong đó Ngời đọc phải quan sát, tri giác
để làm nổi lên những nét mờ, làm rõ những chỗ bị bỏ lửng, nhận ra mối liên
hệ của những phần xa nhau, ý thức đợc sự chi phối, tác động của chỉnh thể đốivới các bộ phận Tính chất không đầy đủ ấy đòi hỏi ngời đọc phải xác định rõ,
cụ thể hoá bằng tri thức bổ sung về tác giả và ý đồ sáng tác, tự đối chiếu vớivăn bản khác, kinh nghiệm sống… Với để tìm đến mạch t duy, cảm xúc, biểuhiện ở đây không chỉ có tác phẩm tác động tới ngời đọc, mà còn có việc tác
động, tìm tòi của ngời đọc đối với văn bản
Thứ hai là kết quả tìm tòi của ngời đọc có thể dẫn đến những cách hiểu
khác nhau về một tác phẩm hay một đoạn trích, do mỗi thời đại, mỗi con ngờitìm đến những khía cạnh khác nhau Chẳng hạn khi đọc truyện Tấm Cám thì
đa số HS đều ca ngợi cô Tấm với những phẩm chất tốt đẹp dịu dàng, chịu
th-ơng chịu khó, giàu lòng nhân ái… Với, nhng cũng có HS ( có thể do ảnh hởng suynghĩ của ngời lớn) mà không đồng ý với các ý kiến trên Mà cho rằng cô Tấm
là một cô gái ác độc với cách trả thù cô Cám ở cuối truyện Tấm Cám quả là
có nhiều khía cạnh nội dung phong phú để cho ngời ta tiếp nhận khác nhautuỳ theo cách nhấn mạnh, góc độ tiếp nhận Đó chính là điều làm nên tính đanghĩa của tác phẩm ở đây, ngời đọc không chỉ có thể đọc ra cái ý mà tác giảmuốn gửi gắm, mà còn có thể đọc ra cái nghĩa của tác phẩm nh nó bộc lộ racho mình
Nhng mặt khác, không phải mọi cách hiểu về tác phẩm đều đúng.Những cách hiểu bóp méo, xuyên tạc, thờng là kết quả của cách đọc cắt xén,gán ghép, qui chụp, thiếu cơ sở khách quan trong tác phẩm, đều không đúng.Mặc dù sự hiểu sai, qui chụp, suy cho cùng cũng là một cách tiếp nhận, nhng
đứng về mặt văn hoá xã hội mà xét, sự hiểu sai sẽ làm nhiễu loạn mối quan hệ
tự nhiên giữa tác phẩm và ngời đọc Những cách hiểu đúng đều có cơ sở tronglôgíc của hình tợng và ngôn ngữ nghệ thuật của tác phẩm Những cách hiểu đógiúp cho mối liên hệ giữa nghệ thuật và ngời đọc thêm bền chặt và phát triển
Trang 8Thứ ba, việc tiếp nhận văn học phụ thuộc rất nhiều vào năng lực, thị
hiếu của ngời đọc Tuỳ theo lứa tuổi già hay trẻ, trình độ học vấn cao haythấp, kinh nghiệm nhiều hay ít mà kết quả tiếp nhận sẽ khác nhau Ngoài ra,
sự tiếp nhận còn bị chi phối bởi xu hớng tiếp nhận của thời đại
Cuối cùng, ngời đọc chỉ thực sự làm tăng vốn văn hoá của mình khi đọc
tác phẩm ngời khác mà ý thức đợc là mình đang giao tiếp với ý thức ngờikhác, tôn trọng ngời ấy, tìm cách giải mã để hiểu ngôn ngữ, tiếng nói của tácphẩm Tác phẩm không chỉ nói với ngời đọc bằng ngôn ngữ tự nhiên, mà cònnói bằng hình tợng mang những ý nghĩa, ý vị mà tác giả gửi gắm
Điều này đặc biệt có ý nghĩa khi đọc tác phẩm của các dân tộc khác,thuộc các nền văn hoá khác, hoặc đọc tác phẩm của dân tộc mình nhng thuộcgiai đoạn văn hoá quá khứ, hoặc đọc các tác phẩm mới, những tác phẩm đanghứa hẹn với ngời đọc những cách tiếp cận mới mẻ đối với cuộc sống Mỗi mộttác phẩm của ngời viết là một thế giới trong đó, mà mỗi yếu tố của nó chỉ đặttrong hệ thống của thế giới ấy thì mới “giải mã” đợc Hiểu đợc thế giới ấy, ýthức ngời đọc sẽ giàu có hơn, sâu sắc hơn Ngời đọc có thể không tán thànhvới tác giả, nhng trớc hết cần hiểu đúng tác giả Chỉ có nh thế ta mới có thểgiao tiếp đối thoại đợc với nhiều tiếng nói nghệ thuật, nhiều nền văn học dântộc khác nhau Hiểu rõ yêu cầu và các qui luật tiếp nhận, ngời đọc hiện đại sẽ
tự giác làm chủ kho tàng văn học dân tộc và văn học thế giới, góp phần thúc
đẩy cho nó phát triển và giàu có thêm
Các ý kiến bàn về CTVC, cũng nh về các khái niệm: Tiếp nhận, thởng
thức, phê bình văn chơng là hết sức đa dạng và vô cùng phong phú đến mức
khó có thể khái quát thậm chí trong phạm vi một cuốn sách
Tuy nhiên, có thể sơ lợc mà nói rằng, dù hiểu theo cách nào thì CTVC
cũng bao gồm ít nhất là khả năng nhận thức và rung cảm trớc nội dung, nghệ thuật của tác phẩm văn chơng; rõ ràng các hoạt động tâm lí đó mang tính chủ
quan và cảm tính.
1.1.1.2 Đặc điểm của hoạt động CTVC
a CTVC trớc hết là hoạt động nhận thức hình tợng văn chơng
Nhận thức hình tợng văn chơng bắt đầu từ việc đọc một cách trọn vẹntác phẩm văn chơng Ngời đọc ( hoặc ngời nghe) phải có khả năng thông qualớp vỏ ngôn từ mà hiểu đợc nội dung tác phẩm, hình dung đợc những con ng-
ời, những cuộc sống, tâm trạng, tính cách, số phận… Vớitrong tác phẩm; đồng
Trang 9thời nắm bắt đợc các tình tiết, diễn biến của của tác phẩm tự sự, hay cảm xúcchủ đạo của tác phẩm trữ tình… VớiTừ đó rút ra đợc đại ý (đối với đoạn văn), t t-ởng chủ đề (đối với tác phẩm hoàn chỉnh) và phát hiện đợc ý đồ nghệ thuậtcủa tác giả.
Thông qua nhận thức nội dung, ngời đọc còn phát hiện ra mối liên hệ giữatác phẩm với đời sống, rút ra đợc bài học ứng xử cho bản thân và cho xã hội
CTVC cũng là hoạt động nhận thức đối với phơng diện nghệ thuật củatác phẩm Ngời đọc nhận thức đợc vẻ đẹp của hình tợng ngôn từ, phát hiện ph-
ơng pháp sáng tác, tài năng và sự độc đáo trong phong cách của nhà văn Từ
đó, trình độ thẩm mĩ cùng với tâm hồn và nhân cách ngời đọc đợc mở rộng vànâng cao hơn
Đối với các tác phẩm thơ, nhận thức nội dung và nghệ thuật chính làphát hiện đợc cảm xúc chủ đạo, sự độc đáo của cấu tứ; tìm và bình giá đợc ýnghĩa sâu sắc của nội dung, phát hiện vẻ đẹp kì diệu của “nhãn tự”, “thần cú”,khai thác và đồng cảm sâu sắc với những tâm sự của tác giả, phát hiện chínhxác phong cách riêng và tài năng độc đáo của nhà thơ
Đối với tác phẩm văn xuôi nh truyện, kí, kịch bản văn học thì nhận thứctác phẩm chính là phân tích, bình giá đợc toàn bộ tác phẩm trong cuộc sốngsinh động của nó, cũng nh nhận thấy tính chất đặc thù của các yếu tố cấuthành tác phẩm nh: nhân vật, tính cách, cốt truyện, thời gian, không gian nghệthuật
Nói chung, nhận thức tác phẩm văn chơng chính là nắm bắt đợc các nétchính về nội dung và nghệ thuật tác phẩm, thu thập và xử lí các thông tin liênquan đến tác phẩm dựa trên những quan niệm nghệ thuật nhất định, nhằm pháthiện ra những đặc điểm riêng biệt của tác phẩm về mặt nội dung và hình thứcnghệ thuật Trong CTVC, nhận thức là phơng diện đầu tiên và quan trọngnhất
b CTVC còn là sự rung cảm trớc vẻ đẹp tinh tế của hình tợng văn chơng
Sự rung cảm xét cho cùng chính là hoạt động “nhận thức một cách đặcbiệt”, là sự thể nghiệm của ngời đọc đối với nội dung tác phẩm, nhằm phát hiện vàthởng thức những vẻ đẹp tinh tế, kín đáo, sâu sắc của hình tợng văn chơng
Khác với nhận thức lí tính đơn thuần, CTVC luôn là sự rung cảm trớccái đẹp, trớc những gì tinh tuý và tế nhị nhất của hình tợng văn chơng CTVC
Trang 10chống lại những gì khô khan, cằn cỗi, giản đơn, nông cạn, nó đòi hỏi phải cómột sự tinh tế, sâu sắc, quảng bá và uyên thâm.
Hình tợng văn chơng không phải chỉ chứa đựng những tri thức, kinhnghiệm thuộc một vài lĩnh vực khoa học hay đời thờng mà là tổng thể nhứngtri thức, kinh nghiệm liên quan đến mọi lĩnh vực, đợc thăng hoa một cách kìdiệu, có sức hấp dẫn và có thần lực luôn lôi cuốn tâm hồn ngời đọc Do đó,CTVC còn là sự rung động của tâm hồn và nhân cách ngời đọc trớc tính thẩm
mĩ và tổng hoà của hình tợng trong tác phẩm
c CTVC thiên về chủ quan và cảm tính
Tính chủ quan trong CTVC là đặc tính cho phép ngơig đọc có thể tuỳ ýyêu thích tác phẩm này hay tác phẩm khác; tán thành hay phản đối t tởng nghệthuật của tác giả tuỳ thuộc vào sở thích riêng, vốn tri thức, vốn sống, vốn kinhnghiệm riêng của mỗi ngời Thậm chí họ còn có thể nhận thức, rung cảm theomột cách khác, không hoàn toàn giống với ý đồ nhà văn Nói chung, CTVCtuỳ thuộc rất nhiều vào chủ quan của ngời đọc
CTVC cũng là hoạt động thiên về cảm tính Nếu các ngành khoa họcnói chung đòi hỏi phải dùng t duy lôgíc để khảo cứu, phân tích, thống kê mộtcách đầy đủ và chính xác, thì CTVC đòi hỏi phải có các yếu tố cảm nhận Ng-
ời đọc, bằng vốn tri thức và kinh nghiệm, cùng với năng khiếu của mình, cóthể lĩnh hội đợc những khía cạnh khó nhận thấy nhất, ẩn giấu sau các chi tiếtbình thờng
Cả hai đặc điểm chủ quan và cảm tính đã làm cho cảm thụ phân biệt vớihoạt động nghiên cứu – phê bình văn chơng CTVC không đòi hỏi truynguyên nguồn gốc tác phẩm, thống kê, khảo cứu tỉ mỉ và chính xác nh nghiêncứu- phê bình Trái lại, chỉ bằng những cảm nhận dựa theo kinh nghiệm và sựnhạy cảm, nó có thể đa ra từ đầu những phát hiện nhiều khi sâu sắc, mới mẻ
và độc đáo về hình tợng tác phẩm Nghiên cứu – phê bình văn chơng tuy vẫnchấp nhận tính chủ quan và cảm tính, nhng nói chung, đó là một hoạt độngcủa t duy khoa học; còn CTVC cho phép chấp nhận tính chủ quan, cảm tính ởmức độ cao hơn Về việc này có thể nói, CTVC là hoạt động gắn liền với trựcgiác Đó là cảm nhận mang tính phát hiện
Tuy nhiên, CTVC vẫn có quan hệ mật thiết với nghiên cứu – phê bìnhvăn chơng Nó cần có mặt ở khâu đầu tiên, khâu kiểm định cuối cùng và ở cảcác khâu trung tâm của toàn bộ quá trình nghiên cứu tác phẩm Nó có thể đi
Trang 11trớc, đi sau hoặc diễn ra đồng thời với quá trình nghiên cứu – phê bình ở mộttrình độ cao, nhà phê bình có thể để lại những dấu ấn đậm nét, thậm chí thểhiện rõ nét thiên kiến chủ quan của mình Lúc ấy, cảm thụ và nghiên cứu trởnên gắn bó mật thiết nh một hoạt động duy nhất, nhằm khám phá bản chất củatác phẩm văn chơng
d CTVC là hoạt động mang tính chủ động, sáng tạo
Ngời đọc không phải chỉ biết tiếp nhận tác phẩm một chiều thụ động
mà trái lại, bao giờ họ cũng chủ động, sáng tạo trong nhận thức và rung cảm.Tính chủ động và sáng tạo thể hiện ở chỗ: ngời đọc không bị lệ thuộc vàodụng ý của tác giả mà có quyền nhận thức và rung cảm theo cách riêng, tuỳthuộc vào hoàn cảnh sống, vào vốn năng lực của họ Ngời đọc có thể chủ độngtìm kiếm trong tác phẩm những gì đồng cảm, giúp ích đợc cho họ trong cuộcsống và thậm chí còn có thể phát hiện ra những u điểm, nhợc điểm của tác giả
để khen hoặc chê
Bản thân việc đọc – hiểu tác phẩm văn chơng là sự “đánh thức” cuộcsống ở trong tác phẩm theo khái niệm riêng của mỗi ngời đọc, gắn những giátrị tinh thần trong tác phẩm với cuộc sống bên ngoài và với khái niệm sốngcủa chính họ “Một sự tiếp nhận văn học đích thực đồng nghĩa với việc làmsống dậy khách thể tinh thần của tác phẩm, biến nó thành năng lực t duy, cảmnhận và xúc cảm của chính ngời tiếp nhận Chừng nào ngời ta cha nhìn ra cáigì ẩn chứa bên trong cái vỏ “vật chất” của hình tợng văn học hoặc chỉ biếtkhai thác ở hình tợng các bằng chứng về dân tộc học, lịch sử, kinh tế học thìchừng ấy sự tiếp nhận cha xảy ra hoặc xảy ra ở một trình độ thấp, cha thực sựtạo đợc môi trờng sống trong tác phẩm” [21- 161]
Tính chủ động, sáng tạo của CTVC khiến cho ngời đọc trong tởng tợngcủa tác giả không đồng nhất, thậm chí đôi khi còn trái ngợc với ngời đọc trongthực tế và có những phát hiện của họ đôi khi làm cho chính tác giả phải ngạcnhiên
1.1.1.3 Đặc trng của hoạt động cảm thụ văn chơng trong nhà trờng
Trong nhà trờng, khái niệm CTVC cần đợc giới hạn cách hiểu trong ýnghĩa s phạm Đó lá cách cảm thụ mang tính phổ cập, phù hợp nhiều đối t ợngchứ không riêng gì với những cá nhân năng khiếu Mặt khác, đây cũng chỉ là
sự cảm thụ bao hàm những đặc điểm cơ bản, dễ nhận thấy nhất và có thể dùngvào việc dạy học đợc Các đặc trng cơ bản đó là:
Trang 12a Tác phẩm đợc dạy học (tức là đợc cảm thụ) trong nhà trờng là những
tác phẩm đã đợc chọn lọc, có giá trị nhân văn rõ rệt, tơng đối ổn định về sự
đánh giá của xã hội, có hình thức nghệ thuật độc đáo nhng không quá khó đốivới học sinh
b Nếp cảm, nếp nghĩ, phơng pháp t duy của tác giả cũng cần phải mang
tính truyền thống, dân tộc và đại chúng… Với, nếp cảm xúc và t duy đó tất nhiênphải có đổi mới nhng không đến mức quá xa lạ với ngời HS bình thờng, khôngmang màu sắc cá tính đến mức quá khó trong hoạt động cảm thụ hoặc gâynhiều tranh cãi
c Tất cả những giá trị nội dung và hình thức của tác phẩm hoặc đoạn
trích đều có xu hớng “định lợng” hoặc “mô phạm hoá”, tức có thể dùng sựphân tích lí tính là chủ yếu trong việc khám phá cái hay, cái đẹp, nhằm tạo
điều kiện thuận lợi tơng đối cho HS trong quá trình nhận thức và vận dụng
d Do tính chất s phạm nên việc cảm thụ trong nhà trờng nói chung là
hoạt động “tái cảm thụ” và “tập cảm thụ” Trong quá trình dạy học, tất nhiênkhông nên bắt buộc HS phải lệ thuộc vào kết quả cảm thụ của những ngời đitrớc, mà trái lại, rất cần phải khuyến khích HS cảm thụ tự do theo suy nghĩ vàtởng tợng của trẻ Tuy vậy, nhà trờng đồng thời lại vẫn có yêu cầu khiến HSkhông cảm thụ sai lạc, tản mạn và tiêu cực Chính vì vậy, tính chất “tái cảmthụ” và “tập cảm thụ” trong nhà trờng là không thể tránh khỏi Đó là sự tấtyếu và cần thiết
Chúng tôi cho rằng, không nên vì coi trọng tính chủ động, sáng tạo của
HS mà đồng nhất hoạt động cảm thụ trong nhà trờng với cảm thụ trong nghiêncứu – phê bình văn chơng hay cảm thụ tự do ngoài xã hội Các hoạt độngcảm thụ ấy có những đặc điểm rất khác nhau
1.1.1.4 Đặc trng của văn bản nghệ thuật- ngữ liệu bồi dỡng năng lực CTVC cho HS tiểu học
Văn bản nghệ thuật có 4 đặc trng, đó là: Tính nhân văn, tính chủ quan,tính biểu trng, hình trợng độc đáo và tính nghệ thuật ngôn từ
a Tính nhân văn thể hiện ở việc nội dung văn bản nghệ thuật chủ yếu
nói về con ngời, t tởng tình cảm của con ngời Dù tác giả miêu tả hiện tợngnào của cuộc sống đi nữa, một cái cây, một cánh rừng, một ngọn núi, mộtdòng sông… Với thì điều mà tác giả muốn tìm hiểu, điều mà làm cho họ phải ngạcnhiên, xúc động và muốn nói lên để ngời khác cùng quan tâm, ngạc nhiên,
Trang 13xúc động nh mình, không phải là bản thân cái hiện tợng đó mà là mối liên hệgiữa chúng với con ngời, ý nghĩa cuộc sống, con ngời mà những hiện tợng đóthể hiện, cách nhìn, sự rung động của con ngời trớc những hiện tợng cụ thể vàtrớc cuộc sống Nh vậy, đích cuối cùng của dạy CTVC không chỉ là cho thấybài văn ghi chép hiện thực gì mà trớc hết phải cho thấy bài văn là kết quả củamột hoạt động tự nhận thức, nơi bộc lộ thái độ của tác giả trớc hiện thực.Nhiều giáo viên, do không nắm chắc đợc đặc trng này, đã dạy cảm thụ văn ch-
ơng nh dạy một bài khoa học thờng thức Những cỏ cây, hoa lá, rừng núi trong bài văn đợc học, phân tích rất kĩ càng, nhng nhân vật, con ngời, lòng yêu
cỏ cây, vạn vật thì lại không đợc đề cập tới
Chẳng hạn, học bài Cây dừa“ ”, cô giáo phân tích kĩ càng thân dừa thếnào, dùng làm gì, lá dừa, quả dừa ra sao… Vớithậm chí cô còn giới thiệu vỏ quảdừa khô có thể làm đồ mĩ nghệ xuất khẩu… Với mà cô không thấy đợc sự gắn bócủa cây dừa với tuổi thơ, hình ảnh thân thuộc, thanh bình – một góc của làngquê Việt Nam đồng thời mở ra trí tởng tợng bay cao, bay xa của tác giả, hình
ảnh quê hơng thể hiện trong sự yêu quí cây dừa Khi dạy bài: Hành trình của“
bầy ong” (TV5 – T1), cô giáo chốt lại ý của bài: Bài thơ cho chúng ta thấy“
những con ong rất chăm chỉ, chịu khó làm ra mật thơm ngon, bổ dỡng để phục vụ con ngời” Còn cái điều cần cảm thụ ở đây mà tác giả muốn gửi gắm
đến ngời đọc là những suy nghĩ của tác giả về cuộc đời lao động cần cù, lặng
lẽ, có ích của con ngời hay những lao động sáng tạo không mệt mỏi của conngời vì mục tiêu chung thì cô giáo lại không đề cập tới
b Tính chủ quan của văn bản nghệ thuật thể hiện ở chỗ tác phẩm là
nơi tác giải bày tỏ thái độ chủ quan của mình, nói lên ớc mơ, khát vọng củamình về thế giới, về cuộc sống Tác phẩm nghệ thuật là đứa con tinh thần củanhà văn, nhà thơ, là sự sáng tạo, là thông điệp mà tác giả gửi đến bạn đọc.Không nắm đợc đặc điểm “chủ quan” trong phản ánh, nhiều khi giáo viên mắcphải sai lầm đáng tiếc trong dạy CTVC, không làm cho HS hiểu đợc đằng saumột văn bản, đằng sau những từ ngữ là một con ngời cụ thể Họ đem đến cho
HS một văn bản hoàn toàn trừu tợng, hoàn toàn đã đợc khách quan hoá, tách
ra khỏi tác giả - ngời sáng tạo ra nó Vì thế, đã không giải thích đợc nhiều
điều và cũng không làm rõ đợc những nội dung thông tin liên cá nhân của văn
bản Ví dụ, khi dạy bài Cây gạo“ ”, có HS đã không đồng ý với với câu Cây“
gạo làm tiêu cho những con đò cập bến và những đứa con về thăm quê mẹ ”
Trang 14Thì giáo viên lúng túng không biết giải thích thế nào vì bản thân cũng khôngnghĩ đến chuyện chính nhà văn Vũ Tú Nam chứ không phải ai khác đã chọncây gạo, bởi không phải chỉ vì cây gạo đẹp, mà quan trọng hơn, cây gạo đãgắn thân thiết với quê hơng của ông, cây gạo đã trở thành một mảnh hồn quê
đối với ông
Không thấy tính chủ quan, không hiểu rằng nhà văn đã nhìn thế giớitheo lợi ích riêng của mình, có giáo viên đã mắc phải sai lầm khi dạy bài:
Sầu riêng
“ ” (TV4-T2) Để diễn tả Sầu riêng thơm cái mùi thơm của mít chín“
quyện với hơng bởi”, cô giáo đã đa đến lớp một quả sầu riêng (chỉ có miền
Nam mới có) để các em HS miền Bắc cha một lần trông thấy và thởng thứcsầu riêng đợc biết mùi thơm của nó Tất nhiên, với những HS lần đầu tiên thấyquả sầu riêng thì mùi trực quan mà quả sầu riêng mang lại không hề giốngchút nào với cách diễn tả chủ quan, mê hồn của nhà văn Mai Văn Tạo về mùithơm quyến rũ đến kì lạ của sầu riêng – cái mùi kết tinh biết bao hơng thơmhấp dẫn của đất trời, mùi say nồng của mít chín và mùi thoảng nhẹ, dịu dàngcủa hơng cau, hơng bởi
Chính tính chủ quan, đặc điểm tình cảm, cảm xúc này của tác phẩmnghệ thuật đòi hỏi khi tiếp nhận văn chơng, HS không chỉ phải hiểu nội dung
sự việc của văn bản mà còn phải nắm nội dung liên cá nhân, các nghĩa hàm
ẩn, giá trị biểu hiện, chất trữ tình cũng nh thái độ, tình cảm, sự đánh giá sựviệc của tác giả, cái làm nên chức năng bộc lộ của văn bản Không chú ý tới
điều này, việc hớng dẫn HS đọc hiểu và cảm thụ các văn bản nghệ thuật sẽgặo nhiều khó khăn
c Tính biểu trng, hình tợng, độc đáo khác thờng của văn bản nghệ
thuật Văn chơng phản ánh cuộc sống bằng hình tợng, nó đi tìm cho mình một
ngôn ngữ riêng, một cách “kí mã” riêng, khác với đời thờng và khác với cácnghệ thuật khác Chính vì vậy, khi tiếp nhận văn chơng, HS phải tiếp nhậnkhác với logíc thông thờng Đó là, năng lực biết nghe đợc, đọc đợc những gì
ẩn chứa dới những dòng chữ hay chính là năng lực giải mã nghệ thuật
Để giải mã văn chơng, phải chú trọng đến cách diễn đạt hàm ẩn, cáchnói biểu trng, tính đa nghĩa, những cách nói hớng đến gây ấn tợng khác vớingôn ngữ đời thờng Nếu chỉ t duy theo lối thông thờng, bám theo nghĩa tờngminh biểu hiện trên câu chữ thì sẽ không đọc - hiểu đợc văn bản và nh thế là
Trang 15không cảm thụ đợc văn bản Chẳng hạn khi đọc những câu thơ trong bài thơ
Mẹ
“Mẹ” ” của Bằng Việt
Con xót lòng mẹ hái trái b
“Mẹ”…Con xót lòng mẹ hái trái b ởi đào Con nhạt miệng có canh tôm nấu khế Khoai nớng, ngô bung ngọt lòng đến thế Mỗi ban mai toả khói ấm trong nhà.”
Có giáo viên và HS băn khoăn, thắc mắc: Tại sao con xót lòng mà mẹ
lại cho ăn bởi, ăn bởi chỉ càng làm xót lòng thêm Hay, khoai n “Mẹ” ớng, ngô bung” thì có gì mà ngọt lòng “Mẹ” ” Phải chăng, họ không thấy đợc rằng: những
dòng thơ đứng cạnh nhau trong một khổ thơ cùng cộng hởng nhau để nói mộtcách vừa hình ảnh cụ thể, vừa khái quát một điều: Ngời mẹ chiến sĩ lúc nàocũng sẵn sàng chăm sóc, lo lắng cho anh thơng binh, sẵn sàng làm tất cảnhững gì khi anh cần, mẹ thơng yêu, chăm sóc anh nh chính con mẹ đẻ ra.Một tình thơng bình thờng mà vĩ đại Tình thơng của bà mẹ chiến sĩ Đâycũng chính là điều mà giáo viên phải giúp HS hiểu và cảm thụ đợc
Hay khi đọc Quả ngọt cuối mùa “Mẹ” ” của Nguyễn Trọng Tạo có câu: Bề “Mẹ”
lo sơng táp, bề phòng chim ăn ” Có HS cho rằng nh thế là không thực tế, vìchim có ăn cam đâu Nh vậy là cha hiểu cách nói của văn chơng, đó chỉ là m-
ợn một hình ảnh để nói cái điều cần nói ẩn chứa đằng sau các từ ngữ đó Ngờigiáo viên phải giúp các em cảm thụ đợc: Để gìn giữ đợc những quả cam cuốimùa vợt qua thời gian, dành phần cho con, cho cháu, ngời mẹ – ngời bà phảibiết bao vất vả, chống lại với bao lực lợng thù địch Sâu sắc hơn, có thể nghĩ
tới sự tàn phá của thời gian “mẹ già nh trái chín cây”, chống chọi với thời gian
để giữ đợc thảo thơm cho con, cho cháu Bà nh “Mẹ” quả ngọt chín rồi, càng thêm tuổi tác càng tơi lòng vàng ”
d Tính nghệ thuật ngôn từ của văn bản nghệ thuật Văn chơng là
nghệ thuật của ngôn từ Nhờ chất liệu ngôn ngữ mà chất nhân văn, tính hìnhtợng, tính cảm xúc và độc đáo của văn chơng có những sắc thái riêng mà cácnghệ thuật khác không có Ngôn ngữ văn chơng phải trau chuốt, cô động, hàmsúc, có tính biểu cảm, tính hình ảnh Nếu không, cái nghĩa, cái lí, cái tình củavăn chơng cũng không có ý nghĩa gì Một tác phẩm có giá trị phải là tác phẩmkết hợp sự hài hoà của nội dung và hình thức, tình ý chứa chan mà lời lẽ phảidạt dào Vì vậy, ngoài việc giải mã cái nghĩa, cái lí, cái tình của văn bản vănchơng còn phải cho HS tiếp nhận đợc vẻ đẹp của ngôn từ, vẻ đẹp của cách nói
Trang 16văn chơng, khả năng phát hiện đợc tín hiệu nghệ thuật và cao hơn nữa là chocác em đánh giá đợc giá trị của các tín hiệu nghệ thuật trong việc biểu đạt nộidung Đây là một việc làm quan trọng của dạy cảm thụ văn chơng ở trờng tiểuhọc
Sự thống nhất giữa nội dung và hình thức không chỉ thể hiện trong toàn
bộ văn bản mà ngay trong từng yếu tố, từng cấp độ của văn bản ở trên tất cảcác bình diện: từ vựng, ngữ nghĩa, ngữ pháp Việc tìm hiểu văn bản nghệ thuậtphải bắt đầu từ việc khám phá văn bản ngôn từ của nó Không có chìa khoá để
mở cánh cửa đi vào cấu trúc ngôn từ của tác phẩm thì chúng ta chỉ có thể đứngngoài ngôi nhà văn chơng
Năng lực có thể chia thành hai loại: năng lực chung và năng lực riêng biệt
- Năng lực chung là năng lực cần thiết cho nhiều lĩnh vực hoạt độngkhác nhau, chẳng hạn những thuộc tính về thể lực, về trí tuệ (quan sát, trí nhớ,
t duy, tởng tợng, ngôn ngữ… Với) là những điều kiện cần thiết để giúp cho nhiềulĩnh vực hoạt động có kết quả
- Năng lực riêng biệt (năng lực chuyên biệt, chuyên môn) là sự thể hiện
độc đáo các phẩm chất riêng biệt, có tính chuyên môn, nhằm đáp ứng yêu cầucủa một lĩnh vực hoạt động chuyên biệt với kết quả cao chẳng hạn: năng lực
Trang 17toán học, năng lực thơ văn, năng lực hội hoạ, năng lực âm nhạc, năng lực thểdục, thể thao… Với
d Mối quan hệ giữa năng lực và tri thức, kĩ năng, kĩ xảo
Cùng với năng lực thì tri thức, kĩ năng, kĩ xảo thích hợp cũng rất cầnthiết cho việc thực hiện có kết quả một hoạt động Có tri thức, kĩ năng, kĩ xảotrong một lĩnh vực nào đó là điều kiện cần thiết để có năng lực trong lĩnh vựcnày Tri thức, kĩ năng, kĩ xảo không đồng nhất với năng lực nhng có quan hệmật thiết với nhau Ngợc lại, năng lực góp phần làm cho tiếp thu tri thức, hìnhthành kĩ năng, kĩ xảo tơng ứng với lĩnh vực của năng lực đó đợc nhanh chóng
và dễ hơn Nh vậy, giữa năng lực và tri thức, kĩ năng, kĩ xảo có sự thống nhấtbiện chứng nhng không đồng nhất Một ngời có năng lực trong một lĩnh vựcnào đấy có nghĩa là đã có tri thức, kĩ năng, kĩ xảo nhất định của năng lực này.Ngợc lại, khi đã có tri thức, kĩ năng, kĩ xảo thuộc một lĩnh vực nào đó thìkhông hẳn sẽ có đợc năng lực về lĩnh vực đó
Năng lực của mỗi ngời dựa trên cơ sở t chất, nhng điều chủ yếu là nănglực hình thành, phát triển và thể hiện trong hoạt động tích cực của con ngời d-
ới sự tác động của rèn luyện, dạy học và giáo dục Cần tiếp cận vấn đề pháttriển năng lực theo cách tiếp cận nhân cách Việc hình thành và phát triển cácphẩm chất nhân cách là phơng tiện có hiệu quả nhất để phát triển năng lực
1.1.1.6 Năng lực cảm thụ văn chơng
a Năng lực cảm thụ văn chơng là gì?
Năng lực CTVC đợc hiểu là khả năng nắm bắt một cách nhanh, nhạy,chính xác các đặc điểm, đặc trng, bản chất của tác phẩm về nội dung và nghệthuật; là khả năng hiểu, rung cảm một cách sâu sắc, tinh tế với những điều tâm
sự thầm kín nhất của tác giả gửi gắm qua hình tợng, là khả năng đánh giá chínhxác và sâu sắc tài năng cũng nh sự độc đáo trong phong cách của tác giả
b Các mức độ của năng lực CTVC
Năng lực CTVC cũng có ba mức độ: năng lực bình thờng, tài năng và thiên tài
- Năng lực cảm thụ bình thờng trong CTVC là năng lực nắm bắt những
đặc điểm chính của nội dung, nghệ thuật tác phẩm
- Tài năng trong CTVC là khả năng nắm bắt nhanh, nhạy, chính xácnhững đặc điểm, bản chất, đặc trng về nội dung, nghệ thuật, phát hiện đợcnhững vẻ đẹp riêng biệt, phong phú của hình tợng, của phong cách tác giả
Trang 18- Thiên tài trong CTVC là sự thăng hoa của tài năng Đây là hiện tợnghiếm thấy và cũng thờng gắn liền với các thiên tài trong các lĩnh vực khác.
c Mối quan hệ giữa năng lực CTVC với tri thức, kĩ năng, kĩ xảo
Năng lực CTVC có liên quan mật thiết đến tri thức, kĩ năng, kĩ xảo,cũng nh với tâm hồn, nhân cách của chủ thể Tri thức, kĩ năng, kĩ xảo là nhữngyếu tố ban đầu, giúp cho việc hình thành năng lực CTVC cũng nh các năng lựckhác Nắm vững tri thức, rèn luyện tốt các kĩ năng cơ bản, hình thành kĩ xảo,thói quen trong CTVC, điều đó đồng nghĩa với quá trình hình thành năng lựcCTVC của mỗi cá nhân
1.1.1.7 Đặc trng của năng lực CTVC lứa tuổi Tiểu học
a Trớc khi đến trờng, HS tiểu học đã có vốn văn học nhất định Đây
không phải là lần đầu tiên, các em đợc tiếp xúc với hình tợng văn học Ngay từnhỏ, HS đã đợc nghe bố, mẹ, ông, bà kể chuyện cổ tích, truyện kể nhi đồng,nghe và thuộc các bài đồng dao, một số bài ca dao, dân ca Dù cha ý thức rõrệt, nhng mỗi em có thể đã tiếp xúc với thơ, văn từ rất sớm Thuở ấu thơ, tronglời bà, lời mẹ hát ru:
Con ong làm mật yêu hoa Con cá bơi yêu nớc, con chim ca yêu trời…Con xót lòng mẹ hái trái b
Hoặc:
Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại thành hòn núi cao.
Âm điệu ngọt ngào của lời ru đã đa những câu ca ấy đến với các em,giúp các em tiếp xúc với “thơ’ một cách hồn nhiên! Tình yêu cuộc sống đặttrong sự gắn bó hài hoà giữa thế giới bao la, một hình ảnh khẳng định sứcmạnh của tình đoàn kết… Với ợc tác giả dân gian khái quát bằng hình thức nhữngđcâu thơ dễ thuộc, dễ nhớ, đã đi vào đời sống tâm hồn của mỗi con ngời và đợc
lu truyền từ đời này sang đời khác
Ngay cả khi còn cha biết chữ, mỗi lần đợc đắm mình vào thế giới nhữngcâu chuyện cổ tích kì diệu, trong trí tởng tợng của các em có thể phần nàohình dung và nhớ đợc một số chi tiết Sở dĩ, các em có cảm giác yêu nhân vậtnày hơn nhân vật khác, thích câu chuyện này hay không thích câu chuyện
Trang 19kia… Với là vì các em đã có bắt đầu có những “cảm nhận chủ quan” về câuchuyện đợc nghe.
b Đến bậc Tiểu học, lần đầu tiên các em đợc tiếp xúc với tác phẩm văn
học bằng chữ viết, chữ viết tiếp tục đa các em đi xa hơn trong việc cảm thụ thếgiới văn chơng Mở trang sách Tiếng Việt ở trờng Tiểu học: học chữ, học vần,học tập đọc, làm văn, kể chuyện… Vớidần dần các em thấy tự tin hơn, hứng thúhơn với việc tự mình đọc một đoạn văn, đoạn thơ và có khi các em thuộc lòng
đoạn thơ, đoạn văn ấy từ lúc nào không biết Chẳng hạn, ban đầu tiếp xúc vớicâu văn: “Mùa thu, bầu trời nh cao hơn Trên giàn thiên li, lũ chuồn chuồnngẩn ngơ bay lợn” [Tiếng Việt 1] chắc hẳn các em mới chỉ chú ý đến việcphát âm đúng từng tiếng để nhớ cách ghép vần chứ cha nghĩ đến việc “ngắthơi” thể hiện mạch văn, ý văn… Vớilại càng cha nghĩ tới việc hiểu tại sao mùa thuthì bầu trời lại cao hơn và cao hơn nh thế nào; và trên giàn thiên lí, tại sao lũchuồn chuồn lại ngẩn ngơ bay lợn? Tất cả những điều thú vị ấy, các em sẽ cónhiều dịp trở lại để tìm hiểu một cách kĩ càng hơn Cũng nh vậy, những câuthơ sau đây mặc dù đã đợc học trong bài tập đọc lớp Một, khi đó các em thờngchỉ mới tập trung chú ý đến việc đọc rõ ràng từng tiếng:
Đi đến nơi nào
Lời chào đi trớc Lời chào dẫn bớc Chẳng sợ lạc nhà Lời chào kết bạn Con đờng bớt xa.
Sau khi “đọc trơn” từng từ, ngắt hơi ở từng dòng, các em mới đọc chúngtheo tiết tấu, nhịp điệu của lời thơ, rồi từng bớc cảm nhận đợc ý của đoạn thơnói gì Rồi có dịp, các em tìm hiểu kĩ hơn, sâu hơn về khả năng sử dụng nghệthuật nhân hoá không chỉ thể hiện trong các câu trên mà còn ở cả bài thơ
Trờng Tiểu học sẽ trang bị cho các em một số tri thức và rèn luyện một
số kĩ năng, năng lực cần thiết cho CTVC Học sinh bắt đầu làm quen với cácthao tác tìm hiểu nội dung, nghệ thuật của tác phẩm Đó là những câu hỏi,những bài tập yêu cầu phát hiện ý của đoạn thơ, đoạn văn, ý chính hay đại ýcủa cả bài thơ, bài văn, hoặc tìm từ, ngữ “chìa khoá” làm nên cái hay, cái đẹpcủa đoạn văn bản… VớiHS cũng đợc trang bị một số tri thức về hình tợng, về ngônngữ nghệ thuật thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập của bài tập đọc
Trang 20ở lứa tuổi Tiểu học, khả năng nhạy cảm, tinh tế trong cảm thụ của các
em mang những đặc thù riêng Tình cảm, tâm hồn của các em rất hồn nhiên,trong sáng, rất dễ rung động trớc những kích thích, trong đó có kích thíchthẩm mĩ Chẳng hạn: Học sinh lớp Một chuẩn bị đợc nghỉ hè để năm học tớilên học lớp Hai, trong buổi học cuối cùng, các em luyện đọc:
Lớp Một ơi! lớp Một!
Đón em vào năm trớc Nay giờ phút chia tay Gửi lời chào tiến bớc!
Chào bảng đen cửa sổ Chào nơi ngồi thân quen Tất cả! Chào ở lại
Đón các bạn nhỏ lên.
Chào cô giáo kính mến Cô sẽ xa chúng em…Con xót lòng mẹ hái trái b Làm theo lời cô dạy
Cô sẽ luôn ở bên.
Lớp Một ơi! Lớp Một Đón em vào năm trớc Nay giờ phút chia tay Gửi lời chào tiến bớc!
( Gửi lời chào lớp Một – Hữu Tởng)
Chia tay lớp Một, các em nh đang trong trạng thái bâng khâng khó tả:vừa vui mừng khôn xiết vì đã đợc nghỉ hè, vì sắp đợc lên lớp Hai; song nghỉ
hè, cũng là khi phải chia tay cô giáo đã dạy mình, để sang năm cô sẽ đón
những HS lớp Một mới Ngập ngừng, lu luyến, các em chào cô giáo kính mến,
đồng thời không quên chào bảng đen, cửa sổ, chỗ ngồi, những đồ vật biết bao
thân thiết từng gắn bó với mình Đọc bài thơ mà trào dâng nỗi niềm da diết,trào dâng nỗi xao xuyến, bồi hồi!
Từ ví dụ trên cho ta thấy: từ nghe đến đọc, rõ ràng không phải chỉ là việc chúng ta nghe hay đọc một cách thuần tuý, mà thực sự là trong nghe có
Trang 21hiểu, trong đọc có hiểu, vừa nghe – hiểu vừa đọc – hiểu Hiện tợng đó dù ởnhững dấu hiệu sơ khai nhất, là chính các em thực sự đã tham gia cảm thụ vănhọc rồi đấy!
Tuy nhiên, lứa tuổi tiểu học cũng gặp khó khăn trong việc phát hiệnnhững nội dung trừu tợng, khái quát và một số kĩ năng diễn đạt Đó là do t duylôgíc ở các em cha phát triển nh ở ngời trởng thành
c Trong CTVC, HS tiểu học có những đặc điểm riêng biệt, tạo nên lợi
thế trong cảm quan tuổi thơ Đó là sự nhạy cảm, trong sáng, hồn nhiên, chânthật, ngộ nghĩnh rất đáng quí ở các em Trong con mắt trẻ thơ, thế giới luôn
đầy tính ngạc nhiên Ngời ta thờng nói tới “nhãn quan trẻ thơ” tức là cách nhìn
từ góc độ trẻ thơ Thật vậy, dới nhãn quan này, cuộc sống luôn hiện ra những
điều mới mẻ Ngay cả những gì bình thờng nhất đang diễn ra hàng ngày, đốivới trẻ thơ cũng có thể đầy sự mới lạ, hấp dẫn Đó chính là “tính ngạc nhiên”trong quan sát và thể hiện trong cuộc sống của tuổi thơ
“Tính ngạc nhiên” là sự tất yếu trong cách nhìn của trẻ Đó là vì lần đầutiên, các em đợc chứng kiến tất cả ngững gì đang diễn ra, đang phát triển trớcmắt mình
“Tính ngạc nhiên” làm nên đặc trng riêng biệt cho nhãn quan trẻ thơ:vừa ngộ nghĩnh, đáng yêu, lại vừa cho ta thấy đợc vẻ đẹp trung thực, trongsáng, cội nguồn của tinh thần con ngời
Trong văn học của trẻ em và dành cho trẻ em, “tính ngạc nhiên” là điềukiện không thể thiếu trong mọi tác phẩm Do vậy, CTVC đối với trẻ thơ cũngphải luôn chứa đầy “tính ngạc nhiên”
1.1.2 Mục tiêu của việc bồi dỡng năng lực CTVC cho HS tiểu học
1.1.2.1 Bồi dỡng năng lực CTVC giúp HS xác định đúng nội dung chính của tác phẩm
Khi CTVC, việc xác định đúng và chính xác nội dung của tác phẩm làmột yêu cầu thiết yếu Ngay từ tuổi mới đến trờng, việc xác định không đúnghoặc thiếu chính xác các nội dung tình cảm, t tởng… Vớitrong tác phẩm có thểdẫn đến những điều không tốt trong quá trình phát triển tình cảm của các em
Lí luận - phê bình văn học cho ta thấy rằng, việc xác định nội dung t tởng
- tình cảm trong tác phẩm không phải lúc nào cũng dễ dàng Tuy vậy, với tất cảnhững tác phẩm đã đợc lựa chọn, đợc nghiên cứu kĩ trớc khi đa vào chơng trìnhtiểu học, thì đây không phải là vấn đề không thể giải quyết đợc
Trang 22T tởng, tình cảm trong tác phẩm chính là những nội dung kiến thứcquan trọng trong các bài học Nếu hiểu sai hoặc hiểu cha tới mức sâu sắc nhất
định (theo yêu cầu của bài học) thì việc học cha thành công
Do vậy, bồi dỡng CTVC cho HS tiểu học không phải là một công việc
xa lạ, mà nằm ngay trong quá trình học tập môn Tiếng Việt của các em
1.1.2.2 Bồi dỡng năng lực CTVC giúp HS nhận biết nhanh nhạy và chính xác các tín hiệu nghệ thuật trong tác phẩm
Bồi dỡng năng lực CTVC còn định hớng tới việc khám phá nghệ thuậtcủa tác phẩm Đó là việc hớng dẫn HS từng bớc nhận diện, làm quen, hiểu biết
và sáng tạo đợc các sản phẩm thẩm mĩ… VớiVới tác phẩm văn chơng, bồi dỡngnăng lực cảm thụ chính là nhằm giúp các em nhận biết nhanh nhạy và chínhxác các tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm
Nh ta đã biết, tác phẩm văn chơng bao giờ cũng có những tín hiệu đặcbiệt, vốn là nơi tập trung những cảm xúc, suy nghĩ của nhà văn Nói rộng hơn, tínhiệu thẩm mĩ là tình cảm, t tởng của nhà văn, đợc thăng hoa một cách kì diệu,tạo nên vẻ đẹp độc đáo, luôn tồn tại và khắc sâu tâm hồn bạn đọc
Việc giúp HS nhận biết nhanh nhạy và chính xác các tín hiệu nghệ thuật
đó của tác phẩm là một trong những mục đích quan trọng nhất của việc bồi ỡng năng lực CTVC Bằng những cách thức và PP nào đó, GV phải giúp HSphát hiện đợc những câu, những từ ngữ, hình ảnh, nhân vật… Vớigây ấn tợng vàcảm xúc mạnh nhất
d-1.1.2.3 Bồi dỡng năng lực CTVC giúp HS hình thành một số kĩ năng sơ giản trong phân tích, đánh giá nội dung và nghệ thuật của tác phẩm
Thế nào là kĩ năng sơ giản trong phân tích, đánh giá nội dung và nghệthuật của tác phẩm? Ta biết rằng, do đặc điểm tâm lí lứa tuổi của HS, nhà tr-ờng tiểu học không yêu cầu các em phải phân tích, đánh giá tác phẩm văn ch-
ơng Tuy nhiên, những thao tác phân tích, đánh giá đó cần phải đợc giới thiệutừng bớc, giúp các em làm quen để tạo tiền đề cho các cấp học tiếp theo.Trong chơng trình tiểu học, việc hình thành những kĩ năng sơ giản đó đợc lồngghép trong hệ thống câu hỏi và bài tập Trong đó, yêu cầu HS tìm các khíacạnh của nội dung và hình thức, nêu ý nghĩa của từ ngữ, hình ảnh giàu tínhnghệ thuật, khái quát các ý nhỏ thành ý lớn hơn… VớiĐó thực chất là những bớc
đi ban đầu của thao tác phân tích, tổng hợp, đánh giá đối với nội dung, nghệthuật của tác phẩm
1.1.2.4 Bồi dỡng năng lực CTVC giúp HS hình thành và phát triển tình cảm, tâm hồn và nhân cách
Trang 23Chúng ta đã biết “dạy văn là dạy ngời” Do vậy, việc hình thành và pháttriển tình cảm, tâm hồn cho HS có ý nghĩa cực kì quan trọng Bồi dỡng CTVCchính là nhiệm vụ gắn liền với bồi dỡng tâm hồn, nhân cách cho HS.
ở tiểu học, việc dạy học văn và bồi dỡng CTVC cha thành một môn học
độc lập Nhiệm vụ bồi dỡng tâm hồn các em thuộc về nhiều môn học ở tiểuhọc, nhng trong đó môn Tiếng Việt đợc coi là môn có trọng trách quan trọngnhất
Thông qua việc giúp HS nhận thức về nội dung và nghệ thuật tác phẩmvăn chơng, rung cảm đợc trớc cái hay cái đẹp của tác phẩm… Với, môn TiếngViệt sẽ dần dần xây dựng đợc những tâm hồn, nhân cách theo mục tiêu giáodục đề ra
Nh vậy, mục tiêu bồi dỡng năng lực CTVC cho HS tiểu học so với mụctiêu bồi dỡng năng lực CTVC của HS cấp trên có gì khác?
Do đặc điểm tâm lí lứa tuổi qui định, HS tiểu học so với đối tợng HScác cấp THCS và THPT thì mục tiêu bồi dỡng năng lực CTVC có những tínhchất khác nhau Trong khi cùng định hớng tới việc hình thành và phát triểnnăng lực CTVC cho HS thì nội dung chơng trình môn Tiếng Việt của bậc họctiểu học đợc xây dựng trên những cơ sở ban đầu, có tính chất nền tảng cho cácbậc học sau, làm tiền đề để HS học tốt ở các bậc học tiếp theo, đặc biệt là đểgóp phần trong việc bồi dỡng HS giỏi Văn- Tiếng Việt
Chúng ta phân tích mục tiêu bồi dỡng CTVC cho HS qua bài Tập đọc:
“Tre Việt Nam” (TV4- T1- tr 41), ta thấy:
- Bài Tập đọc nhằm giúp HS luyện đọc, trong đó có đọc lu loát, đọc –hiểu và đọc diễn cảm Các mục tiêu đọc – hiểu và đọc diễn cảm liên quanmật thiết đến mục tiêu bồi dỡng năng lực CTVC
- Bài Tập đọc nhằm giúp HS tìm hiểu nội dung và nghệ thuật của đoạnthơ Đây là công việc trùng với mục tiêu bồi dỡng năng lực CTVC cho HS
- Bài Tập đọc còn nhằm rèn luyện một số kĩ năng sơ giản nh: kĩ năngtrình bày kết quả cảm thụ bằng ngôn ngữ riêng, kĩ năng đọc diễn cảm Đó lànhững kĩ năng cần rèn luyện, thuộc về hoạt động CTVC
- Ngoài ra bài Tập đọc còn xác định mục tiêu bồi dỡng tình yêu thiênnhiên cỏ cây, hoa lá, hình ảnh cây tre vừa thân thuộc, gần gũi với ngời dân ViệtNam, vừa tợng trng cho phẩm chất cao đẹp cần cù lao động, đoàn kết thơng yêunhau, kiên cờng bất khuất và mãi mãi trờng tồn của con ngời và sức sống Việt
Trang 24Nam Bài thơ khép lại trong màu xanh hi vọng, màu xanh của sự sống đang nảy
nở ra cả chân trời Ta đi trong màu xanh ấy để đến tơng lai, với niềm tin yêumãnh liệt vào đất nớc Việt Nam yêu quí của chúng ta
1.2 Cơ sở thực tiễn
Nhận thức đợc tầm quan trọng của việc bồi dỡng năng lực CTVC cho
HS, trong những năm gần đây, Bộ Giáo dục - Đào tạo đã liên tục đa ra nhiềuvăn bản hớng dẫn, chỉ đạo chuyên môn nhằm cải thiện và nâng cao chất lợngdạy học môn Tiếng Việt, trong đó đặc biệt chú ý phần CTVC Những việc làm
đó là: đổi mới chơng trình sách giáo khoa, tập huấn chơng trình thay sách, tổchức các Hội thảo về đổi mới phơng pháp dạy học, tổ chức viết sáng kiến kinhnghiệm và các báo cáo khoa học về nâng cao chất lợng các môn học, triểnkhai chơng trình bồi dỡng thờng xuyên theo các chu kì, gần đây nhất là chơngtrình bồi dỡng thờng xuyên chu kì 3 (vừa mới hoàn thành năm 2007)… VớiTuynhiên, nh một vết hằn đã in sâu trong cách nghĩ của giáo viên quan niệm rằngviệc dạy CTVC cho HS tiểu học một cách đồng loạt là cha cần thiết Mặc dù,
có những công việc GV và HS làm trên lớp, bản chất là đang giúp HS CTVCnhng GV không biết Hoặc đôi khi GV đề cao quá vấn đề CTVC, cho rằngdạy CTVC là dạy bồi dỡng HS giỏi, là dạy nâng cao cho HS Từ việc cha nhậnthức đợc, hoặc là nhận thức cha đầy đủ về vai trò quan trọng của việc bồi dỡngnăng lực CTVC cho HS nên phần giúp HS cảm thụ thông qua các phân mônTập đọc, Kể chuyện, Tập làm văn thì giáo viên dạy cha có hiệu quả nếu khôngdám nói là hời hợt, qua loa GV cha vận dụng linh hoạt, sáng tạo các phơngpháp dạy học mới, cha tìm ra đợc các biện pháp dạy học có hiệu quả để ápdụng vào việc rèn kĩ năng CTVC cho HS; Nếu có dạy CTVC thì đa số GV áp
đặt cách cảm thụ của mình cho HS, trò thừa nhận ý kiến của thầy, cảm thụ lạinhững điều mà thầy cảm thụ đợc Mà chúng ta đã biết rằng việc cảm thụ củangời lớn có những điểm giống những cũng có rất nhiều điểm khác so với cảmthụ của trẻ … VớiRõ ràng với cách làm này là không ổn
Để nắm bắt tình hình nhận thức của GV đối với việc bồi dỡng năng lựcCTVC cho HS lớp 4, lớp 5, chúng tôi đã tiến hành điều tra, khảo sát và phỏngvấn 156 GV của 8 trờng tiểu học (TH) thuộc huyện Thọ Xuân, tỉnh ThanhHoá:TH Xuân Thành, TH Tây Hồ, TH Hạnh Phúc, TH Sao Vàng, TH ThọNguyên, TH Xuân Giang, TH Xuân Sơn, TH Xuân Lai bằng phiếu điều tra nhận
Trang 25thức của GV về dạy bồi dỡng năng lực CTVC cho HS (Xem nội dung phiếu điềutra ở Phụ lục trang 100 ) Bớc đầu, chúng tôi thu đợc kết quả nh sau:
có đến 37,82% GV tự đánh giá ở mức độ hiểu biết Yếu
Tìm hiểu trình độ nhận thức của GV về CTVC trong phạm vi sâu hơn,chi tiết hơn chúng tôi nhận thấy:
- Số GV nắm đầy đủ những đặc điểm cơ bản của hoạt động CTVC là rất
ít, chỉ có 5,76% GV nắm đợc ở mức độ Tốt nhng lại có đến 41,04% GV chanắm đợc các đặc điểm này, mức độ đạt Khá chỉ có 13,46% số GV nắm đợc,còn lại 39,74% GV ở mức độ Trung bình
- Cũng nh thế, số lợng GV nắm đợc những đặc trng của hoạt độngCTVC lứa tuổi tiểu học ở mức độ Tốt chiếm tỉ lệ thấp (8,97%), phần đa là ởmức độ Yếu (53,22%) và Trung bình (25,64%), số GV nắm đợc các đặc trngcủa hoạt động CTVC ở mức độ Khá là 12,17%
- Số GV nắm đợc mục đích, nội dung, các phơng pháp cơ bản trong việc bồidỡng năng lực CTVC cho HS mức độ Trung bình đạt 31,43%, ở mức độ Khá đạt26,92%, mức độ Yếu có đến 23,71% và mức độ Tốt chỉ có 17,94%
Trang 26- Số GV nắm đợc các tiêu chí đánh giá năng lực CTVC của HS ở mức
độ Tốt là 16,66%, ở mức độ Khá là 28,54%, có 33,99% GV nắm đợc ở mức
độ Trung bình và còn có tới 20,51% GV ở mức độ Yếu
Nhìn vào kết quả bảng điều tra mức độ nhận thức của GV về CTVC,chúng ta thấy trình độ nhận thức của GV không đồng đều, phần lớn GV chỉdừng lại ở mức độ Trung bình và Yếu, số GV hiểu biết ở mức độ Khá và Tốt
là rất ít Khi tìm hiểu nguyên nhân về vấn đề này, chúng tôi thấy xuất phát từnhiều yếu tố Xuất phát từ trình độ GV không đồng đều, đội ngũ đợc đào tạo ởnhiều trình độ khác nhau nh: Trung học s phạm 12+2, Cao đẳng s phạm tiểuhọc, Đại học tiểu học… Với và đợc đào tạo với nhiều hình thức khác nhau: chínhqui, tại chức, chuyên tu, từ xa… VớiCòn có những yếu tố ảnh hởng đến là do thiếutài liệu tham khảo, thiếu thời gian để nghiên cứu, do năg lực của bản thân cóhạn… VớiNhng theo chúng tôi, nguyên nhân cơ bản là do GV cha nhận thức hết
đợc tầm quan trọng của việc bồi dỡng năng lực CTVC cho HS Khi tìm hiểu vềvấn dề này, chúng tôi thu đợc kết quả: 21,8% GV cho rằng CTVC không ảnh h-ởng đến quá trình dạy học Tiếng Việt, nên không cần thiết, 50% GV cho rằng ít
ảnh hởng, chỉ có 28,2% GV cho rằng rất ảnh hởng
1.2.1.2 Đánh giá khả năng của GV trong việc bồi dỡng năng lực CTVC cho HS
Kết quả điều tra của chúng tôi thể hiện qua biểu sau
Bảng số 1.2: Đánh giá khả năng của GV trong việc bồi dỡng năng lực CTVC
bồi dỡng năng lực CTVC
Kết quả
Số làm
1 Khả năng CTVC của GV thông qua một đoạn văn,
2 Khả năng phát hiện những chi tiết đặc sắc về nội
dung và các biện pháp nghệ thuật trong văn bản 73 46,79
Trang 27- Phần lớn khả năng CTVC của GV còn nhiều hạn chế, GV không trả lời đợcmục đích tác giả viết bài này, câu chuyện này để làm gì? Một số GV có hiểunhng diễn đạt không rõ ràng Số GV phân tích cách đọc thơ mắc lỗi sai cũngkhông phải là ít, mà đọc sai thì sẽ hiểu sai, dẫn đến sẽ cảm thụ không đúng.Chỉ có 68/156 GV chiếm 43,58% làm đúng yêu cầu.
- Tơng tự nh vậy, 46,79% GV có khả năng phát hiện những chi tiết đặcsắc về nội dung và chỉ ra các biện pháp nghệ thuật có trong bài (văn bản)
Qua phỏng vấn, trò chuyện với GV, chúng tôi biết thêm đợc rằng: Đa số
GV đều khẳng định: CTVC là một vấn đề khó, mà dạy HS CTVC thì lại càngkhó hơn, bởi GV có cảm thụ đợc thì mới giúp HS cảm thụ đợc Hơn nữaCTVC ở tiểu học không có môn học riêng, tiết học riêng, mà phải dạy lồngghép vào các môn học, cụ thể là các phân môn của môn Tiếng Việt Để đánhgiá hiệu quả của việc CTVC thì GV thấy cũng còn đang là vấn đề trừu tợng,cha cụ thể Khi học ở trờng s phạm thì cũng không có môn riêng và cũng cha
đợc quan tâm chú ý nhiều đến việc rèn kĩ năng CTVC… Với
Tất cả những ý kiến trên, theo chúng tôi nguyên nhân chủ yếu là do mộtmặt chỉ số ít GV đợc trang bị kiến thức CTVC Mặt khác, vì mặc cảm là vấn
đề khó đồng thời quĩ thời gian không nhiều để tìm hiểu nghiên cứu, tài liệutham khảo cha có nên dẫn đến GV ít quan tâm, “ngại” dạy CTVC Cho nênkết quả dạy CTVC cha đợc nh mong muốn là điều dễ hiểu
Tại thời điểm hiện nay (Năm học 2007-2008) chơng trình đổi mới SGKtiểu học đã đợc dạy khắp ở tất cả các lớp; lớp 5 đã đợc dạy đến năm thứ 2.Thống kê ngữ liệu dạy học phần CTVC trên SGK Tiếng Việt Lớp 4;5 chúngtôi nhận thấy, hệ thống văn bản để dạy CTVC lớp 4;5 thông qua phân mônTập đọc, hầu hết là những văn bản nghệ thuật Đã có quan niệm cho rằng, dạyCTVC chính là dạy đọc hiểu, nghe hiểu Chúng tôi không hoàn toàn đồng ývới quan điểm đó; nhng xét về một góc cạnh nào đó thì chúng tôi cũng thấyrằng dạy CTVC là dạy đọc hiểu, nghe hiểu văn bản cũng không phải là vấn đềhoàn toàn sai
Trang 28Trong thực tế, khi chúng ta đã cảm thụ đợc tác phẩm văn chơng có nghĩa làchúng ta đã đợc đọc, đợc nghe và đã hiểu văn bản đó Nhng có khi đọc hiểu, nghehiểu văn bản thì cha chắc đã cảm thụ đợc tác phẩm văn học đó.
Tìm hiểu thực trạng dạy học CTVC ở lớp 4;5 trong những năm gần đây,chúng tôi thấy rằng việc dạy học CTVC cha đáp ứng đợc mục tiêu, nhiệm vụmôn học Không giúp HS hiểu đợc bài Tập đọc, không cảm nhận đợc cái hay,cái đẹp trong bài, cũng có nghĩa là không hồi đáp đợc văn bản, tức là việcCTVC thực sự cha đạt yêu cầu
Nh chúng ta đã biết, văn bản nghệ thuật là một thế giới nghệ thuật mangtính khái quát cao, đậm chất văn chơng và ngôn ngữ thì mang tính đa nghĩa, tínhbiểu trng, tợng trng, gợi cảm… VớiMuốn dạy CTVC tốt thì trớc hết GV phải cảm thụtốt đợc văn bản, từ đó mới có thể giúp HS cảm thụ tốt đợc
Tóm lại, qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy kết quả dạy học CTVC
trong những năm vừa qua cha đạt đợc yêu cầu, nguyên nhân chính là do độingũ GV Nhiều GV khi đứng trớc một văn bản nghệ thuật đã không hiểu đúngnhững điều đợc đọc từ cấp độ từ, câu, đoạn và cả nội dung, đích thông báocủa toàn văn bản; năng lực cảm nhận văn chơng còn hạn chế, không nắm đợc
đặc trng của văn bản nghệ thuật, không phát hiện đợc những giá trị về nộidung, nghệ thuật của văn bản thì chất lợng của việc rèn kĩ năng CTVC nhằmbồi dỡng năng lực CTVC cho HS cha đạt yêu cầu là điều tất nhiên
1.2.2 Thực trạng nhận thức và khả năng thực hành cảm thụ văn chơng của HS lớp 4,5
Để khảo sát toàn diện hơn về vấn đề nhận thức và thực hành CTVC của
HS lớp 4;5, chúng tôi đã tiến hành điều tra và phỏng vấn 250 HS lớp 4;5 (115
HS lớp 4 và 135 HS lớp 5) của các trờng tiểu học ở huyện Thọ Xuân tỉnhThanh Hoá (đã nêu trên) Khi điều tra về vấn đề này, chúng tôi nhận thấy,trong quá trình CTVC thông qua các phân môn Tập đọc các em gặp rất nhiềukhó khăn Hầu hết các em không nắm đợc bản chất của hoạt động CTVC làlàm cái gì, HS không nắm đợc các kĩ năng cần thiết để cảm thụ đợc một vănbản nghệ thuật
Chúng tôi khảo sát và đánh giá năng lực CTVC của HS, thu đợc kết quả nh sau:
Bảng 1 3: Khảo sát đánh giá năng lực CTVC của HS (thông qua bài làm yêu cầu
HS viết một đoạn văn cảm thụ về bài Tập đọc: Tre Việt Nam.)
Trang 29Nội dung đánh giá Tốt Khá Trung bình Yếu
Vốn văn học của HS 18 7,5 35 14,58 146 60,84 41 17,08
Sự rung cảm có tính thẩm mĩ 19 7,91 38 15,83 110 45,85 73 30,41
Khả năng diễn đạt theo ý riêng 14 5,83 49 20,41 106 44,18 71 29,58
- Qua chất lợng bài làm của HS, chúng ta thấy dự đoán về vốn văn họccủa HS tỉ lệ Trung bình chiếm đa số (60,84%) và Yếu (17,08%), số em đạt Tốtchỉ có 7,5% và Khá 14,58%
- Dự đoán về sự rung cảm có tính thẩm mĩ Tốt có 7,91%, khi đó Yếuchiếm 30,41%, tỉ lệ Trung bình đạt 45,85% và Khá đạt 15,83%
- Vốn ngôn ngữ, chữ viết của HS có cao hơn, tỉ lệ dự đoán đạt Tốt là14,58%, Khá là 18,33%, Trung bình là 44,59% nhng vẫn có đến 22,55 Yếu
- Về khả năng diễn đạt theo ý riêng, dự đoán Tốt chỉ có 5,83%, Khá có20,41% , Yếu có đến 29,58% và chỉ có 44,18% Trung bình
Để khảo sát toàn diện hơn chất lợng về kĩ năng CTVC của HS lớp 4, lớp
5, chúng tôi đã tiến hành một thực nghiệm mang tính thăm dò Cho HS lớp 4
và lớp 5 làm bài kiểm tra cảm thụ (xem “Phiếu điều tra thực trạng CTVC của
Lớp5 (%) Nhận diện ngôn
BT5 và BT7: Xác định ý chính của đoạn, đại ý của toàn
Trang 30BT8: Xác định mục đích của tác giả viết bài văn, bài thơ
chi tiết nào nhất trong bài văn, bài thơ?
Bài văn, bài thơ gợi cho em suy nghĩ, cảm xúc gì?
12,17 15,2
Từ kết quả điều tra trên, chúng tôi đi đến những nhận xét về chất lợngCTVC của HS lớp 4, lớp 5 nh sau:
Thứ nhất: HS còn chậm trong quá trình nhận diện ngôn ngữ trong văn
bản, kĩ năng đọc thành thạo để nắm đợc đề tài và những từ ngữ cần tìm nghĩa
để từ đó hiểu nội dung của văn bản còn nhiều hạn chế Đọc và hiểu còn đangtách dời nhau HS đọc nhng HS không hiểu, đọc nhng không t duy cái đợc
đọc, đọc mà không hiểu huống gì nói đến cảm thụ
Thứ hai: Phần tìm hiểu nội dung văn bản, HS trả lời các câu hỏi SGK
còn máy móc, phụ thuộc quá nhiều vào từng câu, từng chữ trong văn bản,trong suy nghĩ và trả lời HS cha chủ động và cha có tính sáng tạo Chẳng hạn,tìm từ ngữ, hình ảnh đặc sắc trong văn bản thì HS đọc cả đoạn trích trong vănbản Hay việc xác định các biện pháp nghệ thuật của văn bản, HS cũng cònnhiều lúng túng, nhiều HS còn lẫn lộn cha phân biệt rạch ròi các biện pháp tu
từ tiếng Việt Dạng bài tập: Em thích hình ảnh nào nhất, từ ngữ, câu thơ, nhânvật… Với nào nhất? thì HS có một số em trả lời đợc, nhng khi hỏi để lí giải vì sao
em thích thì HS không trả lời đợc hoặc diễn đạt ngắc ngứ Phần đông HS chỉdừng lại ở phần tìm hiểu văn bản mà cha chủ động trong việc diễn đạt kết quảcảm thụ, cha biết rút ra bài học về nhận thức, về tình cảm, hành vi sau khi khi
đợc đọc, đợc nghe Đặc biệt HS cha biết suy nghĩ để phê phán hay khẳng địnhnội dung văn bản đa ra, HS không biết quan tâm đến mong muốn mà ngời viết
đặt vào chính đối tợng ngời đọc, ngời nghe
Nh vậy, quá trình nhận thức và thực hành CTVC của GV và HS trongnhà trờng tiểu học đang còn nhiều tồn tại Việc dạy CTVC còn hình thức,chiếu lệ và chủ yếu là thực hiện bằng kinh nghiệm giảng dạy của GV chứ cha
có một qui trình nào đảm bảo tính khoa học để bồi dỡng năng lực CTVC chocác em Bản thân các em còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình cảm thụ vàdiễn đạt kết quả cảm thụ, khiến cho HS không mấy hứng thú khi học CTVC
Đôi khi HS cảm thấy sợ khi làm các bài tập về CTVC, đặc biệt là bài tập dạng
Trang 31hồi đáp văn bản, HS không chủ động trong việc diễn đạt kết quả cảm thụ,
“ngại” bày tỏ cảm xúc bằng ngôn ngữ của mình Nếu nh GV có vốn kiến thức
và kĩ năng nhất định về CTVC, biết tạo hứng thú học tập ở HS bằng cách đa ra
hệ thống các biện pháp phù hợp kích thích sự tò mò, ham hiểu biết của các emthì chắc chắn sẽ giải quyết đợc những khó khăn này, đồng thời rèn kĩ năngcảm thụ cho HS để quá trình bồi dỡng năng lực CTVC cho HS từng bớc đợcnâng lên
1.3 Tiểu kết chơng 1
Trong chơng 1, chúng tôi đã làm rõ các vấn đề sau đây:
1 CTVC là một hoạt động mang tính nghệ thuật thuộc lĩnh vực văn
ch-ơng, là quá trình tiếp nhận, hiểu và cảm đợc văn chch-ơng, tính hình tợng của vănchơng, đặc trng ngôn ngữ nghệ thuật, đặc trng phản nghệ thuật của văn chơng
Đặc điểm của hoạt động CTVC là hoạt động nhận thức hình tợng vănchơng, là sự rung cảm trớc vẻ đẹp tinh tế và hình tợng của văn chơng, CTVCthiên về chủ quan và cảm tính và CTVC là hoạt động mang tính chủ động,sáng tạo
Đặc trng của hoạt động CTVC trong nhà trờng là cách cảm thụ mangtính phổ cập, phù hợp với nhiều đối tợng HS, ngữ liệu dùng để dạy cảm thụ lànhững văn bản đợc chọn lọc, có giá trị nội dung và nghệ thuật, có tính ổn
định, đậm màu sắc truyền thống, dân tộc và đại chúng, tạo điều kiện thuận lợicho việc nhận thức và vận dụng
Làm rõ khái niệm “năng lực”, “năng lực CTVC”, một số đặc điểm tâm
lí của HS tiểu học, đặc trng của năng lực CTVC lứa tuổi tiểu học, mục đíchcủa việc bồi dỡng năng lực CTVC cho HS tiểu học, đồng thời chỉ ra sự khácnhau của mục đích bồi dỡng năng lực CTVC cho HS tiểu học khác với mục
đích bồi dỡng năng lực CTVC cho HS các cấp trên, nghiên cứu về nội dung,phơng pháp bồi dỡng năng lực CTVC cho HS tiểu học thông qua các phânmôn Tập đọc của môn Tiếng Việt
2 Quá trình nhận thức của GV về tầm quan trọng của việc bồi dỡngnăng lực CTVC cho HS cha thật đầy đủ, kiến thức về lĩnh vực CTVC của GVcòn nhiều hạn chế, đặc biệt là những biện pháp, kĩ năng bồi dỡng năng lựcCTVC của GV cho HS còn nhiều lúng túng, hình thức tổ chức dạy học còn
đơn điệu, do đó cha thu hút đợc HS vào hoạt động cảm thụ một cách tích cực,
Trang 32dẫn đến chất lợng bồi dỡng năng lực CTVC cho HS trong nhà trờng tiểu họchiện nay còn nhiều hạn chế.
Ch
ơng 2 : Biện pháp bồi dỡng năng lực
Cảm Thụ văn Chơng cho Học Sinh lớp 4,5
2.1 Nội dung chơng trình phân môn Tập đọc lớp 4,5– ngữ liệu dùng để bồi dỡng năng lực CTVC cho HS
2.1.1 Hệ thống văn bản, câu hỏi, bài tập trong Tập đọc lớp 4 nhằm nâng cao năng lực CTVC cho HS
Chơng trình SGK TV4 đợc đa vào giảng dạy chính thức từ năm học2005-2006 Phân môn Tập đọc lớp 4, tập 1 đợc dạy trong 18 tuần, trừ 2 tuần
ôn tập, kiểm tra, mỗi tuần có 2 bài tập đọc, tất cả có 32 bài Phân môn Tập đọclớp 4 tập 2 đợc dạy trong 17 tuần, trừ 2 tuần ôn tập, kiểm tra, mỗi tuần cũng
có 2 bài tập đọc, tất cả kì là 30 bài
Nh vậy, SGK TV4 có tổng cộng 62 bài tập đọc, trong đó 41 bài thuộcthể loại văn xuôi, 1 bài tục ngữ và 20 bài thuộc thể loại thơ Nghiên cứu kĩchúng tôi thấy trong 62 bài tập đọc thì có đến 60 bài là văn bản nghệ thuật, 2bài là văn bản phi nghệ thuật Đây là điều kiện thuận lợi giúp HS học tốtCTVC Tìm hiểu về câu hỏi và bài tập sử dụng sau mỗi bài Tập đọc trong SGKTV4 và sách BT TV4, chúng tôi có nhận xét nh sau:
Thứ nhất, do SGK đợc soạn thảo theo 2 trục chủ điểm và kĩ năng nên
một phần hệ thống câu hỏi giúp HS hiểu và cảm thụ bài Tập đọc một cách rõràng, giúp HS làm quen với phong cách văn chơng và tạo cơ hội cho HS hồi
Thứ hai, do tính tích hợp giữa các phân môn nh đã nêu ở trên, nên
trong quá trình HS tìm hiểu nội dung bài tập đọc thì loại câu hỏi, bài tập tìmdàn ý, ý của đoạn, đại ý của bài rất hạn chế và đợc thể hiện chủ yếu ở phânmôn Tập làm văn Thay vào đó là nhiều câu hỏi, bài tập yêu cầu sự hồi đápcủa HS, yêu cầu HS bày tỏ ý kiến, thái độ, nêu cảm nghĩ về nội dung bài học,
Trang 33điều đó chứng tỏ các tác giả khi biên soạn đã chú ý quan tâm đến b ớc hồi đápvăn bản trong dạy đọc hiểu của HS, giúp HS từng bớc có nhu cầu CTVC vàbiết cách CTVC.
Thứ ba, Trong vở BT TV4 không có các câu hỏi, bài tập dành cho phân
môn Tập đọc mà chỉ có các câu hỏi, bài tập cho phân môn Chính tả, Luyện từ
và câu, Tập làm văn Nên việc giúp HS đọc – hiểu, đọc diễn cảm, cảm thụthông qua hệ thống bài tập – những việc làm cụ thể nh các phân môn họckhác thì gặp không ít những khó khăn
Thứ t, Trong cả 2 quyển SGK TV4 (T1 và T2) có tổng cộng 264 câu
hỏi, bài tập tìm hiểu bài sau các bài Tập đọc Có thể chia các câu hỏi, bài tậpnày thành các loại nh sau:
Loại thứ nhất: Nhắc lại nội dung miêu tả, nội dung thông tin của văn
bản Loại câu hỏi này chiếm tỉ lệ cao (khoảng 75%) toàn bộ hệ thống câu hỏi,bài tập dành cho phân môn Tập đọc, loại câu hỏi thể hiện ý chính của đoạnnhằm khắc sâu nội dung bài học thì không nhiều Dạng câu hỏi, bài tập chủyếu trong loại này là tìm chi tiết trong bài để minh họa một nhận định, mộtnhận xét trong bài
Ví dụ: Tìm những chi tiết cho thấy chị Nhà Trò rất yếu ớt “Mẹ” ” Hay Những lời nói và cử chỉ nào nói lên tấm lòng nghĩa hiệp của Dế Mèn?
Mèn bênh vực kẻ yếu - TV4 – T1- tr 4); Tìm những chi tiết nói lên sự cảm “Mẹ”
động và niềm vui của Lái khi nhận đôi giày.” (Đôi giày ba ta màu xanh –
TV4- T1 – tr 81)
Loại thứ hai: Câu hỏi, bài tập làm rõ ý nghĩa nội dung trong bài Loại
câu hỏi này đã tìm đợc sự quan tâm của các tác giả SGK, có khoảng (6%)trong tổng số câu hỏi thuộc dạng này
Ví dụ: “Vì sao cách làm của cô em giúp đợc chị tỉnh ngộ? ” (Chị em tôi – TV4- T1 – tr 59); Vì sao chú bé Hiền đ “Mẹ” ợc gọi là ông Trạng thả diều ? “Mẹ” ” (Ông Trạng thả diều TV4 –T1 – tr 104); Theo em, tác giả viết bài này “Mẹ” nhằm mục đích gì? (a) Kể chuyện Cáo gian ngoan mắc mu Gà Trống (b) Kể chuyện Gà Trống đã làm Cáo sợ mất vía (c) Khuyên ngời ta đừng vội tin những lời ngọt ngào (Gà Trống và Cáo” - TV4- T1- tr 50)
Loại thứ ba: Nhận biết các chi tiết nghệ thuật thể hiện sự sáng tạo độc
đáo của tác giả
Trang 34Ví dụ: Chiếc bè đ “Mẹ” ợc ví với cái gì? (Bè xuôi sông La- TV4 – T2); Cách nói: dòng sông mặc áo có gì hay? (Dòng sông mặc áo
Loại thứ t: Yêu cầu HS nêu mục đích tác động của tác giả gửi vào văn
bản và yêu cầu nêu sự hồi đáp của các em về nội dung văn bản Loại câu hỏi,bài tập này thể hiện tơng đối nhiều, thể hiện sự quan tâm của tác giả SGK tớibớc hồi đáp văn bản
Ví dụ: Qua các câu thơ mở bài và kết bài, tác giả muốn nói điều gì về “Mẹ” cánh diều tuổi thơ? (a) Cánh diều là kỉ niệm đẹp đẽ của tuổi thơ (b) Cánh diều khơi gợi những ớc mơ tốt đẹp cho tuổi thơ (c) Cánh diều đem đến bao niềm vui cho tuổi thơ” (Cánh diều tuổi thơ -TV4 –T1).
2.1.2 Hệ thống văn bản, câu hỏi, bài tập trong Tập đọc lớp 5 nhằm nâng cao năng lực CTVC cho HS
Chơng trình SGK TV lớp 5 đợc đa vào giảng dạy chính thức từ năm học2006-2007 SGK TV5 T1 đợc dạy trong 17 tuần, trừ 2 tuần ôn tập, kiểm tra,mỗi tuần có 2 bài tập đọc, Tất cả có 30 bài SGK TV5 T2 đợc dạy trong 18 tuần,trừ 3 tuần ôn tập, kiểm tra, mỗi tuần cũng có 2 bài tập đọc, tất cả có 30 bài
Nh vậy, cả chơng trình lớp 5 có 60 bài tập đọc, trong đó có 41 bài thuộcthể loại văn xuôi, chiếm 68,3% và có 54 bài thuộc văn bản nghệ thuật, 4 bài làvăn bản phi nghệ thuật Tìm hiểu các bài Tập đọc trong chơng trình SGK TV5,chúng tôi thấy việc biên soạn các bài tập đọc cũng theo quan điểm giống nhsoạn thảo các văn bản Tập đọc lớp 4 Nghĩa là cũng soạn thảo phối hợp theo 2 trụcchủ điểm và kĩ năng Cũng có sự tích hợp cao giữa các phân môn trong môn TV
Vở BTTV cũng không có các bài tập dành riêng cho giờ Tập đọc
Câu hỏi, bài tập sau các bài Tập đọc trong cả chơng trình lớp 5 là 244câu, cũng có thể chia làm 4 loại cơ bản nh ở lớp 4, đó là:
Loại thứ nhất: Nhắc lại nội dung miêu tả, nội dung thông tin của văn bản, loại
này chiếm gần 73% trong toàn bộ hệ thống câu hỏi
Ví dụ: Hình ảnh trái đất có gì đẹp “Mẹ” ? (Bài ca về trái đất- TV5- T1);
Những chi tiết nào trong bài thơ gợi lên hình ảnh một đêm trăng vừa tĩnh
“Mẹ”
mịch, vừa sinh động trên công trờng sông Đà? (Tiếng đàn ba- la- lai- ca trên”
sông Đà - TV5 – T1).
Loại thứ hai: Làm rõ ý của đoạn, khổ thơ hay nội dung của bài, loại này
chiếm gần 12% trong toàn bộ hệ thống câu hỏi, bài tập
Trang 35Ví dụ: Em hiểu hai câu cuối khổ thơ 2 nói gì? Bài ca về trái đất “Mẹ” ” –
TV5 – T1 –tr 41); Lời đáp của ông cụ ở cuối truyện ngụ ý gì? (Tác phẩm “Mẹ” ” của Si-le và tên phát xít- TV5- T1).
Loại thứ ba: Nhận biết các chi tiết nghệ thuật (dùng từ, sử dụng các
biện pháp tu từ… Với) thể hiện sự sáng tạo độc đáo khác thờng của tác giả Loạinày chiếm khoảng 4% trong toàn bộ hệ thống bài tập
Ví dụ: Vì sao tác giả gọi hạt gạo là Hạt vàng ? “Mẹ” “Mẹ” ” (Hạt gạo làng
ta-TV5 – T1); Phép nhân hoá ở khổ thơ cuối giúp tác giả nói lên điều gì về “Mẹ” tấm lòng của cửa sông đối với cội nguồn? (Cửa sông
Loại thứ t: Yêu cầu HS nêu mục đích tác động của tác giả gửi vào văn
bản và yêu cầu hồi đáp văn bản Loại này chiếm gần 8% trong toàn bộ hệ
thống bài tập Ví dụ: Đặt hình ảnh ng “Mẹ” ời chiến sĩ đi tuần bên hình ảnh giấc ngủ yên bình của HS, tác giả bài thơ muốn nói lên điều gì?” (Chú đi tuần-
TV5 – T2); Em có suy nghĩ gì về cách đối xử của đám thuỷ thủ và của đàn “Mẹ” cá heo đối với nghệ sĩ A-ri-ôn (Những ng” ời bạn tốt- TV5- T1- tr 64).
Nh vậy, qua việc thống kê và sắp xếp các bài tập dành cho phần Tập
đọc trong SGK TV4 và TV5, chúng tôi nhận thấy nh sau: Để bồi dỡng nângcao năng lực CTVC cho HS thì trớc hết phải giúp HS đọc – hiểu văn bản, đọcdiễn cảm văn bản và làm các bài tập về rèn kĩ năng CTVC
Để việc đọc- hiểu có hiệu quả thì phải giúp HS đọc và nắm đợc nghĩacủa các từ chìa khoá, ý của các câu đặc biệt, ý của từng đoạn, từng khổ thơ và
đại ý của toàn bài Nhng nghiên cứu hệ thống câu hỏi, bài tập sau mỗi bài tập
đọc giúp HS thực hiện các công việc đó thì cha đáp ứng đợc Cụ thể là cha có
hệ thống câu hỏi cho từng yêu cầu cụ thể, một số câu hỏi đa ra còn mang tínhchất chung chung, một số câu hỏi tự luận quá khó với HS, trong khi đó lại cha
đa ra các phơng án trả lời giúp HS lựa chọn theo hình thức trắc nghiệm kháchquan Điều đó chứng tỏ SGK cha thực sự coi trọng trong việc giúp HS khaithác bài để hiểu sâu, hiểu kĩ nội dung bài đọc Mà chúng ta đã biết, việc thựchành các bài tập có vị trí rất quan trọng trong việc hiểu văn bản của HS, đặcbiệt là văn bản nghệ thuật Hơn nữa hầu nh tất cả các bài tập đọc của lớp 4,lớp 5 đều là văn bản nghệ thuật (tổng số có 122 bài mà có tới 116 bài là vănbản nghệ thuật)
Theo qui trình của tiết dạy Tập đọc thì đều có bớc yêu cầu HS đọc diễncảm Bớc này đợc thực hiện sau khi đọc hiểu Nhng trong thực tế giảng dạy thì
Trang 36lại không có câu hỏi, bài tập hớng dẫn HS cách đọc bài này nh thế nào? Tạisao phải đọc nh thế? Khi đọc cần nhấn mạnh từ ngữ nào? Tốc độ đọc nhanh,chậm nh thế nào? Thái độ khi đọc ra sao? Hay hệ thống câu hỏi, bài tập rèn kĩnăng cảm thụ bài đọc về giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật một cách sâu sắc,
ý nghĩa của bài đọc đi vào cuộc sống nh thế nào? thì cha đợc quan tâm mộtcách đúng mực Những nội dung trên không đợc thể hiện trong SGK TV4 vàTV5, trong vở bài tập TV cũng không có Với những lí do nh trên, chúng tôithiết nghĩ rằng việc xây dựng một hệ thống bài tập giúp HS đọc- hiểu, đọc diễncảm và CTVC cho HS lớp 4, lớp 5 trong giờ Tập đọc là hết sức cần thiết, nhằmgiúp GV và HS có những hoạt động cụ thể, chi tiết nâng cao chất lợng của giờTập đọc góp phần bồi dỡng năng lực CTVC cho HS
2.2 Bồi dỡng năng lực CTVC cho HS trong phân môn Tập đọc
2.2.1 Mục đích
Mục đích của việc bồi dỡng năng lực CTVC trong phân môn Tập đọcnhằm trang bị cho HS vốn văn hoá - văn học cần thiết, giúp HS rèn luyện nănglực đọc – hiểu và hình thành những kĩ năng sơ giản về phân tích tác phẩm, từ
đó bồi dỡng tình cảm, tâm hồn cho các em
Mục đích của việc bồi dỡng năng lực CTVC khác với mục đích chungcủa bài Tập đọc ở chỗ: Nội dung của một bài dạy Tập đọc có nhiều mục đích.Trong đó, trọng tâm là luyện đọc thành tiếng và luyện đọc hiểu Bồi dỡngnăng lực CTVC không quan tâm đến việc luyện đọc các từ khó và một sốnhiệm vụ khác nh mục đích của bài Tập đọc nói chung
2.2.2 Nội dung
Tập đọc là phân môn có vai trò quan trọng bậc nhất trong việc bồi dỡngnăng lực CTVC cho HS Bởi vì, Tập đọc cung cấp một khối lợng ngữ liệu vănchơng nhiều nhất thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều phạm vi khác nhau, rèn kĩ năng
đọc – hiểu nhiều nhất và rèn kĩ năng đọc diễn cảm, đọc phân vai tập trungnhất ở đây có một số đoạn trích, hoặc toàn bộ tác phẩm của các tác giả vănhọc lớn đợc đa vào chơng trình Cũng có nhiều bài do các nhà giáo soạn ra,hoặc phỏng theo các nhà văn hoặc su tầm trên báo chí Chúng đợc biên soạnlại, sắp xếp theo hệ thống chủ đề và theo cá kiểu văn bản Phân môn Tập đọc
sẽ giúp các em hiểu đợc nội dung, nghệ thuật, rung cảm trớc những từ ngữ,những câu, những hình ảnh, những hình tợng thẩm mĩ Những sáng tác đợc đavào chơng trình, hoặc là những tác phẩm văn chơng đích thực, hoặc là những
Trang 37sáng tác có nhiều yếu tố văn chơng, cũng đủ giúp các em hình thành và pháttriển năng lực CTVC.
Nội dung cụ thể của CTVC trong các bài Tập đọc là HS đợc đọc trựctiếp các ngữ liệu văn chơng, tìm hiểu nội dung và nghệ thuật, đồng thời diễn
đạt những suy nghĩ và cảm xúc của mình khi trả lời các câu hỏi và bài tập.Phân môn Tập đọc còn tạo điều kiện để HS rung cảm, thởng thức vẻ đẹp củahình tợng ngôn từ thông qua giọng đọc diễn cảm, giọng ngâm tuỳ thuộc vàonội dung của từng bài
Trong số các văn bản đợc dùng để dạy cảm thụ ở tiểu học, loại văn bảnnghệ thuật có một vị trí đặc biệt, không những bởi tầm quan trọng của loại vănbản này mà còn do tỉ lệ văn bản nghệ thuật đợc đa vào chơng trình rất cao
Để HS cảm thụ đợc các tác phẩm nghệ thuật thể hiện bằng văn bản thìtrớc hết phải giúp HS đọc và hiểu đợc văn bản
Đọc văn bản nghệ thuật, HS không chỉ hiểu nội dung văn bản mà cònphải cảm thụ đợc một loại hình nghệ thuật lấy ngôn ngữ làm chất liệu Dạy HS
đọc - hiểu văn bản nghệ thuật gồm việc làm cho HS nắm đợc nội dung vănbản, mục tiêu của văn bản, đồng thời dạy cho HS cảm nhận đợc vẻ đẹp củangôn từ, hình tợng văn chơng làm nên nội dung văn bản Nh vậy, với cáchhiểu đó, dạy đọc hiểu văn bản nghệ thuật là dạy tiếp nhận văn chơng, hay làdạy cảm thụ văn chơng
Đọc - hiểu và đọc diễn cảm là hai kĩ năng quan trọng nhất trong Tập
đọc Trong dạy học Tập đọc, cần quan tâm và tạo mọi điều kiện để tất cả HStrong lớp đều đợc rèn kĩ năng đọc – hiểu Kĩ năng này đợc thể hiện lần lợt từ
dễ đến khó, bao gồm: giải nghĩa từ, đọc chú thích, trả lời các câu hỏi tìm hiểunội dung của bài, từ ý của đoạn đến ý của bài, trả lời câu hỏi phát hiện cácbiện pháp nghệ thuật, đặc điểm ngôn từ, hoặc tìm các câu, các ý hay nhất, cáchình ảnh đẹp nhất… Với
Phân môn Tập đọc bằng cách đó đã đóng vai trò quan trọng trongnhiệm vụ bồi dỡng tình cảm, tâm hồn, phát triển t duy và nhân cách HS Khidạy học Tập đọc, không nên biến giờ học này thành giờ giảng văn, vì con đờngCTVC của HS sẽ phụ thuộc vào GV mà mất đi tính chủ động, sáng tạo của các em
2.3 Một số biện pháp bồi dỡng năng lực CTVC cho HS lớp 4,5 thông qua phân môn Tập đọc
Trang 382.3.1 Biện pháp 1: Giáo viên bồi dỡng tri thức tiếng Việt, văn học cho HS
Ngay từ những buổi học đầu tiên của CT Tập đọc lớp 4, GV phải giúp
HS hiểu rõ đợc CTVC là một phần rất quan trọng của phân môn Tập đọc, làcái đích và cũng là một yêu cầu của phân môn Tập đọc nói riêng và mônTiếng Việt nói chung Để đánh giá kết quả của một bài dạy Tập đọc chúng tathờng xem xét ở nhiều khía cạnh, song điều dễ nhận thấy nhất đó là mức độhiểu, nắm bắt của HS về giá trị nội dung cũng nh giá trị nghệ thuật của bàiTập đọc và cách thể hiện sự hiểu biết đó qua việc HS đọc diễn cảm bài Tập
đọc, cao hơn nữa là khả năng trình bày sự hiểu biết đó bằng ngôn ngữ nói vàviết của HS
GV giúp HS hiểu đợc CTVC là một quá trình nhận thức cái đẹp chứatrong thế giới ngôn từ, cảm thụ kiến thức văn chơng là quá trình tiếp nhận,hiểu và cảm đợc tính hình tợng của văn chơng, đặc trng phản ánh nghệ thuậtcủa văn chơng
Năng lực CTVC là khả năng phát hiện đợc những tín hiệu nghệ thuật và
đánh giá đợc chúng trong việc biểu đạt nội dung CTVC là cảm nhận đợcnhững giá trị nổi bật , những điều sâu sắc, tế nhị và đẹp đẽ của văn chơng thểhiện trong văn bản đợc đọc đồng thời là sự thể hiện thái độ, sự chia xẻ của ng-
ời đọc với những gì đã đọc ở đây, chúng ta không yêu cầu HS phải tìm rakhái niệm và học thuộc từng khái niệm, mà thông qua các thao tác, các việclàm cụ thể của GV và HS nh khi chúng ta giới thiệu bài đa HS vào nội dungbài học, đọc mẫu cho HS nghe, giúp HS hiểu và cảm thụ một số hình ảnh đặcsắc, một số biện pháp tu từ trong bài… Với Hay khi HS làm việc trong nhóm:nghe bạn đọc rồi lại đọc cho bạn nghe, cùng bạn trao đổi về nghĩa của một số
từ mới trong bài hay cùng bạn tìm hiểu cách đọc, ý chính của đoạn, đại ý củabài… Vớiđể HS làm quen với việc cảm thụ Từ đó, sẽ hình thành cho HS những suynghĩ, những thao tác về CTVC Đồng thời tích ôn luyện lại các kiến thức về tiếngViệt nh: Ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, các biện pháp tu từ trong tiếng Việt
Chẳng hạn, khi dạy bài Tập đọc: Sắc màu em yêu (TV lớp 5- tập 1) “Mẹ” ”
Em yêu màu đỏ
Nh máu trong timLá cờ Tổ quốc Khăn quàng đội viên
Trang 39Em yêu màu xanh Đồng bằng rừng núiBiển đầy cá tômBỗu trời cao vợi.
- Trong bài có từ nào đợc lặp lại? Lặp lại nh vậy nhằm mục đích gì? ( Từ “em yêu”, lặp lại nh vậy nhằm nói lên tình cảm của em nhỏ đối với các sắc màu Việt Nam)
- Mỗi màu sắc nhắc đến trong bài đợc so sánh với những gì? ( Màu đỏ
so sánh với máu trong tim, lá cờ Tổ quốc, khăn quàng đội viên Màu xanh đợc
so sánh với đồng bằng, rừng núi, biển, bầu trời )
- So sánh nh vậy có tác dụng gì? ( Gợi lên một thế giới màu sắc, phong phú,
đa dạng, gần gũi, thân quen với chúng ta)
Hay khi hớng dẫn HS đọc và cảm thụ đoạn:
Cày đồng đang buổi ban tra
Mồ hôi thánh thót nh ma ruộng cày
Ai ơi bng bát cơm đầyDẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần
GV nêu vấn đề đề HS suy nghĩ:
- Tại sao tác giả lại chọn thời gian “ban tra” mà không chọn thời gian khác?
- Mồ hôi của ngời nông dân đợc so sánh với gì? ( Ma ruộng cày- so sánh, ngoa dụ)
- Em hãy tìm các cặp từ đối nghĩa ở câu cuối? ( Dẻo thơm - đắng cay, một hạt- muôn phần)
- Qua bài đọc trên, tác giả muốn nói với chúng ta điều gì? ( Nỗi vất vả của ngời nông dân)
- Đợc hởng những thành quả lao động, mỗi chúng ta có những suy nghĩ gì?
( Biết ơn ngời nông dân và trân trọng thành quả lao động.)
Hoặc khi dạy tập đọc bài: Tiếng đàn ba- la- lai- ca trên sông Đà “Mẹ” ”
(TV lớp 5 – tập 1) Trớc hết là phải giúp HS đọc để hiểu đợc nội dung từng
đoạn và nội dung cả bài Bài thơ chia làm 3 đoạn tơng ứng với 3 ý, mỗi ý bắt
đầu bằng một câu thơ ngắn mở ra một dòng cảm xúc:
“ Trên sông Đà …Con xót lòng mẹ hái trái b”: Tác giả nghe tiếng đàn và hình dung về ngời chơi đàn.
Trang 40“ Lúc ấy …Con xót lòng mẹ hái trái b” : Âm thanh của tiếng đàn giữa đêm trăng sông Đà.
“Mẹ” Ngày mai…Con xót lòng mẹ hái trái b” : Tác giả tởng tợng về một tơng lai sáng bừng ánh điện.
Nội dung của bài: Bài thơ đợc viết trong cảm hứng dào dạt về một nhàmáy thuỷ điện đang hình thành, viễn cảnh một tơng lai tơi sáng đang đến rấtgần Đây là một nhà máy thuỷ điện do Liên Xô giúp ta xây dựng nên tiếng
đàn ba- la – lai – ca ngoài vẻ đẹp riêng còn là biểu hiện của tình hữu nghịgiữa hai dân tộc
Khi đọc cần chú ý:
Khổ thơ 1 Nhấn giọng: trên sông Đà, chơi vơi, ba-la-lai-ca
Khổ thơ 2 Nhấn giọng: lúc ấy, say ngủ, ngẫm nghĩ, sóng vai, ngân nga,lấp loáng
Khổ thơ 3 Nhấn giọng: ngày mai, nối liền, bỡ ngỡ, sông Đà, muôn ngả,lớn, đầu tiên
2.3.2.1 Bản chất của quá trình dạy đọc hiểu
Nh chúng ta đã biết rằng, văn bản có tính chỉnh thể, tính hớng đích vàtính khả phân (khả năng phân tích thành các yếu tố nhỏ hơn của văn bản).Việc sản sinh văn bản và tiếp nhận văn bản là hai quá trình của một hoạt độngtơng tác- hoạt động giao tiếp Trong quá trình sản sinh văn bản, trớc tiên ngờiviết phải có mục đích, động cơ giao tiếp Họ lập chơng trình giao tiếp và triểnkhai ý định này một cách cặn kẽ, cho đến khi văn bản đó đạt đợc những mục
đích đặt ra trong một hoàn cảnh cụ thể với những nhân tố giao tiếp cụ thể
Ng-ợc lại, trong quá trình tiếp nhận, ngời đọc phải hớng lĩnh hội nội dung và đíchcủa văn bản Để đạt đợc mục tiêu này, ngời đọc phải phân tích văn bản trênnhững gì đã đợc ngời viết triển khai, đó có thể là nghĩa của từ (nghĩa từ điển
và nghĩa văn cảnh, nghĩa biểu vật và nghĩa hình thái), nghĩa miêu tả và nghĩatình thái của câu, nghĩa của đoạn, nghĩa của bài, rồi mới đi đến mục đích