BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH _____________ NGUYỄN HỮU DANH MỘT SỐ BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 4 CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC HUYỆN TRẢNG BÀN
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH NGUYỄN HỮU DANH
MỘT SỐ BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG
HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 4 CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC HUYỆN TRẢNG BÀNG TỈNH TÂY NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGHỆ AN, 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
_
NGUYỄN HỮU DANH
MỘT SỐ BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG
HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 4 CÁC TRƯỜNG TIỂU
HỌC HUYỆN TRẢNG BÀNG TỈNH TÂY NINH
CHUYÊN NGÀNH: GIÁO DỤC HỌC (BẬC TIỂU HỌC)
MÃ SỐ : 601401
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS CHU THỊ THỦY AN
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 4MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết cảu đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 1
3 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1
4 Giả thuyết khoa học 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
6 Phương pháp nghiên cứu 2
7 Cấu trúc luận văn 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về bồi dưỡng hứng thú học tập 4
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về bồi dưỡng hứng thú học tập môn Tiếng Việt 6
1.2 Cơ sở lí luận 7
1.2.1 Hứng thú, hứng thú học tập của học sinh tiểu học 7
1.2.1.1 Hứng thú và vai trò của hứng thú 7
1.2.1.2 Hứng thú học tập và vai trò của hứng thú trong học tập 9
1.2.1.3 Quy luật hình thành và duy trì hứng thú trong học tập của học sinh tiểu học 10
1.2.2 Môn Tiếng Việt và việc bồi dưỡng hứng thú học tập cho học sinh lớp 4 .11
1.2.2.1 Đặc điểm môn học Tiếng Việt ở lớp 4 11
1.2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hứng thú học tập môn Tiếng Việt lớp 4 15
1.3 Cơ sở thực tiễn 19
1.3.1 Mức độ hứng thú học tập môn Tiếng Việt của học sinh lớp 4 20
Trang 51.3.2 Thực trạng hứng thú trong học tập môn Tiếng Việt của học sinh lớp 4 ở
các trường Tiểu học huyện Trảng Bàng tỉnh Tây Ninh .20
1.3.3 Thực trạng nhận thức và sử dụng các biện pháp bồi dưỡng hứng thú học tập môn Tiếng Việt của GV ở các trường Tiểu học huyện Trảng Bàng tỉnh Tây Ninh 22
1.3.3.1 Nhận thức của giáo viên về hứng thú học tập và vai trò của hứng thú học tập trong học tập môn Tiếng Việt 22
1.3.3.2 Thực trạng sử dụng các biện pháp giáo viên đã sử dụng để bồi dưỡng hứng thú học tập cho học sinh 25
1.3.4 Nguyên nhân của thực trạng 28
1.3.4.1 Nguyên nhân khách quan 28
1.3.4.2 Nguyên nhân chủ quan 29
1.4 Tiểu kết chương 1 30
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG HỨNG THÚ HỌC TẬPMÔN TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 4 CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC HUYỆN TRẢNG BÀNG TỈNH TÂY NINH 31
2.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp bồi dưỡng hứng thú học tập môn Tiếng việt cho học sinh lớp 4 31
2.1.1 Nguyên tắc bám sát mục tiêu môn học Tiếng Việt 31
2.1.2 Nguyên tắc tính đến đặc điểm của học sinh lớp 4 32
2.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hấp dẫn 33
2.1.4 Nguyên tắc đề cao tính tích cực, sáng tạo của học sinh 33
2.2 Các biện pháp đề xuất 34
2.2.1 Nhóm các biện pháp sử dụng trong giờ Tập đọc 35
2.2.1.1 Xây dựng cách vào bài hấp dẫn 36
2.2.1.2 Khai thác vẻ đẹp của các từ ngữ, chi tiết, hình ảnh trong văn bản 37
2.2.1.3 Sử dụng các thông tin liên quan đến bài học (tác giả, hoàn cảnh ra đời, giai thoại) 46
2.2.1.4 Thiết kế, tổ chức giờ học sinh động, hấp dẫn 48
Trang 62.2.2 Nhóm các biện pháp sử dụng trong giờ Luyện từ và câu 52
2.2.2.1 Chỉ ra tính lợi ích của các nội dung học tập 52
2.2.2.2.Tạo ngữ liệu thú vị 53
2.2.2.3 Lựa chọn, xây dựng nội dung dạy học thú vị 56
2.2.3 Nhóm các biện pháp sử dụng trong giờ Tập làm văn 65
2.2.3.1 Xây dựng đề bài hấp dẫn 66
2.2.3.2 Xây dựng lời gợi ý, hướng dẫn tìm ý hấp dẫn 67
2.2.3.3 Lựa chọn chiến lược lạc quan khi đánh giá bài làm của HS 69
2.3 Tiểu kết chương 2 74
CHƯƠNG 3: THỬ NGHIỆM SƯ PHẠM 75
3.1 Mục đích thử nghiệm 75
3.2 Nội dung thử nghiệm 75
3.3 Đối tượng, địa bàn thử nghiệm 75
3.4 Phương pháp nghiệm 77
3.5 Kết quả thử nghiệm 77
3.6 Những kết luận rút ra từ dạy học thử nghiệm 83
3.7 Tiểu kết chương 3 85
KẾT LUẬN CHUNG 86
1 Kết luận 86
2 Đề xuất 87
Tài liệu tham khảo 89
Phụ lục 93-131 DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN Trang Bảng 1.1 Mức độ hứng thú học tập môn Tiếng Việt của HS lớp 4 20
Bảng 1.2 Hứng thú học tập môn Tiếng Việt của HS lớp 4 huyện Trảng Bàng tỉnh Tây Ninh 22
Trang 7Bảng 1.3 : Nhận thức của giáo viên về hứng thú, hứng thú học 23
Bảng 1.4 Thực trạng sử dụng các biện pháp bồi dưỡng thú học tập môn Tiếng Việt của GV ở các trường Tiểu học huyện Trảng Bàng tỉnh Tây Ninh 26
CHƯƠNG 3: THỬ NGHIỆM SƯ PHẠM 75
Bảng 3.1: Các lớp thử nghiệm và đối chứng 76
Bảng 3.2: Kết quả học tập của học sinh đối với môn Tập đọc 80
Bảng 3.3: Mức độ hứng thú học tập của học sinh đối với môn Tập đọc 80
Bảng 3.4: Kết quả học tập của học sinh đối với môn Luyện từ và câu 80
Bảng3 5: Mức độ hứng thú học tập của học sinh đối với môn Luyện từ và câu 81
Bảng 3.6: Kết quả học tập của học sinh đối với môn Tập làm văn 81
Bảng 3.7: Mức độ hứng thú học tập của học sinh đối với môn Tập làm văn 81
Bảng 3.8: Kết quả học tập của học sinh đối với môn Tiếng Việt 81
Bảng 3.9: Mức độ hứng thú học tập của học sinh đối với môn Tiếng Việt 82
Trang 8LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành bày tỏ sự tri ân sâu sắc tới PGS TS Chu Thị Thủy
An, người luôn tận tình chỉ dẫn, giúp đỡ và hướng dẫn chúng tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Các thầy giáo, cô giáo trong khoa Giáo dục và khoa Sau đại học trường Đại học Vinh đã trang
bị cho tôi hành trang tri thức và kỹ năng nghiên cứu khoa học
Ban giám hiệu các trường Tiểu học Thị Trấn, Huỳnh Lâm Tân, An Phú,
An Hội, Thanh Hòa huyện Trảng Bàng tỉnh Tây Ninh
Các đồng nghiệp và bạn bè, gia đình đã nhiệt tình hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi và động viên chúng tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn
Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng song chắc chắn luận văn vẫn còn nhiều thiếu sót, kính mong nhận được sự góp ý kiến của quý thấy cô giáo và đồng nghiệp
Nghệ An, tháng 10 năm 2012
Tác giảNguyễn Hữu Danh
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Hứng thú là yếu tố vô cùng quan trọng, quyết định hiệu quả củamọi công việc, đặc biệt là trong học tập Nếu không có hứng thú HS sẽ khôngthể hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập của mình Những HS học giỏi là những
HS có mức độ hứng thú cao và duy trì thường xuyên Vì vậy, trong dạy học,
GV phải thường xuyên tạo ra và duy trì hứng thú học tập cho HS
1.2 Hiện nay, do ảnh hưởng của xã hội, HS tiểu học nói chung và HS ởhuyện Trảng Bàng tỉnh Tây Ninh nói riêng đều không thích học môn TiếngViệt bằng môn Toán Vì vậy, chất lượng dạy học môn Tiếng Việt chưa cao,kiến thức và kỹ năng sử dụng tiếng Việt của HS chưa đáp ứng yêu cầu củachương trình
1.3 Lớp 4 là lớp mà chương trình Tiếng Việt yêu cầu khá cao, độ khócủa kiến thức và kỹ năng tiếng Việt cao hơn nhiều so với lớp 3, điều nàykhiến cho nhiều HS gặp khó khăn trong học tập, giảm sút hứng thú học tập
1.4 Hiện nay, vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu về phươngpháp tạo hứng thú và duy trì hứng thú học tập môn Tiếng Việt cho HS tiểuhọc, GV tiểu học còn thiếu các tài liệu tham khảo, hướng dẫn về vấn đề này
Xuất phát từ lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu là “Một sốbiện pháp bồi dưỡng hứng thú học tập môn Tiếng Việt cho HS lớp 4 ở cáctrường Tiểu học huyện Trảng Bàng tỉnh Tây Ninh”
2 Mục đích nghiên cứu
Góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học môn Tiếng Việt lớp
4 ở các trường Tiểu học huyện Trảng Bàng tỉnh Tây Ninh bằng việc xây dựng
và sử dụng các biện pháp bồi dưỡng hứng thú học môn Tiếng Việt cho HS
3 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Trang 10Quá trình dạy học môn Tiếng Việt cho HS lớp 4 ở các trường Tiểu họchuyện Trảng Bàng tỉnh Tây Ninh.
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp bồi dưỡng hứng thú học tập môn Tiếng Việt cho HSlớp 4 ở các trường Tiểu học huyện Trảng Bàng Tỉnh Tây Ninh
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của một luận văn Thạc sĩ, chúng tôi chỉ nghiên cứucác biện pháp bồi dưỡng hứng thú trong giờ học các phân môn Tập đọc,Luyện từ và câu, Tập làm văn
4 Giả thuyết khoa học
Chúng tôi giả định rằng, có thể nâng cao hứng thú và chất lượng họctập các phân môn Tập đọc, Luyện từ và câu, Tập làm văn cho HS lớp 4 ở cáctrường Tiểu học huyện Trảng Bàng tỉnh Tây Ninh bằng các biện pháp bồidưỡng hứng thú phù hợp với đặc trưng môn học và điều kiện dạy học của địaphương, góp phần nâng cao hệu quả dạy học môn Tiếng Việt
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Tìm hiểu những vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài
5.2 Tìm hiểu và phân tích thực trạng hứng thú học tập và thực trạng sửdụng các biện pháp bồi dưỡng hứng thú học tập cho HS lớp 4 ở các trườngTiểu học trong huyện Trảng Bàng tỉnh Tây Ninh
5.3 Đề xuất một số biện pháp bồi dưỡng hứng thú học tập môn TiếngViệt thông qua các phân môn: Tập đọc, Luyện từ và câu, Tập làm văn cho HSlớp 4 ở các trường Tiểu học huyện Trảng Bàng tỉnh Tây Ninh
5.4 Tổ chức thử nghiệm để kiểm tra tính khả thi tính hiệu quả của cácbiện pháp đã đề xuất
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng các thao tác phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, khái quát hoánhững tài liệu lý thuyết để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
Trang 116.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1 Phương pháp quan sát, điều tra:
Nhằm tìm hiểu thực trạng, xây dựng cơ sở thực tiễn cho đề tài; kiểmchứng tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất
6.2.2 Phương pháp thống kê toán học: sử dụng để phân tích và xử lýtất cả các mẫu phiếu điều tra Mặt khác, còn dùng để đánh giá tính cấp thiết
và mức độ khả thi của các biện pháp đề xuất
6.2.3 Phương pháp thực nghiệm: dùng để kiểm tra tính khả thi và tínhhiệu quả của các đề xuất trong đề tài
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Kiến nghị, Tài liệu tham khảo và Phụlục, luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Xây dựng một số biện pháp bồi dưỡng hứng thú học tậpmôn Tiếng Việt cho HS lớp 4 ở các trường Tiểu học huyện Trảng Bàng tỉnhTây Ninh
Chương 3: Thử nghiệm sư phạm
Trang 12Những công trình nghiên cứu về hứng thú trên thế giới xuất hiện tương đốisớm và vẫn đang trên đà phát triển Herbart (1776 – 1841), nhà giáo dục họcngười Đức, người khai sinh ra trường phái giáo dục hiện đại đưa ra 4 mức độdạy học: tính sáng rõ, tính liên tưởng, tính hệ thống, tính phong phú OvideDecroly (1871 – 1932), nhà tâm lý học người Bỉ khi nghiên cứu về năng lựctập đọc và làm các phép toán của trẻ đã xây dựng học thuyết về trung tâmhứng thú và lao động tích cực ở trẻ I.K Strong, khi nghiên cứu về hứng thú
đã đi đến kết luận của riêng mình: hứng thú thay đổi tùy theo lứa tuổi Năm
1946, Clapade, trong công trình “Tâm lý trẻ em và thực nghiệm sư phạm”, đãrút ra kết luận: quy luật của hứng thú là cái trục duy nhất mà tất cả mọi hệthống phải xoay quanh nó Trong những năm 40 của thế kỷ XX, các nhà tâm
lý học như: SLrubinstein, N.G Morodop… đã chứng minh rằng hứng thú làbiểu hiện của ý chí, tình cảm Năm 1955, A.P.Ackhadop, trong công trìnhnghiên cứu về hứng thú học tập, đã tìm thấy mối quan hệ khắng khít giữa trithức học viên với hứng thú học tập Năm 1972, trong công trình nghiên cứucủa mình L.I.Bôzôvitch đã nêu lên quan hệ giữa hứng thú với tính tích cựccủa HS Năm 1976, A K Marcôva, trong những nghiên cứu của mình, đã kếtluận: dạy học nêu vấn đề là một trong những biện pháp quan trọng góp phầnnâng cao hứng thú trong học tập của hoc sinh Piaget (1896 – 1996) nhà tâm
lý học Thụy Sĩ có nhiều công trình nghiên cứu về trí tuệ trẻ em và khoa họcgiáo dục đã nhấn mạnh: “Trẻ em là thực thể hoạt động bị chi phối bởi quy luậthứng thú hoặc của nhu cầu Mọi hoạt động của trí thông minh cũng dựa trênnền tảng hứng thú” Từ sự khái quát trên, ta thấy lịch sử nghiên cứu hứng thútrên thế giới được xếp vào 3 xu hướng như sau: Thứ nhất, giải thích bản chấttâm lý của hứng thú, đại diện của xu hướng này là nhà tâm lý học A.F.Beliep,tác giả của công trình nghiên cứu “Tâm lý học hứng thú” Thứ hai, xem xéthứng thú trong mối quan hệ với sự phát triển nhân cách nói chung và vốn trithức của cá nhân nói riêng Tiêu biểu cho xu hướng này là các nhà khoa họcnhư: L.L.Bôgiôvich với công trình “Hứng thú trong quan hệ hình thành nhân
Trang 13cách”; Lukin, Levitop “Hứng thú trong quan hệ với năng lực”; L.P.Bowlagona Dejina, L.X.Xlavi, B.N.Mione lại xem xét “Hứng thú trong quan
hệ với hoạt động”, theo các tác giả này, hứng thú là động cơ có ý nghĩa củahoạt động Thứ ba, nghiên cứu sự hình thành và phát triển hứng thú theo cácgiai đoạn lứa tuổi Các nhà khoa học tiêu biểu cho khuynh hướng này làG.I.Sukina với công trình “Nghiên cứu hứng thú trẻ em ở các lứa tuổi”; V.N.Marosova nghiên cứu “Sự hình thành hứng thú của trẻ em trong điều kiệnbình thường và không bình thường”…
Ở Việt Nam, tuy khoa học nghiên cứu tâm lý ra đời khá muộn, nhưng từnhững năm 60 của thế kỷ XX cũng đã có một số công trình khoa học nghiêncứu về hứng thú Trương Anh Tuấn (1960), Phạm Huy Thụ (1970), ĐặngTrường Thanh (1980) nghiên cứu về “Hứng thú bộ môn của học sinh cấp III”;Phạm Huy Thụ (1977) bảo vệ thành công đề tài “Hiện trạng hứng thú học tậpcủa hoc sinh cấp II một số trường tiên tiến” từ đó, đề xuất một số biện phápgiáo dục nhằm nâng cao hứng thú học tập cho HS Trần Thị Thanh Hương(1984) đã làm thực nghiệm với đề tài “Nâng cao hứng thú học toán của HSqua việc điều khiển hoạt động tự học ở nhà của hoc sinh” Hoàng Hồng Liên(1994) với đề tài “Bước đầu nghiên cứu những con đường nâng cao hứng thúcho HS phổ thông” Với đề tài này, tác giả mạnh dạn khẳng định: “Dạy họctrực quan là biện pháp tốt nhất để tác động đến hứng thú của HS” Đào ThịOanh (1996) nghiên cứu về “Hứng thú học tập và sự thích nghi với cuộc sốngnhà trường của HS tiểu học” Phạm Thị Thắng (1988) với đề tài “Nghiên cứu
sự quan tâm của cha mẹ đến việc duy trì hứng thú học tập của thanh thiếuniên”
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về bồi dưỡng hứng thú học tập môn Tiếng Việt cho HS
Các công trình nghiên cứu về hứng thú học tập môn Tiếng Việt xuấthiện sớm nhưng việc nghiên cứu về bồi dưỡng hứng thú học tập môn TiếngViệt chưa được các nhà khoa học và các nhà giáo quan tâm Hiện tại chỉ có
Trang 14những tài liệu gián tiếp bàn về hứng thú học tập tiếng Việt chủ yếu khơi gợitìm tòi các biện pháp dạy học tiếng Việt sao cho hay, cho vui Đó là nhữngcuốn sách tham khảo như: “Những bài tập tiếng Việt lý thú” (Trương ĐứcThành), “Chuyện vui chữ nghĩa” (Nguyễn Văn Tứ), “Tiếng Việt lý thú”(Trịnh Mạnh); “Vui học tiếng Việt” (Trần Mạnh Hưởng); “Trò chơi học tậptiếng Việt ở tiểu học” (Trần Mạnh Hưởng, Lê Phương Nga, Nguyễn ThịHạnh) Các quyển sách trên đều dẫn người đọc đi đến một kết luận: nếu biết
sử dụng nguồn tư liệu và bài tập phù hợp kết hợp với phương pháp tổ chứchọc tập nhạy bén hợp ngữ cảnh… thì người thầy sẽ có được một buổi lên lớpvới môn Tiếng Việt thành công, HS sẽ có được một buổi học tiếng Việt đầyhứng thú Tiếp theo là những tài liệu đi sâu hơn vào vấn đề tạo hứng thú cho
HS trong việc học tập tiếng Việt Đó là những giáo trình hoặc chuyên đề đượcđăng trên các tạp chí khoa học giáo dục như: “Bồi dưỡng hứng thú của họcsinh đối với môn Tiếng Việt” (Lê Xuân Thại), “Để có những thành công của
HS trong giờ học tiếng Việt những ngày đầu đến trường” (Lê Phương Nga).Các giáo trình và tài liệu trên đã đề cập đến biện pháp tạo hứng thú học tậptiếng Việt cho HS tiểu học nhưng chưa hoàn chỉnh và nhất là chưa khái quáthóa các biện pháp tạo hứng thú thành lý luận để đội ngũ GV ứng dụng vàogiờ dạy tiếng Việt
Giả thuyết khoa học có thể tạo ra hứng thú học tập môn Tiếng Việt chohoc sinh tiểu học bằng cách kết hợp nhiều phương pháp dạy học truyền thốngcũng như hiện đại là điều có thể thực hiện được Đó là lý do chúng tôi tiếnhành công việc nghiên cứu với đề tài “Xây dựng một số biện pháp bồi dưỡnghứng thú học tập môn Tiếng Việt cho HS lớp 4 ở các trường Tiểu học huyệnTrảng Bàng tỉnh Tây Ninh”
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.2.1 Hứng thú, hứng thú học tập của HS tiểu học
1.2.1.1 Hứng thú và vai trò của hứng thú
Trang 15- “Hứng thú là thái độ đặc thù của cá nhân đối với một đối tượng nào
đó, do ý nghĩa của nó trong đời sống và sự hấp dẫn của nó” (Côvaliôp).Tuyển tập Báo cáo “Hội nghị sinh viên nghiên cứu Khoa học” lần thứ 6
- Hứng thú là thuộc tính bẩm sinh là thái độ đặc thù của cá nhân đối vớiđộng cơ có ý nghĩa của hoạt động Nó biểu hiện ý chí, tình cảm, cảm xúc khácnhau một trạng thái năng động của sự đồng hóa và dấu hiệu của nhu cầu bảnnăng khát vọng đòi hỏi cần được thỏa mãn của con người chú ý tới đối tượngnhất định là nguyện vọng tìm hiểu chúng một cách tỉ mỉ và những động lựcxúc cảm khác nhau
Vai trò của hứng thú:
Hứng thú góp phần kích thích hoạt động, làm cho con người say mêhoạt động đem lại hiệu quả cao trong hoạt động của mình Hứng thú hìnhthành và phát triển dẫn đến nhu cầu trong lĩnh vực đó phát triển dễ dàng hơn.Nhu cầu và hứng thú có quan hệ mật thiết với nhau, nhu cầu là tiền đề, cơ sởcủa hứng thú, khi có hứng thú với một cái gì thì cá nhân sẽ hoạt động tích cựcchiếm lĩnh đối tượng để thỏa mãn nhu cầu tạo ra khoái cảm thích thú trongcuộc sống, lúc đó xuất hiện nhu cầu mới cao hơn Tiến hành hoạt động nhậnthức đạt hiệu quả, hứng thú tạo ra động cơ quan trọng của hoạt động Hứngthú làm tích cực hóa các quá trình tâm lý (tri giác, trí nhớ, tư duy, tưởngtượng ) tạo sự định hướng của cá nhân, vào một đối tượng nhất định Hứngthú được nâng cao và lôi cuốn hấp dẫn chúng ta về đối tượng của nó, tạo ratâm lý khát khao tiếp cận đi sâu vào nó
Đối với hoạt động nói chung:
- Trong quá trình hoạt động của con người cùng với nhu cầu cuộc sống,hứng thú kích thích hoạt động làm cho con người say mê hoạt động đem lạihiệu quả cao trong hoạt động của mình Hứng thú hình thành và phát triển dẫnđến nhu cầu trong lĩnh vực đó phát triển dễ dàng hơn Nhu cầu và hứng thú cóquan hệ mật thiết với nhau, nhu cầu là tiền đề, là cơ sở của hứng thú, khi có
Trang 16hứng thú với một cái gì thì cá nhân sẽ hoạt động tích cực chiếm lĩnh đối tượng
để thỏa mãn nhu cầu trong cuộc sống lúc đó xuất hiện nhu cầu mới cao hơn
- Công việc nào có hứng thú cao hơn người thực hiện nó một cách dễdàng, có hiệu quả cao, tạo ra xúc cảm dương tính mạnh mẽ đối với người tiếnhành hoạt động đó và họ sẽ tìm thấy niềm vui trong công việc, công việc trởnên nhẹ nhàng, ít tốn công sức hơn, có sự tập trung cao Ngược lại, người tacảm thấy gượng ép, công việc trở nên nặng nhọc khó khăn làm cho người tamệt mỏi, chất lượng hoạt động giảm rõ rệt
Đối với hoạt động nhận thức
Hứng thú là động lực giúp con người tiến hành hoạt động nhận thức đạthiệu quả, hứng thú tạo ra động cơ quan trọng của hoạt động Hứng thú làmtích cực hóa các quá trình tâm lý (tri giác, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng )
Đối với năng lực:
Khi chúng ta được làm việc phù hợp với hứng thú, thì dù phải vượt quamuôn ngàn khó khăn, người ta vẫn cảm thấy thoải mái làm cho năng lực tronglĩnh vực hoạt động ấy dễ dàng hình thành, phát triển
“Năng lực phụ thuộc vào sự luyện tập, nhưng chỉ có hứng thú mới cho phépngười ta say sưa làm một việc gì đó tương đối lâu dài không mệt mỏi màkhông sớm thỏa mãn mà thôi Hứng thú làm cho năng khiếu thêm sắc bén”
Đối với người học việc hình thành năng lực phụ thuộc vào nhiều yếutố, trong đó có hứng thú của người học đối với môn học là rất quan trọng,trong quá trình giảng dạy GV phải thu hút được người học vào bài giảng làmcho người học có hứng thú đối với môn học Hứng thú là yếu tố quyết địnhđến sự hình thành và phát triển năng lực cá nhân Hứng thú và năng lực cóquan hệ biện chứng với nhau, cái này làm tiền đề cho cái kia và ngược lại.Hứng thú và năng lực là một cặp không tách rời khỏi nhau, có nghĩa là tàinăng sẽ bị thui chột nếu hứng thú không thực sự sâu sắc, đầy đủ, nói chunghứng thú không được nuôi dưỡng lâu dài nếu không có những năng lực cầnthiết để thỏa mãn hứng thú.”
Trang 17Đối với người học, hứng thú học tập có vai trò quan trọng Nó tạo rađộng cơ chủ đạo của hoạt động học tập Vì vậy, việc hình thành và phát triểnhứng thú nói chung hứng thú học tập nói riêng của người học là mục đích gầncủa người giảng viên ( Hứng thú - khái niệm Hứng thú trong Tâm lý học ).
1.2.1.2 Hứng thú học tập và vai trò của hứng thú trong học tập.
- Hứng thú học tập chính là thái độ cảm xúc tích cực của HS đối vớimôn học, sự lựa chọn đặc biệt của chủ thể đối với đối tượng, của hoạt độnghọc tập vì sự cuốn hút về mặt tình cảm và ý nghĩa thiết thực của nó trong đờisống của cá nhân HS
- Vai trò của hứng thú học tập:
Hứng thú giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao hiệu quảcủa quá trình học tập, nhờ hứng thú mà quá trình học tập của HS có thể giảmmệt mỏi, căng thẳng, tăng sự chú ý, thúc đẩy tính tích cực, tìm tòi sáng tạo vàquyết định kết quả học tập của HS Đồng thời, hứng thú học tập có mối quan
hệ khắng khít với tri thức HS mà còn tăng sự thích thú học tập của HS Tiểuhọc trong giai đoạn hiện nay
Hứng thú học tập góp phần hình thành quan hệ nhân cách cho HS là cơ
sở để HS đề ra nhiệm vụ học tập điều khiển hoạt động tự học ở nhà của HS Hứng thú học tập là phương tiện góp phần nâng cao chất lượng giảngdạy của GV, là điều kiện và khả năng giáo dục hứng thú học tập và lao độngcho HS Việc hình thành hứng thú học tập cho HS, đặc biệt là môn TiếngViệt sẽ góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy của GV mà còn tăng sự thíchthú học tập của HS Tiểu học trong giai đoạn hiện nay
Ngoài ra, hứng thú học tập giúp cho GV và HS gần gũi nhau hơn cùngnhau thực hiện nhiệm vụ dạy và học
1.2.1.3 Quy luật hình thành và duy trì hứng thú trong học tập của
HS tiểu học.
- Quy luật của hứng thú là cái trục duy nhất mà hệ thống phải xoay quanh
nó theo từng giai đoạn lứa tuổi của trẻ như: Mẫu giáo, Tiểu học, Trung học
Trang 18- Hứng thú có thể hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động của cánhân và sau khi được hình thành, chính nó quay trở lại thúc đẩy cá nhân hoạtđộng Vì lý do trên, hứng thú tạo nên ở cá nhân khát vọng tiếp cận và đi sâuvào đối tượng gây ra nó, khát vọng này được biểu hiện ở chỗ cá nhân tậptrung ý chí làm cho mình hứng thú, hướng dẫn và điều chỉnh các quá trìnhtâm lý theo một hướng xác định Do đó, tích cực hóa họat động của con ngườitheo hướng phù hợp với hứng thú của nó, dù phải vượt qua muôn ngàn khókhăn người ta vẫn thấy thoải mái và thu được hiệu quả cao Hứng thú trongcông việc hoàn toàn khác với làm việc tùy hứng Hứng thú trong công việc làmột phẩm chất tốt đẹp của nhân cách còn làm việc tùy hứng là biểu hiện củatính tùy tiện của một tính cách không được giáo dục hoàn thiện.
Ngoài ra, hứng thú của một người có liên quan đến việc xúc cảm, tìnhcảm của người đó có thực sự nhập tâm vào đối tượng mình quan tâm haykhông
1.2.2 Môn Tiếng Việt và việc bồi dưỡng hứng thú học tập cho HS
lớp 4
1.2.2.1 Đặc điểm môn học Tiếng Việt ở lớp 4
a Mục tiêu môn Tiếng Việt
a.1 Chương trình Tiểu học mới xác định mục tiêu của môn Tiếng Việt
ở bậc Tiểu học là:
+ Hình thành và phát triển ở HS các kỹ năng sử dụng tiếng Việt (nghe,nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứatuổi
Thông qua việc dạy và học tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác
tư duy
+ Cung cấp cho HS những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và nhữngkiến thức sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa, văn học củaViệt Nam và nước ngoài
Trang 19+ Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sựtrong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách của conngười Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
a.2 Ở lớp 4, mục tiêu nói trên được cụ thể hóa thành những yêu cầu vềkiến thức và kỹ năng đối với HS như sau:
Nghe hiểu các tác phẩm văn học hoặc trích đoạn văn học dân gian, thơ,truyện, kịch,…nhớ được nội dung nhân vật, chi tiết có giá trị nghệ thuật, biếtnhận xét về nhân vật và sự kiện trong tác phẩm tự sự
Ghi đuợc ý chính của các văn bản đã nghe
Đọc thầm có tốc độ nhanh hơn lớp 3
Trang 20Biết cách xác định đại ý, chia đoạn văn bản, nhận ra mối quan hệ nhânvật, sự kiện, tình tiết trong bài, biết nhận xét về một số hình ảnh, nhân vậttrong các tác phẩm văn chương.
Biết sử dụng từ điển HS Có thói quen và biết cách ghi chép thông tin đãhọc Học thuộc lòng 10 bài (trong đó có 2 bài văn xuôi) trong sách gióa khoa
Viết
Viết đúng chính tả, chữ viết rõ ràng, viết hoa đúng quy định Có thóiquen tự phát hiện và sửa lỗi đúng chính tả Có thói quen và biết cách lập sổtay đúng chính tả, hệ thống hóa các quy tắc viết chính tả đã học
Biết cách lập dàn ý cho bài văn, rút ra đại ý từ bài văn đã cho sẵn,chuyển dàn ý thành đoạn văn
Biết cách viết thư, điền vào một số loại giấy tờ in sẵn, làm một số bàivăn kể chuyện và miêu tả đồ vật, cây cối con vật Nắm vững cách viết mở bài
và các đoạn văn
Kiến thức tiếng Việt và văn học (học thành tiết riêng)
* Về từ vựng:
- Học thêm khoảng 700 từ, thành ngữ, tục ngữ theo chủ điểm Nắmđược nghĩa của một số yếu tố Hán Việt, một số thành ngữ, tục ngữ thôngdụng Nắm được nghĩa bóng của một số từ trong tác phẩm văn học
- Nắm được cấu tạo của tiếng (âm đầu, vần, thanh) và cấu tạo của từ (từđơn và từ phức, từ ghép và từ láy)
* Về ngữ pháp và ngữ pháp văn bản:
- Nắm được khái niệm danh từ, động từ, tính từ
- Nắm được các kiểu câu đơn và thành phần của câu đơn (chủ ngữ, vịngữ, trạng ngữ); các kiểu câu phục vụ cho mục đích nói chuyên biệt: câu kể,câu cảm, câu khiến
Nắm được kết cấu ba phần của văn bản
* Về văn học:
Trang 21- Làm quen với một số tác phẩm hoặc trích đoạn tác phẩm văn học dângian, truyện, thơ, kịch, văn miêu tả của các tác giả trong và ngoài nước.
- Nắm được các khái niệm cốt truyện nhân vật đề tài
b Đặc điểm cấu trúc nội dung môn Tiếng Việt ở lớp 4
b.1 Các đơn vị học
Sách giáo khoa Tiếng Việt 4 (hai tập) gồm 10 đơn vị học, mỗi đơn vịứng với một chủ điểm, học trong ba tuần (trừ chủ chủ điểm Tiếng sáo diều ởtập một học trong 4 tuần)
Nếu như ở các lớp dưới, chủ điểm học tập xoay quanh các lĩnh vực rấtgần gũi với học sinh như gia đình, trường học, thiên nhiên và xã hội thì ở lớp
4, chủ điểm là những vấn đề về đời sống tinh thần của con người như tínhcách, đạo đức, năng lực sở thích,…cụ thể như sau:
Tập một gồm 5 chủ điểm, học trong 18 tuần:
Thương người như thể thương thân (lòng nhân ái) (tuần 1, 2, 3)
Măng mọc thẳng (tính trung thực, lòng tự trọng) (tuần 4, 5, 6)
Trên đôi cánh ước mơ (ước mơ) (tuần 7, 8, 9)
Có chí thì nên (nghị lực) (tuần 11, 12, 13)
Tiếng sáo diều (vui chơi) (tuần 14, 15, 16, 17)
Tuần 10 dùng để ôn tập giữa học kỳ I; tuần 18 – ôn tập cuối học kỳ I
Tập hai gồm 5 chủ điểm, học trong 17 tuần:
Người ta là hoa đất (năng lực, tài trí) (tuần 19, 20, 21)
Vẻ đẹp muôn màu (óc thẩm mỹ) (tuần 22, 23, 24)
Những người quả cảm (lòng dũng cảm) (tuần 25, 26, 27)
Khám phá thế giới (du lịch, thám hiểm) (tuần 29, 30, 31)
Tình yêu cuộc sống (lạc quan, yêu đời) (tuần 32, 33, 34)
Tuần 28 dùng để ôn tập giữa học kỳ II ; tuần 35 – ôn tập cuối học kỳ IIb.2 Các phân môn
- Phân môn Tập đọc rèn cho học sinh các kỹ năng đọc, nghe và nói.Cũng như ở các lớp dưới, thông qua hệ thống bài đọc theo chủ điểm và những
Trang 22câu hỏi tìm hiểu bài, phân môn Tập đọc cung cấp cho học sinh những hiểubiết về thiên nhiên, xã hội và con người, cung cấp vốn từ, tăng cường khảnăng diễn đạt, trang bị một số hiểu biết ban đầu về tác phẩm văn học (như đềtài, cốt truyện, nhân vật, …) và góp phần rèn luyện nhân cách cho học sinh.Tuy nhiên, các bài tập đọc ở lớp 4 có số lượng từ nhiều hơn, việc luyện đọcbắt đầu chú ý đến yêu cầu biểu cảm, câu hỏi tìm hiểu bài chú trọng khai tháchàm ý và nghệ thuật biểu hiện cũng nhiều hơn…
- Phân môn Chính tả rèn các kỹ năng viết, nghe và đọc Nhiệm vụ củahọc sinh là làm các bài chính tả đoạn – bài (nghe – viết hoặc nhớ - viết mộtđoạn văn hay bài văn ngắn) và làm bài tập chính tả âm - vần Bên cạnh tácdụng rèn kỹ năng viết, nghe và đọc, các bài tập chính tả còn cung cấp cho họcsinh vốn từ vốn hiểu biết về các mảng khác nhau trong đời sống Ở lớp 4,không còn hình thức chính tả tập chép (nhìn - viết) ; các bài tập chính tả âm -vần cũng có yêu cầu cao hơn …
- Phân môn Luyện từ và câu cung cấp những kiến thức sơ giản về tiếngViệt và rèn luyện kỹ năng dùng từ, đặt câu (nói, viết), kĩ năng đọc cho họcsinh Khác với các lớp dưới, ở lớp 4 bắt đầu có những tiết học dành riêng đểtrang bị kiến thức cho học sinh
- Phân môn Tập làm văn rèn 4 kĩ năng nghe, nói, đọc và viết Học sinhlớp 4 được dạy các kĩ năng kể chuyện và miêu tả đồ vật, cây cối, con vật Bêncạnh đó, các em còn được dạy các kĩ năng thuyết trình, trao đổi và nâng caocác kĩ năng viết thư, điền vào giấy tờ in sẵn đã được hình thành từ các lớpdưới
b.3 Phân bố thời gian học trong một tuần:
Tập đọc 2 tiết; chính tả 1 tiết; Luyện từ và câu 2 tiết; Kể chuyện 1 tiết; Tậplàm văn 2 tiết
1.2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hứng thú học tập môn Tiếng Việt lớp 4
Trang 23a Quá trình phát triển tâm sinh lí của học sinh và cấu trúc tâm lí củahứng thú
- Trong giai đoạn này, các em phát triển về mặt thể chất lẫn tâm hồnthường cho mình là người lớn Các em thường hăng hái, vui vẻ, thông minhlanh lợi, linh hoạt, tính tình nóng nảy, hăng hái nhưng thiếu mức độ, dễ bốc,
dễ xẹp, chóng chán, thường thiếu bình tĩnh điềm đạm và kiên trì Vì tuổi này
là tuổi chuyển tiếp
- Do cường độ của hưng phấn ức chế cân bằng và chuyển hóa nhanhnên dễ thích nghi với điều kiện sống mới, trí thông minh phát triển linh hoạtnhưng không bền, ức chế trong kém nên hoạt động thần kinh không ổn định,
dễ thay đổi định hình, phản ứng thường quá mức
- Bên cạnh đó, cảm xúc được gây ra do các kích thích từ môi trườngsống, tác động lên các thụ cảm làm thay đổi chức năng bên trong cơ thể, tạo
ra các họat động yêu thích hay bắt chước tập làm người lớn Các em thíchquan sát thích nhận xét đánh giá, những nhận xét này mang tính trực quan,cảm tính bằng ngôn ngữ sáng tạo
- Những điều kiện và khả năng giáo dục hứng thú trong quá trình họctập và lao động của học sinh
- Sự hiểu biết nhất định về môn học được xem là một tiền đề cho sựhình thành hứng thú đối với môn học
- Giáo viên chưa nêu cao lòng yêu người, yêu nghề và rèn luyện taynghề, chưa tổ chức các hoạt động ngoại khóa, chưa tổ chức các giờ dạy mẫu
về bồi dưỡng hứng thú học tập cho học sinh, chương trình chưa hợp lý vàđộng viên học sinh tích cực tham gia các hoạt động văn hóa nghệ thuật
- Học sinh chưa nhận thức được vai trò của hoạt động học đối với bảnthân, chưa nỗ lực vượt khó trong quá trình học tập
- Sự quan tâm của cha mẹ học sinh chưa cao cũng ảnh hưởng đến hứngthú học tập của học sinh
Trang 24- Từ đó, GV có điều kiện bồi dưỡng hứng thú cho HS lớp 4, phù hợpvới sự phát triên tâm lý, trí tuệ lứa tuổi này.
b Sự phát triển của nhận thức
- Sự phát triển nhận thức là sự lĩnh hội những điều cần thiết cho trẻ khichúng suy nghĩ, học tập, nhớ, hiểu, phán đoán và sử dụng các khái niệm
- Sự thừa hưởng các yếu tố di truyền ảnh hưởng tốt đến nhân cách củatrẻ em, nó xác định những đặc tính quan trọng trong hành vi của cá nhân Ditruyền ảnh hưởng đến nhân cách của trẻ em, tất cả trẻ em đều có đặc điểmchung của con người và có những tiêu chuẩn chung là giới tính, dân tộc, nềnvăn hóa và trí tuệ Chúng cũng có những đặc điểm riêng được hình thành dolịch sử riêng của mỗi gia đình và phân biệt nhau qua cách ứng xử với thế giớibên ngoài như: trẻ luôn luôn biểu lộ vui mừng, những suy nghĩ và tình cảm.Lớn lên, chúng phát triển đặc trưng khác (ít ảnh hưởng và kém phù hợp) nhưthị hiếu, sở thích và cách phản ứng với các tình huống cụ thể (Gross 2005)
- Tri giác của các em trong giai đoạn này không phải là một quá trìnhthụ động, nó cũng không chỉ là biểu hiện chức năng của giác quan mặc dù nóhoạt động dựa trên chúng Nếu hiểu theo một cách nào đó thì tri giác là quátrình hoạt động tích cực dựa trên thông tin của các giác quan Tri giác còn làmột quá trình chọn lọc, nếu không thì bộ não trẻ sẽ bị liên tục tấn công bởihàng loạt thông tin đưa vào từ thị giác, thính giác, vị giác, xúc giác và khứugiác Điều này đòi hỏi phải suy luận và vượt quá phạm vi những gì được thấy
và nghe
- Trí nhớ rất quan trọng trong quá trình hoc tập Trí nhớ góp phần trong việclưu giữ kiến thức và kinh nghiệm lâu dài để vận dụng về sau Nếu không nhớđược thế giới hiện tại sẽ là một nơi nguy hiểm cho sự sống còn của chúng ta
Có ba hoạt động tương đương với nhau: tiếp nhận thông tin có ý nghĩa, lưutrữ thông tin này và một phương pháp thu hồi nó Những tác động từ bênngoài qua cơ quan cảm giác dưới dạng thông tin, dữ kiện,… được vỏ não xử lí
và lưu trữ lại khoảng 5 phần trăm thông tin Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khả
Trang 25năng nhớ của trẻ như là cảm xúc, sự tái hiện lại thông tin, sự liên tưởng nhữngthông tin quen thuộc và thú vị “ngoài lề” không có liên quan đến vấn đề trọngtâm Trẻ em có thể dễ dàng phân tâm bởi những thông tin “ngoài lề” này nếuchúng chán nản hoặc thấy khó hiểu.
- Động cơ của hành vi là mục tiêu định hướng cho hành động và có tínhmục đích Nó là kim chỉ nam cho tồn tại của mỗi con người Nó vừa có liênquan đến cân bằng sinh lý của cơ thể vừa cần thiết cho việc học tập, trongphạm vi môi trường văn hóa của mỗi bản thân
- Cảm xúc là những kinh nghiệm chủ quan liên quan đến những thayđổi sinh lý trong cơ thể Có thể phân tán chú ý trẻ em với đồ chơi yêu thích vànhững bộ phim truyện được thông qua các mô cơ thể của họ
- Nhận thức xã hội xuất hiện khi trẻ nhận ra con người (bằng quan sát)
và sử dụng cử chỉ nét mặt để giao tiếp với họ Sự gắn bó cũng là sự phát triểncảm xúc là mối quan hệ xã hội đầu tiên Ở đây gọi chung là khả năng nhậnthức, đặc biệt chỉ có ở con người mà không có ở đồ vật
- Việc phát triển các kỹ năng sống cho thấy sự thay đổi về chất khi trẻ
em dần trưởng thành Chúng thay đổi sự chú ý từ đặc điểm bên ngoài đến bảnchất bên trong Trẻ em sẽ quan sát người lớn nói chuyện với nhau nhưngnhững đứa trẻ lớn hơn sẽ cố gắng tìm hiểu xem họ đang nói về điều gì và họnghĩ về chủ đề gì Một đứa trẻ sẽ hiểu các mối quan hệ thông qua các cảm xúctrực tiếp của mình Trẻ em có thể biết cách cư xử đúng, nhưng có thể chọnmột cách khác khi áp lực nhóm bạn cùng trang lứa ảnh hưởng đến chúng hoặckhi chúng nhìn thấy cái đạt được trong thời gian ngắn là quan trọng đối với họvào lúc đó Trẻ em có thể biết nói xin lỗi nếu chúng làm tổn thương trẻ khác,nhưng trên thực tế, liệu có một ai đó có thể yêu cầu chúng thật sự cảm thấy cólỗi khi điều đó đã ổn định như một căn cứ đã tồn tại từ lâu
1.3 CƠ SỞ THỰC TIỄN
Để xác lập cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu, chúng tôi đã tiếnhành khảo sát thực tế công tác bồi dưỡng hứng thú học tập môn Tiếng Việt 4
Trang 26cho HS của GV tiểu học, hứng thú học tập môn Tiếng Việt 4 của HS một sốtrường tiểu học trên địa bàn huyện Trảng Bàng tỉnh Tây Ninh Cụ thể là cáctrường:
Trường Tiểu học Thị Trấn
Trường Tiểu học Huỳnh Lâm Tân
Trường Tiểu học An Phú
Trường Tiểu học Thanh Hòa
Trường Tiểu học An Hội
* Nội dung khảo sát:
+ Khảo sát tình hình dạy học môn Tiếng Việt ở trường tiểu học
+ Tìm hiểu mức độ hứng thú học tập môn Tiếng Việt của HS lớp 4.+ Tìm hiểu thực trạng hứng thú học tập môn Tiếng Việt của HS lớp 4.+ Tìm hiểu thực trạng nhận thức và sử dụng một số biện pháp bồidưỡng hứng thú học tập môn Tiếng Việt của GV ở các trường Tiểu học huyệnTrảng Bàng tỉnh Tây Ninh
+ Phương pháp đàm thoại: Để có thể thu thập thông tin một cách
nhanh chóng, chúng tôi đã tiến hành trao đổi với GV về những vấn đề có liênquan đến quá trình khảo sát Đồng thời chúng tôi còn dự giờ một tiết học củamôn Tiếng Việt ở một trường tiểu học của huyện
* Kết quả khảo sát:
1.3.1 Mức độ hứng thú học tập môn Tiếng Việt của HS lớp 4.
Kết quả số liệu điều tra về hứng thú học tập môn Tiếng Việt của HSlớp 4
Bảng 1.1 Mức độ hứng thú học tập môn Tiếng Việt của HS lớp 4
Trang 271.3.2 Thực trạng hứng thú trong học tập môn Tiếng Việt của HS lớp 4 ở các trường Tiểu học huyện Trảng Bàng tỉnh Tây Ninh
Để nắm được thực trạng nhận thức của HS về hứng thú học tập tiếngViệt cho HS lớp 4 Chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu, điều tra, khảo sátphỏng vấn 290 HS tiểu học của một số trường tiểu học ở huyện Trảng Bàngtỉnh Tây Ninh bằng phiếu điều tra hứng thú học tập tiếng Việt cho HS lớp 4(xem nội dung các phiếu điều tra trong phần phụ lục 2, trang 97) Chúng tôinhận thấy quá trình hứng thú học tập thông qua các môn Tập đọc, Luyện từ
và câu, Tập làm văn, các em gặp rất nhiều khó khăn Hầu hết các em chưa
hiểu Hứng thú học tập là gì, và những kỹ năng cần thiết khi có hứng thú trong
học tập
Trang 28Trong bảng 1.2 Khảo sát đánh giá khả năng hứng thú môn học của HS(Thông qua bài làm yêu cầu HS về những nguyên nhân ảnh hưởng hứng thúhọc tập môn Tiếng Việt của HS lớp 4).
Bảng 1.2 Hứng thú học tập môn Tiếng Việt của HS lớp 4 huyện Trảng
Nhận xét khả năng hứng thú môn học của HS ta thấy:
+ Về kiến thức của HS qua môn Tập đọc, Tập làm văn, Luyện từ và câuTốt: 20/290, Tỉ lệ: 6.9%; Khá: 42/290, Tỉ lệ: 14,48%; Trung bình: 178/290, Tỉlệ: 61,38%,; Yếu: 50/ 290, Tỉ lệ: 17,24%
+ Sự hứng thú của HS đối với môn học Tốt: 42/290,Tỉ lệ: 14,48 %;Khá: 52/ 290, Tỉ lệ 17,93%; Trung bình: 130/ 290, Tỉ lệ: 44,83 %; Yếu:66/290, Tỉ lệ: 22,76%
+ Cách trình bày của HS về hứng thú học tập Tốt: 17/290, Tỉ lệ: 5,86%;Khá: 59/290, Tỉ lệ 20,34%; Trung bình: 128/290, Tỉ lệ: 44,14%,; Yếu:86/290, Tỉ lệ: 29,66% Như vậy tỉ lệ Trung bình chiếm đa số
Trang 29Qua bảng khảo sát đánh giá khả năng hứng thú môn học của HS và cácsố liệu vừa nêu trong bảng 1.2, tôi nhận thấy những nguyên nhân ảnh hưởnghứng thú học tập môn Tiếng Việt của HS lớp 4:
+ Kiến thức của HS qua môn Tập đọc, Tập làm văn, Luyện từ và câucòn yếu
+ HS chưa có hứng thú theo dõi bài để nắm vững kiến thức trongchương trình học
+ Khả năng diễn đạt thành lời của HS chưa tốt, vốn từ của các em chưaphong phú, ngại phát biểu
+ Sự chú ý của các em chưa bền vững, khả năng tập trung chưa cao nên
HS chưa tập trung theo dõi bài
1.3.3 Thực trạng nhận thức và sử dụng các biện pháp bồi dưỡng hứng thú học tập môn Tiếng Việt của GV ở các trường Tiểu học huyện Trảng Bàng tỉnh Tây Ninh
1.3.3.1 Nhận thức của GV về hứng thú học tập và vai trò của hứng thú học tập trong học tập môn Tiếng Việt
Để biết được mức độ nhận thức GV về hứng thú học tập và vai trò củahứng thú học tập đối với hiệu quả dạy học môn Tiếng Việt 4, chúng tôi đãtiến hành phát phiếu điều tra và phỏng vấn giáo viên của một số trường Tiểuhọc ở huyện Trảng Bàng tỉnh Tây Ninh bằng phiếu điều tra biện pháp bồidưỡng hứng thú học tập tiếng Việt cho HS lớp 4 (xem nội dung phiếu điều tratrong phần phụ lục 1, trang 93 )
Kết quả thu được chúng tôi đã tổng hợp trong bảng số liệu sau:
Bảng 1.3: Nhận thức của GV về hứng thú, hứng thú học tập
STT
Nhận thức của GV
vềHứng thú học tập
Kết quả tham khảo
bình
Yếu
Trang 301 Tự đánh giá về mức
độ hiểu biết về hứng
nội dung, phương
pháp cơ bản để bồi
dưỡng hứng thú học
tập cho HS Tiểu học
Trong bảng 1.3 chúng tôi nhận thấy mức độ hiểu biết về hứng thú của
GV như sau: GV tự đánh giá ở mức độ Tốt 10/150 Tỉ lệ : 6,67 % GV tự đánhgiá ở mức độ Khá 26/ 150, Tỉ lệ ; 17,33% GV tự đánh giá ở mức độ Trungbình: 58/150; tỉ lệ cao chiếm 38,67%, GV tự đánh giá ở mức độ Yếu là56/150 Tỉ lệ 37,33%
+ Tham khảo về Nắm được những đặc điểm cơ bản của hứng thú họctập trong thực tế chúng tôi ghi lại số liệu như sau: Số GV nắm được nhữngđặc điểm cơ bản của hứng thú học tập chưa cao GV nắm được ở mức độ Tốt
Trang 318/150, Tỉ lệ: 5,33 % GV nắm được ở mức độ Khá 21/150; Tỉ lệ: 14% GVnắm được ở mức độ Trung bình 60/150; Tỉ lệ: 40 % GV chưa nắm được ởmức độ này là 61/150; Tỉ lệ: 40,67 %.
+ Số lượng GV nắm được những hoạt động tâm lý ảnh hưởng đếnhứng thú học tập ở lứa tuổi tiểu học như sau: ở mức độ Tốt 13/150 chiếm tỉ lệrất thấp chỉ có 8,67% GV ở mức độ Khá là 18/150; Tỉ lệ: 12% chiếm tỉ lệthấp GV ở mức độ Trung bình là 38/150: Tỉ lệ : 25,33% chiếm tỉ lệ thấp GV
ở mức độ Yếu 81/150 chiếm tỉ lệ 54% rất cao
+ Nắm được những cách đánh giá cơ bản của hứng thú học tập của họcsinh tiểu học ở mức độ Tốt là 27/150, Tỉ lệ: 18% Ở mức độ Khá là 40/150 ;
Tỉ lệ: 26,67% Ở mức độ Trung bình là 47/150; Tỉ lệ: 31,33% Ở mức độ Yếu
là 36/96 chiếm tỉ lệ là 24%
+ GV nắm được những nội dung, phương pháp cơ bản để bồi dưỡnghứng thú học tập cho HS Tiểu học Ở mức độ Tốt là 26/150 Tỉ lệ : 17,33% Ởmức độ Khá là 42/150, Tỉ lệ: 28 % Ở mức độ Trung bình là 51/150 Tỉ lệ:34% Ở mức độ Yếu: 31/150,Tỉ lệ : 20,67%
+ Nhìn vào bảng tham khảo mức độ nhận thức của GV về hứng thú.Chúng tôi nhận thấy ở lĩnh vực này thì trình độ nhận thức của GV khôngđồng đều, mức độ nhận thức Trung bình và Yếu chiếm tỉ lệ rất cao khoảng70% trên tổng số thu được Mức độ nhận thức của GV tốt và khá chiếm tỉ lệkhoảng 30% , như vậy là rất ít Khi tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến vấn
đề này là do: Trình độ đào tạo của GV không đồng đều và được đào tạo ở mọilĩnh vực khác nhau như: Trung học sư phạm 7 + 4 Trung học sư phạm 9 + 1.Trung học sư phạm 9 + 2 Trung học sư phạm 9 + 3 Trung học sư phạm 12 +
1 Trung học sư phạm 12 + 2 Cao đẳng Tiểu học Đại học Tiểu học ….vàđược đào tạo với nhiều hình thức khác nhau: Chính quy, tại chức, chuyên tu,
từ xa….Còn có những yếu tố ảnh hưởng đó là do: Hiện nay, vẫn chưa cónhiều công trình nghiên cứu về phương pháp tạo hứng thú và duy trì hứng thúhọc tập môn Tiếng Việt cho HS tiểu học, GV tiểu học còn thiếu các tài liệu
Trang 32tham khảo, hướng dẫn về vấn đề này Chưa có, không có thời gian để thamkhảo tài liệu, năng lực nhận thức của GV có hạn Nguyên nhân cơ bản là GVchưa nhận thức hết tầm quan trọng của việc bồi dưỡng cho HS có năng lực vềhứng thú trong học tập.
1.3.3.2 Thực trạng sử dụng các biện pháp GV đã sử dụng để bồi dưỡng hứng thú học tập cho HS
Xem nội dung phiếu điều tra trong phần phụ lục 1, trang 93
Qua điều tra chung về công tác bồi dưỡng hứng thú học tập môn TiếngViệt 4, chúng tôi tập hợp bảng số liệu sau:
Bảng 1 4 Thực trạng sử dụng các biện pháp bồi dưỡng thú học tậpmôn Tiếng Việt của GV ở các trường Tiểu học huyện Trảng Bàng tỉnh TâyNinh
STT Khả năng của GV trong việc bồi dưỡng hứng thú
học tập môn Tiếng Việt cho HS
Kết quảSố làmđúng
Tỉ lệ
1 Tập đọc: Xây dựng cách vào bài hấp dẫn, khai
thác vẻ đẹp của các từ ngữ, chi tiết, hình ảnh trong
văn bản, sử dụng các thông tin liên quan đến bài
học (tác giả, hoàn cảnh ra đời, giai thoại), thiết kế,
tổ chức giờ học sinh động, hấp dẫn
62/150 41,33%
2 Môn Luyện từ và câu: chỉ ra tính lợi ích của các
nội dung học tập, tạo ngữ liệu thú vị, lựa chọn, xây
dựng nội dung dạy học thú vị
67/150 44,67%
3 Môn Tập làm văn: xây dựng đề bài hấp dẫn, xây
dựng lời gợi ý, hướng dẫn tìm ý hấp dẫn, lựa chọn
chiến lược lạc quan khi đánh giá bài làm của HS
88/150 58,67%
4 Thiết kế các dạng bài tập nhằm tạo ra năng lực
Trang 33hứng thú cho HS trong môn Tiếng Việt 66/150 44%
Kết quả tham khảo đánh giá thực trạng sử dụng các biện pháp bồidưỡng hứng thú học tập môn Tiếng Việt của GV ở các trường Tiểu học huyệnTrảng Bàng tỉnh Tây Ninh cho ta thấy:
Phần lớn khả năng của GV trong việc bồi dưỡng hứng thú học tập mônTiếng Việt cho HS còn nhiều hạn chế
* Môn Tập đọc:
GV chưa xây dựng cách vào bài hấp dẫn, chưa khai thác vẻ đẹp củacác từ ngữ, chi tiết, hình ảnh trong văn bản, chưa sử dụng các thông tin liênquan đến bài học (tác giả, hoàn cảnh ra đời, giai thoại) Chưa thiết kế, tổ chứcgiờ học sinh động, hấp dẫn Chỉ có 62/150 GV chiếm 41,338 % làm đúngyêu cầu, so với tổng số còn quá thấp
* Môn Luyện từ và câu
GV chưa chỉ ra tính lợi ích của các nội dung học tập, chưa tạo ra ngữliệu thú vị còn mang tính qua loa chiếu lệ cho có hình thức, chưa lựa chọn,xây dựng nội dung dạy học thú vị 67/150 GV chiếm 44,67% chưa thỏa mãnyêu cầu trong môn này
* Môn Tập làm văn
GV chưa xây dựng đề bài hấp dẫn, chưa xây dựng lời gợi ý, hướng dẫntìm ý hấp dẫn, không lựa chọn chiến lược lạc quan khi đánh giá bài làm của
HS có 88/150 GV thực hiện được chiếm 58,67 %
GV có khả năng thiết kế các dạng bài tập nhằm tạo ra năng lực hứngthú cho HS trong môn Tiếng Việt có 66/150, chiếm tỉ lệ 44% còn rất thấp.Bên cạnh đó, một số GV chưa có có khả năng thiết kế các dạng bài tập cònthấp 84/150, tỉ lệ 56%
Trong bảng tham khảo 1.4, chúng ta nhận thấy trong bốn vấn đề nêutrên thì khả năng của GV trong việc bồi dưỡng hứng thú học tập môn TiếngViệt cho HS đều chưa đạt, lĩnh vực nào cũng dưới 50% còn rất thấp Qua trò
Trang 34chuyện thì thấy đa số GV đều cho rằng: Cảm thụ môn học đã khó, hứng thúhọc tập là vấn đề khó hơn bởi vì hiểu được môn học có ý nghĩa như thế nào,mới hứng thú, mới ham thích học Người ta không thể hứng thú với những gìmình không thích, có thích mới chú tâm đến Bên cạnh đó, ở Tiểu học chưa
có tài liệu nào để dạy hứng thú học tập cho HS, chưa có môn học riêng, tiếthọc riêng mà phải lồng ghép vào các môn học tùy hứng hay mức độ cảm thụcủa GV trong tiết dạy Trong giai đọan này, vấn đề này đối với GV chỉ là trừutượng, GV có cố gắng lắm chỉ dạy trong những tiết dự giờ khơi dậy hứng thúcho HS để dự giờ đạt tiết tốt, do đó, vấn đề này chưa cụ thể Ở những chươngtrình bồi dưỡng thường xuyên cũng chưa được quan tâm chú ý nhiều, nếu cócũng chỉ điểm tin mà thôi, đi sâu nghiên cứu cũng chưa có Đôi khi GV chưanhận thức được hoặc chưa nhận thức đầy đủ về vai trò quan trọng của việc bồidưỡng hứng thú học tập cho HS, góp phần giúp HS cảm thụ văn học thôngqua các môn Tập đọc, Luyện từ và câu, Kể chuyện, Tập làm văn thì GV dạychưa hiệu quả Nguyên nhân chính là họ chưa biết vận dụng kết hợp linh hoạtcác kỹ năng, kỹ xảo trong giảng dạy môn Tiếng Việt, chưa định hướng cho
HS ý thức được lợi ích của việc học, chưa tạo cho HS những hứng thú học tậpngay từ lúc bắt đầu sự nghiệp học tập, chưa tạo điều kiện cho HS được hưởnglợi ích của việc học tập tiếng Việt trong từng bài cụ thể Chưa vận dụng kếthợp các phương pháp dạy học mới để tìm ra phương pháp dạy học có hiệuquả Chính việc dạy học như thế đã không mang lại sự hứng thú cho HS, thậmchí gây cho HS sự nhàm chán trong học tập tiếng Việt
1.3.4 Nguyên nhân của thực trạng
1.3.4.1 Nguyên nhân khách quan:
Qua nghiên cứu chúng ta nhận thấy chưa xây dựng được nhà trườngkiểu mới đầy đủ về cơ sở vật chất, trong khi dạy học lại là một hoạt động thực
sự dựa trên nhu cầu và hứng thú cá nhân
- Mặt khác, đối với các bậc cha mẹ HS, họ thường không có khái niệmtạo thứng thú trong học tập cho con em của họ, thậm chí họ còn trực tiếp gây
Trang 35ảnh hưởng đến quá trình tự học của con em như phụ việc nhà trong khi con họđang học bài hoặc đang làm bài tập…
- Một trong những nguyên nhân làm giảm hứng thú của HS là trongnhiều bài học Tiếng Việt chúng ta nặng về truyền thụ những qui tắc “khôkhăn”, bỏ qua nhiều điều bổ ích và thú vị Thực ra, ngôn ngữ bản thân nóphong phú và sinh động vậy, mà bài học thì làm mất đi sự hứng thú của các
em trong việc lựa chọn những gì mà các em thích để bản thân tự tiếp thu bài
1.3.4.2 Nguyên nhân chủ quan
- Do đội ngũ GV qua việc đào tạo và do năng lực của GV khi đứngtrước những môn học mà mình dạy Ví dụ như môn Tập đọc chẳng hạn, nhiều
GV khi đứng trước một văn bản nghệ thuật đã không hiểu đúng những điềuđược đọc từ cấp độ từ câu, đoạn văn, bài văn, bài thơ, trong những trường hợpđơn giản, còn những văn bản có liên quan đến ngữ cảnh thì rất phức tạp vàhạn chế vì không cảm thụ được văn chương thì làm sao dạy được hứng thúhọc tập môn Tiếng Việt
- GV đứng lớp chưa khơi dậy được niềm say mê thứng thú học tậptrong các em GV chưa thường xuyên vận dụng phương pháp trực quan sinhđộng để gây hứng thú cho HS, chưa mang lại cho các em sự thích nghi vớitrường học, với tâm lý xem trường là nhà, HS làm chủ Chương trình họcchưa cải tiến nội dung bài tập thực hành để các em vận dụng kiến thức đã họcvào việc giải bài tập Bên cạnh đó, GV chưa chú trọng đến hoạt động nghiêncứu khoa học nhằm tìm hiểu nguyên nhân và đưa ra những giải pháp giúp HS
có hứng thú học tập môn Tiếng Việt
Từ đó, việc bồi dưỡng hứng thú học tập cho HS chưa đạt là lẽ dĩ nhiên
Trang 361.4 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
1.4.1 Trong chưong 1 đã nêu lên các công trình nghiên cứu về bồidưỡng hứng thú học tập môn Tiếng Việt cùng với việc vận dụng các phươngpháp, hình thức tổ chức dạy học khác nhau nhằm tạo và duy trì hứng thú họctập cho HS một cách hiệu quả nhất
1.4.2 Về cơ sở lý luận chúng tôi đã phân tích rõ hứng thú và vai trò củahứng thú học tập Nêu ra được những quy luật hình thành và duy trì hứng thúhọc tập cho HS Tìm hiểu những đặc điểm cấu trúc nội dung chương trìnhmôn Tiếng Việt, mục tiêu của môn học, các yếu tố góp phần vào việc tạo vàduy trì hứng thú học tập cho HS
1.4.3 Về cơ sở thực tiễn, chúng tôi đã điều tra, tìm hiểu thực trạnghứng thú trong học tập môn Tiếng Việt của HS lớp 4 ở các trường Tiểu họchuyện Trảng Bàng tỉnh Tây Ninh; đồng thời tôi đã nêu được những thuận lợi
và khó khăn trong việc tạo và duy trì hứng thú học tập cho HS ở các phânmôn: Tập đọc, Luyện từ và câu và Tập làm văn
1.4.4 Những vấn đề về lý luận và thực tiễn mà chúng tôi đã nêu trongchương 1 chính là cơ sở khoa học cho việc đề ra những nguyên tắc, nhómbiện pháp sử dụng trong giờ học môn Tiếng Việt ở các phân môn Tập đọc,Luyện từ và câu và Tập làm văn theo hướng tạo và duy trì hứng thú học tậpcho HS
Trang 37CHƯƠNG 2:
MỘT SỐ BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG HỨNG THÚ HỌC TẬP
MÔN TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 4 CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC HUYỆN TRẢNG BÀNG TỈNH TÂY NINH
2.1 NGUYÊN TẮC ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG HỨNGTHÚ HỌC TẬP MÔN TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 4
2.1.1 Nguyên tắc bám sát mục tiêu môn học Tiếng Việt
Nguyên tắc là những quy định, phép tắc làm cơ sở, chỗ dựa để xem xét,làm việc Nguyên tắc bám sát mục tiêu của môn học Tiếng Việt đảm bảo choviệc đề xuất các biện pháp bồi dưỡng hứng thú học tập cho HS không làm chogiờ học Tiếng Việt đi chệch mục tiêu cơ bản là hình thành và phát triển kỹnăng giao tiếp cho HS
Chương trình Tiểu học mới ban hành theo Quyết định 9/11/2001 của
Bộ Giáo dục và Đào tạo xác định mục tiêu môn Tiếng Việt như sau:
Môn Tiếng Việt ở trường tiểu học nhằm:
1 Hình thành và phát triển ở HS các kỹ năng sử dụng tiếng Việt (nghe,nói, đọc, viết) để HS có thể học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạtđộng của lứa tuổi Thông qua việc dạy và học tiếng Việt, góp phần rèn luyệncác thao tác tư duy
2 Cung cấp cho HS những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và nhữnghiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa, văn học củaViệt Nam và nước ngoài
3 Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sựtrong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách của conngười Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Trang bị cho HS một công cụ giao tiếp bằng tiếng Việt là nhấn mạnhtính lợi ích của chương trình đào tạo, đòi hỏi việc bồi duỡng hứng thú cho HSphải thiết thực nhằm phát triển kỹ năng giao tiếp cho HS Giúp cho HS hiểu
Trang 38biết sâu sắc hơn những kiến thức tiếng Việt, thực hành thành thục hơn những
kỹ năng thực hành tiếng Việt mà chương trình đề ra chứ không cung cấp,không dạy thêm những kiến thức mới, không dạy thêm những kiến thức củalớp trên
2.1.2 Nguyên tắc tính đến đặc điểm của HS lớp 4
Nguyên tắc này đòi hỏi có sự phân biệt giữa Việt ngữ học và nội dungdạy học tiếng Việt ở tiểu học HS tiểu học là HS nhỏ mà trình độ nhận thứcnói chung, trình độ tiếng Việt và trình độ văn chương nói riêng còn thấp Do
đó, GV phải chú trọng đến việc chuyển hóa những nội dung của Việt ngữ họcthành nội dung dạy học phù hợp với lứa tuổi của các em Ngay cả những sựthú vị của đối tượng tiếng Việt được tập trung khai thác nhiều, trong quá trìnhdạy học phải có sự chuyển hóa thích hợp, phù hợp với trình độ nhận thức của
HS tiểu học
Nguyên tắc này đòi hỏi có một chiến lược lạc quan, nhấn mạnh vào mặtthành công của HS trong quá trình học
Nguyên tắc này được xây dựng dựa vào đặc điểm tâm lý tiếp nhận của
HS tiểu học, sự thống nhất giữa cụ thể và trừu tượng trong môn Tiếng Việt vàcần phải chú ý những vấn đề sau: ngữ liệu phải gắn với đời sống của các em,ngoài ra nó còn gắn với đặc điểm nhận thức của HS HS lớp 4 ghi nhớ có chủđịnh đã phát triển, ghi nhớ từ ngữ được tăng cường Tuy nhiên, hiệu quả củaviệc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích cựctập trung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lýtình cảm hay hứng thú của các em Do đó, GV căn cứ vào thực trạng của HS
mà tìm ra các biện pháp và phương pháp dạy học thích hợp nhằm nâng caohứng thú học môn Tiếng Việt ở tiểu học
2.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hấp dẫn
Nguyên tắc đảm bảo tính hấp dẫn yêu cầu phải thu hút, lôi cuốn HS vàovấn đề Trong dạy học nói chung và dạy học Tiếng Việt nói riêng, GV nênđưa ra bài tập tình huống thu hút, nhằm lôi cuốn HS vào trọng tâm bài học
Trang 39Nguyên tắc này đòi hỏi việc dạy học phải gây được hứng thú học tập của HSbằng cách khai thác triệt để tính hấp dẫn của tiếng Việt, nội dung dạy học, sửdụng phương pháp và hình thức tổ chức dạy học linh hoạt, đa dạng, vui và thú
vị thiết lập được những quan hệ tốt đẹp, tích cực giữa thầy - trò, trò - trò
Trong dạy học, GV cần đảm bảo tính hấp dẫn trong suốt tiết học vì tínhhấp dẫn giúp HS tập trung cao độ của sự chú ý theo dõi bài học Nó làm tănghiệu quả của quá trình nhận thức.Vì kết quả học tập, có quan hệ với chú ý vàtình cảm nên khi bài học hấp dẫn sẽ nảy sinh những hành động và suy nghĩsáng tạo, nhạy bén và sâu sắc hơn, giúp các em học tập một cách say mê vàđạt được những kết quả cao trong quá trình học tập
2.1.4 Nguyên tắc đề cao tính tích cực, sáng tạo của HS
Nguyên tắc này yêu cầu GV chuyển từ hình thức truyền thụ một chiềusang tích cực hóa hoạt động học tập của HS nhằm phát huy tính tích cực, tựgiác, chủ động, sáng tạo của HS Nhằm đào tạo những con người sáng tạo,chủ động, tích cực, năng động và sáng tạo, làm cho các em trở thành nhữngngười thông minh hơn, năng động, tích cực hơn
Mặt khác, xuất phát từ đặc điểm của từng lớp học, môn học, GV bồidưỡng phương pháp tự học, tự rèn luyện kỹ năng, tự vận dụng kiến thức đãhọc vào thực tiễn Ngoài ra, phải có những tác động đến tình cảm, đem lạiniềm vui, hứng thú học tập cho HS
Nguyên tắc này đòi hỏi việc tổ chức dạy học phải được xây dựng thành
hệ thống việc làm cho các em để các em tự chiếm lĩnh tri thức và hình thành
và phát triển kỹ năng cần thiết, tạo điều kiện cho HS tham gia, nghiên cứu,thực hành, ứng dụng
Vì vậy, GV phải xây dựng các nhiệm vụ dạy học dưới dạng các bài tập.Bài tập là phương tiện để tổ chức các hành động tiếng Việt, tích cực hóa cáchọat động của HS để hình thành, phát triển kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, thựchiện mục tiêu dạy học tiếng Việt ở trường tiểu học Xây dựng một hệ thốngbài tập Tiếng Việt tốt và tổ chức thực hiện đúng một cách hiệu quả có vai trò
Trang 40quyết định đối với chất lượng dạy học tiếng Việt Trong đó, GV đóng vai tròngười tổ chức hoạt động của HS, mỗi HS đều được hoạt động, mỗi HS đềuđược bộc lộ mình và được phát triển
Từ đó, đem lại niềm say mê, hứng thú trong học tập và tự tìm ra kiếnthức, tự hình thành kỹ năng sử dụng tiếng Việt cho bản thân
2.2 CÁC BIỆN PHÁP ĐỀ XUẤT
2.2.1 Nhóm các biện pháp sử dụng trong giờ Tập đọc
Mục đích của nhóm các biện pháp sử dụng trong giờ Tập đọc là nhằmthu hút HS, lôi cuốn HS tham gia vào giải quyết vấn đề một cách tích cực, tự
do bộc lộ suy nghĩ của mình để giờ học trở nên sinh động, hấp dẫn Qua đó,rèn cho HS các kỹ năng đọc, nghe và nói, tăng cường tốc độ đọc, phát triển kỹnăng đọc đúng, đọc hiểu, đọc diễn cảm Đồng thời, bồi dưỡng tình yêu vănhọc, năng lực cảm thụ văn học cho HS
Tập đọc là phân môn có vai trò quan trọng Tập đọc cung cấp một khốilượng ngữ liệu văn chương nhiều nhất thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều phạm vikhác nhau Tập đọc giúp các em hiểu được nội dung, nghệ thuật, biết khaithác vẻ đẹp của các từ ngữ, chi tiết, hình ảnh trong văn bản
Để tạo hứng thú học tập cho HS lớp 4, trong giờ Tập đọc, có thể xâydựng và sử dụng 4 biện pháp sau đây: xây dựng cách vào bài hấp dẫn; khaithác thác vẻ đẹp của các từ ngữ, chi tiết, hình ảnh trong văn bản; cung cấp cácthông tin liên quan đến bài học (tác giả, hoàn cảnh ra đời, giai thoại); thiết kế,
tổ chức giờ học sinh động, hấp dẫn
2.2.1.1 Xây dựng cách vào bài hấp dẫn
Có hai cách vào bài hấp dẫn trực tiếp và gián tiếp để gây hứng thú họctập cho học sinh.Tuy nhiên, dù giới thiệu theo cách nào, phần giới thiệu bàicũng cần phải ngắn gọn, không làm mất thời gian luyện đọc và tìm hiểu bài
Trong mọi hoạt động của con người cách vào đề hấp dẫn luôn mang lạihiệu quả tốt cho công việc Có nhiều cách vào đề thu hút sự chú ý của ngườiđọc, người nghe: vào đề trực tiếp, với cách vào đề này người dạy đưa HS vào