1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mô típ nhân vật hành trình qua một số tiểu thuyết hiện đại và hậu hiện đại (khảo sát tiểu thuyết lâu đài của f kafka, xứ tuyết của y kawabata, linh sơn của cao hành kiện)

96 1K 18
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mô típ nhân vật hành trình qua một số tiểu thuyết hiện đại và hậu hiện đại (khảo sát tiểu thuyết lâu đài của f kafka, xứ tuyết của y kawabata, linh sơn của cao hành kiện)
Tác giả Franz Kafka, Yasunary Kawabata, Cao Hành Kiện
Người hướng dẫn Nguyễn Xuân Thông
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2006
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 296,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiệm vụ của đề tài - Đi sâu tìm hiểu những điều kiện, tiền đề: xã hội, triết học và xu hớngsáng tác của văn học hiện đại và hậu hiện đại để thấy đợc sự vận động của kiểunhân vật hành tr

Trang 1

bộ giáo dục và đào tạo

TRƯờNG ĐạI HọC VINH

Nguyễn xuân thông

Mô típ nhân vật hành trình qua một số tiểu thuyết

hiện đại và hậu hiện đại

( Khảo sát tiểu thuyết “Lâu đài” của f kafka, “xứ tuyết” của Y kawabata,

“linh sơn” của cao hành kiện)

Trang 2

nghệ thuật của tiểu thuyết Xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết thế kỷ XX theochúng tôi là nghiên cứu có ý nghĩa khoa học.

1.2 Tiểu thuyết hiện đại xuất hiện từ những năm cuối thế kỷ XIX và trởngthành trong nửa đầu thế kỷ XX Có thể nói, t duy tiểu thuyết hậu hiện đại đã có

từ nửa sau của thế kỷ XX và phát triển cho đến ngày nay nh chúng ta đã thấy.Hai giai đoạn tiểu thuyết này chịu sự chi phối của những điều kiện: xã hội, t duytriết học và mỹ học sáng tạo mới Các tác giả bằng những thủ pháp nghệ thuậtnh: dòng ý thức, sự thay đổi điểm nhìn trần thuật, tính đa thanh trong ngôn ngữ,

sự nhạt nhoà, “mờ hoá” của ranh giới nhân vật trong tiểu thuyết … buộc ng buộc ngờitiếp nhận phải có “tầm đón đợi” mới Nhân vật, tác giả đan cài trong hành trìnhtìm kiếm số phận của con ngời không số phận Tất cả đều đợc diễn ra trong hơnmột thế kỷ biến động đầy phức tạp Tiểu thuyết trở thành trung tâm của cuộctruy tìm số phận con ngời cá nhân

1.3 Đặc biệt, trong tiểu thuyết của những nhà văn có ảnh hởng rõ rệt từ triếthọc nhân sinh thế kỷ XX nh: Franz Kafka, Anbert Camus, Y Kawabata, CaoHành Kiện, J.M Coetzee… buộc ng mô típ nhân vật hành trình nh một ẩn dụ về con ngờihiện đại trớc những hỗn mang của cuộc sống Nhân vật trong tác phẩm càng cốcông kiếm tìm càng bị đẩy xa đích đến Họ luôn khắc khoải trên bớc đờng củamình Cái mà các nhà văn chú trọng đặt ra là hành trình tự thân khám phá chứkhông quan tâm đến cái anh ta đạt đợc

Và để khoanh vùng đối tợng một cách cụ thể hơn chúng tôi xin đợc nêu

lên ba tác phẩm sẽ đi sâu nghiên cứu: Lâu đài của Franz Kafka, Xứ tuyết của Yasunary Kawabata và Linh Sơn của Cao Hành Kiện.

Sự lựa chọn trên không phải hoàn toàn ngẫu nhiên mà nó xuất phát từ cơ

sở khoa học, tạo tiền đề để chúng tôi triển khai đề tài Bởi F Kafka đợc coi làngời mở đầu cho chủ nghĩa hiện đại, Y Kawabata là biểu trng của nền văn hoáNhật- giải Nobel năm 1968 Trong khi đó, Cao Hành Kiện nhà văn lu vong của

Trang 3

Trung Quốc- giải Nobel năm 2000, là sự đan xen giữa văn hoá Trung Hoa vàphơng Tây Các tác phẩm của những nhà văn trên đều mang chứa hình ảnh nhânvật hành trình đi tìm bản nguyên đích thực của cái đẹp- chân lý - cuộc sống.

Hiển nhiên, đặc trng về nhân vật hành trình luôn có mặt trong thể loạitiểu thuyết phiêu lu nói chung Nhng với các nhà văn trên, thủ pháp xây dựngnhân vật hành trình là hoàn toàn mới mẻ với những cách tân táo bạo Rõ ràng,

đây là sự vợt thoát chỉ có trong thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI - đợcquy chiếu bằng ánh sáng của chủ nghĩa hiện đại và hậu hiện đại

Việc giới hạn phạm vi nh vậy giúp chúng tôi có đợc cái nhìn bao quáthơn trong khi triển khai đề tài luận văn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục đích của đề tài

Xuất phát từ việc khảo sát mô típ nhân vật hành trình qua ba tiểu thuyếttrên để thấy đợc những đặc trng của việc xây dựng nhân vật này, trong đó, vấn

đề trung tâm mà đề tài đạt đến là nêu bật đợc khát vọng cháy bỏng của con ngờitrong cuộc truy cầu hạnh phúc khi đối diện với những hoàn cảnh sống khácnhau Từ đó mà đặt ra những vấn đề nhức nhối về: số phận con ngời trong sựphân tầng xã hội, khát vọng vơn tới cái đẹp đích thực trong cuộc sống khắcnghiệt, hoài vọng tìm về cội nguồn văn hóa truyền thống trong lòng xã hội hiện

đại

3.2 Nhiệm vụ của đề tài

- Đi sâu tìm hiểu những điều kiện, tiền đề: xã hội, triết học và xu hớngsáng tác của văn học hiện đại và hậu hiện đại để thấy đợc sự vận động của kiểunhân vật hành trình trong hoàn cảnh mới mẻ đó

- Khảo sát, phân loại các nhân vật trung tâm trong hành trình tìm về khátvọng đích thực trong mối quan hệ với các nhân vật trong tác phẩm Chính mụctiêu hành trình không đích đến trong từng tác phẩm quy chuẩn đến bút pháp, kỷthuật của nhà văn

- Rút ra những đặc trng nghệ thuật, tức là những thủ pháp chung nhất, rõnhất của ba nhà văn trong việc xây dựng kiểu nhân vật hành trình trong tácphẩm

4 Lịch sử vấn đề

Trang 4

Mô típ nhân vật hành trình trong tiểu thuyết hiện đại và hậu hiện đại làmột vấn đề khá mới mẻ và khá phức tạp trong nghiên cứu khoa học Đặc biệt,các nhà tiểu thuyết viết về kiểu nhân vật này thấm nhuần t tởng triết học nhânsinh của thế kỷ XX: hiện tợng học, phân tâm học Freud, triết học hiện sinh, trựcgiác luận Bergson Chính sự đa diện, đa dạng nh vậy mà đến nay cha có nhiềucông trình lớn nghiên cứu về những vấn đề liên quan đến đề tài mà chúng tôi lựachọn Do đó, chúng tôi dựa trên hai cơ sở chính để khái quát và định hớng vấn

đề: các công trình mang tính chuyên luận; những bài viết nhỏ trên tạp chí, tuyểntập và các website phổ biến

4.1 Các công trình mang tính chuyên luận

4.1.1 PGS –TS Trơng Đăng Dung trong công trình “Tác phẩm văn học nh làquá trình” (Nxb Khoa học xã hội năm 2004) đã gợi mở nhiều ý kiến sâu sắcmang tính lý luận cao về những đặc trng của văn học hiện đại và hậu hiện đạinói chung, đặc biệt là mối quan hệ giữa văn học và triết học – cơ sở khởi thảocủa nền văn chơng hiện đại Bên cạnh đó, tác giả công trình cũng đa ra những ýtởng về chủ nghĩa hiện đại và lý giải nhiều khái niệm, thuật ngữ mới giúp chúngtôi trực tiếp khám phá những cách tân trong sáng tạo nghệ thuật của ba nhà vănnói trên

4.1.2 Trần Hinh với “Tiểu thuyết A Camus trong bối cảnh tiểu thuyết Phápthế kỷ XX” (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2005), đã khái quát tình hìnhtiểu thuyết Pháp một cách khá đầy đủ Tác giả cũng chỉ ra những đặc điểmtrong bút pháp sáng tạo của A Camus là đặc trng cho tiểu thuyết thế kỷ XX, nh:

“cốt truyện và cách đọc”, “phơng thức kể chuyện nớc đôi”, “phơng thức độcthoại” Trong đó, tác giả đã cho rằng, những dấu ấn của hệ thống thẩm mỹ, quanniệm nghệ thuật, nhà văn tiêu biểu thời đại thờng nổi bật bởi những cách thứclựa chọn là: hớng tới sự phi lý, sự phản kháng, tính nghịch dị Điều này, lànhững gợi mở khá sâu sắc cho chúng tôi trong quá trình tiếp cận vấn đề màchúng tôi đã lựa chọn

4.1.3 Trong cuốn “Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết Phơng Tây hiện đại” (Nxb

Đại học Quốc gia, Hà Nội 2001), PGS – TS Đặng Anh Đào đã trực tiếp trìnhbày những đổi mới, cách tân của tiểu thuyết Phơng Tây trong thế kỷ XX nhnhân vật, dòng tâm trạng, thời gian tâm lý là những phân tích, khám phá sâusắc về những vấn đề hóc búa của tiểu thuyết hiện đại Tiếp theo, tác giả bàn đếnlối viết phức tạp của Le Clezio và coi đó là sự chấp nhận mọi lối viết của sángtác văn học hiện nay

Trang 5

4.1.4 Trong công trình “Phê phán tính hiện đại” (Nxb thế giới, Hà nội 2003,Huyền Giang dịch), Alain Touraine đã tập trung làm rõ vấn đề tính hiện đại vànhững hạn chế cũng nh u việt trong suốt tiến trình xuất hiện, thăng hoa và biến

đổi của nhân loại từ hiện đại sang hậu hiện đại Đây là công trình xã hội học bàn

đến nhiều vấn đề quan trọng của thời đại có sức gợi cao Bởi, từ xã hội chúng takhám phá đợc nguyên cớ xuất hiện, biểu lộ các kiểu con ngời trong tác phẩmvăn chơng Hệ t tởng từ tính hiện đại quy chuẩn những hành vi của con ngời, nó

lý giải phần nào cho những hành trình tởng nh phi lí của con ngời trong xã hộihiện đại

4.1.5 Brewister Roland – John Augus Burrell(2003) với công trình “Tiểuthuyết hiện đại” (Nxb Lao động, Dơng Thanh Bình dịch) đã giới thiệu một cáchkhái quát những đặc trng và trờng phái của tiểu thuyết hiện đại Đặc biệt, ông đãtrích lại ý kiến của Romain Rollane “ đời sống của nhân vật trong truyện vàcuốn truyện nh một dòng sông: Độc giả xuôi dòng con sông của một đời ngời.Con sông có thiên hình vạn trạng” [tr151] ý tác giả là muốn nhấn mạnh vềhành trình của đời ngời trong xã hội hiện đại, một hành trình đầy phức tạp, đa

đoan

4.2 Những bài viết trong các tuyển tập, tạp chí, wedsite

4.2.1 Trong cuốn “Franz Kafka, tuyển tập tác phẩm”(2003) (Nxb Hội nhàvăn, trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông tây) PGS-TS Trơng Đăng Dung trongbài “Thế giới nghệ thuật của Franz Kafka”(tr.938-947) đã khái quát một cách cô

đúc, ngắn gọn và khoa học những thủ pháp nghệ thuật của tiểu thuyết gia này,

đồng thời chỉ ra “đối tợng trung tâm của thế giới nghệ thuật của Franz Kafka là

sự tha hoá, nỗi lo âu và sự lu đày và cái chết”(tr 941) Tác giả cũng chỉ ra hànhtrình luẩn quẩn: “đối diện với tơng lai bấp bênh đầy bí ẩn” của nhân vật K tronglúc đi tìm lâu đài- khát vọng sống Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ ra “tính chấtmở” (tr944) nh một đặc trng của tiểu thuyết hiện đại- cơ sở cho việc xuật hiệnkiểu nhân vật hành trình Đây là những ý kiến vô cùng quan trọng và thiết thựcgiúp chúng tôi trong quá trình lựa chọn và hoàn thành đề tài của mình

4.2.2 Cũng trong cuốn “Franz Kafka, tuyển tập tác phẩm”, Lê Huy Bắc với

“Trên hành trình chân lý Kafka” (tr948-978) đã cụ thể hoá những đặc trng nghệthuật của Kafka là huyền thoại về thời gian Tức là con ngời luôn loay hoaytrong thời gian bất định của mình, mọi thứ là không định hớng, khó nắm bắt 4.2.3 Trong “Yasunary Kawabata, tuyển tập tác phẩm”(2005) Nxb Lao động,trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây, tác giả Donal Keene trong bài “Về xứ

Trang 6

tuyết”- Đào Thị Thu Hằng dịch (tr1053-1059) đã khái quát về kĩ thuật tiểuthuyết này là “Sản phẩm do trí tởng tợng của tôi (tác giả) nhiều hơn là thực tế”(tr 1055) Từ đó, tác giả đã tìm ra mạch nguồn của tác phẩm là hành trình củanhân vật chính tìm về vẻ đẹp truyền thống và thiên nhiên Nhật Bản

4.2.4 Trơng Thái Du trong “Đọc Linh Sơn của Cao Hành Kiện” (theo thứ Bảyngày 11/ 09: http// evan Vn.express.net), đã khái quát một cách sơ lợc về têngọi Linh Sơn về sự hoà nhập, phân thân giữa tác giả và nhân vật, sự giao thoatrong bút pháp và t tởng phơng Tây- Trung Quốc Từ đó mà rút ra đợc đợc đờng

đi của nhân vật cũng nh bản thân nhà văn là tìm về bản nguyên truyền thốngmang trong lòng nó những ám ảnh huyền thoại đậm màu sắc hiện đại

4.2.5 William Marcok trong “Những giới hạn của phạm trù tác giả trong văn

học hậu hiện đại”, Văn học nớc ngoài, số 6-1998, Lại Nguyên Ân dịch

(tr211-221) đã nhận định về kiểu tác giả phân thân mang bản sắc huyền thoại, là cáiloa phát thanh quan điểm thời đại thông qua nhân vật kí hiệu, nhân vật khôngtên Đây là gợi mở sâu sắc cho chúng tôi nghiên cứu vấn đề tên gọi K trong

“Lâu đài”, hay là cách dùng đại từ “Mi, Hắn, Ta” trong “Linh Sơn”

4.2.6 Trong “Văn học hậu hiện đại thế giới – những vấn đề lý thuyết”(2003)Nxb Hội nhà văn, trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây, Antonio Blach với bàitiểu luận “Vài suy nghĩ về cái gọi là tiểu thuyết hậu hiện đại”, Nguyễn TrungVăn dịch (tr403-414), tác giả đã khái quát những đặc trng tiểu thuyết hậu hiện

đại mang nhận thức mới: “khuynh hớng tự ngắm vuốt”, “ngôn ngữ tự ám thị”,

“thái độ khôi hài”, “một thứ văn học sinh lực và khát vọng” Tác giả cũng đãnhấn mạnh đặc trng của cảm thụ và phê bình hiện đại là không thể tuân theonhững tập quán cũ, cấu trúc truyền thống đã trở nên bất cập

Ngoài ra, còn nhiều ý kiến nhỏ mang tính cụ thể, sâu sắc đã giúp chúng tôi

định hớng một cách lôgic trong quá trình hoàn thiện đề tài

5 Phơng pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp nhiều phơng pháp nghiên cứu: phơng pháp khảo sátthống kê, phơng pháp hệ thống, phơng pháp phân tích, phơng pháp so sánh- đốichiếu… buộc ng nhằm làm nổi bật những quan niệm mới đối sánh với cách tìm hiểutruyền thống về tiến trình cách tân, hiện đại hoá tiểu thuyết thế kỷ XX

6 Đóng góp mới của luận văn

- Mô tả tình hình xã hội, triết học, xu hớng sáng tác văn chơng thế kỷ XX

và những năm đầu thế kỷ XXI, chỉ ra những điều kiện làm xuất hiện tiểu thuyếthiện đại và hậu hiện đại trong tiến trình văn chơng nhân loại

Trang 7

- Khảo sát về mặt nội dung nhân vật hành trình trong một số tác phẩm từ

đó thấy đợc nỗ lực của con ngời hiện đại trong từng hoàn cảnh và từng cảnh ngộ

cụ thể nhằm vơn tới những giá trị đích thực

- Đặc biệt làm nổi bật một số thủ pháp nghệ thuật mà các nhà văn đã sửdụng trong khi xây dựng kiểu nhân vật hành trình trong tiểu thuyết hiện đại vàhậu hiện đại nh: đặt nhân vật vào không gian bất định, những đột phá vào nộitâm nhân vật

7 Cấu trúc luận văn

Luận văn ngoài hai phần mở đầu và kết luận, phần nội dung chính gồm 3

chơng:

Chơng 1: Những tiền đề cho việc xuất hiện kiểu nhân vật hành trình

Chơng 2: Nhân vật hành trình qua một số tiểu thuyết tiêu biểu

Chơng 3: Một số đặc trng nghệ thuật cơ bản trong việc xây dựng nhân vật hànhtrình

Trang 8

Chơng 1

Những tiền đề cho việc xuất hiện kiểu nhân vật

hành trình

1.1 Những tiền đề về văn hoá- xã hội

Nhân loại đã trải qua năm hình thái xã hội khác nhau: Cộng sản nguyênthuỷ, Chiếm hữu nô lệ, Phong kiến, T bản và Xã hội chủ nghĩa Mỗi hình thái

đều mang trong lòng nó những đặc trng riêng, nó phản ánh t duy, tinh thần cũng

nh đời sống của loài ngời một cách khá sống động Nhng cho đến tận thế kỷXIX, xã hội vẫn nằm trong guồng quay của đấu tranh sinh tồn, những thế lựchắc ám vẫn bủa vây số phận con ngời

Thế kỷ XX tiếp nối mạch nguồn của thế kỷ trớc, nhng hệ thống chủnghĩa t bản bị phân hoá và lộ tẩy bộ mặt của xã hội đồng tiền với nhiều mặt tiêucực của nó Các cờng quốc t bản bị lũng đoạn sâu sắc cả về sự suy thoái kinh tế,

sự phân chia lợi nhuận, sự xuất hiện của nhà nớc Nga Xô viết Tất cả những vấn

đề đó tổng hợp trên nhiều nguyên nhân mà nổ ra hai cuộc chiến tranh thế giới

đẫm máu (1914-1919), (1939-1945) Sự mất thăng bằng trong toàn bộ hệ thống

đã xuất hiện đế chế Hitle với chủ nghĩa tôn sùng cá nhân, tôn sùng bạo lực Xãhội loài ngời bị đặt vào tình trạng huỷ diệt Sau chiến tranh thế giới thứ hai là sựxuất hiện và tạo thành hệ thống của các nớc Xã hội chủ nghĩa - đối chọi với hệthống t bản chủ nghĩa Xã hội loài ngời vẫn luôn bị đặt trong trạng thái bất ancủa chiến tranh (Chiến tranh hạt nhân, sinh học )

Trong khi đó, ở xã hội t bản phơng Tây, sự thống trị và lên ngôi của cơchế thị trờng lại đặt con ngời vào một tình trạng mới đó là phơng thức bóc lột

đầy kín kẻ hơn của chủ nghĩa t bản kiểu mới Các nớc thuộc địa vẫn tiếp tục đổmáu vì công cuộc giả phóng dân tộc Những cuộc nội chiến liên miên ở Trung

Đông, Châu Phi, Châu á khiến con ngời lâm vào sự hoang mang, bên lề sự sống

và cái chết; xung đột tôn giáo, ô nhiễm môi trờng mọi phức tạp của thế kỷ XXluôn luôn đặt thế giới loài ngời bên bờ vực thẳm Sự sụp đổ của Liên xô và hệthống xã hội chủ nghĩa chứng tỏ có một độ vênh rất lớn giữa chủ nghĩa Marx-Lênin với những ngời thực hiện Nó nh một quá trình tất yếu bên cạnh âm mu vàthủ đoạn của t bản chủ nghĩa mà đứng đầu là thiết chế Mỹ

Trang 9

Thập niên chín mơi, xã hội loài ngời bớc vào thái cực một hệ thống độctôn cũng không làm xã hội bình yên hơn: các cuộc nội chiến, chiến tranh sắctộc, sự ô nhiễm môi trờng, sự cạn kiệt tài nguyên, nạn khủng bố, Điều này đã

đợc tổng kết và khái quát một cách cụ thể trong cuốn “Phê phán tính tiện đại”của Alain Touraine: xã hội loài ngời trong thế kỷ XX bớc từ sự thắng thế củachủ nghĩa hiện đại đến sự khủng khoảng toàn diện về số phận cá nhân cho đếntoàn vĩ mô là dân tộc, cộng đồng, trật tự hệ thống ngay từ trong t duy hiện đại

Sự xuất hiện quá nhiều t tởng trong một xã hội bình yên đặt con ngời vào trạnghuống không lối thoát “Sức mạnh giải phóng của tính hiện đại càng cạn kiệt khi

nó càng chiến thắng, lời kêu gọi đi tới ánh sáng lại khiến ngời ta ngao ngán khithế giới chìm sâu vào bóng tối và ngu dốt, vào cô lập và nô lệ Nó còn mang sứcmạnh giải phóng nữa không trong thành phố lửa sáng loá cả ngày lẫn đêm, nơi

ánh sáng nhấp nháy muốn chèo kéo ngời mua hay áp đặt lên anh ta những lờituyên truyền của Nhà nớc? Hợp lý hoá là một từ cao quý khi nó đa óc khoa học

và phê phán vào những lĩnh vực cho đến lúc đó vẫn bị những giới cầm quyềntruyền thống và sự độc đoán của những kẻ hùng mạnh thống trị, nó trở thànhmột từ thống trị, ” [1,187]

Trong sự áp đặt của cơ chế thị trờng, cái Tôi của con ngời tan rã, khônglối thoái Con ngời từ bị cơng toả về số phận, bị đánh cắp giá trị cá nhân đến conngời không số phận, trống rỗng Đó chính là kết quả của quá trình hiện đại hoá

mà chủ nghĩa t bản muốn đạt tới “Nhng vợt lên trên các cuộc chiến tranh, cácthảm hoạ khủng khiếp, con ngời vẫn luôn tìm cách tồn tại, làm việc và sángtạo”.[84,5]

Chính sự khủng khoảng của chủ nghĩa hiện đại, theo Alain Touraine, đãlàm phân hoá thành các đờng hớng khác nhau: thị trờng và khu biệt c(ghetto),các thuyết hậu hiện đại, hay đi song song giữa hai vấn đề trên Đến giữa thế kỷ

XX, sự khủng hoảng của các trào lu t tởng trớc đó, cùng với sự huỷ hoại cái Tôi,

sự bất an của xã hội, đấu tranh và ngõ cụt của t duy tôn giáo đã đặt xã hội loàingời bớc sang thời kỳ hậu hiện đại Khái niệm này nh một phơng thức diễn đạtnhững quan niệm kế tiếp của thời kỳ trớc đó Alain Touraine đã “xác định tínhhậu hiện đại nh một tính siêu hiện đại (hypermodernité) giống nh cách DanielBell đã xác định xã hội hậu hiện đại là xã hội hậu công nghiệp”[1,312]

Trong khi đó, I P Ilin lại giải thích về vấn đề chủ nghĩa hậu hiện đạithông qua một số thuật ngữ và khái niệm Ông cho rằng “cảm quan hậu hiện

đại là một kiểu nhận thức thế giới đặc biệt, là sự phản ánh tâm thức(mentality)

Trang 10

thời đại hậu hiện đại, ”[5,7-8] Theo Charles Jencks: “Thời hậu hiện đại là thờicủa sự lựa chọn không ngừng Đó là một thời đại không có sự chính thống nào

có thể tiếp nhận mà không có sự tự ý thức và châm biếm(irony), bởi vì tất cảmọi truyền thống dờng nh đều có những giá trị nhất định” [5,64] Nguyễn VănDân trong “Chủ nghĩa hậu hiện đại hay là hiện tợng chồng chéo khái niệm” saukhi đa ra một loạt các quan điểm về thuật ngữ này của các nhà nghiên cứu Ph-

ơng Tây đã tổng kết: “Vậy là quan niệm về hậu hiện đại thật là phong phú nhngtôi có nhận xét rằng giữa quan niệm về hậu hiện đại trong nghệ thuật với cácquan niệm về hậu hiện đại trong xã hội có một sự khác biệt nhất định Trongnghệ thuật, ngời ta chú ý nhiều đến các thuộc tính biểu đạt của nó, còn trongcác lĩnh vực của đời sống xã hội nhiều khi ngời ta chỉ dùng thuật ngữ hậu hiện

đại làm tiêu chuẩn thời gian để phân kỳ lịch sử” [5,116]

Thực ra, điều mà các nhà nghiên cứu nhấn mạnh và đặt trọng điểm choquan niệm hậu hiện đại những năm cuối thế kỷ XX là vấn đề số phận cá nhântrong hệ thống t tởng sau khi có sự khủng hoảng xã hội trên mọi khía cạnh Tuynhiên, cho đến những năm đầu thế kỷ XXI, con ngời vẫn không thoát khỏiguồng quay đó, và các lý thuyết dù muốn đạt đến sự tiến bộ của xã hội, coi conngời cá nhân nh một “chủ âm”, nó là sự khủng hoảng tất yếu của toàn xã hộitrong quá trình vận động của lịch sử nhân loại

Cố nhiên, tính hậu hiện đại diễn ra trên nhiều mặt: chính trị, kinh tế, xãhội mà cụ thể nhất là ở văn hoá- xã hội Nó không chỉ diễn ra ở các n ớc PhơngTây, cái nôi của nhiều học thuyết hiện đại, mà ở hầu khắp các nớc trên thế giới,

rõ nhất là các “sản phẩm” của nó: văn học - nghệ thuật, hội hoạ, điêu khắc, kiếntrúc, sân khấu, điện ảnh Điều này cho thấy, số phận con ngời luôn nằm trongguồng quay chung của xã hội

Chủ nghĩa hiện đại nảy sinh từ cuối thế kỷ XIX và sinh thành trong nửa

đầu thế kỷ XX, đến những năm 60, 70 chủ nghĩa hiện đại khủng hoảng và tìmlối thoát bằng sự biến chuyển sang chủ nghĩa hậu hiện đại vào thập niên 80 Dùdiễn tiến nh thế nào thì vấn đề chung của hơn 100 năm kia là đều hớng tới khátvọng lý giải, diễn đạt những vấn đề toàn vẹn của xã hội Và rõ ràng, xã hội tronghơn một thế kỷ đó quả là có nhiều vấn đề cần đợc bàn đến Chắc chắn, đó là cơ

sở để các t tởng mới xuất hiện Đồng thời, một trong những nguyên cớ tạo nên

cú hích cho bớc chuyển đổi từ trật tự xã hội Phong kiến có sự manh nha và hìnhthành của T bản sang xã hội T bản với những đặc trng riêng của nó Sự chuyểnbiến đó đặt nhân loại từ trạng huống “Đại tự sự” của thế kỷ XIX với nguyên tắc

Trang 11

của chủ nghĩa hiện thực sang thiết chế hiện đại và hậu hiện đại Nhng nh thếkhông có nghĩa là con ngời cá nhân hoàn toàn chuyển sang một trang mới, thực

tế là “bình mới rợu cũ”, hơn nữa nó càng bị cơng toả hơn, bế tắc hơn, khát khao

đòi hỏi vợt thoát hơn PGS- TS Trơng Đăng Dung trong bài viết “Có một thời kỳvăn học nh thế ở Hungary” đã khái quát: “Một thế kỷ đã khép lại Một thế kỷ

mà trí năng đã tỏ ra bất lực trớc đời sống và mọi sự lý giải về đời sống dờng nhchống lại đời sống Một thế kỷ đối diện với nghèo đói, bạo lực, ô nhiễm môi tr-ờng và cô đơn tập thể cùng với sự bất khả kháng của con ngời đã trở thành trạngthái phổ biến của thế giới, sự phân cực nhanh chóng của các hệ thống quyền lc.Trật tự thế giới luôn luôn đợc điều chỉnh trớc những biến động chính trị, nhngcon ngời hiện đại thì bị lãng quên ngay trong chính những việc mà ngời ta vẫnthực hiện nhân danh lợi ích của con ngời Một thế kỷ mà loài ngời vẫn cha tìm

ra chìa khoá đích thực mở đờng cho tiến bộ xã hội; và bản thân đời sống hiện

đại, về một phơng diện nào đó, vẫn chỉ là sự kéo dài của những giá trị thờiTrung cổ, trong những hình thức mới của nó mà thôi Sự khủng hoảng của thế

kỷ XX không chỉ là sự khủng hoảng của các khoa học châu Âu, không chỉ là

cuộc chiến tinh thần đích thực ” (Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 10-2005, tr

5)

Bớc vào thế kỷ XX, trong hoàn cảnh xã hội nh vậy, văn học đã phản ánh

đời sống con ngời trên những sắc diện mới Và tiểu thuyết là thể loại mang đầy

đủ khả năng nhất để có thể phản ánh cả bề rộng lẫn bề sâu những góc cạnh của

số phận con ngời Chính vì vậy, sự xuất hiện của những thủ pháp mới nh một tấtyếu lịch sử của diễn trình văn học Trong đó, kiểu nhân vật “hành trình” nh mộthình thức, một thủ pháp nghệ thuật của tiểu thuyết mà chúng tôi muốn tập trungnghiên cứu

1.2 Triết học nhân sinh thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI

Ngay từ xa xa, các nhà văn, nhà thơ từ cổ đại đến hiện đại đều coi triếthọc là bản thể, là cơ sở, nền tảng nhận thức đời sống, con ngời- cái nôi của sángtạo văn chơng Thờng là, các triết gia hiện đại của thế kỷ XX bên cạnh nghiêncứu những t tởng nhân sinh luôn tự vơn mình tới những quan niệm về văn họcnghệ thuật Ví nh: Mỹ học sáng tạo đối với Hêghen, Phân tâm học và văn họcnghệ thuật với Sigmund Freud, K Jung; chủ nghĩa hiện sinh và văn hoá nghệthuật, Hiện tợng học của Husserl với triết lý văn chơng, Martin Heidegger vàvấn đề ngôn ngữ văn học, chủ nghĩa hình thức Nga trong nghiên cứu văn học

Trang 12

Nói chung các nhà triết học với các t tởng của mình đã gợi mở tiền đề cho sángtạo nghệ thuật của văn nghệ sỹ Vì vậy, các nhà văn phơng Tây nói riêng và thếgiới nói chung thờng sáng tạo trên cơ sở triết học; khác chăng đó là sự đậm nhạtkhác nhau trong khi tiếp nhận Các nhà văn Liên Xô của Cách mạng tháng MờiNga đã sáng tạo trên tinh thần chủ nghĩa Marx-Lênin nh (M Gorki,Sôlôkhốp ) Rõ nhất là các nhà văn của thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷXXI nh: Franz Kafka, Anber Camus, Yasunary Kawabata, Cao Hành Kiện, J.

M Coetzee, thờng có những sáng tác đậm màu sắc triết học nhân sinh

Do vậy, việc nghiên cứu triết học nh một điều kiện tiền đề là không thểthiếu trong tiến trình khám phá các tác phẩm nghệ thuật, các tác giả văn học haytrào lu, trờng phái văn học Trong giới hạn nhìn nhận nhân vật tiểu thuyết hiện

đại và hậu hiện đại, chúng tôi nhấn mạnh sự phong phú đa dạng và phức tạp củatriết học nhân sinh thế kỷ XX

Trong hơn 100 năm, triết học đã nở rộ nhiều khuynh hớng, trờng phái Sự

đa dạng và phức tạp ấy không chỉ nói lên rằng nó là sự hỗn độn trong ứng xửcủa t duy nhân loại thế kỷ XX mà nó đợc xâu chuỗi bằng nhiều phơng diện triếthọc Trong đó vấn đề nhân sinh là một sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong hành trìnhtriết học Là điểm tựa cho các văn nghệ sỹ lớn xây dựng quan điểm của mìnhtrong các trớc tác Các trào lu triết học về con ngời nh: Siêu hình học mới, triếthọc đời sống, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa Freud, chủ nghĩa nhân vị, hiện t-ợng học, chú giải học, chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa phêphán Đây là những trờng phái triết học nhân sinh cơ bản của hơn 100 năm qua.Chúng tôi không có tham vọng tìm hiểu một cách kỹ lỡng các đặc trng và bảnchất của từng trờng phái mà chỉ chỉ ra một số điểm quan trọng và có thể nhấnmạnh một số trờng phái có ảnh hởng đến trọng tâm của đề tài nghiên cứu Mục

đích là muốn làm rõ vấn đề: Triết học nhân sinh có ảnh hởng nh thế nào đến vănchơng, cụ thể là đến tiểu loại nhân vật hành trình trong tiểu thuyết hiện đại vàhậu hiện đại Bởi triết học trong hơn 100 năm qua ra đời và sinh thành hầu nhcùng thời với văn chơng giai đoạn này Điểm nhấn để chúng tôi tập trung nghiêncứu là bởi cả hai cùng hớng đến số phận con ngời Theo PGS-TS Trơng Đăngdung thì: “t tởng của Nietzshe, Husserl, hay Freud không chỉ ảnh hởng đến tduy hiện đại mà tiếp tục đợc nhắc đến nhiều ở thời hậu hiện đại” [20-47] Dĩnhiên, trong đó có các tác gia văn học của hơn 100 năm qua

1.2.1 Triết học đời sống

Trang 13

Ngời khởi xớng cho trờng phái triết học đời sống là Nietzsche từ thế kỷXIX Nhng Henri Bergson (1859-1941) mới là nhà triết học lớn nhất của tinhthần triết học này Ông từng đợc bầu vào viện Hàn lâm Pháp và đợc nhận giảiNobel năm 1921 Đơng thời, ngời ta coi ông là nhà triết học mới làm rungchuyển truyền thống bao đời Ông và các cộng sự tích cực chống lại chủ nghĩacơ giới và chủ nghĩa duy tâm duy lý Họ là những ngời theo chủ nghĩa phi duy

lý và chủ nghĩa kinh nghiệm cơng quyết nhất, không có ngoại lệ Tất cả đều đợc

đặt dới sự khảo sát của trực giác, sự sinh động của lịch sử Con ngời có thểkhám phá ra ở ngay chính mình thông qua trực giác, một thực tại hoàn toànkhác Thực tại là cái đo đợc những sự vật hiện tợng trong vũ trụ Con ngời nhậnthức đợc sự vật là nhờ trực giác Đó là sự tơng giao giữa cảm quan và sự vật

“Trực giác cho ta trực tiếp bắt lấy độ lâu từ bên trong Trực giác khác với trínăng Trực giác là quan năng của bậc hiền tài.” [24,71] Bác bỏ những quan niệm

về hiện tợng của I Kant và tính thực chứng, Bergson cho rằng trí năng có khảnăng tái hiện sự vật theo quy tắc của trực giác Trực giác đến không rõ ràng nhtrí năng, nó là ánh chớp chiếu vào thực tại trong những thời gian thích hợp Trựcgiác là cùng chiều với thời gian đời sống trong khi lý trí là ngợc lại “Trực giáccho ta thấy một thực tại thuần tuý từ đó đời sống xuất hiện nh một con sôngtuôn trào rồi bị cản từ mọi phía Điểm độc nhất để vợt lên là sự tự do của conngời” [24,72]

Chính những quan niệm có tính lôgic độc đáo đó xuất phát từ cái đích làviệc tôn trọng bản thể sống của con ngời mà t tởng của Bergson trở thành mộtchủ nghĩa đích thực với nhiều môn đồ Và, chính những môn đồ này mở rộng vànâng cao để hớng đến những khía cạnh khác nhau của trực giác

Vấn đề con ngời đợc nhìn nhận từ trực giác ngay từ trong nội cảm sâuthẳm Cái tôi bề mặt không đồng nhất với cái tôi bề sâu: con ngời thờng bị hành

động theo những nhu cầu bên ngoài, chứ ít đợc hành động theo nhu cầu tự nhiêncủa bản thân Điều này lý giải tại sao các văn nghệ sỹ thờng thoát khỏi đời sốngxã hội và đi sâu vào khám phá đời sống bên trong, tức là những sáng tác hớngnội

Phơng Lựu trong cuốn “Tìm hiểu lý luận văn học Phơng tây hiện đại” chorằng: “chủ nghĩa trực giác của Bergson là cơ sở của hiện tợng “dòng ý thức”trong văn học Phơng tây hiện đại”[tr 151] Điều này là hoàn toàn có lý bởi sángtác theo “dòng ý thức”, đặc biệt là trong tiểu thuyết dù nó là diễn biến tâm lýnhng là hoạt động của dòng chảy tâm trạng trong dòng thời gian Và từ đây Ph-

Trang 14

ơng Lựu đã khái quát về “dòng ý thức” xoay quanh những đặc trng của trựcgiác

Những khái quát trên đây là cơ sở để quá trình thẩm định các tác phẩmtrọng tâm mà chúng tôi có thể tập trung nghiên cứu

1.2.2 Triết học hiện tợng học

Hiện tợng học đánh dấu sự vợt thoát quan trọng bớc từ quan niệm của thế

kỷ XIX với những quan niệm duy lý sang những cơ sở mới trong triết học Phơngtây hiện đại

Ngời mở đầu là Franz Brentano (1838-1917), nhng ngời làm cho hiện ợng học trở thành học thuyết thì phải đến Edmund Husserl(1859-1938) “Triếthọc của ông đợc coi là một phơng pháp bởi vì hiện tợng học có thể mang lại mộtquy chế triết học cho nhiều học thuyết khác, một phơng pháp mà nhiều khoahọc khác cũng cần tới T tởng của Husserl gần nh có mặt ở mọi nhà triết học”[24,107] Vì vậy, Husserl đợc các nhà t tởng Phơng tây coi là nhà triết học lớnnhất của thời đại mới

t-Sinh thời Husserl mong muốn hiện tợng học là một bộ môn triết học Vớicơ sở là các hiện tợng, ông đã đặt ra vấn đề là “trở về chính những sự việc” trênhai cơ sở:

Quy giản bản chất: Việc đi sâu nghiên cứu hiện tợng từ sự miêu tả trừu ợng, ý tởng hoá, sự miêu tả làm nổi rõ bản chất của sự vật Trong quá trình đóthông qua dữ kiện nên hiện tợng là xuất phát điểm trong moi cơ sở

Quy giản hiện tợng: Ông cho rằng mọi cái trong thế giới là không cầnchú ý, mà vấn đề là mối quan hệ giữa hiện tợng và bản chất; từ đó mà nẩy sinh ýthức nhằm định hớng nhận thức Hiện tợng học coi cái bản chất có nội dung lýtởng và phổ biến Sự hiện diện của ý thức trớc đối tợng là cở sở xuất hiện hiện t-ợng

“Dữ kiện của bản chất là hiện tợng, hiện tợng là cái gì mà chúng ta thấytrong ý thức, là cái gì hiện ra cho ý thức chúng ta” [24,112]

Tóm lại, điểm xuất phát của hiện tợng học là tìm kiếm sự tồn tại trongnhững sự việc bên ngoài dới quan điểm của sự việc bên trong đời sống của ýthức cụ thể; từ đối tợng mà khám phá ra chủ thể Tức là từ những hiện tợng th-ờng nhật trong đời sống đợc rải rác tập hợp lại từ đó mà khám phá ra tính ý h-ớng hiện diện để tìm ra tính chủ thể của nó

Hiện tợng đối với Husserl không đơn thuần là vật tự nó mà ở đây, nó đợc

đặt trong cơ sở khám phá bản chất cụ thể thông qua đối tợng

Trang 15

Vậy thì, ý thức là trung gian nối các sự vật bằng tính ý hớng để từ đó kếtnối các hiện tợng để tạo thành bản thể Thế giới thực tại đợc lọc trong ý thức.Những sự vật không là rời rạc vô can nó đợc cấu thành, liên hệ thông qua thức

có định hớng Thế giới mang trong lòng nó đặc trng thông qua hành động kếtnối, lựa chọn của chủ thể, từ đó mà chiêm nghiệm thế giới thông qua cầu nốihiện tợng

Chính vì sự phức tạp và khó nắm bắt nh vậy nhng với giá trị nhận thức vôcùng to lớn nên triết học hiện tợng không chỉ có ảnh hởng sâu rộng trong triếthọc mà nó còn trực tiếp hay gián tiếp tạo cơ sở cho các ngành khoa học khácphát triển Sau này đã có nhiều học giả tiếp nối quan điểm của ông nh: MaxScheler, M Heidegger

Đối với sáng tác văn học, hiện tợng học đã ảnh hởng sâu săc đến nhiềunhà văn hiện đại và hậu hiện đại nh: Franz Kafka, Yasunary Kawabata, CaoHành Kiện, J M Coetzee Và các trờng phái lý luận cũng vận dụng t tởng của

ông nh: trờng phái tờng giải học ở Thuỵ Sỹ, Đức; trờng phái phê bình mới AnhMỹ Cần phải nói thêm rằng, trên lĩnh vực lý luận văn học thì chỉ có RomanIngarden (Ba Lan) là ngời vận dụng hiện tợng học một cách triệt để và hiệu quảnhất với công trình “tác phẩm văn học”

Trong đề tài này, chúng tôi coi triết học hiện tợng học là cơ sở vô cùngquan trọng để nghiên cứu nhân vật trên hành trình đi tìm chân lý cuộc sống.Thông qua sự tập hợp những hiện tợng ngẫu nhiên để nhận thức ra bản chất củachủ thể- cái mà nhà văn đặt ra trong tác phẩm

1.2.3 Chủ nghĩa Freud

Sigmund Freud (1856-1939) là ngời khởi xớng phân tâm học

Đối tợng nghiên cứu của ông là phân tâm học vô thức Trớc đây tâm lýhọc chỉ dừng ở ý thức (tâm lý học bề mặt), Freud chủ trơng nghiên cứu “tâm lýhọc bề sâu”

Theo Freud, vô thức mang hai đặc trng :

Vô thức đích thực: là nguồn mới phát sinh ý tởng và sự ức chế hành vicon ngời nhng không bao giờ bị tiêu diệt Sức mạnh đó bùng phát tạo nên áp lựcrất khó kiểm soát Vô thức diễn ra khá dày đặc, có khi chỉ là những sai lầm th-ờng nhật

Tiềm thức là bộ phận của vô thức, hành vi này tách khỏi ý thức mà cánhân không nhận biết đợc (mộng du)

Trang 16

Trong những hình thức vô thức, tính dục có vị trí cao nhất: đó là giaohợp, là tình yêu với: (cha- mẹ, con cái, bản thân )

Tính dục vô thức có 4 hiện tợng: tính dục đôi: nam- nữ, ớc muốn ngờikhác giới; lỡng hoá trị: vừa yêu vừa ghét, chỉ yêu hoặc ghét; thăng hoa: tính dục

đợc giải toả, tạo thành khát vọng cao đẹp; chuyển hoá: vô thức nguyên thuỷ đợcthay bằng cái khác

Ngoài ra, tính dục còn gắn với mặc cảm Oedipe, Electra, mặc cảm bị thiến,mặc cảm tội lỗi, mặc cảm bị trách phạt

Tính bản năng nằm ngoài sự kiềm chế của lý trí, là những mơ tởng của vôthức Bản năng hoạt động trên hai khía cạnh: nguyên tắc khoái cảm: là sự ức chếtâm lý, giảm căng thẳng, tạo khoái cảm ở mức độ tối đa; nguyên tắc thực tại: trìhoãn khoái cảm thực tại, tạo khoái cảm trong tơng lai

Lý thuyết libido (khoái lạc của tính dục): mang tính đặc thù khi khả năng

đợc kích thích Libido có khi là sự tự vệ, có khi là ảo tởng, tự yêu lấy mình

Lý thuyết về sự xăm kích: tìm khoái cảm tính dục để bảo tồn cuộc sống

Có khi đó là bản năng chết: sự tiêu diệt bản thân hay kẻ khác: tạo dâm- khổdâm

Lý thuyết về cơ cấu nhân cách toàn diện hay tâm lý học về ego: là nguồnphát sinh ý thức đối lập với vô thức; sự hỗn loạn trong vô thức, nhục cảm làm tối

mờ nhân cách, lệ thuộc vào khoái cảm; sự đe doạ cấm đoán làm khoái cảmkhông đợc thoả mãn để bảo tồn nhân cách

Phân tâm học cho đến nay đã đợc ứng dụng vào nhiều lĩnh vực khác nhaunh: xã hội học: sự tổ chức xã hội, trật tự trên dới, sự phục tùng hay phản kháng nhân học (nhân loại học): lễ nghi, tập quán, văn minh sống của con ngời trong

đời sống Đặc biệt, văn học nghệ thuật với: mặc cảm Oedipe: đợc rút ra từ “vuaOedpe”: sự loạn luân, giết cha, ảo tởng, mặc cảm tội lỗi dày vò Ngay trongmột số công trình của mình Freud cũng đã trực tiếp bàn về văn học nghệ thuật:

“ảo mộng và giấc mơ”, “Sự liên hệ giữa thi sĩ và mộng mơ ban ngày”, “Chủ đề

về ba cái mũ đồng”, “Moise của Michel- Ange”, “Huyền thoại Prothemee” Đặc biệt, nghiên cứu, phê bình văn học thì phân tâm học đã đợc áp dụngkhá nhiều và đã có những thành công nhất định Đỗ Lai Thuý trong “Phân tâmhọc và ngọn nguồn sáng tạo” in trong “Phân tâm học và văn học nghệthuật”(2004) (Nxb văn hoá thông tin- Nhiều tác giả) đã nhận định: “Với Freudtác phẩm văn học trớc hết là một giấc mơ Nó phản ánh những ham muốn vôthức, những mặc cảm, đặc biệt là mặc cảm Oedipe Freud thấy ở trong bi kịch

Trang 17

Hy Lạp cổ đại đầy rẫy những mặc cảm ám ảnh nhân loại So sánh tác phẩm vớigiấc mơ, nhà phân tâm học thiết lập đợc sự giống nhau giữa chúng.” (tr12) Điều này giải thích vì sao trong những tác phẩm văn học hiện đại và hậu

hiện đại mang đậm tính dục đợc miêu tả khá dày đặc nh: Lâu đài của Franz Kafka, Ngời đẹp say ngủ, Xứ tuyết của Y Kawabata, Linh Sơn của Cao Hành

Kiện

1.2.4 Một số trờng phái triết học khác

- Chủ nghĩa thực dụng: Là trào lu triết học Mỹ, hình thành và phát triểnbởi hai tác giả: William James và C Lewis Đặc trng của nó là khát vọng đợclao động và hớng tới sự tôn trọng cá tính trong mọi hành động

- Siêu hình học mới: với các tác giả là A Whitchead, Hartman, J P.Sartre Họ muốn coi nó là gốc của mọi triết học, xây dựng bản thể, hớng đếnnhân bản, đề cao kinh nghiệm con ngời

- Chủ nghĩa nhân vị: tác giả trung tâm là W Goethe, cho rằng: khát vọng

“ngôi vị” (persone) của con ngời, mỗi nhân vị đều hớng đến nhân vị tối cao làthợng đế; nhng nhân vị của con ngời là sự tự chủ, ý chí tự do sáng tạo

- Chú giải học: với Wilheml Dilthey, Georg Gadamer, Paul Recoeur Họcoi trọng sự thông hiểu, dùng ngôn ngữ để phát triển bản thể, giải phóng t duy

- Chủ nghĩa hiện sinh: ngời sáng lập là Kierkegaard: nhấn mạnh sự nắmbắt bản tính con ngời bằng biện pháp con ngời, độc lập với tôn giáo, khoa học

Là con ngời với t cách cụ thể không trừu tợng, tự do của con ngời nằm tronggiới hạn chính mình

- Chủ nghĩa cấu trúc: với Ferdinard de Saussere, Claude Levi- Straus,Jacques Derrida; là chủ nghĩa mang tính duy lý, tính hệ thống cao độ Tiếp đến,chủ nghĩa hậu cấu trúc coi thực tại là một hỗn mang không trật tự tức là phủ

1.3 Xu hớng sáng tác của văn học

1.3.1 Văn chơng thoát khỏi những quy phạm của chủ nghĩa hiện thực

Trang 18

Văn chơng thế kỷ XIX với những tác giả lớn đã trở thành đại thụ của thếgiới nh: Giorgiơ Bairơn, Vichto Hugo, Standan, Hônerô de Banzăc, SaclơDicken, William Thackơrê Họ dù viết theo trờng phái nào thì vẫn luôn mangtrong mình cảm quan của chủ nghĩa hiện thực Khát vọng của họ là vẽ nên bứctranh hiện thực của xã hội với cuộc đấu tranh không khoan nhợng giữa cái ác vàcái thiện, giữa bóc lột và bị bóc lột Từ đó, mục đích là tôn vinh cái Đẹp, đả kích

và lên án cái xấu một cách quyết liệt

Đặc trng nổi bật của chủ nghĩa hiện thực là xây dựng nhân vật điển hìnhtrong hoàn cảnh điển hình Tính cách con ngời bị chi phối bởi hoàn cảnh cụ thể.Nhân vật bị tha hoá và chống tha hoá ngay trong môi trờng sống mà anh ta trảinghiệm

Thi pháp sáng tạo của chủ nghĩa hiện thực là: thoát khỏi những đặc trngcủa chủ nghĩa cổ điển; sự chân thực của từng chi tiết đợc miêu tả; sự nở rộ củaloại tiểu thuyết mang đề tài xã hội

Sự thống nhất của văn chơng thế kỷ XIX là văn học của giai cấp t sản,sinh thành và phát triển trong lòng xã hội T bản Nó là bức tranh xã hội trongcuộc đấu tranh giữa giai cấp T sản và Phong kiến thời kỳ thoái trào; là bộ mặtthật của giai cấp T sản vừa giành thắng lợi Nhà văn là những “ngời th ký trungthành của thời đại”, với khát vọng vơn tới bến bờ hạnh phúc, công bằng tronghoàn cảnh khắc nghiệt

Thế kỷ XX đã đi qua và tiếp theo là những năm đầu thế kỷ XXI, nhìn lạichặng đờng hơn 100 năm ấy rõ ràng, văn học đã lột xác hoàn toàn về mọi mặt.Cuộc đấu tranh của nhân loại vẫn còn tồn tại nhng bằng hình thức khác và cảmquan khác Những phát hiện nghệ thuật mang dấu ấn chiều sâu nhân bản nh:tiểu thuyết “dòng ý thức”, “sáng tác huyền thoại”, “sân khấu phi lí”, “độc thoạinội tâm lên ngôi” ” các thủ pháp “dán ghép”, “lắp dựng” đều thoát thai từtiền đề triết học hiện đại

Sự vợt lên những giá trị truyền thống là những ứng xử phù hợp quy luật.Bởi các nhà văn thế kỷ XX luôn nảy sinh niềm tin tất yếu là phải đổi mới triệt

để chủ nghĩa hiện thực truyền thống đã trở nên cạn kiệt khả năng biểu đạt trạngthái cuộc sống của con ngời ở một thời đại đổi khác

Điều này đã đợc khẳng định một cách rõ ràng: “chủ nghĩa hiện đại phủnhận chủ nghĩa hiện thực truyền thống trong văn học nghệ thuật Nó cho rằngchủ nghĩa hiện thực đã bị vợt qua và không còn phù hợp với cái nhìn hiện đại về

Trang 19

thế giới Nó hớng tới khám phá những vùng vô thức tâm linh, bí ẩn, những dòng

ý thức bị che khuất, những biểu hiện phi lí của đời sống”[78,74]

Tiếp đến, chủ nghĩa hậu hiện đại tiếp tục khắc hoạ tình trạng khủnghoảng của nó Đây là biểu hiện mang tính thời đại; chính vì vậy, mà trong lòngcác sáng tác cũng nh trong nghiên cứu phê bình luôn xuất hiện những thuật ngữ,khái niêm mới: “vũ trụ nh một hỗn độn” và tri giác hậu hiện đại (postmodernsensibility), “thế giới nh một văn bản” và “ý thức nh một văn bản”, tính liênvăn bản (intertextuality), khủng hoảng uy tín, hoài nghi nhận thức luận(epistemological uncertainly), mặt nạ tác giả (author’s mask), mã kép (doublecode), “phơng thức trần thuật giễu nhại”, ngắt đoạn trần thuật, “hố giao tiếp”,siêu trần thuật (metanarrative) [78,73]

Sự khủng hoảng của thời kỳ hiện đại và hậu hiện đại không chỉ bởi nótuân theo quy luật mà còn là minh chứng cho sự phủ định những giá trị cũ đãkhông thể đáp ứng đợc trong thời đại mới Sự khủng hoảng này cũng diễn ratrong văn chơng bởi các nhà văn cũng đang trên đờng tìm hớng đi cho mình Do

đó, trong hơn 100 năm qua văn chơng nhân loại đã sáng tạo trên nhiều trờngphái, nhiều khuynh hớng khác nhau: Chủ nghĩa biểu hiện, Chủ nghĩa ấn tợng,Chủ nghĩa đa đa, Chủ nghĩa hiện sinh, Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, Chủ nghĩasiêu thực, Chủ nghĩa Freud và văn học nghệ thuật, Chủ nghĩa tợng trng, Chủnghĩa vị lai, Chủ nghĩa hiện đại, Chủ nghĩa hậu hiện đại

Mỗi khuynh hớng văn học, thời gian sinh thành và phát triển cũng khôngbền lâu, con ngời hiện đại không dễ tuân theo một phơng thức diễn giải nào cả.Chính trong sự khủng hoảng để tìm đến phơng thức sáng tạo mới ấy, hầu hết thểloại đều có sự khác biệt so với văn chơng thế kỷ XIX Sau khi từ bỏ cảm quansáng tạo cũ, văn chơng hiện đại và hậu hiện đại có một bộ mặt đầy phức tạp,không dễ khuôn nó vào một xu hớng cụ thể nào Vì ngay trong từng tác phẩm,tác giả cũng có sự hấp thu nhiều đặc trng của thủ pháp mới ở đây, chúng tôikhông chủ quan nêu ra những đặc trng cụ thể khi các quan điểm và nhận địnhvẫn cha thống nhất

1.3.2 Một số tác giả tiêu biểu và những sáng tác mang dấu ấn thời đại

Chủ nghĩa hiện đại và hậu hiện đại trải dài hơn 100 năm và đến nay vẫncòn sứ mệnh khai phá những đặc trng riêng Trong hành trình đi tìm diện mạo

ấy, nó đã hoàn thiện nên những con ngời tiêu biểu có khả năng đại diện chomình, lập thành một tiến trình văn chơng nhân loại xuyên suốt

1.3.2.1 Chủ nghĩa hiện đại với một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu

Trang 20

Chủ nghĩa hiện đại ra đời và sinh thành trong những năm đầu thế kỷ XX.

Nó tuân theo tiến trình xã hội và những trào lu triết học hiện đại Phản ánh sựkhủng hoảng của ý thức hệ t tởng trong thế giới t bản “Về nguyên tắc mỹ học,chủ nghĩa hiện đại phủ nhận chủ nghĩa hiện thực trong văn học nghệ thuật Nócho rằng chủ nghĩa hiện thực đã bị vợt qua và không còn phù hợp với cái nhìnhiện đại về thế giới.” [37,63] Văn chơng hiện đại đồng nhất với tiến trình cáchmạng nghệ thuật Nó gắn liền với nhiều thuật ngữ mới trong khi sáng tạo vàchiếm lĩnh tác phẩm nh: độc thoại nội tâm, diễn biến tâm lý, dòng ý thức, sự lắpdựng các ý tởng, sự đồng hiện giữa các ký ức trong chủ thể Tất cả đều nhằmthể hiện sự tuần hoàn vô nghĩa của đời sống nhân loại, sự bất lực của con ngờitrong lúc đi tìm ý nghĩa đích thực của cuộc sống Hiện thực cuộc sống không

đơn thuần là thực tại khách quan đang diễn ra mà nó còn là quan năng sống củatừng cá nhân đang trải nghiệm

Chủ nghĩa hiện đại xuất hiện với nhiều tác giả lớn đem lại sinh khí mới chovăn học nghệ thuật nh: G Gôix(1882-1941, Ailen), F Kafka (1883-1924, ngờiTiệp gốc Do Thái), M Pruxt (1871-1922, Pháp) , G P Gactơrơ (1905-1980), A.Camus (1913-1960, Pháp)

Franz Kafka (1883-1924)

Ngời đợc coi là mở đầu cho chủ nghĩa hiện đại là Franz Kafka Bút phápmang màu sắc hiện đại xuất hiện hầu hết trong các sáng tác của ông, với rấtnhiều thể loại: tiểu thuyết, truyện ngắn, bút ký ông đã lột tả một cách khá toàndiện những cách tân trong trào lu sáng tác mới Đó là hình ảnh con ngời cá nhâncô độc ngay trong chính cuộc sống hiện tại Họ khát khao tìm lấy ánh sáng chomình trong mọi thời khắc có thể “Đó là nỗi cô đơn khi con ngời(buộc phải) từgiã quá khứ, đứng giữa hiện tại, đối diện với tơng lai bấp bênh đầy bí ẩn ấy làkhi con ngời cảm thấy bất an, hoang mang và lo sợ Con ngời nỗ lực tìm kiếm

và tạo lập mối quan hệ mà quên mất rằng các mối quan hệ đó không giúp đợc

nó thoát khỏi nỗi cô đơn thời gian”.[70,941]

Ngời đọc không thể nào quên hình ảnh một con ngời đang sống lao động

và sinh hoạt bình thờng; một sớm thức dậy anh ta đã biến thành một con bọ gớmghiếc Anh ta tự đấu tranh với chính bản thân mình trong sự đau đớn, tuyệtvọng Nỗi sợ đối diện với ngời thân, với xã hội ám ảnh anh ta cho đến hơi thởcuối cùng Anh không có quyền lựa chọn, con đờng duy nhất là tự tách mình rakhỏi xã hội loài ngời, hoặc lựa chọn cái chết để giải phóng bản thân

Trang 21

Lâu đài ám ảnh bởi hình tợng ngời đạc điền K tìm về lâu đài nơi anh ta

đ-ợc giới thiệu đến làm việc Nhng sự tiếp cận lâu đài dờng nh chỉ nằm trong khátvọng bởi nó ẩn hiện trớc mắt bí ẩn, không thể hoà nhập Thế giới trong lâu đàichia làm ba tầng cụ thể, nghiệt ngã: trong lâu đài (mờ ảo, xa xăm, không rõ rệt),làng của ngời dân bần cùng và ở giữa là số phận K đơn độc, hoang mang, khônglối thoát Hành trình luẩn quẩn ấy là minh chứng cho số phận con ngời đi tìmchính mình trong xã hội hiện đại Khát vọng đó kết cục đó vẫn là vô định

Trong Vụ án Jozep K một sáng bị hai tên cảnh sát đến và kết án mà

không hiểu mình bị tội ra sao, trong thời điểm nào Trên bớc đờng tìm cách giảioan cho mình anh mong muốn khám phá thế giới của toà án để rồi không biết làmình đang tìm hiểu cái gì Thế giới đó vẫn là một ẩn số không lí giải Kết thúc

là anh bị đa ra pháp trờng với sự chất chứa đầy bi kịch và nghịch lí Anh ta chết

nh một con chó

Đối tợng trung tâm của tiểu thuyết Franz Kafka là hình tợng con ngờitrong kiếp tha hoá, sự lo âu, khắc khoải và lu đày cùng cái chết rình rập khắpmọi nơi Một thế giới mà con ngời cá nhân càng vẫy vùng tìm kiếm cuộc sốngnhỏ nhoi càng bị thiết chặt, thê thảm

Với truyện ngắn: ngay từ những tiêu đề đã lột tả đợc tính h và thực, ảo

ảnh và thực tại, cuộc sống và cái chết, khát vọng và bi thơng Tất cả đều bít

bùng trong: Hang ổ, Trong trại lao cải, trong Lời tuyên án hay Trớc cửa pháp

luật, là Chó sói và ngời A Rập, bí bức và mỉa mai kiểu Nhà vô địch nhịn ăn.

Mọi trạng thái sống của con ngời đều là Giấc mơ Cuộc sống tởng nh là trớc mắt, hiện hữu nhng thực ra nó chỉ là ảo ảnh, thậm chí là ác mộng, Làng gần

nhất cũng không thể đến

Sáng tác của văn chơng hiện đại đòi hỏi ngời đọc phải có lí trí, đọc bằng

lí trí và sự chủ động cao độ bởi tính đa nghĩa của văn bản văn chơng hiện đại làvô cùng phong phú Xuất phát từ dụng ý “mờ hoá” hình tợng, các nhà hiện đại

đã tạo ra một hiện tợng tiếp cận văn bản một cách kì thú “Cha bao giờ tronglịch sử văn học của nhân loại (trừ Sêxpia), một sự kiện, một vấn đề có thể hiểuhoàn toàn trái ngợc nhau và cách hiểu nào cũng có thể chấp nhận.”[70,949]

Anbert Camus (1913-1960)

Anbert Camus là nhà văn hiện sinh Pháp lại thể hiện nhiều nỗi lo âu sợhãi của thân phận con ngời trớc bao biến động và tai ơng của nửa đầu thế kỷ

XX Tác phẩm của ông là biểu hiện độc đáo của thuyết phi lý bằng cách bàn

đến những vấn đề siêu hình phức tạp: thực tế và h vô, tồn tại và bản thể “Cái

Trang 22

phi lý diễn ra giữa bao nhiêu sự vây bủa con ngời, cái phi lý lộ nguyên hình qua

sự xung đột giữa cái dơ dáy của cuộc sống và sự mong muốn trong sạch bắtnguồn từ tuổi ấu thơ Cần can đảm gợi ra mọi nỗi cùng cực của cuộc sống, nhnglại nên khớc từ mọi hy vọng bởi hy vọng chỉ là một ảo ảnh quá dễ giãi”[72,738]

Tác phẩm Huyền thoại Xiziphơ (1942) tuy kể về huyền thoại các thần

trong thần thoại Hy Lạp nhng trọng tâm của nó là ý niệm về tính phi lý với tơngquan cuộc sống bị huỷ hoại Cuộc sống là khát vọng nhng phải chăng nó là đích

đến không hy vọng, làm một công việc vô ích và vô hy vọng, nó là phi lý Nhng

nó là niềm vui nếu anh còn tồn tại Dẫu Xiziphơ trách cứ thần linh, buộc tội vàkhinh nhờn họ nhng đó là khát khao chính đáng của anh ta

Đề tài phi lý tiếp tục đợc triển khai trong: Ngời xa lạ, Dịch hạch, Con

ngời nổi loạn, Sụp đổ là những cung bậc khát vọng của con ngời không thể đạt

đợc trong cuộc sống hiện đại

Vở kịch Caliguyla miêu tả sự thách thức to lớn giữa cuộc sống thực tại

và sự phi lý của cuộc đời con ngời trong hoàn cảnh cụ thể Trong tâm niệm củaCaliguyla- nhân vật chính, cuộc đời là phi lý nên phải chống đối mà không thểngoan ngoãn tuân theo Khát vọng phá phách và không thể tuân theo ấy là hạnhphúc, khiến cuộc đời con ngời không còn cô đơn Cái phi lý của vở kịch diễn ratrên toàn cục, từ kết cấu đến quan niệm mâu thuẫn của nhân vật, trong ngôn ngữ

đối thoại, độc thoại Và kết cục đợc đẩy lên đỉnh điểm của sự phi lý khiCaliguyla giết chết ngời tình để đạt đợc khát vọng phá phách, để cảm nhận cuộcsống vô nghĩa lý- cái mà xã hội cố tình tạo ra, hệ luỵ của cuộc sống hiện đại Chính vì vậy, trong quan niệm của Camus luôn luôn bị ám ảnh về sựlụn bại của nghệ thuật, sự mất phơng hớng, sự giả dối xa hoa, đi đến phủ địnhhoàn toàn hiện thực Khát vọng của ông là đạt đến chân lý công bằng trong

đồng loại, một quan niệm đầy tiến bộ nhng thật không tởng trong xã hội hiện

đại những năm đầu thế kỷ XX Ông cho rằng: “nghệ thuật không phụng sự một

đảng phái nào, nó chỉ phụng sự nỗi thống khổ và quyền tự do của con ngời màthôi.” [72,763]

Yasunary Kawabata (1899-1972)

Trong bức tranh cho sự cách tân của văn học hiện đại, hành động đi tìmcái đẹp của thiên nhiên, con ngời, truyền thống văn hoá nh là một sự trốn chạythực tại Đó là một ứng xử nhân văn nhng đồng thời nó cũng là sự quay lngkhông khoan nhợng Những sáng tác của Yasunary Kawabata khá tiêu biểu cho

Trang 23

khuynh hớng này Đọc tác phẩm của ông, ngời đọc nh lạc vào thiên đờngnguyên sơ mang màu sắc Nhật Bản, những vẻ đẹp có khả năng cứu rỗi linh hồncon ngời trong mọi thời đại.

Vẻ đẹp trong suốt trong mảnh đất thiêng của Xứ tuyết Phong cảnh và

con ngời hồn hậu vừa trần tục vừa linh thiêng, thơm mát Cái trần tục đợc miêutả đầy tế nhị, sâu lắng trong khi cái đẹp luôn đợc soi ngắm trong nhiều góc độ.Bởi trong tâm niệm của Kawabata “Cái đẹp cứu vớt chúng ta Nhng điều quantrọng hơn là chúng ta cũng phải cứu vớt cái đẹp Nếu cần tìm kiếm ở Kawabatamột thông điệp thì phải chăng chính là điều ấy, rằng chính chúng ta phải cứu vớtcái đẹp” [71,1076]

Chính vì vậy, trong tác phẩm của ông, cái đẹp luôn chiếm u thế Là cái

đẹp nhân sinh, triết lý nhân bản, mang đậm hồn ngời thẳm sâu trong Ngời đẹp

say ngủ Vẻ đẹp linh hồn Nhật, sông núi Nhật trong Ngàn cánh hạc, Tiếng rền của núi, Cố đô, cho đến những vẻ đẹp chi tiết cụ thể, quyến rũ trong: Con châu chấu và con dế đeo chuông, Bến tàu, Bình vỡ, Chiếc nhẫn, Gơng mặt khi ngủ, Tia nắng rạng đông, Đôi giày mùa hạ, Đôi mắt của mẹ, Cây lựu, Cây hoa trà, Cây mận, Thuyền lá tre hay vẻ đẹp linh thiêng huyền bí trong ứng xử đời ng-

ời: Tạ ơn, Hiện hữu thần linh, Địa tạng vơng bồ tát Oshin, Lời nguyện cầu của

xử nữ, Bất tử, Cố hơng Tất cả những sáng tác ấy đều ám ảnh ngời đọc, đặt độc

giả vào sự chông chênh giữa cái đẹp trong tác phẩm và thực tế ngỗn ngang Đó

là hai trạng thái sống, hai nửa phân lập mà tác giả khao khát hớng đến VàKawabata đã hớng đến một cách chính xác

Các tác gia có thực tài trong văn chơng hiện đại là rất nhiều Họ thực sự

có tâm huyết và khát vọng sự bứt phá trên hành trình đổi mới bộ mặt văn chơng.Thành công có, thất bại và bất cập có; nhng cái chính là họ đã góp phần tạo nênmột xu thế làm cho đời sống văn chơng nhân loại trở nên phong phú hơn Nhậnthức của họ luôn bộc lộ chính kiến của mình là luôn luôn không bao giờ thoảmãn với cái cũ, lỗi thời để hớng đến cái khác hơn, phù hợp hơn Chính nhữngkhắc khoải tìm đờng đó, mà họ đã tạo nên một giai đoạn văn học đa khuynh h-ớng Đằng sau những khuynh hớng ấy, là t tởng triết học mà chúng tôi đã đề cập

ở phần trên, và quá trình tìm đờng đó vẫn còn tiếp diễn ở giai đoạn sau

1.3.2.2 Chủ nghĩa hậu hiện đại với những tác giả, tác phẩm tiêu biểu

Văn chơng hậu hiện đại bắt đầu từ những năm 80 của thế kỷ XX Đó lànhững sáng tác tiếp nối sự khủng hoảng của giai đoạn văn học hiện đại, sự hoàinghi đợc đẩy lên thành những luận thuyết Sự thức tỉnh luôn nằm trong sự ràng

Trang 24

buộc bởi thực tại và khát vọng Nếu chủ nghĩa hiện đại khủng hoảng trong sựtan vỡ, hỗn độn của thế giới thì đến hậu hiện đại nó lại đợc đẩy lên bởi sự chấpnhận mà không thừa nhận, nó tung hê tất cả: “chủ nghĩa hậu hiện đại chẳngnhững không có ý tởng xót xa về sự tản mác, tạm bợ hoặc không mạch lạc đó

mà còn hoan nghênh nữa Thế giới này vô nghĩa ? Thế thì chỉ nên giả vờ rằngnghệ thuật có thể làm cho nó có nghĩa, chúng ta hãy đùa giỡn với sự vô nghĩaấy”[5,488]

Điều này đợc minh chứng qua các sáng tác của: Claude Simon, MicheiTournier, Eugene Ionesco, J M Le Clezio, Eliot, Woolf, Cao Hành Kiện, J M.Coetzee , văn chơng hậu hiện đại là hiện tợng trên toàn thế giới

Những đặc trng chủ yếu của văn chơng hậu hiện đại đợc Barry Lewis

(trong: Văn chơng hậu hiện đại thế giới Những vấn đề lý thuyết (2003) Nxb

Hội nhà văn ) khái quát ở các phơng diện sau:

- Sự hỗn độn thế trụ (temporal disorder)

- Cống nhặt (Pastiche)

- Mảnh vỡ (Fragmentation)

- Sự nới lỏng tổ chức (loofeness of association)

- Tính hoài nghi (Paranoia)

- Vòng luẩn quẩn (viciuos cirdes)

ở đây, chúng tôi muốn điểm qua một số tác giả tiêu biểu để thấy đợc xuhớng sáng tạo của thời kỳ này

Engene Ionesco (1912-1994)

Ông đợc coi là chủ soái của kịch phi lý trong nửa cuối thế kỷ XX Kịchcủa ông đậm màu sắc triết lý nhân sinh bi quan siêu hình Sáng tác của ông luônchất chứa những mâu thuẫn sâu sắc giữa: chống đối đến đoạn tuyệt, bi đát màhài hớc Vì vậy, không dễ quy ông vào một trờng phái, phong cách hay thi phápsáng tạo cụ thể nào Sự hỗn mang của những mảnh vỡ nh những điểm nhấn củathời đại luôn xuất hiện trong các tác phẩm của ông

Vở kịch Nữ ca sĩ hói đầu là sự tập hợp những câu chuyện tản mạn giữa

hai vợ chồng Smith, vợ chồng Martin; là mối quan hệ giữa chủ và khách, thêm

ông đại uý cứu hoả và hình ảnh cô hầu Mary đi ra đi vào Những câu chuyệnkhông cốt truyện, không thuần nhất về mặt t duy, giao tiếp không mục đích, đốithoại lệch pha, ông nói gà bà nói vịt Ngay chính tác giả cũng phát biểu: “nó lànhững câu đặt sẵn, những lời sáo mòn hết sức cũ rích, lại để lộ cho tôi thấy,bằng chính điều đó, cái máy móc của ngôn ngữ và cách xử sự của mọi ngời, nói

Trang 25

để chẳng nói lên điều gì cả, nói bởi vì chẳng có chi riêng t để mà nói cả”[72,820] Mục đích của tác giả là làm huỷ hoại ngôn ngữ, làm khủng hoảng sựgiao tiếp giữa ngời với ngời Đó là tấn bi hài kịch về ngôn ngữ, biểu trng vănhoá của loài ngời.

Môtip này lại tiếp tục đợc lặp lại bằng sự tung hê tất cả, không có cái

đáng trọng mà cũng bất cần cái bị bỏ qua: là hình ảnh những chiếc ghế vô t nh

con ngời trong Những chiếc ghế Là hình ảnh loài ngời biến thành tê giác trong

Con tê giác, bởi con ngời không còn hồn ngời, bị động vật hoá Đó là thủ pháp

sáng tạo mà tác giả đặt ra để ai muốn hiểu thế nào cũng đợc; thân phận con ngời

là vô nghĩa, bị tha hoá chán chờng, mệt mỏi ngay trong chính cuộc sống màmình đang nếm trải

Cái chết trong tác phẩm nh một ứng xử làm cân bằng cuộc sống Cái chếthiện ra khắp nơi, thực tại và ý niệm đan cài trong khát vọng không thành

Những vở kịch nh: Đức vua đang chết, Đói và khát, Các nạn nhân của nghĩa

vụ, Những cuộc hành trình xuống âm phủ, Những trò chơi tàn sát, cái chết

trong kịch của ông là sự đối chọi mâu thuẫn, bổ trợ, hoà hợp làm xoá nhoà ranhgiới giữa ngời sống và chết, hiện tại và thực tế, quá khứ và mơ hồ

Có thể lấy lời của tác giả để kết thúc cho những đặc trng của kịchIonesco: “Con ngời là nh nhau trong tất cả các xã hội, những ngời từ trong tácphẩm là sự phản ánh sự trống rỗng từ bên trong tác giả ở đây chúng ta khôngphê bình sự trống rỗng tinh thần mà đúng hơn chúng ta không thể nhận ra, một

sự thờ ơ, một cảm giác trơ lỳ, một sự bất lực không thể xuyên thấu”[85, 31]

Cao Hành Kiện

Cao Hành Kiện sáng tác nhiều thể loại: tiểu thuyết, kịch, truyện ngắn, bútký, Tác phẩm của Cao Hành Kiện là tiêu biểu cho sáng tác những năm đầu thế

kỷ XXI Đó là bút pháp mang màu sắc hành trình thông qua việc tập hợp những

ấn tợng, sự vật có khi chẳng liên đới bên cạnh nhau để giao tiếp, tạo nên tinhhoa ngôn ngữ Ngôn ngữ mang màu sắc rời rạc, cắt xén, lắp ghép, chính là bảnnguyên của sáng tạo Truyền thống và cách tân luôn đồng hành trong quá trìnhsáng tác của Cao Hành Kiện, theo ông “Văn học một khi thoát ly công lợi củahiện thực, mới thắng đợc cái tự do trọn vẹn Văn học là một thứ xa xỉ mà loàingời sau khi lo toan sinh tồn đợc rồi mới có, con ngời sở dĩ cần hởng thụ chút xa

xỉ đó, ấy là một chút kiêu ngạo của tác giả cũng nh của độc giả? Đó cũng là tínhxã hội của văn học, đối với xã hội, hiện thực ý vị của nó có dịp phơi bày, phêbình, khiêu chiến, lật nhào và siêu việt”[55,681]

Trang 26

Tiểu thuyết của Cao Hành Kiện đặc trng bởi những chuyến dã ngoại, từ

đó mà nhà văn tập hợp đợc sự kiện vừa khách quan, chủ quan hoá thân vào bàn

luận, phẩm bình các sự kiện Linh Sơn là tiêu biểu cho phơng thức trên Cuốn

sách tập hợp các quan niệm về triết học, con ngời, ngôn ngữ, văn học, lịch sử,

đ-ợc đan cài bằng thực tế và huyền thoại Những chuyến đi nh những hành trìnhchạy trốn cuộc sống hiện đại để tìm về bản nguyên không rõ ràng, không xác

định Cuộc đối thoại này có khi chỉ diễn ra trong chủ thể, chủ thể phân thân hay

“dòng ý thức” nội tâm, Chúng tập hợp lại tạo thành tính đa thanh, hỗn độntrong quy luật là dấu ấn của hành trình, dịch chuyển

Tiểu thuyết Kinh thánh cho một ngời nói về sự thống khổ của ngời

Trung Quốc trong thời kỳ Cách Mạng văn hoá Là khát vọng của nhà văn mongxoá đi những cay đắng một thời Xoay quanh nhân vật “Nó” và “Anh” trong quátrình chạy trốn nhà văn đã lột tả khá đầy đủ bộ mặt xã hội và con ngời trong thời

đó; xuất hiện những cuộc đối thoại, độc thoại, dòng tâm trạng trong sự hỗn loạncủa thực tại, tơng lai Mâu thuẫn giữa siêu nhân và tầm thờng đợc nhìn nhậntrong mọi chiều cạnh để đi đến cái vô nghĩa lý của cuộc đời Hài và bi xen lẫn,coi thờng và tôn trọng đều không còn giá trị đáng kể Thủ pháp hậu hiện đại lênngôi Thiên tiểu thuyết kết thúc nhng tất cả đều bỏ ngõ

Kịch của Cao Hành Kiện cũng mang màu sắc hậu hiện đại rõ nét vàkhá đặc trng

Trạm xe là con ngời nằm trong trạng thái động, các mối quan hệ đợc

đặt trong sự đối thoại, tự vấn Nhân vật trong vở kịch vừa đợc lồng trong sự liênquan với đồng loại vừa tách ra để tự chiêm nghiệm về vấn đề mà mình đanghành xử Mọi khuôn khổ kịch đều bị phá vỡ, các quy tắc bị đảo lộn, tạo nênnhững màu sắc đa nghĩa Tất cả đều tập trung vào vấn đề là con ngời lựa chọn

nh thế nào trong hoàn cảnh của chính riêng anh ta mà không giống ai

Trú ma kể về hai cô gái tránh ma trong một túp lều của công nhân sửa

đ-ờng Hai ngời nh một đôi bạn nhng cũng là phân thân của một đối tợng Họ kểcho nhau nghe đủ thứ chuyện, những câu chuyện có khi chẳng ăn nhập nhau,liên quan: chuyện cơ quan, chuyện tình, quan niệm sống văn hoá ứng xử, về cái

đẹp, Kết thúc là hai cô gái ra khỏi lều, khi trời còn ma trong cảnh náo loạn củathành phố lên đèn Biết đâu đấy những câu chuyện lại tiếp tục ở một nơi nàokhác, với một đối tợng khác Con ngời hiện đại cô đơn trong mọi lúc cần có sựgiải toả, sẽ chia

Trang 27

Tuyết tháng tám lấy đề tài từ lịch sử, mang màu sắc thiền Nhân vật Huệ

Tông vừa tuân theo khuôn phép của Thiền, nhng lại khát khao tự do Rõ ràng,

đó là thủ pháp nhằm mở rộng không gian, thời gian để nhân vật bộc lộ tâm trạngbằng việc gắn kết các mảnh vụn giữa hoài vọng tụng niệm và cuộc sống thực tại Truyện ngắn của Cao Hành Kiện hầu hết đợc kết cấu không có cốt

truyện Sự hấp dẫn thuộc về ngôn ngữ của nó Những tác phẩm nh: Hai lăm năm

sau, Bạn bè, Trên biển, Trên đờng, Mẹ, Chuột rút, Tai nạn, Tràng hoa, Đậu hoa, Ngời thợ giày và cô con gái, ngay từ tiêu đề đã thấy đợc nó là những diễn

ngôn xung quanh một hay nhiều vấn đề hiển hiện bình dị, cụ thể trong cuộcsống

Vấn đề là, lời kể chuyện của nhà văn, bởi từ những cái cụ thể, không độtbiến đó nếu không cao tay thì sẽ trở thành những câu chuyện thật vô nghĩa.Bằng ngôn ngữ hậu hiện đại Cao Hành Kiện đã lắp ghép, biểu đạt vấn đề hoàntoàn khác với loại truyện trớc đó Ông nói: “Trong truyện ngắn tôi loại bỏ sự môtả thuần nhất khách quan với hoàn cảnh Giả thử nh còn đôi chỗ mô tả thì cũngxuất phát từ một góc độ mô tả chủ quan nào đó Vì vậy, cảnh vật loại này có thểnói là một dạng hiện tợng hay nội tâm đối với sự phản ánh bên ngoài, bởi sự môtả dạng chụp ảnh không phù hợp với bản tính của ngôn ngữ.”[54,8]

Qua việc khái quát một số tác giả tác phẩm tiêu biểu trên, chúng tôi đi

đến nhận định rằng xu hớng sáng tác của văn học trong hơn một thế kỷ qua rõràng là rất phức tạp và đầy biến động “Vấn đề ở đây là, dù cho là trờng pháinày hay trào lu nọ, cá nhân này hoặc cá nhân kia với các quan điểm hoặc gầnnhau, hoặc là khác nhau thì dờng nh các nhà văn nhà thơ thế kỷ XX cũng dễdàng gặp nhau ở một điểm: không hài lòng với cái cũ, với cái có sẵn đang trì trệ

và tỏ ra bất cập Họ luôn luôn tìm tòi, trăn trở và đổi mới không ngừng” [79,7].Những thủ pháp hoàn toàn mới mẻ đó đòi hỏi ngời đọc phải có một “tầm đón

đợi” mới mới có thể thẩm thấu đợc phần nào giá trị đích thực của nó Đặc trngnhận diện dễ thấy và xuyên suốt của văn chơng hiện đại và hậu hiện đại đó là

sự khủng hoảng trên toàn cục Dù sự khủng hoảng này đợc ứng xử nh thế nào thìkhát vọng của văn nghệ sỹ thời này là hớng đến con ngời với những giá trị đíchthực của nó, không giống với bất kỳ kiểu con ngời nào trớc đó, do “chủ nghĩahiện đại (gồm cả hậu hiện đại) lấy con ngời cá nhân làm cơ sở cho sự hiểu vàchiêm nghiệm đời sống”[20,50]

Tiểu kết:

Trang 28

Thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI là quảng thời gian của hơn 100năm biến động phức tạp trên diện rộng: xã hội, triết học, xu hớng sáng tạo vănhọc- nghệ thuật Nó không nh thế kỷ XIX trớc đó: xã hội của giai cấp phongkiến bớc sang t bản chủ nghĩa với đặc trng là chủ nghĩa hiện thực, mang màusắc “đại tự sự” Về mọi mặt dù đời sống vật chất hay tinh thần đều bị phân rã ranhiều khuynh hớng, nhiều đặc trng phức tạp, trộn lẫn, khó phân loại Tronghoàn cảnh đó con ngời hiện đại trở nên bất an, nhỏ nhoi, không còn niềm tinnào vững chắc, tơng lai là một khái niệm mơ hồ.

Nó cũng là bộ mặt của triết học, cơ sở thế giới quan của các ngành khoahọc, cũng khủng hoảng trầm trọng bởi sự xuất hiện quá nhiều trờng phái, t tởngkhông thống nhất, đối chọi và phủ định nhau, đầy tính siêu hình và bi quan.Trung tâm của triết học là con ngời, nhng càng quan tâm, càng định hớng conngời càng cảm thấy cô đơn, bị động, nhỏ nhoi đến tội nghiệp Họ không có đờisống riêng, tinh thần bị lũng đoạn Vì vậy, mà triết học cũng trở nên bất lựctrong mọi phơng thức lý giải vấn đề

Trong hoàn cảnh ấy, văn chơng hiện diện vừa đa sắc màu, đa xu hớng,nhiều ngã rẽ, nhng ám ảnh nhất vẫn là sự bi quan, bất lực của số phận con ngời.Các phơng thức ứng xử của nhà văn trong sự hỗn loạn đó càng chứng minh rằng:văn chơng hơn 100 năm qua diễn trình một bộ mặt phi lí trên mọi khía cạnh Họcàng cất công tìm cho mình một lối thoát thì càng bị lún sâu vào vũng lầy Điềunày có thể thấy, để tìm ra một xu hớng sáng tác cụ thể của văn học thời này làhoàn toàn thiếu những tiêu chí cụ thể Có chăng chỉ là những định hình tạm thời,không vững chãi, khó tránh khỏi bế tắc, nhầm lẫn Và thế hệ nhà văn nhữngnăm đầu thế kỷ XXI dù mang khát vọng khám phá thì đích đến vẫn ở đâu đótrong tơng lai Có nghĩa rằng: tất cả đều đang “hành trình”, đang trên đờng,

đang vận động

Trang 29

Chơng 2

Nhân vật hành trình trong một số tác phẩm tiêu biểu

Để có thể tiếp cận nhân vật hành trình, chúng tôi nghiên cứu nhân vật

trong ba tác phẩm: Lâu đài của Franz Kafka, Xứ tuyết của Yasunary Kawabata,

Linh sơn của Cao Hành Kiện Phơng thức tiến hành là khảo sát nhân vật trên hai

bình diện: nhân vật chính xuyên suốt các cuộc hành trình, nhân vật phụ - bổ trợ,khắc hoạ, tác động

Nhân vật chính xuyên suốt trong tác phẩm là nhân vật trung tâm, con

ng-ời sinh mệnh của sáng tạo văn chơng đợc nhà văn tập trung xây dựng

Nhân vật trong chủ nghĩa hiện thực có đầy đủ lí lịch, xuất thân, tên tuổi,cá tính rõ ràng Nó đợc khu biệt bằng những đặc trng cụ thể: nhân vật chứcnăng, nhân vạt loại hình, nhân vật tính cách Trong khi đó, nhân vật trong vănhọc hiện đại và hậu hiện đại rất khó hoặc không có thể phân định một cách rạchròi bởi nó cũng đầy phức tạp, biến động nh chính cuộc sống của con ngời đơngthời

ở đây, chúng tôi tập trung vào hai khái niệm nhân vật trung tâm (là mộttrong những nhân vật chính) và nhân vật phụ trong tác phẩm

- Theo J.P.Goldenstein trong “Để đọc tiểu thuyết”, nhận định: “nhân vậtchính là nhân vật nam hay nữ chính là đối tợng chính của sự kiện xảy ra đợcmiêu tả Theo các tiêu chí rất tơng đối ta có thể phân biệt các nhân vật chính(personnage principal, Heros, Protagoniste) với các nhân vật phụ (personnagessecondaires) hoặc những nhân vật xuất hiện tha thớt trong tiểu thuyết và cuốicùng với những ngời giữ vai trò không quan trọng tức là những nhân vật mà vaitrò bị thu nhỏ đến mức tối thiểu” [43,75]

- “Từ điển thuật ngữ văn học” quan niệm về nhân vật chính là: “Nhân vậtthen chốt của cốt truyện, giữ vị trí trung tâm trong việc thể hiện đề tài, chủ đề và

t tởng của tác phẩm Nhân vật chính thờng xuất hiện nhiều lần trong tác phẩm

và đợc nhà văn khắc hoạ đầy đặn bằng nhiều loại chi tiết: chi tiết tiểu sử, chi tiếtngoại hình, chi tiết nội tâm, tính cách và xung đột Chính vì thế nhân vật chínhthờng thể hiện rõ nét những cách tân nghệ thuật của một nhà văn” [37,226]

- Với nhân vật trung tâm, nhà lý luận văn học Trần Đình Sử phát biểu:

“Trong các nhân vật chính của tác phẩm lại có thể thấy nổi lên những nhân vật

Trang 30

xuyên suốt tác phẩm từ đầu đến cuối về mặt ý nghĩa Đó là nơi quy tụ các mốimâu thuẫn của tác phẩm, là nơi thể hiện vấn đề trung tâm của tác phẩm”[76,71].

- “Từ điển thuật ngữ văn học” định nghĩa về nhân vật phụ nh sau: “Nhânvật phụ giữ vị trí thứ yếu so với nhân vật chính trong diễn biến của cốt truyện,trong quá trình triển khai đề tài, thể hiện t tởng và chủ đề tác phẩm” [37,231]

- Theo các nhà nghiên cứu thì có nhiều loại nhân vật phụ: “Có loại nhânvật phụ ở bình diện thứ hai, sau nhân vật chính”, “lại có nhân vật phụ ở hàng thứ

ba, chỉ xuất hiện thấp thoáng trong các tình tiết của tác phẩm” Và “nhìn chungnhân vật phụ thờng gắn liền với những tình tiết, sự kiện, t tởng có tính chất phụtrợ, bổ sung Nhng trong nhiều trờng hợp, nhân vật phụ lại hàm chứa những t t-ởng quan trọng của tác phẩm” Vậy nên, “Đồng thời nhân vật phụ đợc coi là bộphận không thể thiếu, đợc nhà văn miêu tả nhằm tạo nên bức tranh đời sốnghoàn chỉnh, độc đáo và sinh động của tác phẩm” [37,232]

Sự thống nhất về các khái niệm, thuật ngữ và đặc trng về nhân vật của cácnhà nghiên cứu là cơ sở để chúng tôi tập trung đi sâu nghiên cứu hai bình diệntrên về nhân vật hành trình Rõ ràng, trong ba tác phẩm mà chúng tôi sẽ khảosát thì nhân vật trung tâm chính là nhân vật chính đóng vai trò quyết định trongcác cuộc hành trình cấu thành nên mạch văn của tiểu thuyết Trong khi đó, nhânvật phụ là sự bổ sung lý thú, và đăc biệt nó hỗ trợ, tác động, định hớng làm nổibật hành trình của nhân vật trung tâm

Bảng khảo sát ba nhân vật trung tâm trong các tiểu thuyết: Lâu đài của

Franz Kafka, Xứ tuyết của Y Kawabata, Linh Sơn của Cao Hành Kiện:

Tác phẩm Tác giả NV trung tâm Định hớng hành trìnhLâu đài Franz Kafka

(Tiệp gốc Do Thái)

K Tìm đến lâu đài làm đạc điền

theo lời mời bằng th

2.1 Nhân vật chính xuyên suốt các cuộc hành trình

2.1.1 Nhân vật K trong Lâu đài của F Kafka“ ”

Trang 31

K là nhân vật trung tâm xuyên suốt trong tiểu thuyết Lâu đài của F.

Kafka có độ dài đến 350 trang do PGS- TS Trơng Đăng Dung dịch ra tiếng Việt

Thiên tiểu thuyết xoay quanh nhân vật mang tính ký hiệu K, làm nghề

đạc điền đợc mời đến để đo đạc tại Lâu đài nọ Nhng vì sự ngăn cản hay vô tâmnào đó của những ngời liên quan đến Lâu đài mà anh không thể nào tiếp cận đ-

ợc nơi mà anh đợc mời đến Bằng mọi cách, mọi mối quan hệ, nhờ cậy nhng anhkhông thể nào thực hiện đợc ý định Những ngời chủ Lâu đài thông qua nhữngmắt xích của mình vừa kéo dài thời gian tiếp cận với anh vừa giữ chân anh.Trong thời gian đó, K cứ luẩn quẩn giữa quán trọ đến trờng học, nơi ngời ta tạmthời cho anh làm bảo vệ Cuộc truy tìm đó diễn ra trong suốt 20 chơng truyệnnhng cuối cùng Lâu đài vẫn là một hình bóng xa vời trong suy nghĩ và khátvọng của K “Anh chàng làm nghề đạc điền K vô danh đến mức không có cáitên đầy đủ, sống trong chờ đợi nên anh ta có cảm tởng hiện thực cuộc sống chỉ

là những ảo ảnh K không sao lý giải đợc sự chờ đợi phi lý ấy Nhân vật K đợctác giả chọn lọc mang tính biểu trng, nó có tầm khái quát và tạo nên hình tợngvăn học ẩn chứa trong một t tởng triết học: tình trạng bị bỏ rơi nên cô đơn, bấtlực, trở nên con ngời xa lạ giữa đời thờng.” [44,208]

Mở đầu thiên tiểu thuyết, nhà văn giới thiệu nhân vật K thật đơn độc, độtngột, trực diện “Khi K đến nơi thì đêm đã khuya Ngôi làng yên nghỉ dới lớptuyết dày Sơng mù và bóng tối bao phủ, không thể nhìn thấy ngọn đồi có thànhluỹ và toà lâu đài lớn, dù chỉ là một ánh sáng mờ nhạt nhất K đứng hồi lâu trênchiếc cầu gỗ dẫn từ đờng quốc lộ vào làng và nhìn vào khoảng không.” [70,303]

Ngay từ cách gọi tên nhân vật K đã đặt ra nhiều vấn đề cần lý giải Đóphải chăng là cách tân đầu tiên trong tiểu thuyết mà tác giả đem đến cho ngời

đọc? Hay là tác giả rút từ chữ cái đầu tiên của tên mình mà gọi tên nhân vật?Hay vấn đề tên gọi nhân vật trong tiểu thuyết hiện đại là không còn quan trọng?

Nó góp phần nói lên rằng con ngời hiện đại đang bị đánh mất không chỉ số phận

mà ngay cả tên họ, xuất thân Nó gợi mở những vấn đề đầy chất phi lý trong tácphẩm Rõ ràng, nó tạo nên nhiều sự hiếu kỳ nơi ngời đọc bắt đầu từ lúc tiếpxúc với tác phẩm Cách gọi tên đó không chỉ là cách gọi tên một con ngời mà nó

có sức bao quát cho cả một tầng lớp ngời trong xã hội hiện đại Số phận con

ng-ời hiện đại thật mong manh, dễ vỡ và đầy bị động Điều này phù hợp với hệ t ởng xã hội nửa đầu thế kỷ XX, không gian mà Kafka sống “Một xã hội tự do

t-đáp ứng nhu cầu với việc tìm kiếm lợi ích nhng nó rải đầy những cái hố, những

Trang 32

vết nứt mà không phải từ dới đó vang lên là tiếng nói của chủ thể, mà là tiếngkêu hay thậm chí sự thinh lặng của những kẻ không còn là chủ thể nữa” [1,447].

Tiếp đó, tác giả miêu tả cuộc đối thoại giữa K và những ngời trong quántrọ, nhằm lý giải nguyên cớ cho sự xuất hiện của K: “Anh bạn hãy biết rằng tôi

là ngời đạc điền mà ngài bá tớc mời đến Các phụ tá của tôi sẽ đến sau bằng ô tôcùng với những dụng cụ đo đạc, riêng tôi thích đi bộ trên tuyết, chỉ tiếc là mấylần bị lạc nên tôi mới đến muộn thế này.” [70,30] Hiển nhiên, tất cả những phátngôn ban đầu của K là hoàn toàn chủ động, tự tin, “là ngời đợc mời đến” nghĩa

là quan trọng, chứ không phải là bọn quấy nhiễu vô lại

Đó là những nét sơ lợc về xuất thân của K, tác giả không giới thiệu gìthêm, không ngoại hình, không xuất thân, ngời đọc loáng thoáng nhận ra anh làmột ngời còn trẻ đã bắt đầu đủ độ chín của sự trởng thành Sau đó, tác giả đểcho những ngời trong quán bình phẩm vể sự xuất hiện của anh Ngời thì cho anh

la “kẻ bịp bợm, gã lang thang, nếu không phải là xấu hơn thế” [70,306], thôngqua thái độ ôn tồn của gã chủ quán, là hành động im phăng phắc trong quán khixác định K là ngời đợc mời đến, là sự xuống nớc của tên con trai quan phòngthành

Qua cuộc đối thoại giữa K và lão chủ quán, tác giả đã khắc hoạ phần nàotính cách ban đầu của anh Đó là tâm thế của một con ngời khá tự tin và chủ

động, lịch sự và nhã nhặn, rằng K đến vì mục đích công việc “K nói- Ngời tanói nếu làm việc tốt thì đợc trả tiền cao đúng không? Con ngời ta nếu xa gia

đình, vợ con, tha phơng cầu thực thì ít ra cũng muốn mang về nhà đợc một cái gì

đó.” [70,307] “Tôi không phải nhút nhát đâu, K nói- tôi có thể phát biểu thẳng

ý kiến mình với ngài bá tớc”, hay “Tôi e rằng cuộc sống ở trên lâu đài khôngthích hợp với tôi Tôi luôn muốn đợc tự do”[70,308] Sự tự tin và khát vọng đợchoà nhập đợc đẩy lên cao hơn khi K bông lơn với ông ta: “- Thôi đi!- K nói, đốivới anh tất cả mọi ngời đều có quyền thế Tôi cũng là ngời nh thế chắc?” “Nói rồi K vỗ vỗ vào má chủ quán một cách an ủi, để khơi thêm trong anh ta chútnhiệt tình đối với chàng” [70,309]

Thái độ tự tin đến vô t ban đầu đó phải chăng là nét đối lập để gợi mở sựthay đổi của anh trong quá trình tiếp cận với Lâu đài Đó là hành trình dài màanh đánh mất dần sự tự tin, chủ động, lịch thiệp của mình, cũng là hành trình bị

đánh mất số phận của con ngời hiện đại và sự không số phận nh một tất yếuhiện hữu Càng tiếp xúc với Lâu đài, mục đích và khát vọng càng bị thui chột vàgiằng xé giữa nhiều trạng thái đối lập Điều này thể hiện rất rõ trong mối quan

Trang 33

hệ của K với những ngời liên quan đến lâu đài sẽ đợc khảo sát cụ thể Nó minhchứng cho hành trình dài đầy bất trắc của K trong từng thời điểm tiếp cận

Ngay từ sáng ngày sau đó, K đã bắt đầu tìm hiểu lâu đài Lâu đài đợc thâunạp vào mắt anh dới nhiều góc độ Từ xa nhìn lại: “Trong không khí trong lànhrực rỡ ánh sáng, chàng thấy lâu đài ở trên cao, đã đợc lớp tuyết mỏng phủ lêntoàn phần làm hiện rõ lên những đờng nét của nó” [70,310] Bên cạnh đó, “ở dớinày tuyết ngập đến cửa sổ của những ngôi nhà” Thực ra, “nó chỉ là quần thểnhững ngôi nhà hợp thành Có vài ngôi nhà hai tầng, còn lại đều là những ngôinhà thấp, nằm ngỗn ngang” [70,310] Chúng ta dễ nhận thấy có sự đối lập giữalâu đài và dới làng trong nhận định của K Lại gần hơn, “chàng cảm thấy thấtvọng: Lâu đài này thực chất chỉ là một thị trấn thảm hại, những ngôi nhà ở đâychỉ khác những căn nhà gỗ làng quê là đợc xây bằng đá, những lớp vữa trên tờng

đã tróc từ lâu, và hình nh đá cũng lỡ vụn dần ra Nếu K đến đây chỉ là để thấynhững thứ này thì thật uổng công cho cuộc hành trình dài vừa qua” [70,310]

Thủ pháp đối lập của Kafka vừa cụ thể hoá chi tiết, vừa gợi lên tâm trạnghào hứng đến thất vọng của K Nó góp phần tạo nên những mâu thuẫn tronghành trình tìm đến lâu đài Nó tơng phản giữa một lâu đài hiện hữu và sự mờ ảo,

kỳ bí của những con ngời trong lâu đài mà K không thể tiếp cận Sự không thể

và có thể là những uẩn khúc vừa gây nên thất vọng bẽ bàng vừa thôi thúc anhkhám phá Sự chông chênh của K giữa thế giới lâu đài và làng mạc quanh lâu

đài tạo nên sự hoang mang, lo sợ, bất an trong nỗ lực tìm kiếm của K Nhân vật

K càng bị đẩy đến cao trào của sự vỡ mộng khi anh đã sử dụng tất cả mọi phơngthức để tiếp cận nó nhng vẫn hoài công vô ích PGS- TS Trơng Đăng Dung phântích: “Ngay từ đầu K đã muốn vào lâu đài, cứ đến gần đó là nh cố ý, nó lại vòngsang lối khác Lâu đài là hình ảnh huyền thoại về một tổ chức quyền lực quanliêu với những sợi dây vô hình đã trói buộc cuộc đời của từng con ngời (Cũng

có thể xem lâu đài là chân lý, Đức tin, là Thợng đế mà con ngời muốn vơn tớitrong cô đơn và bất lực.)” [70,942] Điều này sẽ đợc chungs tôi minh chứng quakhát vọng tìm kiếm, truy xét, gặp gỡ giữa K và những ngời liên quan đến lâu

đài

Bảng khảo sát các cuộc gặp gỡ giữa K và những ngời xung quanh Lâu đài

(tâm trạng của K và biểu lộ của đối tợng): (Chú thích: LĐ: lâu đài, BT: bá tớc)

Nhân vật Nhân vật nhận định về LĐ Khát vọng của K (tâm trạng)

Trang 34

Schwarzer - Là ngời biết rõ về LĐ

- Rụt rè, nhã nhặn, lịch thiệp

- Cho là anh ta quen BT

- Bực tức, mệt mỏi, khó chịuLão nông - Rụt rè, sợ sệt

Chủ quán

Ông chủ

- Biết ngài Klamm, ngời quản

lý LĐ Nhiệt tình đa K đi

- K tha thiết muốn tiếp cận LĐ:

lo lắng, hy vọng, bất anFrida(ngời

- Sợ Klamm bỏ Frida

- K tìm hiểu về Klamm qua bà

- Khó chịu khi bà cản trở quan

hệ giữa anh và FridaTrởng thôn - Rõ về mục đích của K, niềm

nở tiếp K Cho rằng không cần

đạc điền(sai sót của công văn)

- Bảo K đến trờng học ở tạm

- K muốn tiếp xúc LĐ qua ông:

hồ hởi, dễ chịu, sau đó thấtvọng, hỗn loạn bởi sự giải thíchcủa ông ta

Thầy giáo

(Gặp lần 2)

- Đợc trởng thôn giới thiệu vềK

- Đề nghị K phục vụ trờng

- Nhục nhã, bị lừa đảo, nuôikhát vọng về LĐ Chấp nhậnlàm ngời giúp việc ở trờng theo

ý của FridaPepi(hầu bàn

rợu)

- Biết Klamm, không rõ LĐ

- Muốn chinh phục K

- K hỏi thăm về Klamm

- Rất muốn gặp ông taGã đánh xe - Bất cần, để K vào trong xe - Bồn chồn đợi Klamm trong

Trang 35

- Không biết cả Klamm LẫnLĐ

xe của ông ta, cùng với tên

đánh xe uống rợu

Momus - Không rõ về LĐ

- Giao dịch giữa Klamm và LĐ

- Bảo K theo ông mà không rõ

đi đâu, để trao đổi

- Cho K biết Klamm trốn anh

- Cảm thấy phục tùng, sợ sệt.Cho rằng mình đã đạt đợc mục

đích Đến tuyệt vọng, bất lực

đến chờ đợi

- Cảm thấy bị tổn thơngBarnabas

(gặp lần 2)

- Đa th của Klamm: vẫn lu ý

đến K

- Sung sớng nhận tin nhng sau

đó lại mệt, bực dọc vì chờ đợi

- Phản đối sự buộc tội của cô

- Nhấn mạnh anh đến vì LĐ,không phải phục vụ trờng

Brunswick - Là ngời muốn thuê đạc điền

- Muốn kéo K về phía ông

- K muốn tiếp xúc với LĐ qua

ông ta vì ông và trởng thôn đốilập nhau, có lợi cho mình.Schwarzer

quyền hành, có thể giúp K, bảo

K bỏ Frida nếu muốn đến LĐ

- 2 tên phụ tá bảo K bỏ Frida

- Mong tìm hiểu mọi việc

- Erlanger muốn gặp K - Không hy vọng nhiều K đến

khi ông đang ngủ Tại đó Kgặp Frida

Trang 36

- Bà bảo anh là một thằng điên,

đứa trẻ, độc ác, nguy hiểm

- K suy nghĩ về mọi thứ

- K trở nên mông lung khôngbiết hớng đi Frida bỏ K: LĐbặt tăm, K chếnh choáng

- K ra khỏi quán, không biết đi

đâu, không ngày mai

Bằng việc khảo sát nhân vật K trong mối quan hệ với các nhân vật khácxung quanh lâu đài mong đạt đợc đích đến, chúng ta phần nào thấy đợc hànhtrình của anh ta

Nếu khi bắt đầu đến lâu đài, tâm trạng của K là hoàn toàn tự tin và tràntrề hy vọng thì càng về sau khát vọng càng phai nhạt, bí bức, ngột ngạt đến tuyệtvọng, chán chờng Nhng cái lu lại đầy ý nghĩa trong K đó là sự nuôi dỡng những

ớc mơ khám phá, tiếp cận dù có lúc mong manh, mơ hồ, không hy vọng

Nếu những cuộc phiêu lu trong những tiểu thuyết trớc đó nh: Đônkihôtê (Xecvantex), Những cuộc phiêu lu của Ôlive Tuyxt (Saclơ Dickinx), Những

cuộc phiêu lu của Gin Bla (Lơxagiơ), Rôbinson Crusô (Deniơn Diphô) là đầy

chất thơ thì hành trình của K là đầy bi kịch trong sự khốn cùng của cuộc sốngnhỏ nhoi, tội nghiệp Anh từ chủ động đến hoàn toàn bị động trong quá trình tìm

đến lâu đài

Tâm trạng nhân vật bị cắt xén vụn nát bởi những đối thoại không trùngkhớp, thuần nhất với một định hớng khắc khoải trong K Diễn biến tâm lý đầyphức tạp, dài lê thê, gây ức chế Đoạn K muốn gặp Klamm, khi ngồi trên xe vớitên xà ích dài hơn một trang, đoạn K tự vấn đến khắc khoải khi gặp Erlanger Những đoạn văn mà nhân vật khác nói về những vấn đề ngoài lề mà K phải nghegần nh chịu đựng: Nhân vật trởng thôn trình bày về luật lệ lâu đài, đoạn Olga kể

về sự trừng phạt của lâu đài dành cho em gái cô ta, Tất cả những quan hệ đó

đặt K trong hoàn cảnh trớ trêu Ngõ cụt ngăn cách lâu đài ngày càng xuất hiệndày đặc bóp nghẹt, vây bủa, đầy đoạ khát vọng manh mún, yếu ớt trong anh

Trang 37

Có lúc, K cảm thấy tất cả đều là trò hề, sự lừa đảo Cá thể đơn độc bị bức

tử bởi nhiều mối quan hệ chằng chịt trong khi vấn đề chẳng có gì phải mất nhiềucông sức đến vậy Đỉnh điểm là K chán ngán tất cả: bản thân, lâu đài; anh tacảm thấy mình không còn là mình Câu hỏi thờng trực trong K ngày càng không

có tiếng vọng của sự hồi đáp Những câu hỏi ấy gần nh chỉ hỏi để mà hỏi, đối ợng đợc hỏi hoặc không biết, hoặc lẫn tránh, hoặc lại trả lời chẳng ăn nhập gìvới ớc vọng của anh Các mô típ câu hỏi đó xuất hiện dày đặc trong tác phẩm: (-

t-Nghĩa là nhầm ạ?, -Có phải là ?, -sao cơ?, -chắc anh quen ?, -cô là ai?, -ở

đâu?, thế thì tôi là ai?, anh có biết ?, cô quen ông ?, đấy là những ai?, vậy thì ở đâu?, -nhng tôi đã làm gì nào?, -tôi đợc tiếp xúc với ai?, -anh đến chứ?, -còn bao nhiêu thời gian nữa?, -anh làm nghề gì? ) Tất đều xoay quanh

-hành trình không lối thoát của K: chất vấn: có, tra hỏi: có, lúc thì đích đến thậtgần, lúc lại ảm đạm xa vời, mịt mùng không định hớng

Tóm lại, nhân vật trung tâm K là ngời không xuất thân, không lai lịch rõràng Ký hiệu K nh một sự trống không của số phận Anh ta đến làm nghề đạc

điền theo một bức th giới thiệu của Lâu đài nọ mà không hiểu là ai gửi Nơi anh

đến, lâu đài là hoàn toàn bị ngăn cách bởi thế giới bên ngoài Con ngời xungquanh lâu đài tồn tại chỉ là trong khát vọng hoà nhập, truy tìm của K Nhân vậttìm về lâu đài nh tìm về đấng tối cao mà ở đó tính huyền thoại và quyền lực bủavây lấy anh Hành động tìm về lâu đài nh là một thể nghiệm hiện sinh trong bútpháp mới của văn chơng hiện đại

2.1.2 Shimamura trong Xứ tuyết của Y Kawabata“ ”

Đọc toàn thiên tiểu thuyết 110 trang (trang 221-329) trong “YasunaryKawabata, tuyển tập tác phẩm” (2005), Nxb Lao động, Trung tâm văn hoá ngônngữ Đông Tây, ngời đọc đắm chìm vào một miền đất hoang sơ, đẹp buồn và conngời Nhật Bản mặn mà, tinh tế Thiên tiểu thuyết mỏng manh, gợi cảm nh chínhnhân vật trong tác phẩm Sự mong manh, dễ vỡ đó không đồng nghĩa với sự nhạtnhẽo, trái lại nó rất gợi cảm và đầy tràn khát vọng

Nhân vật trung tâm trong tiểu thuyết là Shimamura đợc miêu tả là mộtngời khách du lịch viễn du đến Xứ tuyết từ chốn phồn hoa đô hội- thành phố

Tôkyô Khác với K trong Lâu đài của F Kafka khắc khoải tìm về lâu đài;

Shimamura đến rồi đi, lại đến thật nhẹ nhàng, thanh thoát, nhng cũng tràn đầykhát khao chiếm lĩnh Anh ta đợc giới thiệu là đã có gia đình, vợ con và côngviệc ổn định Đối sánh với cuộc đời và thú vui du lịch của nhà văn, có thể thấyanh ta chính là hiện thân của chính tác giả, bởi “Kawabata đã đợc nhà văn

Trang 38

Mishima Yukiô phong tặng danh hiệu “ngời lữ hành vĩnh cửu” Trong suốtcuộc đời mình, Kawabata là ngời ra đi để kiếm tìm cái đẹp trong thiên nhiên vàcon ngời Nhật Bản” [71,1079].

Mở đầu tác phẩm, tác giả miêu tả hành trình của đoàn tàu nh một chiêmnghiệm thoáng qua, tất yếu bao gồm cả sự hiện diện của nhân vật trung tâm màchúng ta sẽ khảo sát Xứ tuyết đợc nhìn nhận: “Qua một đờng hầm dài giữa haivùng đất và thế là đã tới xứ tuyết Chân trời trắng mờ dới bóng đêm Đoàn tàuchạy chầm chậm rồi dừng lại ở một ga xép.” [71,221]

Trên hành trình của Shimamura, Xứ tuyết tựu trung trên hai khía cạnh:phong cảnh và con ngời Và cả hai luôn đợc lồng vào nhau gần nh không táchbiệt trong cảm quan của ngời khách viễn du này Cả hai đều ám ảnh trong tâmtrí và lớn lên thành khát vọng của anh Vì vậy, mà trong tác phẩm tác giả đã chobiết hơn một lần Shimamura đến với xứ sở này

Thiên nhiên trong Xứ tuyết không đơn thuần là bức tranh phong cảnh

thuần tuý đợc đặt đơn tuyến nh một bức tranh thuỷ mặc, mà nó luôn song hànhvới con ngời nơi đây Thông qua những biến chuyển tâm trạng của nhân vậttrung tâm, thiên nhiên có sức quyến rũ riêng của nó Nó chính là một trong hainguyên cơ đích thực lu giữ dấu chân của Shimamura Đến với xứ tuyết trong nộicảm của anh ta là đến với nguồn sống mới, bởi khi đoàn tàu “qua một đờng hầmdài” là anh đã bỏ lại tất cả phía sau: vợ con, công việc, chốn phồn hoa đôthành , hớng đến vùng đất của thế giới tinh sạch, quyến rũ đối với anh Thiênnhiên xứ tuyết với cái lạnh trong cảm giác ban đầu bị vợt qua, trong tâm hồncủa Shimamura bị choáng ngợp bởi vẻ đẹp nguyên sơ của nó và ngời con gáikhông quen, vừa gặp trên tàu Anh biết tên nàng thông qua cuộc trò chuyện giữacô và bác bảo vệ Giọng nói, khuôn mặt, ứng xử của nàng vang mãi trong suốthành trình của anh Vẻ đẹp thiên nhiên và con ngời xứ tuyết càng trở nên mờ ảohơn, lung linh hơn khi nó đợc nhìn ở góc độ nhạt nhoà của ánh đèn trên chuyếntàu:

“Trong bầu trời đêm, phía trên những quả núi hoàng hôn còn để lại vàivệt đỏ sậm muộn màng và ở tít xa, trên đờng chân trời có thể nhận ra đợc mấyngọn núi tách biệt.” [71,225]

Cũng ngay lúc đó, Shimamura phát hiện ra vể đẹp của ngời thiếu nữ đicùng ngời đàn ông ốm yếu: “gơng mặt xinh đẹp cảm động ấy nh thể hất tất cả racái buồn tẻ âm u xung quanh.”[71,225] Điều mà anh kịp nhận ra trớc đó bởinàng đã tạo ra những cảm giác “kỳ lạ”, nh những “kỷ niệm tinh tế” [71,223],

Trang 39

anh “sửng sốt trớc sắc đẹp của nàng” và tự nhủ rằng đó là “trò diễn của một giấcmơ” [71,224] Trong ánh sáng tít xa ấy anh tiếp tục chiêm ngỡng vẻ đẹp củanàng hiển hiện trong thiên nhiên huyền ảo:

ánh sáng lấp loá- con mắt sáng rực,

Phong cảnh ban đêm mờ ảo- khuôn mặt nhạt nhoà,

Vẻ đẹp thiên nhiên huyền thoại- vẻ nghiêm trang quý phái củanàng

Đó là những cảm nhận thoáng qua nhng không thể phai trong tiến trìnhkhám phá xứ tuyết của Shimamura, bởi nó là những khát vọng vô cùng thánhthiện và tinh tế Ngời con gái có tên là Yoko ấy là nét đối lập hoàn mỹ so vớingời con gái Komado rất đời thờng, nhuốm màu nhục dục đợc miêu tả khánhiều và khá kỹ ở những phần sau của tiểu thuyết này Vẻ đẹp thiên nhiênkhông chỉ đợc nhìn nhận qua sự chuyển động của đoàn tàu, trong taxi mà bằngnhiều góc độ khác: cận cảnh, mỏng manh thoáng qua bởi độ lùi của không gian,

đối sánh với con ngời Cho nên, hành trình của Shimamura tuy dừng lại ở xứtuyết nhng nó không đứng yên mà luôn vận động, khám phá và truy tìm, thởngngoạn Nó còn là diễn biến tâm trạng giữa nhiều thái cực của anh ta

Trớc hết, đó là những kỷ niệm với nàng Komado, một geisha với “conmắt rực sáng lên bởi ánh lửa trong vùng núi xa xôi” [71,228] Và khi diện kiếnnàng hình bóng đập vào mắt anh đó là chiếc áo kimono dài mà nàng đang mặc;hình ảnh chiếc áo biểu trng cho văn hoá Nhật còn trở đi trở lại nhiều lần trongtác phẩm với những màu sắc và kiểu dáng khác nhau, tô điểm thêm sự phongphú cho hành trình khám phá xứ tuyết của anh Trong tâm t của Shimamura vẫnluôn lu giữ hình bóng của nàng geisha đằm thắm, với tình yêu đầy nhiệt huyết:

“Bàn tay này vẫn giữ những kỷ niệm tốt đẹp nhất về em” [71,229] Sự khám phácủa anh lúc này là khám phá vẻ đẹp của ngời đàn bà trẻ vừa mang sắc thái củatình yêu vừa đậm chất thể xác Bởi nó là nguyên cớ để anh quay lại xứ tuyết

“nếu không ai lại đến cái xó này vào lúc cuối năm để mà chịu rét cóng,Shimamura nói.” [71,230]

Rồi anh nhớ lại lần đầu tiên gặp Komado, đó là lần đầu tiên anh đến suốinớc nóng “Quá tài tử và lông bông nhàn rỗi, đôi khi anh muốn tìm lại bản thânmình Điều anh thích thú hồi ấy là đi một mình đến vùng núi Một mình thôi.Thế là một buổi chiều anh tới trạm suối nớc nóng sau một tuần lễ đi khắp dãynúi Ba Tỉnh Anh nhờ gọi cho anh một geisha ” và Komado xuất hiện “gây choShimamura một cảm giác tuyệt vời bởi vẻ sạch sẽ và tơi mát của cô.” [71,230]

Trang 40

Cuộc đối thoại giữa anh và Komado đột nhiên biến thành cuộc khám phá nhữngcon ngời nơi vùng núi hẻo lánh, điều rất khó xảy ra nơi thành phố tấp nập màanh đang sống Nơi đây, chính vùng núi mà anh chọn để du lịch này, là nơi anhcảm thấy “dồi dào nguồn sống”, anh gặp đợc ngời con gái “ngây thơ trongtrắng”, đầy thú vị này Bởi vậy, mà trong anh luôn day dứt cho sự cách xa ngaytrong khi đang ở bên nàng: “nghĩ đến kỳ nghỉ hè sắp tới anh sẽ đi nghỉ ở đâucùng với gia đình để tránh cái nóng bức của mùa hè, Shimamura đã tính sẽ quaylại vùng núi này” [71,234].

Nhng ngay trong lúc ấy, ám ảnh về ngời thiếu nữ trên tàu đã khiến tâmtrạng của anh luân chuyển sang một “cảm giác phi thực trong suốt đến kỳ lạ, rấtgần với chất thơ của hình phản chiếu ở tấm kính cửa sổ toa tàu; một khuôn mặtgợi cảm đầy nữ tính và tuổi trẻ bồng bềnh trớc phong cảnh lớt qua của hoànghôn và ban đêm.” [71,235] Đó là những cảm giác nhẹ nhàng, len vào trong tâm

t của anh

Chính hai luồng cảm giác, một bên đậm chất nhục dục với nàng Komado,nửa kia là hình bóng huyền thoại Yoko cứ tuôn chẩy cho đến cuối cuộc hànhtrình của Shimamura

Cùng với thiên nhiên và con ngời thì vẻ đẹp truyền thống cũng có sức thuhút rất lớn đối với anh Nó tạo nên sự thích thú của kẻ luôn su tập cái đẹp nhhành trang của sự sống trong cuộc sống hiện đại: đó là vẻ đẹp của chiếc áokimono đợc nhìn ở nhiều góc độ, về vẻ đẹp của vũ đạo Nhật mà anh muốn cáchtân nó theo balê phơng Tây, truyền thống về các geisha Nhật

Nhng tựu trung và đặc sắc nhất là, thiên nhiên hoang sơ mà tinh khiết của

xứ tuyết Shimamura nh một nhiếp ảnh gia đã thu vào trong cảm nhận nhiềukhoảnh khắc kỳ diệu của xứ tuyết:

Hình ảnh ngôi làng khắc nghiệt mà quyến rũ;

Hình ảnh núi non và làn không khí ngát hơng thơm của cành non lá mới; Hình ảnh con nớc chảy xa xa trong anh mặt trời đã bắt đầu xuống dần; Hình ảnh các đỉnh núi lờ mờ hiện ra dới ma;

Ngày đăng: 19/12/2013, 15:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Alain Tuouraine (2003) Phê phán tính hiện đại (phơng Tây), Huyền Giang dịch, Nxb Thế Giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê phán tính hiện đại
Nhà XB: Nxb Thế Giới
2. Vơng Văn Anh(2005) Văn học hậu hiện đại Trung Quốc nhìn từ Thợng Hải, Phạm Công Đạt dịch, Nxb Văn học, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học hậu hiện đại Trung Quốc nhìn từ Thợng Hải
Nhà XB: Nxb Văn học
3. Việt Anh(2000) Tiểu thuyết hiện đại đi về đâu?, báo Văn nghệ , (27),tr 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết hiện đại đi về đâu?, "báo "Văn nghệ
4. Đào Tuấn ảnh(2005) Quan niệm thực tại và con ngời trong văn học hậu hiện đại, Tạp chí Nghiên cứu văn học, (8), tr. 56-67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm thực tại và con ngời trong văn học hậuhiện đại", Tạp chí "Nghiên cứu văn học
5. Lại Nguyên Ân- Đoàn Tử Huyến(2003) Văn học hiện đại thế giới. Những vấn đề lý thuyết, Nxb Hội nhà văn, trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học hiện đại thế giới. Nhữngvấn đề lý thuyết
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
6. Bakhtin. M(1992) Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Phạm Vĩnh C dịch, Trờng viết văn Nguyễn Du, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
7. Bakhtin. M(1993) Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki, Trần Đình sử, Lại Nguyên Ân, Vơng Trí Nhàn dịch, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki
Nhà XB: Nxb Giáo dục
8. Bakhtin. M(2003) Triết học tiếng cời hội hè và hình tợng hiện thực nghịch dị. Lý luận và tiểu thuyết, Phạm Vĩnh C dịch, tạp chí Văn học nớc ngoài (1), tr 216-234 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học tiếng cời hội hè và hình tợng hiện thực nghịchdị. Lý luận và tiểu thuyết", Phạm Vĩnh C dịch, tạp chí "Văn học nớc ngoài
9. Bakhtin.M(2006) Vấn đề nội dung, chất liệu và hình thức trong sáng tạo nghệ thuật ngôn từ, Phạm Vĩnh C dịch, tạp chí Văn học nớc ngoài, (1), tr45- 60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề nội dung, chất liệu và hình thức trong sáng tạonghệ thuật ngôn từ", Phạm Vĩnh C dịch, tạp chí "Văn học nớc ngoài
10. Lê Huy Bắc(2003) Phê bình lý luận văn học Anh-Mỹ (tập 1), Nxb giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình lý luận văn học Anh-Mỹ
Nhà XB: Nxb giáo dục
11. Brewster Roland-John Augus Burrell(2003) Tiểu thuyết hiện đại, Dơng Thanh Bình dịch, Nxb Lao Động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết hiện đại
Nhà XB: Nxb Lao Động
12. Paul Brutin(1993) ấn Độ huyền bí, Nguyễn Đức Lân dịch, Nxb văn học, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ấn Độ huyền bí
Nhà XB: Nxb văn học
13. Nguyễn Thị Bình(2006) Luận án tiến sỹ: Những cuộc hành trình trong tiểu thuyết của Jean-Mario Gustave Le Clezio, Viện Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cuộc hành trình trong tiểuthuyết của Jean-Mario Gustave Le Clezio
14. Lê Nguyên Cẩn(1999) Cái kỳ ảo trong tác phẩm Balzắc, Nxb Giáo dục, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cái kỳ ảo trong tác phẩm Balzắc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
15. Lê Văn Chín (1995) Văn học Phơng Tây (giản yếu), Đại học S phạm Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Phơng Tây
16. Coetzee .J. M (2004) Cuộc sống và thời đại của Michael K, Thanh Vân dịch, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc sống và thời đại của Michael K
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
17. Bùi Văn Cờng(2004) Bàn thêm về văn học phi lý, tạp chí Nhà văn, (3), tr 97-106 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn thêm về văn học phi lý", tạp chí "Nhà văn
18. Trơng Thái Du(2004) Đọc Linh Sơn của Cao Hành Kiện, theo thứ Bảy 11/09/2004. http//evan vn express.net Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc Linh Sơn của Cao Hành Kiện
19. Trơng Đăng Dung (1998) Từ văn bản đến tác phẩm văn học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ văn bản đến tác phẩm văn học
Nhà XB: Nxb Khoa họcxã hội
20. Trơng Đăng Dung (2004) Tác phẩm văn học nh là quá trình, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm văn học nh là quá trình
Nhà XB: Nxb Khoa họcxã hội

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng khảo sát ba nhân vật trung tâm trong các tiểu thuyết:  Lâu đài của - Mô típ nhân vật hành trình qua một số tiểu thuyết hiện đại và hậu hiện đại (khảo sát tiểu thuyết lâu đài của f kafka, xứ tuyết của y  kawabata, linh sơn của cao hành kiện)
Bảng kh ảo sát ba nhân vật trung tâm trong các tiểu thuyết: Lâu đài của (Trang 37)
Bảng khảo sát các nhân vật phụ tác động, chi phối đến nhân vật trung tâm trong các cuộc hành trình: - Mô típ nhân vật hành trình qua một số tiểu thuyết hiện đại và hậu hiện đại (khảo sát tiểu thuyết lâu đài của f kafka, xứ tuyết của y  kawabata, linh sơn của cao hành kiện)
Bảng kh ảo sát các nhân vật phụ tác động, chi phối đến nhân vật trung tâm trong các cuộc hành trình: (Trang 60)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w