Nghiên cứu môtíp hóa thân trong truyện cổ tích của người Việt nhằm làm rõ sự hiện diện của một môtíp độc đáo, vai trò chức năng của môtíp trong việc cấu tạo cốt truyện và thể hiện chủ đề
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài.
1.1 Môtíp là đơn vị cơ bản cấu tạo cốt truyện của truyện cổ tích Nghiên cứu môtíp là tìm hiểu truyện cổ tích từ góc độ hình thái học, một phương diện nghiên cứu quan trọng trong thi pháp học Trong truyện cổ tích, môtíp xuất hiện rất phong phú trở thành một đặc trưng cấu trúc thể loại: môtíp sinh nở thần kì, môtíp người lấy tiên, môtíp dũng sĩ diệt đại bàng, môtíp sự bắt chước không thành công…Môtíp hóa thân là một môtíp độc đáo, gắn liền với yếu tố thần kì Đây là một yếu tố không thể thiếu trong truyện cổ tích, ẩn chứa nhiều tầng văn hóa và quan niệm nhân sinh của người Việt Vì thế nghiên cứu môtíp hóa thân trong truyện cổ tích của người Việt không chỉ có ý nghĩa soi sáng móc xích kết cấu truyện cổ tích mà còn làm rõ, lý giải những quan niệm văn hóa và triết lý nhân sinh được thể hiện trong truyện cổ tích của người Việt
1.2 Sự lặp lại của môtíp hóa thân ở nhiều truyện cổ tích của người Việt
là một tín hiệu nghệ thuật đáng được chú ý, trong đó một số truyện được đưa vào chương trình ngữ văn ở trường phổ thông Nghiên cứu môtíp hóa thân vừa có ý nghĩa làm rõ đặc trưng thể loại truyện cổ tích, vừa có ý nghĩa thực tiễn góp phần tích cực vào việc giảng dạy tác phẩm văn học dân gian ở trường phổ thông
1.3 Môtíp hoá thân là một đề tài mới, trước nay chưa có công trình nào
đề cập tới Do đó nghiên cứu đề tài này chúng tôi hi vọng đóng góp được một phần nào đó trong việc tìm hiểu môtíp truyện cổ tích nói riêng, trong khoa học folklore nói chung
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
Nghiên cứu môtíp hóa thân trong truyện cổ tích của người Việt nhằm làm rõ sự hiện diện của một môtíp độc đáo, vai trò chức năng của môtíp trong việc cấu tạo cốt truyện và thể hiện chủ đề của một nhóm truyện cổ tích, đồng
Trang 2thời lý giải sự hình thành môtíp từ góc độ văn hóa, tín ngưỡng.Để giải quyết mục tiêu đó chúng tôi đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu như sau:
2.1 Khảo sát, thống kê, phân loại để mô tả sự hiện diện cụ thể của môtíp hóa thân trong truyện cổ tích của người Việt
2.2 Mô tả kết cấu môtíp hóa thân và một số chức năng mà môtíp này đảm nhận trong việc cấu tạo cốt truyện và thể hiện chủ đề của truyện cổ tích
2.3 Tìm hiểu một số cơ sở hình thành của môtíp từ góc độ văn hóa, tứ
đó thấy được lớp văn hóa - lịch sử, quan niệm của nhân dân được hội tụ ở môtíp và ảnh hưởng của tôn giáo tín ngưỡng, phong tục…lên sự hình thành của môtíp trong truyện cổ tích
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu môtíp hóa thân trong truyện cổ tích của người Việt
Sự biến hóa hay hóa thân xuất hiện khá phổ biến trong thần thoại và truyện cổ tích Trong giới hạn của đề tài, chúng tôi chỉ chọn đối tượng nghiên cứu là môtíp hóa thân xuất hiện tập trung ở cuối truyện, gắn với cách kết thúc truyện nhằm giải quyết số phận của nhân vật trong truyện cổ tích người Việt Về khái niệm và giới hạn của môtíp này chúng tôi sẽ trình bày cụ thể hơn ở phần nội dung
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Chỉ khảo sát và nghiên cứu môtíp hóa thân trong truyện cổ tích của
người Việt Tư liệu chúng tôi dung để khảo sát là cuốn Tổng tập văn học dân gian người Việt [10,11], gồm 2 tập, trong cả 3 tiểu loại: truyện cổ tích thần kì,
truyện cổ tích sinh hoạt, truyện cổ tích loài vật
4 Lịch sử vấn đề
4.1 Lịch sử nghiên cứu môtíp nói chung
Môtíp là thuật ngữ vay mượn tiếng Pháp (motif), thuật ngữ này đã được nhiều nhà khoa học, nhiều đề tài nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập đến
Ở đây, chúng tôi chỉ điểm qua một số công trình tiêu biểu
Trang 34.1.1 Lịch sử nghiên cứu môtíp ở nước ngoài
Ở nước ngoài người đầu tiên đưa ra khái niệm motif là nhà Folklore
học người Nga ở thế kỷ XIX A.N Vexelopxki trong công trinh Thi pháp học
sử Năm 1910, A Aarnes và năm 1949 S Thompson đã làm từ điển về típ và
môtíp
V Ia Propp trong cuốn Những gốc rễ lịch sử của truyện cổ tích thần kì,
bằng những tri thức văn hóa học, dân tộc học ông đã lí giải sâu về những môtíp (tức là các chức năng) của truyện cổ tích thần kì
4.1.2 Lịch sử nghiên cứu môtíp ở Việt Nam
Lê Bá Hán trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học, đã đưa ra một cách
khái quát về khái niệm môtíp
Trần Đình Sử trong cuốn Dẫn luận thi pháp học, cũng đã giới thiệu về
môtíp và đưa ra khái niệm về môtíp
Nguyễn Tấn Đắc trong cuốn Truyện kể dân gian đọc bằng type và motif
đã khái quát bảng mục lục tra cứu tupe và motif của A.Aarnes và S.Thompson
Nguyễn Bích Hà khi trong cuốn Thạch Sanh và kiểu truyện dũng sĩ trong truyện cổ tích Việt Nam và Đông Nam Á cũng đã nói đến khái niệm môtíp và đưa ra nhiều môtíp trong truyện cổ tích Thạch Sanh.
4.2 Lịch sử nghiên cứu môtíp hóa thân trong truyện cổ tích của người Việt.
Khi phân tích một số truyện cổ tích người Việt có xuất hiện sự hoá thân như truyện trầu cau, Sự tích ông Táo, Sự tích đá Vọng phu, một số tác giả như Hoàng Tiến Tựu, Lê Chí Quế, Chu Xuân Diên [21,24] đã nêu lên ý nghĩa của chi tiết hoá thân trong việc phản ánh bi kịch của con người, đi kèm với nó là chức năng giải thích phong tục Tuy nhiên các tác giả này chỉ dừng lại ở việc phân tích tác phẩm cụ thể chứ chưa nêu lên sự xuất hiện của môtíp hoá thân ở nhiều truyện khác nhau cũng như nghiên cứu một cách hệ thống môtíp này
Dù vậy, sự phân tích của các tác giả đã khẳng định sự tồn tại và ý nghĩa của môtíp hoá thân và gợi mở cho chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu môtíp này
Trang 45 Phương pháp nghiên cứu
5.1.Phương pháp thống kê
Đây là phương pháp thường được dùng khi nghiên cứu những vấn đề thuộc thi pháp bởi phương pháp này giúp người nghiên cứu có thể đưa ra những số liệu khách quan, tránh được sự cảm nhận chủ quan Ở đề tài này chúng tôi khảo sát thống kê các truyện có môtíp hóa thân trong truyện cổ tích của người Việt
để soi sáng vấn đề cần nghiên cứu
6 Cấu trúc của khóa luận.
Phù hợp với lôgic khoa học của vấn đề nghiên cứu, ngoài phần Mở đầu
và Kết luận, nội dung chính của luận văn được triển khai trong 3 chương:
Chương 1: Thống kê, phân loại môtíp hóa thân trong truyện cổ tích của người Việt
Chương 2: Kết cấu, chức năng của môtíp hóa thân trong truyện cổ tích của người Việt
Chương 3: Một số cơ sở hình thành môtíp hóa thân trong truyện cổ tích của người Việt
Trang 5CHƯƠNG I THỐNG KẾ, PHÂN LOẠI MÔTIP HOÁ THÂN TRONG TRUYỆN CỔ
TÍCH CỦA NGƯỜI VIỆT
1.1 Khái niệm môtíp và môtíp hoá thân trong truyện cổ tích của người Việt
1.1.1 Khái niệm môtíp
Môtíp là thuật ngữ vay mượn tiếng Pháp (motif), thuật ngữ này đã được nhiều nhà khoa học, nhiều đề tài nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập đến
Ở nước ngoài người đầu tiên đưa ra khái niệm motif là nhà Folklore học người Nga ở thế kỷ XIX A.N Vexelopxki Theo ông, khái niệm môtíp được
hiểu là: “những công thức trả lời cho các vấn đề mà giới tự nhiên đặt ra cho con người từ thủở nguyên sơ, khắp mọi nơi hoặc là những ấn tượng về hiện thực được đúc kết nổi bật hoặc tỏ ra quan trọng và được lặp đi lặp lại”[20,
tr.133-134] Tiếp đó là công trình nghiên cứu type và motif thành công của
S.Thompson (Standard Dictionnary of Folklore), A.Aarne (Verzerichnis cler Marchebtypen), Stith ThomPson viết trong Standard Dicctionary Folklore đại
ý như sau: “Trong folklore, môtíp là thuật ngữ chỉ bất kỳ một phần nào mà ở một kết quả của folklore có thể phân tích ra được Trong nghệ thuật dân gian
có môtíp của hình phác hoạ, là những hình mẫu thường lặp lại hoặc kết hợp với những hình mẩu khác theo một kiểu cách riêng biệt nào đó Trong âm nhạc
và bài hát dân gian cũng có những khuôn nhạc giống nhau thường trở lại luôn Lĩnh vực mà môtip được nghiên cứu nhiều nhất và phân tích cẩn thận nhất là truyện kể dân gian như các loại truyện cổ tích, truyền thuyết, huyền thoại, ballad [7,tr 26] Ở Việt Nam có các công trình của Nguyễn Tấn Đắc (Truyện kể bằng dân gian đọc bằng type và motif), Nguyễn Bích Hà (Thạch Sanh và kiểu truyện dũng sĩ trong truyện cổ Việt Nam và Đông Nam Á)
Trang 6Theo định nghĩa trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học, môtíp “từ Hán Việt là mẫu đề (Do người Trung Quốc phiên âm chữ motif của tiếng Pháp) có thể chuyển thành các từ khuôn, dạng hoặc kiểu trong tiếng Việt, nhằm chỉ những nhân tố, những bộ phận lớn hoặc nhỏ đã được hình thành ổn định, bền vững và được sử dụng nhiều lần trong sáng tác văn học nghệ thuật, nhất là trong văn học nghệ thuật dân gian”[14,tr.197].
Giáo sư Trần Đình Sử định nghĩa: “Môtíp là các đơn vị cố định thể hiện một nội dung nào đó được sử dụng nhiều lần là một hiện tượng phổ biến không chỉ trong văn học dân gian mà cả trong văn học viết” [20,tr.134].
Như vậy có thể hiểu môtíp là đơn vị tham gia cấu tạo cốt truyện được hình thành ổn định bền vững, được sử dụng phổ biến và lặp đi lặp lại trong các sáng tác văn học, nhất là trong văn học nghệ thuật dân gian nhằm thể hiện một tư tưởng một quan niệm nào đó của tác giả
Các định nghĩa về môtíp tuy được diễn đạt khác nhau nhưng đều làm nổi bật những đặc trưng chủ yếu của môtíp Môtíp là đơn vị có tính bền vững,
ổn định Môtíp là những hình mẫu, những công thức, những đơn vị cố đinh trong tác phẩm Môtíp được hình thành trong một quá trình sáng tác lâu dài, được nhiều tác giả khác nhau, nhiều thời đại khác nhau, nhiều cộng đồng khác nhau cùng sử dụng trong tác phẩm của mình Mà một yếu tố khi đã trở thành một kiểu dạng cố định thì tất nhiên nó mang tính bền vững Tính bền vững của môtíp không chỉ được thể hiện ở mặt hình thức mà còn được thể hiện ở ý nghĩa mà nó biểu đạt Mỗi môtíp trong quá trình hình thành chứa đựng những quan niệm văn hóa, thẩm mĩ nhất định của tác giả dân gian
Đặc trưng thứ hai của môtíp là tính lặp lại Một yếu tố một bộ phận trong kết cấu của tác phẩm chỉ được gọi là môtíp khi nó xuất hiện lặp đi lặp lại nhiều lần trong nhiều sáng tác
Tuy nhiên không phải bất kỳ yếu tố lặp lại nào cũng đều trở thành môtíp Một yếu tố lặp đi lặp lại để trở thành môtíp phải có cái gì đó khắc sâu, gây ấn tượng làm cho người ta nhớ đến, nghĩa là chúng phải có giá trị nghệ
Trang 7thuật nào đó, có hiệu quả thẩm mỹ nhất định nhằm truyền tải những nội dung
tư tưởng mà tác giả muốn gửi gắm
Sự lặp lại của môtíp không phải là sự lặp lại ngẫu nhiên mà là một tín hiệu nghệ thuật, ở đó ẩn chứa quan niệm thẩm mĩ và triết lí nhân sinh Vì thế một đặc trưng quan trọng của môtíp là tính quan niệm Những tín hiệu nghệ thuật ấy phải chứa đựng những quan niệm văn hóa, biểu hiện một tư tưởng, một triết lí nào đó Do hình thành qua thời gian, không gian, những tầng quan niệm này tích hợp trong môtíp, khó nắm bắt, vì thế phải giải mã các lớp văn hóa đó Chẳng hạn trong môtíp hoá thân mang quan niệm về sự biến hóa siêu
tự nhiên có nguồn gốc từ thần thoại, gửi gắm quan niệm nhân văn của nhân dân lao động hay môtíp dũng sĩ diệt đại bàng nhằm gửi gắm khát vọng chinh phục tự nhiên và chiến thắng tự nhiên
Tính bền vững, tính lặp lại và tính quan niệm của môtíp có mối quan hệ gắn bó với nhau Những yếu tố được xem là khuôn mẩu, công thức thì tất nhiên được dùng trong nhiều sáng tác, được nhiều thế hệ người sáng tác sử dụng từ đời này qua đời khác Vì vậy, nó sẽ có tính bền vững và đương nhiên những yếu tố đó phải mang quan niệm và dụng ý nghệ thuật của tác giả đó
Môtíp là khái niệm được sử dụng nhiều trong thể loại văn học dân gian như thần thoại, truyền thuyết, ca dao, Tuy nhiên nó được sử dụng phổ biến
và là thành tố quan trọng trong kết cấu của truyện cổ tích
Truyện cổ tích là một thể loại đặc sắc trong văn học dân gian, là một thể loại nghệ thuật đích thực Truyện cổ tích là những truyện kể dân gian được sáng tác dựa trên hư cấu nghệ thuật có chủ tâm, thường có yếu tố kì ảo
Nó ra đời cùng với quá trình tan rã của chế độ công xã nguyên thủy, đặc biệt
nở rộ trong xã hội có sự phân hóa giai cấp Thông qua những số phận khác nhau của các nhân vật, truyện phản ánh và lí giải những mâu thuẩn và xung đột trong gia đình và xã hội, qua đó thể hiện quan niệm đạo đức, lí tưởng xã hội và ước mơ của nhân dân lao động Đặc trưng cơ bản nhất của truyện cổ tích chính là hư cấu nghệ thuật, đưa yếu tố kì diệu vào để giải thích cho số phận của nhân vật
Trang 8Ta thấy rằng, cốt truyện cổ tích được tạo thành từ nhiều môtíp mà môtíp truyện cổ tích chính là những khuôn dạng có thể tháo rời, lắp ghép, nếu thay đổi môtíp hoặc trật tự sắp xếp chúng sẽ tạo ra những truyện cổ tích mới còn những truyện có một số môtíp cùng loại hình sẽ tạo thành một kiểu truyện (hay type truyện).
Đầu thế kỷ XX, nhà Folklore học người Nga V.Ia.Propp trong công
trình “ Hình thái học truyện cổ tích” đã đưa ra kết quả nghiên cứu về mặt cấu
trúc của truyện cổ tích Dựa trên sự khảo sát 100 truyện cổ tích Nga, ông đã đi đến kết luận, số lượng truyện cổ tích hết sức phong phú nhưng tất cả chúng có cùng một loại hình về mặt cơ cấu, dựa trên số lượng có hạn những chức năng của nhân vật hành động Ông đã xây dựng sơ đồ kết cấu truyện cổ tích thần
kỳ bao gồm 31 chức năng và 7 nhóm nhât vật như: kẻ địch thủ, kẻ ban tặng,
kẻ trợ thủ, kẻ được tìm kiếm, kẻ được phái đi, nhân vật chính
Lý thuyết về hình thái học truyện cổ tích của V.Ia.Propp đã được áp dụng vào nghiên cứu truyện cổ tích Việt Nam Ngoài việc tuân theo một số hằng số, truyện cổ tích Việt Nam có những biến số khác với truyện cổ tích Nga và Phương Tây Vì thế, nghiên cứu môtíp vừa thấy được đặc điểm chung trong kết cấu truyện cổ tích, vừa nhìn từ những nét riêng của truyện cổ tích người Việt
1.1.2 Môtíp hoá thân trong truyện cổ tích của người Việt
Theo từ nguyên hoá nghĩa là “thay đổi thành cái khác”, hoá thân là
“biến hóa của thần thánh thành người hay thành vật khác”, [25, tr.817, 819]
Sự hóa thân theo nghĩa trên giống sự biến hóa trong thần thoại Nhân vật trong thần thoại có khả năng biến hóa từ dạng này sang dạng khác: Thần biến hóa thành người trần, thành con vật, cây cối… và từ các dạng đó lại biến hóa trở lại thành thần Sự biến hóa trong thần thoại thể hiện năng lực siêu tự nhiên, kết quả của tư duy thần linh chủ nghĩa và niềm tin vào mối quan hệ qua lại giữa thần linh, con người và vạn vật Tuy nhiên sự biến hóa trong thần thoại khác sự biến hóa trong truyện cổ tích Trong truyện cổ tích sự hóa thân của nhân vật từ người sang các dạng khác không bắt nguồn từ năng lực siêu
Trang 9nhiên tự thân của nhân vật mà là kết quả nhân vật nhận lấy từ một tác nhân bên ngoài Sự hóa thân này là một dạng, một hình thức cụ thể của yếu tố kì ảo trong truyện cổ tích.
Trong truyện cổ tích, sự hóa thân của nhân vật có thể xuất hiện ở đầu
hoặc ở giữa truyện Trong truyện Tấm Cám, Tấm trải qua nhiều lần biến hóa:
Tấm hóa thành con chim vàng anh, cây xoan, khung cửi, quả thị Trong truyện cổ tích Nga hoặc Phương Tây, hoàng tử bị mụ dì ghẻ biến thành cóc
thành chim thiên nga…(Hoàng tử cóc, Bầy chim Thiên Nga) Những môtíp
này nằm trong chức năng sự gây hại của nhân vật ác (nhân vật đối thủ) đối với nhân vật chính trong truyện cổ tích thần kì, mở đầu hoặc nằm trong quá trình phiêu lưu của nhân vật chính trải qua nhiều thử thách trong quan hệ với nhân vật đối thủ, trước khi đi đến một kết thúc có hậu thường là nhân vật chính thoát khỏi sự phù phép khỏi sự biến hóa trở lại đúng nguyên hình và địa
vị của mình Như vậy, sự hóa thân ở đây không phải là kết quả về số phận của nhân vật Sự hóa thân này không thuộc môtíp hóa thân mà đề tài này nghiên cứu
Trong truyện cổ tích người Việt sự hóa thân của nhân vật thường xuất hiện ở cuối truyện gắn với cách giải thích về số phận nhân vật của tác giả dân gian Kết thúc truyện nhân vật bị biến thành các dạng khác như : thành cây cối, con vật, vật thể, thần linh Sự hóa thân này là kết quả của những chuỗi hành động của nhân vật trước đó Ở đây không có sự biến hóa trở lại như sự hóa thân ở đầu, giữa truyện nói trên Trong giới hạn đề tài, chúng tôi chỉ nghiên cứu môtíp hóa thân xuất hiện ở cuối truyện, gắn với cách lí giải kết cục số phận nhân vật
Như vậy môtíp hóa thân là môtíp xuất hiện ở phần cuối truyện trong một số truyện cổ tích người Việt trong đó nhân vật biến hóa thành các dạng khác như con vật, đồ vật, vật thể, thần linh…Sự biến hóa hay hóa thân này là câu trả lời cho số phận của nhân vật, thường là kết quả của chuỗi hành động
của nhân vật hay bi kịch cuộc đời của nhân vật Chẳng hạn trong Sự tích con khỉ, vợ chồng nhà giàu bị thần trừng phạt biến thành con khỉ, hay Sự tích đá
Trang 10Vọng Phu, kết thúc bằng việc người vợ đứng ngóng trông chồng đến hóa đá
Ở truyện Người đàn bà hóa thành con muỗi, người đàn bà phụ bạc chồng đã bị Đức Phật biến thành con muỗi Ở Truyện trầu cau, ba nhân vật kết thúc bằng
cái chết, người anh hóa thành cây cau, người em hóa thành tảng đá, người vợ hóa thành dây leo là kết quả của bi kịch gia đình trong thời kì quá độ từ hôn nhân quần hôn sang loại hình hôn nhân cá thể một vợ một chồng
Môtíp hóa thân trong truyện cổ tích của người Việt là một dạng của yếu
tố kì ảo trong truyện cổ tích Sự biến hóa của nhân vật chính là sự tham gia của yếu tố thần kì, kết quả của sự hư cấu trong truyện cổ tích, và cũng là môtíp thể hiện đặc trưng nổi bật của truyện cổ tích Vì thế, môtíp hóa thân thường gắn với sự xuất hiện của tác nhân bên ngoài, là các lực lượng siêu tự nhiên: Phật, Bụt, Ngọc Hoàng, Diêm Vương… Những lực lượng này xuất hiện đúng lúc có khi ra tay giúp đỡ những người gặp nạn hoặc trừng phạt đích
đáng những kẻ có tội (Con kiến, Con bìm bịp, Người đàn bà hoá thành con muỗi, Sư ông hoá thành con ếch, Sự tích con khỉ, Sự tích con muỗi, Sự tích núi vàng, Sự tích cái chổi, Sao hôm và sao mai, Sư ông hoá thành bình vôi, Sự tích con bọ hung, Sự tích con trâu ) Bên cạnh đó có những dạng biến hoá không
do các nhân vật thần kỳ mà tự thân biến hoá (Đã tràng, Chim đa đa, Năm trâu sáu cột, Sự tích, Sự tích con cá he, Sự tích con thạch sùng, Nghè hoá cọp, Sự tích chim chìa vôi, Sự tích chim gọi vịt, Sự tích chim hít cô, Sự tích con thiêu thân, Sự tích con chim phướng ) Ở những truyện này lực lượng không xuất
hiện nhưng chúng ta ngầm hiểu sự biến hóa đó thuộc yếu tố hư cấu kì ảo trong truyện cổ tích
Môtíp hóa thân cũng như những môtíp trong truyện cổ tích nói chung, mang đầy đủ các đặc trưng: tính bền vững, tính lặp lại, tính quan niệm Môtíp này nằm ở cuối truyện nên nó có vai trò trong việc kết thúc cốt truyện, giải quyết mâu thuẫn, xung đột trong truyện, thực hiện một chức năng nào đó, và thể hiện một quan niệm, một cái nhìn nhân sinh về cuộc sống và con người Những nội dung này chúng tôi sẽ đi sâu trong chương 2 và chương 3
Trang 111.2 Thống kê môtíp hoá thân trong truyện cổ tích của người Việt
Sau khi khảo sát truyện cổ tích của người Việt được thống kê, biên
soạn trong cuốn Tổng tập văn học dân gian người Việt, tâp 6, 7 chúng tôi sưu
tầm được 37 truyện xuất hiện môtíp hóa thân.Trong đó có nhiều truyện, tần số xuất hiện môtíp hóa thân đối với hơn một nhân vật ( 2 hoặc 3 nhân vật ) Môtíp này xuất hiện ở cả 3 tiểu loại truyện cổ tích : truyện cổ tích thần kì, truyện cổ tích sinh hoạt, truyện cổ tích loài vật Trong đó truyện cổ tích thần
kì có môtíp hóa thân xuất hiện trong 24 truyện, truyện cổ tích sinh hoạt là 10 truyện, truyện cổ tích loài vật là 3 truyện Môtíp hóa thân trong truyện cổ tích người Việt có sự phong phú về các dạng hóa thân như hóa thân thành cây cối, thành con vật, đồ vật, vật thể, thần linh…Có sự phong phú đa dạng về chức năng của môtíp như : chức năng giải thích nguồn gốc, đặc điểm con vật, loài vật; chức năng giải thích địa danh; chức năng giải thích phong tục; chức năng trừng phạt; chức năng phản ánh và hóa giải bi kịch Môtíp hóa thân có sự xuất hiện của tác nhân gây biến hóa hoặc không Tác nhân gây biến hóa như: Bụt, Đức Phật, Phật Bà, Ngọc Hoàng, Vị Tiên…xuất hiện trong 13 truyện Không
có tác nhân gây biến hóa xuất hiện trong 24 truyện
Như vậy, môtíp hóa thân xuất hiện nhiều ở tiểu loại truyện cổ tích thần
kì Nhưng những truyện cổ tích thần kì này đã có xu hướng chuyển dần sang truyện cổ tích sinh hoạt, vì ta thấy ở những truyện cổ tích thần kì này kết thúc không còn có hậu, không còn thể hiện được sự thắng thế hoàn toàn của cái đẹp, cái tốt mà kết thúc thường là rơi vào những bi kịch, nghĩa là ở những truyện này đã gần với hiện thực đời sống con người hơn và yếu tố kì ảo đã giảm hơn Đây cũng là đặc điểm riêng của truyện cổ tích Việt Nam Theo ý
kiến của Tăng Kim Ngân, truyện cổ tích của người Việt có “Xu hướng chuyển
từ địa hạt thần kì sang địa hạt của những vấn đề thế tục, sang tiểu loại truyện
cổ tích sinh hoạt”[11,tr.191] Có lẽ vì thế mà môtíp hóa thân trong truyện cổ
tích Việt Nam khá nhiều so với truyện cổ tích thế giới
Trang 12Sự phong phú về dạng biến hóa cho thấy sự quan sát, trí tưởng tượng phong phú của tác giả dân gian, phản ánh mối quan hệ phong phú của con người với thế giới tự nhiên như với các con vật, đồ vật, vật thể, cây cối… Sự phong phú này làm cho môtíp trong truyện cổ tích của người Việt vừa có yếu
tố bất biến, ổn định, vừa có yếu tố khả biến linh hoạt Vì thế mà việc khảo sát
và nghiên cứu đề tài này càng lí thú và hấp dẫn
Sự đa dạng về chức năng gắn với sự khác nhau về kiểu chủ thể hóa thân Môtíp hóa thân không chỉ đóng vai trò chức năng trừng phạt đối với nhân vật đối thủ của nhân vật chính (nhân vật gây hại hay nhân vật ác), mà đó còn có thể là sự hóa giải bi kịch của con người trong cuộc sống Ở truyện cổ tích xuất hiện môtíp này đã phản ánh cuộc sống gần với hiện thực hơn Do vậy mà môtíp hóa thân rất giàu ý nghĩa nhân sinh, gửi gắm những cái nhìn khác nhau về cuộc sống của nhân dân lao động Đó có thể là giấc mơ về cái thiện luôn chiến thắng, cái ác bị trừng phạt, nhưng cũng có thể là nỗi khắc khoải về những mất mát, bi kịch của con người, hay khát vọng đầy nhân văn hóa giải bi kịch của con người
1.3 Phân loại môtíp hóa thân trong truyện cổ tích của người Việt Phân loại môtíp hóa thân là một việc rất quan trọng giúp cho ta có cái
nhìn sáng rõ về đối tượng ở các hình thức biểu hiện, các bộ phận, các dạng tồn tại khác nhau của môtíp Từ đó để thấy được sự phong phú của môtíp và tỉ
lệ của chúng
Sau khi khảo sát, thống kê môtíp hoá thân trong truyện cổ tích của người Việt, chúng tôi tiến hành phân loại môtíp Có nhiều tiêu chí để phân loại môtíp hoá thân như dựa vào các dạng hoá thân, dựa vào kiểu nhân vật là chủ thể hoá thân, chức năng của môtíp Ở đây chúng ta chọn cách phân loại dựa vào tiêu chí các dạng hóa thân Vì theo tiêu chí này, các dạng tồn tại của môtíp thể hiện rất rõ Trong truyện cổ tích người Việt chúng tôi thấy môtíp hóa thân xuất hiện ở 37 truyện, có nhiều truyện môtíp hóa thân tồn tại hơn một dạng hóa thân Theo tiêu chí này, chúng tôi thấy môtíp hóa thân tồn tại ở
4 dạng như sau:
Trang 131.3.1 Dạng môtíp người hoá thân thành con vật
Trong truyện cổ tích người Việt xuất hiện 22/37 truyện có môtíp hóa
thân dạng nhân vật hoá thân thành con vật, nhằm giải thích nguồn gốc hay đặc
điểm của con vật đồng thời gửi gắm quan niệm của tác giả dân gian
Bảng thống kê dạng môtíp người hoá thân thành con vật
truyện Dạng hóa thân Chức năng của môtíp
Chức năng giải thích nguồn gốc, đặc điểm của các con vật loài vật, vật thể
Chức năng giải thích địa danh
Chức năng giải thích phong tục
Chức năng trừng phạt
Chức năng phản ánh
và hóa giải
bi kịch
1 Dã Tràng Dã Tràng chết hoá
thành con dã tràng +
2 Con Kiến Anh nhà giàu bị thần
bịp
Thiếu nữ bị Bồ Tát hoá thành con bìm bịp
5 Đôi sam Hai vợ chồng dân
chài ngậm ngọc qua biển chết hoá thành đôi sam
- Cô gái nhà giàu
Trang 14chết hoá thành chim Năm trâu sáu cột
11 Sự tích
con cá he
Hai vợ chồng nhà chài bị mụ Lường đẩy xuống biển chết hoá thành con cá he
12 Sự tích
con muỗi
Vợ chồng nhà giàu tham lam bị thả xuống sông chết hoá kiếp thành một đàn muỗi
Trang 15cọp kiêu căng hóa thành
21 Sự tích
con trâu
Vị thần gieo lúa nhầm cỏ bị Ngọc Hoàng biến thành trâu để ăn hết cỏ
nợ sợ hãi quá chết hoá thành thằn lằn mồng năm
Trang 161.3.2 Dạng môtip người hóa thành cây cối, đồ vật hoặc vật thể
Trong truyện cổ tích người Việt xuất hiện 9/37 truyện có môtíp hóa thân dạng con người hóa thân thành đồ vật, vật thể, cây cối vừa nhằm giải thích các nguồn gốc hay đặc điểm của các đồ vật, vật thể, cây cối trong tự nhiên vừa gửi gắm những quan niệm của dân gian vào những hiện tượng tự nhiên đó
Bảng thống kê dạng môtíp người hoá thân thành cây cây cối, đồ vật, vật
thể
truyện Dạng hóa thân Chức năng của môtíp
Giải thích nguồn gốc, đặc điểm của các con vật loài vật, vật thể
Giải thích địa danh
Chức năng giải thích phong tục
Chức năng trừng phạt
Chức năng phản ánh
và hóa giải
bi kịch
Người anh đi tìm em
Trang 17chết hoá thành Sao Mai
4 Sao Hôm
và Sao
Mai
Nàng tiên bị Phật Bà biến thành Sao Mai, cha con người tiều phu biến thành Sao Hôm
1.3.3 Dạng môtip người hóa thân thành đá
Bảng thống kê dạng môtíp người hoá thân thành đá
truyện Dạng hóa thân Chức năng của môtíp
Trang 18Giải thích nguồn gốc, đặc điểm của các con vật loài vật, vật thể
Giải thích địa danh
Chức năng giải thích phong tục
Chức năng trừng phạt
Chức năng phản ánh
và hóa giải
bi kịch
1 Hòn
Trống
Mái
Hai vợ chồng thương yêu nhau khi chết biến thành hai hòn đá ôm ấp lấy nhau
+
2 Nàng Tô
Thị
Nàng Tô Thị bồng con lên núi trông chồng hoá thành đá
3 Sự tích đá
Vọng Phu
Người đàn bà bồng con lên núi trông chồng hoá thành đá
4 Sự tích
núi Vàng
Ngọc Hoàng đẩy mẹ con Ngọc nương xuống trần hoá thành núi đá
Chàng Côi tìm vợ hoá thành trái núi bên cạnh
Trang 19ng
7 truyện
1.3.4 Dạng môtip người hoá thân thành thần
Trong truyện cổ tích người Việt ngoài việc xuất hiện nhiều dạng môtip hoá thân như cây cối, con vật, vật thể, đồ vật thì còn có dạng môtip người hoá thân thành thần
Bảng thống kê dạng môtíp người hoá thân thành thần
truyện Dạng hóa thân Chức năng của môtíp
Giải thích nguồn gốc, đặc điểm của các con vật loài vật, vật thể
Giải thích địa danh
Chức năng giải thích phong tục
Chức năng trừng phạt
Chức năng
và phản ánh hóa giải
bi kịch
1 Sự tích
ông Táo
Người vợ và hai người chồng chết thiêu trong đống lửa được Ngọc Hoàng cho làm Táo Quân
Qua bảng phân loại trên, ta thấy dạng môtíp người hóa thân thành con vật chiếm tỉ lệ nhiều nhất 22/37 (59,5%) Dạng môtíp người hóa thân thành
Trang 20cây cối, đồ vật, vật thể 9/37 (24,3%) Kết quả này cho thấy môtip hóa thân trong truyện cổ tích của người Việt gắn liền với mối quan hệ gần gũi giữa con người với các sự vật, hiện tượng tự nhiên xung quanh Người Việt chủ yết là
cư dân nông nghiệp lúa nước, sống hòa đồng với tự nhiên, có óc quan sát tinh
tế, nhu cầu giải thích nguồn gốc, đặc điểm của các loài vật, cây cối, các hiện tượng trăng sao bằng trí tưởng tượng phong phú
Dạng môtíp người hóa đá khá nhiều 7/37 chiếm 18,9%, gắn với đặc điểm địa hình của đất nước Trong dạng môtíp này còn lưu giữ dấu ấn của tín ngưỡng thờ đá của người Việt cổ
Dạng môtíp người hóa thân thành thần hầu như chiếm rất ít 1/37 chiếm 3,7%, chỉ liên quan đến nhu cầu giải thích phong tục thờ Vua Bếp Do trong thể loại truyện cổ tích, nhu cầu tìm hiểu về thế giới thần linh cũng như cảm quan thần thoại (tư duy thần linh chủ nghĩa) không còn đậm như trong thần thoại và truyền thuyết nữa
Tiểu kết chương 1
Ở chương 1, chúng tôi đã đưa ra một cách hiểu về khái niệm môtíp và môtíp hóa thân trong truyện cổ tích của người Việt, để làm cơ sở lí luận cho việc nghiên cứu đề tài này Việc khảo sát, thống kê, phân loại một cách cụ thể
và khách quan đã đem lại những kết quả ban đầu, nhưng là công việc quan trọng, cần thiết tạo tiền đề cho việc đi sâu nghiên cứu ở các chương sau
Qua việc khảo sát thống kê, chúng tôi thấy môtíp hóa thân trong truyện
cổ tích của người Việt là một môtíp độc đáo, vừa là một yếu tố bền vững vừa tồn tại phong phú ở nhiều dạng cụ thể Bước đầu cũng cho chúng ta thấy rằng, môtíp này có vai trò quan trọng trong việc kết cấu và thể hiện chủ đề trong một nhóm truyện cổ tích, trong đó ẩn chứa quan niệm nhân sinh sâu sắc, phản ánh cuộc sống, tư tưởng, tình cảm của người Việt
Trang 21CHƯƠNG II KẾT CẤU, CHỨC NĂNG CỦA MÔTÍP HOÁ THÂN TRONG TRUYỆN
CỔ TÍCH CỦA NGƯỜI VIỆT
2.1 Kết cấu của môtíp hoá thân trong truyện cổ tích của người Việt
Môtíp là đơn vị tham gia cấu tạo cốt truyện trong truyện cổ tích Một môtíp có thể có mặt trong nhiều cốt truyện khác nhau, những môtíp độc lập,
có thể liên kết với những môtíp khác theo những cách khác nhau thành những cốt truyện khác nhau Thậm chí có những môtíp tự nó đã trở thành một cốt truyện Nhưng bản thân nó cũng được cấu thành bởi các yếu tố nhỏ Việc nghiên cứu kết cấu của môtíp giúp chúng ta thấy được cách cấu tạo môtíp, vị trí, vai trò của nó trong cốt truyện, thấy rõ chức năng mà nó đảm nhận trong truyện cổ tích như: chức năng giải thích các hiện tượng trong tự nhiên và
Trang 22trong xã hội, chức năng trừng phạt, chức năng phản ánh và hóa giải bi kịch Qua đó thấy được chủ đề tư tưởng của truyện.
Theo Từ điển thuật ngữ văn học kết cấu được hiểu là: “một thuật ngữ thể hiện một nội dung rộng rãi, phức tạp hơn Tổ chức tác phẩm không chỉ giới hạn ở sự tiếp nối bề mặt, ở những tương quan bên ngoài giữa các bộ phận, chương đoạn mà còn bao hàm sự liên kết bên trong, nghệ thuật cấu trúc cụ thể của tác phẩm ”[14, tr.156] Tìm hiểu kết cấu của môtíp hóa thân trong truyện
cổ tích của người Việt nghĩa là xem xét các bộ phận, các yếu tố nhỏ cấu thành môtíp và mối quan hệ liên kết giữa các bộ phận, các yếu tố đó Trong môtíp hóa thân, các yếu tố cấu thành môtíp bao gồm nhân vật- chủ thể của sự hóa thân, đối tượng (hay kết quả) của sự hóa thân, kiểu hóa thân, tác nhân gây hóa thân, nguyên nhân của sự hóa thân (hành động của nhân vật- chủ thể hóa thân) gắn liền với chức năng của môtíp và mối liên hệ giữa các yếu tố
Yếu tố bất biến trong môtíp hóa thân ở tất cả các truyện xuất hiện môtíp này là sự biến hóa (hay sự hóa thân) Yếu tố khả biến là kiểu nhân vật- chủ thể hóa thân, đối tượng của sự hóa thân, nguyên nhân hóa thân, tác nhân gây hóa thân Tuy nhiên, qua khảo sát, chúng tôi thấy sự sai khác của những yếu tố khả biến này không nhiều và có thể chia thành một số nhóm nhất định Dựa vào đó, chúng tôi mô hình hóa kết cấu của môtíp theo hai nhóm, dựa vào kiểu nhân vật- chủ thể của sự hóa thân: hoặc là nhân vật thuộc tuyến ác (nhân vật gây hại), hoặc là nhân vật thuộc tuyến thiện (nhân vật bị hại hay lâm vào hoàn cảnh hoạn nạn) Sỡ dĩ chúng tôi dựa vào kiểu nhân vật- chủ thể của sự hóa thân vì với mỗi kiểu nhân vật môtíp hóa thân sẽ quy định về nguyên nhân của sự biến hóa (hành động chức năng của nhân vật), chức năng của môtíp tương ứng
Nhân vật trong truyện cổ tích ( đặc biệt là trong truyện cổ tích thần kì) được phân thành hai tuyến nhân vật rõ rệt: tuyến thiện và tuyến ác Theo lí thuyết của V.Ia Propp, nhân vật tuyến thiện thường đóng vai trò là nhân vật chính (nhân vật bị gây hại), nhân vật thuộc tuyến ác là nhân vật đối thủ của nhân vật chính (nhân vật gây hại) Tuy nhiên, trong truyện cổ tích của người
Trang 23Việt, đặc biệt là trong nhóm truyện có xuất hiện môtíp hóa thân, do chủ yếu là truyện thuộc tiểu loại truyện cổ tích sinh hoạt, hoặc truyện cổ tích thần kì nhưng đã mang đậm màu sắc sinh hoạt, hai tuyến nhân vật này thường không
đi liền nhau trong cùng một truyện, và sự phân tuyến nhiều khi không thật rạch ròi Tuy nhiên, dù trong cổ tích sinh hoạt, các nhân vật đều có thể xếp vào một kiểu nhân vật nhất định Chúng tôi quy ước nhân vật tuyến ác là nhân vật mang phẩm chất xấu xa thể hiện ở hành động độc ác, tham lam, dối trá, lừa lọc hoặc nhân vật có hành động sai lầm hay phạm lỗi nào đó Còn nhân vật thuộc tuyến thiện là nhân vật có phẩm chất hiền lành, tốt bụng, thủy chung nhưng rơi vào hoàn cảnh hoạn nạn, khó khăn, rơi vào hoàn cảnh mang tính bi kịch, thường là nhân dân thuộc tầng lớp nhân dân lao động nghèo khổ
Trên cơ sở đó chúng tôi đưa ra mô hình kết cấu môtíp hóa thân thành hai nhóm như sau:
2.1.1 Mô hình kết cấu của môtíp hóa thân có chủ thể hóa thân là nhân vật thuộc tuyến ác
Trong truyện cổ tích của người Việt xuất hiện nhiều truyện có chủ thể hóa thân là nhân vật thuộc tuyến ác, phạm lỗi Từ đó ta khái quát hóa dạng môtíp này như sau:
Sơ đồ:
Nhân vật tuyến ác (nhân vật chính)Hành động gây hại, phạm lỗi
Sự trừng phạtHóa thânCon vật, cây cối, đồ vật
Trang 24Như vậy qua sơ đồ và việc khảo sát môtíp hóa thân trong truyện cổ tích của người Việt ta thấy ở dạng môtíp hóa thân mà chủ thể hóa thân là nhân vật ác, nhân vật phạm lỗi xuất hiện ở 19 truyện Trong đó, chủ thể hóa thân
thường là nhân vật xấu xa, độc ác như: người vợ bạc tình (Người đàn bà hoá thành con muỗi, Sự tích con thiêu thân), những kẻ tham lam, độc ác (Con kiến,
Sự tích con khỉ, Ngậm ngãi tìm trầm hay sự tích núi mẫu tử, Người dì ghẻ ác nghiệt hay sự tích con dế, Sư ông hoá thành bình vôi ), đứa con bất hiếu (Sự tích trái thơm), lười biếng, hống hách (Nghè hoá cọp, Thằn lằn mồng năm), vị thần hèn nhát (Sự tích con bọ hung) Nhân vật phạm lỗi như: không giữ chữ tín (Con bìm bịp), vi phạm luật trời (Sự tích núi vàng, Sự tích con trâu, Sao hôm và sao mai), chưa thoát tục (Sư ông hoá thành con ếch), ăn vụng và bao che ăn vụng (Sự tích cái chổi)
Qua kết quả trên, chúng ta thấy được rằng trong truyện cổ tích của người Việt, hành động gây hại, phạm lỗi của các nhân vật tuyến ác thường được nhấn mạnh ở phẩm chất đạo đức: tham lam, độc ác (ở 5 truyện), bạc nghĩa (ở 2 truyện), lười biếng, hống hách (2 truyện), bất hiếu ( ở 1 truyện) Điều này phản ánh quan niệm nhân sinh của người Việt là trọng tình nghĩa, ghét bạc nghĩa
Trong nhóm nhân vật này, môtíp hóa thân chủ yếu đồng thời giữ chức năng giải thích nguồn gốc, đặc điểm con vật, loài vật và trừng phạt trong kết cấu truyện Nhiều truyện có xuất hiện tác nhân của sự hóa thân, chủ thể trừng
phạt là: Đức Phật (Người đàn bà hóa thành con muỗi, Sư ông hóa thành bình vôi), Phật Bà (Sư ông hóa thành con ếch, Sao Hôm và sao Mai), Ngọc Hoàng (Sự tích con trâu, Sự tích con bọ hung, Sự tích cái chổi ), Bồ Tát (Con Bìm Bịp) Điều này cho thấy nhóm truyện có mô hình kết cấu này yếu tố kì ảo
vẫn khá đậm và chủ yếu thuộc tiểu loại cổ tích thần kì
Đối tượng hóa thân chủ yếu là các con vật nhỏ mọn, vô ích, có những đặc tính xấu như chui rúc ở phân tro bẩn thỉu (con bọ hung, cái chổi), gây hại như chích hút máu người ( muỗi), con vật ác độc ( con hổ), những con vật có hành động vô nghĩa lí (con thiêu thân, con dã tràng, bình vôi cho người ta
Trang 25móc ruột) Những con vật, sự vật này thường gợi liên tưởng đến số kiếp của những kẻ xấu xa, độc ác, bẩn thỉu, bất hiếu, bạc tình bạc nghĩa Đó là sự tương ứng giữa đặc điểm đối tượng hóa thân và chủ thể hóa thân và câu chuyện Như vậy, môtíp hóa thân ở đây có ý nghĩa phản ánh quan niệm “ác giả ác báo” của nhân dân.
2.1.2 Mô hình kết cấu của môtíp hoá thân có chủ thể hoá thân là nhân vật thiện
Cũng như chủ thể hoá thân là nhân vật ác, nhân vật phạm lỗi thì ở trong truyện cổ tích người Việt xuất hiện nhiều môtip hoá thân mà chủ thể hoá thân
là nhân vật thuộc tuyến thiện Từ đó ta có thể khái quát môtíp này như sau:
Sơ đồ:
Nhân vật thiện
Bị gây hại Rơi vào hoàn cảnh khó khăn hay bi kịch
Hóa thân
Con vật, cây cối, vật thể, đá, thần linh
Như vậy qua sơ đồ và việc khảo sát môtíp hóa thân trong truyện cổ tích của người Việt ta thấy ở dạng môtíp hóa thân mà chủ thể hóa thân là nhân vật thiện xuất hiện ở 20 truyện Tác giả dân gian thường thể hiện tính thiện của nhân vật ở phẩm chất, nhân cách chứ không phải ở hành động vượt qua thử
Trang 26thách hay hành động dũng cảm của nhân vật Trong quan niệm của nhân dân, nhân vật thiện là những người dân lao động nghèo khổ nhưng chăm chỉ, hiền
lành, thật thà, tốt bụng ( Sự tích con cá he , Sự tích trầu cau, Sự tích ông Táo, Sự tích ông Táo, Sự tích sao hôm và sao mai ), hoặc đó là những người phụ nữ thủy chung, sắt son nhưng rơi vào hoàn cảnh éo le (Nàng Tô Thị, Sự tích đá vọng phu, Sự tích đá Bà Rầu, Sự tích bông sen ), những đúa trẻ vô tội (Chim Đa Đa, Sự tích chim Gọi Vịt, Sự tích chim Hít cô, Sự tích con chim Phướng ) Ở đây, truyện cổ tích dành tiếng nói bênh vực cho những con
người bé cổ, thấp họng, những tầng lớp chịu nhiều bất công trong xã hội Điều đó ta thấy được giá trị nhân đạo rất sâu sắc mà tác giả dân gian đã gửi gắm
Nhân vật rơi vào hoàn cảnh hoạn nạn có thể là bị gây hại bởi các nhân
vật đối thủ (tuyến ác) như: đứa trẻ bị bố dượng bỏ vào rừng (Chim Đa Đa), vợ chông nhà chài bị Mụ lường đẩy xuống biển (Sự tích con cá he), em bé bị bà
cô Hạc đánh chết (Sự tích con chim Phướng) Ở những truyện này đã thể
hiện rõ mâu thuẫn, xung đột xã hội, mâu thuẫn giai cấp: giàu- nghèo, tốt- xấu Hoặc có thể nhân vật rơi vào hoàn cảnh khó khăn hay bi kịch của cuộc sống
như: mất con (Sự tích cây vú sữa), rơi vào nạn đói (Sự tích chim Hít cô, Sự tích chim Gọi Vịt), bị oan ức (Sự tích đá Bà Rầu, Truyện trầu cau, sự tích bông sen), chờ chồng đến hóa đá (Nàng Tô Thị, Sự tích đá Bà Rầu, Sự tích đá Vọng Phu)
Ở nhóm truyện này, hoàn cảnh hoạn nạn hay bi kịch cuộc sống của nhân vật được phản ánh hết sức đa dạng, phong phú và giàu màu sắc hiện thực, có ý nghĩa phản ánh cuộc sống hiện thực đầy bất công, ngang trái, đầy nguy hiểm của nhân dân lao động nghèo khổ trong xã hội cũ
Sự hóa thân của nhân vật ở loại môtíp hóa thân này không phải là kết quả của sự trừng phạt như ở nhóm truyện môtíp có chủ thể hóa thân thuộc tuyến ác Sự hóa thân của nhân vật thiện là kết quả số phận bi đát của những con người lương thiện, nghèo khổ trong xã hội cũ mà cuộc sống của con người còn nhiều oan trái, hiểm nguy Ở đây, truyện cổ tích lại thiên về phản
Trang 27ánh hiện thực xã hội và lên tiếng bênh vực, bảo vệ những con người bé nhỏ, hiền lành trong xã hội.
Ta thấy, ở mô hình kết cấu này chủ yếu thuộc truyện cổ tích sinh hoạt Truyện không còn nhằm phản ánh ước mơ thiện thắng ác hay cái ác bị trừng trị mà thiên về phản ánh hiện thực và nhấn mạnh bi kịch của con người
Nhân vật thiện kết thúc cuộc đời với sự biến hóa thành các con vật như: chim Hít cô, chim Chìa Vôi, chim Phướng, chim Đa Đa Giữa đối tượng biến hóa và nhân vật chủ thể có một mối liên hệ, thường những con vật,
sự vật mang một đặc điểm nào đó nhắc nhở, gợi lại bi kịch cuộc đời của nhân vật: tiếng kêu của con chim gọi vịt nhắc lại niềm mong mỏi của cậu bé nghèo mãi tìm đàn vịt- hi vọng sống cuối cùng của gia đình đến nỗi chết hóa thành
chim (Sự tích chim Gọi Vịt) Tiếng kêu của chim Bắt cô trói cột thảm thiết như tiếng khóc kêu oan của bác lực điền thật thà (Năm trâu sáu cột) Tiếng kêu
khắc khoải trong rừng sâu của chim Hít cô gợi nhắc bi kịch nạn đói của chú
bé (Sự tích chim Hít cô) Hoặc những sự vật, cây cối như đá, cây vú sữa, bông
sen tượng trưng cho vẻ đẹp của những người phụ nữ có phẩm chất trong
sáng, tấm lòng thương con nhưng gặp nhiều bất hạnh (Sự tích bông sen, Sự tích cây vú sữa ) Nhờ những đặc điểm này, truyện cổ tích khắc sâu thêm bi
kịch cuộc đờ của họ Nhờ đó truyện có giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc Đặc biệt, ở đây xuất hiện môtíp hóa đá là một dạng biến hóa khá đặc biệt và hàm chứa nhiều ý nghĩa mà ở phần sau chúng tôi sẽ phân tích sâu
2.2 Chức năng của môtíp hoá thân trong truyện cổ tích của người Việt
Văn học là một phương thức phản ánh hiện thực đời sống con người một cách chân thực sinh động Bất kỳ tác phẩm nghệ thuật nào thuộc thể loại
gì đi nữa thì cũng đều hướng đến hiện thực và bằng những phương thức nghệ thuật nhất định để có những bức tranh đời sống khác nhau Ở văn học dân gian nói chung và truyện cổ tích nói riêng, tính chức năng phản ánh đời sống lại là một đặc trưng
Trang 28Nhà Foklore học người Nga thế kỷ XIX V.Ia.propp trong cuốn Hình thái học truyện cổ tích không những tìm những môtíp mà tìm các chức năng,
các hoạt động không phải là những việc làm cụ thể của nhân vật mà là hoạt động chức năng của chúng Khái quát hơn 100 truyện cổ tích thần kỳ Nga, ông đã xác lập một bảng 31 chức năng
Ở truyện cổ tích của người Việt môtíp hoá thân cũng mang những chức năng nhất định Môtíp hoá thân trong truyện cổ tích của người Việt nhằm thực hiện những chức năng như sau: Chức năng giải thích nguồn gốc, đặc điểm của một số hiện tượng trong tự nhiên và trong đời sống của con người; Chức năng trừng phạt; Chức năng hoá giải bi kịch
2.2.1 Chức năng giải thích
Từ sự quan sát tinh tế và nhu cầu nhận thức nguồn gốc, đặc điểm các con vật, loài vật, các vật thể, các hiện tượng tồn tại xung quanh, tác giả dân gian đã sáng tạo ra những câu truyện cổ tích trong đó mượn môtíp hóa thân để
lí giải sự ra đời cũng như đặc điểm của các con vật, loài vật, các hiện tượng tự nhiên và xã hội đó Trong 37 truyện có môtíp hóa thân thì có đến 36 truyện có chức năng này
2.2.1.1 Giải thích nguồn gốc, đặc điểm của các loài vật,sự vật, các vật thể trong tự nhiên và trong xã hội
Các con vật, loài vật, vật thể được lựa chọn để nhận thức, lí giải hết sức phong phú, từ những con vật gần gũi với cuộc sống của con người như con
trâu (Sự tích con trâu), con muỗi (Sự tích con muỗi), con khỉ (Sự tích con khỉ), con thiêu thân (Sự tích con thiêu thân), con cá (Sự tích con cá he), con ếch (Sư ông hoá thành con ếch), con sam (Đôi sam), cái chổi (Sự tích cái chổi), cái bình vôi (Sư ông hoá thành bình vôi), cây Vú Sữa (Sự tích cây Vú Sữa), bông sen (Sự tích bông sen)…đến những sự vật, hiện tượng trong tự nhiên như sao hôm, sao mai (Sự tích sao hôm và sao mai), con dã tràng (Sự tích con dã tràng), các loài chim muông (Sư tích chim Chìa Vôi, Sự tích con chim Phướng, Năm Trâu Sáu Cột, Sự tích chim Hít cô, Sự tích chim Gọi Vịt, Chim Đa Đa), Điểm chung của các truyện này là đều dựa vào yếu tố kì ảo, sự hóa thân của
Trang 29nhân vật để giải thích sự ra đời của các sự vật, hiện tượng Vì thế, cách lí giải của dân gian hết sức hấp dẫn, lôi cuốn.
Chức năng giải thích nguồn gốc của các sự vật, hiện tượng cũng thường xuất hiện trong thần thoại Nhưng cách giải thích của thần thoại khác với truyện cổ tích Nếu như sự lí giải hoang đường trong thần thoại xuất phát từ nhận thức ấu trĩ và niềm tin ngây thơ vào thế giới siêu nhiên thần thánh thì sự hóa thân thành các con vật, loài vật trong truyện cổ tích là yếu tố hư cấu nghệ thuật có chủ tâm Mặt khác, trong truyện cổ tích, chức năng giải thích bao giờ cũng gắn liền với một câu chuyện xã hội, về thế sự và nhân sinh Như Đinh
Gia Khánh nhận xét: “Nếu hai cách giải thích đều chất phác, thơ ngây, đều thể hiện óc tưởng tượng phong phú kết hợp với nhận xét tinh vi các sự vật trong tự nhiên, thì thái độ của truyện cổ tích đối với sự giải thích đó khác thái độ của thần thoại Truyện cổ tích không hề có tham vọng cho rằng sự giải thích đó là chân lí Hơn nữa truyện cổ tích thường mượn cách giải thích đó để nêu bật lên một vấn đề xã hội”[16,tr 300].
Truyện cổ tích ra đời muộn hơn nên phản ánh tư duy con người phong phú hơn trong thần thoại Do đó cách giải thích sự ra đời của các con vật, cây cối hay vật thể cũng phong phú và phức tạp hơn Truyện cổ tích không bao giờ lấy chức năng giải thích làm chức năng duy nhất mà luôn gắn chức năng này với một câu chuyện xã hội, qua đó nêu lên những vấn đề xã hội và triết lí nhân sinh Tác giả dân gian dựa vào đặc điểm của các con vật, loài vật, vật thể
để tưởng tượng ra một câu chuyện xã hội có mối liên hệ liên tưởng nhất định với đặc điểm của các con vật, loài vật đó Vì thế, trong cách giải thích của truyện, sự ra đời hay đặc điểm các sự vât, hiện tượng luôn ẩn chứa một vấn đề
xã hội, một bi kịch trong cuộc sống con người Chẳng hạn, tiếng kêu “bát cát
quả cà” của con chim Đa Đa- hóa thân của đứa con riêng trong truyện Sự tích chim Đa Đa gợi nhắc mâu thuẫn gia đình giữa bố dượng và con riêng Người
bố dượng vì muốn bỏ con vào rừng sâu đã đánh lừa đứa con bằng bát cát đăt mấy quả cà lên trên khiến đứa con bị chết đói trong rừng sâu và hóa thành chim Đa Đa Tiếng kêu của chim “năm trâu sáu cột”, chim Chìa Vôi “xe cộ
Trang 30kéo kéo, ai kéo vợ tao”, chim Phướng “bớ bà cô Hạc trả tía cho tao, tía tao”
tố cáo sự áp bức, bóc lột của tầng lớp địa chủ phong kiến đối với nhân dân lao
động nghèo khổ (Năm trâu sáu cột, Sự tích chim chìa vôi, Sự tích chim Phướng ) Cái chết oan ức của những con người nghèo khổ được cụ thể hóa,
hình tượng hóa bằng tiếng kêu thảm thiết của các loài chim
Lực lượng thần kì là tác nhân bên ngoài gây nên sự biến hóa của chủ
thể hóa thân, đó là Ông Tiên (Con kiến), Đức Phật (Người đàn bà hóa thành con muỗi, Sư ông hóa thành con ếch…), Diêm Vương (Sự tích con muỗi ), Ngọc Hoàng (Sự tích con bọ hung, Sự tích con trâu…) có thể xuất hiện trực
tiếp hoặc không
Khi giải thích, tác giả thường dựa vào những đặc trưng cơ bản của loài vật, cây cối hay vật thể để đưa ra quan niệm xã hội của mình Khi giải thích
sự ra đời của các con chim như chim đa đa người ta dựa vào tiếng kêu của nó
“bát cát quả cà” và cao hơn là dựa vào mối quan hệ trong gia đình để giải
thích đó là mối quan hệ giữa bố ghẻ- con vợ, là một một mối quan hệ gia đình phức tạp đặt ra xưa nay hiếm khi có thể điều hoà Hay khi giải thích sự ra đời của chim chìa vôi, chim hít cô, chim phướng, năm trâu sáu cột cũng vậy Điều này xuất phát từ nhu cầu nhận thức, lí giải một cách lí thú các sự vật, hiện tượng xung quanh bằng trí tưởng tượng và hư cấu nghệ thuật
Ngoài việc giải thích sự ra đời của các loài chim thì môtíp hoá thân còn hướng tới vô vàn con vật bé nhỏ khác như con kiến, con muỗi, con thiêu thân, con dế, con ếch, con thạch sùng, con thằn lằn Tác giả dân gian đã dựa vào những đặc tính cơ bản của những con vật này để khái quát và phê phán nhân cách của một số hạng người trong xã hội như những người đàn bà phụ bạc
(Sự tíc con thiêu thân, Người đàn bà hóa thành con muỗi), người mẹ ghẻ độc
ác (Người di ghẻ ác nghiệt hay sự tích con dế), bọn thương gian tiếc của (Sự tích con thạch sùng) , những kẻ tham lam độc ác hám danh, hám sắc (Sự tích con khỉ) Sự ra đời của đôi sam luôn bám lấy nhau để thể hiện tình yêu thuỷ chung son sắt của đôi vợ chồng (Đôi sam) Sự giải thích này là đặc
trưng của cổ tích loài vật nhưng ở đây lại gắn với câu chuyện sinh hoạt xã hội,
Trang 31thể hiện tính chất thế sự của truyện cổ tích Măt khác dù có chức năng giải thích nguồn gốc, đặc điểm các loài vật nhưng truyện lại chủ yếu thuộc tiểu loại truyện cổ tích thần kì hoặc truyện cổ tích sinh hoạt, chứng tỏ ở đây chủ
đề chính là phản ánh mâu thuẫn xã hội và quan niệm đạo đức của nhân dân, còn chức năng giải thích chỉ là chức năng nằm ở lớp ngoài, là cái cớ để dựa vào đó truyện trình bày các vấn đề nhân sinh Một số rất ít thuộc truyện cổ tích loài vật thì chức năng giải thích nguồn gốc, đặc điểm các loài vật mới chiếm vị trí trung tâm Truyện không nặng màu sắc xã hội mà thể hiện cách
giải thích một cách trong sáng hồn nhiên Chẳng hạn, trong truyện Sự tích con trâu, vị thần nhà trời làm sai lời dặn của Ngọc Hoàng rải nhầm giống lúa
thành giống cỏ nên bị biến thành trâu để ăn hết cỏ trên trần gian Trong truyện
Sự tích con bọ hung, vị thần báo sai tin của Ngọc Hoàng bị biến thành con bọ hung Trong truyện Thằn lằn mồng năm, người thanh niên tham chơi không
có tiền trả nợ người ta đến đòi sợ quá biến thành con thằn lằn
Môtíp hoá thân giải thích sự ra đời của các loài cây cũng vô cùng phong phú Quan sát đặc điểm của quả vú sữa là tiết ra thứ nước có màu trắng
đục, vị mát lành như sữa mẹ, người ta đã tưởng tượng ra câu truyện Sự tích cây vú sữa ca ngợi tình mẫu tử cao đẹp Trong truyện Sự tích bông sen, hương
thơm ngào ngạt, vẻ đẹp tinh khiết của hoa sen đã trở thành biểu tượng cho tâm hồn sáng trong của người phụ nữ trong truyện Như vậy, ở những truyện
có chức năng giải thích nguồn gốc, đặc điểm của một số loài cây thường đi với chủ đề ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ
Ngoài ra môtíp hoá thân còn có chức năng giải thích sự ra đời của các vật thể trong tự nhiên Sao hôm và sao mai là hai vì sao không bao giờ xuất hiện cùng lúc như tên gọi của chúng Dựa vào đặc đặc điểm này của tự nhiên nhân dân đã sáng tạo ra câu chuyện giàu tính nhân văn về sự cách trở của vợ
chồng nàng tiên và người tiều phu ( Sao hôm và sao mai).
2.2.1.2 Giải thích địa danh
Trên đất nước ta ở bất kỳ vùng nào cũng có những địa điểm, những ngọn núi, con sông đã từ lâu trở thành đối tượng giải thích của truyện cổ
Trang 32tích Trong truyện cổ tích của người Việt, có nhiều truyện xuất hiện môtíp con
người hoá thân thành các địa danh như: Hòn Trống Mái, Nàng Tô Thị, Sự tích
đá Vọng Phu, Sự tích núi Vàng, Sự tích đá Bà Rầu, Sự tích núi Mẫu Tử Nhân
dân lao động đã dựa trên những đặc điểm, những hình dáng của các địa danh
đó để sáng tạo ra những câu chuyện vừa lí giải sự ra đời của địa danh, vừa mang triết lý nhân sinh sâu sắc
Chẳng hạn, dựa vào hình dáng của đá Vọng Phu giống hình ảnh của
người phụ nữ bồng con đứng trên núi người ta đã sáng tác ra truyện Nàng Tô Thị, Sự tích đá Vọng Phu nhằm giải thích sự ra đời của các địa danh như đá Vọng Phu ở cửa biển Đề Di, thuộc huyện Phú Cát tỉnh Bình Định (Sự tích đá Vọng Phu), hay là đá Trông Chồng ở trên chùa Tam Thanh Lạng Sơn (Nàng
Tô Thị) Cũng như vậy, khi thấy hình dáng của hai hòn đá giống hình hai con chim chụm đầu vào nhau người ta sáng tạo câu chuyện Hòn Trống Mái giải
thích cho sự ra đời của địa danh này ở biển Sầm Sơn (Thanh Hoá) Hay dựa vào đặc điểm của những ngọn núi vào buổi tối được phủ bởi ánh sao lấp lánh
nhân dân đã sáng tạo câu chuyện Sự tích núi Vàng giải thích sự ra đời của dãy
núi Vàng dưới dải Tam Điệp, dựa vào hình dáng của hòn đá giống hình ảnh người phụ nữ mắt hướng ra biển trong sự chờ đợi để giải thích cho địa danh
đá Bà Rầu ở Quảng Nam (Sự tích đá Bà Rầu), dựa vào những hòn đá người ta
giải thích cho địa danh núi Mẫu Tử ở quận Khánh Dương, tỉnh Khánh Hòa
(Ngậm ngãi tìm trầm hay sự tích núi Mẫu Tử).
Tuy nhiên tác giả dân gian giải thích các sự tích sông núi không bằng những câu chuyện tự nhiên mà bằng những câu chuyện xã hội nhằm phản ánh cuộc sống phức tạp của con người với những mâu thuẩn, xung đột gay gắt Chức năng giải thích địa danh xuất hiện rất nhiều trong thể loại truyền thuyết Tuy nhiên cách giải thích của truyền thuyết khác với truyện cổ tích Nếu địa danh trong truyền thuyết gắn với những sự kiện lịch sử, là dấu tích lưu danh
và ghi nhận công lao của người anh hùng có công với đất nước trong sự ngưỡng mộ của nhân dân thì địa danh trong truyện cổ tích lại được nhìn từ góc độ thế sự, từ những mâu thuẫn trong xã hội và gia đình, từ số phận của
Trang 33những con người đời thường Trong cảm hứng sáng tạo của truyện cổ tích, những ngọn núi, hòn đá đã được thổi vào đó những triết lí nhân sinh, những trăn trở về hiện thực cuộc sống, những khát vọng và ước mơ hạnh phúc của con người Sự khác nhau giữa hai cách giải thích địa danh của truyền thuyết
và truyện cổ tích bắt nguồn từ sự khác nhau về đặc trưng thể loại Nhờ vậy,
dù cùng một chức năng, cùng hướng tới những địa danh trên đất nước nhưng mỗi thể loại cho ta một các nhìn riêng, vừa phong phú, vừa độc đáo
Cụ thể ở đây khi giải thích sự ra đời của đá Vọng Phu (Sự tích đá Vọng Phu), đá Trông Chồng (Nàng Tô Thị) tác giả dân gian đều gửi gắm câu
chuyện bi kịch về anh em ruột lấy nhầm nhau Đây là bi kịch gia đình trong thời kỳ chuyển giao từ chế độ hôn nhân cùng huyết thống trong xã hội nguyên thuỷ đến chế độ hôn nhân không cùng huyết thống trong chế độ phụ hệ của xã hội có giai cấp Bi kịch này phản ánh quá trình chuyển giao và phát triển xã hội diễn ra căng thẳng, trong đó con người phải trải qua sự đấu tranh quyết
liệt và những bi kịch trong gia đình là không thể tránh khỏi Trong Sự tích đá
Bà Rầu lại phản ánh xung đột trong cuộc sống vợ chồng Đó là những ghen
tuông hiểu nhầm mà bao giờ thua thiệt cũng thuộc về người phụ nữ Qua hình ảnh hoá đá chờ chồng của người phụ nữ trong các câu chuyện trên đã khẳng định được tấm lòng thuỷ chung son sắt của người phụ nữ mà tác giả dân gian muốn ca ngợi
Sự tích núi Vàng, Hòn Trống Mái lại ca ngợi tình yêu thuỷ chung, tình
cảm vợ chồng hoà thuận yêu thương Hòn Trống Mái như một biểu tượng thiêng liêng cho tình cảm vợ chồng, gửi gắm ước mơ của tác giả dân gian về
sự thuỷ chung hoà hợp trong gia đình
Như vậy, mỗi một địa danh đều được giải thích bằng một câu chuyện
xã hội, phản ánh những khía cạnh phức tạp trong gia đình và xã hội, đồng thời gửi gắm quan niệm nhân sinh và ý nghĩa nhân văn cao cả của tác giả dân gian
2.2.1.3 Giải thích phong tục