hệ thống vần cái chủ yếu thể hiện ở các yếu tố đỉnh vần nguyên âm tính, còn như các yếu tố kết vần như bảo toàn nguyên vẹn.- Về từ vựng Phương ngữ Nghệ Tĩnh có vốn từ vựng hết sức phong
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Vinh - 2010
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
1.1 Tiếng Việt là ngôn ngữ vùa thống nhất vừa đa dạng Tính đa dạng của tiếng Việt được thể hiện ở sự khác nhau trên các vùng phương ngữ, ở từng phong cách chức năng và ở sự phân tầng xã hội- lớp người sử dụng Tiếng Việt là một ngôn ngữ bao gồm nhiều phương ngữ Các phương ngữ Việt vừa có sự thống nhất về ngữ âm, từ vựng - ngữ nghĩa, ngữ pháp đảm bảo cho người Việt từ Bắc vào Nam nói, nghe và hiểu nhau trong hoạt động giao tiếp nhưng giữa các vùng phương ngữ còn có cái khác biệt ít nhiều về ngữ
âm, từ vựng và ngữ pháp Điều đó làm nên diện mạo ngôn ngữ đặc trưng của mỗi vùng Cái khác biệt của mỗi vùng thể hiện rõ nhất ở mặt ngữ âm, vì thế người ta mới nhận ra giọng Bắc, giọng Huế, giọng Nghệ, giọng Quảng Cho nên, nghiên cứu phương ngữ luôn là sự cần thiết trong việc nghiên cứu tính đa dạng của ngôn ngữ tiếng Việt
1.2 Phương ngữ Nghệ Tĩnh là một trong vài phương ngữ hiếm hoi còn bảo lưu nhiều yếu tố cổ của tiếng Việt Do đó, phương ngữ Nghệ Tĩnh là đối tượng nghiên cứu lí tưởng cho phương ngữ học xét từ các góc độ khác nhau, những cách tiếp cận khác nhau Theo một số nghiên cứu, phương ngữ Nghệ Tĩnh là một phương ngữ tiểu vùng thuộc vùng phương ngữ Bắc Trung Bộ nhưng là phương ngữ đại diện, tiêu biểu cho phương ngữ Bắc Trung Bộ
1.3 Phương ngữ Nghệ Tĩnh có nhiều thổ ngữ Trong phương ngữ Nghệ Tĩnh, các thổ ngữ Hà Tĩnh, nhìn chung cổ hơn các thổ ngữ Nghệ An, nhưng trong các thổ ngữ Nghệ An thì các thổ ngữ Nam Đàn còn bảo lưu nhiều yếu tố
cổ hơn cả Phần vần trong các thổ ngữ Nam Đàn có nhiều nét đặc hữu địa phương, góp phần quan trọng làm nên diện mạo ngữ âm phương ngữ Nghệ Tĩnh
1.4 Nghiên cứu đặc trưng ngữ âm phần vần các thổ ngữ Nam Đàn là hết sức cần thiết, một mặt nhận diện các sắc thái địa phương về ngữ âm ở phần cuối âm tiết Việt, mặt khác góp thêm tư liệu phương ngữ, thổ ngữ để giải thích diễn biến của hệ thống vần tiếng Việt trong lịch sử
Từ nhận thức trên, chúng tôi thực hiện đề tài Miêu tả đặc trưng ngữ âm
hệ thống vần tiếng Nam Đàn.
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Trang 32.1 Điểm qua lịch sử nghiên cứu phương ngữ Nghệ Tĩnh.
Ngay từ đầu thế kỷ XX, tiếng Nghệ đã được nhắc đến trong các công trình
của L Cadiere (1902,1911) Nhưng phải đến công trình "Nghiên cứu lịch sử tiếng Việt, các âm đầu" của H Maspero (1912), tiếng Nghệ nói riêng, rộng ra là
ngôn ngữ của toàn vùng Bắc Trung Bộ mới thực sự được các nhà ngữ học quan tâm nghiên cứu Trong công trình này, H Maspero đã khai thác các tư liệu của các thổ ngữ Cao Xá, Nho Lâm (Diễn Châu), Yên Dũng (Hưng Nguyên) Sau
đó nhiều tư liệu trong các thổ ngữ khác của tiếng Nghệ đã dược dùng làm cứ liệu cho việc nghiên cứu lịch sử và phương ngữ Việt Đáng chú ý là một số công trình của các tác giả M.B Emeneau (1951), L.C Thompson (1965), M.B Gordina (1984), N.K Sokolovskaja (1978), Nguyễn Văn Tài (1983), Hoàng Thị Châu (1989), Nguyễn Tài Cẩn (1995), Trần Trí Dõi (2002)
Cuối thế kỷ XX, những năm đầu thế kỷ XXI, tiếng Nghệ hay phương ngữ Nghệ Tĩnh đã trở thành đối tượng nghiên cứu trong một số luận án, luận
văn tốt nghiệp Đó là, Võ Xuân Quế (1993) với "Những đặc điểm ngữ âm giọng Nghi Lộc", luận án Tiến sĩ ngữ văn; Hoàng Trọng Canh (2002) với
"Đặc điểm của vốn từ đặc trưng phương ngữ Nghệ Tĩnh", luận án Tiến sĩ ngữ văn; Nguyễn Hoài Nguyên (2003) với "Miêu tả đặc trưng ngữ âm phương ngữ Nghệ Tĩnh", luận án Tiến sĩ ngữ văn; Nguyễn Văn Chiến (2005) với "Thổ âm Thanh Chương, Nghệ An", luận văn cao học,…Phương ngữ Nghệ Tĩnh như
một thứ "của để dành", là đối tượng nghiên cứu lý tưởng cho phương ngữ học
từ nhiều cách tiếp cận khác nhau
2.2 Về tình hình nghiên cứu các thổ ngữ Nam Đàn
Nam Đàn là một vùng địa phương có giọng nói khá đặc biệt trong phương ngữ Nghệ Tĩnh cũng như trong cả vùng Bắc Trung Bộ Sự đặc biệt của tiếng nói Nam Đàn từ xưa đã được phản ánh trong hát phường vải và nhiều giai thoại dân gian Một số hiện tượng ngữ âm của tiếng Nam Đàn đã được giới thiệu trong một số công trình nghiên cứu về ngữ âm tiếng Việt và
phương ngữ học như "Cơ cấu ngữ âm âm tiếng Việt" của M.B Gordia (1970),
"Phương ngữ học tiếng Việt" của Hoàng Thị Châu (2004), "Miêu tả đặc trưng ngữ âm phương ngữ Nghệ Tĩnh" của Nguyễn Hoài Nguyên (2003),…Hơn thế
nữa, tiếng Nam Đàn đã được lấy làm đối tượng nghiên cứu của một số khóa luận tốt nghiệp đại học của sinh viên trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn- Hà Nội và trường Đại học Vinh Các công trình này, ở một mức độ
Trang 4Đàn nhưng thực sự chưa đầy đủ Ở các khóa luận này, do hạn hẹp về thời gian
và các điều kiện khác nên miêu tả tiếng Nam Đàn còn chung chung, lại ôm đồm nhiều bình diện, hơn nữa chưa tìm được một kỹ thuật miêu tả cho thích hợp với tình trạng của giọng nói này Thiết nghĩ, có thể bắt đầu bằng một việc làm cụ thể hơn, đó là trên cơ sở một nghiên cứu chung về tiếng Nam Đàn để tìm lấy một trong những đặc điểm làm cho nó có các đặc thù riêng hẳn với tiếng nói của các vùng khác Trong một suy nghĩ chung như vậy, luận văn của chúng tôi chọn miêu tả đặc trưng ngữ âm phần vần của các thổ ngữ Nam Đàn.Việc nghiên cứu lịch sử ngữ âm tiếng Việt trong một thế kỷ qua đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Cùng với những tài liệu bằng chữ viết (chữ Nôm và chữ quốc ngữ), các phương ngữ trên các miền đất nước đã cung cấp cho các nhà Việt ngữ học nhiều tư liệu có giá trị để khôi phục lại diện mạo của diễn trình tiếng Việt trong lịch sử Tuy nhiên, có thể nói rằng, phần lớn các kết quả đó còn dựng lại ở mức độ phục nguyên, tái lập các âm vị và khái quát một số xu hướng biến đổi phổ biến chứ chưa phản ánh được những biến thái ngữ âm đa dạng vốn có cũng như tiến trình biến đổi của ngữ âm tiếng Việt trong quá khứ Để làm được điều này, bên cạnh việc khai thác các tài liệu bằng văn bản, thiết nghĩ cần phải tập trung nghiên cứu nhiều, sâu hơn các giọng địa phương, các thổ ngữ còn lưu giữ nhiều dấu vết các đặc điểm ngữ
âm cổ của tiếng Việt Theo chúng tôi, các thổ ngữ Nam Đàn, ở một mức độ nhất định là một trong những vùng có tiếng nói như vậy
3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các nét ngữ âm trong hệ thống vần các thổ ngữ Nam Đàn (phương ngữ Nghệ Tĩnh)
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Chúng tôi đặt ra cho luận văn phải giải quyết các vấn đề sau đây:
- Từ kết quả điều tra điền dã, tiến hành phân loại, thống kê, xác lập các nét ngữ âm của hệ thống vần trong các thổ ngữ Nam Đàn
- Mô tả, phân tích và lí giải các nét ngữ âm, chỉ ra các nét đặc hữu địa phương, phác vạch diện mạo ngữ âm của các thổ ngữ Nam Đàn
- So sánh đối chiếu phần vần trong các thổ ngữ Nam Đàn với các thổ ngữ trong phương ngữ Nghệ Tĩnh và các phương ngữ khác nhằm xác định vị trí của các thổ ngữ Nam Đàn trong các phương ngữ Việt
Trang 54.1 Nguồn tư liệu
Tư liệu được thu thập từ các nguồn:
- Từ kết quả của các đợt điều tra điền dã của cá nhân: dùng tai nghe để thẩm nhận các nét ngữ âm, ghi chép lại theo kí hiệu API, kết hợp dùng máy ghi âm để ghi lại cách phát âm của một số nhân chứng
- Sử dụng tư liệu trong Từ điển tiếng địa phương Nghệ Tĩnh do GS Nguyễn Nhã Bản chủ biên, Từ điển đối chiếu từ địa phương của nhóm tác giả
do Nguyễn Như Ý chủ biên; tư liệu trong các công trình phương ngữ học của các tác giả đã công bố
4.2 Phương pháp nghiên cứu
- Dùng phương pháp điều tra điền dã để thu thập và xác lập tư liệu
- Dùng các thủ pháp miêu tả, phân tích, lí giải và tổng hợp để xử lí tư liệu, xây dựng các luận điểm khoa học, các nhận xét, kết luận
- Dùng phương pháp so sánh đối chiếu để làm nổi bật vị trí của các thổ ngữ Nam Đàn trong các phương ngữ Việt
5 Đóng góp của luận văn
- Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu phần vần trong các thổ ngữ Nam Đàn một cách có hệ thống Các kết quả nghiên cứu góp phần nhận diện các nét đặc hữu địa phương về ngữ âm phần vần trong các thổ ngữ Nam Đàn
- Qua miêu tả các nét ngữ âm phần vần các thổ ngữ Nam Đàn, luận văn góp phần định vị các thổ ngữ Nam Đàn trong các phương ngữ Việt nói chung, phương ngữ Nghệ Tĩnh nói riêng
- Các kết quả nghiên cứu góp thêm tư liệu phương ngữ, thổ ngữ để giải thích diễn tiến của hệ thống vần tiếng Việt trong lịch sử
6 Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn triển khai nội dung thành ba chương:
Chương 1: Một số giới thuyết liên quan đến đề tài
Chương 2: Các nét ngữ âm của hệ thống vần trong các thổ ngữ Nam ĐànChương 3: Vài suy nghĩ về lịch sử ngữ âm tiếng Việt từ các đặc điểm của giọng Nam Đàn
CHƯƠNG 1:
Trang 6MỘT SỐ GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Vài nét về Nam Đàn và các thổ ngữ Nam Đàn
1.1.1 Vài nét về địa lí, lịch sử và dân cư Nam Đàn
Nam Đàn là một trong mười tám huyện, thành của tỉnh Nghệ An, nằm ở vùng hạ lưu sông Lam Diện tích khoảng 29,522 km, kéo dài từ 18043' đến
18047' vĩ bắc và trải rộng từ 105024' đến 105037' kinh đông Trong đó, diện tích đất nông nghiệp chiếm 48%, còn nữa là đất lâm nghiệp và đồi núi, ao hồ Dân số là 192.914 người (tính đến 1/4/2009)
Địa giới Nam Đàn phía đông giáp huyện Hưng Nguyên và huyện Nghi Lộc, phía tây giáp huyện Thanh Chương, phía bắc giáp huyện Đô Lương, phía Nam giáp huyện Đức Thọ, Hương Sơn thuộc tỉnh Hà Tĩnh
Huyện lỵ Nam Đàn đóng ở thị trấn Sa Nam, trên quốc lộ 46 Vinh- Đô Lương, cách thành phố Vinh 21 km về phía Đông
Thời tiết khí hậu vùng này khá khắc nghiệt Hàng năm mùa hanh khô kéo dài từ tháng 1 đến tháng 3 dương lịch, mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 8, mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12 Thời tiết và khí hậu của huyện Nam Đàn đã được mô tả tóm tắt và khá xác đáng trong bốn câu thơ chữ Hán của Hoàng giáp Bùi Huy Bích chép lại trong Nghệ An thi tập của ông, khi ông làm Đốc đồng trấn Nghệ An (1777- 1781) dưới thời vua Lê Hiển Tông:
Hạ lai phong tự hỏa
Thu khứ vũ như ma
Thập nguyệt giang hoàn lạo
Trùng cửu cúc vị hoa
Dịch thơ:
Hè đến gió Lào như lửa đốt
Thu qua mưa phùn lấm tấm sa
Tháng mười sông còn tràn nước lũ
Mồng chín, tháng chín cúc chưa hoa
Tuy thế, Nam Đàn vẫn là vùng địa linh nhân kiệt xưa nay, với "non xanh nước biếc như tranh họa đồ", mang nhiều dấu ấn lịch sử đậm nét Nam Đàn
Trang 7cũng là đất anh hùng, cái nôi văn hóa đúng như lời đề "anh hùng xuất xứ, văn hóa giao lam"
Huyện Nam Đàn có 3 dãy núi lớn là núi Đại Huệ, núi Hùng Sơn nằm toàn bộ trong phạm vi huyện và núi Thiên Nhẫn nằm một phần trong huyện Ngoài ra, còn có hàng chục ngọn núi nhỏ khác nằm rải rác, xen lẫn với ruộng đồng khắp toàn huyện; và dòng sông Lam hay còn gọi là sông Cả chảy qua toàn vùng với chiều dài trên 16 km
Ở phía tả ngạn sông Lam thuộc địa phận huyện Nam Đàn có thị trấn Sa Nam, nơi có lỵ sở của chính quyền huyện, là một địa danh nổi tiếng từ thế kỷ
15 đến nay Câu ca dao cổ:
"Sa Nam trên chợ dưới đòBánh đúc hai dãy, thịt bò mê thiên"
Ngày nay, ở thị trấn Sa Nam, các cơ quan đầu não của huyện Nam Đàn, bao gồm Đảng, chính quyền, mặt trận…đã được xây dựng khang trang, bề thế; các cơ quan y tế, giáo dục, văn hóa cũng được xây dựng
Trong hàng ngàn năm nay, Nam Đàn luôn luôn là một vùng địa linh nhân kiệt.Trong lịch sử Việt Nam, vùng Nghệ Tĩnh trong đó có Nam Đàn luôn luôn
là căn cứ địa của cả nước, là nơi xuất phát của nhiều phong trào yêu nước, nhất là trong thế kỷ 20 Hoàng giáp Bùi Dương Lịch đời Hậu Lê đã viết trong
sách Nghệ An ký: "huyện Đông Thành và huyện Nam Đường, vĩ nhân đã
nhiều, mà khí tiết cũng thiên về cương cường quả cảm" Đúng như lời nhận xét trên, nhân dân Nam Đàn mang trong dòng máu của mình tính chất của con người xứ Nghệ- cương cường, quả cảm, tiết tháo, trung thực, sẵn sàng xả thân
vì đại nghĩa Cũng như nhân dân Nghệ Tĩnh, hàng ngàn năm nay nhân dân Nam Đàn không chịu khuất phục trước cường quyền, bạo lực mà luôn luôn chống lại mọi sự bất công Nhân dân Nam Đàn đã nêu cao tinh thần vì nghĩa cứu nước, cứu dân và đã sinh ra các vị anh hùng lỗi lạc như Mai Thúc Loan, Phan Bội Châu, đặc biệt Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh Ba vị anh hùng nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam này đã làm rạng rỡ núi sông Nam Đàn, đem lại vinh dự cho nhân dân cả nước nói chung và nhân dân Nam Đàn nói riêng
Trang 8Nhân dân Nam Đàn có truyền thống hiếu học và học giỏi và đã có những nhà khoa học lớn Trạng nguyên Trương Xán ở đời Trần, thám hoa Nguyễn Đức Đạt và thám hoa Nguyễn Văn Giao đời Nguyễn.
Có thể nói rằng, lịch sử- địa lý huyện Nam Đàn được tóm tắt lại khá đầy
đủ trong bài thơ sau:
"Nam Đàn đất rộng có là baoLịch sử ngàn năm đáng tự hòaThịnh, Nhạn, Nam, Thanh nhiều sử tíchHoành, Trung, Hồ, Liễu lắm làm saoAnh hùng xuất chúng Mai, Phan, NguyễnKhoa bảng lừng danh Xán, Đạt, Giao!
Truyền thống anh hùng và học giỏiMong rằng hậu tiến mãi dương cao"
1.1.2 Phân vùng giọng Nam Đàn
1.1.2.1 Khái niệm giọng, giọng Nam Đàn
Liên quan đến khái niệm phương ngữ còn có khái niệm "giọng" (giọng nói) bởi vì có người còn gọi phương ngữ là giọng địa phương như Hoàng Cao Cương (1984), Bùi Văn Nguyên (1977), Võ Xuân Quế (1993)…
Giọng là nhấn mạnh khía cạnh ngữ âm, là cái riêng trong ngữ âm phương ngữ, do đó phương ngữ mới có thể được gọi là "giọng địa phương" Theo nghĩa này, giọng không phải là yếu tố ngữ âm đơn lẻ mà tập hợp các yếu tố ngữ âm khác nhau đồng thời xuất hiện khi phát âm và đồng thời được tiếp nhận khi giao tiếp Theo Hoàng Cao Cương "giọng địa phương là một hệ thống phương tiện âm thanh của một ngôn ngữ được người bản ngữ dùng như một loại tín hiệu giao tiếp- văn hóa nhờ đó, người ta không những nhận
ra được các thông tin ngữ nghĩa, cảm xúc của một thông báo mà còn nhận ra được xuất xứ của người thực hiện giao tiếp" [11]
Trong luận văn này, chúng tôi dùng khái niệm giọng Nam Đàn là muốn nhấn mạnh các đặc trưng ngữ âm của tiếng Nam Đàn đã được người các địa phương khác nhận ra một cách dễ dàng khi giao tiếp và cũng được người các địa phương khác gọi một cách quen thuộc: giọng Nam Đàn
Trang 91.1.2.2 Phân chia các thổ ngữ Nam Đàn
Trong bài " Vài nét về sự thay đổi ngữ âm của tiếng Việt trong nông thôn hiện nay" tác giả Hoàng Thị Châu viết " xã thôn trước kia cách biệt với nhau không những về vị trí địa lý mà cả đến những mặt hành chính, hương ước, thờ cúng,… và thổ ngữ ở từng xã thôn cũng có những điểm khác biệt nhau" (Ngôn ngữ, 1972, số 4) Điều này được thể hiện khá rõ trong tiếng nói của người Nam Đàn Tiếng nói của người Nam Đàn khá đa dạng Giữa các vùng, các xã, thậm chí giữa các xóm trong cùng một xã cũng có những điểm khác nhau trong giọng nói Sự khác nhau này chủ yếu thể hiện ở bình diện ngữ âm
và nhiều khi chỉ là những sắc thái rất nhỏ trong phát âm mà chỉ có những người trong khu vực địa phương hoặc các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học mới
dễ dàng nhận ra Chẳng hạn, câu " con gà trống này bao nhiêu (tiền)?" thì các xóm thuộc xã Nam Thanh phát âm khác nhau Xóm Quy Chính phát âm theo cách " con ga (gà) troóng (trống) ni (này) mái (mấy)?" Còn các xóm khác lại phát âm "con ga (gà) trôống (trống) ni (này) mái (mấy)?" Tuy nhiên, dựa vào một số đặc điểm ngữ âm dễ nhận thấy như có sự đối lập giữa trường độ dài/ ngắn ở một số nguyên âm đỉnh vần có tính chất đồng loạt/ không đồng loạt; kết hợp với sự thừa nhận của người địa phương, chúng tôi chia tiếng Nam Đàn thành 3 vùng lớn:
- Vùng 1 gồm các xã phía Nam, trong sông Lam, thường gọi chín Nam, gồm Nam Cường, Nam Trung, Nam Hoành (Khánh Sơn 1), Nam Đông (Khánh Sơn 2), Nam Kim, Nam Thượng, Nam Lộc, Nam Phúc, Nam Tân Tiếng nói vùng này còn lưu giữ nhiều biến thể ngữ âm phần vần ở một số bộ phận từ vựng Trong cách phát âm, vùng này thể hiện rõ nét những cách cấu
âm phụ ở nguyên âm đỉnh vần Chẳng hạn, đỉnh vần là nguyên âm [ ] trong tiếng Việt toàn dân được phát âm thành [ Ε] có tính chất đồng loạt
- Vùng 2 gồm các xã phía Tây Bắc thị trấn Nam Đàn gồm Nam Diên (Vân Diên),Nam Thanh, Nam Thái, Nam Nghĩa, Nam Hưng, Nam Thịnh, Nam Anh Cách phát âm vùng này nặng hơn các vùng khác, thể hiện nhiều nét đặc hữu địa phương: có sự đối lập về trường độ nguyên âm đỉnh vần trong các vần được ghi bằng chữ quốc ngữ "anh ách", "ênh ếch", "inh ích", "ung úc", "ông ôc", "ong oc", nhiều nguyên âm đỉnh vần có phụ âm như [i] phát âm
Trang 10thành [ei], [a] phát âm thành [ a], [ ] phát âm thành [ Ε] hoặc [u ],…Vùng 2
có các thổ ngữ Vân Diên, Nam Anh, Nam Thanh hết sức đặc biệt
- Vùng 3 gồm thị trấn và các xã phía Đông Nam thị trấn là Nam Liên (Kim Liên), Nam Hùng, Nam Tiến, Nam Hòa (Xuân Hòa), Nam Giang, Nam Cát, Nam Lâm (Xuân Lâm) Cách phát âm của vùng này có phần nhẹ hơn hai vùng trên Có thể coi đây là vùng có giọng nói phổ biến của người Nam Đàn.Mặc dù có thể phân chia thành các vùng có sự khác nhau về giọng nói như trên, nhưng nhìn chung tiếng nói giữa các vùng vẫn có nhiều điểm giống nhau khiến cho người của huyện khác khi tiếp xúc vẫn có thể nhận ra được tiếng nói Nam Đàn Đối với người ngoài huyện, giọng Nam Đàn là một sự nhất thể có sự khác biệt với giọng Thanh Chương, Đô Lương, Hưng Nguyên…cũng như bất kỳ một giọng nào đó trong phương ngữ Nghệ Tĩnh
1.1.3 Việc chọn điểm điều tra và miêu tả
Từ sự phân vùng có tính chất khái quát như trên, để tiến hành miêu tả đặc trưng ngữ âm vần phần tiếng Nam Đàn, chúng tôi chọn một số xã có tiếng nói tiêu biểu đại diện cho mỗi vùng làm điểm khảo sát và miêu tả Việc chọn
xã có tiếng nói đại diện cho mỗi vùng được tiến hành dựa trên hai nhân tố: nhân tố nội ngôn ngữ học và nhân tố ngoại ngôn ngữ học Theo nhân tố ngôn ngữ, chúng tôi căn cứ vào sự thẩm định và sự thẩm nhận của người bản ngữ qua bảng từ khóa và các băng ghi âm chúng tôi trực tiếp ghi qua các đợt điền
dã Theo nhân tố ngoài ngôn ngữ, tức từ những đặc điểm về địa lý, lịch sử, thành phần dân cư,…chúng tôi chọn những xã nằm xa trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa,…xa các trục đường giao thông Dựa vào các tiêu chí đó, chúng tôi chọn được xã điển hình cho tiếng nói mỗi vùng là: xã Nam Tân đại diện cho tiếng nói vùng 1, xã Nam Thanh đại diện cho tiếng nói vùng 2, Thị trấn và xã Nam Cát đại diện cho tiếng nói của vùng 3 Ba xã này những địa bàn chính cho các đợt điều tra điền dã của chúng tôi
Sau khi đã thu thập được tư liệu điền dã và khảo sát ở các điểm đã chọn, một vấn đề đặt ra là chọn cách phát âm của điểm điều tra nào làm tiêu thể cho việc miêu tả Nếu ấy cách phát âm được coi là phổ biến của Nam Đàn thì phải chọn cách phát âm của Thị trấn vì đây đồng thời là trung tâm chính trị, văn hóa, kinh tế của Nam Đàn Còn nếu lấy giọng điển hình, tiêu biểu cho sự
Trang 11đặc biệt của Nam Đàn, nghĩa là chỉ ra những nét đặc hữu địa phương thì phải chọn cách phát âm ở Nam Thanh Vậy là, tùy theo mục đích hướng đến ta có thể chọn một trong hai đại diện đó làm đối tượng cho việc miêu tả của mình Qua thực tế khảo cứu, chúng tôi nhận thấy, cách phát âm của người Nam Thanh có một số nét đặc trưng Nam Đàn, tập trung thể hiện các nét đặc hữu địa phương Vì lẽ đó, chúng tôi chọn giọng nói Nam Thanh làm tiêu thể cho việc miêu tả đặc trưng ngữ âm phần vần tiếng Nam Đàn Dựa vào cách phát
âm ở Nam Thanh, chúng tôi có thể bao quát và lý giải được những nét đặc trưng ngữ âm chỉ còn thấy thể hiện một cách mờ nhạt, không rõ nét ở các thổ ngữ khác Do khuôn khổ của luận văn, hơn nữa do sự hạn hẹp về thời gian và điều kiện làm việc, chúng tôi không thể mô tả toàn bộ các điểm đã chọn mà chỉ đi sâu vào một tiêu bản, theo phương châm từ việc miêu tả điểm để suy ra diện Việc chọn giọng Nam Thanh để miêu tả ở đây không có nghĩa là lấy cái khác thường, cái dị biệt để thay cho cái phổ biến mà xuất phát từ quan điểm học thuật, muốn đi từ một thổ ngữ có cách phát âm đậm đặc các nét đặc trưng địa phương để nhìn rõ hơn những đặc điểm ngữ âm đặc thù trong phương ngữ Nghệ Tĩnh Thiết nghĩ, với tiêu thể Nam Thanh, người vùng khác trên địa bàn Nam Đàn nói riêng, Nghệ Tĩnh nói chung có thể lý giải được sự đặc biệt, tính chất cổ qua cách nói "trầm nặng", "trọ trẹ" mà lâu nay các nhà nghiên cứu thường nhắc đến
1.2 Một số khái niệm liên quan đến đề tài
1.2.1 Phương ngữ, thổ ngữ và ngôn văn hóa
Trong quá trình phát triển, từng ngôn ngữ cụ thể tồn tại các biến dạng khác nhau như phương ngữ, tiếng lóng, tiếng nghề nghiệp…Điều đó phản ánh một quá trình phát triển đa dạng, một sự hành chức phức tạp cho bất kỳ một ngôn ngữ nào Dĩ nhiên, khi một dân tộc đã hình thành và phát triển với một trình độ văn minh nhất định thì ngôn ngữ dân tộc trở thành ngôn ngữ văn hóa Như chúng ta đã biết, ngôn ngữ văn hóa xuất hiện và hành chức ở những giai đoạn phát triển xã hội và dân tộc nhất định Ngôn ngữ văn hóa là một dạng tồn tại đặc biệt của ngôn ngữ: nó là dạng ngôn ngữ đã chịu tác động có ý thức của con người đã được trau dồi và nâng cao nhằm khắc phục những hạn chế của các dạng tồn tại tự nhiên của ngôn ngữ, để đáp ứng được những yêu của
Trang 12sự giao tiếp vượt ra khỏi phạm vi giao tiếp hàng ngày, vượt khỏi phạm vi một địa phương hoặc một thời đại, đồng thời cũng thực hiện những chức năng khác như chức năng nghệ thuật, chức năng công cụ tư duy khoa học, công cụ văn hóa…theo yêu cầu của sự phát triển xã hội Ngôn ngữ văn hóa là dạng thống nhất của ngôn ngữ dân tộc bên trên tất cả các phương ngữ, đồng thời nó
là công cụ văn hóa của dân tộc
Ngôn ngữ văn hóa được ghi lại trên chữ viết và đó là dấu hiệu tồn tại của ngôn ngữ văn hóa Tuy nhiên, không thể đồng nhất khái niệm ngôn ngữ văn hóa và ngôn ngữ chữ viết Thứ nhất là, bởi vì, không phải mọi hình thức chữ viết đều là ngôn ngữ văn hóa, thứ hai, ngôn ngữ văn hóa không chỉ tồn tại ở hình thức viết mà còn có cả ngôn ngữ nói Ngôn ngữ văn hóa phải có chuẩn mực của nó, chuẩn mực của ngôn ngữ là hệ thống những quy phạm thực hiện bắt buộc Dĩ nhiên, khái niệm "chuẩn mực" không phải là bất biến mà có thể thay đổi được theo thời gian Sự phát triển của xã hội làm phong phú thêm cho các chuẩn mực và điều đó là điều mà xã hội quan tâm
Phương ngữ (Dialect) còn được gọi là phương ngôn hay tiếng địa phương Phương ngữ là biến dạng của ngôn ngữ văn hóa ở một địa phương cụ thể, bao gồm những nét khác biệt về ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp so với ngôn ngữ văn hóa, trong đó sự khác biệt về mặt ngữ âm là quan trọng nhất Phương ngữ được chia thành 2 nhóm đó là phương ngữ lãnh thổ và phương ngữ xã hội Phương ngữ xã hội là ngôn ngữ của một nhóm xã hội nhất định Những ngôn ngữ của các nhóm xã hội như thế khác với ngôn ngữ toàn dân chỉ ở vốn từ ngữ Phương ngữ lãnh thổ là phương ngữ phổ biến ở một vùng lãnh thổ nhất định Nó luôn là một một bộ phận của chỉnh thể một ngôn ngữ nào đó Phương ngữ lãnh thổ có những khác biệt nhất định trong cơ cấu âm thanh, trong ngữ pháp, trong hệ thống từ vựng và trong cấu tạo từ Những khác biệt này có thể không lớn lắm để cho những người ở những vùng phương ngữ khác nhau của một ngôn ngữ vẫn có thể hiểu được nhau
Phương ngữ học (Dialectology) là một bộ môn của ngôn ngữ học chuyên nghiên cứu về các phương ngữ, thổ ngữ của một ngôn ngữ nào đó Nghĩa là, phương ngữ học không chỉ nghiên cứu cô lập từng mặt cụ thể như ngữ âm, từ vựng hay ngữ pháp mà nghiên cứu tất cả các mặt hệt như nghiên cứu ngôn
Trang 13ngữ Tất nhiên, do cách định hướng, tiếp cận của từng đề tài cụ thể mà có thể nghiên cứu trong từng phạm vi, từng mặt khác nhau của phương ngữ Những biến thể của phương ngữ có quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ văn hóa và thể hiện rõ tính thống nhất và tính khác biệt Quá trình chia tách ngôn ngữ (phương ngữ) và liên kết ngôn ngữ (phương ngữ) là hai quá trình cơ bản của
sự phát triển ngôn ngữ Do đó, việc nghiên cứu các phương ngữ một cách đầy
đủ, rõ ràng từ những cứ liệu chính xác là cơ sở quan trọng trong việc tiêu chuẩn hóa về các mặt cụ thể (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, chính tả) của một ngôn ngữ cụ thể
Từ quy luật của sự hình thành ngôn ngữ và các phương ngữ nói chung, khi đi vào một ngôn ngữ nào đó, trên những biểu hiện cụ thể, người ta có thể chỉ ra rằng ngôn ngữ ấy có bao nhiêu phương ngữ và trong từng phương ngữ
ấy lại có các thổ ngữ khác nhau Tuy vậy, khi đi vào một ngôn ngữ cụ thể thì bức tranh ngôn ngữ và phương ngữ của các dân tộc không hoàn toàn đơn giản Do đó, khi lý giải một sự kiện, hiện tượng hay vấn đề trong phương ngữ học cần thiết phải sử dụng đến nhiều tiêu chí, nhiều nhân tố khách quan bên ngoài và bên trong khác nhau Nghiên cứu hiện tượng phương ngữ phải huy động các tri thức liên ngành như: dân tộc học, khảo cổ học, lịch sử và văn hóa dân gian…
Nghiên cứu phương ngữ là nghiên cứu một hiện tượng lịch sử, trong đó chiều lịch đại là chiều quan trọng nhất Trạng thái đồng đại bao chứa trong đó nhiều sự kiện, nhiều hiện tượng của lịch đại Hay nói một cách khác, lịch đại là xâu chuỗi những nhát cắt của nhiều đồng đại khác nhau Lý thuyết đồng đại và lịch đại gắn với việc nghiên cứu phương ngữ và đúng như nhận xét của nhà ngôn ngữ học Đức Jakob Grim "ngôn ngữ của chúng ta là lịch sử của chúng ta"
Sự đa dạng của tiếng Việt được thể hiện ở hai loại biến thể: phương ngữ
và thổ ngữ Song sự phân biệt và cách hiểu hai loại biến thể này chưa có sự
thống nhất trong các nhà ngôn ngữ Theo các tác giả Khái luận ngôn ngữ học
[57] phân biệt trong tiếng Việt có hai loại biến thể: một biến thể gọi là tiếng địa phương và một biến thể gọi là thổ ngữ Các tác giả cho rằng: "Khái niệm về tiếng địa phương rất linh động Khái niệm đó có thể thay đổi theo không gian, nghĩa là tùy phạm vi địa phương rộng hẹp Việc chia các tiếng địa phương
Trang 14trong một ngôn ngữ chỉ là ước lệ" [57,tr.71] Về ranh giới tiếng địa phương và thổ ngữ, các tác giả cho rằng: "không thể xem những ranh giới về đất đai giữa tỉnh, huyện cũng là ranh giới giữa các tiếng địa phương, thổ ngữ" [57, tr71].Vương Toàn chia phương ngữ thành phương ngữ lãnh thổ và phương ngữ xã hội và cho rằng: "phương ngữ lãnh thổ là những biến thể địa lý khu vực của nó Bên trong mỗi phương ngữ lại có nhiều thổ ngữ, là những biến thể của phương ngữ ở khu vực địa lý hẹp hơn như tỉnh, huyện hoặc làng." [56,
tr 275-276] Cùng chia sẻ quan điểm này là các tác giả Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Văn Tu [50] Như vậy, theo các tác giả này thì phương ngữ có tính chất khu vực, còn thổ ngữ có tính chất tỉnh, huyện, làng
Lại có những biến thể tiếng Việt ở phạm vi một tỉnh như tỉnh Thanh Hóa, Phạm Văn Hảo [21] gọi là thổ ngữ, các tác giả Trương Văn Sinh và Nguyễn Thành Thân gọi là tiếng địa phương, nhưng tác giả Hoàng Thị Châu [9] lại gọi là phương ngữ Theo Hoàng Thị Châu, phương ngữ là một khái niệm hết sức khó giải thích chính xác, "Khi nói đến một phương ngữ nào đó trong tiếng Việt, lập tức người nghe cảm thấy một cái gì mơ hồ, khó xác định, thiếu tính hiển nhiên" [9,tr 25] Nhưng cuối cùng tác giả cũng đưa ra một cách hiểu:
"Thuật ngữ phương ngữ để chỉ tiếng địa phương trong một vùng lớn như tỉnh, thành phố bao gồm nhiều thổ ngữ ở các xã thôn" [9,tr.24] Như vậy, theo Hoàng Thị Châu thì phương ngữ là những biến thể địa phương trên một vùng lớn như tỉnh, thành phố, còn thổ ngữ là những biến thể ở một phạm vi hẹp hơn như xã, thôn Tác giả khẳng định hầu hết các xã ở miền Bắc đều có các thổ ngữ riêng và "thổ ngữ là biến thể địa phương của tiếng Việt thống nhất cũng như xã thôn là một bộ phận của Quốc gia thống nhất".[9, tr.214]
Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi tiếp thu cách hiểu khái niệm và cách dùng thuật ngữ phương ngữ, thổ ngữ của tác giả Hoàng Thị Châu
1.2.2 Phương ngữ và ngôn ngữ thân thuộc
Trong ngôn ngữ học, các khái niệm phương ngữ, thổ ngữ và ngôn ngữ thân thuộc là có liên quan với nhau Vì thế, khi nghiên cứu phương ngữ, cần
có sự phân biệt các hiện tượng ngôn ngữ gần gũi ấy Ngôn ngữ thân thuộc là các ngôn ngữ có cùng một họ hay một tộc (ngữ tộc), là những ngôn ngữ cùng chung một nguồn gốc Do vậy, các ngôn ngữ thân thuộc là những ngôn ngữ
Trang 15có đặc trưng giống nhau có chung một nguồn gốc Nhưng bên cạnh đó, các ngôn ngữ này cũng có những đặc điểm khác nhau Giống như các phương ngữ trong cùng một ngôn ngữ, các ngôn ngữ thân thuộc là một trong những biểu hiện về tính đa dạng của ngôn ngữ địa lý Do đó, khi phân biệt phương ngữ với ngôn ngữ thân thuộc, ta thấy vô cùng phức tạp mà trước hết là ranh giới
của các ngôn ngữ này Bắt đầu từ luận điểm các ngôn ngữ không có đường ranh giới tự nhiên, khi bàn về việc xác định các ngôn ngữ cùng nguồn gốc,
F.de saussure nhận xét: việc xác định biên giới tự nhiên giữa các ngôn ngữ cũng khó khăn không kém gì giữa các phương ngôn: chiều rộng lãnh thổ cũng không có ý nghĩa gì Tác giả cho rằng, đường biên giới được coi như ngăn cách giữa hai ngôn ngữ cũng chỉ có thể ước định mà thôi Sự khó khăn trong việc xác định ngôn ngữ thân thuộc có nguyên nhân sau xa là do quy luật biến đổi của ngôn ngữ trong lịch sử mà điều kiện địa lý, lịch sử, chính trị, xã hội của chúng không giống nhau Bằng phương pháp so sánh lịch sử, căn cứ vào kết quả so sánh hệ thống ký hiệu và quy tắc cấu tạo các đơn vị ngôn ngữ và các tổ hợp lời nói của các hiện tượng ngôn ngữ, người ta có thể xem chúng là hai ngôn ngữ ngôn ngữ thân thuộc hay là hai phương ngữ của một ngôn ngữ Tuy vây, nhiều khi, cùng một hiện tượng ngôn ngữ nhưng ý kiến phân loại về chúng lại khác nhau
1.2.3 Các phương ngữ trong tiếng Việt và phương ngữ Nghệ Tĩnh
1.2.3.1 Các phương ngữ trong tiếng Việt
Như đã nói ở trên, phương ngữ chỉ là biến dạng của ngôn ngữ văn hóa dân tộc Phương ngữ không phải và không bao giờ trở thành một ngôn ngữ riêng biệt Tiếng Việt có bao nhiêu phương ngữ và sự khác biệt giữa các phương ngữ dựa vào tiêu chí nào? Các câu hỏi đó tưởng chừng trả lời một cách đơn giản và có thể trả lời ngay nhưng trên thực tế không hoàn toàn như vậy Ngay từ đầu thế kỷ XX, vào năm 1912, H Maspero đã chia tiếng Việt thành hai vùng: phương ngữ Bắc và phương ngữ Trung Bởi theo ông, phương ngữ Nam về cơ bản giống phương ngữ Bắc do mới có hiện tượng di dân vào thời gian sau này Phương ngữ Trung đối lập với phương ngữ Bắc do còn bảo lưu nhiều yếu tố cổ M.V Gordina và Bustov (1976) căn cứ vào hệ thống chung âm đã chia tiếng Việt ra hai vùng phương ngữ, đường ranh giới
Trang 16để chia tách chạy qua tỉnh Quảng Trị Hoàng Phê (1963) cũng chia tiếng Việt
ra phương ngữ đó là tiếng miền Bắc và tiếng miền Nam, tiếng miền Trung chỉ được xem là một chuỗi phương ngữ nhỏ có tính chất chuyển tiếp giữa hai vùng Ở một số công trình khác, khi phân chia tiếng Việt ra ba vùng phương ngữ tương ứng với Bắc Bộ, Nam Bộ và Trung Bộ nhưng ông cũng nhấn mạnh tính chất trung gian của phương ngữ Trung bộ Tác giả Nguyễn Kim Thản (1982) lại chia tiếng Việt ra 4 vùng phương ngữ: phương ngữ Bắc bộ (Bắc Bộ
và một phần Thanh Hóa), phương ngữ Trung Bắc (một phần Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh và Bình Trị Thiên), phương ngữ Trung Nam (từ Quảng Nam đến Phú Khánh) và phương ngữ Nam (từ Thuận Hải trở vào) [50] Theo Hoàng Thị Châu: "trong hai công trình nghiên cứu phương ngữ tiếng Việt của L.Cadier: ngữ âm tiếng Việt phương ngữ miền thượng Trung kỳ (1902) và phương ngữ miền hạ Trung kỳ (1911), tác giả không đề cập đến việc phân vùng tiếng Việt nói chung mà chỉ nhận xét rằng các thổ ngữ từ Huế đến phía Bắc tỉnh Nghệ Tĩnh có thể gộp chung vào một phương ngữ, còn các thổ ngữ
từ đèo Hải Vân cho đến phía Nam tỉnh Thuận Hải hợp thành một phương ngữ khác và đó là đối tượng được miêu tả ở hai cuốn sách trên" [9, tr 88] Đinh Bạt Tụy lúc đầu phân chia tiếng Việt ra ba vùng phương ngữ nhưng về sau lại phân chia thành 5 vùng: Phương ngữ miền Bắc (Bắc Bộ và Thanh Hóa), Phương ngữ Trung trên (từ Nghệ An đến Quảng Trị), phương ngữ Trung giữa (từ Thừa Thiên Huế đến Quảng Ngãi), phương ngữ Trung dưới (từ Bình Định đến Bình Tụy) và phương ngữ Nam (từ Bình Tụy trở vào) [62] Nhìn chung, ý kiến của các nhà nghiên cứu là phân chia tiếng Việt ra ba vùng phương ngữ Bắc- Trung- Nam gắn liền với vùng địa lý lịch sử cụ thể Giữa các vùng phương ngữ còn có những vùng chuyển tiếp gọi là bán phương ngữ Có thể xem phương ngữ Thanh Hóa là vùng chuyển tiếp giữa phương ngữ Bắc và phương ngữ Trung, vùng Thừa Thiên Huế là vùng chuyển tiếp giữa phương ngữ Trung và phương ngữ Nam
1.2.3.2 Phương ngữ Nghệ Tĩnh
Xét theo chiều dài lịch sử, địa danh Nghệ Tĩnh đã trải qua nhiều biến cố, nhiều cách gọi tên, lúc phân lúc hợp: có khi là một huyện, một quận, một châu, một trấn, một phủ, một trại, một thừa tuyên, một tỉnh ; có khi là hai lộ,
Trang 17hai trại, hai phủ, hai châu, hai tỉnh…nhưng nhìn chung vẫn là một Hoan Diễn ngày xưa và là Nghệ Tĩnh (xứ Nghệ) ngày nay Sự gắn bó thành một chỉnh thể địa lý hành chính cũng phản ánh sự thống nhất bên trong về tất cả các mặt: ngôn ngữ, lịch sử, kinh tế, văn hóa, phong tục…
Nghệ Tĩnh theo Phan Huy Chú, đây là nơi" Núi cao sông sâu, phong tục trọng hậu, cảnh tượng tươi sáng Gọi là đất có danh tiếng hơn cả Nam Châu" (Lịch triều hiến chương loại chí, 1960,tập 1, Nxb Sử học, Hà nội) Quả đúng như vậy, Nghệ Tĩnh không thiếu những phong cảnh đẹp đẽ, bao la, hùng tráng Hẳn đấy là ngọn nguồn câu ca dao:
"Đường vô xứ Nghệ quanh quanhNon xanh nước Biếc như tranh họa đồ"
Nhưng từ một phía khác, Nghệ Tĩnh có địa hình khá phức tạp Phía Bắc
có đèo Hoàng Mai, khe Nước lạnh ngăn cách Nghệ Tĩnh với Thanh Hóa Phía Nam là đèo Ngang vắt qua dãy núi ngang Hoành Sơn- một chi của Trường Sơn bắc lấn ra biển Đông, ngày nay là ranh giới phân chia Bình Trị Thiên nhưng trước kia là biên giới giữa Đại Việt và Chiêm Thành trong nhiều thế
kỷ Địa thế Nghệ Tĩnh rất hẹp chiều Tây- Đông núi biển song lại dày đặc chiều Nam- Bắc châu thổ Với 2/3 diện tích đất đai là núi rừng nên đứng trên đất Nghệ Tĩnh, chỗ nào cũng thấy núi Cùng với núi là đèo, sông và biển cả, chúng cố tình ngăn cách Ngệ Tĩnh với các vùng khác và chia Nghệ Tĩnh ra thành từng xứ nhỏ về địa lý Chính vì điều này, Trần Quốc Vượng đã mô hình hóa xứ Nghệ như một hình hộp, hình chữ nhật đứng được cắt ra bởi bốn hằng
số địa lý: núi- biển- sông- đèo [63] Một không gian địa lý như vậy đã hạn chế rất nhiều sự giao lưu văn hóa, ngôn ngữ và khả năng tiếp thu cái mới từ bên ngoài cũng như trong khu vực và đó là một trong những nguyên nhân làm cho Nghệ Tĩnh chậm biến đổi hơn các địa phương khác
Nhiều tư liệu lịch sử đã chỉ ra rằng vùng đồng bằng Nghệ Tĩnh là một trong những cái nôi của người Việt cổ Ngay từ thời lập nước, Nghệ Tĩnh là vùng đất cuối cùng phía Nam của nước Văn Lang- Âu lạc Qua nhiều thời kỳ quốc gia Đại Việt, Nghệ Tĩnh là "trọng trấn", là phên dậu của tổ quốc Việt Nam
Phương ngữ Nghệ Tĩnh là một tiểu vùng thuộc phương ngữ Bắc Trung
bộ Sự hình thành phương ngữ Nghệ Tĩnh gắn liền với sự hình thành phương
Trang 18ngữ tiếng Việt Vấn đề này được Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn lý giải và phân tích
một cách khá tường minh trong "Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt" Theo
ông, qua nhiều thế kỷ tiếp xúc với ngôn ngữ và văn hóa Hán, cư dân nói tiếng Việt- Mường chung đã xảy ra một sự phân hóa ngôn ngữ Nhưng ảnh hưởng của tiếng Hán không trải ra một cách đồng đều trên toàn lãnh thổ Vùng phía Bắc ảnh hưởng trước hết và sâu đậm hơn vùng phía Nam và trong mỗi vùng thì vùng đồng bằng chịu ảnh hưởng nhiều hơn vùng miền núi Quá trình phân hóa ngôn ngữ đã dược ông chỉ rõ "sự phân hóa mở đường xảy ra trước tiên ở hai vùng cực Bắc Trong khi ở phía Bắc đã hình thành hai ngôn ngữ Việt và Mường, thì ở Nghệ An, giữa miền núi và miền xuôi còn là một khối thống nhất, có một ngôn ngữ thống nhất (vốn là Việt- Mường chung, ở giai đoạn hậu kỳ của nó) Sự thống nhất này còn kéo dài thêm một thế kỷ nữa mới có sự tan rã" [8, tr 278] Sau đó sự phân hóa ngôn ngữ và ảnh hưởng của nó đã lan dần xuống phía Nam nhưng với mức độ "càng đi sâu vào dải đất hẹp Trung
bộ thì sự phân hóa càng yếu dần Vào khoảng thời Lý, có thể xem vùng ngôn ngữ ven biển Nghệ Tĩnh chỉ là vùng hơi bị Việt hóa" [8, tr 278] Theo thời gian, sự phân hóa này tiếp tục xảy ra Do đó, ở miền xuôi phía Đông, giữa Hoan Châu và Kẻ Chợ có điều kiện giao lưu đi lại dễ dàng hơn nên ảnh hưởng của phương ngữ tiếng Việt Bắc bộ lan vào khu bốn dễ dàng hơn Tiếp
đó là những đợt Nam tiến ồ ạt của dân cư Bắc bộ từ đời này sang đời khác nên vùng miền xuôi càng được Việt hóa mạnh hơn để cuối cùng có sự phân hóa thành Việt và Mường, hình thành một vùng phương ngữ Việt Như vậy, nếu như phương ngữ Bắc được hình thành từ sự biến đổi chia tách của ngôn ngữ Việt- Mường chung do ảnh hưởng của tiếng Hán, văn hóa Hán thì vùng phương ngữ khu IV lại được hình thành từ ngôn ngữ Việt- Mường chung do ảnh hưởng của tiếng Việt Bắc bộ, là "vùng Việt- Mường chung bị Việt hóa mạnh nên trở thành Việt" [8] Trong sự hình thành của phương ngữ khu IV có
sự hình thành của phương ngữ Nghệ Tĩnh, bên cạnh đó có sự hình thành của phương ngữ Thanh Hóa và phương ngữ Bình Trị Thiên Dĩ nhiên, do những đặc điểm về địa lý, lịch sử, dân cư có nhiều điểm đặc biệt như đã trình bày ở trên nên phương ngữ Nghệ Tĩnh không những có những nét khác biệt so với tiếng Việt toàn dân mà còn ngay cả đối với các phương ngữ trong vùng Có
Trang 19thể khái quát một số đặc điểm của phương ngữ Nghệ Tĩnh ở các mặt ngữ âm
và từ vựng như sau:
- Về ngữ âm:
Hệ thống thanh điệu Nghệ Tĩnh chỉ có 5 thanh, không có thanh ngã vì thanh ngã nhập với thanh nặng Các thanh điệu hỗn nhập từ thanh này sang thanh khác, thậm chí ở một số thổ ngữ còn có hiện tượng "rối loạn" thanh điệu, làm cho bức tranh thanh điệu Nghệ Tĩnh phức tạp Đặc điểm nổi bật của
hệ thống thanh điệu Nghệ Tĩnh là hệ thanh điệu trầm
Hệ thống phụ âm đầu có 22 đơn vị Dãy phụ âm quặt lưỡi có đầy đủ và phổ biến trên toàn địa bàn Phương ngữ Nghệ Tĩnh còn bảo lưu một số phụ
âm cổ của tiếng Việt như các phụ âm bật hơi [p′, k′], các tổ hợp phụ âm như [tl], [dj], [βj]… Ở một số thổ ngữ còn có sự đối ứng phụ âm đầu phương ngữ Nghệ Tĩnh và tiếng Việt văn hóa ở một số bộ phận từ vựng, trong đó có nhưng đối ứng 1-1, nhưng cũng có những đối ứng 1/hơn 1, tiêu biểu là phụ
âm đầu [ţ] Âm [ţ] Nghệ Tĩnh đối ứng với hàng loạt các phụ âm đầu trong tiếng Việt văn hóa
Hệ thống vần cái có mặt đầy đủ 124 vần Một số vần cái trong tiếng Việt văn hóa chỉ có sự hình dung lý thuyết tương ứng với sự khu biệt tối đa mà chữ Quốc ngữ thể hiện nhưng lại thực sự tồn tại khá phổ biến trong phương ngữ Nghệ Tĩnh như [∝n] (ưn), [ɤυ9] (ơu), [∝m ∝p] (ưm ưp), [ɤΝ ɤk] (ơng ớc) Phương ngữ Nghệ Tĩnh bảo lưu một cách trọn vẹn sự đối lập chặt/ lỏng ở các cặp vần [e ec] (êng êch)/ [eΝ ek] (êng êc), [Ε Εc] (anh ach)/ [ΕΝ Εk] (eng ec), [oΝm okp] (ông ôc)/ [oΝ ok] (ôông ôôc), [Ν m km] (ong oc)/ [Ν k] (oong ooc) và cả [iΝ ic] (inh ic)/ [iΝ ik] (ing ic), [uΝm ukp] (ung uc)/ [uΝ uk] (uung uuc), [ɤ(Ν ɤ(k] (âng âc)/ [ɤΝ ɤk] (ơng ơc) Ngoài ra, hàng loạt vần Nghệ Tĩnh có sự đối ứng chặt chẽ với tiếng Việt văn hóa ở một bộ phận từ vựng mà phạm vi hoạt động của nó khá rộng và phổ biến hầu khắp khu vực như: [ai9]- [∝ɤi9] (ngài- người) [ui9]- [oi9] (mui- môi), [u] - [ɤ(u9] (tru- trâu), [ i9]- [uoi9] (mói- muối), [i]- [ɤ(i9] (chí- chấy)…Nét địa phương trong
Trang 20hệ thống vần cái chủ yếu thể hiện ở các yếu tố đỉnh vần nguyên âm tính, còn như các yếu tố kết vần như bảo toàn nguyên vẹn.
- Về từ vựng
Phương ngữ Nghệ Tĩnh có vốn từ vựng hết sức phong phú, đa dạng, trong đó có những từ cổ như: chạ, chiềng, ỏi, tru, nác, min; những từ chỉ các sản vật địa phương như: lớ, cu đơ, nham, nhút, lịp, tơi…Vốn từ phương ngữ Nghệ Tĩnh có thể chia ra:
- Từ ngữ âm: lạt (nhạt), triều (chiều), đàng (đường), vưng (vừng), kháp (gặp), lộ (chỗ), mọi (muỗi)…
- Từ ngữ nghĩa: có thể phân ra các trường nghĩa khác nhau như trường nghĩa chỉ công cụ gia đình, chỉ nghề cá, chỉ ăn mặc, chỉ thời gian, chỉ màu sắc, các bộ phân cơ thể, cách xưng hô…
Về ngữ nghĩa, các phương ngữ Nghệ Tĩnh không thể đối chiếu ngữ nghĩa với tiếng Việt văn hóa một cách đơn giản Chẳng hạn, cặp từ "mần- làm", trong phương ngữ Nghệ Tĩnh "mần" không chỉ tương đương nghĩa với từ
"làm" mà còn có thể dùng như: ăn, đi, cầm, mặc, uống, sắm, gánh, chạy, đánh…Tính đa nghĩa của từ là nét đặc trưng khá nổi bật trong phương ngữ Nghệ Tĩnh
Có thể nói rằng phương ngữ Nghệ Tĩnh là một thực tế có thể làm đối tượng nghiên cứu lý tưởng cho phương ngữ học tiếng Việt xét từ bất kỳ góc
độ nào, theo bất kỳ cách tiếp cận nào đối với hiện tượng phương ngữ
1.2.4 Âm tiết và việc phân tích ngữ âm tiếng Việt
1.2.4.1 Khái niệm âm tiết
Cùng với âm tố (soud), âm tiết (syllable) là một trong hai khái niệm cơ
sở cho sự hình thành bộ môn khoa học nghiên cứu âm thanh tiếng nói loài người cũng như về cơ cấu ngữ âm của một ngôn ngữ cụ thể Trong bất cứ một công trình ngữ âm nào dù chuyên về thực nghiệm hay xác lập các đơn vị ngữ
âm, xây dựng lý thuyết âm vị học… bao giờ cũng phải làm việc với hai khái niệm, hai thuật ngữ cơ bản này Trong ngôn ngữ học đại cương, âm tiết là một đơn vị ngữ âm khá phức tạp Nó có thể được nghiên cứu và xác định hoặc là thuần túy vật chất cấu âm- âm học, hoặc từ bình diện chức năng ngôn ngữ
Trang 21học Từ đó, các nhà ngôn ngữ học đã đưa ra những khái niệm về âm tiết trên từng khía cạnh ấy.
Đối với các nhà âm vị học, âm tiết dường như chỉ là đơn vị ở vào vị trí ít được quan tâm, mà chỉ đơn giản là một đại lượng do các âm vị tổ hợp với nhau theo một quy tắc nhất định mà thành Chẳng hạn, theo Connr H và Trim Y.L.N "về mặt âm vị học tốt hơn hết là nên xem âm tiết như là một đơn vị cấu trúc, trong đó thể hiện một cách tiết kiệm nhất các khả năng tổ hợp giữa các nguyên âm và phụ âm" Còn theo R.Jakobson "âm tiết là mô hình cơ bản trong bất kỳ sự tổ hợp nào giữa các âm vị" /Dẫn theo Nguyễn Quang Hồng [23] Theo cách lập thức trên thì âm tiết hầu như không có chức năng gì khác ngoài mỗi một chức năng là làm cái tổ cho các âm vị có sẵn liên kết, tụ họp lại với nhau để tạo nên vỏ âm thanh của từ ngữ Nhưng trên thực tế, âm tiết có thể mang nhiều chức năng, song có thể quy gọn lại thành ba chức năng chính1/ Là đơn vị nhỏ nhất dùng để tạo thành lời nói và đồng thời cũng là đơn
vị nhỏ nhất để tiếp nhận lời nói thành tiếng
2/ Âm tiết là đơn vị nhỏ nhất trong cơ cấu nhịp điệu của lời nói
3/ Trong một số ngôn ngữ, âm tiết có thể có chức năng tạo lập vỏ tiếng cho các đơn vị ngôn ngữ ở cấp độ hình thái và do đó có thể được xem như một đơn vị đặc biệt của hệ thống ngữ âm Chức năng (1), (2) là phổ quát cho mọi ngôn ngữ, còn chức năng (3) chỉ có ở một số ngôn ngữ thuộc loại hình
âm tiết tính (ngôn ngữ đơn lập) như tiếng Việt
Trong các ngôn ngữ Ấn- Âu, âm vị liên quan trực tiếp đến đơn vị hai mặt- hình vị (Morpheme), còn trong tiếng Việt bức tranh âm vị hoàn toàn khác hẳn Muốn phân xuất âm vị trong tiếng Việt chúng ta phải tuân thủ những nguyên tắc của lý thuyết âm vị học Nghĩa là chúng ta phải bắt đầu từ các hình vị để phân xuất ra các âm vị Song trong tiếng Việt, hình vị lại trùng với âm tiết nên cũng chính là phân xuất từ âm tiết để phân tích ra âm vị Ranh giới ngữ âm học (âm tiết) và ranh giới hình thái học (hình vị) trùng khít nhau Người đầu tiên nghiên cứu ngôn ngữ học phương Đông thực hiện một cách
miêu tả âm vị học không có âm vị là nhà ngữ học người Nga E.D Polivanov
(1930) khi ông bắt tay miêu tả ngữ âm tiếng Hán và tiếng Nhật Ông đề ra
Trang 22khái niệm Syllabeme (âm tiết- âm vị) áp dụng cho các ngôn ngữ đơn lập có thanh điệu phương Đông như tiếng Việt, tiếng Hán…
Luận điểm mang tính chất chủ đạo của âm vị học âm tiết (Syllabemephonology)
là : coi âm tiết là đơn vị cơ bản của hệ thống ngữ âm, tức là đơn vị thuộc hệ thống ngôn ngữ E.D Polivanov gọi là Syllabeme mà có thể dịch là tiết vị (âm vị-
âm tiết) Tác giả đã coi âm tiết tiếng Hán là đơn vị ngữ âm cơ bản và đối sánh
nó với âm vị (phoneme) trong các ngôn ngữ Châu Âu E.D Polivanov nhấn mạnh đến tính độc lập và tối thiểu của chúng trong vai trò tạo lập vỏ tiếng của hình vị và trong hệ thống ngôn ngữ đó…Tư tưởng này đã ảnh hưởng lớn đến các tác giả Việt Nam như: Cao Xuân Hạo, Nguyễn Quang Hồng, Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Tài Cẩn…Nhưng có lẽ, người giải quyết vấn đề Syllabeme tiếng Việt khá triệt để là tác giả Nguyễn Quang Hồng (1994) với các luận điểm sau:
1/ Nếu như gọi âm vị là đơn vị ngữ âm tự mình có thể mang nghĩa trong ngôn ngữ thì âm vị như thế trong tiếng Việt chỉ có thể là một âm tiết nguyên vẹn.2/ Nếu như coi âm vị là một đơn vị ngữ âm nhỏ nhất làm thành tố cấu tạo nên tín hiệu ngôn ngữ thì âm vị như thể trong tiếng Việt là âm đầu và vần cái.3/ Nếu như coi âm vị chẳng qua là một chùm các đặc trưng ngữ âm để khu biệt các tín hiệu ngôn ngữ thì những âm vị tương ứng như thế trong tiếng Việt không chỉ là thanh điệu, âm đệm mà cả một số những chùm đặc trưng khác đồng thời hoặc không đồng thời thể hiện trên từng phần của Syllabeme
là phần âm đầu và phần vần cái
1.2.4.2 Vị trí âm tiết trong việc phân tích ngữ âm tiếng Việt
Trong tiếng Việt nói riêng, các ngôn ngữ đơn lập âm tiết tính nói chung, đơn vị ngữ âm quan trọng nhất là âm tiết Đó là đơn vị cơ sở để phân tích các đơn vị nhỏ hơn và lớn hơn Như ta đã biết, một đại lượng ngữ âm nào đó sẽ
có tư cách một đơn vị âm vị học chừng nào nó đảm nhận một chức năng nhất định đối với đơn vị mang nghĩa (hình vị, từ) trong một hệ thống ngôn ngữ Có hai chức năng cơ bản mà các đơn vị ngữ âm có thể đảm nhận là chức năng tạo lập (constitutive) và chức năng khu biệt (distinctive) đối với vỏ tiếng của các đơn vị mang nghĩa (tức các ký hiệu ngôn ngữ) trong một ngôn ngữ nhất định Trong tiếng Việt, thực hiện chức năng tạo lập vỏ tiếng cho các đơn vị mang
Trang 23nghĩa phải là các âm tiết nguyên vẹn, nhưng khi nói đến chức năng khu biệt vỏ
tiếng cho các đơn vị mang nghĩa trong tiếng Việt ta có thể nói đến cái đại lượng ngữ âm dưới âm tiết Trong các ngôn ngữ Châu Âu, các nhà ngôn ngữ dựa vào ranh giới hình thái học đi qua giữa các âm trong ngữ lưu để phân xuất các âm vị, nghĩa là người ta xuất phát từ hình vị để phân tích âm vị học Trong tiếng Việt, hầu hết các âm tiết đều trùng khít với hình vị, nghĩa là hình thức biểu đạt của hình vị và âm tiết là một cho nên có thể xuất phát từ âm tiết
để phân tích âm vị học
Hơn nữa, âm tiết tiếng Việt không phải là một khối đông kín, bất khả phân mà là một chỉnh thể cấu trúc từ các yếu tố nhỏ hơn Chúng ta có thể chứng minh điều này qua cách cấu tạo từ láy, hiện tượng iếc hóa, nói lái, hiệp vần…Qua những hiện tượng trên ta thấy âm tiết tiếng Việt có thể tách ra 3 bộ phận trực tiếp cấu tạo thành là âm đầu, vần và thanh điệu Phần vần cũng có thể tách ra (bằng các ranh giới ngữ âm học thuần túy) 3 yếu tố đó là âm đệm,
âm chính và âm cuối có thể hình dung các đơn vị bậc dưới âm tiết mà các nhà Việt ngữ học gọi là âm vị theo mô hình cấu tạo âm tiết sau:
âm, từ vựng và ngữ pháp trong đó nét đặc trưng ngữ âm là quan trọng nhất Mức độ dị biệt giữa các phương ngữ là không giống nhau Nghiên cứu
Âm tiết
Cấu trúc chiết đoạn
Trang 24phương ngữ là nghiên cứu liên ngành: ngôn ngữ học, dân tộc học, khảo cổ học, văn hóa dân gian…Nghiên cứu phương ngữ có kết quả sẽ là cơ sở cho việc nghiên cứu lịch sử ngôn ngữ, chuẩn hóa ngôn ngữ.
Tiếng Việt được phân chia ra 3 vùng phương ngữ khác nhau: phương ngữ Bắc, phương ngữ Bắc Trung Bộ, phương ngữ Nam Trung Bộ và Nam Bộ Giải pháp phân chia ba vùng phương ngữ hiện đang được nhiều người ủng hộ Mỗi vùng phương ngữ như thế có nhưng đặc trưng riêng về ngữ âm, từ vựng.Nam Đàn là mảnh đất đã có từ rất lâu đời, gắn liền với lịch sử hình thành
và phát triển của dải đất hình chữ S- Việt Nam Vùng đất được xem là "thiên thời, địa lợi, nhân hòa" với những nét tương đối đặc biệt về địa lý, lịch sử, cư dân, ngôn ngữ…
Tiếng Nam Đàn vừa mang đặc điểm chung của phương ngữ Nghệ Tĩnh, vừa có những màu sắc riêng so với các thổ ngữ khác
Tìm hiểu vốn từ các thổ ngữ Nam Đàn cũng thấy được sự phong phú và những nét bản sắc rất đặc trưng của phương ngữ Nghệ Tĩnh Có hàng loạt từ
cổ, từ có nguồn gốc địa phương, từ có nghĩa khác so với tiếng Việt văn hóa…qua đó có thể nhận ra nhiều thông tin thú vị
Trang 25CHƯƠNG 2:
CÁC NÉT NGỮ ÂM CỦA HỆ THỐNG VẦN CÁC THỔ NGỮ NAM ĐÀN
2.1 Nhận xét chung
2.1.1 Phần "đoạn tính" còn lại của âm tiết sau khi tách ra khỏi phụ âm
đầu được hầu hết các nhà Việt ngữ gọi là phần vần hoặc vần Nguyễn Quang Hồng (1994) gọi là "vần cái", còn thuật ngữ âm vận học Trung Hoa gọi là
"vận mẫu" Ở đây chúng tôi cũng xin gọi là vần cái theo cách gọi của tác giả Nguyễn Quang Hồng Tiếp tục phân tích âm vị học đối với phần vần cái trong
âm tiết tiếng Việt là một vấn đề không đơn giản chút nào Tư cách âm vị học của các yếu tố trong vần cái theo quan niệm âm vị học cổ điển Châu Âu là khó lòng chứng minh Với loại hình ngôn ngữ đơn lập âm tiết tính như tiếng Việt, vần cái được coi là một đơn âm vị bởi vì khó lòng xác lập được một ranh giới hình thái học dù là mờ nhạt giữa các yếu tố trong vần cái Do đó, vần cái được coi là đơn vị ngữ âm cơ bản, tương ứng với phụ âm đầu, thanh điệu và âm đệm được khảo sát với tư cách đó [30] Tuy nhiên, phần chiết đoạn này cho đến nay vẫn còn được các nhà Việt ngữ học xem xét và làm sáng tỏ Trước hết, cần phân biệt vần cái trong cấu trúc âm tiết và danh từ
"vần" đang được sử dụng rộng rãi Trong phát ngôn bình thường, không hạn định trong phong cách khoa học khoa học, "vần" được sử dụng và nhận biết khá rộng rãi và xê xích mặc dù người ta, nhìn chung đều muốn nói đến phần còn lại của âm tiết tiếp sau phần phụ âm đầu của một âm tiết Việt Thế nhưng,
hiểu như thế nào về phần thứ hai này, lại còn vấn đề Trong công trình Âm tiết
và loại hình ngôn ngữ, Nguyễn Quang Hồng đã trình bày một cách khá tường
minh về "phần thứ hai" này Theo ông, cách hiểu về "phần thứ hai" của âm tiết Việt phụ thuộc vào lời đáp "có" hay "không" cho hai câu hỏi sau đây:
a Có đưa vào phần thứ hai này yếu tố "âm đệm" hay không?
b Có tính phần thứ hai này cả thanh điệu nữa không?
Mỗi cách trả lời cho ta một trường hợp vần cụ thể cùng là cách hiểu về vần Lấy âm tiết "ngoài" là ví dụ, ta sẽ có 4 khả năng như sau:
- Có (a), có (b): oài
- Không (a), có (b): ài
Trang 26- Có (a), không (b): oai
- không (a), không (b): ai
Theo tác giả đề nghị, và trên thực tế sử dụng, một số thuật ngữ dành riêng cho vần trong trường hợp cuối cùng, khi nó biểu thị phần sau của âm tiết mà không bao hàm trong đó âm đệm và thanh điệu- đó là vần cái Nói cách khác, vần cái là đơn vị ngữ âm nằm trong cấu trúc đoạn tính của âm tiết, bắt đầu từ đỉnh âm tiết đến cuối âm tiết Vần cái cũng được gọi là khuôn vần, tương ứng với một đại lượng được trừu xuất khỏi thanh điệu ở cấp độ âm tiết,
là khuôn âm tiết [30, tr.205-206]
Như vậy, thuật ngữ vần cái của Nguyễn Quang Hồng có sự phân biệt với khái niệm vần nói chung và được hiểu là đơn vị ngữ âm cơ bản trong thành phần cấu trúc âm tiết tiếng Việt, không kể đến âm đệm và được trừu tượng hóa khỏi thanh điệu; về mặt âm vị học, vần cái bao gồm những yếu tố âm sắc được thể hiện từ đỉnh âm tiết cho đến kết thúc âm tiết Trong chương 2 của luận văn này, chúng tôi xác lập nhiệm vụ là miêu tả các nét đặc trưng phần vần trong thổ ngữ Nam Đàn, nên xin tiếp thu hoàn toàn quan điểm đó để thực hiện miêu tả cụ thể đặc trưng ngữ âm vần phần trong thổ ngữ Nam Đàn Dĩ nhiên, những thuật ngữ quen dùng trong ngôn ngữ học như phụ âm, nguyên
âm, trong những trường hợp cần thiết chúng tôi vẫn có thể sử dụng để phục
vụ cho mục đích miêu tả
Nếu như mọi âm tiết phân biệt với nhau theo thành phần phụ âm đầu gồm 22 đơn vị, thanh điệu gồm 6 đơn vị thì vần cái trong tiếng Việt văn hóa hiện đại, căn cứ vào phân biệt tối đa mà chữ quốc ngữ đã phản ánh và căn cứ vào thực tế của vùng thổ ngữ Nam Đàn, chúng tôi thống kê được 159 vần Số lượng vần cái trong tiếng Việt văn hóa có thể xê xích tùy theo từng tác giả nhưng nhìn chung sự sai biệt về số lượng là không lớn lắm
Vần cái là một thành phần chính, trực tiếp của âm tiết Theo quan niệm của ngữ âm học truyền thống, một âm tiết tồn tại và được nhận biết là nhờ một (hay vài) cấu âm cơ sở có tác dụng tạo nên phần đỉnh ở cấu trúc âm thanh Ở phần đỉnh này, tính vang được thể hiện tập trung nhất là do các yếu
tố nguyên âm tính đảm nhiệm "Trong phần lớn các ngôn ngữ trên thế giới, nguyên âm là loại âm vị duy nhất có thể làm đỉnh âm tiết, không có một ngôn
Trang 27ngữ nào mà các nguyên âm lại không đảm nhiệm chức năng đỉnh âm tiết" [60, tr.201] Trong tiếng Việt nói chung, các thổ ngữ Nam Đàn nói riêng, yếu tố nguyên âm tính xét về mặt phân bố là nằm ở vần cái Do đó, vần cái trong âm tiết có chức năng làm dấu hiệu khu biệt các tín hiệu ngôn ngữ lớn hơn phụ âm đầu và thanh điệu.
2.1.2 Trong các thổ ngữ Nam Đàn cũng như tiếng Việt văn hóa hiện đại, nếu có một âm tiết được kết thúc bằng chính nguyên âm tạo đỉnh, thì vần cái của âm tiết đó có cấu âm đơn giản, được coi là vần cái đơn, chúng tôi gọi tắt
là vần đơn Theo cách mô tả của ngữ âm học đại cương thì các âm tiết có các vần đơn như thế đều thuộc loại âm tiết mở Do đó, vần đơn cũng có thể gọi là vần mở Tuy nhiên, phần lớn các âm tiết trong thổ ngữ Nam Đàn và trong tiếng Việt văn hóa đều có cách kết thúc phức tạp, nghĩa là sau khi đạt đến đỉnh độ vang của âm tiết, bộ máy cấu âm không giữ nguyên như thế để kết thúc mà chuyển sang hướng khép lại dần Như thế, vần cái trong những âm tiết đó có thể gọi là vần phức Trong nội bộ vần phức, căn cứ vào sự tương phản giữa đỉnh vần có tính nguyên âm với kết phần có tính phụ âm (bao gồm
cả phụ âm và bán phụ âm), ta lại có thể tiếp tục xác lập:
1/ Có sự tương phản giữa đỉnh vần nguyên âm và kết vần là bán phụ âm,
ta có vần phức nửa mở
2/ Có sự tương phản giữa đỉnh vần nguyên âm với kết vần là phụ âm, ta
có các vần phức khép Trong các vần phức khép, dựa vào tiêu chí mũi hay không mũi (miệng) của kết vần ta có các vần khép- tắc- mũi, còn gọi là nửa khép và khép- tắc- miệng gọi là thực khép Như vậy, vần cái trong các thổ ngữ Nam Đàn và trong tiếng Việt văn hóa, ngoài những đặc trưng âm thanh khác nhau thể hiện chủ yếu ở đỉnh vần còn có những nét khu biệt biệt thể hiện
ở cách kết thúc vần (kết vần) Một cách hình dung đơn giản tiện cho việc mô
tả ngữ âm vần cái một phương ngữ nhằm làm nổi bật một cách tự nhiên nhất các biến thái địa phương được coi là vần phức (nửa mở, nửa khép và khép) như là một tổ hợp gồm 2 chùm nét khu biệt: một chùm nét nguyên âm tính gọi
là đỉnh vần và một chùm nét phụ âm tính được gọi là kết vần Vần cái có kết cấu thì kết vần được thể hiện như 1 phụ âm tắc- khép hay một bán phụ âm khép Trong trường hợp những vần có đỉnh vần và kết vần còn có một chùm
Trang 28nét có tác dụng khu biệt giữa các vần chặt với các vần lỏng Nguyễn Bạt Tụy gọi đó là độ chạm Theo tác giả, trong những âm tiết khác nhau có những phụ
âm cuối khép mạnh, có những phụ âm cuối khép yếu Với cách kết thúc âm tiết thứ nhất "phụ âm xuất hiện vào lúc quá trình cấu âm của nguyên âm chưa đạt đến độ cao điểm trên đường cong đi lên rồi đi xuống bình thường của nó" [52, tr.275] Nguyên âm do đó ngắn lại, còn trường độ của phụ âm cuối lớn hơn bình thường Điều này đã được chứng tỏ qua các công trình thực nghiệm của M.V.Gordina (1960) Cách tiếp nối giữa các nguyên âm đỉnh vần với các phụ âm kết vần như vậy gọi là kết hợp chặt Ngược lại, với cách kết thúc âm tiết thứ 2, "quá trình cấu âm nguyên âm đã kết thúc hoàn toàn trước khi bắt tay vào phụ âm" [52, tr.275] Cách tiếp nối giữa nguyên âm đỉnh vần và phụ
âm kết vần như vậy gọi là tiếp hợp lỏng Hay nói gọn lại, lỏng là các vần có đỉnh vần dài và kết vần ngắn, chặt là các vần có đỉnh vần ngắn, kết vần dài.Trong vần cái, yếu tố nguyên âm tính là yếu tố bắt buộc nhưng không phải bao giờ vần cái cũng chỉ có mỗi yếu tố nguyên âm tính mà có thể còn có các yếu tố khác Yếu tố nguyên âm tính gánh vác trọn vẹn chức năng tạo đỉnh
âm tiết Do đó, khi miêu tả ngữ âm vần cái các thổ ngữ Nam Đàn, cần phải chú trọng miêu tả các đặc điểm của cái gọi là tổ hợp nguyên âm hay nguyên
âm trong vần cái Muốn làm được điều đó, cần phải xác lập những tiêu chí ngữ âm cơ bản để khu biệt các yếu tố nguyên âm chính trong vần cái tiếng Nam Đàn
Theo ngữ âm học đại cương, thuộc tính của các yếu tố nguyên âm là các
âm được cấu tạo bởi các khoang cộng hưởng ở vùng miệng cùng với cách luồng hơi thoát ra ngoài không hề gặp một chướng ngại nào Xét về bản chất
âm học, luồng hơi từ phổi đi ra qua vùng thanh quản được phủ đặc trưng tính thanh và được cấu tạo theo nguyên tắc các phổ có cấu trúc hài âm Các âm này chỉ bao gồm tiếng thanh vì có sự tham gia của dây thanh "Trong ngôn ngữ, các nguyên âm về bản chất âm học là tiếng thanh" [52, tr.29]
Để xác lập các nguyên âm đỉnh vần trong các thổ ngữ Nam Đàn, chúng tôi dựa vào 3 tiêu chí cơ bản là độ nâng, vị trí của lưỡi và dáng môi Tiêu chí
độ nâng của lưỡi cho ta biết các khoảng cách khác nhau của bề mặt lưỡi so
Trang 29với vòm miệng, từ đó xác định thể tích khoang cộng hưởng miệng Hệ quả là các nguyên âm được phân biệt với nhau theo âm sắc và âm lượng
Trong thực tế phát âm, độ nâng của lưỡi thường kéo theo đặc điểm về độ
mở của miệng và giữa chúng có một sự tương hợp nên một số tác giả đã gắn độ nâng của lưỡi và độ mở của miệng thành một thuật ngữ chung gọi là (độ mở).Dựa vào tiêu chí độ nâng của lưỡi, chúng tôi phân biệt các nguyên âm trong tiếng Nam Đàn theo 3 độ nâng:
- Độ nâng cao, khoang cộng hưởng miệng hẹp [i] (i), [∝] (ư), [u] (u)
-Độ nâng vừa, khoang cộng hưởng miệng hơi hẹp [e] (ê), [ɤ] (ơ), [o] (ô)-Độ nâng thấp, khoang cộng hưởng miệng rộng [Ε] (e), [α] (a), [ ] (o)Tuy nhiên trong thực tế, [α] có thể thấp hơn [Ε] và [ ]
Tiêu chí vị trí của lưỡi tức là quan tâm đến vị trí của lưỡi theo chiều trước, giữa, sau dọc theo khoang miệng Theo tiêu chí này, chúng tôi phân chia các nguyên âm tiếng Nam Đàn làm hai loại: nguyên âm dòng trước [i], [e], [Ε]; nguyên âm dòng sau [∝], [ɤ], [α], [u], [o], [ ] Tiêu chí dáng môi, ta
có các nguyên âm tròn môi như [u], [o], [ ], các nguyên âm không tròn môi như [∝], [ɤ], [α]
Ở mỗi dòng trước, sau - không tròn môi và sau - tròn môi đều có một nguyên âm phân biệt với các nguyên âm khác bằng một đặc trưng động trong cấu âm, đó là hoạt động chuyển sắc Đó là các trường hợp mà lâu nay ta vẫn gọi là nguyên âm đôi : [ie] (ia), [∝ɤ] (ươ), [uo] (ua) Kết hợp các tiêu chí cơ bản trên đây để phân biệt các yếu tố nguyên âm tính trong vần cái tiếng Nam Đàn ta có bảng sau:
Bảng 2.1 Các yếu tố nguyên âm tính trong vần cái tiếng Nam Đàn
Trang 30Trong những vần phức (nửa mở, nửa khép, khép) ta thấy kết thúc vần cái đồng thời cũng là kết thúc âm tiết là do các yếu tố phụ âm tính (bao gồm các phụ âm và bán phụ âm) đảm nhiệm Trong cấu trúc âm tiết tiếng Việt, các yếu
tố này là một bộ phận của vần cái và do đó có cương vị khác với phụ âm đầu vốn là đơn vị ngang cấp với vần cái có tư cách là thành tố trực tiếp cấu tạo âm tiết Tuy nhiên, để tiện cho việc miêu tả vần cái các thổ ngữ Nam Đàn chúng tôi tách yếu tố kết vần là phụ âm có thể hình dung như là sự sao phỏng một cách không đầy đủ một số phụ âm đầu có trong hệ thống phụ âm đầu trong tiếng Việt Theo Cao Xuân Hạo: "các chung âm phụ âm tính đều là những âm tắc (hoặc vô thanh hoặc mũi), không có giai đoạn mở ra (''nổ'') vì quá trình cấu âm bao giờ cũng châm dứt ngay ở giữa hay ở cuối giai đoạn tắc, thành thử gọi là âm song các chung âm này nếu xét riêng âm đoạn được coi là của nó không hề có chút hiệu quả âm thanh nào, đó chỉ là một khoảng im lặng tuyệt đối" Dẫu biết vậy, nhưng để tiện cho việc miêu tả vần cái tiếng Nam Đàn và cũng có thể áp dụng cho các phương ngữ khác, chúng tôi chọn giải pháp phân chia các yếu tố kết vần thành 5 cặp đồng vị dựa vào một đặc điểm về phương thức là lối thoát không khí sau khi đã hình thành chướng ngại để kết thúc vần cái (và cũng là kết thúc âm tiết) Nếu yếu tố kết thúc bằng cách luồng hơi thoát ra ngoài qua khoang miệng, ta có các kết vần tắc- miệng (hay tắc- vô thanh) Nếu yếu tố kết thúc bằng cách luồng hơi thoát ra ngoài khoang mũi, ta
có các kết vần tắc- mũi (hay tắc- vang) Nếu chấp nhận giải pháp này, chúng
ta sẽ xác lập được các đối tượng làm nhiệm vụ kết thúc vần cái trong tiếng Nam Đàn và cả trong tiếng Việt văn hóa
Trang 31Bảng 2.2 Các yếu tố kết vần trong vần cái tiếng Nam Đàn
Gần đây, dựa vào một cách miêu tả về ngữ âm tiếng Việt và hệ thống vần cái tiếng Việt của Nguyễn Quang Hồng [30], Nguyễn Phương Trang [58] lần đầu tiên đã lấy hệ thống vần cái tiếng Việt làm đối tượng nghiên cứu riêng cho một luận án khoa học, theo tác giả là để "bù đắp vào một chỗ trống mà lẽ
ra phải có trong sự hình dung lý thuyết về ngữ âm tiếng Việt" [58, tr.19]
Ở chương này, chúng tôi lấy hệ thống vần cái tiếng Nam Đàn làm đối tượng khảo sát, miêu tả Có điều, sự miêu tả vần cái tiếng Nam Đàn bao giờ cũng được đặt trong sự so sánh đối chiếu với hệ thống vần cái phương ngữ Nghệ Tĩnh nói riêng và tiếng Việt văn hóa và các phương ngữ khác nói chung Cũng như Nguyễn Phương Trang, khi phân tích và trình bày về hệ thống vần cái (của tiếng Nam Đàn và cả tiếng Việt văn hóa), chúng tôi sẽ sử dụng hệ thuật ngữ và cách thức mô tả của Nguyễn Quang Hồng thể hiện trong cuốn" Âm tiết và các loại hình tiếng ngôn ngữ" [30]
Trang 32Về mặt cấu tạo, vần cái tiếng Nam Đàn có cấu tạo giống vần tiếng Việt văn hóa Vần cái tiếng Nam Đàn là một phức thể bao giờ cũng chứa một yếu
tố nguyên âm tính ở đỉnh vần và các yếu tố phụ âm tính là nhiệm vụ kết thúc vần (kết vần) Nhưng về mặt âm vị học và ngữ âm học, vần cái tiếng Nam Đàn có nhiều nét riêng biệt địa phương Khác với phương ngữ Bắc Bộ, tiếng Nam Đàn phân biệt các vần iu/ưu, iêu/ươu, tận dụng các vần ưn/ưt và bảo lưu được một cách tiếp hợp lỏng ở các vần oong/ooc, ôông/ôôc, eeng/êc, êng/ec, ơng/ơc Ngoài ra, nếu như ở tiếng Việt văn hóa và các vùng phương ngữ khác, các cặp vần inh/ich, ung/uc là các vần chặt thì trong tiếng Nam Đàn đó
là các vần lỏng tương ứng ing/ic, uung/uuc Khác với phương ngữ Nam Bộ, vần cái trong tiếng Nam Đàn gần như lưu giữ trọn vẹn các yếu tố phụ âm tính
ở kết vần Tiếng Nam Đàn có số lượng vần cái hết sức phong phú, nếu như ở tiếng Việt văn hóa và các phương ngữ khác, số lượng vần có trong thực tế là
ít hơn nhiều so với số lượng vần (124 vần) được hình dung trong lý thuyết thì
ở tiếng Nam Đàn số lượng vần đạt đến mức tối đa Trong tiếng Nam Đàn các vần ưn, ơu, ơng và cặp vần ưm/ưp vừa có trong hệ thống vừa có trong thực tế phát âm Các vần [ɤυ9] (ơu), [ɤ] (ơng) có giá trị âm vị học vì chúng có tư cách âm vị như những vần khác trong hệ thống Vần [ɤυ9] có trong từ "phơu"
và từ ghép "phơu bở", vần [ɤ] có trong từ "bờng" tồn tại ở cách phát âm của một số người già ở một số xã chín Nam
Trong thực tế phát âm, vần cái trong các thổ ngữ Nam Đàn có những vần khác biệt rất lớn so với tiếng Việt văn hóa và các phương ngữ khác Nhìn chung, sự thể hiện vần cái ở các thổ ngữ đều có đặc điểm của lối cấu âm của vần cái trong phương ngữ Bác Trung Bộ nhưng được thể hiện một cách cực đoan và hết sức đa dạng so với phương ngữ Bình Trị Thiên và phương ngữ Thanh Hóa, có sự khác biệt đáng kể so với vần cái tiếng Việt văn hóa Các biến thể địa phương thể hiện trong thực tế phát âm được thể hiện chủ yếu ở yếu tố đỉnh vần nguyên âm tính
Ngoài ra, trong các phát âm của người Nam Đàn, một bộ phận vần của tiếng Việt văn hóa còn tại tại một số biến thể địa phương ở một số bộ phận từ vựng Tương ứng giữa biến thể địa phương với vần cái tiếng Việt văn hóa có
Trang 33khi là 1/1 nhưng trong nhiều trường hợp có sự tương ứng 1/ hơn 1 Các biến thể địa phương ở một bộ phận vần cái cũng được thể hiện chủ yếu ở yếu tố nguyên âm tính làm đỉnh vần.
Do các yếu tố đỉnh vần và các yếu tố kết vần có quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau thành một chỉnh thể, tuy nhiên trong quá trình mô tả, nhằm chỉ ra các nét biến thể địa phương của vần cái các thổ ngữ Nam Đàn, chúng tôi tạm tách riêng các yếu tố đỉnh vần và kết vần; tức là mô tả từ hai phía: từ phía đỉnh vần và từ phía kết vần Chúng tôi cố gắng mô tả các đặc trưng ngữ âm của đỉnh vần và kết vần, mối quan hệ giữa đỉnh vần và kết vần trong các loại vần khác nhau Ở chương này, chúng tôi cố gắng trình bày các nét địa phương
ở vần cái được thể hiện qua các thổ ngữ vùng Nam Đàn trong sự so sánh đối chiếu với hệ thống vần cái tiếng Việt văn hóa Những vần địa phương đang tồn tại ở một số bộ phận từ vựng thì những biến thể địa phương được xác lập trong sự tương ứng với các vần của tiếng Việt văn hóa Cuối cùng, chúng tôi
cố gắng xác lập đường đồng ngữ tiêu biểu ở vần cái Nam Đàn
2.2 Mô tả ngữ âm hệ thống vần các thổ ngữ Nam Đàn
Để thấy được sự đa dạng và phức tạp của các vần cái thổ ngữ Nam Đàn, chúng tôi sẽ tiến hành so sánh đối chiếu vần cái của tiếng Nam Đàn qua các thổ ngữ với vần cái của tiếng Việt văn hóa theo từng loại vần, qua đó xác lập một hệ thống vần chung cho thổ ngữ Nam Đàn
2.2.1 Các yếu tố nguyên âm tính ở đỉnh vần
2.2.1.1 Vần mở
Vần mở là những vần kết thúc bằng yếu tố nguyên âm tính, hay còn gọi
là "vần có chung âm zêrô" Do cách cấu tạo đơn giản, kết thúc vần có đặc trưng thực sự nguyên âm tính nên vần mở cũng có thể gọi là vần đơn
Trong tiếng Việt văn hóa hiện đại có 12 vần mở được chữ quốc ngữ ghi lại là i (y), ê, e, ư, ơ, a, u, ô, o, ia, ưa, ua trong đó có 3 vần cuối là những vần chuyển sắc Tiếng Nam Đàn cũng có 12 vần mở Có thể hình dung hệ thống vần mở trong tiếng Nam Đàn qua bảng sau:
Trang 34Bảng 2.3 Hệ thống vần nửa mở tiếng Nam Đàn
Nhìn chung, cách thể hiện hệ thống vần mở trong tiếng Nam Đàn không
có khác biệt nhiều lắm so với hệ thống vần mở tiếng Việt văn hóa Các nguyên âm trong vần mở có những nét địa phương sau đây:
* Các nguyên âm dòng trước
- Vần [i], ngoài cách thể hiện giống như vần [i] tiếng Việt văn hóa, trong tiếng Nam Đàn, vần [i] còn được phát âm theo cách địa phương Ở các thổ ngữ Vân Diên, Nam Anh, Nam Thanh, vần [i] được phát âm thành một nguyên âm chuyển sắc [ei] Cách cấu âm được bắt đầu bằng động tác lưỡi nâng vừa, vị trí của lưỡi phía trước như cấu âm [e], sau đó lưỡi tiếp tục nâng cao như cách cấu âm [i] và kết thúc ở đó
Ví dụ: [cei6] chị (em)
[zei2] dì (dượng)[dei1 t∪ei1] đi thiVần [i] trong tiếng Nam Đàn còn tương ứng với các vần [ɤι9], [ɤ(ι9], [ai9], [α(ι9] trong tiếng Việt văn hóa
Tương ứng [i]- [ɤι9]
[mi2]- [mɤι5] mì - mớiTương ứng [i]- [ɤ(ι9]
[ci5] - [cɤ(ι95] (con) chí- (con) chấy[zi1] - [zɤ(ι95] di (khoai) - dây (khoai) Tương ứng [i] - [ai9]
[fi6] - [fai69] phị - phải[li6] - [lai69] lị - lại
Trang 35đi, mày có mời mới đi).
- Vần [e], ở một số thổ ngữ, vần [e] có hai biến thể phát âm:
+ Ở các thổ ngữ Vân Diên, Nam Thanh, Nam Anh [e] được thể hiện thành một nguyên âm chuyển sắc Bắt đầu cấu âm, lưỡi nâng cao, đầu lưỡi đưa ra phía trước như cấu âm [i], sau đó hạ thấp độ nâng ở mức vừa như cấu
âm [e] Đây là một nguyên âm lướt từ độ mở hẹp sang hơi hẹp
[tie2] thề (thốt)[zie1] (con) đê[ie4] (con) rể+ Ở các thổ ngữ Nam Nghĩa, Nam Tân, Nam Hưng [e] được thể hiện thành nguyên âm lướt [Εe] Quan sát người Nam Đàn phát âm vần [e] chúng tôi thấy có hiện tượng cấu âm bắt đầu bằng một động tác lưỡi nâng thấp như cấu âm [Ε], sau đó lưỡi nâng dần lên vừa như cấu âm [e] Đây là nguyên âm chuyển sắc có độ mở hẹp dần
Ví dụ: [dΕe1] (bờ) đê
[kwΕe1] quê (quán)Vần [e] trong tiếng Nam Đàn còn tương ứng với vần [Ε], [ie] trong tiếng Việt văn hóa
Tương ứng [e] - [Ε]
[me6] - [mΕ6] mệ - mẹTương ứng [e] - [ie]
[te1] - [kie1] (bên) tê - (bên) kia[te2] - [kie2] (đó) tề - (đó) kìaCác tương ứng trên chỉ tồn tại trong vài ba từ nhưng phổ biến ở hầu hết các thổ ngữ
Trang 36Chẳng hạn: [mΕ1] - [be1] (con) me - (con) bê
Tương ứng này tồn tại trong một từ nhưng hầu hết ở các thổ ngữ
* Các nguyên âm dòng sau - không tròn môi
- Vần [∝]
Hầu hết ở các thổ ngữ, vần [∝] được thể hiện như vần [∝] trong tiếng Việt văn hóa Riêng các thổ ngữ Nam Anh, Nam Thanh, Vân Diên vần [∝] được thể hiện thành [ɤ] Ở đây có chuyển dịch nguyên âm cùng dòng (dòng sau- không tròn môi) nhưng có sự khác biệt về độ nâng: từ độ nâng cao [∝] sang độ nâng vừa [ɤ]
Ví dụ: [ɤ2] nhừ (tử)
Trong tiếng Nam Đàn và tiếng Việt văn hóa, một số đơn vị từ vựng hiện đang tồn tại hai cách phát âm: ờ/ừ, hờ/hừ, hở/hử, thơ/thư, (cái) lờ/(cái) lừ, (chứng) cớ/ (chứng) cứ…và chiều ngược lại: giừ/giờ, mự/mợ…
Ở các thổ ngữ Chín Nam, vần [∝] được thể hiện thành [ɤ∝] Đây là vần
có cấu âm bổ sung Cách phát âm bắt đầu bằng một động tác [ɤ] hàng sau, hơi hẹp như một âm lướt, sau đó mới đến động tác của một nguyên âm hàng sau, hẹp [∝]
Trang 37âm thành [a] Quan sát cách phát âm của người vùng này ta thấy khi phát âm vần [ɤ], mặt lưỡi hạ thấp xuống sát hàm dưới, miệng mở rất rộng.
[ma1] mơVần [ɤ] Nam Đàn còn tương ứng với vần [∝], [∝ɤ] tiếng Việt văn hóaTương ứng [ɤ] - [∝ɤ]
[ɤ6] - [∝ɤ6] nhợ - nhựa[tɤ6] - [ t∝ɤ6] tợ (như) - tựa (như)Tương ứng này chỉ tồn tại trong vài ba từ và chỉ phổ biến ở một số thổ ngữ Nam Đàn
- Vần [a]
Vần [a] có hai biến thể địa phương:
+ Ở các thổ ngữ Nam Nghĩa, Nam Hưng, Nam Tân, Nam Xuân, vần [a] được thể hiện thành [ɤ] Đây là cách phát âm có sự chuyển dịch các nguyên
âm cùng dòng nhưng thay đổi độ nâng của lưỡi, từ độ nâng thấp sang độ nâng vừa
[ɤ2] nhà (cửa)+ Ở các thổ ngữ Vân Diên, Nam Anh, Nam Thanh, vần [a] được phát âm thành [ ] Ở đây có sự dịch chuyển giữa các nguyên âm cùng dòng nhưng khác nhau về dáng môi, từ không tròn môi thành tòn môi, và có hiện tượng kéo dài về trường độ
[b 2] (ông) bàVần [a] Nam Đàn còn tương ứng với vần [∝ɤ] trong tiếng Việt văn hóa
Ví dụ: [la4] - [l∝ɤ4] lả - lửa
[a5] - [∝ɤ4] ngá - ngứa
∝ɤ] - [a]
Trang 38Ví dụ: [v∝ɤ6] - [va6] vựa (mồ hôi) - vã (mồ hôi)
[∝ɤ6] - [a6] (phân) rựa - (phân) rãNếu tính cả hai chiều thì tương ứng này tồn tại trong 10 từ và hầu hết ở các thổ ngữ
* Các vần nguyên âm dòng sau tròn môi
- Vần [u]
Trong cách phát âm của người Nam Đàn, vần [u] không có gì khác biệt
so với vần [u] tiếng Việt văn hóa Trong tiếng Nam Đàn, vần [u] còn tương ứng với vần [ɤ(υ9] tiếng Việt văn hóa
Chẳng hạn: [zu1] - [zɤ(υ9:] (con) du - (con) dâu
[bu1] - [bɤ(υ9:] (quả) bù - (quả) bầuTương ứng [u] - [ɤ(υ9] hiện còn tồn tại trong 13 từ và phổ biến ở hầu hết các thổ ngữ Tương ứng [u] - [ɤ(υ9] cũng có thể tìm thấy trong các phương ngữ Bình Trị Thiên Theo Võ Xuân Trang, tương ứng này cũng "phổ biến toàn vùng Bình Trị Thiên" [59,tr 122]
So sánh:
Cách phát âm vần mở [u] trong tiếng Nam Đàn có thể tìm thấy ở tiếng Việt thế kỷ XVII Trong từ điển của A.de Rhodes có 4 trường hợp vần nủa
mở [ɤ(υ9] được ghi bằng [u]: "cu" (câu) "bồ cu" (bồ câu), chim cu (chim câu), cu liêm (câu liêm) [1, tr.47,136]
Lên đến thế kỷ XV - XVI, trong "An Nam Dịch ngữ", theo Vương Lộc
vẫn còn vần [u] như "du" (dâu), "cu" (câu), "trú" (trấu) So sánh tiếng Việt với tiếng Mường, tiếng Mường với tiếng Chứt Pọng, Nguyễn Tài Cẩn đi đến nhận định: có sự tương ứng giữa vần [u] với tổ hợp  + âm cuối Việt và "vần mở
Trang 39[u] là nguồn gốc của vần âu ở các từ trâu, trầu, sâu, gấu" [8,tr.187] Như vậy, vần [u] Nam Đàn là hình thái của vần [ɤ(υ9] ít nhất từ thời ngôn ngữ Việt - Mường.
- Vần [o]
Hầu hết các thổ ngữ, vần [o] được phát âm như tiếng Việt văn hóa Ở các thổ ngữ Vân Diên, Nam Anh, Nam Thanh, vần [o] được thể hiện hiện thành [ ] Ở đây có sự chuyển dịch của các nguyên âm cùng dòng (dòng sau - tròn môi) nhưng thay đổi độ nâng của lưỡi: từ độ nâng vừa sang độ nâng thấp
[k 6] (xe) cộVần [o] Nam Đàn còn tương ứng với vần [u] tiếng Việt văn hóa
Tương ứng [mo4] - [mu4] mổ (chuối) - mủ (chuối)
[ko4] - [ku4] cổ (chuối) - củ (chuối)[ko6] - [ku3] (áo) cộ - (áo) cũ
Tương ứng này chỉ tồn tại trong một số từ nhưng ở hầu hết các thổ ngữ
- Vần [ ]
Ở một số thổ ngữ, vần [ ] có các biến thể đại phương sau đây:
+ Ở các thổ ngữ Vân Diên, Nam Anh, Nam Thanh, vần [ ] được phát âm thành một nguyên âm lướt [ Ε] Bắt đầu phát âm, lưỡi nâng thấp, vị trí của lưỡi ở phía sau khoang miệng, dáng môi tròn như cấu âm [ ], sau đó lưỡi vần giữ nguyên độ nâng nhưng đầu lưỡi lại di chuyển ra phía trước khoang miệng như cấu âm [Ε]
Ví dụ: [c Ε5] (con) chó
[d Ε2] (qua) đò[b Ε2] (con) bò+ Ở các thổ ngữ còn lại, vần [ ] được thể hiện thành nguyên âm chuyển sắc [uo] Cách phát âm này bắt đầu bằng nguyên âm ở vị trí cao nhất [u] rồi lướt nhẹ sang và hạ dần đầu lưỡi xuống một vị trí thấp hơn [o]
[buo2] (con) bò[vuo2] (cái) vò
Trang 40Vần [ ] Nam Đàn còn tương ứng với các vần [uo] của tiếng Việt văn hóa.Tương ứng [ ] - [uo]
[l 5] - [luo5] ló -lúaTương ứng này chỉ tồn tại trong một từ nhưng phổ biến ở hầu hết các thổ ngữ
* Vần các nguyên âm chuyển sắc
Các nguyên âm chuyển sắc Nam Đàn đều có hai biến thể địa phương:
Tương ứng [ie] - [Ε], [∝ɤ] - [a], [ou] - [ ] chỉ tồn tại trong một bộ phận
từ vựng kiểu ẻ/ỉa, lả/lửa, ná/nứa, ngá/ngứa, ngả/ngửa, ló/lúa và được phát âm khs bảo thủ ở hầu hết các thổ ngữ
Ở các thổ ngữ Nam Anh, Nam Thanh, Vân Diên, các vần nguyên âm chuyển sắc đều được phát âm thành vần có nguyên âm thuần sắc, độ nâng của lưỡi thấp hơn: [ie] thành [e], [∝ɤ] thành [ɤ], [ou] thành [o]
Ví dụ: Vần [ie] > [e]
[me5] (cây) mía[ce1] (ăn) chiaVần [∝ɤ] > [ɤ]
[mɤ:] mưa (dầm)[kɤ6] (cái) cưaVần [ou] > [o]
[lo5] (bông) lúa[do5] (đôi) đũaCác biến thể địa phương vầm mở có thể hình dung bằng sơ đồ sau:
ε
∝
∝ɤɤa
υυοο