Sự khác biệt giữa các thổ ngữ NghiLộc với các thổ ngữ khác trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh chủ yếu là yếu tố thanh - Nghiên cứu thanh điệu Nghi Lộc góp phần cung cấp cứ liệu phơng ngữ đểnghiên
Trang 1Lời cảm ơnM
ảnh đất Nghi Lộc từ xa đến nay với bao thăng trầm đổi thay đã tạodựng nên một địa thế ổn định và vững mạnh nh ngày nay Và điều đặcbiệt Nghi Lộc có giọng nói rất riêng không thể lẫn với các địa phơngkhác của Nghệ Tĩnh nói riêng, cả nớc nói chung Chính tính chất đặcbiệt này của giọng Nghi Lộc đã khiến cho nhiều nhà ngôn ngữ học
quan tâm khai thác và nghiên cứu Với đề tài: " Miêu tả đặc trng ngữ
âm hệ thống thanh điệu Nghi Lộc" chúng tôi cũng không ngoài mục
đích tìm hiểu, thẩm nhận diện mạo sắc thái tiếng nói Nghi Lộc; Qua
đó giúp cho mọi ngời hiểu rõ hơn về giọng Nghi Lộc với những đặc
điểm riêng biệt của nó
Để hoàn thành khoá luận này, ngoài sự cố gắng phấn đấu củabản thân, tôi còn đợc sự hớng dẫn tận tình của thầy giáo Nguyễn HoàiNguyên, sự góp ý chân tình của các thầy cô giáo trong khoa Ngữvăn
Qua đây tôi xin bày tỏ tấm lòng biết ơn đối với thầy giáoNguyễn Hoài Nguyên - ngời trực tiếp hớng dẫn tôi trong thời gian qua,
đồng thời tôi cũng xin chân thành cảm ơn tới các thầy cô giáo trongKhoa Ngữ văn - Trờng Đại học Vinh và bạn bè sinh viên giúp đỡ,góp ý để tôi hoàn thành khoá luận này
Vinh, tháng 5 - 2003
Sinh viên: Lê Thị Thanh Nga Lớp 40A1 - Văn
Trang 2Mục lục
Trang
Mở đầu
1.3.1 Vài nét về địa lý, lịch sử và dân c Nghi Lộc 15
Trang 3Tµi liÖu tham kh¶o 49
Trang 4Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài.
1.1 Phơng ngữ Nghệ Tĩnh đã đợc nghiên cứu từ lâu Ngay từ những năm đầuthế kỷ XX, phơng ngữ Nghệ Tĩnh đã đợc nhắc đến trong các công trình củaCadièreL (1902-1911), H.Maspe'ro (1912) Trong công trình "Nghiên cứu về ngữ
âm lịch sử Tiếng Việt, các phụ âm đầu ", H.Maspe'ro đã dẫn các thổ ngữ Ca Xá,
Nho Lâm (Diễn Châu), Yên Dũng (Hng Nguyên) thuộc tỉnh Nghệ An Sau đó,nhiều t liệu trong các thổ ngữ Nghệ Tĩnh đã đợc dùng làm cứ liệu cho việc nghiêncứu lịch sử tiếng Việt và phơng ngữ Việt Đáng chú ý là các công trình của các tácgiả M.B Emeneau (1951), L.C Thompson (1965), M.B Gordina (1984),N.Xsoklovxkaia (1978), M.Ferlus (1991), Hoàng Thị Châu (1989), Nguyễn TàiCẩn (1995)
1.2 Nghi Lộc là một địa phơng có giọng nói khá đặc biệt trong Nghệ Tĩnhcũng nh cả khu vực Bắc Trung Bộ Tính chất đặc biệt giọng Nghi Lộc đã đợc phản
ánh qua nhiều giai thoại dân gian cũng nh bác học Giọng Nghi Lộc đã đợc cácnhà Việt ngữ học quan tâm, nghiên cứu nh: Bùi Văn Nguyên (1977); Nguyễn VănTài (1983); Hoàng Thị Châu (1989); Võ Xuân Quế (1993); Trần Trí Dõi (2001) Giọng Nghi Lộc cũng là đối tợng nghiên cứu của hàng loạt luận văn tốtnghiệp Đại học của sinh viên các trờng Đại học tổng hợp Hà Nội và Đại học Vinh.Tuy nhiên ở các công trình cũng nh các chuyên luận này các tác giả mới chỉ phầnnào nêu ra đợc những nét đặc biệt của giọng Nghi Lộc Các nghiên cứu về giọngNghi Lộc mới chỉ phác thảo những nét chung chung, lại ôm đồm ở nhiều bình diện
và cha tìm đợc kỹ thuật mô tả phù hợp với tình trạng vốn có của nó Thiết nghĩ cóthể bắt đầu bằng một nghiên cứu cụ thể, khảo sát một khía cạnh cụ thể nào đótrong các thổ ngữ Nghi Lộc để chỉ ra một trong các đặc điểm làm cho nó có đặcthù riêng, hầu nh khác biệt với các vùng khác Trong một suy nghĩ chung nh vậy,chúng tôi mạnh dạn khảo sát đặc trng ngữ âm của thanh điệu Nghi Lộc
1.3 Nghiên cứu ngữ âm Nghi Lộc, chúng tôi chủ yếu khảo sát thanh điệu
Trang 5- Sự khác biệt giữa các phơng ngữ, thổ ngữ chủ yếu là mặt ngữ âm Về ngữ
âm của một phơng ngữ, thổ ngữ thì thanh điệu là yếu tố quan trọng hơn cả, nólàm nên những nét riêng biệt trong giọng nói Sự khác biệt giữa các thổ ngữ NghiLộc với các thổ ngữ khác trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh chủ yếu là yếu tố thanh
- Nghiên cứu thanh điệu Nghi Lộc góp phần cung cấp cứ liệu phơng ngữ đểnghiên cứu lịch sử hình thành thanh điệu Việt nói riêng, nghiên cứu lịch sử ngữ
âm tiếng Việt nói chung
2 Đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu.
2.1 Đối tợng nghiên cứu.
Các thổ ngữ Nghi Lộc là một thực tế có thể làm đối tợng nghiên cứu lý tởngcho phơng ngữ học tiếng Việt, xét từ bất cứ góc độ nào, theo bất cứ cách tiếp cậnnào đối với hiện tợng phơng ngữ Đối tợng nghiên cứu của khoá luận là hệ thanh
điệu Nghi Lộc đợc xác lập qua so sánh đối chiếu với hệ thống thanh điệu tiếngViệt Nếu có đợc một sự miêu tả dù là ở mức khái lợc về hệ thanh điệu Nghi Lộcthì sẽ giúp cho ngời đọc thấy rõ hơn diện mạo sắc thái của nó
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu.
Chúng tôi đặt ra cho khoá luận nhiệm vụ phải giải quyết những vấn đề sau
đây:
- Tập trung miêu tả những đặc điểm ngữ âm của hệ thanh Nghi Lộc, cố gắngthể hiện một cách đầy đủ và trung thực các phẩm chất ngữ âm của thanh điệu NghiLộc
Trang 6- Trong điều kiện t liệu cho phép, khoá luận cố gắng khôi phục lại lịch sửcủa hệ thống thanh điệu tiếng Việt đợc thể hiện trong hệ thanh điệu Nghi Lộc.
3 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu.
3.1.Nguồn t liệu.
Để tiến hành nghiên cứu thanh điệu Nghi Lộc, chúng tôi chọn một số xã cógiọng nói tiêu biểu đại diện cho mỗi vùng để tiện cho điều tra và miêu tả Việcchọn các xã đại diện cho giọng nói mỗi vùng đợc tiến hành dựa trên 2 căn cứ sau
đây:
1/ Dựa vào sự thẩm nhận của ngời địa phơng đó là những xã có giọng nói đặcbiệt hơn cả
2/ Dựa vào những đặc điểm về địa lý, lịch sử, dân c chúng tôi chọn những xã
xa rời trung tâm chính trị - văn hoá, xa đờng quốc lộ Theo tiêu chí này chúng tôichọn đợc một số xã đại diện cho mỗi vùng làm điểm khảo sát:
Xã Nghi Công (vùng 1), xã Nghi Thiết (vùng 2), xã Nghi Trờng (vùng 3), xãPhúc Thọ (vùng 4)
Bốn xã này cùng với Nghi Ân và Nghi Đức là những điểm điền dã chính chonhững đợt điều tra của chúng tôi Sau khi thu thập t liệu điều tra ở các điểm đãchọn, một vấn đề đặt ra là chọn điểm điều tra nào làm tiêu thể cho việc miêu tả.Nếu lấy giọng đợc coi là phổ biến cho Nghi Lộc thì phải chọn giọng Nghi Trungvì đây là trung tâm chính trị - kinh tế và văn hoá của huyện Còn nếu lấy giọng
điển hình tiêu biểu cho sự khác biệt và khó nghe của giọng Nghi Lộc thì phải chọngiọng Nghi ân, Nghi Đức Nh vậy tuỳ theo mục đích hớng đến mà chon một tronghai đại diện đó để làm điểm miêu tả của khoá luận Qua khảo sát điền dã chúngtôi nhận thấy giọng Nghi Ân có một số đặt điểm ngữ âm đặc thù của Nghi Lộc, cóthể phản ánh hết những đặc điểm ngữ âm đợc thể hiện không nh nhau của các xã,các vùng của Nghi Lộc Nh vậy chọn giọng Nghi Ân có thể bao quát và lý giải đợcnhững nét ngữ âm còn thể hiện thấp thoáng ở các giọng khác Từ đó khắc hoạ mộtcách tơng đối đầy đủ các đặc điểm ngữ âm hệ thanh Nghi Lộc
Các nhân chứng mà chúng tôi điều tra và ghi âm:
1 Cụ Phạm Văn Dần, 69 tuổi, xóm 6 Nghi Ân
Trang 72 Cụ Nguyễn Xuân Trờng, 75 tuổi, xóm 6 Nghi Ân
3 Cụ Phạm Xuân Hùng, 68 tuổi, xóm 7 Nghi Ân
4 Em Phạm Thị Phơng Anh, 18 tuổi, xóm 7 Nghi Ân
5 Cụ Phạm Thanh Xuân, 68 tuổi, xóm 8 Nghi Ân
6 Cụ Trần Thị Chắt, 72 tuổi, xóm 8 Nghi Ân
7 Cụ Nguyễn Văn Nam, 76 tuổi, xóm 5 Nghi Ân
8 Cụ Lê Thị Năm, 80 tuổi, xóm 5 Nghi Ân
3.2 Phơng pháp nghiên cứu.
Phơng pháp chủ yếu của khoá luận là điều tra điền dã phơng ngữ học Để có
đợc một sự hình dung tơng đối đầy đủ các nét ngữ âm đặc hữu địa phơng chúng tôicòn dùng phơng pháp phân tích miêu tả ngữ âm học và âm vị học Nhằm chỉ ranhững nét khác biệt về hệ thanh Nghi Lộc so với các thổ ngữ khác của Nghệ Tĩnh
và với tiếng Việt văn hoá chúng tôi dùng phơng pháp so sánh đối chiếu
Do không có điều kiện sử dụng máy móc thực nghiệm nên trong quá trình xử
lý đề tài chúng tôi dựa trên phân tích bằng thính giác của ngời bản ngữ Về thuthập và xử lý t liệu chúng tôi sử dụng phơng pháp quan sát trực tiếp bằng tai thờngkết hợp dùng máy ghi âm để ghi băng Phơng pháp quan sát trực tiếp cũng là mộtphơng pháp quan trọng và hiệu quả bởi vì theo Đoàn Thiện Thuật: "Trong ngônngữ ngời ta không cần biết đến những số liệu tuyệt đối mà chỉ cần đến những giátrị có đợc do sự so sánh giữa các âm thanh mà thôi Mặt khác nếu có chút chủquan nào thì trong giao tiếp bằng lời của con ngời, ấn tợng chủ quan của ngờinghe nhất là đối với tiếng mẹ đẻ lại đóng vai trò quyết định và nh vậy việc quansát trực tiếp so với quan sát bằng khí cụ lại là quan trọng hơn" [35, tr.17-18]
4 Đóng góp chung và ý nghĩa của khoá luận:
- Khoá luận cố gắng mô tả một cách chân thực và đầy đủ nhất những đặc trngngữ âm của thanh điệu Nghi Lộc để qua đó giúp ngời đọc nhận rõ diện mạo và sắcthái của nó
Trang 8- Nghiên cứu đặc trng ngữ âm của thanh điệu Nghi Lộc góp phần cung cấp cứliệu phơng ngữ để nghiên cứu lịch sử hình thành thanh điệu tiếng Việt nói riêng,nghiên cứu lịch sử ngữ âm tiếng Việt nói chung
- Các kết quả của khoá luận là tài liệu tham khảo để dạy phát âm và chính tảtrong nhà trờng trên khu vực địa phơng
5 Bố cục của khoá luận.
Toàn văn khoá luận gồm 50 trang, trong đó có 47 trang chính văn Ngoàiphần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khoá luận gồm có 2 chơng:Chơng 1: Một số vấn đề lý thuyết
Chơng 2: Miêu tả ngữ âm thanh điệu Nghi Lộc
Nội dungChơng 1: Một số vấn đề lý thuyết 1.1 Phơng ngữ,thổ ngữ và ngôn ngữ toàn dân
Ngôn ngữ toàn dân còn đợc gọi là ngôn ngữ Quốc gia hay ngôn ngữ dântộc,là ngôn ngữ hành chức trong phạm vi một xã hội đợc xác định nh mộtdântộc,đợc lu giữ trong các phơng ngữ lãnh thổ và đợc một dân tộc cụ thể xác nhận.Ngôn ngữ toàn dân bao gồm ngôn ngữ văn hoá (cũng còn gọi là ngôn ngữ văn
Trang 9học) và các dạng ngôn ngữ có tính chất trung gian giữa phơng ngữ và ngôn ngữvăn hoá.
Các dạng ngôn ngữ trung gian này vừa mang đặc điểm của phơng ngữ vừamang đặc điểm của ngôn ngữ văn hoá Vì vậy có ngời còn gọi là bán phơng ngữ[7, tr.75] Ví dụ tiếng Vinh vừa mang đặc điểm của phơng ngữ Nghệ Tĩnh vừamang đặc điểm của ngôn ngữ văn hoá
Ngôn ngữ văn hoá, phơng ngữ và thổ ngữ mặc dù hợp nhất trong ngôn ngữtoàn dân nhng lại có những đặc trng và chức năng xã hội khác nhau: ngôn ngữ vănhoá tồn tại ở cả dạng nói và viết, không có sự chia cắt theo lãnh thổ xét về mặtphạm vi sử dụng Trái lại, các phơng ngữ, thổ ngữ chỉ hoạt động ở dạng nói và baogiờ cũng đợc xác định vị trí trong một phạm vi lãnh thổ nhất định Vì chỉ hạn chếtrong một phạm vi lãnh thổ, trên một địa bàn dân c nhất định nên các phơng ngữ,thổ ngữ khác với ngôn ngữ văn hoá là có giới hạn về mặt xã hội
1.1.1 Phơng ngữ và phơng ngữ học trong tiếng Việt.
Trong quá trình phát triển, từng ngôn ngữ cụ thể tồn tại các biến dạng khácnhau nh phơng ngữ, tiếng lóng, tiếng nghề nghiệp Dĩ nhiên khi một dân tộc đãphát triển ở một trình độ cao thì ngôn ngữ dân tộc trở thành ngôn ngữ văn hoá.Ngôn ngữ văn hoá là một dạng tồn tại đặc biệt của ngôn ngữ, nó là dạng ngôn ngữchịu sự tác động có ý thức của con ngời, đợc trau dồi và nâng cao nhằm khắc phụcnhững hạn chế của các dạng tồn tại tự nhiên của ngôn ngữ nh khẩu ngữ hàngngày, phơng ngữ, thổ ngữ để đáp ứng yêu cầu của sự giao tiếp vợt khỏi phạm vigiao tiếp hàng ngày, vợt khỏi phạm vi một địa phơng, một thời đại, đồng thời cũngthực hiện những chức năng khác nh chức năng nghệ thuật, chức năng công cụ tduy khoa học, công cụ văn hoá theo yêu cầu của sự phát triển xã hội Ngôn ngữvăn hoá là dạng thống nhất của ngôn ngữ dân tộc trên tất cả các phơng ngữ, đồngthời nó là công cụ văn hoá của dân tộc
Phơng ngữ (Dialect) còn đợc gọi là phơng ngôn, tiếng địa phơng hay giọng
địa phơng là biến dạng của ngôn ngữ văn hoá ở một địa phơng cụ thể, bao gồmnhững nét khác biệt về ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp so với ngôn ngữ văn hoá,
Trang 10trong đó sự khác biệt về ngữ âm là quan trọng nhất Phơng ngữ đợc chia ra phơngngữ lãnh thổ và phơng ngữ xã hội Phơng ngữ lãnh thổ là phơng ngữ phổ biến ởmột vùng lãnh thổ nhất định Nó luôn luôn là một bộ phận của chỉnh thể một ngônngữ nào đó Phơng ngữ lãnh thổ có những khác biệt trong cơ cấu âm thanh, trongngữ pháp, trong cấu tạo từ, trong hệ thống từ vựng Những khác biệt này có thểkhông lớn lắm để cho những ngời nói các phơng ngữ khác vẫn có thể hiểu đợc Ph-
ơng ngữ xã hội thờng đợc hiểu là ngôn ngữ của một nhóm xã hội nhất định Nhữngngôn ngữ của các nhóm xã hội nh thế khác với ngôn ngữ toàn dân chỉ ở vốn từngữ
Khái niệm phơng ngữ mà chúng tôi dùng trong khoá luận này là theo cách
định nghĩa của Hoàng Thị Châu: "Phơng ngữ là một thuật ngữ ngôn ngữ học đểchỉ sự biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân ở một địa phơng cụ thể với những nét khácbiệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân hay một phơng ngữ khác" [7, tr.24]
Phơng ngữ học (Dialectology) là một bộ môn của ngôn ngữ học chuyênnghiên cứu các phơng ngữ, thổ ngữ của một ngôn ngữ nào đó Nh vậy phơng ngữhọc không nghiên cứu cô lập từng mặt nào đó nh ngữ âm, từ vựng hay ngữ pháp
mà nghiên cứu các mặt hệt nh nghiên cứu một ngôn ngữ Dĩ nhiên, do cách địnhhớng, tiếp cận của từng đề tài cụ thể mà có thể giới hạn việc nghiên cứu trongtừng phạm vi, từng khu vực lớn bé, rộng hẹp và có thể nghiên cứu từng mặt khácnhau của phơng ngữ tiếng Việt và một ngôn ngữ gồm nhiều phơng ngữ Nhngtiếng Việt có bao nhiêu phơng ngữ thì đó là câu hỏi làm thành vấn đề nghiên cứuthu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu từ đầu thế kỷ XX lại nay Tạm gácviệc trình bày các cách phân chia phơng ngữ Việt, chúng tôi chọn giải pháp phânchia tiếng Việt thành 3 vùng phơng ngữ: Phơng ngữ Bắc, Phơng ngữ Trung và Ph-
ơng ngữ Nam Trong mỗi vùng phơng ngữ lại bao gồm nhiều phơng ngữ Chẳnghạn, phơng ngữ Trung bao gồm 3 tiểu vùng phơng ngữ : phơng ngữ Thanh Hoá,phơng ngữ Nghệ Tĩnh, phơng ngữ Bình Trị Thiên
Hơn một thế kỷ qua, việc nghiên cứu phơng ngữ Việt đã thu đợc nhiều thànhtựu đáng kể Ngoài việc nghiên cứu để phân chia các phơng ngữ Việt, có thể điểmqua một số hớng nghiên cứu sau đây:
Trang 11- Nghiên cứu phơng ngữ liên quan đến lịch sử tiếng Việt, đến việc phân xếptiếng Việt thuộc họ (ngữ hệ) nào Đề cập đến vấn đề này có hàng loạt các tác giả:Maspero (1912), A.G Haudricourt (1954), Phạm Đức Dơng và Hà Văn Tấn(1978), Trần Trí Dõi (2001)
- Hàng loạt công trình miêu tả các bình diện của phơng ngữ Đó là nhữngcông trình mô tả ngữ âm của một số vùng lãnh thổ nhất định nh: Cao Xuân Hạo(1986), M.Ferlus (1991, 1995), Võ Xuân Quế (1993), Võ Xuân Trang (1997),Huỳnh Công Tín (1999) v.v
Bình diện từ vựng phơng ngữ cũng đợc các nhà nghiên cứu quan tâm nhNguyễn Quang Hồng (1981), Hồng Dân (1991), Nguyễn Quý Trọng (1981),Nguyễn Đức Dơng và Trần Thị Ngọc Long (1986), Trần Thị Ngọc Long (1995),Hoàng Trọng Canh (2001) Đặc biệt từ vựng địa phơng cũng đợc mô tả qua các
từ điển của Nguyễn Văn ái và các tác giả (1994), Nguyễn Nhã Bản và các tác giả(1999)
- Nghiên cứu phơng ngữ gắn với yêu cầu chuẩn hoá và ứng dụng vào đờisống xã hội cũng đợc các nhà nghiên cứu quan tâm nh Phạm Văn Hảo (1981),Nguyễn Quang Hồng (1980, 1981), Vũ Bá Hùng (1981,1994), Võ Xuân Trang(1985)
1.1.2 Phơng ngữ và thổ ngữ
Sự đa dạng của tiếng Việt đợc thể hiện ở hai loại biến thể: phơng ngữ và thổngữ, song sự phân biệt và cách hiểu hai loại biến thể này cha có sự thống nhấttrong các nhà ngôn ngữ học Các tác giả "Khái luận ngôn ngữ học" phân biệttrong tiếng Việt có hai loại biến thể: một biến thể gọi là tiếng địa phơng và mộtbiến thể gọi là thổ ngữ Về ranh giới tiếng địa phơng và thổ ngữ, các tác giả chorằng: "không thể xem những ranh giới về đất đai giữa tỉnh, huyện chẳng hạn cũng
là ranh giới giữa các tiếng địa phơng, thổ ngữ" [38, tr.71]
Trang 12Vơng Toàn lại chia phơng ngữ thành phơng ngữ lãnh thổ và phơng ngữ xã hội
và cho rằng "phơng ngữ lãnh thổ là những biến thể địa lý khu vực của nó Bêntrong một phơng ngữ lại có nhiều thổ ngữ, là những biến thể của phơng ngữ ở khuvực địa lý hẹp hơn nh tỉnh, huyện hoặc làng" [36, tr.275-276]
Lại có những biến thể trong phạm vi một tỉnh nh tỉnh Thanh Hoá, Phạm VănHảo gọi là thổ ngữ, các tác giả Trơng Văn Sinh và Nguyễn Thành Thân gọi làtiếng địa phơng, còn Hoàng Thị Châu gọi là phơng ngữ Theo Hoàng Thị Châu,phơng ngữ là một khái niệm khó giải thích chính xác nhng cuối cùng tác giả cũng
đa ra một cách hiểu: "Thuật ngữ phơng ngữ học để chỉ tiếng địa phơng trong mộtvùng lớn nh tỉnh, thành phố bao gồm nhiều thổ ngữ ở các xã thôn" [7, tr.24].Chúng tôi tiếp thu cách hiểu và khái niệm phơng ngữ, thổ ngữ của Hoàng ThịChâu
Nh vậy, khác với phơng ngữ, thổ ngữ là ngôn ngữ đợc sử dụng trong mộtvùng lãnh thổ hẹp hơn Nói cách khác thổ ngữ là "biến thể " của phơng ngữ ở mộtphạm vi địa lý hẹp hơn ở Việt Nam, các vùng đồng bằng Bắc bộ và Trung bộ cócác thổ ngữ dày đặc ,có nhiều nơi mỗi làng là một thổ ngữ
Các thổ ngữ khác nhau là ở các biến dạng của nó.Việc tìm nguyên nhân chocác biến dạng này cho đến nay vẫn còn là vấn đề tranh luận trong giới ngôn ngữhọc.Có thể nói đến những nguyên nhân sau đây:
-Khả năng lu giữ các đặc điểm cấu trúc của một ngôn ngữ đợc thể hiện khácnhau ở các thổ ngữ.Khi gặp những điều kiện thuận lợi, các đặc điểm này mới đợcbộc lộ ra
-Do ảnh hởng trực tiếp của tình trạng cát cứ phong kiến và ngôn ngữ đợc sửdụng ở các vùng lãnh thổ khác nhau theo những chiều hớng khác nhau
-Vị trí địa lý, sự giao lu và tiếp xúc về chính trị, kinh tế, văn hoá khác nhaucũng dẫn đến tình trạng ngôn ngữ biến dạng ở từng vùng lãnh thổ
- Tình trạng di dân, việc chồng chất các lớp dân c khác nhau lên một địa bàn
do các nguyên nhân lịch sử cũng dẫn đến sự biến dạng của ngôn ngữ
Trang 131.2 Phơng ngữ Nghệ Tĩnh
1.2.1.Sự hình thành phơng ngữ Nghệ Tĩnh.
Xét theo chiều dài lịch sử, địa danh Nghệ Tĩnh đã trải qua nhiều biến cố,nhiều cách gọi tên, lúc phân lúc hợp: có khi là một huyện, một quận, một châu,một trấn, một phủ, một trại, một thừa tuyên, một tỉnh; có khi là hai lộ, hai trại, haiphủ, hai châu, hai tỉnh nhng nhìn chung chủ yếu vẫn gắn kết làm một: là HoanDiễn ngày xa và là Nghệ Tĩnh (xứ Nghệ) ngày nay Sự gắn bó thành một chỉnh thể
về địa lý hành chính cũng phản ánh một sự thống nhất từ bên trong về tất cả cácmặt: ngôn ngữ, lịch sử, kinh tế, văn hoá, phong tục, tính cách con ngời
Nghệ Tĩnh không thiếu những cảnh quan đẹp đẽ, bao la hùng tráng và hữutình Hẳn đấy chính là ngọn nguồn của câu ca dao:
Đờng vô xứ Nghệ quanh quanhNon xanh nớc biếc nh tranh hoạ đồNhng từ một phía khác, Nghệ Tĩnh có địa hình khá phức tạp Phía Bắc có
đèo Hoàng Mai, khe Nớc lạnh ngăn cách Nghệ Tĩnh với Thanh Hoá Phía Nam là
Đèo Ngang vắt qua dãy núi ngang Hoành Sơn - một chi của Trờng Sơn Bắc lấn rabiển Đông trong nhiều thế kỷ là biên giới giữa Đại Việt và Chiêm Thành Địa thếNghệ Tĩnh rất hẹp chiều Tây - Đông núi biển nhng lại dằng dặc chiều Nam - Bắcchâu thổ Với 2/3 diện tích là núi rừng nên đứng trên đất Nghệ Tĩnh chỗ nào cũngthấy núi Cùng với núi là đèo, sông, biển cả chúng cố tình cắt ngăn Nghệ Tĩnh vớicác vùng miền khác và chia Nghệ Tĩnh ra nhiều xứ nhỏ về địa lý Một không gian
địa lý nh vậy đã hạn chế rất nhiều sự giao lu văn hoá, ngôn ngữ, khả năng tiếp thucái mới với bên ngoài và trong khu vực và đó là một trong những nguyên nhân làmcho Nghệ Tĩnh chậm biến đổi hơn các địa phơng khác
Nhiều t liệu, chứng cứ lịch sử đã chỉ ra rằng vùng đồng bằng Nghệ Tĩnh làmột trong những cái nôi của ngời Việt cổ Ngay từ thời lập nớc và suốt trong mộtthời gian dài Nghệ Tĩnh là vùng đất cuối cùng của quốc gia Đại Việt
Trang 14Phơng ngữ Nghệ Tĩnh là một tiểu vùng thuộc phơng ngữ Trung Sự hìnhthành phơng ngữ Nghệ Tĩnh gắn liền với sự hình thành các phơng ngữ Việt Vấn
đề này đã đợc Nguyễn Tài Cẩn lý giải và phân tích một cách khá tờng minh trong
"Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt " Theo ông, qua nhiều thế kỷ tiếp xúc vớingôn ngữ và văn hoá Hán, c dân nói tiếng Việt - Mờng chung đã xảy ra một sựphân hoá ngôn ngữ Nhng ảnh hởng của tiếng Hán không trải ra một cách đồng
đều trên toàn bề mặt lãnh thổ Vùng phía bắc ảnh hởng trớc hết và sâu đậm hơnvùng phía nam và trong mỗi vùng thì vùng đồng bằng chịu ảnh hởng mạnh hơnvùng miền núi Quá trình phân hoá ngôn ngữ đã đợc ông chỉ rõ:"Sự phân hoá mở
đờng xảy ra trớc tiên là ở giữa hai vùng cực Bắc.Trong khi ở phía bắc đã hìnhthành hai ngôn ngữ Việt và Mờng thì ở Nghệ An, giữa miền núi và miền xuôi còn
là một khối thống nhất, có ngôn ngữ thống nhất ( vốn là Việt Mờng chung,ở giai
đoạn hậu kỳ của nó ).Sự thống nhất này còn kéo dài thêm một số thế kỷ nữa mới
có sự tan rã" [6,tr.278] Sau đó sự phân hoá ngôn ngữ và ảnh hởng của nó đã landần vào phía Nam nhng với mức độ"càng đi sâu vào dải đất hẹp Trung bộ thì sựphân hoá đó càng yếu dần Vào khoảng đời Lý,có thể xem vùng ngôn ngữ venbiển Nghệ Tĩnh chỉ là vùng hơi bị Việt hoá" [6, tr.287] Theo thời gian, sự phânhoá này tiếp tục xảy ra Do đó ở miền xuôi phía Đông, giữa Hoan Châu và Kẻ Chợ
có điều kiện giao lu đi lại dễ dàng hơn nên ảnh hởng của phơng ngữ tiếng Việt Bắc
bộ lan vào khu IV dễ dàng hơn, cả miền núi và miền xuôi nhng cố nhiên miềnxuôi ảnh hởng mạnh hơn Tiếp đó là những đợt Nam tiến ồ ạt của c dân Bắc bộ từ
đời này sang đời khác nên vùng miền xuôi càng đợc Việt hoá mạnh hơn để cuốicùng có sự phân hoá thành Việt và Mờng, hình thành một vùng phơng ngữ Việt
Nh vậy, nếu nh phơng ngữ Bắc đợc hình thành từ sự biến đổi chia tách của ngônngữ Việt - Mờng do ảnh hởng của tiếng Hán thì vùng phơng ngữ khu IV lại đợchình từ ngôn ngữ Việt - Mờng chung do ảnh hởng của tiếng Việt Bắc bộ Trong sựhình thành của phơng ngữ khu IV có sự hình thành của phơng ngữ Nghệ Tĩnh, bêncạnh sự hình thành phơng ngữ Thanh Hoá và phơng ngữ Bình Trị Thiên Dĩ nhiên
do những đặc điểm về địa lý, lịch sử, dân c nh đã trình bày ở trên nên phơng ngữNghệ Tĩnh không những có những nét khác biệt so với tiếng Việt toàn dân mà cònkhác với các phơng ngữ trong vùng
Trang 15+ Hệ thống phụ âm đầu có 22 đơn vị Danh sách phụ âm đầu trong phơngngữ Nghệ Tĩnh có mặt đầy đủ ba phụ âm quặt lỡi và phổ biến trên toàn địa bàn.Phơng ngữ Nghệ Tĩnh còn bảo lu một số phụ âm cổ của tiếng Việt nh các phụ âmtắc bật hơi [P', K'], các tổ hợp phụ âm nh [ tl ], [dJ], [bJ]
+ Hệ thống vần cái có mặt đầy đủ 124 vần cái Một số vần cái chỉ có trong
sự hình dung lý thuyết tơng ứng với sự khu biệt tối đa mà chữ Quốc ngữ thể hiệnnhng lại thực sự tồn tại phổ biến trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh nh [wn] (n), [u](ơu), [u m - u p] (m - p), [ - k] (ơng ớc) Phơng ngữ Nghệ Tĩnh bảo lu mộtcách trọn vẹn sự đối lập chặt lỏng ở các cặp vần [enec] (ênh ếch) / [eek] (êng ếc),[εn εc] (anh ách)/ [ [ε εk] (eng éc)
- Về từ vựng:
Trang 16Phơng ngữ Nghệ Tĩnh có vốn từ vựng hết sức phong phú, đa dạng trong đó
có những từ cổ nh: chiềng, chạ, ới, min, tru, nác ; những từ chỉ các sản vật địaphơng nh nhút, nham, lớ, cu đơ, lịp
Vốn từ vựng địa phơng Nghệ Tĩnh có thể chia ra:
+ Từ ngữ âm: triều ( chiều), lạt (nhạt), lộ (chỗ), đàng (đờng), mọi (muỗi),
v-ng (vừv-ng)
+ Từ ngữ nghĩa: có thể chia ra các trờng nghĩa khác nhau nh trờng nghĩa chỉcông cụ gia đình, chỉ thực vật, chỉ nghề cá, chỉ ăn mặc, chỉ thời gian, các loạibánh, các bộ phận cơ thể, cách xng hô
+ Về ngữ nghĩa, các từ trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh không thể đối chiếu ngữnghĩa tiếng Vịêt văn hoá một cách đơn giản Chẳng hạn : cặp từ "mần"-"làm",trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh "mần" không chỉ tơng đơng về nghĩa với "làm" màcòn có thể dùng nh: đi, ăn, tắm, uống, cần, mặc, gánh, chạy, đánh Tính đa nghĩacủa từ là nét đặc trng nổi bật trong từ vựng Nghệ Tĩnh
1.2.3 Các thổ ngữ trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh.
Có thể nói phơng ngữ Nghệ Tĩnh dày đặc các thổ ngữ Gần nh mỗi xã trongcác huyện của hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh là một thổ ngữ Thậm chí có nhữnglàng trong cùng một xã cũng có những nét khác biệt trong giọng nói Có nhữngthổ ngữ hết sức đặc biệt nh các thổ ngữ Diễn Phú, Diễn Lộc, Diễn Thọ (còn gọi làNho Lâm - Diễn Châu), các thổ ngữ Nghi Ân, Nghi Đức, Phúc Thọ (Nghi lộc), cácthổ ngữ Hng Trung, Hng Yên (Hng Nguyên), các thổ ngữ Nam Anh, Nam Thanh,Vân Diên (Nam Đàn), các thổ ngữ xung quanh chợ Cồn (Thanh Chơng), các thổngữ Cơng Giám, Xuân Viên (Nghi Xuân), Thịnh Lộc, Hậu Lộc, Tân Lộc (CanLộc), Đức An, Đức Lập, Đức Dũng (Đức Thọ), Hà Linh (Hơng Khê) v.v
Trong các thổ ngữ thuộc phơng ngữ Nghệ Tĩnh, các thổ ngữ Nghi Lộc lànhững thổ ngữ rất đặc biệt, nó có những nét riêng mang bản sắc cho vùng NghiLộc
1.3 Vài nét về Nghi Lộc và giọng Nghi Lộc.
Trang 171.3.1 Vài nét địa lý, lịch sử và dân c Nghi Lộc.
Nghi Lộc là một huyện đồng bằng ven biển của tỉnh Nghệ An, nằm sátphía Bắc thành phố Vinh trên toạ độ từ 18040 đến 18055 vĩ độ Bắc, từ 105028 đến
105045 kinh Đông Địa giới Nghi Lộc phía Bắc giáp hai huyện Yên Thành và DiễnChâu; phía Nam giáp Thành phố Vinh và hai huyện Hng Nguyên, Nam Đàn; phía
Đông giáp biển Đông và huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh); Phía Tây giáp huyện Đô
L-ơng Diện tích rộng gần 420 Km2, dân số khoảng 21,5 vạn ngời
Theo truyền thuyết, cũng nh các huyện đồng bằng ven biển khác của NghệTĩnh, từ thời vua Hùng dựng nớc, trên mảnh đất Nghi Lộc ngày nay đã có c dânngời Việt cổ sinh sống [41, tr.7]
Trong tác phẩm " Đất nớc Việt Nam qua các đời" (Đào Duy Anh) có đoạn
viết: "Huyện Dơng Toại đời Ngô là Dơng Thành, nhà Tấn đổi làm Dơng Toại Tấn
Vũ đế lại tách Dơng Toại làm huyện Phổ Dơng Phổ Dơng và Dơng Toại là mảnh
đất Nghi Lộc và Nghi Xuân [tr.61]
Nh vậy có thể đoán chắc rằng vào đời Ngô (222 - 265) vùng đất Nghi Lộcngày nay đã có rồi Trải qua các thời kỳ lịch sử khác nhau, cũng nh các địa phơngkhác trong cả nớc, địa vực và tên gọi Nghi Lộc không tránh khỏi những thay đổi
Sách "Đại Nam nhất thống chí" (tập 2) viết: "Nghi Lộc xa là huyện Tân
Phúc, thời thuộc Minh đổi thành Chân Phúc, đời Tây Sơn đổi là Chân Lộc, nămThành Thái thứ nhất (1889) đổi là Nghi Lộc Tên Nghi Lộc giữ nguyên cho đếnngày nay" [12, tr.142]
Trong "Sổ tay địa danh Việt Nam" (Đinh Xuân Vịnh) cũng nói về sự thay
đổi tên gọi Nghi lộc từ trớc đến nay: "Nghi Lộc trớc 1822 thuộc huyện ĐứcGiang, sau đổi là huyện Đức Thọ trấn Nghệ An Năm 1831 tách huyện Nghi Lộc
về phủ Diễn Châu, thuộc trấn Nghệ An và huyện Thanh Chơng thuộc phủ AnhSơn, trấn Nghệ An"
Huyện Nghi Lộc một nửa về phía Tây và phía Bắc có những dãy núi chạytận ra biển ở cửa La Nham và Cửa Lò Huyện lỵ về đời Lê ở Ngô Xá , xã Nghi Tr-ờng sau dời đến Kim Nguyên xã Cẩm Trờng về đời Nguyễn, nay ở Quán Hành
Trang 18Trung tâm Thiên Chúa giáo quan trọng Xã Đoài và trờng Đại chủng viện huyệnNghi Lộc sản xuất giống cà pháo và khoai lang, đặc biệt cam Xã Đoài Xa về đời
Lê có nhiều xởng đóng thuyền, nhiều làng chuyên ca gỗ và đóng cối xay Trải quamỗi thời kỳ lịch sử, Nghi Lộc đều có những thay đổi nhất định Huyện Nghi Lộctrong thời gian Xô viết Nghệ Tĩnh chia làm Nghi Lộc Nam, Nghi Lộc Bắc Nógồm các tổng La Vân, Vân Trình, Kim Nguyên, Thợng Xá, Đặng Xá và một phầntổng Hải Đô của Hng Nguyên [34, tr.22]
Trớc kia Nghi Lộc gồm có 38 xã (cả Cửa Lò); từ sau năm 1995 khi tách mộtphần phía Đông Nghi Lộc thành thị xã Cửa Lò, Nghi Lộc có 38 xã, 1 thị trấn(Quán Hành)
Về mặt địa lý tự nhiên, dòng sông Cấm chia Nghi Lộc thành hai vùng khácnhau rõ rệt Vùng phía Bắc và phía Tây từ tả ngạn sông Cấm trở lên có địa hìnhnúi đồi trập trùng, nối tiếp nhau liền giải với các huyện Hng Nguyên, Nam Đàn,Diễn Châu Còn phía Đông từ hữu ngạn sông Cấm trở xuống địa hình tuy ít núi
đồi nhng có nhiều cồn cát, đất đai cằn cỗi Đồng bằng Nghi Lộc chủ yếu tập trungven hai bờ sông Cấm
Dân c Nghi Lộc đợc hình thành sớm từ ven sông Cấm và Quốc lộ 1A rồi landần sang các vùng khác mà trớc hết phía Đông Theo tộc phả của các dòng họ lớn
có mặt ở Nghi Lộc từ lâu đời thì thuỷ tổ của họ phần lớn đều gốc gác từ Bắc bộ
Từ thế kỷ XIV trở về sau, do chính sách khuyến nông của các triều đại phong kiếnViệt Nam, nông dân từ nhiều vùng của đất nớc đến đây lập trang trại và khai khẩn
đất hoang Do đặc điểm địa hình nh trên nên sự hình thành và phân bố dân c giữacác vùng của Nghi Lộc rất chênh lệch Vùng phía Tây và Tây Nam từ tả ngạn sôngCấm trở lên chiếm tới hai phần ba diện tích, song dân c tha thớt (khoảng 20% dân
số toàn huyện) Ngợc lại vùng Đông Nam và hữu ngạn sông Cấm trở xuống diệntích đất đai ít nhng c dân lại chiếm khoảng 80%, giữa các xã của vùng này dân ccũng không đều Các xã ven biển, nhất là vùng xung quanh Cửa Lò, Cửa Hội cómật độ dân c đông hơn nhiều những vùng khác, những xã khác
Trang 19Mặc dù có sự hội nhập dân c từ nhiều vùng trong nớc nhng có thể nói NghiLộc là địa bàn thuần nhất về mặt tộc ngời Nghi Lộc chỉ có c dân của một dân tộcsinh sống là ngời Kinh Nghề nghiệp chính là làm ruộng, đánh cá, làm muối.
Huyện Nghi Lộc nằm trong vùng tiểu khí hậu Vinh - nơi có nhiệt độ mặt
đất diễn biến tơng tự và trùng hợp với thời gian nhiệt độ của không khí Vì vậymỗi năm có hai mùa: mùa nóng và mùa lạnh Mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 10.Mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 [41,tr.11-12]
Có thể nói Nghi Lộc là huyện đất rộng, ngời đông, nơi hội tụ các điểm giaothông, có đờng bộ, đờng sắt, đờng sông, có sân bay lại là vùng phụ cận thànhphố Vinh Vì vậy Nghi Lộc có vị trí xung yếu trên các lĩnh vực kinh tế - chính trị -xã hội và an ninh quốc phòng
1.3.2 Phân vùng giọng Nghi Lộc.
1.3.2.1 Khái niệm giọng - giọng Nghi Lộc.
Liên quan đến khái niệm phơng ngữ còn có khái niệm "giọng" (giọng nói)bởi vì có ngời gọi phơng ngữ là giọng địa phơng nh Hoàng Cao Cơng (1984), BùiVăn Nguyên (1977), Võ Xuân Quế (1993)
Giọng là nhấn mạnh khía cạnh ngữ âm, là cái riêng trong ngữ âm phơngngữ mà cái riêng của phơng ngữ chủ yếu là ngữ âm, do đó phơng ngữ mới có thể
đợc gọi là "giọng địa phơng" Theo nghĩa này, giọng không phải là một yếu tố ngữ
âm đơn lẻ mà là một tập hợp các yếu tố ngữ âm khác nhau đồng thời xuất hiện khiphát âm và đồng thời đợc tiếp nhận khi giao tiếp TheoHoàng Cao Cơng "giọng địaphơng là một hệ thống phơng tiện âm thanh của một ngôn ngữ đợc ngời bản địadùng nh một loại tín hiệu giao tiếp - văn hoá nhờ đó ngời ta không những nhận đ-
ợc các thông tin ngữ nghĩa, cảm xúc của một thông báo mà còn nhận ra đợc xuất
xứ của ngời thực hiện giao tiếp" [9, tr.1]
Trong khoá luận, chúng tôi dùng khái niệm giọng Nghi Lộc là muốn nhấnmạnh những đặc trng ngữ âm của Nghi Lộc đã đợc ngời các địa phơng khác nhận
ra một cách dễ dàng khi giao tiếp và cũng đợc ngời các địa phơng khác gọi mộtcách quen thuộc: giọng Nghi Lộc
1.3.2.2 Các thổ ngữ Nghi Lộc.
Trang 20Giọng Nghi Lộc khá đa dạng, giữa các làng, các xã thầm chí các làng trongmột xã có những điểm khác nhau về giọng nói Chẳng hạn xã Nghi Thiết có 3thôn: Hải Thịnh, Quyết Tâm và Trung Kiên thì tiếng nói của Hải Thịnh nặng vàkhó nghe hơn hai làng Quyết Tâm và Trung Kiên.
Dựa vào cách phát âm và sự thừa nhận của ngời địa phơng có thể chia NghiLộc thành hai vùng lớn: vùng I gồm hai xã Nghi Ân, Nghi Đức Tiếng nói vùngnày còn lu giữ nhiều cách phát âm cổ của tiếng Việt ở phụ âm đầu và phần vần,thanh điệu, đồng thời cũng thể hiện những đặc thù khác của giọng Nghi Lộc.Vùng II gồm các xã còn lại Vùng này có thể chia làm bốn vùng nhỏ:
- Vùng phía Tây và Tây Bắc gồm 12 xã: Nghi Văn, Nghi Kiều, Nghi Liên,Nghi Lâm, Nghi Mỹ, Nghi Hoa, Nghi Công, Nghi Đồng, Nghi Phơng, NghiThuận, Nghi Vạn, Nghi Diên Giọng vùng này nhẹ hơn các vùng khác Sự lẫn lộnthanh hỏi, thanh sắc ít hơn các vùng khác trong huyện
- Vùng Đông Bắc gồm các xã phía Bắc sông Cấm - ven Cửa Lò: Nghi Thiết,Nghi Tân, Nghi Tiến, Nghi Thuỷ, Nghi Quang Vùng này phát âm
nặng và nhanh, nhất là Nghi Thiết Các thanh điệu có sự hỗn nhập từ thanh nàysang thanh khác
- Vùng ven và phía Đông quốc lộ 1A: Nghi Xá, Nghi Long, Nghi Trờng,Nghi Thịnh, Nghi Phong, Nghi Thu, Nghi Hợp, Nghi Thạch, Nghi Kim Vùng này
có sự lẫn lộn giữa thanh sắc - thanh hỏi
- Vùng ven biển phía Đông Nam: Nghi Hoà, Nghi Hải, Nghi Xuân, Nghi
H-ơng, Nghi Thái, Nghi Thọ Đây là vùng phát âm chậm và kéo dài hơn các vùngkhác Vùng này có sự lẫn lộn giữa thanh sắc và thanh ngã
Có thể nói phân vùng giọng nói Nghi Lộc là xuất phát từ nhứng nét dị biệtgiữa các vùng nhng nhìn chung tiếng nói giữa các vùng có nhiều điểm giống nhaukhiến cho ngời huyện khác khi nghe vẫn nhận ra tiếng nói Nghi Lộc bất kể nó làgiọng vùng nào
1.4 Âm tiết và vị trí của âm tiết trong việc phân tích ngữ âm tiếng Việt.
Tất cả các ngôn ngữ loài ngời đều có chung đặc điểm: âm tiết là đơn vị ngữ
âm tự nhiên nhất của ngữ âm học Khác với âm tiết trong các ngôn ngữ biến hình,
Trang 21âm tiết tiếng Việt ngoài tính tự nhiên về vật chất trong cấu tạo , phần lớn các âmtiết đều có tính tự nhiên về ý nghĩa Xét từ phơng diện nội dung, âm tiết Việt cũng
đồng thời là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, tơng đơng với khái niệm hình vị trongcác ngôn ngữ châu Âu Theo thống kê của Trần Thị Minh Phơng có tới 80% âmtiết thực trong tiếng Việt có khả năng đồng thời là hình vị Vì phần lớn âm tiếtViệt trùng với hình vị nên các nhà Đông phơng học đã gọi âm tiết Việt bằng kháiniệm hình tiết
Xét từ góc độ âm vị học, âm tiết Việt là đơn vị cơ sở của tiếng Việt, tơng
đ-ơng với khái niệm âm vị trong truyền thống ngôn ngữ châu Âu.Tuy nhiên , âm tiếtViệt có cơng vị ngôn ngữ học hoàn toàn khác với âm tiết trong các ngôn ngữ châu
Âu: có danh sách hữu hạn (gần 6000 âm tiết) có thể kiểm chứng đợc và phần lớnmang giá trị hình thái học Tuy số lợng hữu hạn nhng con số cũng lên đến hàngnghìn Số lợng hữu hạn lớn đến nh vậy có thể ví nh kiểu câu, các kiểu từ ngữ ở cáccấp độ cao hơn Nếu ở các cấp độ cao hơn này ta gọi từ, câu là những đơn vị cùngbậc nhng có tổ chức từ các đơn vị nhỏ hơn là thành tố cấu tạo từ, thành tố cấu tạocâu thì ở âm vị học Việt ta cũng có thể gọi âm tiết là đơn vị có tổ chức từ cácthành phần nhỏ hơn: phần đầu và phần cuối (cấu trúc chiết đoạn) và kèm theo làthành phần cấu trúc siêu đoạn: các thanh điệu Điều này phù hợp với quan điểmcủa các nhà Đông phơng học Xô Viết khi họ không coi âm vị tiếng Hán (và cả cácngôn ngữ cùng loại hình nh tiếng Việt) nh âm vị trong các ngôn ngữ châu Âu.Theo các nhà Đông phơng học nh: E Polivanov (1930), A A Dragunov và E NDragunova, M V Gordina thì âm tiết tiếng Việt đợc phân chia thành âm đầu vàvần cái
Tiếp thu t tởng của âm vận học Trung Hoa và dựa vào những thành tựu của
Đông phơng học Xô viết, tác giả Nguyễn Quang Hồng [8] đã dựa trên những cứliệu về từ lấp láy, hoạt động nói lái, gieo vần trong thơ ca để đi đến khẳng địnhkhả năng chia tách âm tiết tiếng Việt thành hai phần là âm đầu và vần cái và chorằng, cùng với âm đệm và thanh điệu, đó là các đơn vị ngữ âm cơ bản trong hệthống ngữ âm tiếng Việt
Trong khoá luận, chúng tôi tiếp nhận quan điểm của Nguyễn Quang Hồng
nh đã trình bày ở trên cho tiện việc lý giải các đơn vị âm thanh của tiếng Việt
Trang 22Chúng tôi tập trung mô tả các đơn vị bậc dới âm tiết mà Việt ngữ học gọi là "âmvị" theo mô hình cấu tạo âm tiết sau đây:
âm tiết
Cấu trúc chiết đoạn Cấu trúc siêu đoạn
Âm đầu Vần cái Âm đệm Thanh điệu
Chúng tôi cho rằng mỗi thành phần trong cấu trúc âm tiết Việt có một danhsách riêng, đợc ký mã một cách thụ động trong óc của ngời bản ngữ và đợc mô tảmột cách chi tiết để phục vụ cho mục đích miêu tả thanh điệu Nghi Lộc
Trang 23Chơng 2: Miêu tả thanh điệu Nghi Lộc 2.1 Dẫn nhập.
Trong tiếng Việt, mỗi âm tiết đợc đặc trng bằng một độ cao khác nhau dothanh điệu đảm nhận Thanh điệu là kết quả của một quá trình phát triển của tiếngViệt Đầu công nguyên tiếng Việt cha có thanh điệu, về sau do sự biến mất củacác âm cuối và sự vô thanh của các âm đầu hữu thanh nên đã hình thành hệ thốngthanh điệu sáu thanh trong tiếng Việt
Các thanh huyền, thanh sắc, thanh hỏi, thanh ngã, thanh nặng và thanhkhông dấu đã cố định độ cao trong các từ tiếng Việt, thành các cung bậc nhất
định Rõ ràng tầm quan trong của thanh điệu trong việc tạo nên các từ tiếng Việt,phân biệt giữa các từ rất lớn Bởi vậy việc nghiên cứu thanh điệu tiếng Việt nóichung, thanh điệu Nghi Lộc nói riêng có một ý nghĩa lớn, đặc biệt qua việc tìmhiểu thanh điệu Nghi Lộc sẽ giúp cho ngời đọc nhìn nhận rõ hơn sắc thái riêng củatiếng Nghi Lộc, góp phần cung cấp cứ liệu phơng ngữ để nghiên cứu lịch sử hìnhthành thanh điệu Việt nói riêng, nghiên cứu lịch sử ngữ âm tiếng Việt nói chung
2.1.1 Trong âm tiết tiếng Việt, ngoài phụ âm đầu và vần cái còn có một
hiện tợng ngữ âm mang chức năng khu biệt âm vị học mà chữ Quốc ngữ biểu thịbằng các dấu "huyền", "sắc", "nặng", "hỏi", "ngã" đợc gọi là thanh điệu Thanh
điệu (tone) là âm vị siêu đoạn ( Suprasegmental phoneme) hay còn đợc gọi là điệu
vị (prosodies hay prosodemes) và nhờ có nó mà các đơn vị đoạn tính đợc tổ chứcthành một thể thống nhất lớn hơn cũng nh để phân biệt các tín hiệu ngôn ngữ.Theo cách hiểu thông thờng "thanh điệu là sự nâng cao hoặc hạ thấp "giọng nói"trong một âm tiết có tác dụng khu biệt vỏ âm thanh của từ hoặc hình vị" [35,tr.57]
Từ các kết quả phân tích thực nghiệm cho thấy thanh điệu đợc xác định trớchết bằng sự vận động của thanh cơ bản (Fo) trong quá trình phát âm âm tiết Sựvận động của Fo có thể biểu diễn dới dạng đờng cong nh là đồ thị của hàm sóng
âm, phụ thuộc vào thời gian Tần số thanh cơ bản Fo mang tính tơng đối nhng đặctrng cho từng thanh điệu Đờng nét Fo đợc xác định bằng sự biến đổi tần số dao
Trang 24động của dây thanh,do các cơ thanh quản cũng nh áp suất dòng khí đi qua thanhmôn điều phối Nh vậy, thanh điệu là các tiêu chí về độ cao kết hợp sự điều phốicác cơ cuả thanh quản và dòng khí đi qua thanh môn tạo nên các kiểu tạo thanhhay chất giọng khác nhau.
Thanh điệu không có t cách đồng đẳng với âm đầu và vần cái nhng nó cũngkhông phụ thuộc vào một phần nào nhất định mà là đặc trng chung cho toàn âmtiết.Tuy nhiên do đặc điểm riêng của mình, thanh điệu gắn bó với vần cái hơn sovới phụ âm đầu Nếu căn cứ vào sự phân biệt tối đa nh ở phơng ngữ Bắc bộ mà tiêubiểu là tiếng Hà Nội thì tiếng Việt có sáu thanh: thanh ngang, thanh huyền, thanhngã, thanh sắc, thanh hỏi và thanh nặng Mỗi thanh đều có một ký hiệu chữ viếtghi lại (riêng thanh ngang không có ký hiệu chữ viết) và đợc gọi tên một cách ớc
định Theo cách miêu tả truyền thống, mỗi thanh đợc xác định bởi hai tiêu chí cơbản: âm vực (cao hay thấp) và âm điệu (còn gọi là đờng nét) bằng phẳng haykhông bằng phẳng, gãy hay không gãy Theo tiêu chí âm vực, các thanh điệu Việtchia thành thanh cao bao gồm: thanh ngang, thanh ngã, thanh sắc; thanh thấp baogồm: thanh huyền, thanh hỏi, thanh nặng Theo tiêu chí âm điệu ta có: thanh bằngvới đờng nét bằng phẳng gồm: thanh ngang, thanh huyền; thanh trắc với đờng nétkhông bằng phẳng, trong nội bộ thanh trắc lại có sự đối lập giữa các thanh có đờngnét gãy (uốn): thanh ngã, thanh hỏi và các thanh có đờng nét không gãy: thanhsắc, thanh nặng Theo âm vực ta có hai loại, đờng nét có 3 kiểu nhân lên thành 6thanh Chúng ta có thể hình dung hệ thống thanh điệu tiếng Việt văn hoá (có ở ph-
Trong các công trình ngữ âm tiếng Việt và các bản miêu tả, hệ th thanh điệutiếng Việt đợc đánh số thứ tự: 1 Thanh ngang, 2 Thanh huyền, 3 Thanh ngã, 4
Trang 25Thanh hỏi, 5 Thanh sắc, 6 Thanh nặng và đợc Đoàn Thiện Thuật miêu tả bằng sơ
2.1.2 Xét về mặt lịch sử hệ thanh điệu Việt là kết quả của quá trình chuyển
hoá các yếu tố âm thanh chiết đoạn thành siêu đoạn và những hệ quả của quá trình
5
1
4
263
Trang 26này tác động tới chỉnh thể cấu trúc âm tiết, nơi vừa có sự tham gia của các yếu tố
âm thanh chiết đoạn, vừa có sự hành chức của các yếu tố âm thanh siêu đoạn.Trong tiếng Việt, các thanh điệu xuất hiện và có đợc nh ngày nay là do sự biến
đổi lịch sử của các đơn vị âm thanh chiết đoạn Theo lý thuyết của A.GHaudricourt [16], hệ thống thanh điệu Việt hiện đang là kết quả của hai quá trình:1/ Các âm cuối -h, -? biến mất tạo nên đờng nét thanh điệu: các thanh bằng(ngang - huyền), các thanh không bằng (sắc - nặng), các thanh gãy (hỏi -ngã) 2/ Quá trình vô thanh hoá các âm đầu hữu thanh làm xuất hiện sự đối lập về
âm vực thanh điệu: các thanh cao (thanh ngang, thanh sắc, thanh hỏi), các thanhthấp (thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng) A.G.Haudricourt đã chứng minh mộtcách thuyết phục rằng sự xuất hiện về đờng nét xảy ra trớc sự xuất hiện đối lập về
âm vực và hệ thanh điệu Việt hình thành là kết quả của quá trình 3 kiểu đờng nết
x 2 âm vực thành 6 thanh điệu
Sau bài báo nổi tiếng của A.GHaudricourt "Về nguồn gốc thanh điệu tiếng
Việt", một số tác giả khác nh Trần Trí Dõi [10], efimov [13], M.Ferlus [14],
Nguyễn Văn Lợi [24] dựa trên những t liệu tiếng Mờng và các ngôn ngữ bà conkhác vừa góp phần minh xác, vừa đa ra những sửa đổi nhỏ hoặc những bổ sung lýthuyết của A.G.Haudricourt Các tác giả nh Hoàng Cao Cơng [8], Vũ Bá Hùng[21] bằng các cứ liệu thực nghiệm đã tiếp tục làm sáng tỏ con đờng đi từ yếu tốchiết đoạn đến các yếu tố siêu đoạn của thanh điệu tiếng Việt Theo Hoàng Cao C-
ơng: "Sự chuyển hoá này xảy ra dần dần và liên tục theo thời gian Nảy ra một thếcăng giữa cái gọi là chiết đoạn và siêu đoạn trong toàn bộ hệ thống âm thanh tạonên tác nhân động hoá của vỏ ngữ âm tiếng Việt Đặc điểm này đợc ngời bản ngữtiếp nhận thông qua các hành vi cảm ngữ và đợc phản ánh một cách khác nhautrong các biến thể của tiếng Việt xét theo biến thiên lịch sử và biến thiên địa lý
Sự chuyển hoá này vì vậy còn tiếp tục trong cơ chế tiếng Việt hiện đại " [8, tr.22].Nguyễn Văn Tài đã dựa vào hệ thống 5 thanh của các thổ ngữ Mờng và tiếngViệt từ Bắc Trung bộ trở vào để đa ra một cách giải thích cho sự hình thành thanh
điệu Việt nói riêng, thanh điệu nhóm Việt - Mờng nói chung Theo tác giả, bêncạnh hai âm cuối -h, -?, trong các ngôn ngữ Nam á mà phổ biến nhất là tiếng
Trang 27Bru, Vân Kiều, PaKôh, Katu còn có 2 âm cuối -jh, -j? Mỗi âm cuối này mất đisinh ra một thanh điệu (chứ không phải hai thanh điệu sinh ra do một âm cuối mất
đi) Bốn âm cuối làm hình thành 4 thanh, còn âm tiết vốn không có âm cuốinghiễm nhiên đợc nhận thức có thanh điệu trong thế đối lập mới, mặc dù về mặtngữ âm âm tiết này không có gì khác trớc Nh vậy sự hình thành thanh điệu tiếngViệt không phải là một vấn đề khá phức tạp nh nhiều tác giả trớc đây đã nghĩ.Thực chất đấy chỉ là một quá trình thay thế mỗi âm cuối Nam á mất đi trong tiếngViệt cổ bằng một thanh điệu Kết quả là "hệ thống 5 thanh của tiếng Mờng và củatiếng Việt từ Bắc Trung bộ trở vào đợc hình thành trên cơ sở đó và là hệ thốngthanh điệu cổ của tiếng Việt trớc khi ngôn ngữ này tiếp thu thanh ngã Hán - Việt"[33, tr.41]
Nh vậy, những nghiên cứu về nguồn gốc tiếng Việt khởi nguồn từ H.Maspero(1912), đợc định hình qua A.G.Haudricourt (1991) và đợc các nhà Việt ngữ họclàm sáng tỏ dần
2.1.3 Hệ thống thanh điệu tiếng Việt đợc thể hiện hết sức khác nhau ở các
vùng địa phơng Bởi thế, trong tiếng Việt thanh điệu là một trong những đặc điểmquan trọng để phân biệt phơng ngữ, thổ ngữ Nghiên cứu lai nguyên của hệ thanh
điệu Việt, Nguyễn Tài Cẩn cho biết hệ thanh điệu tiếng Việt thể hiện đầy đủ nhất
ở phơng ngữ Bắc bộ còn đa số các vùng phơng ngữ chỉ có năm thanh vì hai thanhnào đấy không tách bạch ra đợc mà nhập làm một ở Nghệ An, thanh ngã nhậpvới thanh nặng ở Hớng Hoá (Tuyên Hoá - Quảng Bình) thanh hỏi và thanh sắc,thanh ngã và thanh nặng phát âm không phân biệt rõ ràng ở Hạ Trạch - QuảngBình các thanh hỏi, thanh ngã, thanh nặng nhập làm một [6, tr.225-226] Lâu naycác nhà ngôn ngữ học đã khẳng định rằng thanh điệu là một trong những đặc điểmquan trọng dùng để nhận diện và phân biệt các phơng ngữ, thổ ngữ Dân gian đã
có kinh nghiệm dựa vào thanh điệu của ngời nói để nhận ra ngời nói là ngời địaphơng nào Bởi vậy, phơng ngữ học Việt có thêm khái niệm "giọng" vốn xuất phát
từ cách gọi của dân gian để chỉ một số giọng nói quen thuộc nh giọng Bắc, giọngNghệ, giọng Huế, giọng Quảng Nam, giọng Sài Gòn Nhận ra các giọng địa ph-
Trang 28ơng khác nhau trớc hết là dựa vào thanh điệu bởi vì theo Hoàng Thị Châu " mỗiphơng ngữ , thổ ngữ đặc biệt có hệ thống thanh điệu riêng" [7, tr.205].
Phơng ngữ Nghệ Tĩnh có mấy thanh, hiện nay vẫn là câu hỏi cha đợc trả lờimột cách tờng minh Theo Hoàng Thị Châu phơng ngữ Nghệ Tĩnh có năm thanh:không / huyền / sắc / nặng và hỏi, không có thanh ngã: "phơng ngữ Nghệ Tĩnhkhông phân biệt đợc thanh ngã và thanh nặng Cả năm thanh tạo thành hệ thốngcác thanh điệu khác với phơng ngữ Bắc, có độ trầm lớn " [7, tr.93] Cũng theoHoàng Thị Châu, thanh điệu Nghệ Tĩnh có thể xem nh tiêu biểu cho hệ thốngthanh điệu của các phơng ngữ Bắc Trung bộ Nhận xét của Hoàng Thị Châu có lẽ
là xác đáng bởi trong thực tế việc phát âm giữa thanh ngã và thanh nặng của ngờiNghệ Tĩnh lẫn lộn, không phân biệt đợc Tuy nhiên đây chỉ là nhìn trên đại thể,một cách tổng quát bởi vì tính chất "giọng Nghệ" diễn ra đa dạng và phức tạp giữacác vùng, giữa các thổ ngữ với nhau, thậm chí ngay trong cùng một thổ ngữ cũngkhông có sự thuần nhất, tiêu biểu nh giọng Nghi Lộc, mỗi xã có một giọng riêng ítgiống nhau và đặc biệt trong mỗi xã nh xã Nghi Ân, Nghi Đức từng xóm cũng cógiọng nói khác nhau Chính điều này tạo nên bản sắc của giọng Nghệ Tĩnh nóichung, giọng Nghi Lộc nói riêng Cái làm cho ngời các địa phơng khác nhận xétgiọng Nghệ là "trầm nặng", "trọ trẹ" chủ yếu là ở việc thể hiện hệ thống thanh
điệu Ngời Nghệ không những phát âm không phân biệt thanh ngã và thanh nặng
mà còn không phân biệt đợc thanh ngã và thanh hỏi, thanh ngã và thanh huyền ởmột số thổ ngữ, thanh hỏi và thanh sắc cũng vậy Các thanh điệu phát âm hỗnnhập từ thanh này sang thanh khác, thậm chí có sự "rối loạn" trong hệ thống thanh
điệu Điều này làm cho bức tranh thanh điệu Nghệ Tĩnh đợc thể hiện hết sức đadạng và phức tạp ở các thổ ngữ, đặc biệt ở giọng Nghi Lộc
Tuy cha nhiều nhng việc tìm hiểu hệ thống thanh điệu Nghi Lộc cũng đã đợcmột số nhà nghiên cứu quan tâm Tác giả Bùi Văn Nguyên (1977) đã có một sốcảm nhận khá tinh tế về thanh điệu Nghi Lộc Các tác giả Hoàng Thị Châu (1989),
Võ Xuân Quế (1993), Trần Trí Dõi (2001) đã có những miêu tả đồng đại hệ thốngthanh điệu Nghi Lộc Qua những công trình của các tác giả này góp phần nêu bật
Trang 29đặc điểm thanh điệu Nghi Lộc, nét riêng của giọng Nghi Lộc , từ đó giúp cho việcnhận diện hệ thống thanh điệu Nghi Lộc một cách dễ dàng hơn.
2.1.4 Việc xác định tập nét ngữ âm cho hệ thanh điệu Việt cho đến nay vẫn
cha có sự thống nhất trong các nhà nghiên cứu Theo Đoàn Thiện Thuật "chỉ có
ba thế đối lập: 1/cao - thấp, 2/ gãy- không gãy , 3/ đi lên- đi xuống là có giá trị âm
vị học Thế đối lập đầu thuộc về âm vực, còn hai thế đối lập sau thuộc về âm điệu.Với ba thế đối lập này, 6 thanh điệu tiếng Việt đủ khu biệt lẫn nhau" [35, tr.145].Hoàng Thị Châu cũng cho rằng: " ở các ngôn ngữ đơn lập Đông Nam á, âm vực
và âm điệu gây ấn tợng mạnh nhất" [7, tr.204] Chúng tôi cho rằng khi khảo sát vàmiêu tả ngữ âm hệ thanh điệu của một phơng ngữ, thổ ngữ, ngoài việc sử dụng hainét ngữ âm cơ bản trên có thể sử dụng thêm các nét về trờng độ, cờng độ, hiện t-ợng tắc thanh hầu, thanh quản hoá Đoàn Thiệt Thuật [35] gọi những nét ngữ âm
đó là "những nét rờm", còn Hoàng Thị Châu [7] gọi là "những yếu tố phi điệutính" Có thể những nét ngữ âm trên không có mấy giá trị âm vị học khi dùng đểxác lập hệ thanh điệu Việt nhng chúng lại góp phần chỉ ra đợc các nét đặc hữu địaphơng, giúp ta nhận diện thanh điệu ở một phơng ngữ, thổ ngữ Do đó khi mô tả
hệ thống thanh điệu Nghi Lộc chúng tôi sử dụng một tập nét ngữ âm bao gồm cácnét điệu tính và phí điệu tính T liệu để khảo sát và miêu tả dựa trên sự quan sátbằng tai thờng kết hợp với sự phân tích qua băng ghi âm mà chúng tôi thu đợc quacác đợt điều tra điền dã
2.2 Miêu tả ngữ âm hệ thống thanh điệu Nghi Lộc
Cũng nh các thổ ngữ khác của Nghệ Tĩnh, Nghi Lộc vốn không có thanh ngã.Trong cách phát âm của ngời Nghi Lộc, hai thanh sắc và hỏi cũng đợc nhập làmmột Do đó Nghi Lộc chỉ có bốn thanh: thanh ngang, thanh huyền, thanh sắc hỏi
và thanh nặng ngã Nh vậy từ sự quan sát thực tế cách phát âm địa phơng, dùngthính quan nghe trực tiếp kết hợp với ghi băng catset cách phát âm của một số ng-
ời gốc địa phơng sống lâu năm và dựa vào sự thừa nhận của ngời bản ngữ, chúngtôi cho rằng hệ thanh điệu Nghi Lộc có bốn thanh Hệ thanh điệu bốn thanh trong
Trang 30thổ ngữ Nghi Lộc vẫn có sự phân biệt với nhau mặc dù sự phân biệt đó khác với sựphân biệt trong tiếng Việt văn hoá cũng nh trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh và các ph-
đề về âm vực nhng âm điệu là có nét khác biệt - nét đi lên về phía cuối thanh sovới thanh ngang tiếng Việt văn hoá Trong khí đó, trong cách phát âm ở các thổngữ xung quanh chợ Cồn (Thanh Chơng) thanh ngang đợc thể hiện có cao độ xuấtphát hơi cao nhng điểm kết thúc lại thấp hơn điểm xuất phát Đờng nét âm điệu đixuống thoai thoải, không tạo thành sự gãy khúc, trờng độ vừa phải, cờng độ bìnhthờng, hơi giống thanh huyền nhng khác thanh huyền ở điểm kết thúc không thấp
nh thanh huyền ở cách phát âm này, thanh ngang có sự khác biệt cả về âm vực và
âm điệu
Theo mô tả của Đoàn Thiện Thuật (1977) thanh ngang tiếng Việt có thể thểhiện lại theo cách trình bày của W Gedney (1964) thành [33]; còn thanh ngangNghi Lộc đợc thể hiện trong các âm tiết rời nh sau: