1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Miền núi trong sáng tác của đỗ bích thủy luận văn thạc sĩ ngữ văn

100 1,4K 20
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Miền Núi Trong Sáng Tác Của Đỗ Bích Thúy
Tác giả Nguyễn Quốc Toản
Người hướng dẫn Phó Giáo Sư - Tiến Sĩ Mai Hương
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 688 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đi sâu khảo sát những sáng tác về miền núi của nhà văn Đỗ Bích Thúy trước hết là một cách tiếp cận thế giới nghệ thuật của nhà văn, thấy được nét đặc sắc riêng trong cá tính sáng tạo và

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và

Trang 2

chưa từng cụng bố trong bất kỡ một cụng trỡnh nào khỏc Nếu vi phạm tụi hoàn toàn chịu trỏch nhiệm.

Vinh, thỏng 12 năm 2011

Tỏc giả luận văn

Nguyễn Quốc Toỏn

Lời cảm ơn

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:

Hội đồng khoa học chuyên ngành Khoa Ngữ văn, Khoa Sau đại học ờng Đại học Vinh và các thầy cô giáo tham gia quản lí, giảng dạy, động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu học tập.

Trang 3

Phó giáo s - Tiến sĩ Mai Hơng - Ngời hớng dẫn khoa học đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn này.

Gia đình, ngời thân và bạn bè đồng nghiệp đã chia sẻ, động viên, giúp đỡ, khích lệ trong quá trình học tập, nghiên cứu.

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhng luận văn tốt nghiệp không thể tránh khỏi sai sót Kính xin đợc sự góp ý, chỉ dẫn thêm của Hội đồng khoa học, thầy, cô và các bạn.

Vinh, tháng 12 năm 2011

Tác giả Luận văn

Trang 4

Môc lôc

Trang

Trang 5

I Lí do chọn đề tài 1

1.2.1 Vài nét về tiểu sử của Đỗ Bích Thúy 26 1.2.2 Quá trình sáng tác của Đỗ Bích Thúy 27 1.2.3 Những nét tơng đồng và khác biệt của Đỗ Bích Thúy với các tác giả văn xuôi

2.2.2 Con ngời miền núi trong sáng tác của Đỗ Bích Thúy 57

Chơng 3 Nghệ thuật thể hiện hiện thực và con ngời miền núi trong sáng tác của

Trang 6

3.4 Giäng ®iÖu trong s¸ng t¸c cña §ç BÝch Thóy 88

đề tài này thể hiện ở cả đội ngũ sáng tác, sự phát triển bề rộng và sự kết tinh vào không ít tác giả, tác phẩm

Văn xuôi miền núi là khu vực thể hiện rõ nhất những thay đổi lớn lao của hiện thực Bước đi của lịch sử cách mạng Việt Nam diễn ra trước hết ở địa bàn vùng cao, nơi có căn cứ địa cách mạng Trong kháng chiến và công cuộc kiến thiết, đời sống và con người miền núi trong quá trình cách mạng thật sự nổi đậm, chiếm lĩnh vị trí một trong những đề tài lớn của văn học Văn xuôi về miền núi, với sức bao quát rộng rãi của các thể loại chủ lực, có

Trang 7

vai trò như một biên niên sử về cuộc đổi đời vĩ đại của các dân tộc anh em trong cách mạng dân tộc - dân chủ và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Văn học viết về miền núi là khu vực duy nhất trong nền văn học có sự hiện diện khá đông đủ bộ mặt văn học các dân tộc anh em trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam Từ khi hình thành đội ngũ viết văn xuôi các dân tộc, văn học miền núi thật sự có một bước chuyển mang tính chất nhảy vọt Sự hình thành và phát triển văn xuôi các dân tộc miền núi có ý nghĩa như sự hoàn thiện một chu trình phát triển trong lịch sử văn học Với khả năng khơi sâu vào nét độc đáo của mỗi dân tộc, vùng miền, văn xuôi các dân tộc thiểu số đã chấm dứt tình trạng nhất thể hóa văn hóa, đem lại sự phong phú, đa dạng và tầm vóc riêng cho cả nền văn xuôi hiện đại

Đề tài miền núi từng đem lại những tác phẩm văn xuôi đứng ở vị trí hàng đầu trong nền văn học cách mạng, được dịch ra nhiều thứ tiếng và giảng dạy trong nhà trường Tô Hoài, Nguyên Ngọc, Ma Văn Kháng - những nhà văn dành phần lớn tài năng, tâm huyết cho đề tài miền núi cũng

là những cây bút chủ lực trong văn học hiện đại nước nhà

Tiếp nối mảng đề tài và nguồn cảm hứng bất tận đó, một số cây bút trẻ hiện nay đã và đang chứng tỏ để khẳng định mình với những thành công nhất định Tuy nhiên, họ lại có những cách khai thác, khám phá riêng, táo bạo, mới lạ, tạo nên những nét riêng, độc đáo, để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc Trong số những cây bút trẻ sáng tác về đề tài này không thể không kể đến nhà văn Đỗ Bích Thuý - cây bút người Kinh, sinh

ra và lớn lên ở miền núi, gắn bó với miền núi và say mê sáng tác về miền núi

Tuy chỉ mới xuất hiện trên văn đàn trên dưới mười năm nhưng sáng tác của Đỗ Bích Thúy đã tạo được nhiều sự mới mẻ và thu hút được sự quan tâm của công luận Giọng văn ấn tượng và tài năng nghệ thuật của chị

đã được khẳng định bằng nhiều giải thưởng quan trọng ngay từ những sáng tác đầu tay

Trang 8

Đỗ Bích Thúy sinh năm 1975 tại Hà Giang Từng đoạt giải nhất cuộc

thi truyện ngắn Tạp chí Văn Nghệ Quân đội năm 1998 - 1999 Đến nay, Đỗ Bích Thúy đã cho xuất bản các tập truyện ngắn: Sau những mùa trăng,

Những buổi chiều ngang qua cuộc đời, Kí ức đôi guốc đỏ, Tiếng đàn môi sau bờ rào đá; tập truyện dài Người đàn bà miền núi; tiểu thuyết Bóng của cây sồi và mới đây nhất là tập tản văn Trên căn gác áp mái Chị từng viết

kịch bản sân khấu với vở “Diễm 500 đô” hay “Quá khứ đòi nợ” (đạo diễn

Lê Hùng) Truyện ngắn “Tiếng đàn môi sau bờ rào đá” của Đỗ Bích Thúy

được đạo diễn Ngô Quang Hải chuyển thể thành kịch bản phim truyện nhựa

với tên gọi “Chuyện của Pao” Nhà xuất bản Kim Đồng sắp phát hành tập truyện thiếu nhi có tên “Hội cầu vồng” của chị Hiện Đỗ Bích Thúy là Phó

Đã có khá nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu, phê bình, lí luận văn học… nhưng chưa có một công trình lớn nào nghiên cứu tổng hợp các tác phẩm của Đỗ Bích Thúy về mảng đề tài miền núi Là một người làm công tác giảng dạy ở miền núi khi thưởng thức những tác phẩm của Đỗ Bích Thúy tôi cảm thấy rất sâu sắc, chân thật và gần gũi như đang viết về nơi tôi đang công tác vậy, bởi nơi đây thiên nhiên cũng rất đẹp và hoang dã, con người rất chân thành, mộc mạc và nồng hậu nhưng hoàn cảnh, điều điện sống còn nhiều khổ cực, khó khăn, nhất là những người phụ nữ Chính vì

vậy chúng tôi đã quyết định thực hiện đề tài Miền núi trong sáng tác của

Đỗ Bích Thúy Đi sâu khảo sát những sáng tác về miền núi của nhà văn Đỗ

Bích Thúy trước hết là một cách tiếp cận thế giới nghệ thuật của nhà văn, thấy được nét đặc sắc riêng trong cá tính sáng tạo và phần đóng góp đáng quý của chị trong văn xuôi miền núi nói riêng, văn học Việt Nam đương đại nói chung; đồng thời đây cũng là một cách khám phá sự đa dạng, phong phú, độc đáo về văn hóa các dân tộc và cái nhìn mới về miền núi trong văn xuôi đương đại, góp phần vào quá trình đổi mới văn học Việt Nam Đó là lí

do chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài này

Trang 9

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Những nghiên cứu về văn xuôi miền núi đương đại

Văn học dân tộc và miền núi xưa nay luôn có một sức hấp dẫn đặc biệt

và hiện nay đang rất được quan tâm, chú ý Ma Văn Kháng gọi đó là “đề tài đầy tính nhân văn” mà mỗi lần “đọc những trang viết thành công về đề tài này của mình và bạn bè, tôi vẫn mê đắm cái hồn nhân ái của nó” Thực tế cho thấy đây là mảng đề tài lớn, còn nhiều khoảng trống để khai thác nhưng không phải ai muốn cũng dám cầm bút viết Nhiều tác giả cố tình khoác áo miền núi, mượn danh miền núi, viết ra vẻ ngô nghê, nhại tiếng dân tộc… để gây sự chú ý của dư luận Số lượng tác phẩm “miền núi giả cầy” do đó cũng không ít

Sự vận động của văn học miền núi hiện nay cũng là sự trăn trở của nhiều người cầm bút và các nhà nghiên cứu Mai Liễu quan ngại khi nhận thấy “văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam đang đứng trước cơ hội phát triển mới đồng thời cũng đứng trước nguy cơ mai một bản sắc, bị “mất chất” hơn bao giờ hết”, nhưng cũng lạc quan rằng “bước vào thập kỉ đầu tiên của thế kỉ XXI, văn học dân tộc thiểu số nước ta sẽ có được những tác phẩm lớn về quê hương, đất nước chúng ta, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương V (khóa VIII) của Đảng đã vạch ra” [27] Trước tình hình sáng tác và nghiên cứu hiện nay, phát biểu đề dẫn tại Hội nghị văn học các dân tộc thiểu số và miền núi tại Sa Pa – Lào Cai ngày 27 – 28/4/2004, Dương Thuấn đã nêu ra nhiều vấn đề thời sự: Tình hình văn học dân tộc và miền núi năm năm qua, việc đào tạo và xây dựng đội ngũ người viết trẻ kế cận, chất lượng sáng tác văn học trong những năm tới phải được nâng cao lên… và đặc biệt nhấn mạnh đến việc “nâng cao chất lượng viết về dân tộc miền núi là nhiệm vụ quan trọng hiện nay” Đánh giá tình hình văn học dân tộc và miền núi, Dương Thuấn chỉ ra mặt mạnh, mặt yếu, những thành tựu cũng như hạn chế cần nhanh chóng khắc phục “Sự hẫng hụt về đội ngũ

Trang 10

sáng tác đang là một vấn đề bức thiết” Tuy vậy, các nhà văn dân tộc thiểu

số và các nhà văn dân tộc Kinh trong những năm qua đã “luôn đoàn kết bên nhau, sáng tạo không ngừng, nâng cao về tay nghề và chất lượng tác phẩm Trên mỗi thể loại thơ, văn xuôi, nghiên cứu lí luận phê bình đều đạt được những thành tựu nhất định” Riêng về văn xuôi, các tác giả hàng năm vẫn đều đặn cho ra mắt các tiểu thuyết, truyện ngắn, bút kí… nhưng cho đến nay, “văn xuôi vẫn đang trong sự chờ đợi” [45]

Tâm huyết với mảng đề tài này, nhiều vấn đề như: Truyền thống và hiện đại, nghệ thuật văn xuôi, thành công, đặc sắc, hạn chế cùng một số đề xuất, định hướng cho sự phát triển của văn học dân tộc thiểu số Việt Nam… đã được Lâm Tiến dày công nghiên cứu và trình bày cụ thể trong

hai tập sách Về một mảng văn học dân tộc, 1999, Nxb Văn hóa dân tộc và

Văn học và miền núi, 2002, Nxb Văn hóa dân tộc.

Văn học không nệ đề tài nhưng vì một lí do nào đó mà bỏ quên, không chú ý đến đề tài sẽ làm cho văn học nghèo đi rất nhiều Trước thực trạng phát triển văn học hiện nay và trước sức ép của nền kinh tế thị trường, rất nhiều cây bút phải chạy theo những đề tài nóng, những vấn đề thời thượng thì sự lặng lẽ, chuyên tâm, đam mê dành cho miền núi như Đỗ Bích Thúy

là vô cùng đáng quý Những cuộc thi truyện ngắn gần đây của các báo và

tạp chí Văn nghệ, Văn nghệ Quân đội, Sông Hương… vừa là dịp dành cho

các cây bút trẻ thử sức, thi thố tài năng, vừa là dịp cho chúng ta thấy bộ mặt nông thôn mới, đô thị mới, miền núi mới với bao nhiêu sự khác lạ, phức tạp, bề bộn, trăn trở, bao điều mà văn học giai đoạn trước ít có điều kiện đề cập tới

2.2 Những nghiên cứu về Đỗ Bích Thúy

Sự xuất hiện của những tác phẩm về đề tài miền núi mang nét phong cách riêng, mới lạ và độc đáo của Đỗ Bích Thuý sớm thu hút được sự quan tâm chú ý, sự đánh giá phê bình của độc giả, các nhà nghiên cứu, phê bình văn học

Trang 11

Theo nhà văn Chu Lai, thành công của Đỗ Bích Thúy là mang đến cho người đọc một “món ăn lạ”, khiến họ được sống trong một mảnh đất lạ mà

“tất cả được miêu tả dịu nhẹ, chênh vênh, chấm phá, không dài dòng, không đa ngôn” Ông cũng cho rằng “chất bình dị, xôn xao, chân thật không chỉ là tiêu chí trong các cuộc thi văn của tạp chí mà còn là đặc trưng của nền văn học” [21] Cũng chính yếu tố đó đã làm nên cái duyên và sức gợi của giọng văn trẻ Đỗ Bích Thuý

Trong lời giới thiệu tập truyện Những buổi chiều ngang qua cuộc đời,

Nguyễn Hòa khẳng định: “Trong vài năm trở lại đây, số các cây bút trẻ viết

về đề tài dân tộc và miền núi không nhiều và Đỗ Bích Thúy là một người thành công trong số ít đó”

Sự vững vàng của cây bút nữ gắn bó với mảnh đất Hà Giang một lần

nữa được Lê Thành Nghị khẳng định qua lời giới thiệu tập truyện Tiếng

đàn môi sau bờ rào đá: “Khát vọng về hạnh phúc, những tâm sự cháy bỏng

về lẽ sống, ý thức về những ngày hiện tại ở một vùng đất độc đáo, đầy kỉ niệm đã tạo ra trong ngòi bút Đỗ Bích Thúy niềm xúc động chân thành, chảy dào dạt trên trang viết” Với những gì Đỗ Bích Thúy đã, đang và sẽ viết, chúng ta có quyền nghĩ đến “một ngày chị sẽ trở thành một cây bút thực sự trưởng thành của văn xuôi Việt Nam hiện đại” [33]

Đọc Tiếng đàn môi sau bờ rào đá, Nguyễn Phương Liên nhận thấy “tất

cả những truyện ngắn chị đều viết về cuộc sống và con người nơi mảnh đất chôn nhau cắt rốn của mình Nét độc đáo, vẻ đẹp đời sống tâm hồn, chiều sâu tâm linh người dân tộc thiểu số được chị thể hiện đơn giản mà sâu sắc” [26]

Cùng chung ý kiến, Trung Trung Đỉnh không giấu được sự thán phục trước vẻ đẹp của những trang văn viết về miền sơn cước của Đỗ Bích Thúy: “Tôi có cảm giác Đỗ Bích Thuý còn quá nhiều điều để viết về miền rẻo cao xa xôi nhưng gần gũi, tuyệt vời đẹp ấy của nước ta Tôi cũng là người mê viết truyện ngắn và mê cao nguyên đá kì vĩ Hà Giang, nhưng đọc

Trang 12

truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy, tôi thực sự ngả mũ chào thua! Dẫu đây mới chỉ là mở đầu Một mở đầu mơ ước của một nhà văn” [6].

Dõi theo những sáng tác của cây bút trẻ, Thanh niên online nhận ra

một Đỗ Bích Thúy với tình yêu miền núi da diết, trước sau vẫn mang đậm khí chất núi rừng, nơi đã hun đúc, nuôi dưỡng tài năng văn chương của chị:

“Đi một chặng đường dài từ Hà Giang về Hà Nội, mấy năm qua, chị vẫn cứ

là một cô gái nông thôn chất phác với những cử chỉ chậm rãi, một “con trăng trong rừng ngải đắng” như cách gọi của ai đó Đoạt không ít giải thưởng văn xuôi, những tác phẩm của Đỗ Bích Thúy khiến người ta phải nao lòng bởi sự gắn bó bền bỉ, da diết với miền sơn cước”

Trong không khí đổi mới văn chương mạnh mẽ có thể thấy rằng lối viết của Đỗ Bích Thúy không mới, không hiện đại, không cách tân, chị viết trung thành với quan niệm của riêng mình: “Nếu mới mà làm người đọc thất vọng thì tôi thà cũ còn hơn” Với lối viết truyền thống và sự “chung thủy với cây hương, bếp lửa quê mình” chị đã tạo nên một không khí văn chương đích thực trên mỗi trang viết Với chị, điều quan trọng nhất của một nhà văn chính là ở chỗ “… luôn sống hết mình, viết hết mình và viết những

gì mình có, mình đau đớn vì nó, không vay mượn, không cố gắng” [39]

Có thể nhận thấy khi nghiên cứu về nhà văn Đỗ Bích Thúy cũng như những sáng tác của chị, những độc giả, các nhà nghiên cứu phê bình mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra những ý kiến đánh giá nhận xét hoặc những bài viết, chuyên luận mà chưa có một công trình thực sự nào đi sâu nghiên cứu những tác phẩm của Đỗ Bích Thúy về đề tài miền núi

Theo sự khảo sát của chúng tôi, cũng có số ít đề tài nghiên cứu về sáng tác của nhà văn Đỗ Bích Thúy nhưng thường gộp với việc nghiên cứu một số nhà văn khác hoặc chỉ ở một góc độ, một khía cạnh nào đó,

như: Tìm hiểu một số cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn của một số

cây bút nữ thời kỳ 1986-2006 (Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư,

Đỗ Bích Thúy) - Luận văn ThS Nguyễn Thanh Hồng, Đại học Khoa

Trang 13

học xã hội và Nhân văn, 2009; Tiếp cận sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư

và Đỗ Bích Thúy từ phương diện giá trị văn học - văn hóa - Luận văn

Th.S Dương Thị Kim Thoa - Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn,

2008; Đề tài dân tộc và miền núi trong sáng tác của Đỗ Bích Thúy và

Phạm Duy Nghĩa - Luận văn Thạc sĩ của Mai Thị Kim Oanh - Đại học sư

phạm Hà Nội, 2008; Truyện ngắn về đề tài dân tộc miền núi phía Bắc (qua các tác phẩm của Cao Duy Sơn, Đỗ Bích Thúy và Nguyễn Huy Thiệp) - Luận văn ThS Nguyễn Minh Trường Đại học Khoa học xã hội

và Nhân văn, 2009; Tìm hiểu một số cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn của một số cây bút nữ thời kì 1986 - 2006 (Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy) - Luận văn Th.S.Nguyễn Thanh Hồng -

Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, 2009… Đây là những gợi ý cho

chúng tôi khi đi vào triển khai đề tài này

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi luận văn thạc sĩ, chúng tôi chọn khảo sát sáng tác của các nhà văn trẻ người Kinh về miền núi phía Bắc, một vùng miền có nét văn hóa đặc trưng, độc đáo và ổn định, trong đó đi sâu nghiên cứu các sáng tác của Đỗ Bích Thúy:

1 Tập truyện ngắn Sau những mùa trăng (2001), Nxb Quân đội Nhân dân

2 Tập truyện ngắn Những buổi chiều ngang qua cuộc đời (2002), Nxb

Thanh Niên

3 Tập truyện ngắn Kí ức đôi guốc đỏ (2004), Nxb Kim Đồng

4 Tập truyện ngắn Tiếng đàn môi sau bờ rào đá (2005), Nxb Công an

Nhân dân

5 Tiểu thuyết Bóng của cây sồi (2005), Nxb Thanh niên

6 Truyện vừa Người đàn bà miền núi (2008), Nxb Phụ nữ

7 Tập tản văn Trên căn gác áp mái (2011), Nxb Phụ nữ

4 Phương pháp nghiên cứu

Trang 14

Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi vận dụng các phương pháp chủ yếu sau:

Phương pháp phân tích tác phẩm văn học

Đỗ Bích Thúy

5.2 Về mặt thực tiễn

Góp thêm một tư liệu tham khảo cho các bạn sinh viên, cho những ai quan tâm đến đề tài này và đặc biệt là đến những sáng tác của Đỗ Bích Thúy.Ghi nhận những đóng góp của nhà văn Đỗ Bích Thúy đối với sự phát triển của văn học dân tộc miền núi cũng như văn học Việt Nam đương đại

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm có 3 chương:

Chương1 Văn xuôi miền núi đương đại và sự xuất hiện của nhà văn

Trang 15

Chơng 1 Văn xuôI miền núi HIệN đại

và sự xuất hiện của nhà văn đỗ Bích ThÚY

1.1 Khỏi lược về văn xuụi miền nỳi hiện đại

1.1.1 Một cỏch hiểu về văn xuụi miền nỳi

Cú thể hiểu văn xuụi miền nỳi là những sỏng tỏc văn xuụi nghệ thuật

viết về đề tài miền nỳi trong văn học Việt Nam Theo quan niệm của khụng

ớt người: “văn xuụi” là thể loại chủ lực của sỏng tỏc văn học Núi như thế là

để khẳng định khả năng riờng, to lớn của văn xuụi trong nghệ thuật ngụn

từ, trong việc thể hiện ý đồ tư tưởng nghệ thuật của nhà văn, trong tả, kể, biểu hiện… So với thơ, văn xuụi cho phộp nhà văn tự do, linh hoạt, năng động hơn trong sỏng tạo, thể hiện đời sống, con người Cõu văn xuụi khụng

bị hạn chế về số õm tiết, cú thể dài ngắn tựy ý người viết Cỏc từ ngữ, õm tiết trong cõu cũng khụng bị gũ bú, cõu thỳc về thanh về vần Cỏc cõu nối tiếp nhau giống chuỗi lời núi ngoài đời, thuận tiện trong giao tiếp nghệ thuật Văn bản văn xuụi cũng khụng bị hạn chế về dung lượng cõu chữ… Nhưng cũng chớnh vỡ thế, sự ra đời, trưởng thành, phỏt triển của văn xuụi nghệ thuật cũng là một quỏ trỡnh, gắn với và phản ỏnh sự vận động, trưởng thành của văn học núi chung Văn xuụi cú nhiều thể, nhưng tiờu biểu nhất

là truyện Về phạm vi hư cấu, sỏng tạo, truyện tự do, linh hoạt hơn so với

kớ, tản văn, cỏc thể văn xuụi khỏc Truyện cũng cú quỏ trỡnh phỏt triển gắn với những đặc điểm văn húa - lịch sử của nền văn học Truyện ngắn, tiểu thuyết là những thể văn xuụi ghi được nhiều thành tựu Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn, tiểu thuyết xưa nay thu hỳt sự chỳ ý, say mờ của bao lớp bạn đọc Do phương thức phản ỏnh riờng, tớnh nghệ thuật của những sỏng tỏc truyện ngắn với cỏ tớnh sỏng tạo của nhà văn, trở nờn phong phỳ, hấp dẫn vụ cựng Văn xuụi cú khả năng khỏm phỏ, khắc hoạ mọi phương diện

Trang 16

biểu hiện của cuộc sống, con người và thực sự chứng tỏ tính năng động, sức hấp dẫn của mình khi tìm đến phản ánh những phạm vi mới, những khu vực mới mà các thể loại khác, hoặc có thể phản ánh nhưng không thành công, ấn tượng như văn xuôi, hoặc khó tiếp cận hơn so với văn xuôi Sự xuất hiện truyện đường rừng trong văn học Việt Nam những năm 30 – 40 của thế kỷ XX và sau này, sự ra đời, phát triển của văn xuôi viết về cuộc sống và con người miền núi trong văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám 1945 đã chứng tỏ vai trò là thể loại chủ lực của văn xuôi trong mảng

đề tài này Giai đoạn đầu của quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam chủ yếu diễn ra ở khu vực thị thành Với cách mạng và kháng chiến, vị trí của vùng cao và nhân dân các dân tộc miền núi ngày càng được nhận thức đầy

đủ, ngày càng được quan tâm, coi trọng Bác Hồ từng nói: “Miền núi nước

ta chiếm một vị trí quan trọng đối với quốc phòng, đối với kinh tế, là căn

cứ địa trong lịch sử chống ngoại xâm và phên dậu bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước” Một phạm vi đời sống rộng lớn (chiếm tới ba phần tư diện tích lãnh thổ, nơi có nhiều dân tộc anh em trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, chiếm gần 30% dân số cả nước sinh sống Phong cảnh thiên nhiên, môi trường, cuộc sống và con người miền núi vừa là mảnh đất mới mẻ, vừa chứa đựng bao vấn đề, bao vẻ đẹp mà văn học nói chung, văn xuôi nói riêng có thể tiếp cận, khám phá, diễn tả Văn xuôi miền núi ngày càng phát triển về nhiều phương diện và thực sự trở thành một bộ phận quan trọng trong văn học miền núi, trong văn xuôi hiện đại Việt Nam

1.1.2 Phác thảo diện mạo văn xuôi miền núi đương đại

1.1.2.1 Giai đoạn trước năm 1945

Trong giai đoạn 1930 – 1945 đã mở ra nhiều con đường cho nhà văn đến với những miền đất mới Một trong những miền đất ấy là cuộc sống và con người miền núi Đây là mảng hiện thực vô cùng phong phú, hấp dẫn đã thu hút sự chú ý của nhiều cây bút đương thời như Lan Khai với các

Truyện đường rừng, Thế Lữ với Vàng và máu, Đới Đức Tuấn với Thần Hổ,

Trang 17

Ai hát giữa rừng khuya, Lưu Trọng Lư với Người sơn nhân, Khái Hưng với Tiếng khèn, Nhất Linh với Lan rừng, Nguyễn Tuân với Đỉnh non tản, Vũ

Bằng với Cô gái thổ quàng khăn đỏ, Vũ Trọng Phụng với Đi săn khỉ, Thanh Tịnh với Ngậm ngải tìm trầm, Hồ DZếnh với Trong bóng rừng, Lý Văn Sâm với tập Kòn trô… Những sáng tác của họ đã thực sự mở ra một thời kì

mới và góp phần đánh dấu một bước tiến mới cho nền văn học dân tộc

Một trong những đóng góp nổi bật của giai đoạn này, đó là thể loại

truyện ngắn Truyện ngắn kì ảo (thường gọi là những Truyện lạ đường rừng) là những truyện chứa nhiều chất huyền bí, kì dị kiểu truyền kì của

phương Đông xen lẫn những yếu tố kinh dị của phương Tây như truyện

Người lạ, Ma thuồng luồng, Đôi vịt con, Người hóa hổ (Lan Khai), Một truyện ghê gớm,Tiếng hú ban đêm (Thế Lữ), Đỉnh non Tản (Nguyễn Tuân), Người con gái của thần rắn (Cung Khanh)… Tuy nhiên, đây không phải là

sự đột biến của nghệ thuật mà ít nhiều có kế thừa truyền thống văn nghệ của dân tộc và tinh hoa của thế giới Do vậy, yếu tố kỳ ảo được nhà văn sử dụng ở đây như một phương tiện hướng tới những chân lý nghệ thuật nhằm giúp người nghệ sĩ phản ánh cái hiện thực vô hình của cuộc sống tự nhiên, đồng thời qua đó để thoả mãn nhu cầu thẩm mỹ của người thưởng thức Loại truyện ngắn hiện thực là những tác phẩm giàu tính hiện thực ở miền núi, mô tả một tình huống oái oăm, một hoàn cảnh bi thảm mang tính chất

bi kịch, hoặc những truyện kể về một hành động dũng cảm vì nghĩa lớn

như: truyện Sóng nước Lô Giang (Lan Khai) nói về cảnh đau thương, tan nát của một gia đình do quân giặc gây ra Truyện Mưu thằng Đợi (Lan

Khai) kể về tài trí, dũng cảm của một em nhỏ mà cứu thoát làng bản khỏi

tay quân giặc tàn ác Trong Tiếng Khèn (Khái Hưng) nói về cái chết của

người con gái trẻ tuổi mà nguyên do bởi tục cưỡng hôn trong xã hội phong kiến miền núi… Mỗi truyện phản ánh một cách tự nhiên, thể hiện được sự tìm tòi nghệ thuật nên tạo được vẻ đẹp riêng Loại truyện ngắn mang màu sắc lãng mạn với những tác phẩm tự sự trữ tình, giàu chất thơ như truyện

Trang 18

Chim Đèo, Hoa bên suối, Cô Thơ, Cô Bụt, Trăng ngàn (Thế Lữ), Lan rừng

(Nhất Linh), Ngọn gió rừng (Trần Thanh Mại), Trong bóng rừng (Hồ

DZếnh)… Các truyện này đều lấy bối cảnh thiên nhiên làm điểm tựa cho nên truyện kể về con người, một mảnh đời, hoặc một khía cạnh của cuộc sống nhưng lại được biểu đạt bằng những trạng thái phức điệu của tâm hồn, thấm đẫm hơi thở của rừng xanh

Đóng góp nữa của văn học giai đoạn này là thể loại Tiểu thuyết đường rừng Đây là những tác phẩm có dung lượng hiện thực phản ánh phong phú

hơn các truyện ngắn Trong truyện, nhà văn đã kết hợp giữa các yếu tố lãng mạn, hiện thực cùng những chất liệu lịch sử, đôi khi xen cả những yếu tố truyền kì làm cho câu chuyện thêm hấp dẫn Riêng ở phương diện nghệ thuật có thể thấy các nhà văn đã tìm ra một con đường để cách tân tiểu

thuyết Chẳng hạn, những truyện: Rừng khuya, Suối đàn, Mọi Rợ, Chiếc nỏ

cánh dâu, Tiếng gọi của rừng thẳm (Lan Khai); Người Sơn nhân (Lưu

Trọng Lư)… là những truyện có cốt truyện đơn giản, nhân vật không nhiều,

nhưng chất liệu hiện thực phong phú Hay một số tiểu thuyết như: Gái thời

loạn, Đỉnh non thần, Trong cơn binh lửa, Bóng cờ trắng trong sương mù

(Lan Khai), tuy là tiểu thuyết lịch sử nhưng trong đó hiện thực miền núi cũng không kém phần sinh động Ngoài ra ta còn thấy xuất hiện một số tác

phẩm như: Vàng và máu, Tiếng hú hồn của mụ ké (Thế Lữ), Thần Hổ, Ai

hát giữa rừng khuya (Đới Đức Tuấn)… Cũng giống như những truyện ngắn

kì ảo, các tiểu thuyết này còn mang yếu tố hoang đường làm người đọc kinh ngạc, thích thú thậm chí sợ hãi Song tất cả những yếu tố đó không ngoài mục đích tạo ra những tác phẩm nghệ thuật mới lạ nhằm phản ánh trí tưởng tượng phong phú của nhà văn

Truyện viết về miền núi giai đoạn 1930 – 1945 mang những đặc điểm chung của loại hình tự sự nhưng có nhiều sáng tạo Các câu chuyện ở đây

có kết cấu theo nhiều mô thức về tình yêu, vận mệnh, hiện thực, phi hiện thực, ảo hóa… đã tạo được sự khác biệt so với các truyện cổ dân gian và

Trang 19

các tác phẩm thuộc thời kì văn học trung đại Các sáng tác văn học giai đoạn 1930 – 1945 đã tránh được những mô típ quen thuộc của văn học quá khứ Dưới ngòi bút của các nhà văn, cuộc sống và con người miền núi hiện lên sống động và trong mỗi câu chuyện, mỗi lần xuất hiện một nhân vật, đều đem đến cái nhìn mới cho bạn đọc Có được điều này là bởi, mỗi câu

chuyện ở đây là một thế giới nghệ thuật mới mẻ Đọc các truyện Rừng

khuya, Suối Đàn, Hồng thầu, Đỉnh non thần, Chiếc nỏ cánh dâu của Lan

Khai, Tiếng khèn của Khái Hưng, Ai hát giữa rừng khuya, Thần hổ của Đới Đức Tuấn, Tiếng hú hồn ban đêm và tập Vàng và máu của Thế Lữ… ta thấy mỗi câu chuyện là một bức tranh nghệ thuật riêng Trong Rừng khuya

chàng trai Mai Kham và cô gái Dua Phăn yêu nhau tha thiết, nhưng lại bị tên quan lang phá hoại Để bảo toàn giá trị của tình yêu, hai người lần lượt

kết thúc đời mình bằng lưỡi dao oan nghiệt Tiền mất lực, kể về mối tình

say đắm giữa TôĐay và LôHli Trong khi đó, gia đình cô gái lại muốn gả

cô cho kẻ có tiền và có quyền Nhưng không vì thế họ cam chịu số phận, cả hai đã cùng nhau bỏ trốn Khi bị lùng bắt LôHli đã tự sát cùng chàng trai để giữ trọn tình yêu thủy chung

Khám phá cuộc sống và con người miền núi trên nhiều bình diện khác nhau như vậy, chứng tỏ các nhà văn giai đoạn 1930 - 1945 đã thể hiện được những tư duy nghệ thuật mới mà giai đoạn văn học trước chưa bao quát thành những bức tranh toàn cảnh Tuy nhiên, tính hấp dẫn về bút pháp miêu

tả vẫn luôn là đặc tính cơ bản làm nên giá trị độc đáo của những truyện viết

về miền núi giai đoạn 1930 - 1945 Có thể nói trong nền văn xuôi hiện đại, Thế Lữ, Lan Khai, Lưu Trọng Lư, Lý Văn Sâm… là những nghệ sĩ đầu tiên

đi sâu khám phá thế giới thiên nhiên, đã xây dựng được những hình tượng nghệ thuật hết sức sinh động Có thể nói trước họ chưa nhà văn nào có được những bức tranh hiện thực sống động - một thế giới muôn hình vạn trạng, linh hoạt, rõ nét in đậm vào hồn người đọc như vậy Đặc biệt sự pha trộn giữa cái mới mẻ, hiện đại với những yếu tố thuộc về truyền thống

Trang 20

mang bản sắc của miền núi đã tạo nên giọng điệu riêng của những Truyện đường rừng Trong nhiều trang văn, người đọc hay bắt gặp cái gần gũi của truyện cổ dân gian, gặp cái kì ảo trong các truyện trung đại đan cài với những nỗi đau lớn, chua chát của hiện thực đương thời Có nhiều trang viết lại thấm đẫm chất thơ thể hiện qua cái “tôi” trữ tình bày tỏ tình cảm, tình yêu mặn mà trong sáng hồn nhiên; nhiều lúc lại là nỗi buồn, sự cô đơn về những kỷ niệm đẹp đã qua, về một thế giới hiện thực ẩn sâu trong tâm hồn con người Điều đó đã chứng tỏ các nhà văn viết về miền núi giai đoạn

1930 – 1945 đã biết kế thừa một những linh hoạt các tinh hoa truyền thống của dân tộc và thế giới

1.1.2.2 Giai đoạn từ năm 1945 – 1975

Sau cách mạng, hai cuộc kháng chiến và công cuộc xây dựng đất nước diễn ra trên địa bàn miền núi đã tạo cơ hội cho văn học mở rộng phạm vi phản ánh hiện thực Theo các nẻo đường cách mạng, văn nghệ sĩ có điều kiện thâm nhập sâu vào thực tế lao động, chiến đấu của nhân dân các dân tộc, từ đó có được vốn sống và nguồn cảm hứng sáng tạo về miền núi phong phú hơn nhiều so với các cây bút truyện đường rừng trước cách mạng Trên cơ sở ấy, văn xuôi về miền núi phát triển mạnh và đạt đến đỉnh cao với tác phẩm của các cây bút tên tuổi như Nam Cao, Tô Hoài, Ma Văn Kháng, Nguyễn Tuân, Nguyễn Thành Long, Nguyên Ngọc… Chính trong những năm tháng gặp gỡ, chung sống và chia sẻ cuộc sống với con người miền núi đã để lại trên trang viết của những nhà văn - chiến sĩ như Nam Cao, Tô Hoài, Ma Văn Kháng, Nguyễn Tuân, Nguyễn Thành Long, Nguyên Ngọc… những tình cảm, cảm xúc đầy nâng niu, trân trọng Ở đâu

ta cũng bắt gặp một thái độ ngạc nhiên, thú vị, mê say, náo nức khi phát hiện ra những chiều kích mới mẻ của những con người mới, thế giới mới

Có lẽ không ai đi khắp, đi lâu và đi sâu như Tô Hoài đi trên các vùng núi cao, rừng sâu của đất nước từ Bắc chí Nam Núi rừng và tấm lòng con người miền núi đã để thương để nhớ cho ông Vợ chồng A Phủ được

Trang 21

coi là tác phẩm thành công xuất sắc đầu tiên về đề tài miền núi trong văn xuôi cách mạng hiện đại Mang cảm quan hiện thực và nhân văn mới cùng những trải nghiệm thực tế, thấu hiểu nỗi đau, tủi nhục của con người miền núi, Tô Hoài đào sâu vào những cuộc đời, thân phận những con người trong cuộc đời cũ còn mang nhiều tàn tích có khi còn mang màu sắc thời

trung cổ, đặc biệt là người phụ nữ Bà Ảng (Cứu đất cứu mường) từng là cô

gái đẹp nức tiếng Mường Cơi bị bắt đi hầu quan, thành người chuyền tay của các quan châu, quan lang, chúa đất Mường Cơi, Mường Vạt, Mường

La Hai đứa con không ai nhận làm cha nên một đứa phải bán cho người Dao lấy mười đồng bạc trắng nộp vạ làng Còn một đứa, mẹ con ôm nhau

la liếm đi vét cối giã gạo ngoài suối xin ăn Đứa con ấy lớn lên lại tiếp tục cuộc đời đi hầu quan như bà Ảng Thời gian trôi qua, rách quá, ốm quá, già quá, cô Ảng biến thành bà lão Ảng, bà lão Ảng ăn mày Cả cuộc đời bà Ảng là những chuỗi ngày tủi nhục, bi thảm Khi gặp và nhận ra chân lí cách mạng, “già sắp chết mới được canh nương ngô của mình thế này” thì cũng

là lúc bà bị lính châu đoàn trói đánh chết gục dưới gốc xoan

Mỵ (Vợ chồng A Phủ) là nạn nhân của xã hội đầy hủ tục, tệ nạn và bạo

lực Chưa lọt lòng mẹ, cô đã mang món nợ truyền kiếp của những người nghèo Từ cô gái xinh đẹp, yêu đời bị bắt về làm con dâu gạt nợ cho nhà

thành “con rùa lùi lũi nơi xó cửa”, chai lì, đui điếc, u mê, vô cảm “Ở lâu trong cái khổ, Mỵ quen rồi” Số phận khốn cùng của bà Ảng, của Mỵ là lời

tố cáo tội ác của bọn thống trị và những hủ tục phi nhân tính bao đời trói buộc con người

Đọc Truyện Tây Bắc, chúng ta thấy: Vẻ đẹp lí tưởng của những con

người trẻ tuổi một lần nữa được các nhà văn tái hiện trên những trang viết

về một giai đoạn lịch sử mới của dân tộc – giai đoạn đầu xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa Chân dung của những con người miền núi được bồi đắp lại càng trở nên đầy đặn hơn và đẹp hơn trong cuộc sống mới

Trang 22

Liên tục từ 1962 – 1975 sự xuất hiện của các tác phẩm Rẻo cao (1962)

- Nguyên Ngọc, Miền Tây (1965) - Tô Hoài, Xa Phủ (1969), Người con trai

họ Hạng (1972), Mùa mận hậu (1972), Cái móng ngựa (1973), Bài ca trăng sáng (1974) – Ma Văn Kháng; Lặng lẽ Sa pa (1970), Núi Đỗ Quyên (1972)

- Nguyễn Thành Long… ghi nhận một bước tiến mới trong văn xuôi viết về miền Hầu hết các tác phẩm đều viết về sự đổi thay trong suy nghĩ, nhận thức và hành động của con người miền núi Họ đã tích cực, chủ động chuyển mình trở thành những con người mới làm chủ cuộc đời trong dòng chảy chung của đất nước và làm nên sự đổi thay mạnh mẽ của làng bản quê hương mình

Văn xuôi miền núi là một thành công đặc sắc của văn xuôi cách mạng Nam Cao, Tô Hoài, Ma Văn Kháng, Nguyễn Tuân… mỗi người một phong cách, mỗi người một thế mạnh riêng nhưng sáng tác của họ giai đoạn này

đã bao quát được chiều rộng, chiều sâu của không gian, của các sự kiện lich

sử chân sát, cụ thể, của cuộc sống và tâm hồn con người miền núi Nhờ không khí cách mạng mà văn học miền núi lớn lên và trưởng thành lên rất nhiều Văn học giai đoạn 1945 – 1975 nói chung và văn xuôi miền núi nói riêng đã góp phần xứng đáng vào công cuộc cách mạng và xây dựng chủ nghĩa xã hội

1.1.2.3 Giai đoạn từ 1975 – 1986

Quá trình đổi mới văn học nước ta phong phú nhưng phức tạp Giai đoạn 1975 – 1986 được coi là chặng đường khởi động chuẩn bị cho cao trào đổi mới Văn xuôi miền núi cũng không nằm ngoài quỹ đạo ấy

Thời gian đầu sau khi cuộc kháng chiến chống Mĩ kết thúc, trở về với cuộc sống thời bình, văn học của chúng ta “vẫn trượt theo quán tính cũ” Đó là khoảng thời gian mà Nguyên Ngọc gọi là “khoảng chân không” trong văn học Tuy nhiên, từ năm 1975 – 1986, văn xuôi miền núi đã kế thừa, khơi sâu dòng mạch đã có từ những giai đoạn trước mà vẫn tiếp tục phát triển với những thành tựu mới cả về nội dung và hình thức nghệ thuật

Trang 23

Sự phát triển vượt trội về đội ngũ và quy mô trong khoảng thời gian không dài là điểm đáng chú ý của văn xuôi miền núi giai đoạn này

Các tiểu thuyết Rừng động (1975 - 1977) của Mạc Phi và Đồng

bạc trắng hoa xòe (1979), Vùng biên ải (1983), Trăng non (1984) của Ma

Văn Kháng tiếp tục mở rộng và hoàn thiện bức tranh hiện thực miền núi với sự tái hiện trên quy mô lớn quá trình cách mạng, những giai đoạn lịch

sử hào hùng của các dân tộc ít người vùng địa đầu Tổ quốc Hình tượng những anh hùng cách mạng, những con người mới, những chiến sĩ trên mặt trận văn hoá đang cùng đồng bào miền núi xây dựng cuộc sống mới là trung tâm trên các trang viết Cách xây dựng con người miền núi trong văn xuôi giai đoạn này vẫn ghi nhận sự thành công của nghệ thuật điển hình hoá cao độ và vẫn chịu sự chi phối khá lớn của cảm hứng sử thi

Cùng khai thác hiện thực chiến tranh cách mạng, một số tác phẩm của

các nhà văn người Kinh và người dân tộc thiểu số như tiểu thuyết Hơ

Giang (1978) của Y Điêng, tiểu thuyết Họ Giàng ở Phìn Sa (1981) của Tô

Hoài và tập truyện ngắn Đêm nguyệt thực (1982) của Trung Trung Đỉnh tập

trung phản ánh hiện thực Tây Nguyên, Tây Bắc thời chống Mĩ; tập truyện

ngắn song ngữ Đoạn đường ngoặt (1982) của Nông Viết Toại viết về thời chống Pháp và tay sai; tiểu thuyết Hoa hậu xứ Mường (1984) của Phượng

Vũ viết về cuộc chiến đấu của Việt Minh chống lang đạo phản động; tập

truyện kí Cột mốc giữa long song (1984) của Mã A Lềnh viết về chiến tranh biên giới phía Bắc và bút kí Gặp lại anh hùng Núp (1986) của Nguyễn

Khắc Trường

Hầu hết sáng tác của các nhà văn dân tộc thiểu số trong thời kì này đều phản ánh công cuộc xây dựng đời sống mới ở vùng cao Với trái tim nhân

hậu của một nhà văn - thầy thuốc, trong tập truyện Niềm vui (1979), Vi Thị

Kim Bình khát khao đưa ánh sáng văn minh về những miền rừng xa xôi, hẻo lánh Nhân vật trung tâm trong các truyện là các “lương y từ mẫu”

được vẽ bằng những nét chấm phá đơn sơ Các truyện, tiểu thuyết Vãi

Trang 24

Đàng - Đất bằng (1980), Núi cỏ yêu thương (1984) và Thung lũng đá rơi

(1985) của Vi Hồng là những thông điệp kêu gọi con người yêu thương cái

đẹp, cái thiện, xoá bỏ tàn dư, diệt trừ cái ác Núi cỏ yêu thương là sự khẳng định cái lạc hậu, lỗi thời phải nhường chỗ cho cái tiên tiến Thung lũng đá

rơi ra đời trước công cuộc đổi mới, có tính dự báo về thời đại kinh tế tri

thức với những con người trẻ tuổi có trình độ thay thế lớp người nhiệt tình nhưng ít học một thời

Nét đẹp cuộc sống, con người mới cũng thu hút sự quan tâm của các nhà văn người Kinh Truyện ngắn phát huy được tính nhạy bén, năng động của thể tự sự cỡ nhỏ trong việc khai phá, tạo dựng hình ảnh cuộc sống, con người mới vùng cao, tiêu biểu là truyện ngắn của Bùi Nguyên Khiết với

các tập Dáng núi (1977), Mùa hoa ban nở (1979) và Trăng non (1984) của

Ma Văn Kháng cũng là những đóng góp vào mảng đề tài này

Sự xuất hiện hàng loạt truyện ngắn, tiểu thuyết của các tác giả người Tày, H’Mông, Êđê trong giai đoạn này đã làm phong phú, đa dạng bức tranh chung với bản sắc riêng của mỗi dân tộc Những thành quả từ cả hai nguồn tác phẩm của nhà văn dân tộc Kinh và nhà văn dân tộc thiểu số cho thấy đây là giai đoạn phát triển đồng bộ và phong phú của văn xuôi viết về miền núi

1.1.2.4 Giai đoạn từ 1986 đến nay

Từ 1986, đời sống văn nghệ cởi mở hơn và công cuộc đổi mới từng bước đem lại những chuyển biến ở địa bàn miền núi đã tạo cơ sở cho bộ phận văn học viết về khu vực này phát triển với những đặc điểm mới so với các giai đoạn trước Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy có những dấu hiệu đổi mới cơ bản sau:

Dấu hiệu đổi mới đầu tiên của văn xuôi miền núi đương đại là sự mở rộng đề tài, chủ đề, tuy chưa thực phong phú Một số tiểu thuyết trở lại khai

thác hiện thực miền núi những năm đầu Cách mạng với cuộc đấu tranh gian

khổ của nhân dân các dân tộc như Nhớ Mai Châu (sau đổi thành Đà Bắc,

Trang 25

Mai Châu ngày ấy) (1987) của Tô Hoài, Chuyện trên bờ sông Hinh (1994)

của Y Điêng, Gió Mù Căng (1995) của Hà Lâm Kỳ, Ba ông đầu rau (1999) của Hà Đức Toàn, Trên đỉnh đèo giông bão (2004) của Đoàn Hữu Nam,

hay đi vào hiện thực những năm chống Mĩ như Lạc rừng (1999) của Trung Trung Đỉnh Nhìn chung các tác phẩm tìm cảm hứng ở quá khứ này đều xoay quanh những vấn đề phổ quát của chiến tranh, cách mạng: sức sống

và bản lĩnh của dân tộc, tình đoàn kết và tinh thần cộng đồng, con đường

thu phục lòng dân và cảm hoá tầng lớp lang đạo ở miền núi… Trong Nhớ

Mai Châu, Lạc rừng, Trên đỉnh đèo giông bão, chất sử thi đã nhạt, nhưng

những tiểu thuyết này vẫn chưa có dấu hiệu phản sử thi hay thể hiện nhu

cầu nhận thức lại quá khứ một cách rõ rệt theo kiểu Nỗi buồn chiến tranh

của Bảo Ninh Bên cạnh đề tài chiến tranh cách mạng, nhiều tác phẩm hướng về công cuộc xây dựng đời sống, phát triển kinh tế ở miền núi như

các tiểu thuyết Mũi tên ám khói (1991), Gió hoang (1992) của Ma Trường Nguyên, tập bút kí Cao nguyên trắng (1992) của Mã A Lềnh và các tập truyện ngắn Vùng đồi gió quẩn (1995), Chuyện ở chân núi Hồng Ngài

(2005) của Sa Phong Ba Ngoài hai mảng đề tài quen thuộc này, nhờ sự dân chủ hoá của văn học đổi mới, các phạm vi hiện thực được mở ra rộng rãi hơn Những mặt trái, những mảng tối văn học trước đây từng né tránh được phơi bày Cùng sự hiện hữu của cái nghèo, cái ác, tác động tiêu cực của kinh tế thị trường đối với vùng cao là vấn đề được nhiều tác phẩm quan tâm Sự xâm thực của thương trường phá vỡ trật tự rừng xanh, lối sống thực dụng làm nứt rạn nếp nghĩ truyền thống, cái xấu xa phi pháp khuấy đảo sự thanh bình của làng bản đó là những dấu hiệu băn khoăn lo ngại trước sự biến chuyển của miền núi đương đại, thể hiện trong một số truyện

ngắn như Làng Mô của Thu Loan, Giữa cơn mưa trắng xóa của Niê Thanh Mai, Lửa cháy trong rừng hoang của Sương Nguyệt Minh, Ngoài cửa trời

chưa sáng và các truyện ngắn khác của Đỗ Bích Thúy Đáng chú ý là ngoài

những vấn đề mang tính xã hội, một số tác phẩm đã đi vào các khía cạnh

Trang 26

của đời tư con người Có thể kể đến tập truyện Số phận đàn bà (1990) của

Hoàng Thị Cành với những thân phận đàn bà nhỏ nhoi, yếm thế hoặc gặp

trắc trở, bất hạnh trong hôn nhân; tập truyện Tiếng chim kỷ giàng (2004)

của Bùi Thị Như Lan với những mảnh đời phụ nữ bị trói buộc bởi lương tâm và bổn phận, hi sinh hạnh phúc riêng vì người khác Vốn nhạt nhoà trong văn xuôi cách mạng, chuyện tình yêu gặp luồng gió đổi mới đã bừng

nở trong không ít truyện ngắn, tiểu thuyết của Cao Duy Sơn, Hà Lý, Hoàng Thế Sinh Việc khai thác vấn đề số phận cá nhân đã làm giàu thêm chất văn xuôi, chất tiểu thuyết cho các tác phẩm và nêu cao tinh thần nhân văn, nhân bản đang là xu thế chung của văn học đổi mới

Dấu hiệu đổi mới thứ hai của văn xuôi miền núi từ 1986 đến nay là sự

ra đời của những tác phẩm có dấu hiệu mới trong cách nhìn và tư duy nghệ thuật Được khai sinh cùng công cuộc đổi mới, Nguyễn Huy Thiệp là một

hiện tượng văn học được chú ý Các truyện về miền núi của ông như

Những ngọn gió Hua Tát, Muối của rừng, Những người thợ xẻ, Truyện tình

kể trong đêm mưa, Sống dễ lắm, Thổ cẩm, Những người muôn năm cũ cũng

như các truyện ở đề tài khác ít nhiều mang sắc thái hậu hiện đại, chất folklore hiện đại và đậm tư duy tiểu thuyết, với cái nhìn sâu vào mối quan

hệ giữa con người và tự nhiên Ma Văn Kháng cũng góp phần không nhỏ tạo nên những đổi mới của văn xuôi miền núi giai đoạn này Ngoài các tập

Vệ sĩ của quan châu (1988), Móng vuốt thời gian (2003) góp phần làm mới

truyện ngắn Việt Nam ở nhiều yếu tố, Gặp gỡ ở La Pan Tẩn (1999) cũng là

một trong bộ ba tiểu thuyết kết tinh thành tựu của Ma Văn Kháng về đề tài dân tộc và miền núi Điều đáng chú ý là sự đổi mới tư duy nghệ thuật không chỉ bộc lộ ở các nhà văn người Kinh mà ngay cả trong các cây bút

người dân tộc Dặm ngàn rong ruổi của Triều Ân là tác phẩm văn xuôi dân

tộc thiểu số đầu tiên thể hiện rõ ý thức soi chiếu nhân vật ở góc độ đời tư với ngôn ngữ đậm chất văn xuôi Qua việc xây dựng những nhân vật luôn

có sự chuyển hóa giữa các cực đối lập, tuy còn khiên cưỡng, tiểu thuyết

Trang 27

Dặm ngàn rong ruổi (2000) đã thể hiện nét tích cực ở cái nhìn con người

trong quan điểm phát triển, như một sự phủ nhận cái nhìn tĩnh tại, một

chiều thường thấy trong văn xuôi miền núi Tiểu thuyết Dòng đời (2007)

của Hữu Tiến có hướng đi khác mọi tác phẩm văn xuôi miền núi xưa nay viết về số phận con người trước và sau Cách mạng Kết thúc truyện, Cách mạng thành công nhưng các nhân vật không có sự đổi đời mà đi vào bế tắc, ngõ cụt và cái chết bởi sự xô đẩy của định kiến và cái xấu cái ác muôn đời Qua những nhân vật không có quá trình cách mạng hóa này đã thể hiện cái nhìn đa chiều, không đơn giản của nhà văn về hiện thực và con người Dòng đời mang đậm cái nhìn đời tư - thế sự, hoàn toàn xa lạ với cách nhìn hiện thực và con người theo quan niệm sử thi trước đây Trong tiểu thuyết

này và tập truyện ngắn Cô gái nhặt bông gạo (2004) của Hữu Tiến, tính

cách nhân vật khá rõ nét và bước đầu có xu hướng đa diện, phức tạp

Dấu hiệu đổi mới thứ ba của văn xuôi miền núi thời kì đổi mới là sự phát triển về đội ngũ tác giả Những năm cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI,

sau nhiều năm thiếu vắng người viết, ở một số vùng miền đã xuất hiện những cây bút mới Ở Tây Nguyên trước kia chỉ có Y Điêng, nay có Hlinh

Niê với tập truyện Con rắn màu xanh da trời (1997) và tập ký Trăng Xí

Thoại (1999), Kim Nhất với các tập truyện Động rừng (1999), Hồn ma núi

(2002) và Niê Thanh Mai với tập truyện Về bên kia núi (2007) Kí của

Hlinh Niê sắc sảo, tâm huyết, đào sâu vào các mặt đời sống của các dân tộc Tây Nguyên làm rạng lên những nét riêng độc đáo trong lễ hội, nhà cửa, thổ cẩm đậm bản sắc; chỉ ra cái xấu chưa lụi tàn, cái tốt đang khởi sắc và

cả cái đẹp đang mai một Nhiều bài kí của nữ nhà văn - nhạc sĩ này là những thông điệp đáng báo động trước hiện tượng mất mát từng ngày của văn hóa truyền thống ở Tây Nguyên Kim Nhất lại là nhà văn đi tiên phong trong việc chỉ ra thực trạng về sự mông muội, mê tín dị đoan nặng nề bị kẻ

ác lợi dụng và tố cáo những luật tục vô nhân đạo còn tồn tại ở Tây Nguyên đang bắt đầu bị lớp trẻ chống đối Truyện ngắn Niê Thanh Mai phản ánh

Trang 28

tâm trạng của lớp trẻ Tây Nguyên trước sự tác động của văn minh đô thị, trong đó xu hướng từ bỏ buôn làng nghèo khó thân thuộc đi về phía phồn hoa diễn ra với bao nỗi băn khoăn, day dứt, chạnh buồn Ở phía Nam, lần đầu tiên có sự xuất hiện tác phẩm văn xuôi của một số dân tộc như truyện

kí Chân dung người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh (1994) của Lý Lan, tiểu thuyết Chân dung cát (2006) của Inrasara, tập truyện ngắn Chăm Hri

(2008) của Trà Vigia Ở khu vực miền Trung, một số cây bút đại diện cho các dân tộc cũng xuất hiện Đó là các cây bút dân tộc Thái ở Nghệ An như

La Quán Miên với tập truyện Hai người trở về bản (1996), Kha Thị Thường với tập truyện Lũ núi (2003) và Lang Quốc Khánh với tập ký

Những miền thương nhớ (2005) Ở các vùng Việt Bắc và Tây Bắc cũng có

sự tiếp nối thế hệ đáng mừng Sang thời kì đổi mới, ngoài Triều Ân, Vi Hồng, Mã A Lềnh, Sa Phong Ba còn sung sức trong sáng tạo, các cây bút văn xuôi còn lại của lớp nhà văn dân tộc thiểu số thời kì đầu (xuất hiện từ đầu thập kỉ 60 thế kỉ trước) đều viết ít hoặc ngừng viết Kế tục lớp nhà văn này, có sự xuất hiện của nhiều gương mặt văn xuôi mới Đó là các cây bút

người Mường như Hà Trung Nghĩa với Hoàng hôn (tập truyện, 1995) và

Lửa trong rừng sa mu (tiểu thuyết, 1996); Bùi Minh Chức với Sự tích một câu nói (tập truyện, 2001) và Hà Lý với Ngọt đắng vị Mường (tập truyện,

2002

Tham gia viết về miền núi từ đầu thời kì đổi mới đến nay còn có một

số nhà văn người Kinh, chủ yếu tập trung ở miền Bắc Sau nhiều năm ngừng viết, Nguyên Ngọc trở lại với Tây Nguyên trong một số tập bút kí,

ghi chép như Tản mạn nhớ và quên (2005), Nghĩ dọc đường (2006), Bằng

đôi chân trần (2008) Trên các trang sách hiện lên một Nguyên Ngọc với

nỗi ưu tư văn hóa trước các câu hỏi: Làm gì để giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, để tạo sự phát triển bền vững ở Tây Nguyên? Những góc văn hóa, tâm hồn Tây Nguyên cùng những cảnh báo về xung đột giữa bảo tồn và phát triển, về việc đánh mất không gian thực của các thực thể văn hóa… được

Trang 29

đặt ra Ma Văn Kháng, sau Gặp gỡ ở La Pan Tẩn (1999) mười năm, đã trở lại với đề tài miền núi trong tiểu thuyết Một mình một ngựa (giải thưởng

Hội Nhà văn Hà Nội năm 2009) mang tính chất tự truyện Ngoài Nguyên Ngọc, Ma Văn Kháng, Nguyễn Huy Thiệp và các cây bút đã nêu như Đoàn Hữu Nam, Hà Đức Toàn, Hoàng Thế Sinh, đội ngũ tác giả người Kinh còn

có Vũ Xuân Tửu với nhiều truyện ngắn và tiểu thuyết, gần đây nhất là

Chuyện ở bản Piát (tập truyện, 2007); Trịnh Thanh Phong với Dưới chân núi Bắc Quan (kí, 2000); Nguyễn Khắc Đãi với Chớp núi (tập truyện,

1998); Nguyễn Anh Tuấn với Lũ muộn (tập truyện, 2007)…

Nhìn lại văn xuôi miền núi từ 1986, có thể thấy sự phát triển khá phong phú, cởi mở với những dấu hiệu mới Trong sự mở rộng đề tài, nhiều tác phẩm đã kịp thời tái hiện bộ mặt mới mẻ của miền núi trong kinh tế thị trường với những khởi sắc và cả những bất ổn đang vỡ ra của nó Cảm hứng phanh phui sự thật, nhìn nhận vấn đề từ hai mặt, tránh khuôn mẫu, một chiều, đó là nét riêng của văn xuôi miền núi đương đại như một sự bù đắp cho phần thiếu hụt của văn học sử thi giai đoạn trước Tuy nhiên, so với khoảng thời gian đã hơn hai mươi năm của công cuộc đổi mới, nhìn chung văn xuôi miền núi vẫn chưa theo kịp bước đi của hiện thực Cả về tầm vóc và số lượng, còn thiếu những tác phẩm khái quát được những vấn

đề trung tâm của dân tộc - miền núi trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường, thực hiện xóa đói giảm nghèo, đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa Một số vấn đề “nóng” ở các vùng dân tộc miền núi như an ninh, quốc phòng, sự mị dân, lừa gạt, lợi dụng tín ngưỡng để tuyên truyền tà đạo và kích động tâm lí dân tộc của bọn phản động, hiện tượng di dân tự do, vượt biên trái phép, xâm hại tài nguyên chưa được phản ánh toàn diện, triệt để Thực trạng đói nghèo, thất học, chậm đổi mới ở một số vùng cũng chưa được phản ánh rõ Có thể nói, thực tiễn đang đòi hỏi những tác phẩm trung thực hơn với sự thật, do đó ở phương diện nội dung văn xuôi miền núi cần

Trang 30

có sự mở rộng, đào sâu hơn về đề tài - chủ đề gắn với hiện thực miền núi đương đại

1.2 Quá trình sáng tác của nhà văn Đỗ Bích Thúy

1.2.1 Vài nét về tiểu sử của nhà văn Đỗ Bích Thúy

Nhà văn Đỗ Bích Thúy quê ở xã Xuân Bắc, huyện Xuân Trường, Nam Định Chị sinh ngày 13 tháng 4 năm 1975 tại mảnh đất Vị Xuyên - một huyện vùng cao của tỉnh Hà Giang Nhà văn Trung Trung Đỉnh đã kể một câu chuyện cảm động về tuổi thơ của người con gái Hà Giang ấy: “một đôi vợ chồng trẻ theo tiếng gọi thiêng liêng của tổ chức đã xung phong lên miền núi vời vợi nghìn trùng xây dựng quê hương Đôi vợ chồng trẻ sinh

hạ được ba người con, hai trai, một gái Tiếng khóc dạ đề của cô con gái út

èo uột, còi cọc ấy lan vào rừng núi Những bà mẹ người Mông đã vào lâm trường cho cô bé bú Cô lớn lên với dòng sữa của những bà mẹ H’Mông nơi núi rừng thâm u yêu dấu kia và sau đó cô được cắp sách đến trường Cô nói được tiếng địa phương, ăn được mèn mén và cô đã “ăn” được cả cái văn hóa vùng cao từ thuở lọt lòng để đến bây giờ chúng ta có được cô ấy

Cô ấy là nhà văn Đỗ Bích Thúy” [12]

Tốt nghiệp trung cấp Tài chính - Kế toán, Đỗ Bích Thúy tưởng như

sẽ an phận là một kế toán hay phóng viên Báo Hà Giang Nhưng tình yêu văn chương đã giúp cô viết và gửi chùm truyện ngắn Sau những mùa trăng,

Đêm cá nổi, Ngải đắng ở trên núi dự thi và đoạt giải nhất cuộc thi truyện

ngắn do Tạp chí Văn nghệ Quân đội tổ chức (1998 – 2000) Đó cũng là khi

Đỗ Bích Thúy nhận ra tình yêu nồng nàn của mình với văn chương Sau khi theo học Học viện Báo chí Tuyên truyền, Đỗ Bích Thúy về Tạp chí

Văn nghệ Quân đội làm biên tập viên từ năm 2001, là Thư ký tòa soạn từ

năm 2007 rồi Phó Tổng biên tập Tạp chí và tiếp tục theo đuổi sự nghiệp văn chương của mình

Đỗ Bích Thúy thực sự gây được sự chú ý của công chúng bằng những truyện ngắn mang đậm chất núi rừng nơi chị sống và trưởng thành

Trang 31

Hai mươi mốt truyện ngắn của chị được viết từ những năm tháng còn ngồi

trên ghế giảng đường đại học, tập hợp trong tác phẩm Tiếng đàn môi sau bờ

rào đá đã thể hiện khá độc đáo sâu sắc mà giản dị, vẻ đẹp đời sống tâm hồn

và chiều sâu tâm linh của con người miền núi “Mỗi nhà văn thường có một vùng đất, đó là nơi họ thấu hiểu nhất, dành nhiều tình cảm và tâm trí nhất

và khi đã sống tận cùng với vùng đất của mình thì rất có thể chính vùng đất

đó, đề tài đó đã chọn nhà văn chứ không phải ngược lại” [2]

Kể từ khi nhận giải Nhất của Tạp chí Văn nghệ Quân đội đến nay,

Đỗ Bích Thúy vẫn liên tục, cần mẫn sáng tác Điều đáng quý là dù đã

“xuống núi”, chị vẫn thiết tha gắn bó và viết về vùng cao Ở nơi đô hội với nhịp sống gấp gáp, Đỗ Bích Thúy vẫn khôn nguôi nỗi niềm với con người, mảnh đất Hà Giang yêu dấu Dường như chị vẫn còn quá nhiều điều để nói

về cuộc sống và con người nơi đây

1.2.2 Quá trình sáng tác của nhà văn Đỗ Bích Thúy

Khi mười chín tuổi, Đỗ Bích Thúy đánh dấu sự nghiệp văn chương

của mình bằng truyện ngắn đầu tiên Chuỗi hạt cườm màu xám đăng trên Báo Tiền phong Chùm truyện ngắn Sau những mùa trăng, Đêm cá nổi,

Ngải đắng ở trên núi đoạt giải Nhất cuộc thi truyện ngắn của Tạp chí Văn nghệ Quân đội (1998 – 2000) khi Đỗ Bích Thúy ở tuổi hai mươi lăm Tiểu

thuyết Bóng của cây sồi đoạt giải cuộc thi Sáng tác văn học cho tuổi trẻ

2003 – 2004 do Nhà xuất bản Thanh niên và Tuần báo Văn nghệ tổ chức Truyện ngắn Tiếng đàn môi sau bờ rào đá đoạt giải B của Hội đồng nghệ

thuật Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam năm 2006 Chính truyện ngắn này đã được đạo diễn Ngô Thanh Hải chuyển thể thành

công sang tác phẩm điện ảnh Chuyện của Pao – tác phẩm đoạt giải Cánh

diều vàng 2005 của Hội Điện ảnh Việt Nam Hiện tại, Đỗ Bích Thúy đã có

những thể nghiệm sang lĩnh vực sân khấu với vở Diễm 500 đô – Nhà hát Tuổi trẻ dàn dựng gây được tiếng vang và các kịch bản sân khấu: Cô gái

Trang 32

xinh đẹp, Quá khứ đòi nợ… Chính bản thân Đỗ Bích Thúy đang gấp rút

chuyển thể tiểu thuyết Bóng của cây sồi hoàn thành kịch bản phim truyện Tập sách Trên căn gác áp mái, Nhà xuất bản Phụ nữ vừa ra mắt cuối tháng

10 năm 2011, dày hơn 200 trang, tập hợp 31 tản văn của nhà văn Đỗ Bích Thúy, gồm nhiều câu chuyện, đều xoay quanh một cách nhìn, sự suy ngẫm về

nhiều vấn đề như cái thế nhìn ở trong hay trên “Căn gác áp mái“ của quê

hương; song thực chất lại là cái nhìn từ Hà Nội, như tác giả sau thời gian xa

cách, bay về “ngồi” Trên căn gác áp mái ở Hà Giang, nơi sinh ra chị, mà suy

ngẫm, phát biểu, chiêm nghiệm nhiều chuyện đã qua… qua đời sống, qua thời gian xa cách chia tay, với những điều hiện tại liên quan tới dĩ vãng

1.2.3 Những nét tương đồng và khác biệt của Đỗ Bích Thúy với các tác giả văn xuôi miền núi đương đại

1.2.3.1 Những nét tương đồng

Cũng như các cây bút người Kinh viết văn xuôi, Đỗ Bích Thúy hướng sáng tác của mình tìm hiểu, khám phá, thể hiện vẻ đẹp nhân văn, bản sắc văn hoá của con người các dân tộc miền núi Nét tương đồng của đa số tác phẩm văn xuôi miền núi là với cách cảm, cách nghĩ, cách nói của người miền núi đích thực, thể hiện tư tưởng, tình cảm, khắc họa tính cách nhân vật từ những câu chuyện về cuộc sống, con người các dân tộc ít người Các nhà văn thường nêu lên những nhận xét đậm chất triết lí, tượng trưng Cũng như một số tác phẩm văn xuôi miền núi xuất hiện trong thời kì đổi mới, truyện ngắn và tiểu thuyết của Đỗ Bích Thúy kịp thời tái hiện bộ mặt mới mẻ của miền núi trong kinh tế thị trường dưới tác động của chính sách, dự án của Chính phủ với những vui buồn, được mất trong đời sống vật chất và tinh thần của con người vùng cao, những khởi sắc và cả những bất ổn đang vỡ ra của nó Tiểu thuyết

Bóng của cây sồi của Đỗ Bích Thúy, Đàn trời của Cao Duy Sơn, tập ký Trăng

Xí Thoại của Hlinh Niê và một số truyện ngắn của Sa Phong Ba, Thu Loan,

Sương Nguyệt Minh… đặt ra với cả hi vọng, hào hứng và bức xúc, trăn trở với cách nhìn, cách lí giải mới Cảm hứng phanh phui sự thật, nhìn nhận vấn

Trang 33

đề từ hai mặt, tránh khuôn mẫu, một chiều, đó là nét mới của văn xuôi miền núi đương đại so với văn học sử thi giai đoạn trước mà tác phẩm của Đỗ Bích Thuý cũng là những ví dụ Về mặt nghệ thuật, các cây bút văn xuôi miền núi

có nhiều cố gắng hiện đại hoá ngôn ngữ bằng sự bổ sung nhiều từ mới xuất hiện trong đời sống và đổi mới phong cách diễn đạt Văn phong của họ nhìn chung không còn bị câu thúc nặng nề bởi những quy tắc ngữ pháp như trước

do năng lực sử dụng Việt ngữ đã thuần thục hơn Dấu hiệu của kĩ thuật, của nghề nghiệp đã xuất hiện nhưng chưa làm mất đi sự tự nhiên trong ngôn ngữ, giọng điệu Hàm lượng từ ngữ phong phú và cú pháp linh hoạt trong ký của

Mã A Lềnh và Hlinh Niê, nét đời tư - thế sự trong hệ thống nhân vật của Cao Duy Sơn, cùng những nét riêng biệt trong sáng tác của một số gương mặt văn xuôi mới như Bùi Thị Như Lan, Hà Thị Cẩm Anh, Inrasara, Hà Lý, Niê Thanh Mai… đã nâng tính hiện đại trong văn xuôi các dân tộc thiểu số lên một tầm cao mới Cùng với các cây bút văn xuôi miền núi Đỗ Bích Thúy đã góp phần tạo nên sự đổi mới của mảng đề tài này

1.2.3.2 Những nét khác biệt

Là một nhà văn xuất hiện sau Đổi mới, Đỗ Bích Thúy vừa hòa nhập, vừa thể hiện những nét bản sắc riêng trong cá tính sáng tạo Nếu như trong nhiều sáng tác của văn xuôi miền núi có sự lặp lại, tương tự “đến mức sáo mòn”, thì Đỗ Bích Thúy trong khi không nguôi viết về mảnh đất và con người vùng Cực Bắc của Tổ quốc vẫn luôn gắng tự vượt lên trên mình, làm

“mới” mình ở cả cách nhìn nhận, tiếp cận và thể hiện hiện thực, con người miền núi Những trang viết của Ðỗ Bích Thúy luôn mang đậm hơi thở cuộc sống vùng cao từ khung cảnh thiên nhiên, đời sống sinh hoạt đến tâm hồn, nếp nghĩ suy của con người qua giọng văn bình dị đầy sức lôi cuốn, đặc biệt ở cách sử dụng ngôn ngữ ví von, so sánh giàu biểu tượng - một đặc trưng trong tư duy người dân tộc thiểu số Những năm gần đây, lần lượt với các truyện ngắn, tiểu thuyết đoạt giải thưởng văn học, các tác phẩm kịch bản sân khấu, điện ảnh gây chú ý, Ðỗ Bích Thúy nổi lên là một cây bút trẻ

Trang 34

về đề tài vùng cao với phong cách riêng hấp dẫn bạn đọc Tất cả những truyện ngắn chị đều viết về cuộc sống và con người nơi mảnh đất chôn nhau cắt rốn của mình Nét độc đáo, vẻ đẹp đời sống tâm hồn, chiều sâu tâm linh người dân tộc thiểu số được chị thể hiện giản dị mà sâu sắc Người

đọc bắt gặp trong Những buổi chiều ngang qua cuộc đời tâm tư, tình cảm

của người phụ nữ nghèo cùng chồng con vất vả vật lộn, bươn chải kiếm sống trong một gia đình đằm thắm, chan chứa tình yêu thương Năm tháng qua đi với những buổi chiều dịu buồn, thấm thía niềm ân ưu, tha thiết với cuộc đời bao gian nan, nhọc nhằn Câu chuyện thật bình thường mà cảm

động, sâu lắng Truyện Gió không ngừng thổi là tâm tình chồng vợ mộc

mạc, cao thượng khi người chồng không thể sinh con, đành lòng để vợ có con với người khác Người vợ thật thà, thủy chung sống dằn vặt trong mặc

cảm tội lỗi đến tận cuối đời mà không hề nghĩ chồng mình đã biết Cái

ngưỡng cửa cao kể về tình yêu vời vợi thẳm sâu của Sính với người vợ trẻ

bỏ anh về xuôi Dẫu cô đơn, mỏi mòn trong mong đợi, anh vẫn không chịu

ngã lòng trước cám dỗ Tiếng đàn môi sau bờ rào đá thấm đẫm nỗi buồn về

cuộc đời âm thầm nhẫn nại đầy hi sinh của "mẹ già" không sinh nở được, hết lòng chăm sóc yêu thương chồng và các con riêng của ông, dù vẫn nặng

ân tình với tiếng đàn môi của người yêu cũ Mỗi nhân vật của Ðỗ Bích Thúy là một cảnh đời, tâm trạng dù phức tạp hay đơn giản đều được tái

hiện, khắc họa rất tinh tế Những buổi chiều ngang qua cuộc đời, Sau những

mùa trăng, Tiếng đàn môi sau bờ rào đá có thể xem là những truyện ngắn

hay Nhân vật phụ nữ trong đó hiện lên với tất cả vẻ đẹp thể chất, tâm hồn

và đức hạnh truyền thống của người phụ nữ vùng cao nói riêng, người phụ

nữ Việt Nam nói chung Ðặc biệt, tác giả có một khả năng diễn tả những trạng thái tâm lí, những khoảnh khắc xao động bất chợt trong lòng người rất tự nhiên, biểu cảm Tâm trạng chênh chao, niềm yêu thương khắc khoải

thầm kín của chàng trai trẻ với người chị dâu xinh đẹp góa bụa trong Sau

những mùa trăng được tác giả thể hiện chân thực, toát lên vẻ đẹp lãng mạn,

Trang 35

trong sáng làm rung động lòng người Ðời sống vùng cao trong những chuyển đổi trước tác động của cuộc sống thành thị thời hiện đại cùng nền kinh tế thị trường với cả mặt tích cực và tiêu cực đã ít nhiều được phản ánh trong truyện ngắn của Ðỗ Bích Thúy Những chàng trai, cô gái miền xuôi lên "cắm bản" dạy chữ cho đồng bào Phong trào xây dựng bản làng văn hóa mới Ðiện về, thị trấn mới hình thành, hàng quán và cả những tệ nạn Tất cả đã hiện hình, tác động lên nếp sống, nếp nghĩ trầm tĩnh bao đời của

con người vùng cao Ngoài cửa trời chưa sáng, Mặt trời lên quả còn rơi

xuống, Con dê bốn mắt là những truyện miêu tả khá sinh động về những

chuyển đổi đó Nổi bật lên trong mỗi hoàn cảnh, ở những môi trường sống nhiều thử thách khác nhau là hình ảnh những con người luôn khát khao tình yêu, khát khao được sống, lao động, đóng góp sức mình xây dựng, gìn giữ

vẻ đẹp, sự bình yên của quê hương Mảnh đất Hà Giang với núi rừng, làng bản hùng vĩ nên thơ; những chàng trai, cô gái “nụ cười hồng như hoa lê, hoa đào” trong phiên chợ rộn ràng; những đêm trăng nồng nàn hò hẹn có tiếng đàn môi réo rắt gọi mời; cả những cố gắng, khát vọng của con người muốn nâng niu, gìn giữ vẻ đẹp quê hương, gìn giữ những giá trị đạo đức truyền thống dân tộc Tất cả đi vào trong những trang viết của Ðỗ Bích Thúy hồn nhiên, gợi cảm Nó tạo nên sức sống, nét hấp dẫn riêng không thể

trộn lẫn nơi ngòi bút chị: "Ngôi nhà nằm chênh vênh trên cao kia Già nua

cũ kỹ và nhỏ nhoi Khi nào nhớ về mẹ, tôi cũng hình dung thấy ngôi nhà với chín bậc cầu thang, nơi chân tôi run rẩy, chập chững đi ra cuộc đời và từ cuộc đời đầy giông bão trở về" Ðỗ Bích Thúy đã viết những dòng chân

thật, cảm động đó trong Ngải đắng ở trên núi Chính sức nặng của tình yêu

thương và những kỉ niệm thiết tha về quê hương đã giúp chị ngày càng trưởng thành trong cuộc sống và cả trên trang viết của mình Và cũng chính

từ đó, Đỗ Bích Thúy đã tìm được “lối riêng” để đến với văn chương, mang đến cho văn xuôi miền núi một “hương vị lạ”

Chương 2

Trang 36

HIỆN THỰC VÀ CON NGƯỜI MIỀN NÚI TRONG SÁNG TÁC CỦA ĐỖ BÍCH THÚY

2.1 Quan niệm nghệ thuật về hiện thực và con người trong sáng tác của Đỗ Bích Thúy

2.1.1 Quan niệm nghệ thuật về hiện thực trong sáng tác của Đỗ Bích Thúy

Cội nguồn nuôi dưỡng, phát sinh và mang lại sức sống cho văn học chính là hiện thực đời sống xã hội Là một hình thái ý thức xã hội đặc thù, văn học liên hệ với đời sống bằng sợi dây hữu cơ Hiện thực là cái “gốc” của văn học, còn văn học phản ánh đời sống, bày tỏ một quan điểm, lập trường với đời sống Sự phát triển của văn học do vậy vừa chịu tác động bởi những quy luật riêng của văn học vừa chịu tác động của các quy luật của đời sống xã hội Qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, quan niệm về mối quan hệ giữa văn học và hiện thực cũng có những khác biệt và thay đổi tương ứng nhất định Thông qua thế giới nghệ thuật trong tác phẩm của mình, mỗi nhà văn đều gửi gắm một quan niệm nghệ thuật về hiện thực đời sống và tâm điểm của bức tranh hiện thực ấy là số phận của con người trước bão giông lịch sử, trước thử thách và bi kịch đời thường Quan niệm nghệ thuật ấy ẩn sâu trong các hình tượng nghệ thuật, trong cốt truyện và kết cấu, trong ngôn ngữ và giọng điệu, trong các xung đột nghệ thuật…

Đến với văn học miền núi khi nhiều nhà văn tên tuổi như Tô Hoài, Nguyễn Tuân, Nguyên Ngọc, Ma Văn Kháng…đã có những sáng tác thành công trên khu vực đề tài này song, Đỗ Bích Thúy đã dần thoát khỏi cái

nghệ thuật mới mẻ và hiện đại về con người và cuộc sống nơi núi cao rừng thẳm; lạ và quen, thực và ảo, tất yếu và ngẫu nhiên… cùng với cách xử lí chất liệu hiện thực mới Đỗ Bích Thúy đã sớm tạo được nét riêng độc đáo

và thành công cho ngòi bút của mình Để có được điều đó, trước hết và cơ

Trang 37

bản là do Đỗ Bích Thúy có quan niệm nghệ thuật riêng: dung dị mà sâu

sắc Quan niệm đó được thể hiện một phần trực tiếp qua những lời phát

biểu, trả lời phỏng vấn, nhưng sâu sắc và tâm huyết hơn là qua chính sáng tác, xuyên thấm trong thế giới hình tượng nghệ thuật của nhà văn Với Đỗ

Bích Thúy, viết trước hết là từ nhu cầu nội tâm, nhu cầu được chia sẻ, giãi

bày của chính mình Hiện thực do vậy là hiện thực của tâm trạng Những

trang sách đầu đời, chị viết “vì thấy buồn, cần phải viết”, nhưng khi đã chính thức đến với văn chương, Đỗ Bích Thúy mới thấy “sự thôi thúc” của cuộc sống, mới là lý do duy nhất khiến chị viết văn Viết, đối với chị, như một nhu cầu tự nhiên, “như ăn uống, hít thở giao tiếp vậy Đó là một sự thôi thúc từ bên trong khiến nhà văn cứ phải cầm bút trăn trở vật vã với những trang viết của mình…” Ngay từ đó, Đỗ Bích Thúy đã xác định

“không bao giờ viết vì câu khách, không nhà văn nào lại nói mình viết để

kiếm sống, họ viết vì nhu cầu nội tâm” Những tác phẩm đầu tiên của chị

như Ngải đắng ở trên núi và những truyện ngắn khác được viết trong nỗi

nhớ khắc khoải khi Đỗ Bích Thúy phải rời xa Hà Giang – vùng quê thân

thương – về học tại chốn đô thành Hà Nội Bóng của cây sồi ra đời từ một

sự thôi thúc được giải tỏa bức xúc khi phải chứng kiến sự xâm lấn từng ngày của cơ chế thị trường vào mảnh đất vốn bao năm yên bình Và hàng ngàn trang viết sau đó của Đỗ Bích Thúy cũng là sự kết tụ những cảm xúc mãnh liệt, những niềm thương nỗi nhớ, những da diết, suy tư, trăn trở của chị về cuộc sống và con người nơi cao nguyên đá Hà Giang Mỗi tác phẩm đều được viết và đều mang một tâm trạng riêng, “cũng như mỗi nhân vật là một tâm trạng, có khi là nỗi nhớ nhà, nhớ quê, có khi là bức xúc vì một vấn

đề nào đó, có khi là một câu chuyện đang dang dở với ai đó, có khi chỉ là lời nhắn gửi hay ước mong cho vùng đất của mình” Gần đây nhất (tháng

10/2011) trong tập Trên căn gác áp mái, tập hợp những bài viết trên blog cá

nhân của chị, vẫn lại là những tình cảm đau đáu nhớ thương, lưu luyến của

Đỗ Bích Thúy dành cho mảnh đất Hà Giang mà chị đang phải xa cách Với

Trang 38

những trang viết tự đáy lòng mình, Đỗ Bích Thúy thực sự “đang trở về” vùng đất quê hương mà chị ngỡ như mình đã “mất nơi về” Chính vì thế,

mà miền núi luôn là mảng đề tài chủ yếu trong sáng tác của Đỗ Bích Thúy, đúng như chị từng bộc bạch: “Không phải chỉ trước đây, bây giờ mà cả sau này, miền núi vẫn là đề tài thân thuộc của tôi, không phải vì mục đích nào

đó mà vì sự thôi thúc từ gan ruột, thôi thúc chân thành và mãnh liệt”

Không chỉ khẳng định cảm xúc là ngọn nguồn của sáng tạo văn chương, Đỗ Bích Thúy còn nhấn mạnh và đề cao sự chân thành trong cảm xúc của người nghệ sĩ Trong quan niệm của chị, “văn chương cũng giống như cuộc sống, tôi không thể sống vì thế cũng không thể viết giả Văn chương mà giả tạo, gượng ép hoặc đi mượn hoặc bắt chước thì sẽ không bao giờ có chỗ đứng” Và bởi thế, Đỗ Bích Thúy luôn tâm niệm, chỉ có thể viết “những điều chân thành, gan ruột” nhất, “những gì mình hiểu sâu sắc nhất, dành nhiều tình cảm, tâm trí cho nó nhất” Chính nhờ vậy, những trang viết của Đỗ Bích Thúy đã đến được và tạo được sự đồng cảm sâu xa nơi người đọc

Ngay từ khi cầm bút, Đỗ Bích Thúy đã sớm cảm nhận được sự nhọc nhằn của sáng tạo văn chương như chị từng “thú nhận”: “nghĩa là phải khổ

sở lắm mới cho ra được một truyện ngắn” Người cầm bút không thể “chớt chát”, cũng không thể “điệu đàng” (chữ dùng của Nguyễn Minh Châu) mà phải thực sự lao động, “cày xới trên cánh đồng chữ nghĩa” để có những trang văn cận thấu nhân tình Đỗ Bích Thúy đã xác định và tâm niệm:

“Phải viết có trách nhiệm, tôn trọng độc giả” Càng viết chị càng nhận ra rằng “Nỗi sợ lớn nhất của người viết là sợ độc giả thất vọng” Và muốn để người đọc đừng phải thất vọng thì người cầm bút trước hết phải khổ công tích lũy trau dồi vốn sống, phải thực sự là người trong cuộc, thuộc hiểu, cảm thông chia sẻ được với con người và vùng đất mình viết như có lần Đỗ

Bích Thúy từng chia sẻ: “Nhà văn chỉ viết nhiều, viết hay những gì mà

mình am hiểu nhất, có vốn sống về nó nhiều nhất Điều quan trọng là mình

Trang 39

biết trau dồi vốn sống, vốn văn hóa ấy như thế nào để nó ngày thêm giàu

có Không thể khai thác mãi một nguồn đã lưu lại trong tiềm thức Cái gì

mình xài mãi thì cũng hết mà thôi” Nhận thức sâu sắc về điều đó, Đỗ Bích

Thúy đã cố gắng trau dồi, tích lũy vốn sống cho mình Sinh ra và lớn lên ở miền sơn cước, “uống” từ nhỏ những nguồn mạch văn hóa vùng cao, thuộc hiểu đến từng cánh rừng, vách núi đá, nhưng Đỗ Bích Thúy vẫn bằng nhiệt tâm và ý thức trách nhiệm lăn lộn trong đời sống, khám phá sâu kỹ hiện thực đời sống, chuẩn bị “vốn liếng” cho trang viết của mình “Thực tế chính là thứ bột để gột nên hồ đối với người cầm bút”, có thể nói chính quan niệm đó, ý thức đó đã giúp trang viết của Đỗ Bích Thúy có được một

“chất” riêng, mỗi dòng chữ, trang viết của chị không phải sự phản ánh hiện thực giản đơn hời hợt mà thấm đẫm những tình cảm, những suy tư, trăn trở, của một người thấu hiểu và sống đến tận cùng như chị hằng tâm niệm: “Tôi chỉ viết khi đã hiểu cặn kẽ vấn đề” Quan niệm đó cũng góp phần lí giải: vì sao Đỗ Bích Thúy hầu như chỉ viết về miền núi cực Bắc của Tổ quốc như

có lần chị chia sẻ “Sở dĩ tôi không ngừng viết về miền núi vì đó là mảnh đất của tôi, mỗi khi viết về nó, đắm chìm trong thế giới ấy, tôi lại như người đi xa được trở về nhà, […] Cái tâm trạng ấy, thực lòng tôi chưa bao giờ cảm thấy khi viết về một đề tài khác, một mảnh đất khác […] khi tôi viết về miền núi, tôi là chính mình” Và dẫu đã dành gần như cả tâm lực để viết về miền núi nhưng từ sâu xa Đỗ Bích Thúy vẫn cảm thấy như vướng

nợ một món nợ rất lớn mà bằng tất cả trí tuệ, tình cảm sức lực chị phải tìm cách “trả” “… nói chung, tôi luôn bị thúc ép một cách vô hình rằng mình còn đang nợ nơi sinh thành ra mình một món nợ rất lớn Và nhất định, bằng tất cả sức lực và trí tuệ, mình phải tìm cách trả được”

Nhìn như vậy có thể thấy, Đỗ Bích Thúy đã sớm xác định được một quan niệm rất cụ thể nghiêm túc về hiện thực Đó là cái “gốc”, là cội nguồn văn chương và những thành công bước đầu rất ấn tượng của chị

Trang 40

2.1.2 Quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác của Đỗ Bích Thúy

Tác phẩm tự sự không thể thiếu nhân vật và thường có nhiều nhân vật Nhân vật mang linh hồn của tác phẩm và là trung tâm của sự miêu tả Thế giới nhân vật là phương tiện tất yếu và quan trọng nhất để thể hiện tư tưởng trong tác phẩm tự sự Nó là phương tiện có tính thứ nhất trong hình thức các tác phẩm ấy, quyết định phần lớn vừa cốt truyện, vừa lựa chọn chi tiết, vừa phương tiện ngôn ngữ và thậm chí cả kết cấu nữa Chức năng cơ bản của nhân vật là khái quát tính cách con người, là người dẫn dắt độc giả vào các thế giới khác nhau của đời sống Điều chính yếu khi xây dựng nhân vật văn học là qua nhân vật mà nhà văn đàm luận với người đọc về vai trò

và số phận con người giữa cuộc đời

Trung tâm của thế giới nhân vật là con người Quan niệm nghệ thuật

về con người như là thước đo trình độ chiếm lĩnh hiện thực đời sống của một tác giả, một tác phẩm, một trào lưu hay một thời đại văn học Quan niệm nghệ thuật về con người chính là yếu tố chi phối các yếu tố khác của nghệ thuật thể hiện, gắn với đời sống văn học mỗi giai đoạn lịch sử

Trong điều kiện chiến tranh, mục tiêu giải phóng và thống nhất đất nước được đặt lên hàng đầu Văn học cách mạng đã làm tròn sứ mạng của

nó Hình tượng con người sử thi và con người cộng đồng đã góp thêm một nguồn động viên, góp thêm sức mạnh cho cuộc chiến tranh của dân tộc đi đến thắng lợi cuối cùng Cuộc chiến đấu cho quyền sống của dân tộc đã thành công và cuộc chiến đấu cho quyền sống của từng cá nhân đã trả lại cho văn học bản chất vốn có của nó Văn học thời đổi mới chuyển từ cảm hứng sử thi sang cảm hứng thế sự, đời tư Số phận con người do vậy đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của mỗi người cầm bút Cùng với việc quan tâm đến những vấn đề của thời đại, của dân tộc, cộng đồng, văn học phải quan tâm và quan tâm hàng đầu tới con người Vấn đề con người cá thể được đặt ra một cách bức xúc, mạnh mẽ Văn học hôm nay không quan tâm

Ngày đăng: 19/12/2013, 15:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nông Quốc Chấn (1964), “Mấy vấn đề về nền văn học các dân tộc thiểu số”, Tạp chí Văn học, (10) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề về nền văn học các dân tộc thiểu số”, Tạp chí "Văn học
Tác giả: Nông Quốc Chấn
Năm: 1964
2. Hà Duyên (2005), “Đỗ Bích Thúy: những gì không biết tường tận tôi sẽ không bao giờ viết”, Tạp chí Truyền hình Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Bích Thúy: những gì không biết tường tận tôi sẽ không bao giờ viết”, Tạp chí
Tác giả: Hà Duyên
Năm: 2005
3. Hạnh Đỗ (2006), “Văn trẻ hôm nay đúng như thời của mình”, Tạp chí Người đẹp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn trẻ hôm nay đúng như thời của mình”, Tạp chí
Tác giả: Hạnh Đỗ
Năm: 2006
4. Phạm Văn Đồng (1980), Góp phần nghiên cứu bản lĩnh, bản sắc các dân tộc Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu bản lĩnh, bản sắc các dân tộc Việt Nam
Tác giả: Phạm Văn Đồng
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1980
5. Đinh Văn Định (1986), “Văn học các dân tộc thiểu số mười năm qua với vấn đề truyền thống và hiện đại”, Tạp chí Văn học, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học các dân tộc thiểu số mười năm qua với vấn đề truyền thống và hiện đại”, Tạp chí "Văn học
Tác giả: Đinh Văn Định
Năm: 1986
6. Trung Trung Đỉnh, “Đọc truyện ngắn Đỗ Bích Thúy”, http://english.toquoc.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc truyện ngắn Đỗ Bích Thúy”
7. Phong Điệp, “Đỗ Bích Thúy: sẵn sàng bỏ bút nếu thấy mình đã nhạt”, http://phongdiep.net Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Bích Thúy: sẵn sàng bỏ bút nếu thấy mình đã nhạt”
8. Nguyễn Đăng Điệp (2007), Tuyển tập văn học dân tộc và miền núi(II), Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập văn học dân tộc và miền núi(II)
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
9. Hà Minh Đức (1993), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1993
10. Văn Giá (1999), “Ngôn ngữ văn học dân tộc thiểu số trong bối cảnh suy thoái ngôn ngữ hiện nay”, Tạp chí Văn hóa các dân tộc thiểu số, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ văn học dân tộc thiểu số trong bối cảnh suy thoái ngôn ngữ hiện nay”, Tạp chí "Văn hóa các dân tộc thiểu số
Tác giả: Văn Giá
Năm: 1999
11. Lê Sĩ Giáo (1995), Dân tộc học đại cương, Nxb Đại học & Trung học chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân tộc học đại cương
Tác giả: Lê Sĩ Giáo
Nhà XB: Nxb Đại học & Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1995
12. Nguyễn Hoàng Linh Giang (2006), “Đọc tiểu thuyết “Bóng của cây sồi” của nhà văn Đỗ Bích Thúy”, Văn nghệ Công an, (26) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc tiểu thuyết “Bóng của cây sồi” của nhà văn Đỗ Bích Thúy”, "Văn nghệ Công an
Tác giả: Nguyễn Hoàng Linh Giang
Năm: 2006
13. Hà Huy Giáp (1970), “Vai trò của văn học các dân tộc thiểu số trong lịch sử văn học Việt Nam”, Tạp chí Văn học, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của văn học các dân tộc thiểu số trong lịch sử văn học Việt Nam”, Tạp chí "Văn học
Tác giả: Hà Huy Giáp
Năm: 1970
14. Thu Hà (2006), “Chuyện của Pao sẽ rất kén khán giả”, Báo Hà Nội mới, (467) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyện của Pao sẽ rất kén khán giả”, Báo "Hà Nội mới
Tác giả: Thu Hà
Năm: 2006
15. Vũ Hạnh (2007), Tiểu thuyết đường rừng, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết đường rừng
Tác giả: Vũ Hạnh
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2007
16. Vi Hồng (1980), “Bước phát triển mới của văn học các dân tộc ít người Việt Nam: con đường từ thơ đến văn xuôi, kịch bản”, Tạp chí Văn học, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước phát triển mới của văn học các dân tộc ít người Việt Nam: con đường từ thơ đến văn xuôi, kịch bản”, Tạp chí "Văn học
Tác giả: Vi Hồng
Năm: 1980
17. Tô Hoài (1994), “Văn học các dân tộc thiểu số - thực trạng và vấn đề”, Tạp chí Văn học, (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học các dân tộc thiểu số - thực trạng và vấn đề”, Tạp chí "Văn học
Tác giả: Tô Hoài
Năm: 1994
18. Nguyễn Thị Thu Hiền, “Bóng của cây sồi”, www.moingay1cuonsach.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bóng của cây sồi”
20. Lan Khai (2004), Tiểu thuyết đường rừng, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết đường rừng
Tác giả: Lan Khai
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2004
21. Chu Lai (2001), “Cái duyên và sức gợi của hai nhà văn trẻ”, Tạp chí Văn nghệ Quân đội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cái duyên và sức gợi của hai nhà văn trẻ”, Tạp chí
Tác giả: Chu Lai
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w