“Thanh Hóa lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975” Bộchỉ huy quân sự tỉnh Thanh Hóa, 1994 đã trình bày khá chi tiết cuộc khángchiến chống Mỹ của nhân dân Thanh Hóa, trong đó có
Trang 3MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 4
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 5
5 Đóng góp của luận văn 6
6 Bố cục của luận văn 7
NỘI DUNG 8
Chương 1 Khái quát về lực lượng vũ trang nhân dân Thanh Hóa giai đoạn 1945 - 1954 8
1.1 Vài nét về điệu kiện tự nhiên - xã hội Thanh Hóa 8
1.1.1 Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên, cư dân Thanh Hóa 8
1.1.2 Truyền thống yêu nước của nhân dân Thanh Hóa 12
1.2 Khái quát về lực lượng vũ trang Thanh Hóa trong kháng chiến chống Pháp 18
1.2.1 Xây dựng và phát triển lực lượng 18
1.2.2 Hoạt động và vai trò của lực lượng vũ trang trong cuộc kháng chiến chống Pháp 23
* Tiểu kết chương 1 38
Chương 2 Lực lượng vũ trang Thanh Hóa trong giai đoạn 1954 -1965 40
2.1 Đường lối xây dựng lực lượng vũ trang của Đảng và chính quyền 40
2.1.1 Đường lối chung của Đảng 40
2.1.2 Chủ trương của Đảng bộ, chính quyền Thanh Hóa 42
Trang 42.3 Hoạt động của lực lượng vũ tranh Thanh Hóa 49
2.3.1 Bảo vệ, xây dựng và phát triển hậu phương 49
2.3.2 Chi viện cho chiến trường 61
* Tiểu kết chương 2 64
Chương 3 Lực lượng vũ trang Thanh Hóa trong giai đoạn 1965-1975 66
3.1 Hoàn cảnh lịch sử mới 66
3.2 Sự trưởng thành của lực lượng vũ trang Thanh Hóa 67
3.3 Hoạt động của lực lượng vũ trang Thanh Hóa 74
3.3.1 Chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ 74
3.3.2 Xây dựng hậu phương quân đội, chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam 89
3.3.3 Chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ 93
3.3.4 Phát triển lực lượng, chi viện cho tiền tuyến lớn, góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước 102
* Tiểu kết chương 3 106
KẾT LUẬN 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
PHỤ LỤC 118
Trang 5Để hoàn thành luận văn Thạc sĩ của mình, tôi đã nhận được rất nhiều sựgiúp đỡ của các cá nhân, tập thể và các ban ngành.
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Trần
Vũ Tài - người đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thời giannghiên cứu đề tài
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Lịch sử trườngĐại học Vinh Tôi xin trân trọng cảm ơn các quí cơ quan đã tạo điều kiệngiúp đỡ tôi trong quá trình sưu tầm tư liệu như: Thư viện tỉnh Thanh Hóa,
Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Thanh Hóa, Ban nghiên cứu lịch sử tỉnh ThanhHóa, Sở Văn hóa - Thể thao - Du lịch tỉnh Thanh Hóa, Uỷ ban nhân dân tỉnhThanh Hóa
Tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân trong gia đình vàbạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ về tinh thần - vật chất để tôi có thểhoàn thành được luận văn thạc sĩ của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả sự giúp đỡ quý báu đó
Vinh, tháng 11 năm 2010
Tác giả
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Kháng chiến chống Mỹ thắng lợi là thiên anh hùng ca vĩ đại trong
lịch sử dân tộc Việt Nam, là một sự kiện lịch sử có tầm vóc quốc tế lớn lao vàtính thời đại sâu sắc Trải qua 21 năm kháng chiến gian khổ, nhân dân ta đãđánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới với quy mô lớn nhất, dàingày nhất, ác liệt và dã man nhất từ sau chiến tranh Thế giới thứ hai Kết thúc
21 năm kháng chiến chống Mỹ và 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo
vệ tổ quốc từ sau cách mạng tháng 8/1945, chấm dứt hoàn toàn ách thống trịcủa chủ nghĩa thực dân, đế quốc, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủnhân dân trong cả nước, thống nhất đất nước Thắng lợi vĩ đại đó của toàn thểdân tộc đã và đang là một hướng nghiên cứu hấp dẫn đối với sử học Ngoàibình chung của cả nước thì góc độ của các địa phương cũng được chú ýnghiên cứu, bởi từng địa phương là những bộ phận cấu thành lịch sử dân tộc.Lực lượng vũ trang của các địa phương trong cuộc kháng chiến chống Mỹ trởthành một hướng nghiên cứu có ý nghĩa khoa học
1.2 Thanh Hóa thuộc hậu phương miền Bắc, do vị trí chiến lược và
điều kiện tự nhiên riêng của mình, Thanh Hóa được xác định là một căn cứ,hậu phương to lớn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Dưới sự lãnhđạo trực tiếp của Tỉnh ủy, quân và dân Thanh Hóa đã xây dựng thành côngthế trận chiến tranh nhân dân trên quê hương anh hùng giàu truyền thống cáchmạng của mình và lập nhiều chiến công oanh liệt trong cuộc kháng chiếnchống Mỹ cứu nước Trong chiến công oanh liệt đó của nhân dân Thanh Hóaphải kể đến những đóng góp to lớn của lực lượng vũ trang Thanh Hóa Với sự
cố gắng phi thường, lực lượng vũ trang Thanh Hóa đã vượt qua gian khổ, hysinh, vừa sản xuất, vừa chiến đấu, vừa tăng cường lực lượng, đẩy mạnh hoạt
Trang 7động quân sự đánh bại hai cuộc chiến tranh phá hoại ác liệt bằng không quân
và hải quân của đế quốc Mỹ Với khẩu hiện “Thóc không thiếu một cân, quânkhông thiếu một người”, “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”, quân dân Thanh Hóa
đã hoàn thành nhiệm vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn Nghiêncứu về lực lượng vũ trang trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước có ýnghĩa thực tiễn sâu sắc
1.3 Ngoài ra nghiên cứu đề tài còn góp phần bổ sung và hệ thống hóa
nguồn tư liệu cho việc nghiên cứu, biên soạn và giảng dạy lịch sử địa phươngnói riêng cũng như lịch sử dân tộc nói chung Qua đó nội dung của đề tài gópphần giáo dục cho thế hệ trẻ niềm tự hào về truyền thống, ý thức tôn trọng vàphát huy những giá trị của chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong công cuộcxây dựng, đổi mới và phát triển đất nước ngày hôm nay
1.4 Gần nửa thế kỉ qua, lực lượng vũ trang Thanh Hóa luôn là đề tài
hấp dẫn đối với các nhà nghiên cứu lịch sử và quân sự, đã có nhiều công trình
đề cập đến vấn đề này Tuy vậy, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứunào nghiên cứu riêng, hệ thống toàn diện về quá trình phát triển và đóng gópcủa lực lượng vũ trang Thanh Hóa trong kháng chiến chống Mỹ (1954-1975)
Vì những lý do nêu trên, tôi chọn vấn đề: “Lực lượng vũ trang Thanh
Hóa trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước(1954 - 1975)” làm đề tài Luận
văn cao học Thạc sĩ ngành Lịch sử của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ trước tới nay đã có nhiều công trình nghiên cứu được công bố đềcập tới lịch sử địa phương Thanh Hóa nói chung Nội dung nghiên cứu củachúng tôi là lực lượng vũ trang Thanh Hóa trong cuộc kháng chiến chống Mỹ(1954 - 1975) chỉ được đề cập rải rác, thiếu hệ thống từ những góc độ chuyênmôn khác nhau; đáng chú ý là những công trình đã công bố sau:
Trang 8“Thanh Hóa lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)” (Bộ
chỉ huy quân sự tỉnh Thanh Hóa, 1994) đã trình bày khá chi tiết cuộc khángchiến chống Mỹ của nhân dân Thanh Hóa, trong đó có đề cấp tới những hoạtđộng và thắng lợi của lực lượng vũ trang Thanh Hóa đã đạt được
“Những trận đánh của lực lượng vũ trang Thanh Hóa 1945-1975)”
(Ban chỉ huy quân sự Thanh Hóa biên soạn, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân,1995) chỉ tập trung khắc họa những trận đánh tiêu biểu của lực lượng vũ trangThanh Hóa trong kháng chiến chống Mỹ
“Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa” (Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh
Thanh Hóa tổ chức nghiên cứu và biên soạn, Nhà xuất bản Chính trị Quốcgia, 1996) đã trình bày về sự lãnh đạo của Đảng bộ Thanh Hóa nói chung, đặcbiệt là trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, trong đó có đề cập tới hoạtđộng của lực lượng vũ trang nói riêng
“Lịch sử Thanh Hóa” (Hoàng Thanh Hải và Vũ Quý Thu chủ biên,
Nhà xuất bản Thanh Hóa, 1996) đã trình bày khái quát về lịch sử Thanh Hóa
từ đầu đến nay, trong đó có một phần nhỏ đề cập đến cuộc đấu tranh của nhândân Thanh Hóa trong cuộc kháng chiến chống Mỹ
“Đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Thanh Hóa” (Bộ
chỉ huy quân sự tỉnh Thanh Hóa biên soạn, 2007) tập trung phác họa nhữnghoạt động và chiến công của các đơn vị được tuyên dương anh hùng thuộc lựclượng vũ trang Thanh Hóa
Bên cạnh đó, trong các công trình xuất bản của các địa phương trongtoàn tỉnh Thanh Hóa, Ban chỉ huy Quân sự các huyện đã ít nhiều đề cập tớihoạt động của lực lượng vũ trang Tuy nhiên, những hoạt động của lực lựng
vũ trang chỉ mới đề cập như là một bộ phận của lực lượng cách mạng, một sốkhía cạnh hoạt động của lực lượng vũ trang địa phương hoặc tổng hợp quanhững tấm gương anh hùng, những trận đánh tiêu biểu
Trang 9Ngoài ra, trong một số công trình về lịch sử và lịch sử lực lượng vũ
trang Việt Nam nói chung như: “Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước
(1954 1975)” (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Sự thật, 1990
-1991), “Lịch sử quân đội nhân dân Việt Nam” (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, 1994): “Thắng lợi của kháng chiến chống Mỹ và hai mươi năm xây
dựng đất nước sau chiến tranh” (Viện Sử học, 1995); “Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)” gồm 6 tập (Viện Lịch sử quân sự Việt
Nam, 1995 - 2003) có đề cập tới lực lượng vũ trang Thanh Hóa nói riêngnhững ở mức độ khác nhau trong một bức tranh tổng thể về lực lượng vũtrang của cả nước
Nhìn chung, các công trình đã công bố kể trên đã đề cập ít nhiều đếnnội dung chúng tôi nghiên cứu từ những góc độ chuyên sâu khác nhau; tuynhiên mức độ đề cập ở những mức độ khác nhau, rải rác và thiếu tính hệthống Lực lượng vũ trang Thanh Hóa trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứunước vẫn là một đề tài còn mới mẻ Trên cơ sở kế thừa những công trình đãcông bố trên cả hai phương diện nguồn tư liệu và phương pháp tiếp cận,chúng tôi sẽ hệ thống và mô tả một cách toàn diện về lực lượng vũ trangThanh Hóa, trên cơ sở đó rút ra những nhận xét, đánh giá khoa học cũng nhưnhững bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng và củng cố an ninh, quốcphòng ở Thanh Hóa hôm nay
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Là toàn bộ hoạt động của lực lượng Vũ trang nhân dân tỉnh Thanh Hóatrong cuộc kháng chiến chống Mỹ Đề tài đặt ra các mục tiêu nghiên cứu cụthể sau:
Quá trình xây dựng và trưởng thành của lực lượng vũ trang Thanh Hóatrong cuộc kháng chiến chống Mỹ bao gồm cả 3 thứ quân: Dân quân du kích,
bộ đội địa phương và bộ đội chủ lực
Trang 10Hoạt động và những chiến công của lực lượng vũ trang Thanh Hóatrong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nhất là các hoạt động bảo vệ,chiến đấu bảo vệ hậu phương miền Bắc trong hai cuộc chiến tranh phá hoạicủa đế quốc Mỹ.
Vai trò của lực lượng vũ trang Thanh Hóa trong cuộc kháng chiếnchống Mỹ trên cả hai phương diện bảo vệ hậu phương và chi viện cho tiềntuyến lớn miền Nam
Rút ra những nhận xét, đánh giá và nêu lên các bài học kinh nghiệm vềcông tác xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang ở Thanh Hóa
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi thời gian: Đề tài tập trung phản ánh trong phạm vi thời giancủa cuộc kháng chiến chống Mỹ (1945 - 1954), trong đó chúng tôi chú trọngđến hoạt động của lực lượng vũ trang Thanh Hóa trong hai lần chiến tranhphá hoại của đế quốc Mỹ Tuy nhiên, để làm rõ nội dung nghiên cứu, chúngtôi cũng đề cập tới giai đoạn 1945 - 1954 với sự ra đời và sự trưởng thành củalực lượng vũ trang Thanh Hóa trong cuộc kháng chiến chống Pháp để làm cơ
sở so sánh cho giai đoạn sau
Phạm vi không gian: Đề tài tập trung phản ánh những hoạt động xâydựng và chiến đấu của lực lượng vũ trang trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
4 Nguồn tư liệu, phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tư liệu
Để phục vụ cho nghiên cứu đề tài, tôi đã sử dụng các nguồn tài liệu sau:
Tài liệu lưu trữ: bao gồm các công văn, chỉ thị, các báo cáo của Đảng
bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang tỉnh Thanh Hóa lưu trữ ở Văn phòngTỉnh ủy, Ủy ban nhân nhân tỉnh Thanh Hóa, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, Bannghiên cứu lịch sử, Ban tuyên giáo tỉnh Thanh Hóa, Thư viện khoa học tỉnhThanh Hóa
Trang 11Tài liệu tham khảo: các công trình chuyên khảo về hậu phương trong
chiến tranh cách mạng, lực lượng vũ trang Việt Nam nói chung và về ThanhHóa nói riêng Các công trình về lịch sử và lịch sử Đảng bộ Thanh Hóa cũngnhư các công trình về lịch sử của các địa phương trong toàn tỉnh
Tài liệu hồi cố: Các hồi ký, ghi chép của các nhân chứng lịch sử đã
từng hoạt động, chiến đấu trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa thời kháng chiếnchống Pháp
Tư liệu điền dã: Tư liệu có được thông qua việc điền dã, khảo sát của
tác giả ở những địa điểm đã từng diễn ra các hoạt động xây dựng, chiến đấucủa lực lượng vũ trang Thanh Hóa trong kháng chiến chống Mỹ
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận khi thực hiện đề tài là dựa trên lý luận của chủ nghĩaMác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
về công tác xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang
Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Chúng tôi sử dụng 2 phương phápchuyên ngành cơ bản là phương pháp lịch sử và phương pháp logic Ngoài ra,chúng tôi sử dụng các phương pháp liên ngành như điều tra xã hội học, điền
dã dân tộc học, phỏng vấn báo chí nhằm đảm bảo tính khoa học của quátrình phân tích, lí giải các sự kiện của lực lượng vũ trang Thanh Hóa trongcuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
5 Đóng góp của luận văn
Luận văn bước đầu đã khôi phục lại bức tranh toàn cảnh về lực lượng
vũ trang Thanh Hóa trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Trên cơ sở phân tích những hoạt động chiến đấu của lực lượng vũ trangThanh Hóa để đánh giá vai trò và đặc điểm của lực lượng này trên cả hai
Trang 12phương diện: bảo vệ hậu phương miền Bắc và chi viện cho tiền tuyến lớnmiền Nam
Bước đầu luận văn rút ra những bài học kinh nghiệm trong việc xâydựng và phát triển lực lượng vũ trang
Luận văn tập hợp được nguồn tư liệu phong phú về lực lượng vũ trangThanh Hóa trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, góp phần vào việc nghiên cứu
và biên soạn lịch sử Thanh Hóa nói riêng, lịch sử dân tộc nói chung thời chiếntranh cách mạng
Luận văn là nguồn tham khảo tốt cho việc giảng dạy lịch sử địaphương, góp phần giáo dục thêm truyền thồng yêu nước, niềm tin vào sự lãnhđạo của Đảng, lòng tự hào của nhân dân Thanh Hóa, ý chí tự cường cho thế
Trang 13NỘI DUNG
Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ LỰC LƯỢNG VŨ TRANG THANH HÓA
GIAI ĐOẠN 1945 - 1954
1.1 Vài nét về điệu kiện tự nhiên - xã hội Thanh Hóa
1.1.1 Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên, cư dân Thanh Hóa
Thanh Hóa là một tỉnh nằm giữa miền Bắc và miền Trung, nối đồngbằng Bắc Bộ rộng lớn và dải đất miền Trung dài và hẹp, cách thủ đô Hà Nội
150 km, cách thành phố Hồ Chí Minh 1.560 km Thanh Hóa được định vị từ
19033’đến 20030’ vĩ độ Bắc và 104025’ đến 106030’ kinh độ Đông Phía BắcThanh Hóa giáp với 3 tỉnh: Sơn La, Hòa Bình và Ninh Bình với đường ranhgiới dài 175 km Phía Nam và Tây Nam Thanh Hóa nằm liền kề Nghệ An, vớiđường ranh giới 160 km Phía Tây giáp với tỉnh Hủa Phăn của nước Cộng hòaDân chủ Nhân dân Lào với đường biên giới dài 192 km Phía Đông mở rộng
ra phần giữa của Vịnh Bắc Bộ với đường biển dài 102 km chạy theo chiều dài
từ tây Bắc sang Đông Nam và thềm lục địa rộng
Thanh Hóa có mạng lưới giao thông phát triển khá hoàn chỉnh Hệthống sông ngòi dày đặc, có 20 con sông lớn nhỏ gồm 5 hệ thống sông ngòichính (sông Hoạt, sông Mã, sông Chu, sông Yên, sông Trang) bắt nguồn từmiền núi chảy theo hướng Đông Nam đổ ra biển Trong đó có hai con sônglớn và dài nhất đó là sông Mã và sông Chu Với hệ thống sông ngòi dày đặcnhư vậy, từ xưa hệ thống sông này không những bồi đắp phù sa màu mỡ đểtạo ra những vùng châu thổ rộng lớn mà còn là nguồn nước chủ yếu phục vụsản xuất và đời sống Ngày nay, với hệ thống giao thông thủy phát triển, hệthống sông này đang đóng vai trò lớn trong việc vận chuyển đường thủy phục
vụ phát triển kinh tế và quốc phòng Bên cạnh đó, Thanh Hóa còn có quốc lộ
Trang 141A, cùng tuyến đường sắt Bắc - Nam chạy song song với nhau xuyên suốtchiều dài toàn tỉnh qua trung tâm đồng bằng tiếp giáp vùng ven biển Cóđường 59, đường 15 đi từ phía Bắc, phía Tây Bắc Bộ xuyên qua vùng trung
du và miền núi Thanh Hóa về phía Nam vào Nghệ An Đường 217 là tuyếnđường quốc lộ quan trọng từ Thanh Hóa đi Na Mèo đến tỉnh lỵ Hủa Phăn củanước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào [47,11]
Với vị trí địa lí quan trọng như trên, Thanh Hóa trở thành địa bàn trọngyếu của nước ta qua các thời kì lịch sử Trong cuộc kháng chiến chống thựcdân Pháp, Thanh Hóa là tỉnh hậu phương trực tiếp của chiến trường chínhđồng bằng Bắc Bộ, của Tây Bắc và Thượng Lào Trong cuộc kháng chiếnchống đế quốc Mỹ xâm lược, Thanh Hóa không những là hậu phương miềnBắc chi viện cho chiến trường miền Nam mà còn là tiền tuyến, trực tiếp thamgia chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược trong hai cuộc chiến tranh pháhoại của đế quốc Mỹ, góp phần cùng cả nước hoàn thành cuộc kháng chiếnchống Mỹ cứu nước giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
vùng: trung du, miền núi, đồng bằng, ven biển và vùng thềm lục địa ở mỗivùng có thế mạnh khác nhau và có điều kiện liên kết để phát triển một nềnkinh tế toàn diện cả về nông nghiệp, công nghiệp, thủ công nghiệp, nghềrừng, nghể biển Vùng núi Thanh Hóa chiếm 3/4 diện tích đất đai tự nhiên, trừphía Đông là biển, còn ba mặt Bắc, Tây, Nam đều có rừng núi bao bọc PhíaĐông Bắc là những dãy núi đá vôi thấp, phía Tây và Tây Bắc là những dãynúi tinh thạch, cao và rộng thuộc hệ thống núi từ Sầm Nưa - Trấn Ninh (Lào)chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, gồm hai dãy chính: trung lưu sông
Mã và trung lưu sông Chu Trung lưu sông Chu có hai dãy núi cao nhất tỉnhlà: Ta Leo cao 1560m và Pù Rinh cao 1291m Càng về Đông Nam, núi cũngthấp dần và rừng cũng bớt rậm rạp Phía Tây Nam là vùng đồi thấp chạy ra
Trang 15tận biển Núi rừng Thanh Hóa nhiều lâm sản, khoáng sản và chim thú quýhiếm thuận lợi cho các ngành công nghiệp và nghề rừng phát triển Vùngtrung du miền núi có diện tích tự nhiên bằng 2/3 diện tích tự nhiên toàn tỉnh.
Ba mặt Bắc - Tây - Nam núi rừng trùng điệp hiểm yếu, phía Bắc và phía Namnúi rừng xuyên thẳng ra biển Vùng trung du là những dãy đồi đất liền kề xen
lược chung của cả tỉnh, trung du miền núi là khu vực trọng yếu của quốcphòng - an ninh Kế tiếp miền trung du là miền đồng bằng rộng, đất đai màu
mỡ phì nhiêu bằng 1/5 diện tích đồng bằng Bắc Bộ, do phù sa sông Mã, sôngChu và hệ thống sông ngòi trong tỉnh tạo thành Từ rất sớm các đồng bào cácdân tộc Thanh Hóa đã khai phá tạo nên những cánh đồng phì nhiêu, xóm làngtrù phú, phát triển một nền nông nghiệp đa dạng ngành nghề, phong phú sảnvật làm cho vùng châu thổ trở thành kho lương nuôi sống các thế hệ người xứThanh, đóng góp to lớn cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước Bờ biểnThanh Hóa dài 102 km, có nhiều cửa lạch (lạch Sung, lạch Trào, lạch Trường,lạch Ghép, lạch Bạng) Vùng thềm lục địa rộng lớn và có nhiều hải đảo (đảo
Nẹ, đảo Mê ) [47,12] Biển là kho tài nguyên vô giá về khoáng sản, hải sản,danh lam thắng cảnh mở ra khả năng to lớn phát triển các ngành công nghiệp,khai thác hải sản, du lịch - dịch vụ Biển còn có vị trí chiến lược cực kì quantrọng Cư dân miền biển đã không ngừng lao động sáng tạo khai thác tiềmnăng của biển, đóng góp xứng đáng cho công cuộc dựng nước và giữ nước
Những điều kiện tự nhiên nói trên đã tạo cho Thanh Hóa có cảnh sắcđặc biệt, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Tỉnh Thanh Hóa biển bạc rừngvàng, ruộng đồng man mác, xóm làng liên miên”
Nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, thời tiết, khí hậu Thanh Hóa cónhững nét giống miền Bắc - mùa đông ngắn, lạnh và khô, đầu xuân ẩm ướt,
âm u, thiếu nắng do mưa phùn và sương mù kéo dài, giống miền Trung - mùa
Trang 16mưa và bão muộn hơn Bắc Bộ, vừa có những nét đặc thù Thanh Hóa - mưanhiều, nắng lắm, khí hậu Thanh Hóa chia thành 4 mùa rõ rệt: Xuân, Hạ, Thu,Đông Bên cạnh những yếu tố thuận lợi thì thời tiết khí hậu đã gây ra không íttác hại cho sản xuất và đời sống.
Địa hình Thanh Hóa đa dạng và hiểm trở Đồng bằng có thế dựa vữngchắc vào trung du và miền núi Hai tuyến tiếp giáp: Ninh Bình ở phía Bắc vàNghệ An ở phía Nam đều có các dãy núi, đồi kéo dài từ Tây ra tận biển tạothành thế “tay ngai” ôm lấy đồng bằng Vùng biển gần và ven biển có cácđảo: hòn Me, hòn Nẹ, Nghi Sơn, các điểm cao đột xuất hay dãy điểm cao trên
bờ, nhất là khu vực cửa lạch hình thành thế án ngữ che chắn cho đồng bằng.Trong nội địa, địa hình, địa thế thuận lợi cho việc cơ động lực lượng “tiến cóthể đánh, lui có thể giữ” như các nhà quân sự xưa nay từng đánh giá
Có thể nói, Thanh Hóa được thiên nhiên ưu đãi, có vị trí địa lí, điềukiện tự nhiên thuận lợi, kết hợp với có nguồn lao động dồi dào Vì vậy, ThanhHóa có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế toàn diện, đảm bảo nhucầu hậu cần tại chỗ phục vụ cho công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứa nước
và làm nghĩa vụ quốc tế
Qua kết quả của các nhà khảo cổ học cho thấy, người tiền sử đã có mặt
ở Thanh Hóa từ rất sớm, chứng tỏ Thanh Hóa là chiếc nôi hình thành dân tộcViệt Nam Thanh Hóa có truyền thống phát triển lâu dài và liên tục theo tiếntrình phát triển của lịch sử nhân loại Tại núi Đọ (Thiệu Hóa) đã tìm ra nhữngcông cụ của thời kì đồ đá cũ - dấu vết của người cổ xưa nhất cách đây 30 vạnnăm Tại một số điểm thuộc vùng Ngọc Lặc, Lang Chánh, Vĩnh Lộc đã pháthiện được nhiều di vật thuộc thời kì đồ đá giữa Tại Đa Bút (Vĩnh Lộc) đãkhai quật được nhiều công cụ thuộc thời kì đồ đá mới Tại Hoa Lộc (Hậu Lộc)
đã khám phá nhiều di tích thuộc thời kì đồ đồng Tại Đông Sơn, nhiều di chỉtiêu biểu thời đại đồng thau - tương ứng với thời các vua Hùng dựng nước
Trang 17cách ngày nay khoảng 4 ngàn năm Cư dân xứ Thanh từ rất sớm đã sáng tạomột nền văn minh rực rỡ Cư dân Thanh Hóa là một cộng đồng gồm nhiềudân tộc: Kinh, Thái, Mường, Hơ Mông, Dao, Khơ Mú, Tày Trong đó ngườiKinh chiếm đa số cư dân (chiếm hơn 80% dân số), người Thái khoảng 20 vạngồm Thái trắng và Thái đen Người Mường có 29 vạn Người Hơ Mông chỉ
có 5.044 người sống ở vùng cao biên giới Quan Hóa Người Dao có 4.323người sống xen kẽ với dân tộc Mường và Mông Người Khơ Mú có khoảng
550 người sống ở vùng cao Quan Hóa Người Tày có khoảng 7.642 ngườisống ở Như Xuân [47,13] Đồng bào Thanh Hóa đã chung lưng đấu cật xâydựng Thanh Hóa trở thành một tỉnh có vị trí chiến lược trọng yếu trong sựnghiệp đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam
1.1.2 Truyền thống yêu nước của nhân dân Thanh Hóa
Trải qua hàng chục vạn năm đấu tranh quyết liệt với thiên nhiên, với ápbức, cường quyền của các chế độ thống trị trong nước và nạn ngoại xâm, nhândân Thanh Hóa đã xây dựng nên bản sắc chịu đựng gian khổ, khắc phục khókhăn, cần cù, dũng cảm, giàu lòng yêu nước, chí khí kiên cường bất khuất liêntiếp vùng dậy bẻ gãy xiềng xích, đứng lên giành độc lập Nhân dân các dântộc trong tỉnh Thanh Hóa cũng như các địa phương khác trong cả nước đãđóng góp phần to lớn của mình tô đậm truyền thống yêu nước bất khuấtchống giặc ngoại xâm của dân tộc Thanh Hóa đã từng là nơi phát tích cáccuộc dấy binh khởi nghĩa chống giặc ngoại xâm
Năm 40, Trưng Trắc và Trưng Nhị dựng cờ khởi nghĩa lật đổ Thái thúGiao Chỉ là Tô Định, đã được các thủ lĩnh Cửu Chân (Thanh Hóa) hưởng ứngnhiệt liệt, tiểu biểu có nữ tướng Lê Hoa Thậm chí sau khi cuộc khởi nghĩacủa hai bà thất bại, cuộc chiến đấu vẫn tiếp tục diễn ra dưới sự lãnh đạo của
nữ tướng Lê Hoa và Chu Bá Tại căn cứ Thanh Hóa đã diễn ra các cuộc chiếnđấu oanh liệt giữa nghĩa quân và binh lính Mã Viện ở Thần Phù (Nga Sơn),Tam Quy (Hà Trung), núi Trinh (Thiệu Hóa)
Trang 18Năm 156, Chu Đạt người huyện Cư Phong (Thọ Phú, Triệu Sơn) đãchiêu mộ 5.000 nghĩa quân đánh chiếm huyện sở Cư Phong, tấn công TưPhố giết chết thái thú Đông Hán (Trung Quốc) cai quản Cửu Chân 4 năm(156 - 160).
Năm 220, Triệu Thị Trinh người con gái xứ Thanh anh hùng đã xâydựng căn cứ tại núi Nưa (Triệu Sơn) cùng 3 anh em họ Lý (Phú Điền, HậuLộc) phất cờ khởi nghĩa đánh đuổi giặc Ngô (Trung Quốc) đã làm chủ cácquận: Cửu Chân, Cửu Đức, Nhật Nam (Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh) Ý chícủa người con gái họ Triệu: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng
dữ, chém cá kình ở biển khơi, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởiách nô lệ chứ không chịu khoanh lưng làm tỳ thiếp”, sống mãi với non sôngđất nước Việt Nam
Đầu thế kỉ thứ X, Dương Đình Nghệ đã tập hợp 3.000 quân xây dựngcăn cứ tại Tư Phố, trong đó có Ngô Quyền, Lê Hoàn, Phạm Cư Lượng Năm
931, Dương Đình Nghệ từ Ái Châu tiến quân đánh đuổi Lý Tiến (Sứ sử TrungQuốc), tiêu diệt viện binh Nam Hán chấm dứt ách đô hộ hơn một nghìn nămcủa ngoại bang phương Bắc, tự xưng là tiết độ sứ mở đầu nền độc lập dân tộc
Năm 938, Ngô Quyền từ căn cứ Châu Ái tiến quân ra bắc tiêu diệt KiềuCông Tiễn tại thành Đại La (kẻ phản bội giết hại Dương Đình Nghệ), cản pháquân Nam Hán của Lưu Hoàng Thao trên sông Bạch Đằng lên ngôi vua tức làVương Quyền
Cuối thế kỷ thứ X, Lê Hoàn cùng Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quânthống nhất đất nước lập nên triều Đinh Sau khi Đinh Bộ Lĩnh qua đời, thậpđạo tướng quân Lê Hoàn trấn áp các đội quân chống đối của Nguyễn Bặc vàĐinh Điền, đánh quân xâm lược nhà Tống (Trung Quốc) vào năm 981 vàquân Chiêm Thành vào năm 982, được triều đình tôn lên ngôi vua lấy tênnước là Đại Cồ Việt lập nên triều Tiền Lê (981 - 1009) [5,18]
Trang 19Thế kỷ XIII, xứ Thanh trở thành căn cứ hậu phương vững chắc, để cảnước có điều kiện tổ chức những cuộc tấn công chiến lược quét sạch quânNguyên ra khỏi bờ cõi
Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ hai quân dânThanh Hóa đã cùng với quân đội nhà Trần chặn đánh quân của Toa Đô từphía nam tiến ra, tạo điều kiện cho quân đội triều đình nhà Trần tiến từ YênTrường vào Thanh Hóa, xây dựng Thanh Hóa thành căn cứ Tháng 5/1285,quân đội triều đình từ Thanh Hóa tiến ra Bắc giải phóng đất nước Ngay từđầu cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông, vua tôi nhà Trần đã chủtrương chọn Thanh Hóa - Nghệ An làm căn cứ
Đầu thế kỉ XV, lấy cớ “diệt Hồ phù Trần”, quân minh kéo vào xâmlược nước ta Bằng chính sách đô hộ cực kì tàn bạo, giặc Minh đã làm chonhân dân ta vô cùng cực khổ Mùa xuân 1418, tại căn cứ Lam Sơn, Lê Lợi đãtập hợp nhân tài cả nước (trong đó có Nguyễn Trãi) phất cờ khởi nghĩa Từcuộc khởi nghĩa, người anh hùng dân tộc Lê Lợi đã phát triển thành cuộcchiến tranh giải phóng dân tộc Mười năm kháng chiến gian khổ nhưng anhdũng, dân tộc ta đã giành thắng lợi vẻ vang Tên tuổi, sự nghiệp của Lê Lợi,Nguyễn Trãi cùng tướng lĩnh, nghĩa quân Lam Sơn sỗng mãi trong lịch sửViệt Nam
Vào cuối thế kỉ XVIII, nhà Lê suy tàn, đất nước rơi vào tình cảnh “nồi
da nấu thịt” Các tập đoàn phong kiến Trịnh, Nguyễn đã chia cắt đất nướcthành hai miền gây nội chiến gần một thế kỷ làm cho dân tộc điêu linh cựckhổ Lấy cớ “phù Lê”, 20 vạn quân thanh kéo vào nước ta Ngô Văn Sở, NgôThì Nhậm rút quân từ Thăng Long về chắn giữ vùng Tam Điệp chờ viên binhcủa Nguyễn Huệ Thanh Hóa một lần nữa lại trở thành căn cứ chống quânThanh xâm lược Sau khi nhận được tin báo khẩn cấp, Nguyễn Huệ - ngườianh hùng áo vải Tây Sơn đã đem quân ra Bắc bảo vệ chủ quyền thiêng liêng
Trang 20của dân tộc Tại Thanh Hóa, quân Tây Sơn đã chia thành hai mũi thủy, bộhành quân thần tốc về Thăng Long tiêu diệt 20 vạn quân Thanh.
Năm 1858, lợi dụng sự suy yếu của vua chúa nhà Nguyễn, thực dânPháp xâm lược Việt Nam, nhân dân ta từ Bắc chí Nam đã dũng cảm đứng lênđánh giặc Pháp Hưởng ứng phong trào Cần Vương, đồng bào các dân tộctrong tỉnh dưới sự lãnh đạo của các sỹ phu yêu nước đã hăng hái tham gia cáccuộc khởi nghĩa Ba Đình do Phạm Bành, Đinh Công Tráng lãnh đạo, khởinghĩa Hùng Lĩnh do Tống Duy Tân, Cao Điền chỉ huy Tại các căn cứ BaĐình, Hùng Lĩnh, Mã Cao nghĩa quân Thanh Hóa đã giáng cho giặc Phápnhững đòn chí mạng, ghi vào lịch sử kháng chiến chống Pháp cuối thế kỉXIX, những tấm gương soi sáng chủ nghĩa yếu nước Đó là Tống Duy Tân,Phạm Bành, Hoàng Bật Đạt, Trần Xuân Soạn, Hà Văn Mao, Cầm Bá Thước,Cao Điển Đặc biệt là sự hi sinh oanh liệt của Tống Duy Tân đã để lại chonhân dân Thanh Hóa sự khâm phục và thương tiếc vô hạn [32,19]
Quá trình đấu tranh xây dựng và bảo vệ đất nước, người xứ Thanh đãtạo dựng nên cho quê hương mình vị thế chiến lược trọng yếu, đóng góp tolớn cho sự tồn tại phát triển của dân tộc Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực:chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa và hun đúc nên những giá trị truyền thốngcao quý
Kế tục truyền thống yêu nước của tổ tiên, bước vào thời đại mới - thờiđại cách mạng vô sản, những thanh niên yêu nước ở Thanh Hóa, tiêu biểu như
Lê Hữu Lập đã sớm được giác ngộ chủ nghĩa Mác-Lênin theo con đường cáchmạng của người cộng sản Nguyên Ái Quốc, hăng hái tham gia vào các tổchức cách mạng như: Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, Tân Việt cáchmạng Đảng Những thanh niên yêu nước tiến bộ ở Thanh Hóa đã cùng vớicác đồng chí của mình trong cả nước, đẩy mạnh công cuộc vận động thànhlập một tổ chức cách mạng thống nhất, một Đảng Cộng sản duy nhất ở Việt
Trang 21Nam Ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời Hơn 5 tháng sau, ngày29/7/1930, Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Thanh Hóa được chínhthức thành lập Ngay từ khi ra đời, Đảng bộ Thanh Hóa đã trải qua nhiềubước thăng trầm, chịu nhiều tổn thất hi sinh do chính sách khủng bố dã mancủa thực dân Pháp, vẫn kiên trì bám sát cơ sở, vận động quần chúng từngbước khôi phục phong trào, đặc biệt là phong trào ủng hộ Xô Viết Nghệ -Tĩnh (1930 - 1931), phong trào cách mạng Dân chủ (1936- 1939).
Tháng 9/1939, Chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ, thực dân Pháp thẳngtay khủng bố cách mạng Việt Nam Tháng 5/1940, xứ ủy Trung Kỳ liên lạcđược với nhóm đảng viên ở Thị xã Thanh Hóa để truyền đạt nghị quyết lầnthứ VI của trung ương về chuyển hướng đấu tranh của cách mạng ĐôngDương Đầu năm 1941, trung ương cử đồng chí Đặng Châu Tuệ vào ThanhHóa phổ biến chủ trương của trung ương: lợi dụng lúc Nhật vào Đông Dương,tranh thủ chuẩn bị tổ chức lực lượng vũ trang, lập căn cứ cách mạng, chờ thời
cơ phát động khởi nghĩa Thực hiện chủ trương của Trung ương và Xứ ủy,Tỉnh ủy phát động phong trào chống thuế, được nông dân toàn tỉnh hưởngứng, bọn lý hương hoảng sợ, thanh niên tự vệ ở một số làng thuộc Yên Định,Thiệu Hóa, Thạch Thành đã tự động sắm sửa vũ khí, chuẩn bị đội ngũ, ngàyđêm luyện tập quân sự Thời kì này Pháp tiến hành đàn áp, dìm các cuộc khởinghĩa Bắc sơn, Nam Kì, Đô Lương trong biển máu, chúng tập trung lực lượngvào Thanh Hóa, tiến hành càn quét san bằng làng Phong Cốc, khủng bố trắngcác làng Phúc Tỉnh, Cẩm Bào; chúng tổ chức ngày đêm lùng sục vây bắt cácchiến sĩ cách mạng Trước tình hình ấy, các đảng viên và cơ sở cách mạngphải rút vào hoạt động bí mật Tình hình ấy đòi hỏi phải cấp thiết lập ra nơiđứng chân để bảo vệ và phát triển lược lượng cách mạng Chiến khu NgọcTrạo đã ra đời trong hoàn cảnh đó (7/1941) ở Thạch Thành [5,22]
Tháng 5/1941, các đồng chí Lê Tất Đắc, Trịnh Ngọc Diệt, Hoàng XungPhong và đồng chí Tố Hữu sau khi vượt ngục đã về hoạt động ở Thanh Hóa
Trang 22Tổ chức “Thanh Hóa ái quốc hội” được thành lập để tập hợp lực lượng tổchức quần chúng đấu tranh.
Đêm 9/3/1945, Nhật bất ngờ làm cuộc đảo chính pháp Nhận được chỉthị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” của Trung ương Đảng,Tỉnh ủy phát động phong trào tích cực chuẩn bị khởi nghĩa Mọi việc đượcxúc tiến rất khẩn trương Cao trào kháng Nhật cứu nước nhanh chóng pháttriển thành cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền, mở đầu là cuộc đấutranh giành chính quyền ở huyện Hoằng Hóa Đảng bộ và nhân dân HoằngHóa được sự chỉ đạo trực tiếp của tỉnh ủy đã chớp thời cơ tiến lên vũ trangkhởi nghĩa giành chính quyền huyện và đã giành thắng lợi trước một tháng.Liên tiếp 3 ngày từ 19/8 đến 21/8/1945, tất cả các huyện đồng bằng, thị xã vàhai huyện miền núi đã giành được chính quyền về tay nhân dân mau lẹ Đếnngày 21/8/1945, về cơ bản cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở ThanhHóa đã giành được thắng lợi
Thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng 8/1945 ở Thanh Hóa là kếtquả của sự vận dụng linh họat, chủ động, sáng tạo những chủ trương nghịquyết của trung ương Đảng, của Đảng bộ Thanh Hóa vào tình hình cụ thểtrong tỉnh Đảng bộ đã xây dựng được đội quân cách mạng đông đảo ở các địaphương, bao gồm lực lượng chính trị quần chúng và lực lượng vũ trang quacác thời kì Nhờ vậy, khi thời cơ đến nhân dân Thanh Hóa đã nhanh chóngvùng dậy giành chính quyền, góp phần cùng với nhân dân cả nước làm nênthắng lợi vĩ đại của cách mạng Tháng 8, đưa tới sự ra đời của nước Việt NamDân chủ Cộng hòa, ghi một mốc son chói lọi của lịch sử dân tộc
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ (1946 1954), Thanh Hóa là vùng tự do nhưng đã có những đóng góp to lớn về sứcngười, sức của góp phần làm nên chiến thắng của dân tộc
Trang 23-1.2 Khái quát về lực lượng vũ trang Thanh Hóa giai đoạn 1945 - 1954
1.2.1 Lực lượng vũ trang Thanh Hóa trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954)
Thực hiện chủ trương của trung ương Đảng, Bộ tư lệnh quân khu VI,
để bảo vệ chính quyền cách mạng, chấn áp bọn phản cách mạng, bảo vệ cơquan dân chính Đảng, chi viện cho chiến trường, vấn đề xây dựng lực lượng
vũ trang cách mạng được Đảng bộ Thanh Hóa đặc biệt chú trọng trong thời kìkháng chiến chống Pháp (1945 - 1954)
Ngày 23/8/1945, chi đội Đinh Công Tráng được thành lập với số lượng
1500 người, biên chế thành 9 đại đội, dưới sự chỉ huy trực tiếp của ủy bannhân dân lâm thời tỉnh Ở mỗi huyện có một đội du kích tập trung, quân số từ
30 đến 40 người, dưới sự chỉ huy trực tiếp của ủy ban nhân dân lâm thờihuyện để bảo vệ cơ quan huyện là chủ yếu
Bên cạnh việc xây dựng các đội quân chủ lực, bộ đội địa phương, dânquân du kích để bảo vệ chính quyền cách mạng, lực cảnh sát an ninh từngbước được kiện toàn Ngày 22/8/1945, lực lượng cảnh sát xung phong củaThanh Hóa được thành lập, ngày càng được củng cố và phát triển về số lượng
và chất lượng Ngày 18/4/1946, ty công an Thanh Hóa được thành lập, chiến
sĩ được tuyển dụng và hợp nhất từ lực lượng trinh sát viên và cảnh sát xungphong Đây là bước trưởng thành quan trọng của công an Thanh Hóa [32,37]
Đầu 1947, để đáp ứng với tình hình cách mạng, Đảng bộ Thanh Hóaquyết định đổi tên chi đội Đinh Công Tráng thành Trung đoàn chủ lực đầutiên của tỉnh: Biên chế gồm 1 tiểu đoàn, một trung đội vệ binh, 1 trung đội
võ trang tuyên truyền Thực hiện chỉ thị của Bộ quốc phòng, trên cơ sở củatrung đội vũ trang và ban vũ trang ở các huyện, ủy ban kháng chiến ThanhHóa quyết định thành lập 3 đại đội dân quân du kích tập trung liên huyện A,
C, D của Uỷ ban kháng chiến tỉnh trực tiếp chỉ huy Đại đội liên huyện A
Trang 24(đại đội 21) phụ trách các huyện: Nga Sơn, Hà Trung, Hậu Lộc, Hoằng Hóa.Đại đội liên huyện C (đại đội 65) phụ trách các huyện: Quảng Xương, TĩnhGia, Nông Cống Đại đội liên huyện D (đại đội 43) phụ trách các huyện:Thiệu Hóa, Yên Định, Vĩnh Lộc và Cẩm Thủy Tiếp đó thành lập đại đội 87chủ lực có nhiệm vụ cơ động trên phạm vi toàn tỉnh Mỗi đại đội biên chế từ
80 đến 87 người [8,11-12]
Ngày 22/3/1947, thành lập đội dân quân du kích tại thị xã Thanh Hóagồm 2 đại đội lấy tên là bộ đội “dân quân du kích Việt Nam” Sau này đổi tênthành: đại đội 109 và 120 Tháng 8/1947, Uỷ ban kháng chiến tỉnh Thanh Hóaquyết định thành lập Ban dân quân du kích Thượng du do Uỷ ban kháng chiếntỉnh trực tiếp lãnh đạo Đến tháng 9/1947, các huyện đồng bằng, ven biển vàThạch Thành, Cẩm Thủy đã có huyện đội bộ dân quân, các xã thành lập được
xã đội
Ngày 9/10/1947, Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến tỉnh Thanh Hóa thànhlập thỉnh đội bộ dân quân - cơ quan chỉ huy các lực lượng vũ trang địaphương trong tỉnh Do nhu cầu tăng cường quân cho tỉnh đội, nên Chủ tịch
Uỷ ban kháng chiến tỉnh Thanh Hóa đã quyết giải tán các thị đội để bổ sungcho các tỉnh đội
Song song với lực lượng bộ đội, lực lượng công an cũng được chútrọng xây dựng Ngày 13/3/1947, Bội nội vụ có nghị định số 36/NV về việcthiết lập quận công an các địa phương, cả tỉnh được chia thành 6 quận
Đến cuối năm 1947, lực lượng vũ trang tỉnh gồm: Trung đoàn 77 có1.652 người; dân quân du kích có 20.350 người; tại các huyện châu có: Đại đội
87, đại đội 85, đại đội 109, đại đội 21 Miền núi có 2 đại đội: Hà Văn Mao vàCầm Bá Thước Ngoài ra mỗi huyện còn có trung đội dân quân du kích [8,24]
Năm 1948, thực dân Pháp âm mưu mở các cuộc tấn công ở Bắc Bộ vàvùng tự do liên khu IV của ta Vì vậy quân và dân Thanh Hóa nói riêng, quân
Trang 25và dân vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh nói chung cần phải tăng cường củng cố hơnnữa lực lượng vũ trang để bảo vệ hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh Nhiệm vụtrọng tâm của hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh là: “Chuẩn bị sẵn sàng chiếnđấu, phải đánh thắng ngay trận đầu” Để đáp ứng cho mặt trận miền Tây, bổsung lực lượng cho Ban dân quân Thượng du và Uỷ ban kháng chiến hànhchính Thượng du để bắt đầu hình thành cơ quan quân sự các huyện Thượng
du Ngày 6/1/1948, Ban dân quân Thượng du được thành lập trên cơ sở Banlãnh đạo dân quân Thượng du, để tăng cường sức mạnh cho lực lượng vũtrang các huyện Thượng du [32,42]
Trong năm 1948, lực lượng dân quân du kích cũng được tăng cườngxây dựng Tháng 8/1948, để bảo vệ vùng duyên hải, Uỷ ban kháng chiến hànhchính tỉnh quyết định rút đại đội 21, 43, 65 và một số trung đội dân quân dukích của huyện Nga Sơn, Hà Trung, Hoằng Hóa, Hậu Lộc, Quảng Xương vàsăn sàng cơ động khi có lệnh bổ sung cho quân chủ lực khi cần thiết Tính đếntháng 12/1948, số quân toàn tỉnh là: dân quân du kích tập trung: 1188 người,
du kích xã là: 21636 người; tự vệ: 112347 người Trung đoàn 77 có 2 tiểuđoàn: tiểu đoàn 335; tiểu đoàn 373 và đại đội độc lập [8,35]
Năm 1949, thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, lực lượng vũtrang được tăng cường phát triển cả 3 thứ quân: phát triển dân quân, xây dựng
bộ đội địa phương, kiện toàn bộ đôi chủ lực Thời gian này, thực hiện sắc lệnhcủa Bộ tư lệnh về việc tập trung các đại đội độc lập, xây dựng tiểu đoàn, trungđoàn tập trung, Thanh Hóa đã thành lập tiểu đoàn375 thuộc trung đoàn 77.Đến đây trung đoàn 77 có các tiểu đoàn: 355, 373, 375 Ngoài ra trung đoàncòn có đại đội độc lập: 71, 72, 73, 74 (liên pháo); 126 (công binh) Tổng con
số là: 1756 cán bộ, chiến sĩ Ngày 22/8/1949, liên khu quyết định giải thểtrung đoàn 77 bổ sung lực lượng cho trung đoàn 98, trung đoàn 103 làm chủlực của liên khu hoạt động ở Thanh Hóa Trong thời gian này, Uỷ ban kháng
Trang 26chiến hành chính tỉnh quyết định thành lập các đại đội bộ đội địa phương tạicác huyện trọng điểm: Hoằng Hóa, Quảng Xương, Tĩnh Gia, Đông Sơn vàThọ Xuân.
Đầu năm 1950, lực lượng bộ đội địa phương Thanh Hóa có: tểu đoàn
275, đại đội 109 và 57 chủ lực tỉnh; 3 đại đội ở miền núi: Hà Văn Mao; Cầm
Bá Thước; Tống Duy Tân Tại các huyện trung du và đồng bằng có: Đại đội
10, 109 (Nga Sơn); 32 (Hà Trung); 135) Hoằng Hóa); 54 (Hậu Lộc); 98(Quảng Xương); 112 (Tĩnh Gia); 272 (Thọ Xuân; 214 (Vĩnh Lộc); 258 (CẩmThủy); 236 (Thạch Thành); 134 (Nông Cống); 192 (Yên Định); 178 (ThiệuHóa); 156 (Đông Sơn) [32,44]
Thực hiện chủ trương của trung ương Đảng, tháng 2/1950, Bộ tổng tưlệnh quân đội nhân dân Việt Nam quyết định thành lập đại đoàn 304, đạiđoàn quân chủ lực thứ hai của quân đội nhân dân Việt Nam sau Đoại đoàn
308 Sự ra đời của đại đoàn 304 thể hiện sự trưởng thành của quân đội ViệtNam, là bước ngoặt đáng ghi nhớ trong tiến trình phát triển của Liên khu IVnói chung và của tỉnh Thanh Hóa nói riêng trong cuộc kháng chiến chốngthực dân Pháp
Tại mặt trận miền Tây, sau Hội nghị cán bộ Thượng du (8/19500, Tỉnh
ủy Thanh Hóa quyết định thống nhất 3 đại đội: Hà Văn Mao, Cầm bá Thước,Tống Duy Tân thành tiểu đoàn 325 để thành lập đại đội 188,136 Tính đếncuối năm 1950, Thanh Hóa có: tiểu đoàn 275, 325 và đại đội 109,57 bộ độiđịa phương tỉnh, 14 đại đội bộ đội địa phương huyện và lực lượng dân quân
du kích có hơn 200.000 người
Tháng 10/1951, do yêu cầu tác chiến chung và cơ động sẵn sàng chiếnđấu trên địa bàn toàn tỉnh, Tỉnh đội quyết định sát nhập và đổi phiên hiệu chocác đại đội bộ đội địa phương huyện: Hoằng Hóa (đại đội 135), Hậu Lộc (đạiđội 54) thành đại đội 130 Nông Cống (đại đội 134), Đông Sơn (đại đội 136)
Trang 27và thị xã Thanh Hóa thành đại đội 160; Thiệu Hóa (đại đội 178), Yên Định(đại đội 192) thành đại đội 140; Cẩm thủy (đại đội 258), Thạch Thành (đạiđội 236), Vĩnh Lộc (đại đội 214) thành đại đội 150 Sau một thời gian ngắn,các đại đội 140, 150, 160 về Tĩnh Gia và Quảng Xương phối hợp với đại đội
112 Tĩnh Gia, 98 Quảng Xưởng bảo về ven biển [8,51]
Năm 1952, vấn đề xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang càng đượccoi trọng, đặc biệt là ở miền Tây tháng 6/1952, tỉnh đội tăng cường đại đội
140 cho huyện Quan Hóa để bảo về tuyến giao thông quan trọng ở miền Tây.Cuối 1952, các đại đội 128, 136 và 185 được điều lên Quan Hóa để tiêu diệtthổ phỉ
Sang năm 1953 - 1954, thực dân Pháp mở rộng phá hoại hậu phươngThanh Hóa Công tác xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang Thanh Hóađược đẩy mạnh Tháng 12/1953, theo quyết định của liên khu, Tỉnh đội ThanhHóa bàn giao tiểu đoàn 275 cho trung đoàn 53; đại đội 150, 160 cho tiểu đoàn
541 phòng không liên khu IV ra Việt Bắc Tiếp đó bàn giao một số cán bộtiểu đội, trung đội và đại đội 128 (Bá Thước), một trung đội của đại đội 112(Tĩnh Gia) và một trung đội 134 bảo vệ cơ quan tỉnh, 7 tiểu đội của huyệnTĩnh Gia, Quảng Xương, Hà Trung, Hoằng Hóa, Nga Sơn, Thạch Thành vàHậu Lộc cho Việt Bắc Tháng 1/1954, Tỉnh đội quyết định thành lập tiểu đoàn
388 gồm: đại đội 103, 105, 107, và trung đội 108 trợ chiến Cùng với thờigian này, Đông Sơn thành lập đại đội 140, Như Xuân thành lập đại đội 137,Cẩm Thủy lập trung đội 144 và cơ quan Tỉnh đội thành lập trung đội 134.Nhưng sau đó Thanh Hóa bàn giao hai trung đội trinh sát của tiểu đoàn 388cho sư đoàn 304 tham gia chiến đấu tại Việt Bắc
Ngoài việc xây dựng và củng cố lực lượng để tăng cường sức mạnh cholực lượng quân sự, yêu cầu phát triển, bổ sung lực lượng cho các đơn vị chủlực và bộ đội địa phương ngày càng lớn, đặc biệt sau chiến dịch Biên giới
Trang 281950 Ở Thanh Hóa cuối năm 1949, ba trại huấn luyện tân binh không đápứng kịp, đầu 1950 đã tăng lên 9 trại, mỗi khóa có từ 4000 đến 5000 thanhniên Năm 1950, cả tỉnh huấn luyện được 5 khóa với 14.757 thanh niên bổsung 8.937 cho trung đoàn 9 và 103 Năm 1953 và 6 tháng đầu 1954, ThanhHóa có tới 18.890 thanh niên nhập ngũ, bằng con số tuyển quân của 7 năm(1946 - 1952), qua các đợt tuyển quân, nhiều cán bộ chiến sĩ, dân quân dukích ở các xã đã lên đường.
Như vậy, trong suốt 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược(1945 - 1954), cùng với sự phát triển của cuộc kháng chiến thì lực lượng vũtrang nhân dân của tỉnh Thanh Hóa cũng từng bước phát triển và hoàn thànhxuất sắc nhiệm vụ của mình, vừa sản xuất, chiến đấu bảo vệ hậu phương vừachi viện cho chiến trường góp phần đưa tới thắng lợi của cuộc kháng chiếnchống thực dân Pháp của nhân dân ta
1.2.2 Hoạt động và vai trò của lực lượng vũ trang Thanh Hóa trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954)
Cách mạng tháng 8 thành công đã đưa tới sự ra đời của Nhà nước ViệtNam Dân chủ Cộng hòa, tuy nhiên sau khi Nhà nước mới ra đời đất nước taphải đối mặt với vô vàn khó khăn trên tất cả các lĩnh vực, vì vậy cùng với lựclượng vũ trang cả nước, lực lượng vũ trang Thanh Hóa phải đảm nhiệmnhững nhiệm vụ mới Trong thời gian từ 2/9/1945 đến 19/12/1946 - năm đầutiên sau cách mạng tháng 8, lực lượng vũ trang Thanh Hóa bên cạnh việc bảo
vệ an toàn bộ máy chính quyền tỉnh, đập tan âm mưu chống phá của các thếlực thù địch trong và ngoài nước, thì lực lượng vũ trang Thanh Hóa còn cónhiệm vụ xây dựng, củng cố và phát triển lực lượng vũ trang để chuẩn bị chocuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp của dân tộc
Trang 29Mặc dù chỉ trong khoảng thời gian hết sức ngắn ngủi nhưng lực lượng
vũ trang Thanh Hóa đã đóng góp vai trò hết sức quan trọng và cơ bản hoànthành được nhiệm vụ của Đảng, Chính phủ, Tỉnh ủy Thanh Hóa giao cho
Thực hiên chủ trương của Trung ương Đảng, tránh đương đầu vớinhiều kẻ thù cùng một thời điểm, để dành thời gian củng cố lực lượng, chuẩn
bị lực lượng cho cách mạng, Tỉnh ủy Thanh Hóa lãnh đạo nhân dân kiênquyết đấu tranh với những hành động ngang ngược của quân Trung Hoa Dânquốc, nhưng cũng mềm dẻo buộc chúng và bè lũ tay sai phải thừa nhận chínhquyền của nhân dân
Đối với bọn “Việt Nam quốc dân đảng” tay sai, Tỉnh ủy cương quyết tổchức lực lượng trừng trị, tiểu biểu là vụ tiêu diệt bọn phản động tại ấp Di Linh(xã Hợp Lý, huyện Triệu Sơn) đang tập hợp đồng đảng hoạt động vũ trang lôikéo quần chúng, xây dựng lực lượng hòng lật đổ chính quyền cách mạng Lựclượng vũ trang Thanh Hóa đã bắt được 68 tên, thu nhiều súng các loại, nhiềuđạn dược và các phương tiện hoạt động của chúng
Đầu năm 1946 quân Tưởng có âm mưu phá hoại cuộc bầu cử Quốc hộiđầu tiên của nhân ta Núp dưới bóng quân Tưởng, quân Quốc dân đảng cũng
ra sức hoạt động nhằm phá hoại cuộc bầu cử Để chủ động đối phó với âmmưu của địch các cơ quan đầu não của tỉnh Thanh Hóa đã di chuyển ra ngoàiThị xã
Ngày 05/3/1946, một đơn vị của Trung đoàn 77 phối hợp với lực lượngcảnh sát xung phong và đội Sao vàng cùng sự ủng hộ của nhân dân đã bí mậtbao vây trụ sở Nông Giang, ngay hôm sau trụ sở Nông Giang đã về tay chínhquyền tỉnh Thanh Hóa
Trung tuần tháng 5/1946, quân Tưởng rút khỏi Thị xã Thanh Hóa, bọnQuốc dân đảng được Tưởng giúp đỡ đã đóng giả lính Tưởng trốn theo quanthầy của chúng ra Hà Nội Biết rõ ý đồ của địch, lực lượng của ta tổ chức truy
Trang 30đuổi chúng và đã bắt được những tên cầm đầu nguy hiểm của Quốc DânĐảng: Đặng Trần Hồ, Lê Hữu Nhơn, Đỗ Văn.
Như vậy, dưới sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, Tỉnh ủy, lực lượng vũtrang nhân dân Thanh Hóa đã góp phần to lớn vào cuộc đấu tranh chấn áp bọnphản cách mạng, bảo vệ thành công chính quyền dân chủ nhân dân, bảo vềchế độ mới, đồng thời đặt nền tảng để lực lượng vũ trang Thanh Hóa cùngnhân dân chuẩn bị lực lượng về mọi mặt bước vào cuộc kháng chiến lâu dài
Thực hiện chủ trương của Chính phủ, của Chủ tịch Hồ Chí Minh vềviệc giải quyết 6 nhiệm vụ cấp bách cần làm ngay: chống đói; chống dốt; tổngtuyển cử; phát động phong trào cần - kiệm - liêm - chính; bãi bỏ 3 thứ thuế:thuế thân, thuế chợ, thuế đò; cầm hút thuốc phiện; tự do tín ngưỡng và đoànkết tôn giáo Đồng thời thực hiện chỉ thị: “Kháng chiến kiến quốc” của Trungương Đảng, lực lượng vũ trang Thanh Hóa tăng cường tập trung giải quyếtnhững công việc khẩn cấp trước mắt về đời sống Chính trị - Kinh tế - Xã hội,phát triển lực lượng vũ trang, chuẩn bị mọi mặt, sẵn sàng đối phó với thựcdân Pháp
Với sự đóng góp nỗ lực của lực lượng vũ trang, trong tròn năm đầu saucách mạng tháng 8, nhân dân Thanh Hóa đã cùng với nhân dân cả nước về cơbản đã hoàn thành 6 nhiệm vụ cấp bách cần làm ngay của Chính Phủ và Chủtịch Hồ Chí Minh giao cho Bên cạnh đó, lực lượng vũ trang Thanh hóa đãkhông ngừng củng cố, xây dựng và phát triển nhân sự về mọi mặt để bướcvào cuộc kháng chiến lâu dài của dân tộc Sau một năm lực lượng vũ trangThanh Hóa đã lớn mạnh vượt bậc trên mọi lĩnh vực so với giai đoạn trướccách mạng tháng 8 Lực lượng vũ trang vừa khẩn trương chuẩn bị chống giặcbảo vệ địa phương, vừa chủ động kịp thời hưởng ứng lời kêu gọi đồng bào cảnước dốc sức vì miền Nam ruột thịt Ngày 23/9/1945, một đại đội Thanh Hóalên đường Nam tiến Đêm 25/9/1945, bổ sung 1 đại đội cùng với đơn vị của
Trang 31Thái Bình và Hà Nội tiếp tục lên đường [5,45] Cuối tháng 10/1945, huyệnThọ Xuân tổ chức đưa đoàn quân Nam tiến đầu tiên gồm 15 người vào Namgiết giặc Lực lượng Nam tiến vào chiến trường đã làm tăng thêm sức mạnhchiến đấu cho miền Nam kháng chiến.
Như vậy, trong một năm sau cách mạng tháng 8, dưới sự lãnh đạo củaĐảng bộ lực lượng vũ trang Thanh Hóa đã cùng với nhân dân hoàn thành cơbản các nhiệm vụ của Trung ương Đảng và Chính phủ giao cho, không chỉxây dựng, bảo vệ, củng cố chính quyền cách mạng, đánh đuổi được giặc ngoạixâm, dẹp trừ được nội phản, đẩy lùi nạn đói, nạn dốt và xây dựng cuộc sốngmới, mà còn chuẩn bị thực lực về cơ bản cho cuộc kháng chiến chống Pháp
Ngày 19/12/1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Đảng bộ vànhân dân Thanh Hóa nhận rõ vai trò và vị trí chiến lược của mình đã cùngtoàn quốc tiếp tục vừa kiến quốc, vừa khẩn trương bước vào cuộc kháng chiếntoàn quốc với nhiệm vụ mới
Thực hiện chủ trương “tiêu thổ kháng chiến” của Đảng, Chính Phủ vàChủ tịch Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, Uỷ ban kháng chiếnhành chính tỉnh đã lãnh đạo lực lượng vũ trang cùng nhân dân đẩy mạnh côngtác phá hoại, lực lượng vũ trang cùng nhân dân Thị xã Thanh Hóa tự nguyệnphá hoại nhà cửa, phố phường rút về nông thôn tham gia kháng chiến Đại độicông binh của trung đoàn 77 đã cùng anh em công nhân phá sập cầu HàmRồng, mở đầu cho “tiêu thổ kháng chiến” Đến tháng 12/1947, tại Thị xãThanh Hóa đã phá được 30 công sở, 1334 nhà dân, 304 nhà tầng, thị trấn Sầmsơn, Bái Thượng, các đồn điền, nhà máy điện, mỏ Cổ Định Dân quân tự vệcùng nhân dân phá trên 100 km đường giao thông, dỡ hơn 80 km đường sắt,đánh sập 9 cầu lớn [5,55]
Cùng với nhiệm vụ “tiêu thổ kháng chiến”, được sự quan tâm của Chủtịch Hồ Chí Minh, dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, lực lượng vũ trang Thanh
Trang 32Hóa tích cực xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, sẵn sàng chiến đấu đậptan cuộc tấn công của địch, bảo vệ hậu phương trong mọi tình huống.
Tháng 2/1947, quân viễn chinh Pháp ồ ạt đánh chiếm Trung trung bộ,Tây Bắc, Đông Bắc, đường số 5 và đồng bằng Bắc Bộ, nhằm giải vây thànhphố tạo thế bao vây ta từ Tây sang Đông Tại Thanh Hóa, chúng đẩy mạnhcác hoạt động quân sự, phá rối vùng ven biển và chiếm một số điểm sungyếu khu vực miền Tây, nhằm chia cắt hậu phương Thanh Hóa với chiếntrường Việt Bắc và lập nên hành lang Đông - Tây, chia cắt miền Tây với nộiđịa Thanh Hóa, đồng thời làm cơ sở thuận lợi đánh ra liên khu III và ViệtBắc, cắt đứt mối quan hệ giữa vùng thượng Lào với Thanh Hóa Như vậy,đến năm 1947, Thanh Hóa hình thành 2 vùng chiến sự: Vùng ven biển vàthượng du [5,61]
Với âm mưu mới của thực dân Pháp, lực lượng vũ trang Thanh Hóađứng trước trọng trách hết sức nặng nề đó là phải trực tiếp chiến đấu chốngPháp để bảo vệ vững chắc hậu phương Thanh Hóa nói riêng, hậu phươngThanh - Nghệ - Tĩnh nói chung
Tại mặt trận miền Tây Thanh Hóa, sau 3 tháng chiến đấu (từ tháng 6đến tháng 8/ 1947) lực lượng vũ trang Thanh Hóa cùng với nhân dân và bộđội Lào đã diệt 30 tên lính Pháp, 50 Lào gian và ngụy binh, thu 11 khẩu súng,
3000 viên đạn, buộc địch phải rút khỏi vị trí chiếm đóng ở mặt trận miền Tây.Chiến thắng này đã bước đầu phá được âm mưu địch tấn công từ Lào sang đểchiếm thượng du Thanh Hóa, tiến tới chiếm toàn bộ Thanh Hóa; làm thất bạichính sách dùng vũ lực quân sự lôi kéo các thổ ty, lang đạo tiến bộ đang ngả
về phía cách mạng theo chúng để chinh phục nhân dân [5,67] Thắng lợi này
đã cổ vũ động viên nhân dân miền núi nói riêng và nhân dân Thanh Hóa nóichung hăng hái chuẩn bị vũ khí sẵn sàng đánh địch bảo vệ địa phương gópphần cùng cả nước chuẩn bị cho chiến dịch Thu - Đông 1947
Trang 33Năm 1947 chiến dịch Thu - Đông kết thúc, thực dân Pháp thất bại buộcphải chuyển sang đánh lâu dài với ta Vì vậy chúng thực hiện chính sách
“Dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” TạiThanh Hóa từ năm 1948 trở đi Pháp tổ chức đánh chiếm Thanh Hóa một cáchtoàn diện và quyết liệt hơn Tại mặt trận miền Tây, Pháp đánh các huyện:Quan Hóa, Bá Thước, Thường Xuân, chiếm đến đâu chúng củng cố đồn bốt,lập phòng tuyến sông Mã, nối liền bắc Lào, Bắc Bộ, ngăn sự chi viện củaThanh Hóa với chiến trường chính Tại mặt trận ven biển, chúng càn quét cáchuyện: Hoằng Hóa, Quảng Xương, Tĩnh Gia Đặc biệt chúng đổ bộ đánhchiếm đảo hòn Mê và xây dựng căn cứ gián điệp tại đây, bên cạnh đó Phápcòn tổ chức đánh phá một số vị trí thuộc các huyện thượng du Thanh Hóa
Để đập tan âm mưu của Thực dân Pháp, Đảng bộ Thanh Hóa tổ chứcĐại hội lần 1 tại Xuân Minh - Thọ Xuân - Thanh Hóa (02/1948) Đại hội chủtrương “Thượng du thắng là Thanh Hóa thắng”, tập trung bảo vệ miền Tây -Địa bàn chiến lược quan trọng của Thanh Hóa và cách mạng cả nước Thựchiện chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh, trong năm 1948, lực lượng vũ trang ThanhHóa đã cùng nhân dân tổ chức đánh hàng trăm trận lớn nhỏ, tiêu biểu là trậntấn công tiêu diệt Poọng Nưa của Tiểu đoàn 337 Hồi Xuân (thuộc Trung đoàn77) phối hợp cùng dân quân địa phương tập kích huyện Quan Hóa(08/6/1948) [7,11] Trong cuộc tập kích này, lực lượng vũ trang của ThanhHóa đã diệt được 12 tên địch, bắn bị thương 20 ngụy Lào, phá hủy một sốmáy móc, phương tiện của chúng Qua trận đánh này đã để lại nhiều bài họckinh nghiệm cho lực lượng vũ trang Thanh Hóa
Sang Thu - Đông năm 1948 đến Thu - Đông năm 1949, để chuẩn bị chogiai đoạn tổng phản công ở chiến trường chính Bắc bộ, Ban chỉ huy mặt trậnmiền Tây - Thanh Hóa được thành lập Đồng thời Tiểu đoàn 355 (Trung đoàn77) được tăng cường hoạt động về vùng Quan Hóa, Bá Thước Để khai thông
Trang 34tuyến vận chuyển từ miền Tây Thanh Hóa qua Vạn Mai - Suối Rút (HòaBình) các đơn vị của Tiểu đoàn 355, Ban chỉ huy mặt trận miền Tây, Đại độiCầm Bá Thước, dân quân địa phương huyện Bá Thước liên tục tấn công đồn
Cổ Lũng Ngày 24 rạng sáng ngày 25/7/1949, bắt đầu tấn công vào đồn CổLũng, cuộc tấn chiến kéo dài 4 giờ, lực lượng đã tiêu diệt được 2 tên chỉ huyPháp, 3 tên ngụy binh, làm bị thương một số và một số tên bỏ trốn, phá hủymột số vũ khí của địch [32, 60] Tuy vậy thương vong về phía lực lượng của
ta là rất lớn và các đơn vị đã không hoàn thành nhiêm vụ Trận chiến này đã
để lại nhiều bài học kinh nghiệm xương máu về tinh thần chiến đấu, chiếnthuật không thận trọng, hiệp đồng không chính xác, sử dụng lực lượng khônghợp lý Tuy nhiên, đây là trận đánh có tính chất “Giai đoạn mở đầu cho đợt
tiến công vào các đồn còn lại của tuyến miền Tây”.
Ngày 18/12/1949, đồn Cổ Lũng binh biến, Tiểu đoàn miền Tây, Đại độiCầm Bá Thước cùng dân quân địa phương tước vũ khí của bọn phản động,đồn Cổ Lũng được giải phóng Tiếp đó địch ở đồn Toàn Thắng, TrườngTrang (Hòa Bình) xin gặp Uỷ ban kháng chiến huyện Bá Thước đầu hàng.Ngày 22/12/1949, Thực dân Pháp rút về Sầm Tớ (Lào), đường vận chuyểnmiền Tây Thanh Hóa qua Hòa Bình và ra chiến trường phía Bắc được khaithông Ngày 30/3/1950 quân dân Thanh Hóa phối hợp đột nhập đồn MườngXia, miền Tây Thanh Hóa hoàn toàn được giải phóng, phòng tuyến sông Mãcủa địch bị phá vỡ hoàn toàn [32, 61] Cũng trong Thu - Đông năm 1949, lựclượng vũ trang Thanh Hóa đã phối hợp chiến đấu với bộ đội chủ lực góp phầnđưa đến thắng lợi của chiến dịch Lê Lợi (Tháng 1 đến tháng 3 năm1950)
Tại vùng ven biển từ tháng 11/1948 đến tháng 01/1949, Thực dân Phápthực hiện 11 lần đổ bộ xuống các huyện ven biển Thanh Hóa Cuối tháng 9đầu tháng 10 năm 1949, Thực dân Pháp thực hiện âm mưu tấn công Đồngbằng và chuẩn bị đánh phá phía Bắc Thanh Hóa Chúng cho quân đổ bộ một
Trang 35số điểm thuộc bờ biển huyện Tĩnh Gia, đánh phá một số huyện trọng điểm:Đông sơn, Quảng Xương, Thị xã Thanh Hóa Đầu tháng 1/1950, chúng liêntục đánh ở phía Đông Bắc Nga Sơn.
Để đối phó với âm mưu của thực dân Pháp, tiểu đoàn 375 thuộc Sưđoàn 103 được điều đến Nga Sơn phối hợp với Đại đội 10 - bộ độ địa phươnghuyện và dân quân địa phương ở 3 xã phía Đông Bắc Nga Sơn (Điền Hộ,Nhân Phú và Tiên Sơn) chống địch lấn chiếm, càn quét Ngày 18/11/1949, lựclượng vũ trang Thanh Hóa phục kích toán lính gồm 75 tên tại Quán Ao -Thôn Giáp Lại - Xã Kiên Giáp khi đi càn quét và đã diệt được 3 tên và 20 tên
bị thương Đây là trận đánh đầu tiên của quân và dân vùng Đông Bắc ThanhHóa giành thắng lợi, gây ảnh hưởng to lớn cho nhân dân và củng cố đượclòng tin đối với bộ đội địa phương, dân quân địa phương ở Nga Sơn, tìm đượcphương pháp diệt địch, chấm dứt giai đọan hoành hành của Thực dân Pháp.Đầu năm 1950 quân dân huyện Nga Sơn giành thêm được một số thắng lợi ở
Hồ Vương, Chính Đại, Hói Đào bước đầu phá được kế hoạch “Tầm Thực”của địch ở Nga Sơn [32, 62]
Tháng 11/1949 Trung ương Đảng và Bộ tư lệnh mở chiến dịch Lê Lợi(Hòa Bình) để giáng một đòn mạnh mẽ vào kế hoạch “Hành lang Đông-Tây”.Đại đội bộ đội địa phương Hà Văn Mao, Cầm Bá Thước, dân quân địaphương huyện Quan Hóa và Bá Thước phối hợp với Đại đội 72, 78, 138 đãkiềm chế địch không cho chúng tàn phá, lôi kéo các Lang đạo, làm cho địchmất chỗ dựa, lực lượng vũ trang của Thanh Hóa đã góp phần đưa tới chiếnthắng của chiến dịch Lê Lợi (Tháng 1 đến tháng 3/1950)
Năm 1950, sau những thất bại liên tiếp, Pháp tăng cường đánh phá một
số huyện ven biển Thanh Hóa, đặc biệt là Nga Sơn với quy mô ngày càng lớn
và tính chất ngày càng ác liệt Trước tình hình đó, được sự lãnh đạo của Đảng
bộ Thanh Hóa, tinh thần chiến đấu của lực lượng vũ trang Thanh Hóa ngày
Trang 36càng mạnh mẽ, quyết liệt Tháng 4./1950, quân dân Nga Sơn phối hợp vớiđơn vị chủ lực quyết tâm giải phóng xã Liên Sơn Đây là một xã có 99% nhândân theo đạo thiên chúa, nơi đây địch lợi dụng biến nhà thờ thành nơi tụ tậpcôn đồ, tề ngụy ác ôn khét tiếng làm tay sai cho chúng Trong các ngày 5 và9/5/1950, lực lượng vũ trang đồng loạt công kích vào 3 vị trí: Hói Đào, HồVương, Liên Quy tiêu diệt phần lớn sinh lực địch, giải phóng xã Liên Sơn lần
1 [5,123] Nhưng ngày 11/7/1950, Pháp đánh trở lại Nga Sơn
Từ tháng 8/1950, chúng tăng cường tổ chức các cuộc càn sâu vào vùng
tự do của Thanh Hóa để thăm dò lực lượng Trước tình hình đó bộ đội ThanhHóa tổ chức chống càn, đại đội 10 bộ đội địa phương huyện cùng tiểu đoàn
375 diệt 10 và làm thương 20 tên
Tháng 9/1950, ta mở chiến dịch Trần Hưng Đạo đánh địch trên địa bànKim Sơn - Ninh Bình và Nga Sơn (Thanh Hóa), lực lượng gồm: dân quân dukích xã Liên Sơn, đại đội 10 và 109 bộ đội địa phương huyện, đại đội 65 bộđội địa phương Tỉnh; tiểu đoàn 375 thuộc trung đoàn 103; đại đội 98 (tiểuđoàn 391, trung đoàn 9, sư đoàn 304) Ngày 8/9/1950, ta đồng loạt tấn côngvào: Hói Đào, Hồ Vương, nhà thờ Tam Tổng và làng Tích Thiện, đến gầnsáng lực lượng vũ trang Thanh Hóa làm chủ cứ điểm, diệt hàng trăm tên, bắtsống 60 tên Mười ngày sau phối hợp với tiểu đoàn 375, 391, 351, các đại độiđịa phương và dân quân du kích tấn công vào vị trí chiếm đóng của địch, giảiphóng hoàn toàn xã Liên Sơn, giết và làm bị thương 200 tên, bắt 6 vệ sĩ phá 1cối 6 li, 6 súng trường [5,131] Thắng lợi này làm nhân dân phấn khởi, tin vào
bộ đội, đẩy mạnh chiến tranh du kích phát triển
Đầu 1951, Pháp thực hiện kế hoạch Đờlat Đơtatxnhi, liên tục càn quétcác huyện Nga Sơn, Hoằng Hóa Để đối phó với địch, các đại đội bộ đội địaphương tỉnh được tăng cường chiến đấu ở các huyện, Công an Thanh Hóa đãphối hợp giữa bộ phận trên đất liền và bộ phận bám địch mưu trí đánh chìm
Trang 37thông báo hạm A-May-Ô-Đanh-Vin, diệt 200 tên sĩ quan và binh lính địchngoài biển Sầm Sơn [5,135].
Sang năm 1952, kế hoạch Đờlát bước đầu không thực hiện được, nênPháp có âm mưu mới, đánh một đòn thọc sườn, thọc sâu vào hậu phương antoàn của ta nhất là vùng Thanh - Nghệ -Tĩnh Tháng 6 -7/1952, thực hiện âmmưu phá hoại, triệt hạ nền kinh tế hậu phương Thanh Hóa Pháp liên tục chomáy bay đánh phá các công trình thủy lợi: đập Bàn Thạch- Thọ Xuân; đêPhong Lạc để chặn sự phá hoại của địch, trung đội 52 (tiểu đoàn 275); đạiđội 150, 160 lên bảo vệ đập Bái Thượng và Bàn Thạch
Năm 1953, địch ở vào thế bị động, phân tán đối phó ở nhiều nơi ỞThanh Hóa đó không thực hiện được âm mưu cố chiếm, cố lấn chúng bắt đầu
cố phá bằng được Ngày 26/3/1953, thực dân Pháp bắt đầu mở cuộc hànhquân Hốt-Tơ-An-Pơ đánh phá một số huyện phía Nam Ninh Bình Đảng bộThanh Hóa đã lãnh đạo lực lượng vũ trang cùng nhân dân tăng cường sứcchiến đấu phối hợp với cuộc kháng chiến toàn quốc trong Đông - Xuân 1953-
1954, giải phóng quê hương Trong những trận chống càn thời kì này thì trậnchống địch đổ bộ càn quét lên thôn Lương Trung (Quảng Tiến - QuảngXương) của đại đội 98 bộ đội địa phương huyện ngày 23/2/1952 là trận chiếnđấu điển hình, trong trận này lực lượng vũ trang Thanh Hóa tiêu diệt 31 tên,làm thương 16 tên [7,50-51] Tạo điều kiện cho quân và dân địa phươngchuẩn bị cho chiến cuộc Đông - Xuân 1953-1954
Tại Nga Sơn, trong tháng 3/1953, bộ đội địa phương huyện phối hợpvới dân quân du kích đã chiến đấu chống càn ở nhiều xã và giành thắng lợi,tiêu biểu là trận chống càn ở Liên Sơn lực lượng vũ trang đã diệt được 48 tênđịch và làm bị thương nhiều tên khác; ở thôn Chính Đại, lực lượng vũ trangdiệt 6 tên, 13 tên bị thương, 1 ca nô bị đắm, thu 2-3 tấn lương thực, thựcphẩm Đến đây trận càn của địch ở Nga Sơn bị thất bại hòan toàn [7,63]
Trang 38Thắng lợi này làm thất bại âm mưu của địch nhằm chiếm vùng tự do ThanhHóa và ngăn chặn lực lượng tấn công của chủ lực tỉnh Thanh Hóa, cổ vũ tolớn đối với nhân dân và lực lượng vũ trang trong toàn tỉnh, động viên lựclượng hăng hái tham gia kháng chiến bảo vệ hậu phương.
Ngày 15/10/1953, Pháp mở chiến dịch Hải Âu, đánh Tây Nam - NinhBình, chuẩn bị tấn công sâu vào Thanh Hóa, nhằm chiếm phía Nam ThanhHóa, cắt đứt vùng tự do Thanh - Nghệ - Tĩnh với chiến trường phía Bắc.Trước tình hình đó, Đảng bộ tỉnh đã lãnh đạo lực lượng vũ trang Thanh Hóakiên quyết đập tan các cuộc càn quét của địch Lực lượng vũ trang Thanh Hóa
đã chiến đấu anh dũng, giành nhiều thắng lợi, trong đó tiêu biểu là cuộc chiếnđấu chống càn trong 2 ngày 26 và 27/10/1953, đã tiêu diệt 41 tên, 70 tên khác
bị thương, phá hủy 6 xe, bẻ gẫy trận càn vào xã Tống Giang và Hoạt Giangcủa địch Đây là trận đánh có ý nghĩa lớn, phá âm mưu của địch tìm diệt sưđoàn 320 và đánh sâu vào hậu phương Thanh Hóa để thăm dò lực lượng, pháhậu phương và chia cắt Thanh Hóa với chiến dịch Tây Nam Ninh Bình Đâyđược coi là trận đánh điển hình của lực lượng vũ trang Thanh Hóa trongkháng chiến chống Pháp
Ngày 13/3/1954, Chiến dịch Điện Biên Phủ bắt đầu, quân Pháp lúc nàyphải dàn mỏng lực lượng để đối phó với ta trên các chiến trường, sau nhiềuthất bại tinh thần quân lính hoang mang dao động, ở tại Thanh Hóa để chochiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng, cả tỉnh lúc này ra sức chi viện sứcngười sức của cho chiến dịch Mặt trận Nga Sơn ra sức đẩy mạnh tiến côngquân sự để giữ chân địch, tiêu hao sinh lực địch, với thắng lợi của quân dânNga Sơn trong trận chống càn quét cuối tháng 6/1954, bộ đội đã bắt sống 160tên, 500 súng các lọai và nhiều phương tiện khác Đây là trận thắng cuối cùngcủa lực lượng vũ trang Thanh Hóa phối hợp với nhân dân đánh địch ở Nga
Trang 39Sơn Sau 5 năm quân dân Nga Sơn đã đánh và chống càn 233 trận lớn nhỏ,tiêu diệt và bắt sống trên 1.300 tên, thu nhiều vũ khí [32,99].
Ở vùng duyên hải, ngày 19/5/1954 địch cho 125 tên biệt kích lên thôn
Cự Nham - xã Quảng Chính - Quảng Xương Vừa đặt chân lên đến bờ, chúng
đã bị bộ đội của đại đội 98 Quảng Xương và dân quân du kích chặn đánh tiêudiệt 16 tên, buộc địch phải xuống tàu rút lui [5,164] Ngày 25/5/1954, 350 tênđịch trang bị kĩ càng chia làm 3 hướng đổ bộ lên Du Xuyên - xã Hải Thanh -Tĩnh Gia Với tinh thần cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu cao, cấp ủy, chínhquyền, ban chỉ huy xã đội đã kịp thời chỉ huy chiến đấu Trận chiến diễn raquyết liệt trên cả 3 hướng Trận chiến kéo dài đến 13h, lực lượng vũ trangThanh Hóa đã tiêu diệt được 121 tên, buộc chúng phải rút lui, phá được âmmưu biệt kích của địch, bảo vệ được nhân dân, địa bàn [5,165]
Thất bại trên chiến trường chính buộc địch phải rút khỏi Nga Sơn, âmmưu đánh phá hậu phương Thanh Hóa của địch bị phá vỡ Ngày 07/8/1954Pháp rút khỏi đảo hòn Mê - Tĩnh Gia Tháng 8/1954 toàn bộ quân Pháp rútkhỏi Thanh Hóa Từ tháng 8/1954 quân dân Thanh Hóa cùng quân dân cảnước bảo vệ chặt chẽ thành quả kháng chiến
Trong thời gian từ 1946 đến 1954 bên cạnh trực tiếp tham gia chiến đấulực lượng vũ trang Thanh Hóa còn tham gia xây dựng hậu phương ThanhHóa, để xây dựng Thanh Hóa thành một “Tỉnh kiểu mẫu” như lời căn dặn củaChủ tịch Hồ Chí Minh với đồng bào Thanh Hóa
Về chính trị: Để đối phó với âm mưu chống phá hậu phương ThanhHóa, Đảng bộ Thanh Hóa đã tăng cường công an để phòng gian, trừ ác chốngphá họai và gây rối của địch
Ở miền Tây Thanh Hóa, bọn Lang đạo phản động được Thực dân Phápgiúp đỡ đã thành lập “Nước Thái tự trị”, móc nối với các tổ chức “Quốc DânĐảng”, “Mặt trận dân tộc giải phóng”, “Mặt trận quốc gia liên hiệp” đã lập ra
Trang 40tổ chức “Đại Việt duy tân” Hoạt động ở các huyện: Lang Chánh, Quan Hóa,Thường Xuân, Như Xuân Tháng 4/1947, thực dân Pháp từ Lào kéo vào đánhmột số điểm ở Quan Hóa, Lang Chánh, Bá Thước nhằm lập “Hành lang Đông
- Tây”, nhiều tên phản động như Nguyễn Duy Tiến, âm mưu hậu thuẫn chothực dân Pháp đánh vùng thượng du Thanh Hóa [32,64]
Trước âm mưu đó, Đảng tổ chức đưa các đội võ trang tuyên truyền nhưđội 1, đội O thuộc Liên khu X, Liên khu III cùng với một số Đại đội độc lập
vệ quốc đoàn (C71, C72 và C77) lên các huyện vùng cao biên giới làm côngtác vận động cách mạng, thực hiện “Cùng ăn, cùng ở, cùng làm” để cảm hóanhân dân, gây dựng cơ sở, vạch trần âm mưu chia rẽ của thực dân Pháp.Trong năm 1947, Công an Thanh Hóa đã tiêu diệt nhiều tổ chức phản động ởmiền Tây Thanh Hóa: “Bạch sỹ”, “Thượng du cách mạng” Tháng 9/1947,Tỉnh ủy Thanh Hóa quyết định xóa bỏ bọn phản động, trừng trị tay sai đếquốc được đông đảo đồng bào các dân tộc ủng hộ Tên Lê Xuân Kỳ, Lê Xuântín cùng đồng bọn cầm đầu bị bắt và bị trừng trị thích đáng, giáo dục nhữngngười lầm đường lạc lối, đồng thời củng cố chính quyền và lực lượng vũtrang, đẩy mạnh kháng chiến - kiến quốc ở vùng thượng du Thanh Hóa
Tại các huyện ven biển như Nga Sơn, Hoằng Hóa các tổ chức phảnđộng hoạt động ráo riết, chúng tuyên truyền gây sơ sở, tổ chức phản động ởThanh Hóa Đặc biệt là chúng phát triển lực lượng, lôi kéo đồng bào ở vùngtheo đạo Thiên Chúa giáo Ngoài ra chúng còn tiến hành các “Phủ bộ” ở một
số huyện như: Nông Cống do Lê Sỹ Phong cầm đầu, Tĩnh gia do Hồ CôngTĩnh cầm đầu, Đông Sơn do Lê Khắc Minh cầm đầu, Hà Trung do PhạmXuân Sắc cầm đầu
Để đập tan âm mưu của bọn phản động, dưới sự lãnh đạo trực tiếp củaTỉnh ủy, Đồng chí Nguyễn Văn Hoàng, Trưởng ty Công an chỉ huy lực lượngphối hợp đoàn cảnh vệ, tự vệ vũ trang huyện Nông Cống phá tổ chức phản