1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lực lượng vũ trang quân khu 4 trên chiến trường lào trong thời kỳ chống mỹ ( 1954 1975 )

77 2,6K 27

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lực lượng vũ trang quân khu 4 trên chiến trường Lào trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (1954-1975)
Tác giả Trần Thị Mai Hoa
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Trọng Văn
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2007
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 4,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong“ Bản dự thảo Tổng kết nghĩa vụ quốc tế về quân sự của Đảng ta với chiến tranh cách mạng Lào 1945-1975” ” của Ban tổng kết kinh nghiệm chiến tranh đã đề cập đến những nét khái quát

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạoTrờng Đại học Vinh

trần thị mai hoa

Lực lợng vũ trang quân khu 4 trên chiến trờng Lào

trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ

Trang 2

Bộ giáo dục và đào tạoTrờng đại học vinh



Trần thị mai hoa

Lực lợng vũ trang quân khu 4 trên Chiến trờng Lào

trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ( 1954-1975)

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam Mã số: 60.22.54

luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử

Ngời hớng dẫn khoa học:

PGS.TS Nguyễn Trọng Văn

Vinh, 2007

Trang 3

- Các cán bộ trong Th viện tỉnh Nghệ An và Th viện Quân khu 4

đã nhiệt tình hớng dẫn và cung cấp nhiều tài liệu đáng quý.

- Các thầy cô trong tổ Sử Việt Nam đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ.

- Ông Trần Kim Đôn- đã cung cấp nhiều t liệu quý, đặc biệt là nhiều t liệu thực tế quý giá.

- Của ngời thân, bạn bè đã tạo mọi điều kiện thuận lợi về vật chất

và tinh thần đối với tôi trong quá trình làm luận văn.

Trang 4

mang tính chất khác nhau đợc hình thành: có liên minh trên lĩnh vực quân sự,

có liên minh trên lĩnh vực kinh tế Điều này đợc thể hiện một cách rõ rànghơn từ khi chủ nghĩa t bản chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang thời kỳchủ nghĩa đế quốc

Thật vậy, chủ nghĩa đế quốc với bản chất giai cấp của nó và xu thế củanền kinh tế, chính trị, xã hội, chúng luôn tìm cách hình thành những liên minhkhông chỉ trong thế giới t bản mà còn trên phạm vi cả thế giới cũng nh từngkhu vực phục vụ mục đích xâm lợc, mở rộng thị trờng thuộc địa phản kích mộtcách quyết liệt vào các lực lợng cách mạng của thời đại Thực tế qua hai cuộcchiến tranh thế giới đã minh chứng cho chúng ta điều đó Các thế lực phản

động quốc tế luôn tìm mọi cách liên minh với nhau để chống lại các lực lợngyêu chuộng hòa bình

Trớc tình hình đó, Lênin đã đa ra một nhận định:

“T bản là một lực lợng quốc tế, muốn thắng nó cần phải có sự

liên minh quốc tế, tình anh em quốc tế của công nhân”

Nh vậy, trong thời đại cách mạng vô sản; để đánh bại đợc các liên minh đếquốc chủ nghĩa và các thế lực phản động quốc tế, liên minh chiến đấu vàchiến lợc giữa các lực lợng cách mạng trên thế giới cũng nh trên từng khu vực

là một tất yếu khách quan

1.2.Việt Nam- Lào là hai nớc sống cạnh nhau do quan hệ điạ lý núi liềnnúi sông liền sông, lại ở vào một vị trí rất quan trọng ở vùng Đông Nam á Do

đó, Việt Nam và Lào có một mối quan hệ đặc biệt với nhau, cùng “dựa lng”vào nhau để tồn tại Đặc biệt, từ cuối thế kỷ XVIII- đầu thế kỷ XX, khi các n-

ớc mở rộng qúa trình tìm kiếm và cớp bóc thị trờng thuộc địa ở các nớc á,Phi, Mỹ latinh Đế quốc Pháp, rồi đế quốc Mỹ lần lợt nhảy vào Đông Dơng,dùng lãnh thổ nớc này để làm bàn đạp đánh chiếm tấn công nớc kia, ra sứcchia rẽ khối đoàn kết ba dân tộc làm suy yếu lực lợng cách mạng để dễ bềthống trị Mối quan hệ chiến đấu của nhân dân ba nớc Đông Dơng, liên minhchiến đấu Việt- Lào đợc hình thành một cách tự nhiên, hình thành qua thực tếcủa quá trình quan hệ hợp tác giúp nhau trong cách mạng, phát sinh, phát triểngắn liền chặt chẽ với sự nghiệp kháng chiến cứu nớc của hai dân tộc qua từnggiai đoạn khác nhau

Đảng ta đã sớm thấy rõ ý nghĩa quan trọng về quan hệ đoàn kết chiến đấugiữa ba dân tộc đối với sự nghiệp cách mạng của ba nớc nên ngay từ khi ra đời

đã đặt cách mạng Việt Nam nằm trong cách mạng Đông Dơng

Trang 5

Trong mối quan hệ chung đó, Quân khu 4 và lào lại càng có mối quan hệ

đặc biệt hơn Địa bàn Quân khu 4 là một dải đất hẹp bao gồm 6 tỉnh kéo dài từThanh Hóa đến Thừa Thiên Huế Cái làm nên sự đặc biệt trong mối quan hệQuân khu 4 và lào chính là phía Tây toàn bộ 6 tỉnh của Quân khu 4 đều cóbiên giới với Cộng Hòa Dân chủ Nhân dân Lào (gồm Hủa Phăn; XiêngKhoảng; Bôly Khămxay; Khăm Muộn; Xavanakhet, Xlavan) qua dãy TrờngSơn Với đờng biên giới 1192 km trải dài trên cả 6 tỉnh, có thể nói: nếu nh

“Quân khu 4 bảo vệ phía đông cho Lào thì Lào bảo vệ phía tây cho Quân

khu 4” nói riêng và của toàn chiến trờng Việt Nam nói chung Nếu chiếm đợc

Lào, kẻ thù sẽ tạo đợc thế uy hiếp, bao vây Quân khu 4 về phía tây, đồng thời

dễ chia cắt Việt Nam Mối quan hệ biên giới vốn là chiếc cầu nối giữa hai nớcláng giềng, nay lại trở thành cơ sở để nảy sinh rất sớm mối đoàn kết liên minhchiến đấu Quân khu 4- Lào trong mối quan hệ chung Việt- Lào Mối quan hệnày lại càng đợc thắt chặt, củng cố và phát triển hơn từ sau tháng 5 năm 1959,khi ta mở đờng vận tải chiến lợc trên bộ để chi viện cho miền Nam, Ban chấp

hành Trung ơng Đảng quyết định thành lập ban công tác Lào của trung ơng

Đảng và giao cho đồng chí Võ Nguyên giáp- Bí th tổng quân ủy là trởng ban.Ban công tác Lào của TW cùng với Bộ quốc phòng giao nhiệm vụ cho Quânkhu 4 trực tiếp thực hiện nhiệm vụ này

Vậy hoạt động của “Lực lợng vũ trang quân khu 4 trên chiến trờng Lào

trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ( 1954-1975)” nh thế nào? Đó là điều

chúng tôi muốn làm sáng tỏ trong luận văn tốt nghiệp của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

quá trình thực hiện nghĩa vụ quốc tế của Việt Nam ở Lào đã đợc cácnhà nghiên cứu ít nhiều tìm tòi, đề cập đến

Trong“ Bản dự thảo Tổng kết nghĩa vụ quốc tế về quân sự của Đảng ta

với chiến tranh cách mạng Lào (1945-1975)” của Ban tổng kết kinh

nghiệm chiến tranh đã đề cập đến những nét khái quát nhất về quá trình thực

hiện nghĩa vụ quốc tế của Việt Nam tại Lào

Trong tác phẩm “Những cánh đồng Chum” của Chum-ma-ly đã đề cập

đến một trận đánh tiêu biểu đầy hi sinh, gian khổ nhng cũng đầy oanh liệt,

vẻ vang của nhân dân Xiêng Khoảng và của quân tình nguyện Việt quân khu 4 trong thực hiện nghĩa vụ quốc tế ở Lào

Nam-Trong “Lịch sử công tác - chính trị lực lợng vũ trang Quân khu 4”

(1945-2000)” của Cục chính trị Quân khu 4 đã ghi lại phần nào những tấm

Trang 6

gơng chiến đấu và phục vụ chiến trờng, những chiến công và những thành tíchchiến đấu và sản xuất dới ma bom lửa đạn, ghi lại phần nào những kinhnghiệm quý giá, để lại cho các thế hệ mai sau tình quân dân trong cả nớc.Qua các công trình nghiên cứu trên, chúng tôi rút ra một số nhận xét sau:

- Các công trình trên chủ yếu tập trung đi sâu nghiên cứu quá trình làmnhiệm vụ quốc tế của lực lợng cả nớc ở chiến trờng Lào

- Các hoạt động của từng đơn vị quân sự trên chiến trờng Lào cũng cha đợc đềcập một cách thoả đáng

Kế thừa những kết quả của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nớc, luận văncủa chúng tôi sẽ nêu lên đợc một cách hệ thống những hoạt động quân sự củalực lợng vũ trang Quân khu 4 trên chiến trờng Lào Luận văn cũng làm đề cập

đến sự phối hợp giữa Quân khu 4 và Lào trên các hoạt động kinh tế, chính trị.Kết quả nghiên cứu góp phần đánh giá tổng quát, hệ thống về hoạt động củalực lợng vũ trang Quân khu 4 trên chiến trờng Lào

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tợng nghiên cứu:

Luận văn đi sâu nghiên cứu về quá trình thực hiện nghĩa vụ quốc tế củalực lợng vũ trang Quân khu 4 ở chiến trờng Lào trên mặt trận quân sự

Bên cạnh nội dung chủ yếu là hoạt động trên lĩnh vực quân sự, luận văncòn đề cập trong một chừng mực nhất định trên các lĩnh vực khác nh kinh tế,chính trị, văn hóa của các lực lợng khác của quân khu để thấy rõ hơn vàhoàn chỉnh hơn về vai trò của Quân khu 4 trong quá trình hoạt động và làmnhiệm vụ trên chiến trờng Lào

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu những hoạt động của lực lợng vũ trang quânkhu 4 ở chiến trờng Lào trên mặt trận quân sự trong thời kỳ kháng chiếnchống Mỹ( 1954-1975)

Không gian nghiên cứu chủ yếu là chiến trờng Lào, nhng nằm trong mốiliên quan chung của chiến trờng Đông Dơng

4 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn t liệu sử dụng trong luận văn:

Luận văn đợc thực hiện dựa trên các nguồn tài liệu sau:

- Nhóm tài liệu về quan điểm của Đảng và Nhà nớc: Các văn kiện Đại hội

Đảng, Nghị quyết, Chỉ thị của Trung ơng Đảng Cộng sản Việt Nam phản

Trang 7

ánh những quan điểm, t duy của Đảng và Nhà nớc ta trong lĩnh vực liên minhchiến đấu trên chiến trờng chung Đông Dơng.

Nhóm tài liệu gốc: T liệu, tài liệu của Bộ chính trị, Ban chấp hành trung

-ơng, và các dự thảo của Ban tổng kết kinh nghiệm chiến tranh, các văn bảncủa UBND tỉnh Nghệ An, của Tỉnh đội Nghệ An, của Quân ủy Quân khu 4

- Nhóm các tài liệu sách, báo, tạp chí, ấn phẩm nghiên cứu chuyên sâuhoặc mang tính chất tổng hợp về hoạt động phối hợp quân sự giữa Quân khu 4

và Lào trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ( 1954-1975)

4.2 Phơng pháp nghiên cứu:

Để giải quyết những vấn đề mà đề tài đã đặt ra, chúng tôi dựa vàoChủ nghĩa duy vật biện chứng, Chủ nghĩa duy vật lịch sử, những quan điểmcủa Đảng và Nhà nớc về lĩnh vực liên minh chiến đấu trên chiến trờng chung

Đông Dơng làm cơ sở phơng pháp luận cho việc nghiên cứu Luận văn cốgắng trình bày sự kiện trung thực, xem xét sự vận động của chúng trong mốiliên quan chặt chẽ với nhau, từ đó rút ra những nhận xét, đánh giá

Đây là một đề tài lịch sử nên phơng pháp lịch sử và phơng pháp logic đợc

đặc biệt coi trọng Luận văn dựa trên cơ sở những tài liệu lịch sử, những sựkiện lịch sử có thật để phân tích, xử lý, hệ thống hóa, khái quát hoá vấn đề.Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng các phơng pháp khác nh: Phơng pháp sosánh đối chiếu, phơng pháp thống kê nhằm hỗ trợ cho hai phơng pháp chủyếu trên

Luận văn này, còn sử dụng các kiến thức liên ngành của khoa học xã hội

nh địa lý, văn hóa, dân tộc học

5 Đóng góp của luận văn:

5.1.Trên cơ sở những tài liệu tiếp cận đợc, luận văn hi vọng sẽ phác họalên một hệ thống những hoạt động của lực lợng vũ trang Quân khu 4 ởchiến trờng Lào trong thời kỳ chống Mỹ( 1954-1975)

5.2.Thông qua những hoạt động trên lĩnh vực quân sự, luận văn nhằmchỉ ra những ảnh hởng, vai trò lực lợng vũ trang Quân khu 4 trong sự nghiệpcách mạng của ba nớc Đông Dơng

Từ những kết quả đó, luận văn sẽ đa ra những bài học và triển vọng chomối quan hệ hợp tác Việt- Lào trong thời kỳ mới

6 Bố cục của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung luận văn đợc bố cục thành ba

ch-ơng:

Trang 8

Chơng 1: Liên minh Quân khu bốn- Lào.

Chơng 2: Hoạt động của lực lợng vũ trang Quân khu 4 trên chiến trờng Làotrong giai đoạn 1954- 1968

Chơng 3: Hoạt động của lực lợng vũ trang Quân khu 4 trên chiến trờng Làotrong giai đoạn 1969-1975

Chơng 1: Liên minh Quân khu bốn- lào

1.1.Cơ sở hỡnh thành liờn minh:

1.1.1 Những nột tương đồng giữa hai vựng lónh thổ:

Nằm trờn bỏn đảo Đụng Dương, Việt – Lào núi chung, Lào - Quõn khu

4 núi riờng là hai lỏng giềng gần gũi, cú nhiều điểm tương đồng về địa lớ,lịch sử và văn hoỏ truyền thống Chớnh vị trớ địa lớ: nỳi liền nỳi, sụng liềnsụng, kề vai sỏt cỏnh, việc giao thụng đi lại hai bờn rất dễ dàng, thuận lợi làđiều kiện quan trọng đầu tiờn đặt cơ sở, nền tảng để Lào và Quõn khu 4 cúmối quan hệ hợp tỏc lõu dài, đặc biệt là trong cuộc đấu tranh chống Mỹ bảo

vệ độc lập dõn tộc cho từng quốc gia

Cộng hũa Dõn chủ Nhõn dõn Lào là một quốc gia cú đất liền bao quanhtại vựng Đụng Nam Á, thuộc vựng vành đai nhiệt đới ẩm giú mựa Chiều dàibắc - nam trờn 1000 km, cú trờn 4700km đường biờn giới đất liền, Lào

Trang 9

giáp giới nước Myanma và Trung Quốc phía tây bắc, Việt Nam ở phía đông,Campuchia ở phía nam, và Thái Lan ở phía tây, đặc biệt đường biên giới dàinhất là giáp với Việt Nam (2060km) Lào còn được gọi là "đất nước TriệuVoi" hay Vạn Tượng; ngôn ngữ của nước này là tiếng Lào Trước đây Làocòn có tên là Ai Lao Lào là nước duy nhất ở Đông Nam Á không có đườngthông ra biển, do vậy chủ yếu mọi tiếp xúc về hàng hải với các quốc gia khác

là qua các cảng biển của Việt Nam như Cửa Lò, Cửa Việt, Đà Nẵng .( xem phô lôc)

Chiều ngang của nước này được tính từ kinh độ 100,05 đông đến kinh

độ 107,37 đông, chủ yếu nằm giữa một bên là dãy Trường Sơn, một bên làsông Mêkông, với diện tích 236800 km² trong đường biên giới hiện tại, dân

số trên 4 triệu người, mật độ 16 người trên 1 km²

Địa hình của đất nước này rất phức tạp, 80% là núi và cao nguyên,chiếm 3/4 diện tích đất đai; bao gồm ba vùng là thượng Lào, trung Lào và hạLào Thượng Lào được chia thành hai vùng lớn: vùng phía bắc từ sông Nậm

Cà Đinh đổ lên, núi đồi trùng điệp, hiểm trở, chia cắt thành nhiều thung lũnghẹp, vực thẳm, đi lại khó khăn, vùng Trung - Hạ Lào từ sông Nậm Cà Đinh

đổ về phía nam, địa hình nhiều cao nguyên lớn, nhiều đồng bằng rộng,bằng phẳng

Còn quân khu 4 của Việt Nam là một chiến khu quân sự đượcthành lập từ sau Cách mạng tháng Tám, năm 1945 Xuất phát từ yêu cầu tổchức, bố trí thế chiến lược trên chiến trường toàn quốc; Trung ương Đảng vàChủ tịch Hồ Chí Minh quyết định tổ chức các chiến khu quân sự Theo đó,các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị,Thừa Thiên Huế được tổ chức thành chiến khu 4

Khu 4 thuộc vùng Bắc Trung Bộ, trải dài từ Dốc Xây - Thanh Hoáđến đèo Hải Vân, dài 642 km, nằm trong khoảng từ 16,20 đến 20,3 độ vĩtuyến Bắc, từ 103,5 đến 108 độ kinh đông, cùng chung dãy Trường Sơn với

Trang 10

nước Lào anh em, có đường biên giới dài 1192 km, phía bắc giáp các tỉnhSơn La (quân khu 2), Hoà Bình, Ninh Bình (quân khu 3), phía nam giápthành phố Đà Nẵng (quân khu 5), phía đông giáp biển Đông, có bờ biển dài

644 km, với 12 đảo lớn nhỏ cách bờ từ 1 đến 30 km Quân khu 4 còn nằmchung trên vĩ độ 18,20 đến 19,45 với đảo Hải Nam -Trung Quốc (cách bờbiển nước ta khoảng 300-320 km về phía đông)

Quân khu 4 có diện tích 52062 km², chiều ngang dải đất nơi hẹp nhất là46,5km, nơi rộng nhất là 207 km Có hệ thống sông ngòi dày đặc nhưng ngắn

và dốc, đều xuất phát từ phía tây chảy qua nội địa rồi đổ ra biển Đông, khíhậu nhiệt đới và đặc điểm nắng nóng, ẩm, mưa nhiều, chịu sự chi phối trựctiếp của gió mùa tây nam và đông bắc, mùa hè thường có 5-6 đợt gió Lào (gióTây Nam) thổi qua dãy trường Sơn, nên khí hậu khô nóng Mùa đông, từngđợt gió mùa đông bắc khô hanh làm cho khí hậu càng thêm khắc nghiệt

Khu vực biên giới giữa Quân khu 4 với Lào là dọc các tỉnh Thanh Hoá,Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế (Việt Nam)với vùng thượng Lào và hai tỉnh Khăm Muộn, Savannakhét ở trung Lào

Địa hình vùng Thượng Lào chia thành 4 vùng nhỏ:

-Vùng núi Đông Bắc từ Phong Xa Lỳ đến Hủa Phăn (Sầm Nưa) độ caotrung bình từ 1000-1500m với dãy Phu Lơi

-Vùng núi Tây bắc thuộc các tỉnh Luông Nậm Thà, Luông Pha Băng,

độ cao trung bình 1500-2000m, núi non trùng điệp, xen kẽ các thung lũngnhỏ, vực sâu

-Nằm giữa 2 vùng trên là cao nguyên Mường Phuôn(Xiêng Khoảng)rộng 2000km², độ cao trung bình 1200m

-Đồng bằng Viêng Chăn, rộng 4000km², là vùng bình địa củathượng Lào, là vùng đồng bằng phù sa, trù phú của Lào

Địa hình hai tỉnh thuộc Trung Lào: Khăm Muộn và Savannakhẹt, từdãy Phu Luông (Trường Sơn) nghiêng dần về lưu vực sông Mêkông qua

Trang 11

nhiều cao nguyên lớn và thấp, độ cao trung bình từ 300-700m, trong đó cócao nguyên Sa Thạch, Savannakhét và cao nguyên đá vôi Khăm Muộn làquan trọng hơn cả, vùng đông nam trung Lào do đồng bằng Keng Koọc cấutạo nên, nằm trong tỉnh Savannakhét là vùng đất phì nhiêu và là vựa lúaquan trọng của nước Lào.

Như vậy, khu vực biên giới giữa Lào - Việt kéo dài, trên một vùng về

cơ bản là núi non trùng điệp, cùng dựa lưng vào dãy Trường Sơn, cùng uốngchung dòng nước Mêkông, núi liền núi, sông liền sông rất gần gũi, nhiều núi

là biên giới tự nhiên hai bên, nhiều đèo là cửa khẩu nối liền hai nước

Trên cơ sở gần gũi về điều kiện tự nhiên, đặc biệt là quan hệ bà conthân thuộc, trải qua những thể chế chính trị khác nhau, các nền văn hoá dântộc đã cài xen vào nhau, giữ được nhiều nét tương đồng, như Thái Việt Nam– Thái Lào, Khơ mú Việt Nam – Khơ mú Lào, Mẹo Việt Nam(nay gọi làH’Mông) - Mẹo Lào Họ cùng ở nhà sàn, ăn cơm gạo tẻ, gạo nếp, phụ nữmặc váy trang trí nhiều hoa văn độc đáo, sáng tạo Sự giao lưu văn hoá đãlàm thành nền tảng của mối quan hệ giữa hai quốc gia nói chung, Lào – Quânkhu 4 nói riêng càng thuận lợi, sâu sắc

Tổ tiên chúng ta từ ngàn xưa đã xác định vùng biên giới là “phên dậu”,

bờ cõi, tiền tiêu của tổ quốc, là nơi địa đầu hiểm yếu của đất nước, có quan hệđến sự sống còn, phát triển của đất nước, của dân tộc Với vị trí núi liền núi,sông liền sông ở phía tây Việt Nam, thì sự an nguy của Lào ảnh hưởng rất lớnđến Việt Nam và ngược lại

Đặc biệt trong điều kiện cụ thể ở Đông Dương vào thời kì cận hiện đại,khi thực dân Pháp, phát xít Nhật, đế quốc Mĩ lần lượt nhảy vào khu vực nàyđều tiến hành quy luật xâm lược cả ba nước Đông Dương, biến đây thực sựthành một chiến trường chung, với một chiến lược chung thống nhất

Thực dân Pháp xem chiến trường Lào như là hậu phương trực tiếp đốivới chiến trường chính Việt Nam Còn đế quốc Mĩ sau khi hất cẳng Pháp thì

Trang 12

xem Lào là chiến trường tiền tiêu ở Đông Nam Á, là căn cứ nối liền ViệtNam – Thái Lan, là khu vực ngăn chặn phe xã hội chủ nghĩa, là lá chắn bảo

vệ nền tự do của Sài Gòn và Thái Lan là bức tường thành chống cộng, làpháo đài của thế giới tự do, một căn cứ quân sự lí tưởng giữa Trung Hoa -Việt Nam

Vậy cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do của mỗi nước vừa có tính độc lậptương đối của nó, vừa phải luôn gắn kết chặt chẽ với nhau không thể tách rời,

vì kẻ thù chung, chiến trường chung, nhiệm vụ chung, sách lược, chiến lượcchung Có thể nói: ban đầu là do tự phát vì cùng một lợi ích, cùng nhữngđiểm tương đồng với nhau Sau này với sự xuất hiện của Đảng cộng sản ViệtNam thì sự liên minh Việt – Lào, trong đó phía Việt Nam do quân khu bốnđại diện đã bước sang giai đoạn mới về chất

1.1.2.Chủ trương của Đảng ta:

Từ những cơ sở thuận lợi để hình thành liên minh hai nước Việt – Làonói chung, Lào với sáu tỉnh bắc trung bộ Việt Nam nói riêng ở trên, thì chính

sự ra đời với chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng ta đã biến liên minhnày từ tự phát lên tự giác trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung, giành vàgiữ độc lập cho mỗi dân tộc

Ngay trong cương lĩnh đầu tiên của Đảng tháng 2 năm 1930 đã thể hiện

rõ ràng tư tưởng kết hợp dân tộc với giai cấp, quốc gia với quốc tế, chủ nghĩayêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản, để hoàn thành sứ mệnhđoàn kết ba dân tộc trên bán đảo Đông Dương

Điều này tiếp tục được khẳng định trong những hội nghị tiếp theo,như trong nghị quyết trung ương toàn thể hội nghị tháng 10 năm 1930 có ghi

rõ nhiệm vụ của Đảng là phải khuyếch trương phong trào ra toàn ĐôngDương, hay nói cách khác là liên minh giữa Việt – Lào lúc này thực sự mangbản chất chủ nghĩa quốc tế vô sản trong sáng, một liên minh kiểu mới, bền

Trang 13

chặt và vì lợi ích của cả hai dân tộc, lẫn lợi ích của toàn thể nhân dân tiến bộtrên thế giới.

Đến hội nghị trung ương lần thứ 6 (11-1939) lại khẳng định nhiệm vụcủa Đảng là phải khuyếch trương phong trào khắp cả Đông Dương Thậm chícòn vạch rõ con đường liên hiệp cụ thể như thế nào về tất cả các mặtchính trị, kinh tế, binh bị .mà vẫn đảm bảo mỗi dân tộc vẫn có quyền

tự quyết định vận mệnh theo ý muốn dân tộc mình

Từ đó đi đến thành lập Mặt trận dân tộc phản đế Đông Dương, vậy là

sự liên minh Đông Dương nói chung, Việt – Lào nói riêng đã được tổ chứcquy củ trong một mặt trận chung thống nhất Sau hình thức liên minhcách mạng giữa nhân dân các dân tộc trong liên bang cộng hòa xã hộichủ nghĩa xô viết do Lênin sáng lập sau cách mạng tháng Mười, thì có thểxem đây là một sáng tạo của Đảng cộng sản Đông Dương trong việc kết hợpdân tộc và giai cấp, quốc gia và quốc tế, chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩaquốc tế vô sản trong việc thực hiện nghĩa vụ quốc tế với dân tộc anh em,láng giềng

Tuy nhiên có thể nói giai đoạn trên, chủ trương của Đảng còn mangnặng tính khái quát, chung chung, chưa được cụ thể hoá thành những chínhsách rõ ràng, thiết thực, chưa nhấn mạnh được vị trí quan trọng của liên minhViệt - Lào

Đến khi nước ta tiến hành thành công cuộc cách mạng tháng Tám

1945, Đảng ta đã chủ trương song song với nó là vận động lực lượng tiến bộLào phối hợp với các Việt kiều ở đó làm cách mạng thiết lập chính phủ độclập

Nhưng thực dân Pháp nhanh chóng quay lại Đông Dương Nhận thấy

rõ lực lượng kháng chiến ở Lào còn non yếu, xuất phát từ tinh thần quốc tế vôsản, Đảng ta kịp thời đưa ra chủ trương “tăng cường vũ trang tuyên truyềnvận động nhân dân các dân tộc làm cho mặt trận đoàn kết kháng chiến Việt –

Trang 14

Lào chống Pháp lan rộng và chiến tranh du kích nảy nở ở thôn quê” trong chỉthị kháng chiến kiến quốc ngày 25-11-1945.

Khi kháng chiến chống Pháp bùng nổ khắp cả nước, Đảng ta tiếp tụcchủ trương giúp bạn Lào về quân sự, trước mắt là giúp chính phủ độc lậpcùng các lực lượng tiến bộ Lào giữ vững đội ngũ, bồi dưỡng cán bộ, chuẩn bịlực lượng, chỉ đạo lập tổ chức phòng biên chính trực tiếp giúp Lào do quânkhu Bốn phụ trách

Như vậy, từ lúc quân khu này ra đời thì Đảng ta cũng giao phó nhiệm

vụ chính thực hiện việc liên minh Việt – Lào cho Khu Bốn Nhưng thực sựtrong giai đoạn đầu nhận nhiệm vụ Đảng giao phó, quân khu Bốn đã gặp khánhiều khó khăn, nhất là từ năm 1945 đến năm 1947, vì quân khu chưa có sựchủ động trong việc đề ra chủ trương, mà sự chỉ đạo của Đảng thì thực sựchưa thật rõ ràng và sát hợp với tình hình, kết hợp với những khó khăn nonkém từ cách mạng bạn mang lại

Từ năm 1948, trên cơ sở nhận thức rõ hơn tầm quan trọng đối với tatrên chiến trường Lào trong giai đoạn phát triển mới của cuộc kháng chiếnchống thực dân Pháp Đảng chủ trương đẩy mạnh hơn nữa việc giúp đỡ cáchmạng Lào về quân sự, coi đó là nhiệm vụ chiến lược quan trọng không nhữngtrực tiếp thúc đẩy công cuộc giải phóng dân tộc Lào anh em mà còn có vai tròlớn đối với chiến trường chính Việt Nam trước mắt và sau này Thời kì nàyĐảng đề ra chủ trương, phương châm, phương hướng giúp bạn ngày càng sáthợp với điều kiện cụ thể của Lào, đồng thời coi trọng mặt tổ chức chỉ đạogiúp bạn chặt chẽ và có hiệu lực hơn Trong đó liên khu Bốn phụ trách nhiệm

vụ ở Savannakhet, Tha-khẹt, Saravan Còn các vùng còn lại do những chiếnkhu khác phụ trách

Có thể nói năm 1948, đã đánh dấu một sự chuyển hướng quan trọngcủa Đảng ta trong công tác giúp đỡ Lào về mặt quân sự, do đó mang lại hiệuquả rõ rệt hơn trước Nhưng lại còn hạn chế là chiến tranh du kích nói chung

Trang 15

chưa hoạt động tốt vì thiếu kế hoạch phối hợp hoạt động ở vùng biên giớiViệt – Lào, nhất là khu vực giáp ranh với quân khu Bốn.

Vậy nên sang năm 1949, Đảng ta tiếp tục ra chủ trương đẩy mạnhviệc thực hiện phương châm chiến lược trong giai đoạn mới “tích cực hơn,kịp thời hơn, với nhịp độ mạnh và nhanh hơn” với du kích chiến vẫn làphương châm căn bản, kết hợp mạnh bạo đẩy vận động chiến lên tầm caomới, dần dần ngang bằng với du kích chiến khi có điều kiện Với nhiệm vụgiao cho quân khu Bốn phụ trách ở trung Lào phải giúp bạn phát triển hơnnữa lực lượng vũ trang, nối liền các khu căn cứ địa cách mạng

Hội nghị toàn quốc III của Đảng họp tháng 1-1950 đó đã đưa ra nghịquyết rõ ràng về nhiệm vụ của ta giúp đỡ cho Lào là phải xây dựng căn cứ địachính cho Lào và mở rộng cơ sở quần chúng, gắn liền các căn cứ địa vớinhau; tích cực xây dựng quân đội quốc gia cho Lào; đào tạo cán bộ cho Lào.Bởi giải phóng Lào là giải phóng Đông Dương, đồng thời là phối hợp tácchiến hiệu quả với khu vực chiến trường bắc Việt Nam Và ở bất kì hội nghịnào của Đảng trong những năm tiếp theo đều theo dõi, đánh giá về hoạt độnghợp tác Việt – Lào, để từ đó uốn nắn và đưa ra những đường lối chỉ đạophù hợp tình hình

Nhất là ở giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp, donhận biết rõ tình hình, cũng như lường trước được cuộc đấu tranh giànhđộc lập tự do của hai dân tộc chưa phải là chuẩn bị chấm dứt mà chỉ làsắp sửa loại bỏ được kẻ thù này mà đối đầu với kẻ thù khác còn mạnh hơn,nguy hiểm hơn Nên Đảng ta đã đưa ra chủ trương đối phó cho tình hìnhtrước mắt, cũng như lâu dài cho nước bạn Lào với sự hỗ trợ của Việt Nam.Trong mật điện về tình hình và chủ trương công tác ở Lào ngày 26-6-1954,Đảng chủ trương bất kể tình huống nào “việc đẩy mạnh xây dựng bộ đội giảiphóng Lào là một nhiệm vụ hết sức cấp thiết .là công tác trung tâm thứ nhấtphải tập trung lực lượng kiên quyết thực hiện cho kì được”, “kế hoạch

Trang 16

khuyếch trương bộ đội giải phóng Lào từ nay đến mùa xuân năm 1955 đạtquân số trên dưới 10.000 để xây dựng 9 tiểu đoàn bộ binh, một tiểu đoànpháo binh và một sô đại đội hay trung đội bộ đội địa phương: năm tiểu đoàn

bộ binh và một tiểu đoàn pháo ở thượng Lào, hai tiểu đoàn ở trung Lào, haitiểu đoàn ở hạ Lào, chia làm hai đợt từ nay đến cuối 1954 phải xong 6 đoàn

bộ binh, 1đoàn pháo, đến tháng 5-1955 thì hoàn thành kế hoạch Về cách giúpbạn, thực hiện chế độ cố vấn tách khỏi quân tình nguyện, chế độ cố vấn thựchiện ở ba nơi: giúp chung ở bộ quốc phòng bạn, ở nhà trường giúp đào tạo vàhuấn luyện cán bộ, ở mỗi tiểu đoàn quân giải phóng Lào có một tổ cố vấngồm một cán bộ tiểu đoàn, một cán bộ đại đội trong nước sang Tổng quân uỷquyết định cử đồng chí Chu Huy Mân chuyên trách giúp đẩy mạnh xây dựngquân giải phóng Lào”

Như vậy, chủ trương của Đảng ta trong việc thực hiện liên minh Việt –Lào giai đoạn này luôn thể hiện rõ những đặc điểm cơ bản, xuyên suốt là:

- Đảng luôn coi nhiệm vụ giúp cách mạng Lào là nhiệm vụ chiến lược

có ý nghĩa sống còn đối với cách mạng nước ta Do điều kiện chính trị, địa lí,

do âm mưu, chủ trương chiến lược của thực dân xâm lược đối với hai nước,khiến cho “giúp bạn là tự giúp mình”

- Đảng ta coi nhân tố quyết định trực tiếp và cuối cùng đến thắng lợicủa cách mạng Lào phải là do bản thân nhân dân Lào tự phát huy lực lượngquân sự, kinh tế, chính trị trong nước Còn nhiệm vụ của quân tình nguyệnViệt Nam, trực tiếp là quân khu Bốn chỉ phối hợp hoạt động, dìu dắt, pháttriển các lực lượng của bạn lên, đủ đáp ứng được yêu cầu dân tộc và thời đại

- Đảng không những đề ra chủ trương sớm, kịp thời mà còn liên tụcđược bổ sung cho sát đúng, phù hợp với tình hình và đặc điểm của chiếntrường Lào qua từng thời kì của cuộc kháng chiến để đi đến thắng lợicuối cùng

Trang 17

Rừ ràng chủ trương của Đảng ta về liờn minh Việt – Lào trong thời kỡnày dự cũn một số hạn chế nhất định, nhưng về cơ bản là rất đỳng đắn, sỏngtạo, phự hợp quan điểm chủ nghĩa Mỏc - Lờnin đó đem lại thắng lợi trongkhỏng chiến chống Phỏp cho cả hai dõn tộc Những chủ trương và biện phỏp

ấy tiếp tục được bổ sung, sửa chữa, cụ thể hoỏ, nhỡn nhận và thực hiện tốt hơnnữa trong tỡnh hỡnh mới là chống đế quốc Mĩ ở giai đoạn tiếp theo

Giỳp nhõn dõn bạn chớnh là tự giỳp mỡnh, nhiệm vụ ấy của nước tađược Đảng và Nhà nước giao phú trực tiếp cho quõn khu 4 - quõn khu đúng ởđịa phận chiếm phần lớn cỏc tỉnh giỏp Lào Xuất phỏt từ quan hệ địa lớ lỏnggiềng gần gũi, thõn thiện và với tinh thần quốc tế vụ sản cao cả, được Đảng

và Bỏc Hồ giỏo dục, quõn dõn quõn khu 4 luụn luụn giữ vững tỡnh nghĩa thuỷchung, trọn vẹn với cỏc bộ tộc Lào anh em, sỏt cỏnh cựng nhau “hạt gạo cắnđụi, cọng rau sẻ nửa” cựng chiến đấu trong liờn minh đoàn kết Việt – Lào,chống kẻ thự chung của hai dõn tộc, vỡ độc lập dõn tộc và xó hội chủ nghĩa

Chỳng ta cú thể khẳng định là từ lỳc Đảng cộng sản Việt Nam ra đời đónhỡn ra được tầm quan trọng của việc liờn kết Việt – Lào, nhanh chúng giaophú nhiệm vụ cao cả đú cho quõn khu Bốn trực tiếp thực hiện những chủtrương liờn minh hai bờn Chủ trương của Đảng rất xuyờn suốt, luụn luụn kịpthời, đỳng đắn, sỏng suốt, khiến cho liờn minh Việt – Lào núi chung, quõnkhu Bốn – Lào núi riờng rất chặt chẽ, hiệu quả, thống nhất, bền chặt vỡ độclập mỗi dõn tộc, cũng như vỡ tỡnh đoàn kết quốc tế vụ sản trong sỏng, cao cả

1.2 Quá trình hỡnh thành liờn minh chiến đấu Quân khu 4- Lào:

Là những nước nhỏ sống cạnh nhau, lại ở vị trớ chiến lược quan trọng ởvựng Đụng Nam Á, nơi cú nguồn tài nguyờn phong phỳ, nhõn cụng dồi dào,thiờn nhiờn ưu đói, cầu nối giao lưu văn hoỏ, thương mại đụng – tõy, nam -bắc, trong quỏ trỡnh dựng nước và giữ nước, hai quốc gia đó từng dựa lưngvào nhau để chống ngoại xõm, bảo vệ độc lập dõn tộc như cuộc đấu tranhchống phong kiến phương bắc và sau này là chống thực dõn phương tõy xõm

Trang 18

lược Sự liên kết đó từ xa xưa, lâu đời, thực sự là một quan hệ láng giềng tốtđẹp hiếm có giữa những nước có chung đường biên giới

Đặc bịêt là khi Lào,Việt rơi vào tầm ngắm của thực dân Pháp, năm

1858 đế quốc này nhảy vào xâm chiếm Việt Nam, sau đó đánh sang Lào(năm 1893) Sự xâm lược này của đế quốc Pháp thúc đẩy mối quan hệliên minh giữa hai quốc gia nhỏ yếu phát triển lên tầm cao mới Ngay từ ngàyđầu bị cướp nước và mất nước, nhân dân Việt – Lào đã đoàn kết nổi dậy khắpnơi, chống một kẻ thù chung là thực dân Pháp, vì một mục tiêu chung là độclập dân tộc Trong đó đáng chú ý nhất là phong trào đấu tranh giải phóng doChậu Phạ Pát Chay người dân tộc Mẹo ở Lào lãnh đạo (1918 – 1922), mà thuhút được sự tham gia của rất nhiều người Mẹo - Việt Nam Sự liên minhlúc này thực sự còn mang tính chất tự phát, nhỏ lẻ, địa phương, nên hiệu quảkhông cao, dễ dàng bị bọn thực dân Pháp và tay sai đàn áp

Đến khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời vào ngày 3-2-1930, Đảng đãnhìn nhận được sự cần thiết phải đưa ra chủ trương liên kết nhân dân cácnước Đông Dương, trong đó có sự liên kết Việt – Lào Tuy nhiên, giai đoạn

từ khi có Đảng đến lúc cách mạng tháng Tám-1945 nổ ra thành công, thì trênthực tế chỉ đạo của Đảng về liên minh Việt – Lào về cơ bản còn nghiêng vềchủ trương, chiến lược đưa ra chứ không thực hiện được nhiều

Từ cuối năm 1945, việc hợp tác chiến đấu Việt – Lào đã có sự chuyểnbiến, đi đôi với việc Việt Nam tiến hành thành công cách mạng tháng Tám,Đảng ta đã lãnh đạo Việt Kiều ở Lào cùng các lực lượng yêu nước tại đây nổidậy giành chính quyền trong các thành phố, thị trấn lớn, lập chính phủ độc lậpđầu tiên

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp quay lại Đông Dương từ năm

1945, thực hiện chủ trương giúp bạn Lào xây dựng cơ sở, xây dựng lực lượng

vũ trang, xây dựng nhân tố bên trong của cách mạng, các lực lượng vũ trang

Trang 19

Việt Kiều đã ra đời, hình thành liên quân Lào - Việt, chiến đấu ngăn chặnquân Pháp, giữ vững những vùng tự do

Cũng từ năm 1945 trở đi việc liên minh Việt – Lào càng trở nên chặtchẽ hơn và nhiệm vụ này Đảng giao phó cụ thể, rõ ràng hơn cho quân khuBốn thực hiện Cơ quan đầu tiên của Đảng chuyên trách công tác giúp cáchmạng Lào (phòng biên chính) được thành lập và đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếpcủa Liên khu uỷ và uỷ ban kháng chiến liên khu Bốn Đồng thời ta giúp bạnlập uỷ ban giải phóng Đông Lào, cơ quan thống nhất các lực lượng khángchiến Lào rút sang Việt Nam

Đầu năm 1947, một bộ phận nhỏ bộ đội Việt Nam (bộ đội Tây Tiến)sang Lào vừa tác chiến đánh địch ngăn chặn chúng tấn công vào hậu phươngphía tây Việt Nam – nơi khu vực quân khu Bốn, vừa phối hợp với các lựclượng tiến bộ ở đây xây dựng và phát triển các cơ sở chính trị và vũ trang tiếntới phát động chiến tranh du kích ngay trong lòng địch Và thực tế đã xâydựng được một số cơ sở nhỏ lẻ như ở Huội Sai, Sayabouy, bắc Viên Chăn,Xiêng khoảng, Sầm Nưa, Khăm Muộn, Savannakhet, Chămpasac .Nhưngthực sự liên minh lúc này còn gặp nhiều khó khăn Bởi các căn cứ phân tántrên phạm vi rộng, lực lượng mỏng và còn yếu, phối hợp chiến đấu của haibên chưa thực sự nhuần nhuyễn

Sang năm 1948 đến 1950, do có sự chuyển hướng trong chủ trương củaĐảng mà các lực lượng vũ trang hỗn hợp Việt – Lào dần dần phục hồi và xâydựng được các cơ sở chính trị, vũ trang ở vùng biên giới đông Lào, nơi giápquân khu Bốn để trên cơ sở đó làm bàn đạp tiếp tục tiến sâu vào những vùngđất đông dân cư của Lào ở vùng nội địa còn do địch kiểm soát

Tiến tới từ 1951 bắt đầu hình thành và phối hợp chiến trường bắc ĐôngDương, đưa lực lượng lớn từ Việt Nam mà chủ đạo là của quân khu Bốn sangLào giúp bạn, phối hợp chặt chẽ chiến trường Lào - Việt để đánh đuổi thựcdân Lúc này chiến trường Lào không còn là hậu phương an toàn của Pháp

Trang 20

nữa, chiến đấu bên cạnh lực lượng vũ trang – chính trị của Lào đang mạnhlên, tổ chức ngày càng quy củ hơn là trên 11.000 cán bộ, bộ đội Việt Namtình nguyện sang đất bạn Lào chiến đấu.

Tuy nhiên khi lực lượng tăng thì ta lại mắc sai lầm là nóng vội muốnđốt cháy giai đoạn, thậm chí nhiều lúc lại xem nhẹ, không tin tưởng sức mạnhcủa quân dân Lào, khiến cho việc xây dựng căn cứ địa vững chắc cho khángchiến gặp nhiều khó khăn

Thực sự đến thời kì đầu 1953 đến tháng 7-1954, liên minh Việt – Lào

đã tiến tới bước phát triển vững chắc và toàn diện Trên chiến trường chínhViệt Nam, ta chủ động liên tiếp mở nhiều chiến dịch tấn công địch trên quy

mô lớn, củng cố vùng tự do, xây dựng nhiều căn cứ du kích vùng địchchiếm còn ở Lào thì chiến tranh du kích nổ ra khắp nơi, các mặt hạn chếkhắc phục dần

Đặc biệt, với thắng lợi của chiến cuộc Đông- Xuân 1953- 1954 của ta

đã mở ra một cục diện mới cho cuộc kháng chiến của nhân dân ba nước ĐôngDương nói chung và của nhân dân Lào nói riêng Việt – Lào đã phối hợp tiêudiệt trên 6.000 tên địch, giải phóng 10 vạn km²(không kể Sầm Nưa) mở rộngcăn cứ kháng chiến chính ở thượng Lào, mở ra nhiều căn cứ mới ở trung và

hạ Lào, làm lực lượng kháng chiến phát triển lên một bước

Sau những thắng lợi liên tiếp trên chiến trường trong chiến cuộc Xuân– Hè 1954, mà đỉnh cao là thắng lợi Điện Biên Phủ, thế và lực của chúng ta

đã lên rất cao Trong bối cảnh đó, được sự đồng tình từ phía nước bạn, chúng

ta đã kí hiệp định Giơnevơ, chủ động kết thúc kháng chiến chống Pháp ởĐông Dương, giành một thắng lợi lớn để trên cơ sở đó chuẩn bị đối đầu vớimột kẻ thù mới nguy hiểm gấp bội là đế quốc Mĩ, cũng là lúc liên minh Viêt– Lào cũng được nâng lên một tầm cao mới

Trong điều kiện Đảng vô sản Lào chưa hình thành, lực lượng cáchmạng của nhân dân Lào còn non yếu Dù khả năng và kinh nghiệm về tổ chức

Trang 21

và lãnh đạo chiến tranh cách mạng còn hạn chế nhưng vì lợi ích chung củatinh thần quốc tế vô sản kết hợp với lợi ích của hai dân tộc, mà Đảng ta đã rasức thực hiện nghĩa vụ quốc tế giúp nhân dân bạn cùng chiến đấu chống thựcdân Pháp ngay từ ngày đầu khởi nghĩa tháng Tám-1945, cho đến năm 1954

Trong quá trình phát triển của cuộc kháng chiến, liên minh chiến đấuViệt – Lào nói chung, quân khu Bốn – Lào nói riêng đã hình thành và ngàycàng hoàn thiện, sức mạnh chiến đấu của cả hai dân tộc ngày càng được pháthuy, ngày càng to lớn cho đến năm 1954 đã đánh bại ý chí xâm lược của thựcdân Pháp, buộc chúng phải kết thúc chiến tranh xâm lược trên cơ sở côngnhận về mặt pháp lí chủ quyền độc lập, thống nhất của cả ba dân tộc ở ĐôngDương

Trong cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước của hai quốc gia, sự phốihợp này càng chặt chẽ, sâu sắc, thiết thực hơn nữa Nội dung cụ thể sẽ đượctrình bày ở các chương sau

Cã thÓ nãi, nền độc lập của Việt Nam – Lào ngày nay là thành quả củacuộc đấu tranh cách mạng lâu dài và gian khổ chung lưng đấu cật giữanhân dân hai nước chống đế quốc xâm lược và giải phóng dân tộc Biên giới

Trang 22

giữa hai quốc gia này, đặc biệt là vựng giỏp giới giữa Lào với vựng quõn khuBốn gắn với quyền lợi cỏch mạng của nhõn dõn hai nước Đú là chủ quyềnquốc gia, là quyền tự quyết định vận mệnh của mỡnh.

2.1.1 Tình hình Lào sau Hiệp định Giơnevơ

Thắng lợi to lớn của cuộc tiến công chiến lợc Đông- Xuân 1953 -1954,

đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ đã góp phần quyết định đa đến việc kýkết Hiệp định Giơnevơ, kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp củaquân và dân ba nớc Việt Nam, Lào và Cămpuchia Dù còn nhiều vấn đề chagiải quyết, nhng xét về cơ bản thì hiệp định Giơnevơ là một thắng lợi có ýnghĩa đặc biệt quan trọng đối với cách mạng Lào Thực dân Pháp buộc phảinhận đình chiến, lập lại hòa bình ở Đông Dơng trên cơ sở công nhận chủquyền, độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của ba nớc Việt Nam, Lào, Cămpuchia,

đặc biệt Hiệp định đã thừa nhận Pathét Lào là một lực lợng chính trị có quân

đội, lực lợng cách mạng đã có vùng tập kết ở hai tỉnh Phongsalì và SầmNa.Hiệp định Giơnevơ 1954 đã đặt Lào vào một vị trí mới Từ thân phận mộtnớc thuộc địa, Lào đã đợc công nhận là một nớc độc lập, có chủ quyền Vơngquốc Lào từ sau năm 1954 đã có quân đội, ngoại giao và tài chính độc lập, có

đủ điều kiện để tiến bớc trên con đờng hòa bình và phồn vinh Ngày 20 tháng

7 năm 1954, tại Giơnevơ, chính phủ Vơng quốc đã tuyên bố long trọng, tỏ rõquyết tâm “sẵn sàng làm những biện pháp có ích để đa tất cả công dân Lào

Trang 23

vào trong tập thể quốc gia và bảo đảm cho mọi ngời quyền hởng thụ cácquyền lợi và quyền tự do đã ghi trong hiến pháp của vơng quốc”.

Ngày 22 tháng 3 năm 1955, Đại hội thành lập Đảng nhân dân cách mạngLào đợc khai mạc tạo nên một bớc ngoặt cơ bản của cách mạng Lào Trong

điều kiện hoạt động bí mật, có vô vàn khó khăn, 25 đại biểu thay mặt cho gần

400 đảng viên trong cả nớc đã đến dự Đại hội Đại hội đã nghe báo cáo củacác Đại biểu và thông qua báo cáo chính trị, thông qua nghị quyết thành lập

Đảng Nhân dân Lào và Điều lệ của Đảng, chính sách cơ bản và c ơng lĩnhhành động của Đảng Đại hội bầu ra Ban chỉ đạo Trung ơng của Đảng gồm 5ngời

Đảng nhân dân cách mạng Lào ra đời là một bớc ngoặt của lịch sử dân tộcLào Kể từ nay, giai cấp công nhân và nhân dân các bộ tộc thông qua chính

đảng vô sản của mình trực tiếp nắm lấy vận mệnh của cách mạng Với cơnglĩnh hành động của Đảng, cách mạng Lào chẳng những xác định đúng kẻ thù,tìm ra hớng đi đúng đắn mà còn nắm chắc những động lực cơ bản để thực hiệnthành công nhiệm vụ của mình Có thể nói, sự ra đời của Đảng nhân dân Lào

là một sự biến đổi về chất trong tiến trình đấu tranh cách mạng của nhân dânLào và là một nhân tố tích cực trong liên minh đoàn kết chiến đấu của nhândân ba nớc Lào-Việt Nam- Cămpuchia

Nhng tất cả những sự chuyển biến mạnh mẽ ấy của cách mạng Lào vẫnkhông làm bớt đi phần nào tham vọng làm chủ Đông Dơng của Mỹ!

2.1.2 m mÂm m u và hành động của Mỹ ở Lào.

Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Mỹ trở thành một cờng quốc trongthế giới t bản Năm 1945, dự trữ vàng của Mỹ là 20 tỷ USD, chiếm gần 2/3tổng lợng vàng trên thế giới, sản lợng công nghiệp của Mỹ chiếm 62% thếgiới Về quân sự, lực lợng vũ trang Mỹ năm 1939 chỉ có 335.000 quân, ngânsách quân sự chỉ có 0.5 tỷ USD, tới năm 1945 trớc khi chiến tranh kết thúctổng quân số của Mỹ lên 14 triệu và ngân sách quân sự lên 90 tỷ USD

Tự cho mình có sức lực hùng hậu, Mỹ không còn chỉ muốn làm bá chủ ởChâu Mỹ nh cách đây một thế kỷ mà ý đồ và âm mu làm bá chủ thế giới đãtrở thành chính sách trung tâm của Mỹ Và trong “chiến lợc toàn cầu” đó, ViệtNam- Đông Dơng trở thành một đối tợng đợc chú trọng bởi với Mỹ thì “ĐôngDơng là phòng tuyến sống mái của Mỹ ở Thái Bình Dơng và Lào là một bứctờng thành chống Cộng, một pháo đài của thế giới tự do, là một căn cứ quân

Trang 24

sự lý tởng giữa nớc cộng hòa nhân dân Trung Hoa và nớc Việt Nam dân chủCộng hòa”( theo lời của ngoại trởng Dullé).

2.1.2.1 Mỹ từng b ớc can thiệp Lào

Năm 1949- Pháp sa lầy trong cuộc chiến tranh Lào, Việt Nam, Cămpuchia,ngân sách thiếu hụt nghiêm trọng Tình thế này buộc Pháp phải nhận viện trợcủa Mỹ Nhân cơ hội này, Mỹ buộc Pháp phải trao trả “quyền độc lập” (từngbớc) cho Lào (cùng với Việt Nam và Cămpuchia) Hành động này không phảivì Mỹ có “thiện chí” với phong trào giải phóng dân tộc của ba nớc mà đóchính là thủ đoạn để tách Pháp với chính phủ bù nhìn, để Mỹ có thể hợp pháp

ký kết viện trợ với tay sai Lào, từng bớc thâm nhập sâu và đi đến hất cẳngPháp

Năm 1950, Truman tuyên bố tăng cờng viện trợ quân sự cho lực lợng viễnchinh Pháp và cho “hội viên các nớc Đông Dơng” Căn cứ theo điều khoảncủa hiệp định thì viện trợ quân sự của Mỹ sẽ đợc giao cho bộ chỉ huy quân độiviễn chinh Pháp còn viện trợ kinh tế thì do Mỹ trực tiếp giao cho chính phủquốc gia Lào Năm 1951, Mỹ lại ký kết hiệp nghị “hợp tác kinh tế” với chínhphủ Lào và tiếp đó là hiệp nghị “phòng thủ chung”

Cùng với những ký kết riêng đó, Mỹ lại dùng áp lực buộc Pháp phải nhânnhợng nhiều hơn đối với chính phủ bù nhìn:

Năm 1953, chính phủ Pháp phải ra một tuyên bố về việc “hoàn thành độclập” cho các nớc “liên kết” ở Đông Dơng, đồng thời rút bớt dần nhân viên ng-

ời Pháp ra khỏi Lào, giao quyền cai trị“ trực tiếp” cho ngời Lào

Và đến 1954, ngay sau thất bại của Pháp trên chiến trờng ba nớc Đông

D-ơng, khi Pháp buộc phải ký kết hiệp nghị Giơnevơ (7/1954) công nhận chủquyền độc lập và rút ra khỏi Lào, thì ngay từ đầu năm 1955, Mỹ đã giật dâycho bọn tay sai lật đổ chính phủ Suvana Phuma thân Pháp, thay thế bằng mộtchính phủ bù nhìn thân Mỹ do Càtày làm thủ tớng, đại diện cho tay sai Mỹlũng đoạn mua chuộc trong thời gian Mỹ thâm nhập

Sự kiện này đánh dấu bớc xâm lợc chính thức của Mỹ vào Lào

Nh vậy, trong năm năm, đế quốc Mỹ đã từng bớc thực hiện âm mu củamình, từ chỗ giúp tiền, vũ khí và kế hoạch cho Pháp tiếp đến chỗ trực tiếp canthiệp một cách trắng trợn vào Đông Dơng

2.1.2.2 Âm m u của Mỹ đối với Lào.

Đối với Lào, Mỹ âm mu tiêu diệt lực lợng cách mạng, biến Lào thànhthuộc địa kiểu mới, thành căn cứ quân sự nối với Thái Lan nhằm bao vây và

Trang 25

tấn công các nớc xã hội chủ nghĩa, trớc hết là nớc Việt Nam dân chủ cộnghòa, ngăn chặn “làn sóng đỏ” tràn xuống khu vực Đông Nam á Đặc biệt, vớiquan điểm, Đông Dơng là một chiến trờng chung, Mĩ âm mu “sử dụng chiếntrờng Lào để kìm chế, bao vây, cô lập cách mạng Việt Nam, ngăn chặn, giamchân, thu hút lực lợng chủ lực Bắc Việt Nam, tạo điều kiện tập trung lực lợnggiành thắng lợi quyết định trên chiến trờng chính Nam Việt Nam”.

Để thực hiện đợc âm mu của mình, Mĩ đã không từ một thủ đoạn nào.Cuộc chiến tranh xâm lợc “thực dân mới” của Mỹ trên chiến trờng Lào tuy bịhạn chế nhiều mặt, điều kiện chủ quan và khách quan không cho phép Mỹ đalục quân Mỹ vào mở rộng cuộc chiến tranh trên chiến trờng Lào, nhng Mỹ đãtận dụng tối đa khả năng của Mỹ(không quân Mỹ và sử dụng lực lợng đánhthuê Thái Lan cùng với ngụy quân Lào) nhằm xây dựng những cơ sở vữngchắc cho việc thực hiện kế hoạch, âm mu của mình

2.1.2.3 Lực l ợng của Mỹ ở chiến tr ờng Lào

* Mỹ xây dựng và củng cố ngụy quân và ngụy quyền

Ngụy quyền: Trên cơ sở của bộ máy phong kiến tay sai cũ của Pháp (sau

này đợc t sản hóa một phần) đợc cải cách “tự chủ” phù hợp với tình hình mới,

Mỹ đã đi sâu hơn một bớc, phân hóa thanh lọc và tổ chức thành bộ máy tay sai

đắc lực, gắn liền với quyền lợi của Mỹ

Về hình thức thì đây là một chính phủ Vơng quốc độc lập theo chính thểquân chủ lập hiến, chính phủ này là hội viên của Hội đồng Liên Hợp Quốc vàcác tổ chức quốc tế khác, có quan hệ ngoại giao với nhiều nớc trên thế giới kểcả t bản và xã hội chủ nghĩa Nhng thực chất thì đây là một chính quyền taysai, t sản và phong kiến Vua đợc Mỹ trả lơng và u đãi các quyền lợi vật chấtkhác để làm những việc “phê chuẩn” quốc hội, chính phủ, hiệp định, hiệpnghị theo ý đồ của Mỹ

Nh vậy, chính phủ Vơng quốc Lào về danh nghĩa là một nhà nớc độc lập cóchủ quyền và hợp hiến, hợp pháp nhng về thực chất là một chính quyền tay saicủa đế quốc Mỹ có nhiều hiệu lực về đối nội và đối ngoại

Đó cũng là một đặc điểm của chủ nghĩa thực dân mới

Ngụy quân: Đi đôi với việc xây dựng, củng cố ngụy quyền, đế quốc Mỹ bỏ

ra 75% số tiền viện trợ để xây dựng bộ máy cảnh sát và quân đội, làm công cụbạo lực cho chính quyền tay sai Xây dựng đội quân tay sai này, Mỹ đã thựchiện đợc những mu đồ: xây dựng đợc một đội quân đánh thuê tại chỗ rẻ tiền,

Trang 26

hợp pháp và thích hợp với điều kiện chiến tranh chống cách mạng ở Lào màvẫn thực hiện ý đồ xâm lợc theo phơng châm “lấy ngời Lào đánh ngời Lào”.

Từ “quân đội quốc gia Lào” thời Pháp để lại năm 1954 khoảng hơn 10nghìn quân với trang bị vũ khí kém cỏi và còn nặng tính lệ thuộc Pháp, Mỹ đã

đa một tốc độ khá nhanh trong việc tổ chức và xây dựng quân đội Ngụy Cuốinăm 1955, Mỹ đã đa lực lợng quân đội lên đến 25 nghìn Cuối năm 1960 lên

44 nghìn và đến cuối năm 1965 lên gần 70 nghìn ngời

Quân đội đó đợc trang bị vũ khí tơng đối hiện đại, đợc tổ chức chính quy, có

đầy đủ các binh chủng và quân chủng thủy, lục, không quân (xem phụ lục)

* Chính sách đào tạo, nuôi d ỡng và mua chuộc tay sai

Để thực hiện ý đồ xâm lợc lâu dài, đế quốc Mỹ đã chính quy hóa việc đàotạo tay sai trong- ngoài nớc để có kiến thức, kỹ thuật điều hành công việc và ýthức chính trị phản động chống cách mạng Chúng đã công chức hóa bộ máy,thu hẹp dần tổ chức thống trị phong kiến, đồng thời t sản mại bản hóa quanchức trong ngụy quyền và sĩ quan tớng tá trong ngụy quân, tạo cơ sở kinh tếphản động cho số này thao túng vơ vét bóc lột và chiếm đoạt tài sản, đất đai,rừng núi để dễ dàng gắn chặt quyền lực với đế quốc, phản động, chống đốinhân dân, cách mạng

* Tổ chức cố vấn Mĩ

Thay cho bộ máy thống trị thuộc địa toàn quyền và hệ thống Khâm sứ,công sứ thời Pháp là tổ chức cố vấn Mỹ bên cạnh hệ thống ngụy quân, ngụyquyền- một “công thức không thể thiếu đợc” đối với chủ nghĩa thực dân mới.Những tổ chức cố vấn đợc điều 3 hiệp định 9/51 Lào- Mỹ quy định đợc hởng

t cách ngoại giao (quyền bất khả xâm phạm) và có quyền giám sát sự thi hànhcác hiệp nghị, nhất là việc sử dụng viện trợ thực chất là để điều hành côngviệc ở Lào qua những bộ máy tay sai

Trong thực tế, từ trớc 1955, Mỹ đã có những cố vấn quân sự và dân sự xenvào để nắm tình hình và mua chuộc tay sai ở Lào Năm 1955, Mỹ chính thứclập ra ở Lào cơ quan “đánh giá chơng trình viện trợ” P.E.O thuộc Bộ ngoạigiao Mĩ, thực chất đây là một tổ chức cố vấn quân sự Mĩ P.E.O bố trí cố vấnbên cạnh tổng thanh tra dân vệ, biệt kích quân đội tay sai Lào và các quân khu

và một số tiểu đoàn

* Viện trợ Mỹ

Viện trợ Mỹ cho Lào nằm trong chính sách “ngoại giao đôla” đã trở thànhcon bài chủ yếu chi phối toàn bộ hoạt động trong âm mu xâm lợc Lào

Trang 27

Đó cũng là một điều quan trọng của chủ nghĩa thực dân mới của Mĩ:

“Trong 20 năm Mỹ đã dốc sức vào Lào khoảng gần 4 tỷ đôla”[26,107] - một

Rõ ràng, đối với đế quốc Mỹ, Hiệp định Giơnevơ chỉ là một mớ giấy lộn.Mục tiêu của Mỹ và tay sai tìm mọi cách áp đặt đợc chủ nghĩa thực dân mớilên ba nớc Đông Dơng bằng bất cứ một thủ đoạn nào

Sự can thiệp trắng trợn của Mỹ vào Đông Dơng, đòi hỏi cả ba nớc cần phải

có một đờng lối phù hợp với yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới

2.1.3 Chủ trơng của bạn và ta.

2.1.3.1 Chủ tr ơng của bạn.

Trớc âm mu, thủ đoạn mới của đế quốc Mỹ đối với Lào cũng nh các nớc

Đông Dơng, Trung ơng Mặt trận Lào ít-xa-la và chính phủ kháng chiến Lào

đề ra nhiệm vụ của cách mạng Lào trong giai đoạn mới là: “Đoàn kết toàn dân

đấu tranh thực hiện hiệp định đình chiến, xây dựng hai tỉnh tâp kết thành căn

cứ đấu tranh của cả nớc, giữ vững và phát triển cơ sở quần chúng ở các vùng tavừa rút quân, dựa vào lực lợng của ta và hiệp định đình chiến mà thơng lợnghợp tác với chính phủ Vơng quốc, tiến hành tổng tuyển cử tự do và thành lậpchính phủ Liên hiệp thống nhất, tiến tới xây dựng một nớc Lào dân chủ vàhoàn toàn độc lập”[8,12] Đặc biệt, Trơng ơng Mặt trận Lào ít-xa-la và Chínhphủ kháng chiến Lào nhấn mạnh: “Bảo vệ và xây dựng hai tỉnh thành căn cứcách mạng của cả nớc và xây dựng, phát triển các lực lợng vũ trang vữngmạnh là công tác trung tâm mấu chốt nhất trong giai đoạn này”[8,12]

Đối với nhiệm vụ xây dựng và phát triển lực lợng vũ trang cách mạng Lào,trớc khi ký Hiệp định Giơnevơ, Chính phủ kháng chiến và Bộ quốc phòng Lào

đã xác định quyết tâm: “Bất kể tình huống nào, việc đẩy mạnh xây dựng bộ

Trang 28

đội Pa-thét Lào là một nhiệm vụ hết sức cần thiết, là trung tâm thứ nhất, phảitập trung lực lợng kiên trì thực hiện cho kỳ đợc”.

Theo phơng hớng đó, Chính phủ kháng chiến và Bộ quốc phòng Lào đềnghị Bộ Tổng t lệnh quân đội nhân dân Việt Nam xây dựng kế hoạch tiếp tụcgiúp đỡ việc củng cố, xây dựng lực lợng quân đội Pa-thét Lào trong tình hìnhmới

2.1.3.2 Chủ tr ơng của Đảng ta

Việt Nam và Lào là hai nớc láng giềng có nhiều nét tơng đồng về văn hoá

đã chung tay viết nên những trang lịch sử hào hùng của hai dân tộc Tình hữunghị, đoàn kết giữa hai nớc Việt- Lào đã đợc Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủtịch Cay-xỏn Phom-vi-hản trực tiếp gây dựng, đợc các thế hệ lãnh đạo kế tụccủa hai Đảng, Nhà nớc cùng nhân dân hai nớc quý trọng, nâng niu và dàycông vun đắp Trong giai đoạn khó khăn này, lại càng đợc Đảng ta đề cao

Đảng ta đã phân tích cụ thể so sánh lực lợng địch, ta ở Đông Dơng, ở Làotrong xu thế phát triển chung của tình hình Đông Nam á nói riêng và thế giớinói chung Trên cơ sở Đảng ta chủ trơng “giúp bạn giơng cao ngọn cờ hòabình trung lập và hòa hợp dân tộc, độc lập và dân chủ, tiến hành thơng lợngvới phía vơng quốc nhằm phân hóa cô lập bọn tay sai cực đoan trên cơ sở hếtsức khẩn trơng giúp bạn củng cố và tăng cờng lực lợng cách mạng mọi mặt,giữ vững và xây dựng hai tỉnh tập kết thành căn cứ địa cách mạng của cả nớc,phát động phong trào đấu tranh chính trị quần chúng rộng rãi ở nông thôn vàthành thị trong 10 tỉnh do phía vơng quốc kiểm soát” (Nghị quyết về tình hình

và nhiệm vụ mới ở Lào, tháng 8/1955, hồ sơ 1080 Ban cán sự miền Tây)

Để thực hiện tốt chủ trơng giúp bạn trong tình hình mới, Đảng đã triệu tậphội nghị về công tác miền Tây do đồng chí Võ Nguyên Giáp chủ trì gồm đạibiểu các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và Quân ủy Quân khu 4, phổbiến chủ trơng của Trung ơng về công tác ở Lào Hội nghị đã thống nhất đánhgiá miền Tây Thanh- Nghệ Tĩnh là một điạ bàn chiến lợc quan trọng về chínhtrị, kinh tế và quốc phòng là hậu phơng, là căn cứ trực tiếp của cách mạngmiền Nam và Lào Hội nghị chủ trơng tiếp tục giao nhiệm vụ cho Bộ t lệnhQuân khu 4: trực tiếp chỉ huy các lực lợng của ta (kể cả quân tình nguyện của

Bộ đóng trên khu vực) hoạt động trên chiến trờng Trung, Hạ Lào, tổ chức giúpbạn xây dựng lực lợng, củng cố cơ sở trong khu vực, kế hoạch phòng thủ vùnggiải phóng, đồng thời chuẩn bị chiến trờng trớc mắt và lâu dài, đối phó với cáctình huống khẩn trơng nhất

Trang 29

2.1.4 Hoạt động của lực lợng vũ trang Quân khu 4 trên chiến trờng Lào

Quán triệt nhiệm vụ Trung ơng Đảng giao, lực lợng quân khu 4 đã hết sứckhẩn trơng chuẩn bị lực lợng giúp bạn theo phơng thức mới với tinh thần

“cách mạng Lào do nhân dân, cán bộ, chiến sỹ Lào tự làm lấy là chủ yếu,tránh bao biện làm thay”[8,12]

2.1.4.1 Về chính trị:

Để lực lợng cách mạng Bạn có thể tự đảm đơng nhiệm vụ cách mạng trongtình hình mới, Quân khu 4 chủ trơng chú trọng giúp Lào bồi dỡng đội ngũ cán

bộ nòng cốt để Lào có một cơ sở chính trị vững chắc

Để làm đợc điều này, Trung ơng Đảng và Bộ t lệnh quân khu đã chủ trơng

đa cán bộ, chiến sĩ sang giúp bạn xây dựng cơ sở cách mạng và lực lợng vũtrang làm nòng cốt cho phong trào chiến tranh du kích ở Trung- Hạ Lào

Tháng 8 năm 1956, Quân khu cử 25 đồng chí sang vùng Xiêng Khoảngliên hệ với cơ sở cách mạng của bạn, xây dựng tổ chức dân quân, phát độngquần chúng đấu tranh chống địch Cán bộ quân sự ta cùng cán bộ của bạn trựctiếp xuống các làng, bản, tổ chức lại tổ, đội dân quân du kích, huấn luyệnquân sự, chính trị Đến tháng 9 năm 1959, căn cứ cách mạng từ Sê Pôn đến M-ờng Noòng, La Ve, Ka Say hình thành

Tháng 10 năm 1959, liên tỉnh Trị- Thiên đa thêm 15 cán bộ quân sự giúpbạn xây dựng, huấn luyện một đội vũ trang Pa- thét Lào ở huyện Tà Ôi, một

đại đội khác ở huyện Tà u Bớc đầu, cán bộ, chiến sĩ Pa- thét Lào nắm vững cơbản về kỹ thuật bộ binh, chiến thuật phân đội nhỏ, phơng pháp tổ chức quầnchúng

Tháng 12 năm 1959, s đoàn 325 tiếp tục giúp Lào thành lập tiểu đoàn 15huấn luyện cán bộ, đoàn chuyên gia quân sự đợc tăng cờng từ 103 lên 300

đồng chí, khẩn trơng giúp Bạn nâng cao chất lợng quân giải phóng, nhờ vậy

đã kịp thời uốn nắn những lệch lạc trong chuyển hớng tổ chức và hoạt động,phong trào đấu tranh vẫn có thể duy trì và phát triển mạnh mẽ không chỉ ở haitỉnh tập kết của quân cách mạng mà ở cả 10 tỉnh do chính quyền vơng quốcquản lý

Những hoạt động của lực lợng vũ trang Quân khu đã góp phần giúp bạnxây dựng lực lợng chủ lực và bộ đội địa phơng, mở rộng căn cứ địa, nâng cao

uy tín của chính phủ Neo Lào Hắcxạt trong quần chúng Ngày 4 tháng 7 năm

1956, Kà Tày buộc phải từ chức vì không tranh thủ đợc sự ủng hộ cần thiết

Trang 30

Xu hớng giải quyết vấn đề Lào bằng con đờng hòa bình, thơng lợng đã thắngthế!

Ngày 19 tháng 11 năm 1957, Chính phủ liên hiệp đợc thành lập với sự nhấttrí thông qua của Quốc hội Lào Tham gia chính phủ liên hiệp có hai đại biểucủa Pa-thét Lào là hoàng thân Xuphanuvông và ông Pumi Vôngvichít

Ngày 4 tháng 5 năm 1958, cuộc Tổng tuyển cử bổ sung trong toàn quốc

đ-ợc tổ chức trên cơ sở luật bầu cử ban hành ngày 3-3-1957 Mặc dù tổng tuyển

cử bổ sung diễn ra trong những điều kiện khó khăn, các lực lợng cách mạng

và tiến bộ Lào đã thu đợc thắng lợi lớn: 13 trên 21 ghế đợc bầu thêm trongtòan quốc thuộc về Neo Lào Hắcxạt và ủy ban hòa bình trung lập

vị này phải sát nhập vào cái gọi là “tập thể quốc gia Lào”

Trớc tình hình đó, đợc chỉ thị của Bộ Quốc phòng, Quân khu 4 liền đa mộtlực lợng gồm 35 cán bộ chiến sĩ trinh sát kịp thời bắt liên lạc với bộ đội Pa-thét Lào Ngày 20 tháng 5, một tiểu đội của tiểu đoàn biên phòng 925 đợclệnh lên đờng Vợt qua địa hình rừng núi hiểm trở, luồn lách tránh địch phụckích, đến ngày 25 tháng 5, bộ đội ta gặp tiểu đoàn 2 ở Bù Khai Khẳn Cán bộ,chiến sĩ ta nhanh chóng giúp bạn tổ chức cho tiểu đoàn 2 hành quân về tập kếttại Phu Cây Khảnh( một vị trí gần biên giới Việt- Lào) Ngày 6 tháng 5, toàn

bộ tiểu đoàn 2 về tới căn cứ an toàn Nhân dân và lực lợng vũ trang miền TâyNghệ An( Xuân Thành- Phủ Quỳ) đón tiếp bộ đội Pa- thét Lào rất thân tình,chu đáo Nơi đây trở thành địa bàn thuận lợi cho bạn ăn ở, sinh hoạt, học tập

và liên lạc với lãnh đạo cao cấp của Đảng Nhân dân Lào

Sự kiện Tiểu đoàn 2 Pa-thét Lào phá vây rút lui an toàn về khu vực gầnbiên giới Lào- Việt là thắng lợi của cách mạng Lào, nhân dân các bộ tộc Làotrông chờ Tiểu đoàn 2 hoạt động để tiếp tục xây dựng căn cứ, giữ vững lực l-

Trang 31

ợng Pa- thét Lào, đẩy mạnh phong trào cách mạng trong toàn quốc Chính phủVơng quốc thì lo sợ, nội bộ của chúng bắt đầu bị phân hoá.

Nh vậy, trong thời gian sau khi hiệp định Giơnevơ đợc ký kết, lực lợngQuân khu 4 đã thực hiện tốt chủ trơng Đảng ta và Đảng bạn giao phó Ta đãgiúp Bạn vợt qua đợc nhiều khó khăn rất lớn về mặt chính trị cũng nh các hoạt

động quấy phá về mặt chính trị của lực lợng đối lập Ta đã vận dụng thànhcông phơng thức công tác vừa mạnh dạn hớng dẫn bồi dỡng bạn tự làm, vừacùng làm với bạn, lấy thực tế bồi dỡng nâng cao dần trình độ cho bạn, liênminh chiến đấu Việt- Lào nói chung và liên minh chiến đấu Quân khu 4 vàLào ngày càng thêm hoàn thiện và có hiệu lực hơn trong tình hình mới

Tuy nhiên, lực lợng ta cũng nh bạn có phần thiếu cảnh giác, cha đánh giáhết âm mu và thủ đoạn xảo quyết của Mỹ và tay sai sau khi có Hiệp nghịViêng Chăn năm 1957, nên thiếu chuẩn bị đầy đủ cả về t tởng và lực lợng, vìvậy, khi địch phản kích lại một cách quyết liệt (cuối 1958 đầu năm 1959) cả ta

và bạn có phần bị động

2.2 Cùng với bạn xây dựng lực lợng và căn cứ kháng chiến, chuyển hớng

đấu tranh Tạo thế phối hợp giữa hai chiến trờng Lào- Việt (1960- 1962).

Bớc vào Xuân Hè 1960, một cục diện mới xuất hiện trên bán đảo Đông

D-ơng ở miền Nam Việt Nam, phong trào Đồng khởi phát triển chuyển cáchmạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lợng sang thế tiến công ở Lào, sau sự kiệnTiểu đoàn 2 Pa- thét Lào nổ súng chống đế quốc Mỹ và tay sai Mỹ( 5/1959),phong trào kháng chiến của nhân dân các bộ tộc Lào tiến lên giai đoạn mới,kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang trên cả nớc ở Cămpuchia,chính quyền Vơng quốc tiếp tục đi theo con đờng hoà bình, trung lập

2.2.1 Âm mu và hành động của Mỹ:

Sự phát triển của cách mạng ba nớc Đông Dơng, đã tác động mạnh đến

“chiến lợc toàn cầu” của đế quốc Mỹ buộc chúng phải thay đổi chiến lợc củamình, từ chiến lợc quân sự “trả đũa ồ ạt” chuyển sang chiến lợc “phản ứnglinh hoạt” Với chiến lợc mới này, Mỹ đã đa “chiến tranh đặc biệt” vào Lào,miền Nam Việt Nam, đồng thời khiêu khích chống phá miền Bắc Việt Nam,phá hoại con đờng hoà bình, trung lập ở Cămpuchia

Tiến hành chiến lợc “chiến tranh đặc biệt” ở Lào, Mỹ âm mu tiêu diệt lực ợng cách mạng, nô dịch nhân dân các bộ tộc Lào, biến Lào thành thuộc địakiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ, dùng Lào làm bàn đạp để bao vây, tiếncông phe xã hội chủ nghĩa, trực tiếp là Việt Nam và Trung Quốc, biến Lào

Trang 32

l-thành lá chắn ngăn chặn ảnh hởng của phong trào giải phóng dân tộc sang khuvực phía Tây sông Mê Công, trớc hết là Thái Lan.

2.2.2 Chủ trơng của bạn và ta

2.2.2.1 Chủ tr ơng của bạn :

Trớc âm mu và hành động của đế quốc Mỹ đối với Lào, để phát huy tácdụng của cuộc đảo chính của các bính sĩ yêu nớc ở Viêngchăn, bảo vệ nhữngthành quả của cuộc đảo chính và bảo đảm cho sự nghiệp chung của dân tộcgiành thấng lợi, đầu năm 1960, cơ quan Trung ơng Đảng Nhân dân Lào, Tổngquân uỷ và Bộ chỉ huy tối cao Pa-thét Lào đang đứng trên đất Việt Nam quyết

định di chuyển vào Lam Sơn- tỉnh Thanh Hoá, chuẩn bị về nớc Và đến 19-

8-1960, Trung ơng Neo Lào Hắc-xạt đã ra bản tuyên bố đề nghị:

Một là, Nhanh chóng thành lập một Chính phủ Liên hiệp dân tộc gồm các

đại biểu các dân tộc, các đảng phái yêu nớc và tiến bộ để thực hiện những chủtrơng chính sách mà Uỷ ban đảo chính đã đề ra và ổn định tình hình trong cảnớc

Hai là, Làm cho phong trào đảo chính lan ra khắp các tỉnh trừng trị bọn tay

sai đắc lực của đế quốc Mĩ, không cho chúng có cơ hội tập hợp nhau lại đểphản công Uỷ ban đảo chính và các lực lợng của Pa-thét Lào để cùng nhauchống lại mọi âm mu can thiệp của đế quốc Mĩ và âm mu phục hội của bọnthân Mĩ

Ba là, Ban hành những chính sách cụ thể nhằm đảm bảo quyền tự do dân

chủ cho nhân dân, thả tất cả những ngời yêu nớc mà các chính phủ phản độngthân Mĩ đã bắt giam một cách trái phép, bảo đảm quyền tự do hoạt động củacác đảng phái chính trị yêu nớc, cải thiện đời sống cho nhân dân

Sau khi nhận định cuộc đảo chính lật đổ chính phủ bán nớc Phumi Nôxavẳn là "một đóng góp quan trọng vào phong trào cứu nớc chống

Xômxanít-Mĩ và tay sai", Trung ơng Neo Lào Hắcxạt kêu gọi :" Toàn thể đồng bảo ởnông thôn và thành thị đồng tâm hiệp lực ủng hộ chính sách của Uỷ ban đảochính, đả phá mọi âm mu mới của đế quốc và bè lũ tay sai, tập trung mọi lựclợng và khả năng xây dựng nớc Lào yêu quý của chúng ta thành một nớc hoàbình, trung lập, độc lập, dân chủ, thống nhất và thịnh vợng"

Trớc những chuyển biến mới của tình hình, Trung ơng Neo Lào Hắcxạt đã

đề nghị tổng Quân uỷ , Bộ t lệnh và Bộ tổng tham mu Quân đội nhân dân ViệtNam điều đoàn chuyên gia quân sự 959 đi cùng cơ quan Bạn để giúp bạn ởmột số khu vực Nam Lào và Bắc Lào

Trang 33

2.2.2.2 Chủ tr ơng của Đảng ta

Trung ơng Đảng ta xác định cần phải tiếp tục đa cách mạng bạn phát triển,chuyển sang giai đoạn “vừa kết hợp các hình thức đấu tranh chính trị sắc bénvạch trần âm mu xâm lợc gây chiến tranh của đế quốc Mỹ và tay sai, vừa phát

động quần chúng Đồng khởi chiến đấu, kết hợp bằng chiến tranh du kíchtrong toàn quốc Đồng thời, vẫn tiếp tục thực hiện giơng cao ngọn cờ hòabình, trung lập, hòa hợp dân tộc để tranh thủ d luận trong và ngoài nớc, phânhóa hàng ngũ kẻ thù”

Để thực hiện tốt nhiệm vụ quốc tế quan trọng này, Đảng ta xác định: “Cầnphải có sự phân công rõ ràng cũng nh bố trí thích hợp về tổ chức để làm trònnhiệm vụ đó” Trung ơng Đảng quyết định giao cho Quân khu 4 trực tiếp thựchiện nhiệm vụ giúp đỡ cách mạng Lào dới sự chỉ huy của Đại tớng VõNguyên Giáp

2.2.3 Hoạt động của lực lợng vũ trang Quân khu 4.

2.2.3.1 Về quân sự:

Ngày 9 tháng 12 năm 1960, Đại tớng Võ Nguyên Giáp ra chỉ thị “yêu cầuquân khu giúp bạn hành động hết sức nhanh chóng phô trơng thanh thế, uyhiếp hớng Thà-khẹt, buộc địch phải rút một phần lực lợng về, phối hợp bảo vệViêng chăn”[28]

Tiếp đó, ngày 12 và 14 tháng 12 năm 1960, Đại tớng Võ Nguyên Giáp chỉthị tiếp cho hai quân khu Tây Bắc và Quân khu 4: Quân khu 4 tăng cờng thêmmột đại đội hoạt động phối hợp với bạn ở Thà Khẹt; chuẩn bị 1 tiểu đoàn,nghiên cứu khả năng tổ chức lực lợng có thể đa vào hoạt động ở Hạ Lào, Quânkhu Tây Bắc chỉ đạo lực lợng gấp rút hoạt động, nổ súng ngay và đánh mạnhvới tinh thần tích cực và khẩn trơng

Chấp hành mệnh lệnh, Bộ t lệnh Quân khu 4 sử dụng tiểu đoàn 929 (Trung

đoàn 120), quân tình nguyện Quân khu cùng 2 đại đội Pa-thét Lào phối hợptiến công căn cứ địch ở Noọng Hét Ngày 16 tháng 12 năm 1960, liên quânViệt- Lào bắt đầu nổ súng Đây là một mục tiêu trong toàn bộ chiến dịch giảiphóng Cánh Đồng Chum – Xiêng khoảng của bạn Do chủ quan đánh giá

địch thấp, nên những lần tiến công đầu tiên ta gặp phải sự tập kích điên cuồngcủa địch và không hoàn thành nhiệm vụ Sau khi rút kinh nghiệm, quân khu

bổ sung thêm lực lợng của s đoàn 324 và làm gấp gần 10km đờng từ Mờngxén đến Noọng Hét để kéo pháo và áp sát căn cứ địch Ngày 28/12, ta tổ chức

Trang 34

đợt tiến công lần thứ 2 Sau 3 ngày chiến đấu, bộ binh đợc hỏa lực pháo binhchi viện đã giải phóng hoàn toàn Noọng Hét

Ngoài lực lợng tình nguyện của trung đoàn 120 tham gia giải phóng NoọngHét, một trung đội của tiểu đoàn 929 đợc giao nhiệm vụ phối hợp với 2 đại độiPa-thét Lào tấn công Lằng Khằng Sau 4 ngày chiến đấu (từ 16 đến 19/ 1960)Lằng Khằng cũng đợc giải phóng

Đây là những thắng lợi mở đầu của bộ đội tình nguyện quân khu 4, phốihợp với đội Pa-thét Lào tấn công vào những vị trí khá quan trọng của địch

2.2.3.2 Về chính trị:

Phối hợp cùng hoạt động quân sự, lực lợng vũ trang quân khu còn chútrọng giúp bạn tổ chức các đội vũ trang tuyên truyền làm công tác vận độngquần chúng, xây dựng cơ sở ở vùng giải phóng Đội vũ trang tuyên truyền trởthành một loại hình tổ chức phù hợp với đặc điểm tình hình các địa phơnghoạt động trong điều kiện khó khăn nhng hiệu quả, đã vận động đợc đông đảothanh niên các bộ tộc Lào nhập ngũ, tham gia lực lợng dân quân du kích, bảo

vệ làng bản

Thắng lợi của đấu tranh quân sự và chính trị đã tác động mạnh mẽ đến mặttrận ngoại giao Ngày 3 tháng 5 năm 1961, đại diện ba phái gồm Neo Lào HắcXạt( Pa-thét Lào), Phu- ma và phái Bun- ùm- Phu-mi gặp nhau ở Hin Hợp, sau

đó ở Na Mon( 13-5) thoả thuận công bố lệnh ngừng bắn Ngày 16 tháng 5năm 1961, Hội nghị quốc tế tại Giơnevơ bàn về vấn đề Lào gồm 14 nớc tham

dự khai mạc

Tuy nhiên do những hành động nhằm phá hoại của đế quốc Mỹ và tay sainên phải gián đoạn đến ngày 2 tháng 7 năm 1962, Hội nghị quốc tế Giơnevơ

về Lào có 14 nớc tham gia mới họp trở lại Ngày 23 tháng 7 năm 1962, Hiệp

định Giơnevơ về Lào đợc ký kết Các nớc tham gia ký kết Hiệp định Giơnevơthừa nhận tôn trọng nền độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổcủa Lào (xem phụ lục)

2.3 Sát cánh cùng bạn chống chiến tranh đặc bịêt của đế quốc Mỹ“ ”

(1962- 1968)

Hiệp định Giơnevơ “Tuyên bố về nền trung lập ở Lào"- 1962 đợc kýkết; tởng chừng nh một giai đoạn mới đã mở đợc bắt đầu, một giai đoạn mà balực lợng chính trị ở Lào sẽ cùng nhau giải quyết cái vấn đề tồn tại nhằm mục

đích xây dựng nền độc lập trung lập và thống nhất của một nớc Lào hòa bình

Trang 35

và phồn vinh Thế nhng, ký kết hiệp định là một việc, thi hành hiệp định lại làmột việc khác.

2.3.1 Âm mu và hành động của Mỹ.

Với đế quốc Mỹ, Hiệp định chỉ là “bớc lùi tạm thời” Ngay từ lúc ngồi vàobàn hội nghị cũng nh trong suốt quá trình thơng lợng, phía Mỹ không hề từ bỏmục tiêu của chúng- áp đặt chủ nghĩa thực dân mới ở Lào Vì vậy, ngay saukhi hiệp định Giơnevơ(1962) đợc ký kết, Mỹ và bọn tay sai vội vã bắt tay vàoviệc phá hoại hiệp định, tìm cách thanh toán nhanh chóng chính phủ Liên hiệpdân tộc ba phái

Ba ngày sau khi ký Hiệp định Giơnevơ, Tổng thống Kennơđi đã mời thủ ớng Phuma sang thăm Mỹ Trong những cuộc nói chuyện tay đôi với Thủ tớngLào, Kennơđi đã “cố sức tranh thủ” sự đồng tình và hợp tác của Phuma Trongbuổi tiệc chiêu đãi thủ tớng Lào, Kennơđi bàn về tác động của việc dàn xếp ởLào đối với an ninh các nớc láng giềng, nhấn mạnh đến một số ý đồ trongchính sách của Mỹ ở Lào và gợi ra một số dự kiến về sự thay đổi liên minhgiữa ba phái ở Lào Tuy Xuvana Phuma không đáp ứng mọi yêu sách của Mỹnhng đã “tỏ thái độ nhân nhợng phần nào”

t-Sau khi tranh thủ đợc sự đồng tình của Phuma trên một số vấn đề cơ bản,Kennơđi và bọn phái hữu lập tức bắt tay vào hành động

Chúng đẩy mạnh cuộc “chiến tranh đặc biệt” ở Lào nhằm phối hợp chặtchẽ với cuộc “chiến tranh đặc biệt” ở chiến trờng chính Việt Nam nhằm đẩylùi cách mạng thế giới nói chung và phong trào giải phóng dân tộc ở ba nớc

Đông Dơng nói chung

Hàng loạt tổ chức quân sự trá hình do CIA và Nhà Trắng trực tiếp chỉ huy

đợc dựng lên ở Lào nh U.S.O.M đợc đổi thành U.S.A.I.D, I.V.S, U.S.I.S

Song song với việc tăng cờng bộ máy cố vấn quân sự Mỹ và lôi kéo các nớctay sai trong khu vực vào việc mở rộng chiến tranh xâm lợc Lào, đế quốc Mỹtìm cách củng cố và tăng cờng số quân ngụy ở Viêng Chăn lên tới 7 vạn tên,

đặc biệt xây dựng “ đội quân bí mật” khoảng 2 vạn tên do trùm thổ phỉ VàngPao làm chỉ huy, làm công cụ chủ yếu của Mỹ trong “ chiến tranh đặc biệt” ởLào

Trớc những hành động của Mỹ, ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát vừamới trở lại hoạt động đã bị bó tay; Canađa, ấn Độ lại luôn hoạt động theo sựgiật dây của Mỹ càng làm cho tình hình thêm rối ren và phức tạp Các cuộchành quân lấn chiếm và những trận tấn công khiêu khích của phái hữu đánh

Trang 36

các căn cứ quân sự của Lào liên tiếp, điển hình là chiến dịch “Cánh đồngChum- Xiêng Khoảng”.

Nớc Lào bớc vào một giai đoạn hết sức khó khăn, Hiệp định Giơnevơ chỉcòn là một mớ giấy lộn

2.3.2 Chủ trơng của bạn và Đảng ta.

2.3.2.1 Chủ tr ơng của bạn :

Trớc những diễn biến tình hình mới, Đảng nhân dân Lào đã họp hội nghịTrung ơng lần thứ 10, chỉ rõ âm mu của đế quốc Mỹ là “lùi một bớc tránh choquân đội phản động Lào khỏi bị tan rã hoàn toàn, lợi dụng Uỷ ban quốc tế và

đặc biệt hi vọng lôi kéo hoàng thân Phu-ma cắt đứt quan hệ giữa cách mạngLào và cách mạng Việt Nam, tiếp tục lôi kéo hoàng thân Phu- ma và lực lợngtheo ông ta phá vỡ mặt trận đoàn kết chống Mỹ và tay sai, làm cho Neo LàoHắc- xạt bị cô lập, hòng biến chính phủ liên hiệp thành công cụ của chúngphục vụ âm mu lâu dài của chúng đối với Lào và khu vực Đông Dơng”

Bộ Tổng tham mu quy định tổ chức cơ quan chỉ huy quân sự vùng Trung Làophải gọn nhẹ, nhng đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ Các lực lợng và phơng tiệnchuẩn tiện tuyển chọn từ Quân khu 4, có bổ sung thêm từ Bộ Tất cả cán bộ,chiến sỹ Đoàn 959 đang làm chuyên viên giúp bạn ở khu vực Trung Làochuyển giao cho Bộ t lệnh Quân khu 4 chỉ huy, quản lý Nhiệm vụ của cơquan chỉ huy quân sự khu vực Trung Lào là:

- Trực tiếp chỉ huy các lực lợng của ta ở trên chiến trờng Trung- Hạ Lào

- Trực tiếp giúp bạn xây dựng lực lợng, củng cố cơ sở ở khu vực này

- Tổ chức các lực lợng của ta và giúp bạn thực hiện kế hoạch phòng thủvùng giải phóng

- Chuẩn bị chiến trờng trớc mắt và đối phó với tình huống khẩn trơng nhất,

đồng thời chuẩn bị chiến trờng có tính chất lâu dài

Trang 37

2.3.3 Hoạt động của lực lợng vũ trang Quân khu 4

Lực lợng vũ trang quân khu giúp bạn mở các lớp huấn luyện cho lực lợngPa- thét Lào về kỹ thuật bộ binh, chiến thuật cá nhân, tiểu đội, trung đội và đại

đội chiến đấu, tiến công và phòng ngự

Cùng với việc giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự, quân khu còn đảmbảo hậu cần cho cả ta và bạn trong một số chiến dịch Trong chiến dịch 128,lực lợng vũ trang quân khu phối hợp với bộ đội Pa-thét Lào mở chiến dịch 128

đánh địch ở Nho Ma Rát, Lạc-Xao, Na Pê trên đờng số 8 và đờng số 12 ở Lào.Lực lợng tham gia chiến dịch gồm: Tiểu đoàn 15, 17, đại đội 57 công binhPa-thét Lào và trung đoàn 95 bộ đội tình nguyện Việt Nam Tổng số quântham gia chiến dịch hơn 5000 ngời

Trong chiến dịch này, hậu cần Quân khu 4 đã đảm bảo về lơng thực, thựcphẩm cho cả ta và bạn, đồng thời bố trí các căn cứ hậu cần đảm bảo cho bộ

đội tác chiến trên đờng số 8, đờng 12 Đảng uỷ và Bộ t lệnh quân khu đã rachủ trơng, mỗi bộ đội mang theo 3.2 tấn, hậu phơng Quân khu chuyển lên162,348 kg trong đó đờng số 8 là 18 tấn, đờng số 12 là 12 tấn Sử dụng vậtphẩm địa phơng nớc bạn là 5402kg

Trang 38

Có thể nói lực lợng vũ trang Quân khu 4 đã hoàn thành nhiệm vụ “chútrọng giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự và bảo đảm hậu cần cho bộ độibạn có thế đủ khả năng tự lực tự cờng” của Quân uỷ Trung ơng đề ra trongtình hình mới.

2.3.3.2 Về quân sự:

Sau những thất bại trên mặt trận chính trị, cùng với những thất bại liên tiếptrên chiến trờng miền Nam Việt Nam và Lào, ngày 17 tháng 6 năm 1963, tạiThái Lan, dới sự điều khiển của Mỹ, khối SEATO đã tiến hành cuộc diễn tập

“Tha-na-lát” với 7000 quân tham gia, trong đó chủ yếu là quân Mỹ, nhằm

“kiểm tra trình độ tác chiến” sẵn sàng cho bớc phiêu lu quân sự mới vào Lào.Theo lệnh quân Mỹ, quân phái hữu phản động cùng quân trung lập mở cuộctiến công lấn chiếm vùng giải phóng Trung Lào

Phán đoán đúng âm mu và hành động của Mỹ- nguỵ, cuối năm 1963, Quân

uỷ Trung ơng Lào và Quân ủy Trung ơng Việt Nam đã trao đổi thống nhấtgiao cho Bộ t lệnh quân khu 4 cùng với bộ đội Pa- thét Lào phối hợp mở chiếndịch 128 Chiến dịch nhằm mục đích tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, phá

vỡ âm mu chiếm đóng cao nguyên Trung Lào của chúng, giải phóng NậmThơm, tạo điều kiện cho bạn mở rộng phạm vi hoạt động xuống đờng 13, giúpbạn xây dựng cơ sở cách mạng, củng cố vùng giải phóng, bảo vệ hành langvận chuyển của ta

Chấp hành nhiệm vụ đợc giao, Bộ t lệnh Quân khu 4 sử dụng trung đoàn 95

và trung đoàn 101 (S đoàn 325), Tiểu đoàn 3 (S đoàn 324), hai tiểu đoàn biênphòng 927 và 929, một đại đội cối 120 ly (4 khẩu), một đại đội súng máyphòng không (4 khẩu), một đại đội thiết giáp, một trung đội đặc công; tiểu

đoàn 17 Pa- thét Lào tỉnh Khăm Muộn và đại đội bộ đội địa phơng Nhom MaRát tham gia chiến dịch

Ngày 27 tháng 1 năm 1964, từ hai hớng liên quân Việt- Lào nổ súng đánh

địch Tiểu đoàn 17 tỉnh Khăm Muộn và đại đội địa phơng Nhom Ma Rát đãphối hợp với các đơn vị quân tình nguyện tiến công cứ điểm Vang Yên, đánhchiếm các khu vực Bản Đông, Thà Thuột, Bản Khoa, tạo thành thế bao vây

địch từ phía nam Na Cay Đêm 28 tháng 1, liên quân Việt- Lào tiến công vào

Na Cay Bị đánh bất ngờ, quân địch hoảng sợ, bỏ chạy về hớng Thẩm CôngLô Liên quân Việt- Lào tiếp tục truy kích địch đến tận ngã ba Bản Thôn, truylùng tàn binh địch trên một địa bàn rộng lớn từ Na Cay, Him- ban, Pha- ken-

la, nam Nậm-xa tới Na Muông, Bản Ken, Bản Công Lô đẩy lùi quân địch về

Ngày đăng: 19/12/2013, 15:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Ban chấp hành Trung ơng Đảng nhân dân Lào gửi Ban chấp hành Trung ơng Đảng Lao động Việt Nam ngày 8- 2- 1965, Hồ sơ số 163, Lu trữ tại Viện lịch sử quân sự Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban chấp hành Trung ơng Đảng nhân dân Lào gửi Ban chấp hànhTrung ơng Đảng Lao động Việt Nam ngày 8- 2- 1965
4. Ban Tổng kết- Lịch sử Bộ tổng tham mu: Tổng kết bộ tổng tham mu trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nớc, NXB Quân đội nhân dân, H.1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết bộ tổng tham mutrong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nớc
Nhà XB: NXB Quân đội nhân dân
7. Bộ quốc phòng- Viện lịch sử quân sự Việt Nam, Mời hai năm đế quốc Mỹ can thiệp và xâm lợc Lào, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1966 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mời hai năm đế quốcMỹ can thiệp và xâm lợc Lào
Nhà XB: Nxb Sự thật
8. Bộ quốc phòng- Viện lịch sử quân sự Việt Nam, Thắng lợi vĩ đại của dân tộc Lào anh hùng, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1973 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thắng lợi vĩ đại của dântộc Lào anh hùng
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
9. Bộ quốc phòng-Bộ t lệnh quân khu 4, Tổng kết 43 năm lực lợng vũ trang quân khu 4 làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào (1945-1988), NXB quân đội nhân d©n, H.2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết 43 năm lực lợng vũ trangquân khu 4 làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào (1945-1988)
Nhà XB: NXB quân đội nhând©n
10. Bộ quốc phòng- Viện lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong kháng chiến chống Mỹ, (1954- 1975), Nxb Quân đội nhân dân, H.2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử quân tìnhnguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong kháng chiến chốngMỹ, (1954- 1975)
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
11. Bộ quốc phòng- Viện lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nớc (1954- 1975), tập 3, 6, NXB Chính trị quốc gia, H.1997, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử kháng chiếnchống Mỹ, cứu nớc (1954- 1975), tập 3, 6
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
12. Bộ quốc phòng- Viện lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử quân sự Việt Nam, tập 11. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nớc (1954- 1975), Nxb Chính trị quốc gia, H.2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử quân sự ViệtNam", tập 11. "Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nớc (1954- 1975)
Nhà XB: Nxb Chínhtrị quốc gia
13. Bộ quốc phòng- Viện lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào 1945- 1975, Nxb Quânđội nhân dân, H.1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử các đoàn quântình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào 1945- 1975
Nhà XB: Nxb Quânđội nhân dân
14. Bộ quốc phòng- Viện lịch sử quân sự Việt Nam: Cuộc chiến tranh xâm lợc thực dân mới của đế quốc Mỹ ở Việt Nam, H.1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc chiến tranh xâmlợc thực dân mới của đế quốc Mỹ ở Việt Nam
15. Bố trí lực lợng ta ở Lào năm 1967, 1968, hồ sơ số 4851, Lu trữ tại Viện lịch sử quân sự Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bố trí lực lợng ta ở Lào năm 1967, 1968
16. Cay-xỏn Phôm- vi- hản, về cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ ở Lào, NXB Sù thËt, H.1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: về cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ ở Lào
Nhà XB: NXB Sù thËt
17. Lý Thực Cốc, Mỹ thay đổi lớn chiến lợc toàn cầu, Nxb Chính trị quốc gia, H. 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ thay đổi lớn chiến lợc toàn cầu
Nhà XB: Nxb Chính trị quốcgia
23. Cục Nghiên cứu Bộ tổng tham mu Quân đội nhân dân Việt Nam: Mỹ xâm lợc Lào (1962- 1974), VL2734, lu tại Viện lịch sử quân sự Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹxâm lợc Lào (1962- 1974)
24. Nguyễn Anh Dũng, Về chiến lợc quân sự toàn cầu của đế quốc Mỹ, Nxb Sù thËt, H, 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về chiến lợc quân sự toàn cầu của đế quốc Mỹ
Nhà XB: Nxb Sù thËt
25. Dự thảo tổng kết ”nghĩa vụ quốc tế về quân sự của Đảng ta với chiến tranh giải phóng Lào”(1945- 1975), Bản đánh máy lu tại Viện lịch sử quân sự Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo tổng kết ”nghĩa vụ quốc tế về quân sự của Đảng ta với chiếntranh giải phóng Lào”(1945- 1975)
26. Đảng ủy - Bộ t lệnh quân khu 4, Lịch sử công tác Đảng, công tác chính trị lực lợng vũ trang quân khu 4 1945-2000, NXB Quân đội nhân dân, H.2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử công tác Đảng, công tác chínhtrị lực lợng vũ trang quân khu 4 1945-2000
Nhà XB: NXB Quân đội nhân dân
27. Đảng ủy - Bộ t lệnh quân khu 4, Quân khu 4, lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nớc (1954-1975), NXB Quân đội nhân dân, H.1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quân khu 4, lịch sử kháng chiếnchống Mỹ cứu nớc (1954-1975)
Nhà XB: NXB Quân đội nhân dân
28. Đảng ủy – Cục hậu cần quân khu 4, Biên niên lịch sử hậu cần quân khu 4 (1945-1975), Côc hËu cÇn 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biên niên lịch sử hậu cần quânkhu 4 (1945-1975)
29. Lam Giang, Trên con đờng không cột số, NXB Quân đội nhân dân, 2004 30. Huỳnh Đắc Hơng, Chung một chiến hào( Hồi ký), Nxb Quân đội nhân, Hà Nội, 1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trên con đờng không cột số, "NXB Quân đội nhân dân, 200430. Huỳnh Đắc Hơng," Chung một chiến hào( Hồi ký)
Nhà XB: NXB Quân đội nhân dân

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Dới đây là bảng thành tích chiến đấu của quân dân Lào phối hợp với quân tình nguyện Việt Nam trong ba năm 1965,  1966, 1967: - Lực lượng vũ trang quân khu 4 trên chiến trường lào trong thời kỳ chống mỹ ( 1954   1975 )
i đây là bảng thành tích chiến đấu của quân dân Lào phối hợp với quân tình nguyện Việt Nam trong ba năm 1965, 1966, 1967: (Trang 48)
Vợt qua gian khổ, hi sinh, gần 3 năm trực tiếp đơng đầu với các loại hình chiến tranh của địch trên các chiến trờng, tiền tuyến, hậu phơng, khu 4 đã trở thành địa bàn đọ sức quyết liệt, góp phần cùng nhân dân nớc ta và nhân dân Lào tạo nên những bớc phát  - Lực lượng vũ trang quân khu 4 trên chiến trường lào trong thời kỳ chống mỹ ( 1954   1975 )
t qua gian khổ, hi sinh, gần 3 năm trực tiếp đơng đầu với các loại hình chiến tranh của địch trên các chiến trờng, tiền tuyến, hậu phơng, khu 4 đã trở thành địa bàn đọ sức quyết liệt, góp phần cùng nhân dân nớc ta và nhân dân Lào tạo nên những bớc phát (Trang 49)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w