THỰC TRẠNG SỬ DỤNG BÀI TẬP HOÁ HỌC CÓ NỘI DUNG LIÊN QUAN ĐẾN MÔI TRƯỜNG TRONG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG CHƯƠNG 2.. Trong giảng dạy hoá học ở trường phổ thông, nếu chúng ta lồngghép được những hiệ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
VINH - 2010
Lời cảm ơn
Trang 2Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo:
PGS.TS Nguyễn Thị Sửu, thầy giáo Thạc sỹ Lê Danh Bình đã tận tình
hướng dẫn tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Hoá Học,khoa đào tạo Sau đại học, Ban giám hiệu trường Trung học phổ thông Ba Đình,Trần Phú, Triệu Sơn I đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để chúng tôi hoàn thànhluận văn này
Chúng tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp
và các em học sinh ở các trường thực nghiệm đã nhiệt tình, động viên, giúp đỡchúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Vinh, ngày tháng năm 2010
Trang 3Những kí hiệu, chữ viết tắt trong luận văn iiii
PHẦN NỘI DUNG
1.2.2 Mối quan hệ giữa môi trường và phát triển, phát triển bền vững 7
1.5.6.1.Kiểu 1: GDMT thông qua chương trình giảng dạy của môn học
Trang 41.5.6.2.Kiểu 2: GDMT được triển khai như một hoạt động độc lập 241.5.7 Một số hình thức phổ biến tổ chức các hoạt động GDMT 24
1.5.8.2 Nội dung giáo dục BVMT trong hoạt động ngoài giờ lên lớp và
1.5.8.3 Nội dung và địa chỉ tích hợp giáo dục BVMT trong môn hóa
1.6.3 Sử dụng bài tập có liên quan đến thực tiễn trong giáo dục BVMT 32
1.6.3.3 Sử dụng bài tập trong quá trình dạy học hoá học 351.7 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG BÀI TẬP HOÁ HỌC CÓ NỘI DUNG
LIÊN QUAN ĐẾN MÔI TRƯỜNG TRONG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG
CHƯƠNG 2 LỰA CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP
THỰC TIỄN VỀ MÔI TRƯỜNG PHẦN HOÁ HỌC HỮU CƠ Ở
2.1 PHÂN TÍCH NỘI DUNG KIẾN THỨC VÀ CẤU TRÚC PHẦN
HOÁ HỌC HỮU CƠ TRONG CHƯƠNG TRÌNH TRUNG HỌC PHỔ
2.1.2 Đặc điểm về nội dung kiến thức và cấu trúc phần hoá học hữu cơ 42
Trang 52.3.4.Thiết kế giáo án bài dạy có sử dụng bài tập hoá học giáo dục môi
trường
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
Trang 6NHỮNG KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN VĂN
Trang 72 BVMT Bảo vệ môi trường
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trái đất ngôi nhà chung của con người và của tất cả các sinh vật trên hànhtinh nhỏ bé này đang bị suy thoái trầm trọng, tài nguyên thiên nhiên bị khai tháccạn kiệt, hệ sinh thái bị mất cân bằng, dân số tăng nhanh, chất lượng cuộc sốngsuy giảm Hậu quả ghê gớm là hạn hán lũ lụt, băng tan, đói nghèo gia tăng, mưaaxit, bệnh dịch lan tràn, tầng ozon bị suy giảm Cả nhân loại đã tỉnh ngộ và lêntiếng “ Hãy cứu lấy trái đất”, “Hãy xây dựng nền công nghiệp sạch”, “Hãy pháttriển bền vững”… Bảo vệ môi trường giữ lấy Trái đất là nhiêm vụ của tất cả cácquốc gia trên thế giới, là trách nhiệm của mọi tổ chức xã hội và là nghĩa vụ củamọi thành viên các cộng đồng
Để bảo vệ cái nôi sinh thành của mình, con người phải thực hiện hàng loạtcác vấn đề phức tạp, trong đó có vấn đề GDMT Lần đầu tiên trong lịch sử, tạicuộc họp liên hợp quốc về bảo vệ môi trưòng và tài nguyên thiên nhiên ở pari,thuật ngữ “GDMT” được sử dụng, tiếp đó ngày 5/6/1972, tại hội nghị LHQ họp
ở Stôckhom (Thuỵ Điển) dã nhất trí nhấn mạnh: Việc bảo vệ thiên nhiên và môitrường là nhiệm vụ hàng đầu của nhân loại Và ngày 5/6 hàng năm trở thành
“Ngày môi trường thế giới” Các hội nghị quốc tế về môi trường liên tiếp diễn ra
đã nói lên tầm quan trọng và sự khẩn thiết của toàn cầu
GDMT là một trong những biện pháp có hiệu quả nhất, giúp cho conngười có nhận thức đúng trong việc khai thác, sử dụng và bảo vệ các tài nguyênthiên nhiên, bảo vệ môi trường Việc GDMT trong nhà trường phổ thông chiếmmột vị trí đặc biệt, nhà trường là nơi đào tạo thế hệ trẻ, những người chủ tươnglai của đất nước, những người làm nhiệm vụ tuyên truyền giáo dục, khai thác sửdụng và bảo vệ nguồn tài nguyên môi trường của đất nước Thực tế ở trường phổthông Việt Nam thì việc giảng dạy các môn học có khai thác kiến thức GDMT
Trang 9được thể hiện còn ít và sơ sài, vì vậy những hiểu biết về môi trường của họcsinh còn yếu.
Hoá học là khoa học thực nghiệm, hoá học có vai trò rất quan trọng trongcuộc sống của chúng ta Hoá học đóng góp một phần rất quan trọng vào giảithích các hiện tượng trong thực tế, giúp cho mỗi chúng ta có ý thức hơn về bảo
vệ môi trường Trong giảng dạy hoá học ở trường phổ thông, nếu chúng ta lồngghép được những hiện tượng xảy ra trong thực tế, những bài tập về bảo vệ môitrường có liên quan đến bài học thì sẽ làm cho tiết học trở nên sinh động hơn,gây hứng thú và sức thu hút đối với học sinh và thông qua đó tuyên truyền giáodục môi trường cho học sinh
Đối với lí luận dạy học, bài tập được coi là một phương pháp dạy học vậndụng Nó được áp dụng phổ biến và thường xuyên ở tất cả các cấp học và cácloại trường khác nhau Bài tập được sử dụng ở tất cả các khâu của quá trình dạyhọc, nghiên cứu tài liệu mới, củng cố, vận dụng, kiểm tra đánh giá kiến thức, kỹnăng, kỹ xảo của học sinh Như vậy sử dụng bài tập hoá học là một phương phápdạy học hoá học rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy hoáhọc ở các trường phổ thông
Với những lí do trên, nhằm từng bước nâng cao chất lượng dạy và họchoá học ở trường trung học phổ thông, thiết nghĩ cần có những bài tập hoá họcliên quan đến thực tế bảo vệ môi trường cho học sinh, do đó chúng tôi chọn đề
tài: "Lựa chọn, xây dựng và sử dụng bài tập hoá học thực tiễn về môi trường trong dạy học phần hoá hữu cơ trường trung học phổ thông nhằm góp phần giáo dục môi trường cho học sinh".
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
a Mục đích
Trang 10Nghiên cứu những nội dung có liên quan đến môi trường, ô nhiễm môitrường, bảo vệ môi trường phần hoá học hữu cơ Xây dựng và sử dụng hệ thốngbài tập liên quan đến thực tế về BVMT phần hoá học hữu cơ góp phần GDMTcho học sinh THPT.
- Xây dựng hệ thống bài tập về bảo vệ môi trường phần hoá học hữu cơ
- Nghiên cứu phương pháp sử dụng BTHH bảo vệ môi trường trong việcgiáo dục môi trường cho HS
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả GDMT
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể: Là quá trình dạy hoá học ở trường phổ thông
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống bài tập liên quan đến thực tế về BVMTphần hoá học hữu cơ
4 Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng các nhóm phương pháp sau
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân tích, tổng quan cơ sở lí luận vềmôi trường, giáo dục môi trường trong dạy học hoá học, BTHH và sử dụngtrong xây dựng bài tập và trong dạy học giáo dục môi trường
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: dự giờ, điều tra, tìm hiểu về việcGDMT qua dạy học hoá học và sử dụng BTHH trong GDMT Thực nghiệm sưphạm kiểm nghiệm tính phù hợp và hiệu quả của các đề xuất
Trang 11- Phương pháp xử lí thông tin: sử dụng toán học thống kê xử lí kết quảthực nghiệm sư phạm
5 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hoá học về bảo vệ môi trườngmột cách thường xuyên và hiệu quả sẽ tăng sự hiểu biết về môi trường, nâng caonhận thức hành động và đạo đức môi trường, góp phần giáo dục môi tr ường chohọc sinh THPT
6 Những đóng góp của đề tài
- Về mặt lí luận: Tổng quan lí thuyết về môi trường, giáo dục môi trường
- Về mặt thực tiễn: Xây dựng một hệ thống bài tập hoá học có nội dungliên quan đến môi trường, nâng cao nhận thức hành động và đạo đức môi trườngcho học sinh THPT
Trang 12PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Lịch sử của vấn đề nghiên cứu
Từ trước tới nay vấn đề áp dụng thực tiễn vào trong dạy học đã được nhiềutác giả nghiên cứu Đã có một số tác giả đã nghiên cứu về nội dung ứng dụng củahoá học như:
- Dương Văn Đảm - Hóa học dành cho người yêu thích – Nxb GD - 2004
- Trần Ngọc Mai - 109 nguyên tố hoá học - Nxb GD - 2002
- Biên dịch: Từ Văn Mạc, Trần Thị Ái - Hoá học chìa khoá vàng - Nxb
ĐHQG - 1997
- R.B Bucat - Cơ sở hoá học - Nxb GD - 2000
- Wolfdietrich Eichler - Chất độc trong thực phẩm - Nxb KHKT - 2000)
Trần Thị Bính Phùng Tiến Đạt Lê Viết Phùng Phạm Văn Thưởng
-Hóa học công nghệ và môi trường.
- Vũ Đăng Độ - Hóa học và sự ô nhiễm môi trường Nxb GD - 1997.
Các tác giả này mới chỉ đề cập đến những vấn đề hoá học trong thực tế
Mà chưa có tác giả nào biên soạn những bài tập hoá học có nội dung liên quantới thực tiễn và GDMT, BVMT áp dụng cho chương trình hoá học phổ thông
Trang 13Hiện nay, môn hoá học cũng đã có nhiều luận án, luận văn nghiên cứu về
đề tài thực tiễn nói chung và đề tài về môi trường nói riêng cho bậc THPT
Luận văn thạc sĩ:
1 Trần Thị Ngà (2005) Thiết kế và sử dụng bài tập hoá học có nội dung
liên quan đến thực tiễn trong dạy học ở trường trung học phổ thông Luận văn
Thạc sĩ, ĐH Vinh
2 Trần Văn Hùng (2009) Tích hợp giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm
cho học sinh thông qua các bài tập thực tiễn về vệ sinh an toàn thực phẩm trong
chương trình hóa học trung học phổ thông Luận văn thạc sĩ, ĐH Vinh
3 Hoàng Thị Thuỳ Dương (2009) Tích hợp giáo dục môi trường thông
qua hệ thống bài tập thực tiễn chương Nito-photpho, Cacbon-Silic Luận văn
thạc sĩ, ĐH Vinh
Luận văn tốt nghiệp:
1 Trần Thị Thanh Lê (2008) Góp phần GDMT cho học sinh thông qua
hệ thống bài tập liên quan đến thực tế về BVMT chương halogen, chương Oxi lưu huỳnh Luận văn Tốt nghiệp, ĐH Vinh.
-2 Nguyễn Thị Kim Phương (2009) Góp phần GDMT cho học sinh thông
qua hệ thống bài tập liên quan đến thực tế về BVMT chương Nito-photpho Luận
văn Tốt nghiệp, ĐH Vinh
Vấn đề áp dụng thực tiễn vào giảng dạy đã được quan tâm hơn, tuy nhiêncác tác giả mới tập trung lựa chọn, xây dựng bài tập liên quan tới thực tiễn vàomột, hai chương thuộc phần vô cơ, hoặc toàn bộ chương trình Vấn đề nghiêncứu xây dựng và sử dụng bài tập về môi trường trong giảng dạy phần hoá họchữu cơ ở trường THPT còn ít được quan tâm
1.2 TỔNG QUAN VỀ MÔI TRƯỜNG
1.2.1 Môi trường và chức năng cơ bản của môi trường
1.2.1.1 Môi trường [1]
Trang 14Môi trường là tập hợp tất cả các thành phần của thế giới vật chất baoquanh có khả năng tác động đến sự tồn tại và phát triển của mỗi sinh vật Bất kểmột vật thể, sự kiện nào cũng tồn tại và diễn biến trong môi trường.
Môi trường sống của con người - môi trường nhân văn là tổng hợp cácđiều kiện vật lý, hoá học, kinh tế - xã hội bao quanh có ảnh hưởng đến sự sống
và phát triển cử từng cá nhân và cả cộng đồng con người Môi tr ường sống củacon người là cả vũ trụ bao la, trong đó hệ mặt trời và trái đất là bộ phận có ảnhhưởng trực tiếp và rõ rệt nhất Trong môi trường sống này luôn luôn tồn tại sựtương tác giữa các thành phần vô sinh và hữu sinh
Về mặt địa lý, trái đất được chia thành:
- Thạch quyển (môi trường đất): bao gồm lớp vỏ trái đất có độ dày 60 - 70
km trên phần lục địa và 2 - 8 km dưới đáy đại dương Thành phần hoá học, tínhchất vật lý của thạch quyển tương đối ổn định và có ảnh hưởng lớn đối với sựsống trên trái đất
- Thuỷ quyển (môi trường nước): Là thành phần nước của trái đất baogồm các đại dương, sông, suối, ao hồ, nước dưới đất, băng tuyết và hơi nước.Thuỷ quyển đóng vai trò không thể thiếu trong việc duy trì cuộc sống của conngười, sinh vật và cân bằng khí hậu toàn cầu
- Khí quyển (môi trường không khí): Là lớp không khí tầng đối lưu baoquanh trái đất Khí quyển đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc duy trì sựsống và quyết định tính chất khí hậu
Về mặt sinh học, trên trái đất có sinh khí quyển bao gồm các cơ thể sống,thuỷ quyển và khí hậu tạo nên môi trường sống của sinh vật Sinh quyển baogồm các thành phần hữu sinh và vô sinh có quan hệ tương tác phức tạp với nhau
Các thành phần của môi trường luôn chuyển hoá trong tự nhiên, diễn ratheo chu trình và thông thường ở dạng cân bằng Các chu trình phổ biến nhấttrong tự nhiên là chu trình sinh địa hoá như: Chu trình cacbon, chu trình Nitơ,chu trình photpho… Khi các chu trình này không giữ trạng thái cân bằng thì các
Trang 15sự cố về môi trường xảy ra, tác động đến sự tồn tại của con người và sinh vật ởkhu vực hoặc quy mô toàn cầu.
1.2.1.2 Chức năng cơ bản của môi trường
- Môi trường là không gian sinh sống cho con người và thế giới sinh vật
- Môi trường là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên cần thiết cho đờisống và sản xuất của con người
- Môi trường còn là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ratrong cuộc sống và hoạt động sản xuất
- Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người
1.2.2 Mối quan hệ giữa môi trường và phát triển, phát triển bền vững
1.2.2.1 Mối quan hệ giữa môi trường và phát triển [4], [8]
Phát triển là xu hướng khách quan của mỗi cá nhân và toàn xã hội, nhằmkhông ngừng cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho con người
Kế hoạch hoá cho công tác môi trường là một nội dung quan trọng của công tác
kế hoạch hoá sự phát triển kinh tế đất nước nhằm cải thiện chất lượng cuộc sốngcủa con người Mục đích của sự phát triển là đáp ứng các nhu cầu trong cuộcsống của con người Phát triển là xu thế tất yếu của mọi xã hội, là quy luật củatiến hoá thiên nhiên, vì vậy chúng ta không thể kìm hãm sự phát triển của xã hộiloài người, mà phải tìm con đường phát triển thích hợp để giải quyết các mâuthuẫn giữa môi trường và phát triển Môi trường là tổng hợp các điều kiện sốngcủa con người, còn phát triển là quá trình sử dụng và cải thiện các điều kiện đó.Môi trường là địa bàn, là đối tượng của phát triển Phát triển là nguyên nhân củamọi biến đổi đối với môi trường Giữa môi trường và phát triển có mối quan hệhữu cơ với nhau
1.2.2.2 Phát triển bền vững [8]
Phát triển bền vững là một phạm trù được hình thành do nhu cầu của việcBVMT Thực chất của phát triển bền vững là sự kết hợp giữa phát triển với duytrì môi trường
Trang 16Theo Uỷ ban thế giới về môi trường và phát triển đưa ra định nghĩa vềphát triển bền vững là: “Sự phát triển nhằm thoả mãn nhu cầu của thế hệ hiện tại
mà không làm tổn hại đến khả năng làm thoả mãn nhu cầu của chính các thế hệmai sau”
Theo tổ chức ngân hàng phát triển Châu Á: “Phát triển bền vững là mộtloại hình phát triển mới, lồng ghép một quá trình sản xuất và bảo tồn tài nguyên
và nâng cao chất lượng môi trường Phát triển bền vững cần đáp ứng các nhucầu của thế hệ hiện tại mà không phương hại đến khả năng của chúng ta đáp ứngcác nhu cầu của thế hệ trong tương lai”
Trên quan điểm tiếp cận tổng hợp có thể đề xuất một định nghĩa cụ thểhơn đó là ”Phát triển bền vững là một quá trình vận động của một hệ thống kinh
tế, xã hội trong đó có sự gắn kết hài hoà giữa phát triển kinh tế với phát triển xãhội và bảo tồn tài nguyên, môi trường sống vì sự tồn tại ngày một tốt hơn củacác thế hệ kế tiếp”
Theo định nghĩa trên thì phát triển bền vững là phát triển tạo nên một nềnkinh tế tăng trưởng đều cả về lượng và chất, một xã hội ổn định, các nguồn tàinguyên, sinh thái, môi trường được bảo tồn Một "xã hội bền vững" phải có nền
"kinh tế bền vững" là sản phẩm của sự phát triển bền vững
1.3 Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG [2], [3], [22]
1.3.1 Sự ô nhiễm môi trường
- Theo định nghĩa của tổ chức Y tế thế giới, sự ô nhiễm là việc chuyểncác chất thải hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây tác hạixấu đến sức khoẻ con người, đến sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chấtlượng môi trường
- Theo Luật Bảo vệ môi trường 2005: Ô nhiễm môi trường là sự biến đổicủa các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gâyảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật
Để bảo đảm giữ gìn môi trường trong lành, một số tổ chức quốc tế vànhiều quốc gia đã xây dựng các tiêu chuẩn chất lượng môi trường Tiêu chuẩn
Trang 17chất lượng môi trường là giới hạn cho phép tối đa về liều lượng hoặc nồng độcủa các tác nhân gây ô nhiễm trong từng vùng cụ thể hoặc cho từng mục đích sửdụng cụ thể đối với từng thành phần môi trường
Tác nhân gây ô nhiễm là những chất, những hỗn hợp hoặc những nguyên
tố hoá học có tác dụng biến đổi môi trường từ trong sạch trở nên độc hại Nhữngchất này thường được gọi là những chất ô nhiễm
1.3.2 Sự ô nhiễm khí quyển
Nguồn gốc của các chất độc hại gây ô nhiễm môi trường không khí là dosản xuất công nghiệp và do quá trình đốt cháy nhiên liệu có sinh ra các chất gây
ô nhiễm môi trường
Có thể mô tả tóm tắt các chất ô nhiễm, nguồn gốc và cách phân loại chúngtheo bảng:
Khí
Sự hô hấp của sinh vật
Sự đốt nhiên liệu
Động cơ đốt trongCác hợp chất hữu cơ Công nghiệp hóa học
Đốt rác thải, các chất hữu cơSO2 và chất dẫn xuất của lưu
huỳnh
Núi lửa, bụi nước biển
Vi khuẩnĐốt nhiên liệu
Trang 18Công nghiệp hóa họcĐốt nhiên liệu
Đốt chất thải sinh hoạtNông nghiệp ( thuốc trừ sâu )Dựa vào tác dụng chủ yếu của chất độc hại ta chia ra thành các nhóm chất
+ Kích thích tế bào như NO2…
+ Các chất này hòa tan trong niêm dịch tạo ra axít gây phù phổi cấp
- Nhóm 3: Chất gây ngạt
+ Chất gây ngạt đơn thuần như CO2, etan, metan…
+ Gây ngạt hóa học: CO hóa hợp với các chất khác làm mất khả năng vậnchuyển oxy của hồng cầu làm hô hấp rối loạn
- Nhóm 4: Chất tác dụng hệ thần kinh trung ương, gây mê, gây tê như cácloại rượu, các hợp chất hiđrocacbua, H2S, CS2, xăng…
Hóa học các hiện tượng ô nhiễm không khí
* Ozon, suy giảm tầng ozon [1], [2], [8]
Trang 19+ Ozon là loại khí thiên nhiên của khí quyển thượng tầng Nó được hìnhthành và phá hủy hoàn toàn dưới tác dụng của tia tử ngoại mặt trời:
Ozon làm tăng nhiệt độ mặt đất, nếu nồng độ ozon trong khí quyển tănglên 2 lần, có thể làm nhiệt độ mặt đất tăng lên 10C
Ngược lại, ozon có tác dụng che chắn không cho các tia tử ngoại chiếuxuống mặt đất, phần lớn bức xạ tử ngoại được tầng ozon hấp thụ, điều tiết khíhậu và sinh thái trên trái đất
Tuy nhiên, hiện nay tầng ozon đang bị suy giảm nghiêm trọng, trong vòng
15 năm qua, mức suy giảm ozon trung bình toàn cầu là 5%, trong đó 6,5% làBắc bán cầu, 9,5% Nam bán cầu Nguyên nhân chính là do trong phần tử chấtlàm lạnh CFC phân ly ra các gốc tự do dưới tác dụng bức xạ mặt trời
CFC + hv Cl
Một gốc Cl. Có thể phẩn ứng với 100000 phân tử O3 theo phản ứng dâychuyền:
Cl + O3 ClO+ O2ClO + O Cl + O2ClO + NO2 ClONO2Một nguyên nhân quan trọng nữa là do các khí NO, NO2 Các chất khí nàythường có một lượng nhất định trong khí quyển tự nhiên Và trong khí thải củamáy bay phản lực, máy bay siêu âm hạng nặng cũng chứa một lượng lớn oxitcủa nitơ
O3 + NO NO2 + O2NO2 + O NO + O2
Trang 20O3 + O 2O2
* Khói quang hoá
Nguyên tử oxi được sinh ra do sản phẩm quang hoá từ khí NO2 dưới tácdụng của tia mặt trời, lại tác dụng với các hidrôcacbon hoạt tính (nh ư metan,etan, toluen ) để hình thành các phản ứng trung gian Các phản ứng này dẫnđến một loạt các phản ứng tiếp theo kết hợp với oxi, hidrocacbon và NO2 Kếtquả là nitơ oxit được sinh ra, nitric oxit mất đi, ozon tích luỹ và một chất ônhiễm thứ cấp ra đời như là: fomandehit, andehit, PAN (C2H3O5N) Tập hợp tất
cả các chất trên hình thành khói quang hoá Một số ozon còn được bổ sung vàokhí quyển do phóng điện trong không khí như tia chớp, sấm điện hoặc dochuyển động của các dòng khí theo chiều đứng trong tầng đối lưu, do rò rỉ phếthải của các nhà máy tổng hợp hoá chất
- Tác hại của mưa axít:
+ Tăng khả năng hòa tan các kim loại nặng trong nước, cây cối hấp thụkim loại nặng sau đó sẽ gây ô nhiễm độc cho người và gia súc
+ Làm tăng độ axít của đất nên làm cho đất càng bị bạc màu, ảnh hưởngđến mùa màng
+ Mưa axít gây nguy hiểm đến sinh vật sống dưới nước, làm hỏng cáccông trình xây dựng
Trang 21* Hiệu ứng nhà kính:
Có thể hiểu một cách sơ lược về nhà kính như sau:
Ta biết rằng nhiệt độ bề mặt trung bình của trái đất được quyết định bởicân bằng giữa năng lượng mặt trời chiếu xuống trái đất và năng lượng bức xạnhiệt của trái đất vào vũ trụ Bức xạ nhiệt của mặt trời là bức xạ sóng ngắn dễdàng xuyên qua tầng ozon và lớp CO2 trong khí quyển chiếu xuống trái đất.Ngược lại, bức xạ nhiệt phát vào vũ trụ là bức xạ sóng dài, không có khả năngxuyên qua lớp khí CO2 dày và bị hấp thụ lại làm cho nhiệt độ của khí quyển baoquanh trái đất tăng lên
Lớp khí CO2 có tác dụng như một lớp "kính giữ nhiệt" của trái đất ở quy
mô toàn cầu Nếu CO2 sinh ra trên toàn cầu càng lớn thì lớp "kính giữ nhiệt"càng dày, nhiệt độ của trái đất tăng lên gây ảnh hưởng đến sinh thái hiệu ứngtrên gọi là hiệu ứng nhà kính
Các tác nhân gây hiệu ứng nhà kính CO2, CH4, NO2, CO, CFC, trong đóCO2 có vai trò chính
Hiệu ứng nhà kính có thể gây các ảnh hưởng sau:
- Nhiệt độ trái đất tăng là nguyên nhân làm lớp băng ở hai cực trái đất tan,nước biển dâng lên cao, các thành phố, làng mạc ở vùng ven biển thấp sẽ bịchìm dưới nước biển
- Nhiệt độ trái đất tăng sẽ làm tăng các quá trình chuyển hóa sinh học vàhóa học gây nên sự mất cân bằng về lượng và chất trong cơ thể sống
- Nhiệt độ trái đất tăng làm giảm khả năng hòa tan CO2 trong nước biển,lượng CO2 trong khí quyển tăng làm mất cân bằng CO2 giữa khí quyển và đạidương
1.3.3 Sự ô nhiễm đất [20],[22]
Ô nhiễm đất là tất cả các hiện tượng, quá trình làm biến đổi đất, thay đổicác tính chất lý hóa tự nhiên của đất do các tác nhân gây ô nhiễm dẫn đến làmgiảm độ phì nhiêu của đất
Trang 22Để thuận lợi cho việc giám sát môi trường ta phân loại theo tác nhân gây
ô nhiễm:
- Ô nhiễm do tác nhân hóa học: Loại ô nhiễm này gây ra do:
+ Tác nhân của phân bón hóa học bón vào đất không được cây sử dụnghết, một số chuyển sang dạng khí, một số chuyển sang thể hòa tan, một số dạngliên kết với keo đất làm ô nhiễm đất
+ Do dùng thuốc bảo vệ thực vật: Qua thực tế người ta thấy rằng khi phunthuốc bảo vệ thực vật khoảng 50% lượng thuốc rơi xuống đất, nước tồn tại trongđất và lôi cuốn vào chu trình dinh dưỡng
Đất nước cây trồng động vật và người+ Các chất hoá học thất thoát rò rỉ, thải ra trong quá trình hoạt động sảnxuất công nghiệp, đặc biệt là các hóa chất độc hại và kim loại nặng
Ví dụ: Phế thải của ngành luyện kim, sản xuất ôtô thường chứa: Zn, Pb,
As, Hg, Cr, Cd… Ở trong đất tính di động gây độc của các kim loại nặng phụthuộc vào các yếu tố như sự thay đổi thế oxy hóa khử, pH môi trường…
+ Ô nhiễm do hậu quả chiến tranh: Các hoá chất dùng vào mục đích chiếntranh thì gọi là vũ khí hoá học Vũ khí hoá học được chia thành 3 nhóm chấtđộc, chất tạo khói, chất gây cháy
Chất độc hoá học là những hoá chất khi xâm nhập vào người, động vật vàcây cỏ, dưới điều kiện nhất định, liều lượng nhất định gây nên tác dụng sinh límạnh ở một hay nhiều bộ phận trên cơ thể, làm rối loạn hoạt tính bình thường,gây nhiễm độc và có thể dẫn tới chết người Có chất độc dân dụng (trong nôngnghiệp, y học thuốc nhuộm ), có chất độc quân sự, trong chiến tranh đế quốc
Mỹ đã dùng các hơi độc gây chảy nước mất, hắt hơi, ngạt thở, như Adamxit,
Thiophotgen, Cloraxetopheol có các loại chất độc mang tên riêng BZ, VX vàđặc biệt là chất độc da cam đã gây thảm hoạ nghiêm trọng cho không chỉ mộtđời mà còn kéo dài ở các thế hệ kế tiếp
- Ô nhiễm do tác nhân sinh học: Đất là môi trường cho các loại vi khuẩnphát triển Các loại vi khuẩn gây bệnh có thể tồn tại, phát triển trong đất, bị
Trang 23nhiễm bẩn bởi các phế thải hữu cơ như: Phân rác, phế thải công nghiệp thựcphẩm…
- Ô nhiễm do tác nhân vật lý:
+ Ô nhiễm nhiệt: Khi nhiệt độ tăng, ảnh hưởng lớn đến hệ sinh vật trongđất làm nhiệm vụ phân giải chất hữu cơ và trong nhiều trường hợp làm chaicứng đất, mất chất dinh dưỡng Nhiệt độ tăng quá cao làm giảm lượng oxi mấtcân bằng oxi trong đất và tăng quá trình phân hủy chất hữu cơ trong đất theokiểu kị khí tạo ra nhiều sản phẩm trung gian gây độc hại như: NH3, H2S, CH4 vàandehyt… Nguồn ô nhiễm nhiệt do cháy rừng, nguồn nhiệt do nước làm mát cácthiết bị máy của các nhà máy nhiệt điện và các nhà máy khác
+ Ô nhiễm đất do tác nhân phóng xạ do những phế thải của các trung tâmnghiên cứu nguyên tử, nhà máy điện nguyên tử… theo chu trình dinh dưỡng sẽthâm nhập vào cơ thể sống làm thay đổi cấu trúc tế bào, gây bệnh di truyền máu,bệnh ung thư…
1.3.4 Ô nhiễm nước [22]
Trong nước tự nhiên các hợp chất vô cơ và hữu cơ tồn tại dưới dạng ionhòa tan hoặc dạng khí hòa tan, dạng rắn hoặc lỏng, luôn tồn tại quan hệ qua lạigiữa các sinh vật với nhau và với môi trường, tạo nên trạng thái cân bằng, giữcho chất lượng nước ít bị biến đổi Các sản phẩm phế thải từ các lĩnh vực khácnhau đã dưa vào nước, làm ảnh hưởng xấu đến giá trị sử dụng của nước, cânbằng sinh thái tự nhiên bị phá vỡ và nước bị ô nhiễm
Trang 24+ Ô nhiễm vật lý: Do các loại chất thải công nghiệp có màu, các chất l ơlửng… làm nước thay đổi màu sắc, tăng độ đục.
+ Ô nhiễm sinh lý - học: Các chất thải công nghiệp có chứa nhiều hợpchất hóa học như: muối, phenol, amoniac, sunfat, dầu mỡ… cùng với rong tảo,động vật nguyên sinh làm cho nước có mùi vị bất thường
+ Ô nhiễm sinh học: Do nước thải cống rãnh chứa các vi khuẩn gây bệnh,tảo, nấm và kí sinh trùng, các động vật nguyên sinh… mang mầm dịch và cácbệnh truyền nhiễm rất nguy hiểm
Để bảo vệ chất lượng nước dùng trong sinh hoạt, trong công nghệ nướcsạch phải trải qua các giai đoạn xử lý về mặt vật lý, hóa học, sinh học Đặc biệtcông nghệ xử lý nước thải công nghiệp, sinh hoạt, bệnh viện, phải tuân thủnghiêm ngặt các công đoạn xử lý rồi mới xả ra các sông ngòi, ao đầm để đảmbảo chất lượng nước
1.3.5 Ô nhiễm phóng xạ [3]
Việc sử dụng năng lượng hạt nhân vào những mục tiêu dân sự cũng nhưquân sự đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến khả năng ô nhiễm phóng xạ cực kìnguy hiểm Sự ô nhiễm phóng xạ được thể hiện qua sự tăng bức xạ con ngườiphải hứng chịu trong môi trường Sự nhiễm xạ được chia thành 2 dạng nhiễm xạtrong và nhiễm xạ ngoài
Hậu quả của sự ô nhiễm phóng xạ đối với loài người là sự tăng xác suấtmắc bệnh ung thư và những bệnh liên quan đến bộ máy gen di truyền, thể hiệnqua hiện tượng quái thai Các chuyên gia đã đánh giá rằng khi tăng gấp đôi liềulượng bức xạ thì số trường hợp quái thai tăng 20% còn khi bị bức xạ suốt đờivới liều 2 rem (Đơn vị dùng để đánh giá hiệu quả sinh học của tia phóng xạ) thì
tỉ lệ chết vì bệnh ung thư tăng 10% (theo uỷ ban Quốc tế về an toàn phóng xạđối với con người không vượt quá 3 rem)
1.3.6 Ô nhiễm tiếng ồn [3]
Tiếng ồn là tiếng động không mong muốn hoặc có độ dài thời gian cường
độ hoặc các tính chất khác làm nguy hiểm về tâm lí và thể chất cho con ng ười
Trang 25hoặc các cơ thể sống khác (trên 90 đê-xi-ben) Sự khó chịu do tiếng ồn gây raphụ thuộc vào thời điểm, người nghe và âm thanh nền xung quanh.
1.4 CÁC BIỆN PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG [4], [8]
1.4.1 Bảo vệ môi trường
Nguy cơ môi trường bị huỷ hoại với những hậu quả nghiêm trọng của nó
đã buộc các quốc gia chú ý hơn tới các biện pháp bảo vệ môi trường Nhiều biệnpháp kinh tế, xã hội, tổ chức được triển khai thực hiện nhằm bảo vệ môi trườnghiệu quả Nhiều trung tâm nghiên cứu môi trường được thành lập để nghiên cứucác tác động của môi trường và các biện pháp đối phó nhằm giảm thiểu hậu quảtiêu cực do ô nhiễm môi trường có thể mang lại Những quyết định của chínhphủ về đóng cửa rừng, về việc khoanh vùng các khu bảo tồn thiên nhiên, lậpvườn quốc gia đã góp phần đáng kể trong việc ngăn cản sự huỷ hoại môi trường
Bảo vệ môi trường ngày nay có ý nghĩa là:
- Sử dụng hợp lí các nguồn tài nguyên và bảo vệ sự cân bằng sinh thái
- Cải tạo phục hồi các nguồn tài nguyên bị cạn kiệt
- Chống ô nhiễm và suy thoái môi trường
- Bảo vệ tính đa dạng sinh học và các vốn gen di truyền quý hiếm
Bảo vệ môi trường là yếu tố quan trọng trong chiến lược phát triển củacác quốc gia và vì thế nó được thực hiện dưới nhiều cấp khác nhau: cấp độ cánhân, cộng đồng, địa phương, quốc gia, quốc tế
1.4.2 Các biện pháp bảo vệ môi trường
Để bảo vệ môi trường có kết quả đòi hỏi phải có một hệ thống các hoạtđộng phối hợp liên hoàn với nhau theo các ngành, các lãnh thổ ở các cấp khácnhau thuộc công tác quản lí của nhà nước, công tác ứng dụng tiến bộ khoa học
kĩ thuật vào sản xuất và công tác giáo dục nhằm mục tiêu bảo vệ môi trường.Tuy nhiên, có thể nêu một số biện pháp chủ yếu sau đây:
* Biện pháp tổ chức – chính trị: Chính trị được xem là một trong những
biện pháp quan trọng của bảo vệ môi trường Chính trị là mối quan hệ phát sinhgiữa các giai cấp, các nhóm người trong xã hội nhằm thực hiện quyền lực chính
Trang 26trị Các biện pháp chính trị được thực hiện nhằm xây dựng hoặc củng cố quyềnlực và ảnh hưởng chính trị.
Ý nghĩa của các biện pháp chính trị trong bảo vệ môi trưòng thể hiện quamột số điểm chính sau:
- Vấn đề bảo vệ môi trường trở thành các nhiệm vụ chính trị mỗi khi các
tổ chức chính trị, đảng phải đưa vào các cương lĩnh hoạt động của mình
- Bằng vận động chính trị, vấn đề bảo vệ môi trường sẽ được thể chế hoáthành các chính sách, pháp luật
* Biện pháp kinh tế: Sử dụng biện pháp kinh tế là sử dụng đến những
đòn bẩy lợi ích kinh tế Thực chất của phương pháp kinh tế trong bảo vệ môitrường là việc dùng những lợi ích vật chất để kích thích chủ thể thực hiện nhữnghoạt động có lợi cho môi trường, cho cộng đồng Các biện pháp kinh tế đượcthực hiện trong lĩnh vực bảo vệ môi trường bao gồm:
- Thành lập các quỹ bảo vệ môi trường
- Áp dụng các ưu đãi về thuế đối với những doanh nghiệp, những dự án cócác biện pháp tốt về bảo vệ môi trường
- Áp dụng thuế suất cao đối với những sản phẩm và việc sản xuất chúng
có tác động xấu đến môi trường
- Hạn chế hoặc khuyến khích thương mại với việc bảo vệ môi trường.Các biện pháp kinh tế rất phong phú và đa dạng Việc sử dụng chúngtrong bảo vệ môi trường phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố khác nhau Tuynhiên về cơ bản, các biện pháp kinh tế thường mang lại hiệu quả kinh tế cao hơntrong bảo vệ môi trường so với các biện pháp khác
* Biện pháp khoa học công nghệ: Môi trường được tạo bởi nhiều yếu tố
vật chất phức tạp Việc tìm hiểu thành phần, cấu trúc, quy luật hoạt động và ảnhhưởng của môi trường nói chung và các yếu tố cấu thành nó riêng, không thểthực hiện một cách đầy đủ nếu thiếu các biện pháp khoa học và công nghệ.Tương tự, việc bảo vệ môi trường không thể thiếu các giải pháp khoa học, kĩthuật và công nghệ Ví dụ là việc xử lí chất thải, nếu như xử lí chất thải bằng
Trang 27phương pháp thủ công như đốt, chôn rác thì việc tránh ô nhiễm này sẽ dẫn tới sự
ô nhiễm khác Khi số lượng dân cư ngày càng đông hơn thì công nghệ xử lí chấtthải đòi hỏi phải có những biện pháp khoa học, kĩ thuật và công nghệ tiên tiến
* Biện pháp giáo dục: Ý thức bảo vệ môi trường sẽ được nâng cao thông
qua các hoạt động tuyên truyền giáo dục Càng mở rộng các hoạt động giáo dụccộng đồng về tác hại của sự ô nhiễm , suy thoái môi trường Vai trò của giáo dụcđặc biệt quan trọng Khi con người vì sự vô thức đã tàn phá chính môi trườngtrong đó họ đang sống thì việc thức tỉnh họ là điều cần thực hiện trước sự trừngphạt và răn đe Khi con người đã có ý thức tự giác thì bảo vệ môi trường trở nên
dễ dàng và thực hiện có hiệu quả Đó chính là thực chất và ý nghĩa của biệnpháp giáo dục Chính vì tầm quan trọng của giáo dục cộng đồng, Tuyên bố Rio
de Janeiro cũng đã coi đó là một nguyên tắc quan trọng mà các quốc gia kíTuyên bố cần thực hiện Đảng cộng sản Việt Nam và nước Cộng hoà XHCNViệt Nam cũng đã đặc biệt chú ý đến giáo dục cộng đồng về bảo vệ môi trường
1.5 GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG [4], [20]
1.5.1 Quan niệm về giáo dục môi trường
GDMT là một phương pháp tiếp cận xuyên bộ môn giúp cho mọi ngườihiểu về môi trường với mục đích hàng đầu là chăm sóc phát triển và có thái độcam kết, thái độ này sẽ nuôi dưỡng niềm mong ước năng lực hành động có tráchnhiệm trong môi trường GDMT không chỉ kiến thức mà còn tình cảm, thái độ,
1.5.2.Tình hình GDMT trên thế giới [12]
Môi trường là một vấn đề đã và đang thu hút sự quan tâm của toàn thếgiới
Trang 28Lần đầu tiên trong lịch sử, vào năm 1948 tại cuộc họp Liên hiệp quốc vềbảo vệ MT và tài nguyên thiên nhiên ở Pari, thuật ngữ "GDMT" được sử dụng,tiếp sau đó ngày 5/6/1972, tại hội nghị Liên hiệp quốc ở Stôckhôm (Thụy Điển)
đã nhất trí nhận định: Việc bảo vệ thiên nhiên và môi trường là hai nhiệm vụhàng đầu của toàn nhân loại (cùng với nhiệm vụ bảo vệ hòa bình chống chiếntranh)
Cũng vì thế ngày 5/6 hàng năm trở thành "Ngày môi trường thế giới".Sau hội nghị Stôckhôm, ở nhiều nước, GDMT đã được đưa vào cáctrường đại học Đến năm 1973, người ta thấy có khoảng 1000 chương trình đượcgiảng dạy trong 750 trường và viện thuộc 70 nước khác nhau Tuy nhiên, mụcđích, nội dung của GDMT lúc đó chưa được xác định rõ ràng, phải đợi đến cáchội nghị quốc tế sau, vấn đề này mới được giải quyết và hoàn thiện
1.5.3.Tình hình GDMT ở Việt Nam [4]
Ở Việt Nam, từ năm 1966 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động phong trào
“Tết trồng cây” để giữ gìn và làm đẹp môi trường sống Cho đến nay phong tràovẫn được duy trì và phát triển mạnh mẽ
Năm 1991, Bộ giáo dục và đào tạo đã có chương trình trồng cây phát triểngiáo dục - đào tạo và bảo vệ môi trường (1991-1995)
Trong "Kế hoạch hành động quốc gia về môi trường và phát triển bềnvững của Việt Nam giai đoạn 1996-2000", GDMT được ghi nhận như một bộphận cấu thành
Đặc biệt gần đây nhất tháng 8-2004, Thủ tướng chính phủ đã ra quyếtđịnh số 153/2004/QĐ-TTg về việc ban hành định hướng chiến lược phát triểnbền vững ở Việt Nam
1.5.4.Mục tiêu giáo dục môi trường ở trường THPT [4], [21]
1.5.4.1.Kiến thức:
+ Nắm được những kiến thức cơ bản về môi trường, các yếu tố của môitrường và sự tác động qua lại giữa chúng với nhau
Trang 29+ Biết được vai trò của môi trường đối với con người và tác động của conngười đối với môi trường, giải thích được hiện tượng bất thường của môi trườngxảy ra trong tự nhiên.
+ Hiểu biết về luật pháp và các chủ trương chính sách của Đảng, Nhànước về BVMT
- Giúp học sinh có ý thức phê phán và thay đổi những thái độ không đúngđắn về môi trường
1.5.5 Mô hình của việc dạy và học trong GDMT [4], [8]
Việc dạy và học trong GDMT đang diễn ra trên toàn cầu theo một môhình sau
Trong mô hình đó, 3 khía cạnh GDMT luôn luôn tồn tại song song:
Giáo dục về môi trường Quan
Phát triển
Kinh nghiệm thực tế
Giáo dục vì
tâm môi trường
cá nhân
Hành động
Tri thức - Nhận thức
Kĩ năng - Thái độ Hành vi - Giải trí
Giáo dục trong môi trường (thông qua)
Trang 30* Giáo dục về môi trường: + Kiến thức, hiểu biết
- Hình thành khả năng suy nghĩ, nghe, nói, đọc, viết có sự phán xét Nhân
tố này hỗ trợ cho quá trình hình thành hành vi tốt, thái độ đúng đối với môitrường
- Hình thành thái độ quan tâm đến môi trường, khuyến khích sử dụng hợp
lí môi trường hôm nay và ngày mai
- Hình thành khả năng đánh giá, ra quyết định trước những vấn đề môitrường Phát triển khả năng lựa chọn những giải pháp có tính bền vững
- Thiết lập những giá trị đạo đức môi trường căn bản mà cá nhân sẽ phảiphấn đấu thực hiện suốt đời
* Giáo dục trong môi trường: + Phát huy tiềm năng
cố, phát triển tri thức, kĩ năng nghiên cứu tích cực
Trang 31- Đối với việc học sẽ kích thích hứng thú và óc sáng tạo nhờ tiếp xúc trựctiếp với môi trường phong phú đa dạng.
- Đối với việc dạy môi trường cung cấp một nguồn tư liệu và công cụ sưphạm vô tận
1.5.6 Các kiểu triển khai GDMT [8], [23]
1.5.6.1 Kiểu 1: GDMT thông qua chương trình giảng dạy của môn học trong nhà trường.
- Dạng 1: Nội dung chủ yếu của bài học, hay một phần môn học có sựtrùng hợp với nội dung GDMT
- Dạng 2: Một số nội dung của bài học hay một phần nhất định của mônhọc có liên quan trực tiếp tới nội dung GDMT
Ngoài ra ở một số phần nội dung của môn học, bài học khác, các ví dụ,bài tập, bài làm… Được xem như là một dạng vật liệu dùng để khai thác các vấn
1.5.6.2 Kiểu 2: GDMT được triển khai như một hoạt động độc lập
Về cơ bản cách tiến hành một hoạt động độc lập cần xác định chủ đề vềhình thức của hoạt động có thể chọn chủ đề và tổ chức theo các hình thức hoạtđộng như câu lạc bộ, tham quan, thực địa…
1.5.7 Một số hình thức phổ biến tổ chức các hoạt động GDMT
1.5.7.1 Hoạt động ở trên lớp
Trang 32Thông qua môn học trong chính khoá, có các biện pháp sau:
- Phân tích những vấn đề môi trường ở trong trường học
- Khai thác thực trạng môi trường đất, nước làm nguyên liệu để xây dựngbài học GDMT
- Xây dựng bài tập xuất phát từ kiến thức môn học, nhưng gắn liền vớithực tế địa phương
- Sử dụng các phương tiện dạy học làm nguồn tri thức được “vật chất hoá”như là điểm tựa, cơ sở để phân tích, tìm tòi, khám phá các kiến thức cần thiết vềmôi trường
- Sử dụng tài liệu tham khảo (các bài báo, các đoạn trích trong các sáchkhoa học, các tư liệu, số liệu mới điều tra, công bố, các ảnh mới chụp nhất…) đểlàm rõ thêm về vấn đề môi trường
- Thực hiện các tiết học có nội dung gần gũi với môi trường ở ngay chínhtrong một địa điểm thích hợp của môi trường, vườn trường, đồng ruộng, điểmdân cư tập trung…
1.5.7.2 Hoạt động ở ngoài lớp
- Báo cáo các chuyên đề về BVMT do các nhà khoa học, các kĩ thuật viênhay giáo viên chuyên đề về môi trường trình bày
- Thực địa tìm hiểu vấn đề bảo vệ môi trường ở địa phương
- Tham gia tuyên truyền, vận động thực hiện bảo vệ môi trường
- Tham gia các chiến dịch xanh hoá trong nhà trường: trồng cây, quản lí
và phân loại rác thải…
- Tham quan cắm trại, trò chơi, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về môitrưòng
- Theo dõi diễn biến của môi trường tại địa phương
- Tổ chức câu lạc bộ, thành lập các nhóm hoạt động bảo vệ môi trường
- Xây dựng dự án và thực hiện
- Hoạt động phối hợp với gia đình, nhà trường, cộng đồng xã hội
1.5.8 Nội dung GDMT ở trường phổ thông
Trang 331.5.8.1 Các nội dung cơ bản
- Khái niệm về hệ sinh thái và môi trường
- Các thành phần cấu tạo môi trường và các tài nguyên
- Khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên môi trường
- Các nguồn năng lượng với vấn đề môi trường
- Ô nhiễm môi trường, chất thải
- Các vấn đề gay cấn của môi trường toàn cầu (sự nóng lên toàn cầu, suygiảm tầng ozon, elnino )
- Sự suy giảm đa dạng sinh học
- Dân số môi trường và sự phát triển bền vững
Bài 20 Mở đầu về Hoá
Kiến thức: Hiểu được:
- Chất hữu cơ là thành phần của môi trường tựnhiên
Trang 34học Hữu cơ - Các phương pháp phân tích để xác định nguyên
tố trong hợp chất hữu cơ trong môi trường tựnhiên
Kĩ năng: Xác định thành phần nguyên tố tronghợp chất hữu cơ
- Củng cố: các chất hữu cơ đều do C và H …tạonên
- Biết phương pháp tiến hành thí nghiệm xácđịnh C, H trong thành phần chất hữu cơ
- Biết kĩ thuật tiến hành thí nghiệm điều chế vàthử tính chất metan
- Xác định được thành phần chính của chất hữu
- Nguyên liệu quan trọng của tổng hợp hữu cơ làetilen, axetilen và đồng đẳng
- Sự biến đổi các chất thành các vật liệu như PE,PVC, Cao su…
Trang 35- Nhận biết một số chất thuộc loại anken, ankin.
- Xử lí chất thải sau thí nghiệm điều chế và tínhchất của etilen
- Benzen có độc tính có thể gây ung thư
- Sự biến đổi của benzen thành các chất khác
Kĩ năngChú ý xử lí chất thải sau thí nghiệm
Kiến thức: Biết được
- Thành phần hoá học của nguồn hidrocacbontrong thiên nhiên: Dầu mỏ, khí thiên nhiên, khí
Trang 36- Xử lí chất thải sau thí nghiệm.
Chương 9
Andehit – Xeton – Axit
cacboxylic
Bài 44; bài 45
Kiến thức: Hiểu được
- Sự biến đổi các chất từ tự nhiên thành các chấtnhân tạo
- Nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường
Kĩ năng -Nhận biết các chất cụ thể
- Xử lí chất thải sau thí nghiệm
Bài 47;
Bài thực hành: Tính chất
của anđehit và axit
cacboxylic
Kiến thức: Hiểu được
- Nguyên nhân, tính chất, ứng dụng, điều chế củamột số chất trong môi trường tự nhiên và nhântạo
- Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường
Kĩ năng
- Nhận biết các chất cụ thể
- Xử lí chất thải sau thí nghiệm
Lớp 12Chương 1 Este – Lipit
Bài 4 Chất giặt rửa
Kiến thức: Hiểu được-Thành phần tính chất của xà phòng, chất giặtrửa tổng hợp để sử dụng hợp lí, hiệu quả trongviệc làm sạch quần áo, làm sạch môi trường
- Một số chất giặt rửa tổng hợp có chứahidrocacbon phân nhánh gây ô nhiễm môi trường
vì chúng không bị vi sinh vật phân huỷ
Trang 37Kĩ năng
- Biết sử dụng xà phòng, chất tẩy rửa hợp lí, phùhợp với loại nước, chống ô nhiễm môi trường.Chương 2 Cacbonhidrat
- Vấn đề chống ô nhiễm môi trường trong sảnxuất đường, sản xuất giấy, sản xuất rượu bia…
- Quá trình quang hợp của cây xanh: Hút khíCO2 và H2O tạo thành tinh bột góp phần đảm bảocân bằng môi trường
Kĩ năng
- Bảo quản đường, ngũ cốc hợp lí bảo đảm vệsinh an toàn thực phẩm
- Sử dụng bảo quản đồ dùng bằng tre, gỗ
- Biết trồng và chăm sóc cây xanh, sử dụng câyxanh một cách hợp lí
Kĩ năngNhận biết được một số chất trong thành phầnmôi trường tự nhiên
Chương 3 Amin Amino
axit và Protein
Bài 13 Amin
Bài 14 Amino axit
Bài 15 Protein
Kiến thức: Biết được
- Thành phần tính chất của một số chất trong môitrường tự nhiên Thí dụ trong thuốc lá có nicotin,trong cá mè có nhiều trimetylamin có mùi tanh…
- Thành phần tính chất của protein - Một chất là
Trang 38thành phần chính trong cơ thể người, động vật.
- Thu thập thông tin về polime
- Đề xuất xử lí rác thải làm bằng polime
Kĩ năng:
- Thu thập các thông tin, xử lí thông tin về vật
Trang 39liệu polime tự nhiên và nhân tạo.
- Đề xuất sử dụng phế thải hoặc tiêu huỷ mộtcách hợp lí
1.6 PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG
1.6.1 Phương pháp tiếp cận
- Tích hợp các kiến thức về giáo dục BVMT vào môn học theo mức độ:toàn phần, bộ phận và mức độ liên hệ
- Thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp và các chủ đề tự chọn
- Thông qua hoạt động ngoại khóa
1.6.2 Phương pháp thực nghiệm
- Phương pháp hành dộng cụ thể trong các hoạt động từng chủ đề được tổchức trong trường học, địa phương
- Phương pháp liên quan, điều tra khảo sát, thực địa
- Phương pháp thảo luận, nêu và giải quyết vấn đề
- Giảng giải, giải thích - minh họa, sử dụng các tờ rơi
- Phương pháp dạy học thực nghiệm
- Phương pháp hợp tác và liên kết giữa các nhà trường và cộng đồng địaphương trong hoạt động về GDMT
1.6.3 Sử dụng bài tập có liên quan đến thực tiễn trong giáo dục BVMT 1.6.3.1 Khái niệm về bài tập hóa học
Bài tập hoá học đó là một dạng bài làm gồm những bài toán, những câuhỏi hay đồng thời cả bài toán và cả câu hỏi, mà trong khi hoàn thành chúng, họcsinh nắm được một tri thức hay kỹ năng nhất định hoặc hoàn thiện chúng
1.6.3.2 Ý nghĩa tác dụng của bài tập hoá học
a) Ý nghĩa trí dục
- Làm chính xác hoá các khái niệm hoá học Củng cố, đào sâu và mở rộngkiến thức một cách sinh động, phong phú, hấp dẫn Chỉ khi vận dụng được kiếnthức vào giải bài tập thì học sinh mới thực sự nắm được kiến thức một cách sâusắc
Trang 40- Ôn tập, hệ thống hoá kiến thức một cách tích cực nhất Khi ôn tập họcsinh dễ rơi vào tình trạng buồn chán nếu chỉ yêu cầu họ nhắc lại kiến thức Thực
tế cho thấy học sinh rất thích giải bài tập trong các tiết ôn tập
- Rèn luyện kỹ năng hoá học như cân bằng phương trình phản ứng, tínhtoán theo công thức hoá học và phương trình hoá học… nếu là bài tập thựcnghiệm sẽ rèn các kỹ năng thực hành, góp phần vào việc giáo dục kỹ thuật tổnghợp cho học sinh
- Rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống lao độngsản xuất bảo vệ môi trường
- Rèn luyện kỹ năng sử dụng ngôn ngữ hoá học và các thao tác tư duy Bàitập hoá học là một phương tiện có tầm quan trọng đặc biệt trong việc phát triển
tư duy hoá học của học sinh, bồi dưỡng cho học sinh phương pháp nghiên cứukhoa học Bởi vì giải bài tập hoá học là một hình thức làm việc tự lực căn bảncủa học sinh Trong thực tiễn dạy học, tư duy hoá học được hiểu là kỹ năngquan sát hiện tượng hóa học, phân tích một hiện tượng phức tạp thành những bộphận thành phần, xác lập mối liên hệ định lượng và định tính của các hiệntượng, đoán trước hệ quả lý thuyết và áp dụng kiến thức của mình Trước khigiải bài tập học sinh phải phân tích điều kiện của đề tài, tự xây dựng các lậpluận, thực hiện việc tính toán, khi cần thiết có thể tiến hành thí nghiệm, thựchiện phép đo… Trong những điều kiện đó, tư duy logic, tư duy sáng tạo của họcsinh được phát triển, năng lực giải quyết vấn đề được nâng cao
b) Ý nghĩa phát triển
Phát triển ở học sinh năng lực tư duy logic, biện chứng khái quát, độc lậpthông minh và sáng tạo Cao hơn mức rèn luyện thông thường, học sinh phảibiết vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo để giải quyết bài tập trong những tìnhhuống mới, hoàn cảnh mới, biết đề xuất đánh giá theo ý kiến riêng bản thân, biết
đề xuất các giải pháp khác nhau khi phải xử lý một tình huống… thông qua đó,bài tập hoá học giúp phát hiện năng lực sáng tạo của học sinh để đánh giá, đồngthời phát huy được năng lực sáng tạo cho bản thân