Đánh giá được tầm quan trọng của công tácgiáo dục thể chất, ngày 24/03/1995 Ban Bí Thư Trung ương Đảng đã ra chỉthị 36 CT/TW “về công tác TDTT trong giai đoạn mới” và ngày01/08/1994 Bộ g
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH Khoa gi¸O dôC thÓ chÊT
-KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
LùA chäN méT sè bµI tËP nh»M kh¾C phôC nh÷NG sai lÇM th¦êNG m¾C trong häc kü thuËT nh¶Y cao kiÓU n»M nghiªNg cho häC sinh
Trang 2LờI CảM ƠNTôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Giảng viên – Th.sNguyễn Quốc Đảng ngời hớng dẫn chỉ đạo giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luậntốt nghiệp cuối khóa này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa GDTC, khoaGDQP – trờng Đại học Vinh, cùng các bạn sinh viên K48 – GDQP đã tạomọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài này
Và qua đây tôi gửi lời cảm ơn đến tất cả bạn bè, đồng nghiệp đã độngviên khích lệ giúp đỡ tận tình cho tôi trong quá trình nghiên cứu, thu thập xử
lý số liệu của đề tài
Dù đã cố gắng hết sức mình nhng điều kiện về thời gian cũng nh trình
độ còn hạn chế, đề tài mới chỉ bớc đầu nghiên cứu trong phạm vi hẹp nênkhông tránh khỏi những sai sót nhất định Vậy rất mong đợc sự đóng góp ýkiến của các thầy cô cùng các bạn
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Vinh, tháng 05/ 2011
Lờ Xuõn Cảnh
Trang 3Môc lôc
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Đặc điểm giải phẫu sinh lý lứa tuổi trung học phổ thông. 4
1.2 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi trung học phổ thông. 6
1.3 Cơ sở lý luận của giảng dạy kỹ thuật động tác 7
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 10
2.1 Phương pháp nghiên cứu 10
2.1.1 Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu có liên quan 10
2.1.2 Phương pháp phỏng vấn tọa đàm 10
2.1.3 Phương pháp quan sát sư phạm 10
2.1.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 11
2.1.5 Phương pháp sử dụng test kiểm tra 11
2.1.6 Phương pháp toán thống kê 11
2.2 Tổ chức nghiên cứu 12
2.2.1 Thời gian nghiên cứu 12
2.2.2 Đối tượng nghiên cứu 13
2.2.3 Địa điểm nghiên cứu 13
CHƯƠNG 3: KÕT QUẢ NGHIÊN CỨU 14
3.1 Xác định những sai lầm thường mắc và nguyên nhân dẫn đến sai lầm khi học kỹ thuật nhảy cao kiểu nằm nghiêng. 14
3.1.1 Nguyên lý kỹ thuật 14
3.1.2 Kỹ thuật nhảy cao kiểu nằm nghiêng 15
3.1.3 Các phương pháp giảng dạy 18
Trang 43.1.4 Xác định những sai lầm thường mắc khi học kỹ thuật nhảy cao kiểu
nằm nghiêng và nguyên nhân dẫn đến sai lầm đó 19
3.2 Lựa chọn một số bài tập nhằm khắc phục những sai lầm thường mắc trong học tập kỹ thuật nhảy cao kiểu nằm nghiêng. 28
3.2.1 Lựa chọn một số bài tập nhằm khắc phục những sai lầm thường mắc trong học tập kỹ thuật nhảy cao kiểu nằm nghiêng 28
3.2.2 Tiến hành thực nghiệm 35
CHƯƠNG IV KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 49
1 Kết luận 49
2 Kiến nghị 50
DANH MỤC TÀI TIỆU THAM KHẢO 51
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
GDQP : Gi¸o dôc quốc phòng
Trang 6ĐẶT VẤN ĐỀ
Con người và sức khỏe là hai nhân tố cấu thành một hệ thống giáodục có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Con người vừa là mục tiêu giáo dụcvừa là động lực phát triển kinh tế - xã hội vì thế giáo dục trở thành độnglực chủ yếu của sự phát triển Đánh giá được tầm quan trọng của công tácgiáo dục thể chất, ngày 24/03/1995 Ban Bí Thư Trung ương Đảng đã ra chỉthị 36 CT/TW “về công tác TDTT trong giai đoạn mới” và ngày01/08/1994 Bộ giáo dục và đào tạo đã ra chỉ thị 36-CT/TW, dựa trên quanđiểm: “mục tiêu cơ bản lâu dài của công tác TDTT là hình thành nềnTDTT phát triển và tiến bộ, góp phần nâng cao sức khỏe thể lực, đáp ứngnhu cầu văn hóa, tinh thần của nhân dân” trước mắt là thực hiện giáo dụcthể chất trong tất cả các trường học, làm cho việc luyện tập TDTT trởthành nếp sống hằng ngày của hầu hết học sinh và toàn thể nhân dân cảnước
Văn kiện đại hội IX của Đảng cũng đã chỉ rõ: Giáo dục và đào tạokhoa học công nghệ phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu… trang bịcho thế hệ trẻ đi vào thế kỷ XXI… “Sự cường tráng về thể chất là nhu cầucủa bản thân con người, đồng thời là vốn quý để tạo ra tài sản trí tuệ và vậtchất cho xã hội, chăm lo cho con người về thể chất là trách nhiệm của toàn
xã hội, của các cấp, các ngành, các đoàn thể”
Lời Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợiích trăm năm trồng người” Nâng cao sức khỏe con người là vấn đề trọngtâm của mọi quốc gia, ở Việt Nam nói riêng và tất cả các nước trên thế giớinói chung Vì vậy Bác Hồ, Đảng và Nhà nước ta đã luôn coi trọng đến việcphát triển thể chất của con người Việt Nam, đặc biệt là các tầng lớp nhândân trong xã hội và thế hệ trẻ
Trang 7Trong thời đại ngày nay, giáo dục thể chất trở thành một yếu tố quantrọng nhằm đào tạo con người phát triển toàn diện Vấn đề đặt ra đối vớingành TDTT cũng như ngành giáo dục nước ta là phải làm sao để nâng caochất lượng giáo dục thể chất trong nhà trường và để đáp ứng tình hình pháttriển TDTT đến năm 2015, Đảng đã xác định phương hướng, nhiệm vụphát triển của TDTT là: “Đẩy mạnh hoạt động TDTT nâng cao thể trạngtầm vóc của người Việt Nam, phát triển phong trào TDTT quần chúng vớimạng cơ sở rộng khắp, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ vận động viên thành tíchcao đưa thể thao Việt Nam lên trình độ chung trong khu vực Đông Nam Á
và có vị trí cao trên trường quốc tế”
Điền kinh giữ vị trí chủ yếu trong chương trình giáo dục thể chất ởtrong nhà trường Phong trào tập luyện và thi đấu các môn điền kinh ngàymột gia tăng và đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ trên đấu trườngquốc tế cũng như khu vực, điền kinh là một trong những môn thể thao rấtgần gũi với hoạt động hàng ngày của con người, nó bắt nguồn từ các hoạtđộng của con người như lao động và chiến đấu, nên đã thu hút được rấtnhiều người tham gia tập luyện Tập luyện điền kinh không những nângcao sức khỏe cho người tập mà còn là cơ sở để phát triển các tố chất như:nhanh- mạnh- bền- khéo léo
Bộ môn điền kinh gồm nhiều môn, trong đó môn nhảy cao kiểu nằmnghiêng là môn không thể thiếu được trong chương trình học thể dục ở cáctrường THPT Để có sự tập luyện và tiếp thu kỹ thuật một cách tốt nhất thìgiáo viên, huấn luyện viên phải biết tìm ra những sai lầm thường mắc,nguyên nhân dẫn đến những sai lầm đó, có như vậy mới xây dựng đượcnhững bài tập để khắc phục việc giảng dạy điền kinh ở các trường THPTtrong điều kiện cơ sở vật chất còn thiếu thốn, phương tiện tập luyện cònthô sơ đơn giản, học sinh chưa có tính tự giác cao đã làm hạn chế một phần
Trang 8đến sự phát triển thể chất, thành tích học tập của các em,đặc biệt là nhữngsai lầm những sai lầm đó mà không phát hiện và sửa chữa kịp thời sẽ dẫnđến những cố tật khó sửa và ảnh hưởngđến thành tích sau này Vì vậy, vấn
đề đặt ra cho chúng tôi là nghiên cứu và đưa ra một số bài tập nhằm khắcphục những sai lầm thường mắc cho các em nhằm nâng cao thành tíchnhảy cao kiểu nằm nghiêng trong chương trình giảng dạy
Xuất phát từ những mục đích trên và để làm phong phú nâng caochất lượng giảng dạy môn nhảy cao, tôi mạnh dạn đi vào nghiên cứu đề tài:
“Lựa chọn một số bài tập nhằm khắc phục những sai lầm thường mắc trong học kỹ thuật nhảy cao kiểu nằm nghiêng cho nam học sinh lớp
10 THPT Nguyễn Du – Hà Tĩnh”.
Mục tiêu nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và tực tiễn, qua quá trình sử dụng cácphương pháp khoa học đề tài nghiên cứu với 2 mục tiêu:
1 Thực trạng những sai lầm thường mắc và nguyên nhân dẫn đến sai lầm khi học kỹ thuật nhảy cao kiểu nằm nghiêng.
2 Lựa chọn một số bài tập nhằm khắc phục những sai lầm thường mắc trong học tập kỹ thuật nhảy cao kiểu nằm nghiêng.
Trang 9CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Đặc điểm giải phẫu sinh lý lứa tuổi trung học phổ thông.
Lứa tuổi trung học phổ thông là lứa tuổi đầu thanh niên, là thời kỳđạt được sự trưởng thành về mặt thể lực, nhưng sự phát triển cơ thể cònkém so với sự phát triển cơ thể của người lớn Có nghĩa là ở lứa tuổi này
cơ thể các em đang phát triển mạnh, khả năng hoạt động của các cơ quan
và các bộ phận cơ thể được nâng cao Cụ thể là :
* Hệ vận động.
- Hệ xương: Ở lứa tuổi này phát triển một cách đột ngột về chiều
dài, độ dày, đàn tính xương giãn, độ giảm xương do hàm lượng Magie,photpho, canxi trong xương tăng Quá trình cốt hóa xương ở các bộ phậnchưa hoàn tất Chỉ xuất hiện ở một số bộ phận cơ ( cột xương sống ) Các
tổ chức sụn được thay thế bằng mô xương nên cùng với sự phát triển chiềudài của xương cột sống thì khoảng cách biến đổi của cột sống không giảm
mà trái lại tăng lên có xu hướng cong vẹo Vì vậy trong quá trình giảng dạycần tránh cho học sinh tập luyện với dụng cụ có trọng tải quá nặng và cáchoạt động gây chấn động quá mạnh
- Hệ cơ: Ở lứa tuổi này cơ của các em phát triển với tốc độ nhanh để
đi đến hoàn thiện, nhưng phát triển không đều và chậm hơn so với hệxương Cơ to phát triển nhanh hơn so với cơ nhỏ, cơ chi trên phát triểnnhanh hơn so với cơ chi dưới Khối lượng cơ tăng lên rất nhanh, đàn tính
cơ tăng lên không đều, chủ yếu nhỏ và dài Do vậy khi cơ hoạt động dẫnđến chóng mệt mỏi Vì vậy khi tập luyện giáo viên giảng dạy cần chú ýphát triển cơ bắp cho các em
Trang 10* Hệ thần kinh.
Ở lứa tuổi này hệ thống thần kinh trung ương đã khá hoàn thiện,hoạt động phân tích trên võ não về tri giác có định hướng sâu sắc hơn Khảnăng nhận hiểu cấu trúc động tác và tái hiện chính xác hoạt động vận độngđược nâng cao Ngay từ tuổi thiếu niên đã diễn ra quá trình hoàn thiện cơquan phân tích và những chức năng vận động quan trọng nhất, nhất là cáccảm giác bản thể trong điều kiện động tác Ở lứa tuổi này học sinh khôngchỉ học các học phần động tác đơn lẻ như trước ( chạy, nhảy, bật, bay vàchạm đất khi nhảy, ném tại chỗ và có đà….) mà chủ yếu là từng bước hoànthiện những phần đã học trước thành các liên hợp động tác tương đối hoànchỉnh, ở các điều kiện khác nhau, phù hợp với từng đặc điểm của học sinh
Vì vậy khi giảng dạy cần thay đổi nhiều hình thức tập luyện, vận dụng cáchình thức trò chơi, thi đấu để hoàn thành tốt những bài tập đã đề ra
* Hệ hô hấp.
Ở lứa tuổi này phổi các em phát triển mạnh nhưng chưa đều,khung ngực còn nhỏ, hẹp nên các em thở nhanh và nông, không có sự ổnđịnh của dung tích sống, không khí, đó chính là nguyên nhân làm cho tần
số hô hấp của các em tăng cao khi hoạt động và gây nên hiện tượng thiếuôxy, dẫn đến mệt mỏi
* Hệ tuần hoàn.
Ở lứa tuổi này hệ tuần hoàn đang trên đà phát triển mạnh để kịpthời phát triển toàn thân, tim lớn hơn, khả năng co bóp của cơ tim pháttriển, do đó nâng cao khá rõ lưu lượng máu/ phút Mạch lúc bình thườngchậm hơn ( tiết kiệm hơn), nhưng khi vận động căng thì tần số nhanh hơn.Phản ứng của tim đối với các lượng vận động thể lực đã khá chính xác, timtrở nên dẻo dai hơn
Trang 11Từ những đặc điểm tâm lý để lựa chọn một số bài tập bổ trợ trên cănbản khối lượng, cường độ phù hợp với lứa tuổi học sinh trung học phổthông, đặc biệt khi áp dụng các bài tập bổ trợ cần căn cứ vào đặc điểm thểlực phù hợp với khối lượng vận động Đồng thời điều chỉnh thời gian tậpluyện cho phù hợp tâm sinh lý của học sinh để cho quá trình giảng dạy đạtkết quả cao, giúp cho học sinh trở thành con người phát triển toàn diện vềthể chất, tinh thần Đồng thời nâng cao kết quả học tập và phần nào lôicuốn các em hăng say tham gia tập luyện và thi đấu ở trường phổ thông
1.2 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi trung học phổ thông.
Ở lứa tuổi này quá trình tăng trưởng cơ thể của các em chưa kếtthúc Mặc dù hoạt động thần kinh cao cấp của các em đã đến lúc phát triểncao, nhưng ở một số em phần nào hưng phấn cũng mạnh hơn ức chế, dễ cónhững phản ứng thiếu kìm hãm cần thiết, do đó dễ làm rối loạn sự phốihợp vận động Tính tình, trạng thái tâm lý ở lứa tuổi này cũng hay thay đổi
có lúc rất tích cực, hăng hái, nhưng có lúc lại buồn chán tiêu cực Ở tuổinày các em còn hay đánh giá quá cao năng lực của mình, mới chạy bao giờcũng dốc hết sức ngay, mới tập tạ bao giờ cũng muốn cử tạ nặng ngay, các
em thường ít chú ý khởi động đầy đủ, như thế rất dễ tốn sức, hay xảy rachấn thương và chính điều đó đôi lúc làm ảnh hưởng không tốt trong tậpluyện thể dục thể thao
Nguyên lý phát triển trong triết học Mác – Lênin thừa nhận, sựphát triển là quá trình biến đổi của sự vật từ thấp đến cao, từ đơn giản đếnphức tạp Đó là quá trình nảy sinh cái mới trên cơ sở cái cũ do sự đấu tranhgiữa các mặt đối lập nằm ngay trong bản thân sự vật hiện tượng Sự pháttriển tâm lý gắn liền với sự xuất hiện những đặc điểm mới về chất nhữngcấu tạo tâm lý mới ở những giai đoạn lứa tuổi nhất định Như vậy, sự phát
Trang 12triển tâm lý của con người gắn liền với sự hoạt động của con người trongđời sống thực tiễn phụ thuộc chủ yếu vào một dạng hoạt động chủ đạo.
Vì vậy, khi tiến hành công tác giáo dục thể chất cho các em ở lứatuổi này không chỉ yêu cầu học sinh thực hiện đúng, nhanh những bài tậpdưới sự chỉ dẫn trực tiếp của giáo viên mà còn phải chú ý, uốn nắn, luônnhắc nhở và chỉ đạo, định hướng và động viên các em hoàn thành nhiệm
vụ, kèm theo khen thưởng để có sự khuyến khích động viên, nói cách khácphải dạy các em biết cách học, tự rèn luyện thân thể
Bên cạnh đó trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần phải độngviên, khuyến khích các em học kém, còn tiếp thu chậm, phải khuyến khíchhướng dẫn các em tập luyện tốt, lấy động viên thuyết phục là phương phápchính, chứ không phải là gò ép, đe dọa Qua đó tạo được hứng thú trongtập luyện để tạo nên sự phát triển cân đối với từng học sinh và góp phầngiáo dục cho các em thành người có tính kiên cường, biết tự kiềm chế và
có ý chí
1.3 Cơ sở lý luận của giảng dạy kỹ thuật động tác
Giảng dạy kỹ thuật thể thao kỹ thuật toàn bộ tất cả các biện pháp cómục đích, có tổ chức nhằm làm cho học sinh có khả năng tiến hành cácđộng tác thể thao bằng một kỹ thuật được nắm vững một cách có phối hợp
và thích hợp
Kỹ thuật các môn thể thao nói chung cũng như kỹ thuật các môn điềnkinh nói riêng là hệ thống chuyên môn của các động tác tiến hành đồng thời vàtuần tự theo phương hướng tổ chức hợp lý hoạt động tương hỗ giữa lực bên trong
và bên ngoài với mục đích tận dụng đầy đủ và hiệu quả những lực ấy để đạt thànhtích cao Như vậy nắm vững kỹ thuật môn điền kinh trước hết cần nắm cách dùnglực chính xác dẫn tới sự duy chuyển hợp lý trong không gian, thời gian của cơ thể.Nghiên cứu kỹ thuật môn điền kinh cần phải dựa vào nguyên lý kỹ thuật chung cơ
Trang 13bản cơ bản hơn là phải dựa vào nguyên lý lực học và đặc điểm bản thân để tìmphương pháp thực hiện hợp lý nhất, hiệu quả nhất cho học sinh.
Cơ sở sinh lý của nắm vững kỹ thuật là kết quả lặp lại nhiều lần tạo rađường liên hệ tạm thời và hình thành phản xạ có điều kiện
Quá trình của hệ thần kinh tạo điều kiện hoàn thành những động táctheo yêu cầu đã đề ra, hình thành thói quen
Từ cơ sở lý luận giảng dạy kỹ thuật động tác phân chia thành 3 giaiđoạn tương ứng với 3 giai đoạn hình thành kỹ năng kỹ xảo vận động
- Giai đoạn giảng dạy ban đầu:
Mục đích của giai đoạn này là dạy học các nguyên lý kỹ thuật động tác,hình thành kỹ năng thực hiện nó, để đạt được mục đích trên cần phải giải quyếtcác nhiệm vụ sau:
+ Tạo khái niệm chung về động tác và tư thế tâm thu tốt để tiếp thu kỹthuật động tác
+ Ngăn ngừa và loại trừ những cử động không cần thiết
+ Hình thành nhịp điệu chung của động tác
- Giai đoạn giảng dạy đi sâu chi tiết:
Mục đích giảng dạy của giai đoạn này là đưa trình độ tiếp thu ban đầucòn “thô thiển” đối với kỹ thuật động tác lên mức tương đối hoàn thiện Nếu banđầu còn chủ yếu tiếp thu cơ sở kỹ thuật thì ở giai đoạn này phải tiếp thu chi tiết kỹthuật đó Nhiệm vụ cơ bản của giai đoạn này:
+ Cần có sự chính xác hóa kỹ thuật động tác theo các đặc tính khônggian, thời gian, nhiều động lực của nó sao cho tương ứng với đặc điểm người tập
+ Hoàn thiện nhịp điệu động tác, thực hiện nhịp điệu động tác tự nhiên,liên tục
+ Tạo điều kiện để thực hiện động tác biến dạng
- Giai đoạn hoàn thiện kỹ thuật:
Trang 14Mục đích của giai đoạn này là đã đảm bảo cho người tập tiếp thu và vậndụng các động tác hoàn thiện trong thực tế Nhiệm vụ của giai đoạn này là:
+ Củng cố kỹ xảo đã có về kỹ thuật động tác
+ Mở rộng biến dạng các kỹ thuật động tác để có thể thực hiện nó hợp lýtrong các điều kiện khác nhau, lúc nào cũng phải biểu hiện các tố chất thể lực ởmức độ cao
+ Hoàn thiện sự cá biệt hóa kỹ thuật động tác cho phù hợp với đặc điểmnăng lực cá nhân
Tóm lại: Trong quá trình giảng dạy kỹ thuật động tác phải chú ý đến kỹthuật động tác để lựa chọn các bài tập và sử dụng các phương pháp giảng dạyđộng tác Việc lựa chọn các bài tập cũng như việc sử dụng các phương pháp giảngdạy phù hợp với đặc điểm người tập thì giảng dạy mang lại hiệu quả cao
Trang 15CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
2.1 Phương pháp nghiên cứu
2.1.1 Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu có liên quan
Phương pháp này chúng tôi đã sử dụng trong quá trình nghiên cứu nhằmmục đích thu thập thông tin qua đọc, phân tích và tổng hợp tài liệu các tài liệu liênquan như: Sách lý luận và phương pháp giáo dục thể chất, Sinh lý học TDTT, Sáchgiáo khoa điền kinh, Sách phương pháp nghiên cứu KHTDTT, Các tài liệu nói vềcác bài tập môn nhảy cao Tham khảo kết hợp ghi chép các vấn đề có liên quan để
có thể đưa ra các kết luận quan trọng và bổ ích phục vụ cho hướng nghiên cứu Nógiúp ích rất lớn cho bản thân để đề ra phương hướng nghiên cứu cũng như các cơ
sở khoa học về việc giải quyết các vấn đề một cách khoa học
2.1.2 Phương pháp phỏng vấn tọa đàm
Đây là phương pháp để thu thập thông tin cần thiết có tính sát thựcvới thực tiễn tập luyện, bằng cách trao đổi, phỏng vấn, tọa đàm trực tiếphoặc gián tiếp giữa nhà chuyên môn với cá nhân, các thầy cô giáo cóchuyên môn, kinh nghiệm về các vấn đề nhà nghiên cứu quan tâm
2.1.3 Phương pháp quan sát sư phạm
Quan sát là phương pháp tự giác có mục đích một hiện tượng giáodục nào đó, để thu thập những thông tin, số liệu, tài liệu, sự kiện cụ thể đặctrưng cho quá trình biểu diễn của hiện tượng đó
Vì vậy việc sử dụng phương pháp quan sát sư phạm hàng ngày đểthu thập những thông tin, chỉ số, những sự kiện diễn ra trên cơ thể ngườitập dưới tác động của bài tập Nhằm đưa ra những biện pháp giáp dục mộtcách nhanh chóng, phù hợp, kịp thời và đạt kết quả cao
Trang 162.1.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Phương pháp này được tiến hành theo phương pháp thực nghiệm sosánh song song Trong quá trình nghiên cứu chia làm 2 nhóm, mỗi nhóm
20 người có cùng lứa tuổi, cùng giới tính, cùng thời gian tập luyện 2buổi/tuần, mỗi buổi 20 phút, thời gian tập trong 8 tuần = 16 buổi
2.1.5 Phương pháp sử dụng test kiểm tra
Đây là phương pháp sử dụng các bài tập đánh giá sức mạnh bột phát
đã được thừa nhận trong thể dục thể thao mà các nhà nghiên cứu khoa học
sử dụng thành công, hiệu quả để đánh giá thành tích của người tập
Trong khi nghiên cứu những sai lầm thường mắc của nam học sinh lớp
10, trường THPT Nguyễn Du (Nghi Xuân – Hà Tĩnh) chúng tôi sử dụng cácbài tập được thừa nhận trong thực tế TDTT Bao gồm các test sau:
- Chạy 30m xuất phát cao
- Bật xa tại chỗ
- Kỹ thuật nhảy cao kiểu nằm nghiêng
2.1.6 Phương pháp toán thống kê
Các số liệu thu được kể cả nhóm thực hiện và nhóm đối chứng cũng nhưviệc kiểm chứng kết quả lựa chọn các nguyên tắc xây dựng bài tập Chúng tôi sửdụng phương pháp toán học thống kê để đánh giá chính xá số liệu liên quan Từ
đó kiểm chứng lại và đưa ra kết luận tránh được tính chủ quan trong quá trìnhnghiên cứu và làm tăng thêm độ tin cậy cho quá trình nghiên cứu
Để xử lý kết quả nghiên cứu, trong đề tài này chúng tôi sử dụng cáccông thức toán học thống kê sau:
- Công thức tính giá trị trung bình:
X = 1
n i i X n
Trong đó: X : giá trị trung bình cộng
Trang 17X i : giá trị thành tích từng cá thể n: tổng số lượng cá thể
- Công thức tính phương sai (x2): x2 = 1( )2
1
n i i
2.2.1 Thời gian nghiên cứu
Đề tài này được nghiên cứu từ ngày 10/11/2010 đến ngày20/05/2011
Giai đoạn 1: Từ ngày 10/11/2010 đến ngày 30/01/2011 đọc tài liệu,tổng hợp, phân tích tài liệu và xây dựng đề cương
Trang 18Giai đoạn 2: Từ ngày 30/01/2011 đến ngày 30/04/2011 thu thập, tínhtoán xử lý số liệu và phân tích các số liệu thu được, giải quyết các mục tiêunghiên cứu.
Giai đoạn 3: Từ ngày 30/04/2011 đến ngày 20/05/2011 hoàn thànhluận văn
2.2.2 Đối tượng nghiên cứu
Nam học sinh lớp 10 trường THPT Nguyễn Du- Hà Tĩnh
2.2.3 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu tại trường Đại học Vinh và trường THPT Nguyễn
Du-Hà Tĩnh
Trang 19CHƯƠNG 3: KếT QUẢ NGHIấN CỨU
3.1 Thực trạng những sai lầm thường mắc và nguyờn nhõn dẫn đến sai lầm khi học kỹ thuật nhảy cao kiểu nằm nghiờng
3.1.1 Nguyờn lý kỹ thuật.
Để tỡm ra những sai lầm thường mắc và nguyờn nhõn dẫn tới nhữngsai lầm đú, phải nắm vững được cỏc yếu lĩnh của kỹ thuật nhảy cao kiểunằm nghiờng Đõy là một kỹ thuật phức tạp và khú đối với người tập
Theo cơ học, độ cao của một vật đợc bắn trong không gian hợp vớimặt phẳng nằm ngang một góc Đợc tính theo công thức:
H =
2 2
0 sin 2
V g
Trong thực tế môn nhảy cao, để đa cơ thể vợt qua xà ở mức độ nào
đó thì độ cao của trọng tâm cơ thể đợc tính theo công thức trên Qua côngthức trên, ta thấy độ cao của tổng trọng tâm cơ thể tỷ lệ thuận với độ lớncủa giá trị V0 và sin2 và tỷ lệ nghịch của gia tốc rơi tự do g(glà hằng số
không đổi) cho nên hai yếu tố V0 và quyết định trọng tâm cơ thể khibay, độ cao này quyết định đến thành tích lần nhảy Ngoài ra độ cao củatrọng tâm cơ thể khi bay còn phụ thuộc vào độ cao của trọng tâm cơ thể tr-
ớc khi bay dẫn đến sự thay đổi của trọng tâm cơ thể khi bay Độ cao đó đợctính theo công thức sau:
H =
2 2
0 sin 2
V
g
+ h0
h0: Độ cao trọng tâm cơ thể trớc khi bay
Do đó khi chọn VĐV nhảy cao, phải xét về mặt di truyền, giải phẫucơ thể của VĐV l bà b ớc đầu, họ càng cao thì càng có lợi cho thành tích lầnnhảy bởi vì h0 là cái có sẵn của VĐV Nếu cùng một chiều cao h0 đó màVĐV vận dụng V0 và sin2 kém thì thành tích lần nhảy thấp
Trang 20Nh vậy, trong nhảy cao các yếu tố V0 và , độ cao của trọng tâmcơ thể trớc khi bay là yếu tố ảnh hởng đến độ cao của tổng trọng tâm cơ thểkhi bay Song hai yếu tố tốc độ bay ban đầu và góc bay ban đầu là hai yếu
tố quyết định đến độ cao của quỹ đạo bay trọng tâm cơ thể cũng nh quyết
định đến thành tích lần nhảy Trong bốn giai đoạn của kỹ thuật nhảy caothì giai đoạn giậm nhảy đóng vai trò quan trọng nhất quyết định đến thànhtích lần nhảy
Trên đây là những cơ sở khoa học để chúng tôi đi sâu hơn và có
ph-ơng pháp nghiên cứu triệt để trong quá trình nghiên cứu đề tài
3.1.2 Kỹ thuật nhảy cao kiểu nằm nghiờng.
Kỹ thuật nhảy cao kiểu nằm nghiờng gụ̀m 4 giai đoạn :
Giai đoạn 1: Giai đoạn chạy đà
Giai đoạn 1: Giai đoạn giậm nhảy
Giai đoạn 1: Giai đoạn trờn khụng
Giai đoạn 1: Giai đoạn tiếp đất
a) Giai đoạn 1: Giai đoạn chạy đà
Đối với học sinh THPT, nờn chạy đà khoảng 6 - 10 bước (bướcchẵn) hoặc 7 - 11 bước (bước lẻ) Mỗi bước tương đương độ dài của 5 - 6bàn chõn nối tiếp nhau Gúc chạy đà chếch với xà khoảng 30 – 400 Giậmnhảy chõn phải, đứng phớa bờn phải của xà theo chiều nhỡn vào xà vàngược lại
Kỹ thuật chạy đà gụ̀m: Tư thế chuõ̉n bị và chạy đà
- Tư thế chuõ̉n bị:
Cỏch thứ nhất : Đứng chõn trước chõn sau, chõn lăng trước (bước lẻ)hoặc chõn giậm trước (bước chẵn), mũi bàn chõn trước sỏt vạch xuất phỏt.Hai chõn chạm đất bằng nửa trước bàn chõn và khuỵu gối (chõn sau khuỵunhiều hơn chõn trước), trọng tõm dụ̀n vào chõn trước Thõn hơi ngó ratrước, hai tay buụng tự nhiờn hoặc hơi co, mắt nhỡn xà hoặc mặt đất phớatrước cỏch vạch xuất phỏt chạy đà khoảng 2 – 3 m Trước khi chạy đà cú
Trang 21thể ngả thân trên nhiều ra trước, sau đó ra sau, rồi lại ngả ra trước và tiếnhành bước chạy đà đầu tiên.
Cách thứ hai: Đứng hai chân song song sát vạch xuất phát
Cách thứ ba: Đi vài bước đến vạch xuất phát chạy đà, sau đó bắt đầuchạy đà
Dù ở bất kỳ tư thế chuẩn bị nào cũng không nên để cơ thể gò bó,căng thẳng mà cần tự nhiên, thả lỏng và tập trung chú ý
- Chạy đà:
Gồm hai phần:
Phần một: Từ lúc xuất phát đến trước ba bước đà cuối, độ dài và tốc
độ bước chạy tăng dần, độ ngả của thân giảm dần
Phần hai: Gồm ba bước cuối trước khi giậm nhảy Nhiệm vụ củaphần chạy đà này là duy trì tốc độ đã đạt được và chuẩn bị giậm nhảy, saocho đạt hiệu quả cao nhất Ở đây độ dài, nhịp điệu các bước chạy, tư thếcủa thân người, của bàn chân cũng như hai tay có tầm quan trọng đặc biệt
Cụ thể:
Bước thứ nhất: Chân giậm nhảy bước ra trước nhanh hơn bước trước
đó, chạm đất bằng gót bàn chân, tiếp theo đưa nhanh chân lăng ra trước đểthực hiện bước thứ hai
Bước thứ hai: Bước này dài nhất trong ba bước đà cuối, chân chạmđất (Chân đá lăng) hơi miết bàn chân xuống dưới – ra sau, giữ thẳng khôngngả vai ra sau trước khi kết thúc thời kì chống tựa Bàn chân khi chạm đấtcần thẳng hướng chạy đà, tránh đặt lệch
Bước thứ ba: Đây là bước đặt chân vào điểm giậm nhảy Bước nàyngắn hơn hai bước trước một chút, nhưng cần thực hiện rất nhanh Khi đặtchân vào điểm giậm nhảy, chân gần như thẳng từ gót chân rồi cả bàn chân,chân lăng co ở phía sau, thân và hai vai hơi ngả ra sau, đầu và cổ không
Trang 22ngả theo mà hướng mặt về trước, hai tay phối hợp tự nhiên hoặc hơi co, haikhuỷu hướng ra sau.
b) Giai đoạn giậm nhảy.
Sau khi đặt chân vào điểm giậm nhảy, chân giậm nhảy hơi chùng ởgối tạo thế co cơ, sau đó dùng sức để giậm nhảy Khi đá lăng chân ra trướccần chủ động dùng sức của đùi và độ linh hoạt của khớp hông đá chân lêncao Hai tay phối hợp gần như đồng thời với chân lăng, đánh hơi vòngxuống dưới – lên cao, khi hai khuỷu tay đến ngang vai thì dừng lại để tạothế nâng người lên
Giậm nhảy là giai đoạn quan trọng nhất trong nhảy cao Sự phối hợpchính xác, nhịp nhàng giữa giậm nhảy, đá lăng và đánh tay với tốc độ dichuyển của cơ thể là yếu tố quyết định hiệu quả giậm nhảy
c) Giai đoạn trên không.
Giai đoạn trên không bắt đầu từ khi chân giậm nhảy rời khỏi mặtđất Tiếp theo, co nhanh chân giậm nhảy, đồng thời xoay mũi chân đá lăng
về phía xà tạo cho thân người nằm nghiêng so với xà (Chân giậm nhảy cophía dưới, chân đá lăng thẳng về phía trên, giống như tư thế khi ta nằmnghiêng, hai tay phối hợp khéo léo để qua xà)
d) Giai đoạn tiếp đất.
Sau khi qua xà, chân giậm nhảy duỗi nhanh để chủ động tiếp đất, taycùng bên với chân giậm nhảy hoặc cả hai tay duỗi ra để hỗ trợ và giữ thăngbằng Khi chân giậm nhảy bắt đầu tiếp đất cần chủ động chùng chân đểgiảm chấn động Lúc này có thể phối hợp chống hai tay và đưa chân lăngchạm đất
3.1.3 Các phương pháp giảng dạy.
Trong quá trình giảng dạy nói chung cũng như giảng dạy kỹ thuậtmôn điền kinh nói riêng thì người giáo viên đều phải vận dụng các phương
Trang 23pháp và phương tiện chuyên môn để truyền thụ kiến thức, kỹ năng chongười học Do tính chất phức tạp và phong phú của kỹ thuật điền kinh, việcxây dựng và hình thành các phương pháp giảng dạy được dựa trên những
kỹ thuật tự nhiên của con người Trong đó quan trọng hơn cả quy luật hìnhthành định hình động lực trong quá trình giảng dạy kỹ thuật Vì vậy, chúngtôi đã sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp giảng giải:
Giảng giải là phương pháp người dạy sử dụng lời nói để diễn đạt nộidung thông tin, phân tích từng chi tiết hay toàn bộ kỹ thuật động tác nhằmgiúp cho người học tiếp thu đầy đủ, hiểu rõ nội dung và nắm được phươngpháp kỹ thuật đó
- Phương pháp trực quan:
Trực quan là phương pháp người dạy trực tiếp làm mẫu hoặcdùng phim, tranh ảnh để diễn đạt nội dung thông tin cho người tập hiểu rõtừng kỹ thuật động tác, đặc biệt là những động tác khó
- Phương pháp giúp đỡ trực tiếp:
Trực tiếp là phương pháp giúp đỡ, mà người dạy trực tiếp tácđộng vào người học giúp cho người học có cảm giác về cơ bắp, về khônggian và nhịp điệu động tác Phương pháp này sử dụng nhiều trong giaiđoạn đầu, khi học sinh chưa thể làm được toàn bộ động tác một cách chínhxác hoặc chưa có cảm giác về không gian và dùng lực khi thực hiện độngtác
- Phương pháp giảng dạy phân chia:
Đối với những động tác khó, phức tạp chúng tôi sử dụng phươngpháp phân chia để giảng dạy, mục đích giúp các em tiếp thu từng chi tiết
kỹ thuật động tác
- Phương pháp giảng dạy toàn bộ:
Trang 24Cho các em thực hiện toàn bộ kỹ thuật động tác của môn nhảycao kiểu nằm nghiêng vì như vậy sẽ tạo cho các em thực hiện có tính liêntục không ảnh hưởng đến tính nhịp điệu của động tác.
Giữa hai phương pháp trên, tôi đã phối hợp một cách nhịp nhàng
để giúp các em tiếp thu kỹ thuật một cách tốt nhất, đạt chất lượng cao
3.1.4 Thực trạng những sai lầm thường mắc khi học kỹ thuật nhảy cao kiểu nằm nghiêng và nguyên nhân dẫn đến sai lầm đó.
Nhảy cao kiểu nằm nghiêng được xem là một kỹ thuật tương đốiphức tạp, độ khó của nó thể hiện ở chỗ đòi hỏi người thực hiện phải đảmbảo độ chính xác cao Trong quá trình học sinh học kỹ thuật thường mắcphải các sai lầm khác nhau do nhiều nguyên nhân gây nên, ở mỗi giai đoạnkhác nhau thì người tập dễ mắc phải những sai lầm đó Để hiểu rõ nhữngsai lầm và nguyên nhân dẫn đến các sai lầm trong quá trình học kỹ thuậtnhảy cao kiểu nằm nghiêng , chúng tôi đã đọc tài liệu chuyên môn , traođổi một số ý kiến của các thầy cô giáo có kinh nghiệm giảng dạy lâu năm
và bằng phương pháp quan sát sư phạm trên 40 em học sinh ở trườngTHPT Nguyễn Du, chúng tôi đã thu được kết quả như sau:
Sai lầm 1: Chạy đà không chính xác do không ổn định nhịp điệuchạy đà
Sai lầm 2: Tốc độ chạy đà chưa cao
Sai lầm 3: Góc độ chạy đà lớn hoặc nhỏ quá so với đặc điểm bảnthân
Sai lầm 4: Giậm nhảy không hết
Sai lầm 5: Giậm nhảy bị lao vào xà
Sai lầm 6: Xác định sai chân giậm nhảy
Sai lầm 7: Khi giậm nhảy, chân lăng đá vào xà
Sai lầm 8: Chân lăng cong
Trang 25Sai lầm 9: Tư thế trên không chưa gọn.
Sai lầm 10: Không ép được vai
Sai lầm 11: Thân trên cao thu chân giậm chậm không gọn
Sai lầm 12: Không tích cực đưa nhanh một bộ phận cơ thể xuốngchạm đất sớm
Sai lầm 13: Thân không nghiêng khi qua xà
Sai lầm 14: Chân đá lăng chạm đất trước
Sai lầm 15: Không chùng chân để giảm chấn động, do chân giậmnhảy không duỗi kịp thời khi qua xà
Bảng 3.1: Kết quả quan sát sư phạm của 40 em học sinh nam lớp
10 khi học kỹ thuật nhảy cao kiểu nằm nghiêng
Tên sai lầm
Số HSmắc sailầm
Tỷ lệ (tỷ
lệ %) Sai lầm 1: Chạy đà không chính xác do
Sai lầm 3: Góc độ chạy đà lớn hoặc nhỏ quá
Sai lầm 7: Khi giậm nhảy, chân lăng đá
Sai lầm 11: Thân trên cao thu chân giậm
Sai lầm 12: Không tích cực đưa nhanh một
Trang 26bộ phận cơ thể xuống chạm đất sớm 36 90
Sai lầm 15: Không chùng chân để giảm chấn
động, do chân giậm nhảy không duỗi
kịp thời khi qua xà
Qua bảng quan sát trên chúng tôi thu được số liệu như sau:
Sai lầm 1: Có 35/40 học sinh mắc phải chiếm tỷ lệ 87,5%
Sai lầm 2: Có 19/40 học sinh mắc phải chiếm tỷ lệ 47,5%
Sai lầm 3: Có 31/40 học sinh mắc phải chiếm tỷ lệ 77,5%
Sai lầm 4: Có 32/40 học sinh mắc phải chiếm tỷ lệ 80%
Sai lầm 5: Có 30/40 học sinh mắc phải chiếm tỷ lệ 75%
Sai lầm 6: Có 37/40 học sinh mắc phải chiếm tỷ lệ 92,2%
Sai lầm 7: Có 17/40 học sinh mắc phải chiếm tỷ lệ 42,5%
Sai lầm 8: Có 34/40 học sinh mắc phải chiếm tỷ lệ 85%
Sai lầm 9: Có 33/40 học sinh mắc phải chiếm tỷ lệ 82.5%
Sai lầm 10: Có 35/40 học sinh mắc phải chiếm tỷ lệ 87,5%
Sai lầm 11: Có 18/40 học sinh mắc phải chiếm tỷ lệ 45%
Sai lầm 12: Có 36/40 học sinh mắc phải chiếm tỷ lệ 90%
Sai lầm 13: Có 18/40 học sinh mắc phải chiếm tỷ lệ 45%
Sai lầm 14: Có 18/40 học sinh mắc phải chiếm tỷ lệ 45%
Sai lầm 14: Có 16/40 học sinh mắc phải chiếm tỷ lệ 40%
Sai lầm 15: Có 32/40 học sinh mắc phải chiếm tỷ lệ 80%
Trên đây là những sai lầm chung nhất mà chúng tôi quan sát thấy
Để đảm bảo độ chính xác những sai lầm cơ bản của người học, chúng tôi
đã tiến hành phỏng vấn bằng cách hỏi trực tiếp, gián tiếp qua các giáo viên,huấn luyện viên có kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy và huấn luyện
Trang 27Đối với phương pháp phỏng vấn gián tiếp, chúng tôi đã dùng phiếuphỏng vấn để xin ý kiến về những sai lầm khi học sinh học kỹ thuật nhảycao kiểu nằm nghiêng Số người phỏng vấn là 25 gồm các giáo viên, huấnluyện viên Số phiếu đưa ra là 25, số phiếu thu vào 25 Sau khi thu phiếuphỏng vấn và tính toán theo tỷ lệ %, chúng tôi đã thu được kết quả và trìnhbày ở bảng sau.
Bảng 3.2: Kết quả phỏng vấn những sai lầm thường mắc
Tên sai lầm
Số ngườiđồng ý (tỷ lệ %)
Số ngườikhông đồng
ý (tỷ lệ %) Sai lầm 1: Chạy đà không chính xác do
Sai lầm 3: Góc độ chạy đà lớn hoặc nhỏ quá
so với đặc điểm bản thân
Sai lầm 7: Khi giậm nhảy, chân lăng đá
Sai lầm 11: Thân trên cao thu chân giậm
Sai lầm 12: Không tích cực đưa nhanh một
Sai lầm 15: Không chùng chân để giảm chấn
động, do chân giậm nhảy không duỗi
kịp thời khi qua xà
Trang 28Qua quá trình phỏng vấn trên chúng tôi thu được kết quả sau:
Sai lầm 1: Có 20/25 người đồng ý chiếm 80%
Sai lầm 2: Có 12/25 người đồng ý chiếm 48%
Sai lầm 3: Có 22/25 người đồng ý chiếm 88%
Sai lầm 4: Có 20/25 người đồng ý chiếm 80%
Sai lầm 5: Có 23/25 người đồng ý chiếm 92%
Sai lầm 6: Có 22/25 người đồng ý chiếm 88%
Sai lầm 7: Có 11/25 người đồng ý chiếm 44%
Sai lầm 8: Có 21/25 người đồng ý chiếm 84%
Sai lầm 9: Có 21/25 người đồng ý chiếm 84%
Sai lầm 10: Có 20/25 người đồng ý chiếm 80%
Sai lầm 11: Có 12/25 người đồng ý chiếm 48%
Sai lầm 12: Có 23/25 người đồng ý chiếm 92%
Sai lầm 13: Có 12/25 người đồng ý chiếm 48%
Sai lầm 14: Có 11/25 người đồng ý chiếm 44%
Sai lầm 15: Có 22/25 người đồng ý chiếm 88%
Từ quá trình quan sát sư phạm và phỏng vấn thì chúng tôi thấynhững sai lầm 1; 3; 4; 5: 6; 8; 9; 10; 12; 15 là những sai lầm cơ bản nhất có
đa số các em học sinh mắc phải
Sai lầm 1: Chạy đà không chính xác do không ổn định nhịp điệuchạy đà
Sai lầm 2: Góc độ chạy đà lớn hoặc nhỏ quá so với đặc điểm bản thân.Sai lầm 3: Giậm nhảy không hết
Sai lầm 4: Xác định sai chân giậm nhảy
Sai lầm 5: Giậm nhảy bị lao vào xà
Sai lầm 6: Chân lăng cong
Trang 29Sai lầm 7: Tư thế trên không chưa gọn.
Sai lầm 8: Không ép được vai
Sai lầm 9: Không tích cực đưa nhanh một bộ phận cơ thể xuốngchạm đất sớm
Sai lầm 10: Không chùng chân để giảm chấn động, do chân giậmnhảy không duỗi kịp thời khi qua xà
Từ những sai lầm cơ bản mà chúng tôi đã xác định ở trên, chúng tôitiến hành tìm ra các nguyên nhân tìm đến các sai lầm đó:
Sai lầm 1: Chạy đà không chính xác do không ổn định nhịp điệuchạy đà
Nguyên nhân: - Chưa nắm vững kỹ thuật
- Chạy cao trọng tâm
- Tư thế xuất phát không ổn định
Sai lầm 2: Góc độ chạy đà lớn hoặc nhỏ quá so với đặc điểm bản thân.Nguyên nhân: - Chưa nắm vững kỹ thuật chạy đà
- Chưa hiểu rõ tầm quan trọng của góc độ chạy đà
- Xác đinh hướng chạy đà và giậm nhảy sai
Sai lầm 3: Giậm nhảy không hết
Nguyên nhân: - Hiểu sai quan niệm
- Cổ chân yếu
- Giậm nhảy chân giậm, góc độ hoãn xung quá nhỏ cơkhông đủ sức duỗi
- Kỹ thuật 4 bước cuối cùng quá dài
Sai lầm 4: Xác định sai chân giậm nhảy
Nguyên nhân: - Chưa xác định được chân nào là chân giậm nhảy
- Chưa vững nắm nguyên lý kỹ thuật nhảy cao
Sai lầm 5: Giậm nhảy bị lao vào xà
Trang 30Nguyên nhân: - Các bước cuối cùng không hạ thấp được trọng tâm.
- Lúc giậm nhảy thân gập về phía trước
- Tốc độ giậm nhảy bị chậm
Sai lầm 6: Chân lăng cong
Nguyên nhân: - Chưa vững nắm nguyên lý kỹ thuật nhảy cao
- Tâm lý còn lúng túng khi thực hiện động tác ở trên không
- Khởi động chưa kỹ trước khi vào tập
Sai lầm 7: Tư thế trên không chưa gọn
Nguyên nhân: - Chưa vững nắm nguyên lý kỹ thuật nhảy cao
- Chân giậm nhảy còn yếu
- Các bộ phận trên cơ thể chưa gọn
Sai lầm 8: Không ép được vai
Nguyên nhân: - Chưa vững nắm nguyên lý kỹ thuật nhảy cao
- Chưa chủ động ép vai khi ở trên không
- Chưa tập các động tác bổ trợ ép vai với mức xà thấp.Sai lầm 9: Không tích cực đưa nhanh một bộ phận cơ thể xuốngchạm đất sớm
Nguyên nhân: - Chưa vững nắm nguyên lý kỹ thuật nhảy cao
- Chưa xác định được chân nào là chân tiếp đất
Sai lầm 10: Không chùng chân để giảm chấn động, do chân giậmnhảy không duỗi kịp thời khi qua xà
Nguyên nhân: - Chưa vững nắm nguyên lý kỹ thuật nhảy cao
- Tâm lý chưa ổn định
- Các động tác phát triển chân còn yếu
Trên đây là những nguyên nhân sai lầm chung nhất mà chúng tôiquan sát thấy Để đảm bảo độ chính xác những nguyên nhân sai lầm cơ bản