Trong quá khứ, một cách tự phát, các dòng họ đã có những đóng góp ở mức độ khácnhau đối với công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, đã sáng tạo nên những disản văn hoá vô giá, dòng họ còn là
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trờng Đại học Vinh
Trang 2Bộ giáo dục và đào tạo Trờng Đại học Vinh
Trang 3A Mở Đầu
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Văn hoá Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm dựng nớc và giữ nớc
của dân tộc ta Văn hoá Việt Nam hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnhcủa con ngời Việt Nam, nhờ đó nhân dân ta đã vợt qua muôn ngàn khó khăn,thử thách để tồn tại và phát triển Từ vai trò to lớn của văn hoá, Đảng và nhànớc ta rất chú trọng khai thác, phát huy các giá trị văn hoá dân tộc và luônxem văn hoá là một mặt trận quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ tổ quốc.Chính vì thế tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (tháng 4 - 2001)của Đảng đã khẳng định: Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắcdân tộc, vừa là mục tiêu, vừa động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội
1.2 Truyền thống dòng họ bồi đắp nên truyền thống dân tộc Trong quá
khứ, một cách tự phát, các dòng họ đã có những đóng góp ở mức độ khácnhau đối với công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, đã sáng tạo nên những disản văn hoá vô giá, dòng họ còn là chiếc nôi sinh ra những nhân tài cho đấtnớc Vì vậy, việc nghiên cứu dòng họ có ý nghĩa to lớn trong việc giữ gìn,phát huy truyền thống văn hoá dòng họ, giúp chúng ta hiểu rõ hơn về cuộc
đời, sự nghiệp các danh nhân Từ đó rút ra những bài học quý báu để giáodục đào tạo nhân tài cho đất nớc nhằm thực hiện “chiến lợc con ngời thế kỷXXI” và góp phần xây dựng “nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc”
1.3 Từ xa xa dân ta đã có câu “chim có tổ ngời có tông”, “uống nớc nhớ
nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” Đó là truyền thống đạo lý của ngời ViệtNam Ngày nay khi đất nớc hoà bình thống nhất, kinh tế văn hoá phát triểnthì việc tìm về cội nguồn trở thành nhu cầu ngày càng lớn, nhiều dòng họkhôi phục lại đền thờ, miếu mạo, lăng mộ, gia phả…Mặt tích cực là khơi dậytruyền thống dòng họ, truyền thống dân tộc, thể hiện lòng biết ơn đối với tổ
Trang 4tiên, nhng bên cạnh đó không tránh khỏi hạn chế nh tranh giành đất đai, chứcquyền gây mất đoàn kết giữa các tộc họ… Vì vậy nghiên cứu dòng họ mộtcách nghiêm túc, khoa học có ý nghĩa to lớn nhằm phát huy mặt tích cực, xoá
bỏ mặt tiêu cực, góp phần củng cố khối đoàn kết dân tộc
1.4 Một dòng họ thờng tập trung chủ yếu ở một địa phơng hoặc một số
địa phơng nhất định, cho nên khi nghiên cứu về dòng họ là phải tìm hiểu vềlịch sử địa phơng, mà lịch sử địa phơng là một bộ phận quan trọng của lịch sửdân tộc Do đó nghiên cứu về dòng họ, về lịch sử địa phơng sẽ giúp ta tìmhiểu rõ hơn, sâu hơn, toàn diện hơn, lịch sử quê hơng lịch sử dân tộc, vềtruyền thống văn hoá, truyền thống cách mạng của xứ sở ấy, địa phơng ấy,góp phần vào việc xây dựng, phát triển nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắcdân tộc
1.5 Dòng họ Nguyễn Huy là dòng họ lớn ở Trờng Lu ( xã Trờng Lộc,
Can Lộc, Hà Tĩnh), là một dòng họ có nhiều đóng góp cho quê hơng đất nớcqua các giai đoạn lịch sử từ khi hình thành cho tới tận ngày nay
Cùng với các dòng họ Nguyễn, Phan, Phạm, Trần, Lê… Dòng họ NguyễnHuy ở Trờng Lu từ thế kỷ XV đã chọn đất lập nghiệp Các thế hệ cháu con,từng bớc phát triển mạnh
Nghiên cứu về dòng họ Nguyễn Huy ở Trờng Lu giúp ta hiểu sâu hơn vềcon ngời Can Lộc cũng là hiểu đúng đắn hơn về con ngời Hà Tĩnh xa và nay
Từ đó duy trì khối đoàn kết, phát huy trí tuệ tài năng tạo nên sức mạnh tinhthần và vật chất to lớn để góp phần và xây dựng quê hơng ngày càng pháttriển mạnh mẽ toàn diện Giữ vững gia phong, phát huy truyền thống tốt
đẹp, khai thác văn hoá dòng họ làm rạng ngời văn hoá dòng tộc trong di sảnvăn hoá và bản sắc văn hoá của dân tộc, đa nớc ta hội nhập với thế giới vàvững bớc đi lên, là mong muốn của chính chúng tôi khi thực hiện đề tài này
Trang 5Xuất phát từ những ý nghĩa khoa học và thực tiễn trên, chúng tôi mạnh dạnchọn vấn đề nghiên cứu : “Dòng họ Nguyễn Huy ở Trờng Lu (Can Lộc, HàTĩnh)”, làm đề tài luận văn Thạc sỹ lịch sử của mình
2 Lịch sử vấn đề
Trong xu thế tìm về cội nguồn hiện nay, đợc sự quan tâm của Đảng vàNhà nớc, Hà Tĩnh cũng nh một số địa phơng khác đã tổ chức các cuộc hộithảo về lịch sử – văn hoá dòng họ Một số nhà nghiên cứu bắt đầu để tâmnghiên cứu về các dòng họ nổi tiếng, ở Hà Tĩnh nh: họ Phan Huy (Thạch Hà),Ngô ( Trảo Nha – Nghèn), Đặng ( Hậu Lộc) Và những nhân vật nổi tiếngnh: Phan Huy Chú, Phan Huy ích, Đặng Tất, Đặng Dung, Ngô Đức Kế v.v…Riêng dòng họ Nguyễn Huy ở Trờng Lu (Can Lộc, Hà Tĩnh) cũng đã đợcmột số tác giả đề cập đến Trớc cách mạng tháng Tám, trong tác phẩm “Nghệ
An Ký” của Bùi Dơng Lịch đã giới thiệu tóm tắt tiểu sử, sự nghiệp Thám hoa
Nguyễn Huy Oánh Sau cách mạng đã có một số tác giả đề cập đến NguyễnHuy Tự, Nguyễn Huy Hổ và các tác phẩm của họ, nhng cha có công trìnhnào nghiên cứu đầy đủ, toàn diện quá trình phát triển và lịch sử- văn hoá củadòng họ Nguyễn Huy
Việc nghiên cứu lịch sử – văn hoá dòng họ, nhằm mục đích phục vụ chovăn hoá dòng họ, đồng thời bảo lu, bảo tồn, phát huy truyền thống văn hoácủa dòng họ trong di sản văn hoá chung của Hà Tĩnh, của dân tộc Việt Nam,vừa giao lu văn hoá, vừa phục vụ cho sự nghiệp cách mạng bảo vệ và xâydựng Tổ Quốc cho cả hôm nay và mai sau Tuy vậy gần đây con cháu tronggia tộc và một số nhà khoa học cũng đã quan tâm tìm hiểu về dòng họNguyễn Huy Có một số bài viết về dòng họ Nguyễn Huy đã đăng trên báohoặc kỉ yếu khoa học, cụ thể nh sau:
Trang 6- Bài: “Ngời lập làng Trờng Lu” của GS VS Nguyễn Huy Mỹ (hậu duệcủa dòng họ Nguyễn Huy) Đăng trên tạp chí Văn hóa Hà Tĩnh số 82, tháng
Các bài viết trên cũng cho chúng ta thấy rõ: Dòng họ Nguyễn Huy đã cónhững đóng góp nhất định đối với sự phát triển của Hà Tĩnh nói riêng và cảnớc nói chung Từ đó đặt ra nhiệm vụ là cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu mộtcách toàn diện và có hệ thống hơn về dòng họ Nguyễn Huy để góp phần giữgìn phát triển văn hoá dân tộc
Mặc dù nguồn tài liệu và khả năng bản thân có nhiều hạn chế, nhng vớinguồn t liệu vốn có; chúng tôi cố gắng tiếp cận, tìm hiểu làm chỗ dựa, để kế
Trang 7Huy ở Trờng Lu góp phần và phát triển nguồn văn hoá địa phơng và văn hoádân tộc.
3 Nhiệm vụ, đối tợng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Nhiệm vụ:
Nhận thức đợc vai trò to lớn của dòng họ đối với sự hình thành, phát triểncủa dân tộc và ý nghĩa to lớn của việc nghiên cứu của dòng họ trong sự nghiệp
đổi mới ngày nay, luận văn nhằm giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu nguồn gốc dòng họ Nguyễn Huy ở Trờng Lu
- Tìm hiểu vùng đất và con ngời Trờng Lu nơi dòng họ Nguyễn Huy lậpnghiệp
- Tìm hiểu tơng đối toàn diện và có hệ thống về quá trình hình thành vàphát triển của dòng họ Nguyễn Huy trên đất Trờng Lu (Can Lộc, Hà Tĩnh) từbuổi đầu thành lập cho đến nay
- Đi sâu tìm hiểu một số nhân vật tiêu biểu của dòng họ Nguyễn Huy, sựcống hiến và đóng góp của dòng họ Nguyễn Huy cho quê hơng, đất nớc
3.2 Đối tợng, phạm vi nghiên cứu.
Trên cơ sở những tài liệu hiện có, chúng tôi đặt ra phạm vi nghiên cứu vềlịch sử – văn hoá dòng họ Nguyễn Huy trên đất Trờng Lu (Can Lộc, HàTĩnh) từ thế kỷ XV cho đến năm 2006, chủ yếu là chi hầu Chung Sơn
Để giải quyết đợc những nội dung trọng tâm mà đề tài đặt ra, chúng tôi
có đề cập đến một số vấn đề chung về vùng đất Can Lộc, Hà Tĩnh, cũng nhbối cảnh lịch sử mà các nhân vật tiêu biểu của dòng họ Nguyễn Huy sống vàcống hiến cho quê hơng đất nớc
4 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu
Trang 84.1.2 Tài liệu nghiên cứu:
Chúng tôi tham khảo những tài liệu nghiên cứu lịch sử, văn hoá nh: Nghệ
An ký của Bùi Dơng Lịch, Kỷ yếu hội thảo Khoa học Nguyễn Huy Tự và truyện Hoa Tiên, Kỷ yếu hội thảo khoa học, văn hoá dòng họ ở Nghệ An, Nguyễn Huy Vinh với Chung Sơn Di Thảo của Lại Văn Hùng, Các nhà khoa bảng Hà Tĩnh của Thái Kim Đỉnh, Nguyễn Huy Hổ với Mai Đình Mộng ký
của Lại Văn Hùng, Địa chí Can Lộc của Võ Hồng Huy, Tuyển tập thơ Nguyễn Huy Oánh của Lại Văn Hùng, Can Lộc một vùng địa linh nhân kiệt, lịch sử Đảng bộ Hà Tĩnh, lịch sử Hà Tĩnh, lịch sử Đảng bộ huyện Can Lộc tạp chí văn hoá Hà Tĩnh, Võ cử và các tiến sỹ ở nớc ta của Nguyễn Thuý
Nga, Các nhà khoa bảng Việt Nam của Ngô Đức Thọ, Trạng nguyên, Tiến sỹ Hơng cống Việt Nam của Bùi Hạnh Cẩn – Minh Nghĩa – Việt Anh, Các Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa qua các triều đại phong kiến Việt Nam
của Trần Hồng Đức…
4.1.3 Các tài liệu khác.
Trang 9Ngoài ra chúng tôi còn tham khảo một số tài liệu khác có liên quan nh:
“Làng cổ Hà Tĩnh”, Địa chí văn hoá dân gian Nghệ Tĩnh , Danh nhân Hà“ ” “
Tĩnh , Cơ sở văn hoá Việt Nam ” “ ” v.v…
4.1.4 Tài liệu điền dã:
Chúng tôi nhiều lần nghiên cứu thực địa tại các nhà thờ họ Nguyễn Huynh: Nhà thờ Nguyễn Huy Oánh, nhà thờ Nguyễn Huy Tự, nhà thờ NguyễnHuy Vinh Khảo sát lăng mộ của Nguyễn Huy Oánh, lăng mộ của NguyễnHuy Hổ Gặp gỡ, tiếp xúc, trao đổi, phỏng vấn với Tộc trởng, Chi trởng, các
vị bô lão, những ngời có hiểu biết về dòng họ Nguyễn Huy v.v…
4.2 Phơng pháp nghiên cứu.
4.2.1 Su tầm t liệu
Để có đợc nguồn t liệu trên chúng tôi phải đi tìm nhiều nơi nh : Th việnquốc gia, Viện Hán Nôm, Hội nhà văn, Viện văn học, Bảo tàng dân tộchọc, ở Hà Nội Th viện Nghệ An, th viện Hà Tĩnh, th viện Can Lộc, bảotàng Hà Tĩnh, nhà thờ họ, lăng mộ, nhằm su tầm, chụp ảnh, sao chép, tích luỹ
sử dụng các phơng pháp điều tra, phỏng vấn, nghiên cứu thực địa, Tập hợplại thành nguồn t liệu phục vụ nghiên cứu
4.2.2 Xử lý t liệu
Trong quá trình tìm hiểu nghiên cứu, chúng tôi đã kết hợp vận dụng cácphơng pháp nh biện chứng, phơng pháp lịch sử, phơng pháp logíc, trình bàyquá trình hình thành và phát triển dòng họ Nguyễn Huy ở Trờng Lu theotrình tự thời gian của lịch sử, so sánh đối chiếu nguồn t liệu đã có dòng họNguyễn Huy với chính sử Kể cả phơng pháp nghiên cứu chuyên ngành: Môtả, liên hệ, so sánh, thống kê tổng hợp, khái quát hoá nhằm đảm bảo tính
Trang 10khoa học của quá trình nghiên cứu làm nổi bật mối quan hệ chặt chẽ củadòng họ Nguyễn Huy ở Trờng Lu với cộng đồng quê hơng đất nớc.
5 Những đóng góp của luận văn
- Với sự cố gắng cao nhất của tác giả, luận văn sẽ góp phần cung cấp cho
độc giả bức tranh toàn cảnh về quá trình hình thành và phát triển của dòng họNguyễn Huy ở Trờng Lu (Can Lộc, Hà Tĩnh) với lịch sử dân tộc gần 500 nămtrải qua 17 đời con cháu
- Trọng tâm của đề tài là nghiên cứu quá trình hình thành và phát triểncủa dòng họ Nguyễn Huy ở Trờng Lu, những đóng góp của dòng họ cho quêhơng đất nớc
- Tìm hiểu về một số nhân vật tiêu biểu của dòng họ, tìm hiểu văn hoátruyền thống, những di sản văn hoá của dòng họ và vùng đất Trờng Lu Sự
ảnh hởng và những đóng góp về văn hoá của dòng họ Nguyễn Huy với cộng
đồng quê hơng đất nớc
- Từ đó góp phần nâng cao nhận thức về vai trò và tầm quan trọng của cácdòng họ ở địa phơng đối với sự hình thành và phát triển ngày càng đi lên củalịch sử dân tộc, làm phong phú thêm lịch sử địa phơng, cung cấp nguồn t liệuphục vụ nghiên cứu văn hoá, nghiên cứu lịch sử quê hơng
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chínhcủa luận văn gồm 3 chơng
Chơng 1: Quá trình hình thành và phát triển của dòng họ Nguyễn Huy ở
Tr-ờng Lu (Can Lộc, Hà Tĩnh)Chơng 2: Văn hoá truyền thống của dòng họ Nguyễn Huy ở
Trang 11Chơng 3: Một số nhân vật tiêu biểu của dòng họ Nguyễn Huy đóng góp cho
lịch sử dân tộc
B Nội Dung
Chơng 1
Trang 12Quá trình hình thành và phát triển của dòng họ Nguyễn Huy ở trờng lu (Can lộc, Hà tĩnh)
1.1 Can lộc - đất và ngời:
Nói đến Can Lộc, ai cũng biết đây là một vùng đất giàu truyền thống yêunớc, đấu tranh cách mạng kiên cờng Đây còn là một trong những huyện trộihẳn về văn hoá của phủ Đức Quang ngày xa; nhân dân hoà thuận hiếu học; làcái nôi của Hồng Sơn văn phái, có nhiều ngời đỗ đại khoa Từ xa xa cho tớinay, quê hơng Can Lộc đã sinh ra nhiều danh nhân, nhiều tớng giỏi, có côngvới nớc, với dân, những nhà khoa học, những nhà chính trị đầu ngành nổitiếng nh: GS Nguyễn Đổng Chi, nhà văn nhà nghiên cứu; PGS.TS NguyễnChơng Thâu, nhà sử học; GS Nguyễn Huệ Chi, GS Nguyễn Đức Từ Chi…
Đây còn là nơi có nhiều danh thắng, di sản văn hoá phong phú lâu đời: NúiHồng Lĩnh có chùa Hơng Tích từ đời Trần đợc mệnh danh là Đệ nhất danhlam; Đền lớn Phù Lu kiến trúc tinh vi, cổ kính; có điệu hát ví dặm, có ngờihát phờng vải đẹp nết, đẹp ngời…tạo nên cốt văn hoá riêng của ngời Can Lộc
Hà Tĩnh
1.1.1 Vị trí địa lý ,điều kiện tự nhiên:
Can Lộc là một huyện đồng bằng ven biển của Hà Tĩnh rộng 424 km2,
đồng bằng chiếm 67,8 % tổng diện tích đất tự nhiên Can Lộc nằm từ 18,2
đến 18,3 vĩ độ bắc, 105,37 đến 105,44 kinh độ đông, bắc giáp huyện NghiXuân ;Tây giáp huyện Đức Thọ ; Tây Nam giáp huyện Hơng Khê ; ĐôngNam giáp huyện Thạch Hà; Đông giáp Biển Đông Huyện lỵ Nghèn nằm trênQuốc lộ 1A cách Thành phố Vinh 30 Km về phía Bắc và Thành phố Hà Tĩnh
20 Km về phía Nam
Dân số huyện Can Lộc hiện nay là 182.000 ngời Điều kiện tự nhiên của
Trang 13quốc lộ 8, tỉnh lộ 2 đi qua; có sông Nghèn và sông Lam đổ ra biển qua sông
Đò Điệm và Cửa Sót Giao thông thuỷ, bộ trong huyện vơn ra các địa bàntrong tỉnh, sang các tỉnh bạn và nớc bạn Lào, rất thuận lợi cho việc phát triểnkinh tế - văn hoá - xã hội
Lịch sử tự nhiên của Can Lộc gắn với lịch sử tự nhiên của tỉnh Hà Tĩnh.Ngoài những đặc điểm chung, huyện Can Lộc còn có những nét đặc thù về
điều kiện tự nhiên
Thứ nhất : Địa bàn đợc tự nhiên kiến tạo đủ cả đồi núi , các loại hình
đồng bằng và bờ biển Các yếu tố địa hình ấy mang tính tổng hợp , tạo chovùng đất Can Lộc thêm đa dạng và phong phú, ảnh hởng trực tiếp đến cácmặt hoạt động kinh tế , xã hội cũng nh sinh hoạt văn hoá tinh thần của c dânbản địa
Thứ hai: Đồng bằng Can Lộc nằm gọn giữa hai triền núi Trà Sơn và HồngLĩnh Gần nh cân đối giữa địa phận của huyện, theo hớng đông nam, một dảisông Nghèn chạy dọc từ đầu đến cuối huyện, tạo cho địa thế huyện có mặtbằng nhiều bậc, nhiều tầng có độ chênh lòng máng , vừa có tác dụng trữ nớc -
ơm bùn, giữ độ phì đồng ruộng, nhng cũng dễ gây nên hạn hán ,úng lụt thấtthờng, "cha ma đã lụt, cha nắng đã hạn"
Thứ ba: Hệ thống núi dày đặc tạo thành một quần thể núi với tầm cỡ,dáng vóc không giống nhau, phân bố không đều Hệ thống khe xuất phát từhai dãy núi lớn ,dồn nớc xuống dòng sông, hình thành một mặt bằng "gân lá"giúp cho giao lu đờng sông khá thuận lợi Từ những nét chung ấy lần lợt đivào từng mặt của địa hình
Địa hình đợc chia làm 3 vùng : Vùng bán sơn địa, vùng đồng và vùng venbiển Có dãy núi Hồng Lĩnh điệp trùng 99 đỉnh tạo nên bức tờng thành chechắn gió, bão phía Đông Bắc, đồng thời cũng là một danh sơn nổi tiếng tiêu
Trang 14biểu cho Hoan Châu thuở trớc và Nghệ Tĩnh ngày nay Dãy Trà Sơn với 4mạch núi song song cài bện vào nhau chạy dài trên 15 Km và dựa vào dãyTrờng Sơn hùng vĩ, che chắn bớt gió Tây Nam trong mùa nắng nóng ở giữa
đồng bằng lác đác nổi lên những đồi núi nhỏ nh núi Nghèn, núi Cài, núi Mòi,núi Bin Cảnh rừng núi, đồng bằng, sông ngòi và biển đan xen hài hoà tạonên vẻ đẹp tự nhiên, hiền hoà tơi mát
Sông Nghèn là tên gọi chung cho các sông, sông Cài, sông Hạ Vàng,sông Thuần Châu và sông Kênh Cạn Đây là tàn d của một phá cổ, men theodãy đất thấp trũng, chạy quanh co từ đầu đến cuối huyện theo hớng Đông Bắc
- Tây Nam Sông Nghèn chảy ra sông Lam ở phía Bắc, nối với sông Minh
L-ơng và rót ra biển cả, phía Đông Nam thông sông Đò Điệm và Cửa Sót SôngNghèn còn nhận nớc của sông Nhe, sông Dà và nhiều hợp lu nhỏ khác củacác khe suối bắt nguồn từ dãy Trà Sơn, Hồng Lĩnh; Cùng các tuyến đờngQuốc lộ 1A, quốc lộ 15, quốc lộ 8, tỉnh lộ 2 chạy qua huyện, các tuyến đờngliên huyện liên hơng thông suốt đến tận các cơ sở tạo thành mạng lới giaothông thuỷ, bộ giữa nhiều vùng trong huyện và địa bàn khác trong tỉnh rấtthuận lợi
Kiến tạo tự nhiên của huyện Can Lộc tạo khả năng phát triển kính tế,nông, lâm, ng, tiểu thủ công nghiệp, thơng nghiệp, du lịch và mở rộng giao luvăn hoá với ngoài tỉnh
Đồng bằng có hai vùng khá rõ rệt Vùng Thợng Can đợc phù sa của sông
La, sông Lam bồi tích tạo ra những cánh đồng phì nhiêu và từ lâu đã có hệthống đê điều và các công trình thuỷ lợi đảm bảo nguồn nớc cho trồng trọt.Vùng Hạ Can đất pha cát thích hợp với nhiều loại hoa màu và cây côngnghiệp ngắn ngày Từ xa ở đây đã có câu ngạn ngữ “Khoai ích Hậu, Gấu(gạo) Đông Huề" thể hiện hai vùng có tính chất đất đai và tập quán canh tác
Trang 15khác nhau Tiếp cận với vùng đồng là vùng bán địa Trà Sơn, Hồng Lĩnh, vùngven biển thích hợp cho trồng cây phi lao, cây công nghiệp, chăn nuôi đại giasúc Ngoài ra còn có biển, ao, hồ để phát triển nuôi trồng đánh bắt, chế biếnhải sản.
Can Lộc nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hởng củakhí hậu chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam Thời tiết hàng năm chiathành hai mùa rõ rệt
Ma thờng kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12 chịu ảnh hởng nhiều của bão
và áp thấp nhiệt đới, gây ảnh hởng lũ lớn tập trung vào tháng 9-10 Hàng nămlợng ma bình quân từ 2.200 mm đến 2.300 mm Lợng ma cao nhất 2.700
mm, thấp nhất 1.600 mm Đột biến có năm lợng ma lên tới 3.500 mm (năm1989) [27,74]
Mùa khô từ tháng 1 đến tháng 7.Trong những tháng từ tháng 1 đến tháng
3, thờng có gió mùa đông bắc gây những đợt rét đậm kéo dài, nhiệt độ hạthấp từ 100C đến 130C, cũng có khi từ 80C đến 90C Từ tháng 4 đến tháng 8thờng có từng đợt gió tây nam, quen gọi là gió Lào, kéo dài nắng nóng gaygắt, đa nhiệt độ lên đến 370C đến 380C, cũng có khi lên đến 390C [27,74-75].Thời vua Hùng dựng nớc đất nớc chia làm 15 bộ, bộ Cửu Đức là vùng đất
Hà Tĩnh ngày nay, trong đó huyện Can Lộc nằm trong lãnh thổ này
Từ xa huyện Can Lộc đã hình thành và mang nhiều tên gọi nh: HuyệnPhù Lĩnh (thuộc thời Ngô -271), huyện Việt Thờng (thuộc thời Đờng - 679),huyện Hà Hoàng và huyện Phi Lộc(vào những thời tiếp sau)
Đến thời Lê Sơ, năm Kỷ sửu, Quang Thuận thứ 10 (1469), Lê Thánh Tôn
định bản đồ cả nớc có 12 thừa tuyên, hợp các châu Hoan -Diễn thành tuyênNghệ An, gồm 9 phủ, 27 huyện và 2 châu Hồi ấy phủ Đức Quang có 6
Trang 16huyện : Thiên Lộc, La Sơn, Nghi Xuân, Hơng Sơn, Chân Phúc và Thanh
ch-ơng Huyện Thiên Lộc có 27 xã, 2 trang
Tên huyện Thiên Lộc cùng với địa giới huyện đợc hoạch định rành mạch
từ đây Đến thời Lê Trung Hng và thời Tây Sơn, địa giới địa danh không cógì thay đổi
Đến thời Nguyễn, năm Nhâm tuất Tự Đức thứ 15 (1862) vua ra chỉ dụ ở
đâu địa danh có chữ "Thiên" phải đổi chữ khác để tỏ lòng tôn kính với trời
Từ đó huyện Thiên Lộc phải đổi thành huyện Can Lôc
Năm Khải Định thứ 6 (1921) chuyển toàn bộ tổng Đài, nguyên thuộcphủ Thạch Hà; tổng Lai Thạch nguyên thuộc Phủ Đức Thọ về huyện CanLộc Cắt hai tổng Canh Hoạch và Vịnh Luật nguyên thuộc huyện Can Lộc vềphủ Thạch Hà
Sau Cách mạng tháng 8- 1945, huyện Can Lộc có 7 tổng: tổng Trung
L-ơng, tổng Đậu Liêu, tổng Lai Thạch, tổng Nga Khê, tổng Đoài, tổng NộiNgoại và Phù Lu Cuối năm 1945 đầu năm 1946 thực hiện chủ trơng bỏ cấptổng, lấy xã làm hành chính cơ sở, Tỉnh cắt các làng Lộc Nguyên (An Lộc),Vinh Hoà (Bình Lộc), Cổ Kênh ( nay là Thạch Kênh), Thái Hờ (Sơn Lộc),Phơng Mỹ (Mỹ Lộc) và thôn Đào Tiên (một thôn nằm trong xã Thịnh Lộc)thuộc huyện Thạch Hà về huyện Can Lộc Năm 1949, cắt hai xã Hồng Tiên( Trung Lơng) , Thiên Thuận ( Đức Thuận) nguyên thuộc tổng Trung Lơnghuyện Can Lộc về huyện Đức Thọ ; cắt xã Cổ Kênh (Thạch Kênh), Đồng Bàn(Thạch Liên) về huyện Thạch Hà Năm 2007 tỉnh chủ trơng thành lập huyệnmới và huyện Can Lộc phải cắt 6 xã ( Thịnh Lộc, Tân Lộc, An Lộc, BìnhLộc, Hậu Lộc, Hồng Lộc) về huyện mới, huyện Lộc Hà
Huyện lỵ thuở xa đóng ở Minh Lơng (Trung Lơng) Về sau lần lợt dời vềHuyện Thị (Phù Lu); Ninh Xá (Đậu Liêu); Phổ Hợp ( Thiên Lộc); Đông Huề
Trang 17(Vợng Lộc); Khiêm ích (Đồng Lộc) "Đến năm Bảo Đại thứ 2 (1927) dờithôn Nghiện Thị, xã Trảo Nha nay là Thị trấn Nghèn" [4,14-15] Sau nhiềulần tách nhập, hiện nay huyện có 22 xã và 1 thị trấn đó là: Song Lộc, KimLộc, Thanh Lộc, Vợng Lộc, Trờng Lộc (Trờng Lu), Nga Lộc (Thờng Nga),Yên Lộc, Khánh Lộc, Phú lộc, Nhân Lộc, Vĩnh Lộc, Trung Lộc, Xuân Lộc,
Đồng Lộc, Thợng Lộc, Quang Lộc, Mỹ Lộc, Sơn Lộc, Tiến Lộc, Thiên Lộc,Phúc Lộc, Tùng Lộc và thị trấn Nghèn Hiện nay con cháu của dòng họNguyễn Huy chủ yếu sống ở xã Trờng Lộc (Trờng Lu)
1.1.2 Truyền thống văn hoá, chống giặc ngoại xâm.
Can Lộc có nền văn hoá phát triển khá sớm, là một trong những huyện
"trội hẳn về văn học" [4,19] trong phủ Đức Quang, nhân dân hoà thuận hiếuhọc Qua các thời kỳ thi cử Nho học, số ngời đỗ đạt khá cao Kể từ khoa thithế kỷ thứ XIII thời Trần đến khoa thi cuối cùng năm 1919 thời Nguyễn, CanLộc có 42 ngời đỗ đại khoa (chiếm 1/3 tổng số ngời đỗ đại khoa của tỉnh) vàhàng trăm ngời đỗ hơng cống, cử nhân Thám hoa Đặng Bá Tĩnh ngời xãTùng Lộc một trong 5 ngời ở Nghệ Tĩnh đỗ Tam khôi sớm nhất từ thời Trần
Ông cũng là ngời mở đầu đại khoa của huyện Các ông Nguyễn Huy Oánh,ngời làng Tràng Lu, Phan Kính ngời làng Vinh Gia, Nguyễn Thiếp ngời làngMật Thiết là những nhà học vấn uyên thâm, đức độ cao cả, đợc cả nớc tônkính vào loại bậc thầy Đã có một thời trờng học, th viện vùng này trở thànhcái nôi của "Hồng Sơn văn phái" Những danh hiệu, lời khen đối với khánhiều sĩ tử quê ở Can Lộc nh "bút Cấm Chỉ, sỹ Thiên Lộc","văn Lai Thạch,sách Hoàn Hậu", "Tràng An tứ hổ","Thiên Lộc tứ hổ" phản ánh vùng nàykhông ít ngời học giỏi nổi tiếng
Lớp ngời này tuy xuất thân từ các gia đình Nho giáo phong kiến, nhnghoà đồng gần gũi với xóm làng, tiếp thu đạo lý truyền thống của dân tộc nênhầu hết có ý thức khá sâu sắc đối với đất nớc, quê hơng Chịu ảnh hởng của
Trang 18hệ t tởng phong kiến, phần lớn các sỹ tử có mục đích là học để làm quan,
nh-ng cũnh-ng khônh-ng ít nh-ngời suy tính tronh-ng việc xuất xứ, tuỳ thời để ra giúp vuahiền dựng nớc, giữ nớc hoặc dù học giỏi đỗ đạt cao vẫn một mực không chịulàm quan Với lòng yêu nớc thơng dân, đức trọng, công dày, nhiều ngời còn
để lại cho hậu thế những công trình kinh tế, xã hội có ích và nhiều tác phẩmvăn học, lịch sử, y học quý giá Thế hệ nào cũng có những ngời để lại cho đờisau những tác phẩm tiêu biểu Lớp mở đầu nh Đặng Dung, Đăng MinhKhiêm, Nguyễn Huy Tự Lớp kế tiếp nh Công Đạo, Ngô Đức Kế, Võ LiêmSơn và lớp tân học gần đây nh Xuân Diệu, Nguyễn Đổng Chi, v.v…
Nằm trong vùng đất "phiên trại" phía Nam của Tổ quốc, đồng thời làvùng đất đứng chân của nghĩa quân trong các cuộc kháng chiến chống quânxâm lợc phơng Bắc, nhân dân Can Lộc đã có những đóng góp xứng đángtrong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc qua các thế hệ Thời kỳ Bắcthuộc,đây là căn cứ phía Nam của khởi nghĩa Mai Thúc Loan (năm 722) vớinhững di tích còn lại nh động Tháp Cờ, động Cửa Phủ ở núi Hồng Lĩnh.Trong khi bị xâm lợc dày xéo, nớc mất nhà tan, nhân dân Can Lộc đã khôngtiếc công sức, tiền của, xơng máu góp phần bảo vệ nền độc lập Tiêu biểu nh:Cao Minh Hữu đã giúp Lê Hoàn đánh thắng oanh liệt quân Tống trên sôngHơng Đại Đặng Tất, Đặng Dung là những tớng lĩnh chủ chốt của nghĩa quân
"kháng Minh phù Trần" (1407-1413) đã từng lập nên chiến thắng Bô Cô,Thái Già hiển hách Nguyễn Biên Thợng, thời Lê Lợi, vốn là thủ lĩnh nổi dậy
đánh quân Minh từ vùng Can Lộc, sau đó dời vào Cẩm Xuyên, đã giải phóng
đợc vùng đất khá rộng trớc khi hợp nhất với nghĩa quân Lam Sơn kéo vàogiải phóng vùng Thuận Hoá Trong phong trào nông dân Tây Sơn, Ngô Văn
Sở vốn dòng họ Ngô ở Trảo Nha đã cùng Ngô Thi Nhậm định ra quyết sáchchiến lợc nổi tiếng lập phòng tuyến Tam Điệp và chiến công mở đầu giảiphóng Thăng Long Nguyễn Thiếp, một danh sỹ với những lời bàn tâm đắc về
Trang 19chiến lợc "thần tốc", về khuyến nông, trọng học đợc sử sách ghi nhận "mộtlời nói xây dựng nổi cơ đồ".
Qua các thời kỳ dựng nớc và giữ nớc, Can Lộc đã sản sinh ra nhiều danhthần, tớng giỏi có công với nớc, với dân Trong các cuộc khởi nghĩa của nôngdân chống lại nhà Nguyễn, Mai Thế Định là ngời đầu tiên của Can Lộc tậphợp nghĩa sĩ chống lại Gia Long Phan Huân, một sỹ phu yêu nớc, dám viết
sớ hoạch tội Tự Đức cắt đất dâng cho giặc Pháp Nguyễn Chanh, NguyễnTrạch, Nguyễn Tuyển là những thủ lĩnh trong phong trào Cần Vơng đã chiến
đấu gan dạ đến giờ phút cuối cùng Mai Thế Quán trong phong trào "BìnhTây", Nguyễn Hằng Chi trong phong trào chống thuế là những ngời cầm đầu,
hy sinh oanh liệt Trong quá trình đấu tranh lâu dài với thiên nhiên và chốnggiặc ngoại xâm để xây dựng bảo vệ quê hơng, đất nớc đã hun đúc nên nhữngphẩm chất cao quý của nhân dân Can Lộc Đó là lòng yêu nớc, yêu quê hơngnồng nàn và tinh thần cách mạng kiên cờng, bất khuất; tinh thần lao độngcần cù, hiếu học, ý thức đoàn kết cộng đồng, tơng thân tơng ái trong chiến
đấu, lao động sản xuất và xây dựng cuộc sống; tính thuần hậu, cơng trực,chuộng công bằng, trọng lẽ phải Song nền sản xuất nông nghiệp nhỏ mangnặng tính chất tự thiên nhiên, tự cấp, tự túc, lại bị thiên nhiên uy hiếp nặng nề
và gây thiệt hại lớn cho ngời dân Can Lộc, những thiệt hại lớn đó không hềlàm suy giảm tinh thần chiến đấu bất khuất của ngời dân Can Lộc Mà chỉ tôiluyện thêm cho tinh thần yêu nớc của các thế hệ ngời dân nơi đây
1.1.3 Trờng Lu - đất và ngời.
Trờng Lu là một xã gần nh là thuần nông, với diện tích tự nhiên là 412
ha, diện tích canh tác chỉ có 240 ha, dân số trớc Cách mạng tháng Támkhoảng 1600-1700 ngời, hiện tại là khoảng 2482 ngời
Trang 20Xa xa, Trờng Lu gồm các làng Kẻ Đò, Kẻ Vạc và Làng Tràng Ba làngnày nằm ven con sông nhỏ, quanh co gọi là sông Phúc Giang Đến đời LêThánh Tông, cụ Uyên Hậu, thuỷ tổ của họ Nguyễn Huy (ngời làng Tràng)sau khi đỗ Ngũ kinh bác sĩ làm quan một thời gian, đã về đây Nhận thấy balàng Kẻ Đò, Kẻ Vạc và làng Tràng đồng trũng, dân vất vả quanh năm, màPhợng Lĩnh cách đó không xa, không những dễ làm ăn mà còn khô ráo, bềthế và có cơ phát triển Cụ đã đề xuất với ba làng chuyển về đây và đặt tênlàng là Trờng Lu Cái tên Trờng Lu có từ đó.
Từ ngày chuyển về đây dân làng dễ làm ăn hơn, đời sống phong phú hơn
Nh vậy sau lng làng Trờng Lu là núi Phợng Lĩnh, trớc mặt là sông PhúcGiang Địa thế sông núi hữu tình này đã dần sinh ra tính cách và con ngời nơi
đây mà không thể nơi nào có đợc Do vậy trớc đình làng có câu đối và bài ca
Trang 21Trờng Lu làng mới sum vầy hôm mai [ 42,61].
Nằm giáp gianh với Trờng Lu, phía Tây là xã Nguyệt Ao có làng MậtThiết, quê hơng của La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp, phía Tây nam là làng VĩnhGia, nơi chôn rau cắt rốn của Thám hoa Phan Kính Phía Đông là Yên Huy
có núi Cài, nơi sinh trởng của Tiến sĩ Dơng Trí Trạch và phía Đông nam là xãThạch Kiệt quê hơng của nhiều vị tiến sĩ, còn phía Tây bắc là xã Thờng Nga(Nga Lộc), nơi có nhiều cô gái đẹp đợc tuyển làm phi tần trong cung vuachúa
Nằm trong một vùng nhân tài đua phát, làng Trờng Lu cũng nh nhiềulàng khác ở Nghệ Tĩnh Nhân dân ở đây sống chủ yếu bằng nghề trồng trọt.Ngoài ra còn có nghề kéo vải, nuôi tằm, dệt tơ lụa, song dệt, tơ lụa là để tựcung tự cấp và có thêm đồng ra đồng vào Cuộc sống của nhân dân ở đâykhông đến nổi chật vật lắm ở đây cũng có thể buôn bán vì ở đây có ChợQuan một tháng họp chín phiên, cứ ngày phiên chợ, cảnh trên chợ dới đò, ng-
ời các nơi đến mua bán, trao đổi hàng hoá tấp nập Chợ ở đây, ngoài hàngvải, hàng tơ lụa cùng các nông sản nh khoai, lúa, gạo… của Trờng Lu và cáclàng xung quanh, ngời ta còn thấy đồ đan tơi nón ở Thạch Hà ra, mít, giang,lá tro…từ Hơng Khê xuống; tôm, cua, cá, mắm… từ Thạch Kim lên, rồi cả nồi
đất từ Trù ú, Bộng Vẹo vào Từ việc trao đổi và mua bán các sản phẩm hànghoá ấy đã tạo cho Trờng Lu thêm thuận lợi về giao lu văn hoá, hay nói cáchkhác, văn hoá Trờng Lu đã theo chân những ngời mua bán đi khắp nơi
ở Nghệ Tĩnh ít thấy các làng mà các cảnh đẹp đợc quy đúc thành támdanh lam thắng cảnh có tên gọi nh ở Trờng Lu Đó là các cảnh:
1 Ráng sớm chợ Quan (Quan thị triêu hà)
2 Bóng chiều núi Phợng (Phợng sơn tịch chiếu)
3 Chuông sớm chùa Hân (Hân tự hiểu chung)
Trang 224 Bóng râm miếu cổ (Cổ miếu âm dung)
5 Mõ chiều kho nghĩa (Nghĩa thơng vãn thác)
6 ánh trăng liên trì (Liên Trì nguỵêt sắc)
7 Hoa đẹp vờn họ Nguyễn (Nguyệt trang hoa mỹ)
8 Nớc thơm giếng Thạc (Thạc tỉnh hơng tuyền)Dịch thành thơ nh sau:
Ráng bọc chợ Quan khi tảng sáng,Nắng viền núi Phợng lúc hoàng hôn
Chùa Hân buổi sớm hồi chuông gọi,Kho Nghĩa chiều hôm tiếng mõ dồn
Rậm rạp bóng cây che miếu cổ,Lung lay ánh nguỵêt chiếu hồ sen
Nguyễn trang hoa đẹp nhìn a mắt,Giếng Thạc dòng thơm uống tĩnh hồn [42,67]
Trong những dịp lễ hội, ban ngày ngoài tế lễ, có đánh đu đánh vật, chơi
cờ thẻ, đồ xôi thi…,ban đêm còn có diễn trò (diễn chèo), các vở chèo ờng là chèo Kiều, Trơng Viên, Lu Bình -Dơng Lễ…Ca dao Trờng Lu cócâu:
th-Anh đi em nhớ em thơng Mời hai tháng Sáu hội làng chớ quên
Trống rung, màn mở, chuông rền,
Vở chèo say đắm đêm đêm em chờ [42,69]
Trang 23Các danh sĩ trong vùng và nơi khác đến Trờng Lu không chỉ để trao đổithơ văn mà còn để tắm gội vào dòng sông mát mẻ của văn hoá dân gian.Chúng ta đã biết Trờng Lu còn là nơi có tục hát phờng vải nổi tiếng - nổitiếng nh ở Nam Đàn Đâu phải chỉ mình Nguyễn Du từ Tiên Điền vợt TruôngHống vào hát phờng vải mà trai các làng lân cận nh Nguyệt Ao, YênHuy,Vĩnh Gia, Nguyên Xá, Thạch Kiệt và cả ở Bật Trạc, Bình Hồ, ChâuPhong, Yên Đồng… cũng thờng đến Trờng Lu hát phờng vải, mặc dù các nơicũng có nghề dệt vải, tục hát ví nh ở Trờng Lu Trờng Lu có nhiều cô gái đẹp
“Xôi nếp cái, gái Trờng Lu” Đến với hát phờng vải Trờng Lu đâu phải chỉ
đến với các cô gái đẹp, uyển chuyển, thanh lịch, có giọng hát hay, mà đến vớivăn hoá, văn hoá dân gian qua hát phờng vải và bản thân các cô gái Trờng Lucũng là ngời có văn hoá Cái văn hoá này không chỉ thể hiện ở cách ứng xử lễphép, tao nhã của con nhà có gia giáo, có học hành, danh vọng mà còn thểhiện ở chữ nghĩa văn chơng
Trờng Lu không chỉ là vùng quê có nền văn hoá dân gian đặc sắc mà còn
là nơi chôn rau cắt rốn của các bậc đậu cao (Thám Hoa), làm quan to (Thamtụng, Thợng th, Đông các đại học sĩ…), đặc biệt là danh nhân văn hoá lổi lạc
nh Nguyễn Huy Oánh, Nguyễn Huy Tự, Nguyễn Huy Hổ
1.2 Sự phát triển của dòng họ Nguyễn Huy ở Trờng Lu từ thế kỷ
Trang 24lập làng lấy tên gọi là Trờng Lu, chép từ chữ Tràng của làng Tràng và chữ Lutên gọi của Trần Lu Tên làng Tràng Lu hay Trờng Lu nay là xã Trờng Lộc,huyện Can Lộc, Tỉnh Hà Tĩnh có từ đó.
Với lịch sử gần 500 năm trải qua 17 đời con cháu (tính từ cụ tổ) dòng họNguyễn Huy ở Trờng Lu-Can Lộc-Hà Tĩnh đã lan toả ra nhiều huyện trên đất
đời Lê Hồng Đức(1470-1497), là ngời mở đầu khoa bảng ở Trờng Lu Sau cụUyên Hậu về Phơng Bắc, dặn lấy ngày Đông chí làm ngày giỗ, vì thế ở Trờng
Trang 25Đời thứ ba:
Nguyễn Thừa Cẩn, con trai đầu của Nguyễn Hàm Hằng, sau đi sang làngNguyễn Xá (nay là thôn Tam Đình, xã Song Lộc cùng huyện) Con cháu dầndần chia thành 3 chi: Nguyễn Huy ở Nguyễn Xá, Nguyễn Khắc ở Mật Thiết(Nguyệt Ao, Kim Lộc), Nguyễn Hữu ở xóm Giai (Trờng Lộc) Trải qua các
đời có một ngời đợc phong tớc hầu nh Thọ Nhân hầu Nguyễn Khắc Phục (đờithứ 3), hay Thắng Lộc hầu Nguyễn Khắc Hoan (đời thứ 6) Đặc biệt đời thứ
9, có bà Nguyễn Thị Chiêm là vợ Nguyễn Bật Xuân, là ngời sinh ra tiến sĩNguyễn Hành và cũng là bà nội của La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp Các chi
đều có nhà thờ khu mộ riêng Nhà thờ chính ở Nguyên Xá do ông NguyễnHuy Ninh (ông Ninh Khang), tộc trởng, đời thứ 17 họ Nguyễn Huy, coi giữ Nguyễn Thừa Hiệp con thứ của Nguyễn Hằm Hằng, hiệu Giáo học, thụyThận Đức, đỗ Hơng cống và Tam trờng thi Hội
Vợ : họ Nguyễn, làng Vinh Gia
Nguyễn Thừa Sũng, con thứ của Nguyễn Thừa Tổ, sau về quê ngoại ởGia Hanh chuyển thành họ Nguyễn Sĩ, có nhà thờ, gia phả, khu mộ riêng
Đời thứ sáu:
Nguyễn Đôn Hậu con trai đầu của Nguyễn Thừa Hu, đỗ Hơng cống, vớichức Tham tớng thần sự, mộ ở Rú Đền (Núi Đền), thờ ở nhà thờ Đông Chí,
Trang 26con cháu có nhiều ngời đỗ Hiệu sinh, Hơng cống; trong đó có Nguyễn NhHay đợc lập nhà thờ riêng do ông Nguyễn Huy Lợi (ông Đức Lợi) coi giữ.
Vợ ông ngời: họ Trần
Con cháu có ngời chuyển vào xã Thợng Lộc, có ngời đợc phong tớc công,nay thành chi họ lớn ở đây
Nguyễn Hiếu Hạnh con thứ của Nguyễn Thừa Hu, đỗ Hiệu sinh, nhà thờ
do ông Nguyễn Huy Trại trông coi
Vợ ông Hạnh là bà: Nguyễn Thị Đạo, hiệu là Lê ả Đào
Nguyễn Nh Thạch (1579-1662), hiệu Khánh Thiện, húy Thuần Đức, tụcgọi là ông già Bụt, con thứ ba của Nguyễn Thừa Hu, đỗ Hơng giải năm 1602,làm quan đến Lang trung Bộ Hình, tớc Mỹ Lơng tử; mất ngày 15 tháng 6, mộ
ở chân Rú Đền, nhà thờ do ông Nguyễn Huy Thứ ( ông Thứ Yến) trông coi.Vợ: họ Nguyễn, con nuôi của Liêm Quận Công, ngời làng Nguyệt Ao
Đại tông, thờng gọi là nhà thờ Nguyễn Huy
Vợ: Dơng Thị Xa, con gái thứ 5 của Bạt Quận công Dơng Trí Trạch ngờilàng Yên Huy
Trang 27Nguyễn Công Ngạn, con trai thứ 3 của Nguyễn Nh Thạch, sau di c sangvùng Châu Phong Đức Thọ, nay thành chi họ lớn ở đây.
Đời thứ tám:
Nguyễn Công Phác (1649-1706), hiệu Tri Học, thụy Giáo Văn con đầucủa Nguyễn Công Ban, đợc ban Tiến Triều, Đông các đại học sĩ, tớc Lộc Thọnam; mất ngày 3 tháng mời, mộ ở khu Vạn Niên, thờ ở nhà thờ Đại tông.Vợ: Nguyễn Thị Giang (tục gọi là bà Tuyết Nơng), ngời Văn Giang, sinh
ra Nguyễn Công Xuân Vợ thứ : Nguyễn Thị Bẩm ( tục gọi là bà Đức Cẩn),ngời Thuận An ( Bắc Ninh), sinh ra Nguyễn Huy Tựu
Nguyễn Công Chất, con thứ hai của Nguyễn Công Ban, đỗ giải Nguyênnăm ất Mão (1675), làm Tri huyện Thạch Hà, sau con cháu di c lên làngCảnh, Phú Lộc, đợc thờ cả ở Trờng Lu và Làng Cảnh, mộ ở phía Tây Rú Bụt.Vợ: Trần Thị Chỉ
Nguyễn Công Trân, con thứ ba của Nguyễn Công Ban, làm Tri châu, sau
di c tới làng Phú Lộc, xã Song Lộc và lập nhà thờ, khu mộ riêng Đời thứ 10
có Nguyễn Thị Huyên lấy Phan Hỷ ngời Vinh Gia, sinh ra Thám hoa PhanKính
Nguyễn Thị Hộ, đợc phong Thần (tục gọi Đức Bà) con gái Nguyễn CôngBan, mất ngày 15 tháng Ba, thờ cũng tại nhà thờ Đại tông
Đời thứ chín:
Nguyễn Công Xuân, đậu Hơng cống, làm quan Đồng nhạc đờng Mậu lânlang, mất 18 tháng Ba, táng ở khu mộ riêng, thờ ở nhà thờ Đại tông, do ôngNguyễn Huy Trành ( ông Đại) trông coi
Vợ: Phan Thị Dự con gái Hiệu sinh họ Phan làng Vĩnh Gia
Trang 28Nguyễn Huy Tựu (1690-1750), hiệu Tuý Hà, Tú Lâm c sĩ, đỗ Hơng giải.Tuế khoa, làm Tham chính Thái Nguyên rồi Tả thị lang, đợc tặng Công bộThợng th, tớc Khiết Nhã hầu Mất ngày 24 tháng Chín, phần mộ gọi là mộ họLục chi ở Dăm Tam Bảo, phía phải Cầu Quan, cạnh sông Phúc Giang, tặngphong Anh Liệt đại vơng, thờ ở nhà thờ Nguyễn Huy Tự (đã đợc xếp hạng ditích văn hoá lịch sử năm 1991) do ông Nguyễn Huy Nhân (ông Nhân Nghĩa)trông coi.
Vợ: Phan Thị Trừu (1694-1755), ngời làng Vĩnh Gia, cô ruột Thám hoaPhan Kính, mộ tại Rú Mác, sinh ra Nguyễn Huy Oánh, Nguyễn Huy Cự,Nguyễn Huy Kiên Vợ thứ: Trần Thị Cung (1703-1781) ngời Trờng Lu, sinh
ra Nguyễn Huy Quýnh và Nguyễn Huy Khản, phần mộ ở khu Vạn Niên
Vợ: Nguyễn Thị Khoắt (con gái ông Huyện Thừa, hiệu Phúc Xuyên c sĩ,
mộ táng ở phía Tây rú Bụt) sinh Nguyễn Huy Tự; Nguyễn Thị Kiều sinhNguyễn Huy Lạng, Nguyễn Huy Tích; Bùi Thị Mai, sinh Nguyễn Huy Đờng;Nguyễn Thị Chỉ sinh Nguyễn Huy Bình; Lê Thị Hợp sinh Nguyễn Huy
Đồng, Nguyễn Huy Tá; Đào Thị Vực sinh Nguyễn Huy Thụ; và hai bà nữa Nguyễn Huy Cự (1717-1775), hiệu Nam Sơn c sĩ, đỗ Hơng giải nămMậu Ngọ (1738), tớc Ngật Đình Bá, mất ngày 16 tháng Chạp năm 1775,tặng phong Khanh Thông Chơng đại vơng, mộ táng ở phía phải khu VạnNiên, nhà thờ do ông Nguyễn Huy Lạc (ông Vinh Lạc) trông coi; có hai con
Trang 29trai là Nguyễn Huy Trác (nho sinh, làm tri phủ) và Nguyễn Huy Tiêu (cửnhân, làm tri huyện).
Nguyễn Huy Kiên (1735- ?), hiệu Trác Phong c sĩ, đỗ Hơng giải năm KỷMão (1759) cùng ngời em là Nguyễn Huy Khản và ngời cháu là Nguyễn Huy
Tự, làm Thiêm sự Bộ Lại; mất táng ở Rú Cà, nhà thờ do ông Nguyễn HuyTĩnh (ông Hồng Hoài) trông coi
Vợ: họ Nguyễn ở làng Nguyệt Ao, con gái tiến sĩ Nguyễn Hành
Nguyễn Huy Quýnh (1734-1785), tự Duy Nham, hiệu Dần Phong, thụyTrung ý; đỗ Tiến sĩ năm Nhâm Thìn (1772), làm Đốc trị đạo Quảng Thuận,Hàn lâm viện Thị giảng, mất ngày 10 tháng Sáu, mộ ở khu Vạn Niên, nhà thờhiện chỉ còn một mảnh vờn và ngôi miếu nhỏ; con trai là Nguyễn Huy Hào,
tự Bá Hng, đỗ Hơng cống, làm tri huyện Tiên Lữ - Hng Yên Con củaNguyễn Huy Hào là Nguyễn Huy Giáp, đỗ Hơng cống năm Canh Tý (1840) Nguyễn Huy Khản, con thứ năm của Nguyễn Huy Tựu, đỗ Hơng cốngkhoa Kỷ Mão (1759), tới làng Thờng Nga, nay là xã Nga Lộc cùng huyện, vàtrở thành chi họ ở đây, thờ cả hai nơi
Nguyễn Huy Đại con nuôi của Nguyễn Huy Tựu, làm phó sứ đồn đền,
đ-ợc tặng tớc hầu, nhà thờ do ông Nguyễn Huy Tuyển trông coi
Trang 30Nghiễm, sinh Nguyễn Huy Tợng và Nguyễn Huy Vinh; Nguyễn Thị Đài(1752-1819), em gái bà Nguyễn Thị Bành, sinh Nguyễn Huy Hổ, NguyễnHuy Tuyên, Nguyễn Huy Thọ; Nguyễn Thị Tĩnh, sinh Nguyễn Huy Hội;Nguyễn Thị Nhiên, sinh Nguyễn Huy Quảng, Nguyễn Huy Lý, Nguyễn HuyLân; và hai bà nữa.
Nguyễn Huy Đồng, hiệu Phợng Sơn c sĩ, con thứ hai của Nguyễn HuyOánh, Triều liệt đại phu, con là Nguyễn Huy Bá, đỗ cử nhân Nguyễn Huy
Đồng sau di c lên làng Phú Lộc xã Song Lộc, nay con cháu có dòng họ ở đây.Hiện ở làng Phú Lộc có hai chi họ Nguyễn Huy, từ Nguyễn Công Trân và từNguyễn Huy Đồng
Nguyễn Huy Lạng, đỗ Hơng cống, Triều liệt đại phu
Nguyễn Huy Đờng, Nho sinh, Triều liệt đại phu, sau đổi tên là NguyễnHuy Du lên vùng Thanh Xuân, huyện Thanh Chơng
Nguyễn Huy Bình, Nho sinh, Triều liệt đại phu
Nguyễn Huy Tá, đỗ Hơng cống (1783) triều Nguyễn, làm Đốc học BắcNinh rồi làm phó đốc học Quốc Tử Giám, tớc Th Đình hầu
Nguyễn Huy Tích, Triều liệt đại phu
Vợ: họ Phan, đợc tặng biển "Trinh tiết khả phong"
Nguyễn Huy Thụ, Triều liệt đại phu
Đời thứ mời hai:
Nguyễn Huy Tợng (1766-?), tớc Lại Lĩnh Bá
Nguyễn Huy Vinh (1770-1818), huý là Lung, tự Hy Nhân, thụy VănNhã, hiệu Phụ Trai, biệt hiệu Chung Sơn c sĩ (con cháu thờng gọi là HầuChung Sơn), tớc Trà Lĩnh bá, nhà thờ ở Trờng Lu, phần mộ ở xứ Đồng Cộ,
Trang 31Nguyễn Huy Hổ (1783-1841), phần mộ ở Rú Cà, nhà thờ ở Trờng Lu do
ông Nguyễn Huy Minh (ông Minh Thanh) trông coi, Danh nhân văn hoá ViệtNam, nhà thờ đợc xếp hạng di tích văn hoá lịch sử quốc gia năm 2001
Nguyễn Huy Tuyên (1787-?), Hiển cung đại phu
Nguyễn Huy Thọ (1791-?), Hiển cung đại phu, Chiêu văn quán nho sinh Nguyễn Huy Hội (1765-1838), còn có tên là Phó, đỗ giải Nguyên năm
1783 khoa Quý Mão, Hiễn cung đại phu, nhà thờ ở Trờng Lu, mộ ở khu VạnNiên
Nguyễn Huy Quãng (1779-?), Hiễn cung đại phu, Chiêu văn quán nhosinh
Nguyễn Huy Lý (1782-?), Hiển cung đại phu, Chiêu văn quán nho sinh Nguyễn Huy Lân (1786-?), Hiển cung đại phu, Chiêu văn quán nho sinh
Đời thứ mời ba:
Đến đời này phân chia ra nhiều chi nhng chúng tôi chỉ đề cập tới chi củaNguyễn Huy Vinh
Chi Nguyễn Huy Vinh (Hầu Chung Sơn): Nguyễn Huy Khoảnh
(1814-1854), con trai đầu của Nguyễn Huy Vinh, tên chữ là Quỳnh, hiệu Bá DaoNguyễn Huy Toản (1819-?), con thứ của Nguyễn Huy Vinh, tự Hy Lễ sau
đổi tên tự là Thúc Ngọc, hiệu Mạc Sơn c sĩ, 5 lần trúng nhị trờng thi Hơng,phần mộ ở xứ Đồng Cộ, bên phải mộ của Nguyễn Huy Vinh, thờ chung cùngthà thờ với Nguyễn Huy Vinh
Đời thứ mời bốn:
Thế hệ thứ mời bốn họ Nguyễn Huy- thế thứ ba chi họ Hầu Chung Sơn,
có 5 ngời con trai và một ngời con gái
Trang 32Nguyễn Huy Khoảnh lấy vợ là Nguyễn Thị Duyệt (1814-1833) là con gái
út của Nguyễn Xuân Yến, ngời làng Trờng Lu, sinh đồ Triều Lê và vợ kế làTrần Thị Làm Vợ cả sinh Nguyễn Huy Tân (1836-1857), vợ kế sinh NguyễnHuy Ngoãn (1844-?) và Nguyễn Huy Mân (1849-?)
Nguyễn Huy Toản lấy vợ cả Lê Thị Quyển (1822-1842) là con gái đầucủa Lê Gia Thụy ngời làng Thông Phố, Minh Lơng, nhập Việt Xuyên ThạchHà; vợ kế là Lê Thị Duyệt (1822-?) con gái đầu của Lê Quý Điền ngời làngTrung Lễ, xã Cổ Ng, huyện La Sơn Vợ kế sinh Nguyễn Huy Phiên (1850-1916), tên chữ Hoàn Nhợc, hiệu Mai Hiên và Nguyễn Huy Triện (1852-1909), hiệu Ngọc Văn, phần mộ của các ông đều ở Trờng Lu và thờ cúng ởnhà thờ Nguyễn Huy Vinh
và ba ngời con gái là: Nguyễn Thị Luận lấy chồng Nguyễn Thanh cùng làng,Nguyễn Thị Vân lấy chồng họ Đào cùng làng, Nguyễn Thị Tàm lấy chồngngời làng Hốt xã Phú Lộc
Nguyễn Huy Phiên lấy vợ là Lu Thị Đàm là con gái của Lu Đình Nghị,sinh Nguyễn Huy Hạ (1844-1930), lấy vợ cả là Nguyễn Thị Xuân và vợ kế là
Võ Thị Ngạn; Nguyễn Huy Thự (1877-1950), lấy vợ cả là Trần Thị Giản ngời
họ Trần cùng làng và vợ kế là Nguyễn Thị Em ngời làng Yên Tràng; vàNguyễn Huy Toại (1898-1973) lấy vợ cả là Nguyễn Thị Đặc ngời làng KỳTrúc và vợ kế là Nguyễn Thị Duy
Trang 33NguyÔn Huy TriÖn lÊy vî hä NguyÔn con g¸i thø hai cña viªn quan töNguyÔn B¸ Sanh ngêi Yªn Vinh x· §¹i Léc,sinh NguyÔn Huy Mîi (1880-1934), lÊy vî hä D¬ng ngêi Yªn Léc vµ vî kÕ lµ ngêi hä NguyÔn lµng Tr¹i;NguyÔn Huy Cõ (1883-1960), Tam trêng thi H¬ng, Cöu phÈm v¨n giai, lÊy
vî lµ TrÇn ThÞ Nhiªn (1884-1956); NguyÔn Huy Lan (1893-1902) vµ 3 ngêicon g¸i lµ NguyÔn ThÞ Giai (1886-?), lÊy chång ngêi KiÖt Th¹ch; NguyÔn ThÞDiÖu (1890-1903); NguyÔn ThÞ H¶o (1896-?) lÊy ngêi hä Bïi lµng Hãi
§êi thø mêi s¸u:
ThÕ hÖ thø mêi s¸u hä NguyÔn Huy-ThÕ hÖ thø 5 chi hä HÇu Chung S¬n,gäi NguyÔn Huy Vinh lµ Cao tæ
NguyÔn Huy YÕn sinh NguyÔn Huy NhuÇn (?-1991) lÊy vî NguyÔn ThÞH¹nh cïng lµng
NguyÔn Huy Nh¹ sinh NguyÔn Huy ¸i (1907-1917); NguyÔn Huy Ch©u(1910-1975) lÊy vî lµ NguyÔn ThÞ Em; NguyÔn Huy Hoµng (1913-?);NguyÔn Huy T (1915-?) vµ 2 con g¸i lµ NguyÔn ThÞ Phîng mÊt sím, NguyÔnThÞ Loan ( 1922-?) lÊy «ng Gi¸o H¶o ngêi Song Léc
NguyÔn Huy Thù sinh NguyÔn Huy Trinh n¨m 1930 vµ 3 ngêi mÊt sím lµNguyÔn Huy Liªm, NguyÔn Huy ChÝnh, NguyÔn Huy Trùc; con g¸i cãNguyÔn ThÞ Oanh, NguyÔn ThÞ Em ( 1919-1997) lÊy «ng H÷u xãm Giai,NguyÔn ThÞ Hång lÊy chång ngêi Song Léc, NguyÔn ThÞ Lîi lÊy «ng Gi¸mngêi chî Vi x· Kim Léc vµ NguyÔn ThÞ Th×n lÊy NguyÔn V¨n H÷u ngêiSong Léc
NguyÔn Huy To¹i sinh NguyÔn Huy Hå n¨m 1930 lÊy vî lµ TrÞnh ThÞ Tiu
ë Trêng Lu, NguyÔn Huy Quý lÊy vî lµ Hoµng ThÞ Minh ngêi lµng Vinh Giax· Song Léc, NguyÔn Huy LiÔn lÊy vî c¶ lµ NguyÔn ThÞ Quý vµ vî kÕ lµNguyÔn ThÞ Hoa
Trang 34Nguyễn Huy Mơi sinh Nguyễn Huy Nhuần năm 1930 ( cùng tên với conNguyễn Huy Yến) và Nguyễn Thị Ngoéc lấy chồng là Trần Đành ngời làngHói.
Nguyễn Huy Cừ lấy vợ là Trần Thị Nhiên (1885-1956) sinh Nguyễn Huy
Đệ (1909-1968) lấy vợ cả là Nguyễn Thị Ngân và vợ kế là Nguyễn Thị ấm(?-1940) và Nguyễn Thị Em ngời làng Phúc Xá; Nguyễn Huy Quế sinh năm
1922 lấy vợ là Trần Thị Lài (?-1950) ngời làng Hói vợ kế là Nguyễn Thị Lanngời xã Nga Lộc; Nguyễn Huy Đàn (1925-1997) lấy vợ là Phan Thị Vân ngờilàng chợ Vi xã Kim Lộc sinh đợc 3 ngời con gái là Nguyễn Thị Em lấy TrịnhKhoán ngời cùng làng, Nguyễn Thị Tam lấy ông Hoà ngời cùng làng vàNguyễn Thị Mời lấy chồng là Nguyễn Văn Chiến ngời xã Phú Lộc
Đời thứ mời bảy:
Thế hệ thứ 17 của dòng họ Nguyễn Huy- thế hệ thứ 6 của chi Hầu ChungSơn
Nguyễn Huy Nhuần sinh Nguyễn Huy Kiệm, Nguyễn Huy Minh, NguyễnHuy Thông, Nguyễn Huy Toàn, Nguyễn Huy Thắng và 3 con gái là NguyễnThị Thảo, Nguyễn Thị Hiền và Nguyễn Thị Hào
Nguyễn Huy Châu sinh Nguyễn Huy Thản, Nguyễn Huy Đạn sinh năm
1942, Nguyễn Huy Bích là liệt sỹ và Nguyễn Thị Côn Nay Nguyễn HuyThản là Đại tá Quân đội nhân dân Việt Nam, nghỉ hu ở Thành Phố Hồ ChíMinh
Nguyễn Huy Trinh sinh Nguyễn Huy Hoàn, Nguyễn Huy Hùng, NguyễnHuy Hải, Nguyễn Huy Hiếu, Nguyễn Thị Hờng, Nguyễn Thị Hà và NguyễnThị Hoa
Trang 35Nguyễn Huy Hồ sinh Nguyễn Huy Chơng, nay là tộc chi Hầu Chung Sơn
ở Hà Nội ở nhà của Nguyễn Huy Hồ con cháu của dòng họ Nguyễn Huy ờng Lu tại Hà Nội đã cùng nhau lập nơi thờ các vị tổ của dòng họ NguyễnHuy Trờng Lu và là nơi gặp gỡ đầu năm mới và vào ngày giỗ Đông Chí.Nguyễn Huy Quý sinh Nguyễn Huy Hoàng, Nguyễn Huy Dân; NguyễnThị Đông, Nguyễn Thị Liễu, Nguyễn Thị Lơng, Nguyễn Thị Lan
Tr-Nguyễn Huy Liễn sinh Tr-Nguyễn Huy Thiên, Tr-Nguyễn Huy Tài, Tr-NguyễnHuy Vợng và Nguyễn Thị Thuận
Nguyễn Huy Nhuần sinh Nguyễn Huy Tấn, Nguyễn Huy Tịnh, NguyễnHuy Mỹ, Nguyễn Huy Lộc, Nguyễn Huy Lâm, Nguyễn Thị Thành, NguyễnThị Lý
Nguyễn Huy Đệ sinh Nguyên Huy Xuân, Nguyễn Huy Quân, NguyễnHuy Long; Nguyễn Thị Tuyết, Nguyễn Thị Nguyệt, Nguyễn Thị Hoa,Nguyễn Thị Hồng
Nguyễn Huy Quế sinh Nguyễn Huy Đào, Nguyễn Huy Lê, Nguyễn HuyCam; Nguyễn Thị Huệ, Nguyễn Thị Liễu, Nguyễn Thị Liên, Nguyễn ThịTrúc
Nguyễn Huy Đàn sinh Nguyễn Nguyên Huy, Nguyễn Thợng Hùng,Nguyễn Minh Hiếu và Nguyễn Thị Chi
Trải qua gần 500 năm lịch sử kể từ ngày cụ tổ lập nên làng Trờng Lu cho
đến nay, dòng họ Nguyễn Huy đã trởng thành và trở thành một dòng họ lớn,lan toả ra nhiều nơi trong cả nớc Dòng họ Nguyễn Huy là dòng họ có bề dày
về truyền thống hiếu học, khoa bảng nổi tiếng ở Nghệ Tĩnh và cả nớc
Các thế hệ tiếp nối của dòng họ Nguyễn Huy luôn kế thừa và phát huytruyền thống văn hóa, khoa bảng, truyền thống yêu nớc, đức kiệm cần chịu
Trang 36khổ vợt khó của cha ông, ngày càng làm đẹp thêm những giá trị văn hoá củadòng họ trên vùng đất Hồng Lam và cả những miền quê mới họ đến lậpnghiệp.
Trang 37chơng 2
văn hoá truyền thống của dòng họ Nguyễn Huy ở
Trờng Lu (Can Lộc, Hà Tĩnh) 2.1 Gia phong của dòng họ Nguyễn Huy.
Đất nớc đang ngày càng đổi mới, phát triển, dân giàu, nớc mạnh, xã hộicông bằng, dân chủ, văn minh là hạnh phúc cho toàn xã hội Nhng ngày naytrớc sự hội nhập và nền kinh tế thị trờng đang dần lôi cuốn con ngời vào vòngxoáy đầy vội vã, bon chen, kéo theo đó là sự thay đổi của những thang giá trị,những chuẩn mực, đạo đức Trong đó có đạo lý đối với ngời thân trong gia
đình Đã không ít những trang sách, báo, truyền hình nói về tình trạng gia
đình hiện nay Gia đình là vấn đề mà toàn xã hội đang quan tâm Hiện naymột số gia đình đang dần mất đi đạo đức, lối sống lành mạnh Xây dựng gia
đình hạt nhân, gia đình truyền thống là điều đang đợc các cấp các ngành vàbản thân từng cá nhân con ngời rất quan tâm
Hiện nay, chúng ta đang ra sức đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoánhằm đa nớc ta trở thành một nớc giàu mạnh, văn minh Nhng công nghiệphoá, hiện đại hoá không chỉ đơn thuần là tăng trởng kinh tế và sự thay đổi vềcông nghệ mà còn là vấn đề thách thức về xã hội, văn hoá, đạo đức, lối sống,tâm t, tình cảm …Tất cả những cái đó đều nằm trong gia đình Cho nên chúng
ta phải xây dựng đợc yếu tố gia đình lành mạnh, có văn hoá Nh thế vẫn cha
đủ, mà phải làm sao cho các gia đình phải có gia phong, chừng nào mà gia
đình có gia phong thì xã hội mới phát triển lành mạnh và bền vững đợc Khi
đó mới thực sự đẩy lùi và ngăn chặn đợc các tệ nạn xã hội xâm nhập vào cácgia đình
Trang 38Khi tìm hiểu về dòng họ Nguyễn Huy ở Trờng Lu - Can Lộc, chúng tôi
đều nhận thấy cách giáo dục gia phong và giáo dục con cháu về truyền thốngcủa dòng họ một cách bài bản có tôn ty trật tự rõ ràng
Nét gia phong đáng quý, đáng trân trọng của dòng họ Nguyễn Huy làtruyền thống hiếu học, khoa bảng, coi việc học hành là bổn phận của mỗithành viên trong dòng họ
Thời phong kiến, Việt Nam luôn đề cao nam giới và coi thờng nữ giới.Nữ giới không đợc học hành, không đợc tiếp xúc nhiều với xã hội Thế nhngdòng họ Nguyễn Huy đã phá vỡ cái bức tờng phong kiến đó và luôn dạy concái của dòng họ của mình phải gìn giữ nét gia phong và học hành chu đáo
Do vậy, đến thời Nguyễn Huy Oánh, ông đã viết cuốn sách Huấn nữ tử ca để
dạy con gái về công, dung, ngôn, hạnh Bởi vì ông quan niệm con gái là phảilấy chồng, mà lấy chồng thì phải làm vợ, làm mẹ, làm dâu Cho nên vấn đềtrang bị kiến thức cho con gái là rất cần thiết khi về nhà chồng Khôngnhững Nguyễn Huy Oánh làm đợc điều đó về sau con cháu của ông đã pháthuy và lu giữ nét gia phong đó
Đáng quý, đáng trân trọng nhất của dòng họ Nguyễn Huy là truyền thốnghiếu học, việc học hành đợc đặt lên hàng đầu Có lẽ ngay từ những đời trớccác bậc tiền bối đã xác định đợc vai trò và tầm quan trọng của sự học, củakiến thức nên đã quan tâm đến việc học hành của con em trong dòng họ Tuy
là một dòng họ không lớn nhng từ xa đến nay dòng họ Nguyễn Huy luôn đi
đầu trong việc chăm lo học hành, trau dồi học vấn, lấy sự học làm trọng
Đồng thời đó cũng là kế để sinh nhai Kết quả đó đợc thể hiện nh sau:
Thuỷ tổ của dòng họ Nguyễn Huy là cụ Uyên Hậu, ngời khai khoa chodòng họ Nguyễn Huy ở Trờng Lu Ông đỗ Ngũ kinh bác sĩ đời Lê Hồng Đức(1470-1497) Con trai ông, Nguyễn Hàm Hằng hiệu Thận Minh năm 15 tuổi
Trang 39giám Con thứ của Nguyễn Hằm Hằng là Nguyễn Thừa Nghiệp, hiệu Giáohọc, cũng đậu Hơng cống.
Mấy đời sau nhiều ngời là hiệu sinh, có ngời làm quan võ, giữ chức thamtớng thần sự, nh Nguyễn Đôn Hậu, Nguyễn Nh Thạch làm đến Lang trung bộHình, tớc Mỹ lơng tử Đến đời thứ 7 có Nguyễn Công Ban (1630-1711) hiệu
lỵ Pháp, đỗ khoa Hoành từ năm ất Tỵ (1665) làm quan đến Giám sát ngự sử,tớc Thái sơn nam Nguyễn Công Phác (1649-1706) con trai trởng củaNguyễn Công Ban, hiệu Trí Học đợc tiến triều đến Đông các đại học sĩ, tớcLộc thọ nam Con thứ hai là Nguyễn Công Chất, đỗ Giải nguyên năm ất mão(1675), làm tri huyện Thạch Hà; con thứ ba là Nguyễn Công Trân, làm trichâu Tiếp đó, có hai anh em là Nguyễn Công Xuân (1688-?) đỗ Hơng cống,làm đồng nhạc đờng Mậu lâm lang và Nguyễn Huy Tựu (1690-1750) hiệuTuý Hà, đỗ Hơng giải, làm tham chính Thái Nguyên rồi tả thị lang, sau khimất đợc tặng công bộ Thợng th Ông là tác giả các sách Thiên văn bảo kính,
cửu phẩm, nhng cha dùng đúng năng lực” [31,308] Tuy làm quan to nhngchán ngán trớc thời cuộc, không tha thiết mấy về chức quyền nên đã hai lầnxin về Ông là một học giả uyên bác, lên 8 tuổi đã giỏi văn thơ và ham mêsách vở, sách mà ông đọc là: thiên văn, địa lý, thái ất, nhâm độn, toán số,
Trang 40binh th, binh pháp không sách nào là không thông suốt Ông thành lập cả một
th viện lớn - Th viện Phúc Giang Gia phả chép: “Quan Thám hoa khi tạichức không thu vén tiền của cho mình, không làm giàu cho con cháu mà chỉ
lo tích lũy sách vở Lập th viện lớn đến hàng vạn quyển” [27,530]
Ông là một nhà s phạm lớn Lúc trẻ ông đã là thầy học của chúa TrịnhSâm Cho đến lúc già xin về trí sĩ, ông vẫn dạy học không mỏi Học trò của
ông có vài nghìn ngời, trong đó có hơn 30 ngời đỗ Tiến sĩ cùng làm quan
đồng triều, còn đỗ Hơng cống đợc giao chức vụ trách nhiệm thì không biếtbao nhiêu mà kể” [31,309]
Bốn con trai khác của Nguyễn Huy Tựu thì Nguyễn Huy Cự (1717-1775),Nguyễn Huy Kiên (1735-?), Nguyễn Huy Khản (con út) đều đỗ Hơng cống,
và Nguyễn Huy Quýnh (1734-1785), đỗ tiến sĩ khoa Nhâm Thìn (1772) làm