1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lịch sử văn hó dòng họ trần ở phúc thành, yên thành, nghệ an từ thế kỷ XV đến nay (2007)

86 822 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lịch Sử Văn Hóa Dòng Họ Trần Ở Phúc Thành, Yên Thành, Nghệ An Từ Thế Kỷ XV Đến Nay
Tác giả Nguyễn Thị Minh Nguyệt
Người hướng dẫn TS. Trần Văn Thức
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Khoa Học Lịch Sử
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2007
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 276 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh=====  ===== Nguyễn thị minh nguyệt lịch sử văn hoá dòng họ trần ở phúc thành, yên thành, nghệ an từ thế kỷ xv đến nay 2007 luận văn thạc sĩ kho

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh

=====  =====

Nguyễn thị minh nguyệt

lịch sử văn hoá dòng họ trần ở phúc thành, yên thành, nghệ an từ thế kỷ xv đến nay (2007)

luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử

Vinh - 2008 Lời cảm ơn

Trong thời gian thực hiện đề tài này cũng nh trong suốt quá trình họctập, rèn luyện tại Trờng Đại học Vinh, chúng tôi đã nhận đợc sự quan tâm, dạybảo ân cần của TS Trần Văn Thức cùng các thầy cô giáo Khoa Lịch sử vàKhoa Sau Đại học Nhân dịp này, chúng tôi xin đợc gửi lời cảm ơn chân thànhnhất đến tất cả quý thầy cô, đặc biệt xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối vớithầy Trần Văn Thức, ngời đã luôn chỉ bảo tận tình chúng tôi trong việc thựchiện luận văn tốt nghiệp cao học của mình

Trang 2

Xin gửi lời cảm ơn tới các cơ quan khoa học, giáo dục tại Nghệ An và

Sở văn hóa và du lịch Nghệ An, Hội đồng gia tộc họ Trần ở Phúc Thành, ôngTrần Quốc Bảo giám đốc bảo hiểm Nghệ An đã giúp đỡ chúng tôi trong quátrình su tầm t liệu để tiến hành nghiên cứu đề tài này

Cuối cùng xin đợc cảm ơn gia đình, bạn bè, những ngời luôn quantâm, động viên và mong chúng tôi trởng thành

Tự đáy lòng mình, chúng tôi luôn tự nhủ sẽ phải cố gắng nỗ lực, phấn

đấu nhiều hơn nữa để xứng đáng với sự quan tâm, dạy bảo và giúp đỡ quý báu đó

SVHTT: Sở Văn hóa thông tin

UBND: ủy ban nhân dân

Trang 3

4 Nguån t liÖu vµ ph¬ng ph¸p nghiªn cøu 5

Trang 4

1.2.1 Hä TrÇn ViÖt Nam 191.2.2 Sù h×nh thµnh dßng hä TrÇn ë Phóc Thµnh - Yªn Thµnh - NghÖ An 241.2.3 Sù ph¸t triÓn cña dßng hä TrÇn ë Phóc Thµnh - Yªn Thµnh

3.2.2.1 NghÖ thuËt trang trÝ kiÕn tróc 82

Trang 5

Cả ba vị trên đều là phúc thần, thành hoàng các làng ở các xã YênThành.

4 Tấn Quang vơng Trịnh Bính, là con rể của Liêm quận công Trần Đăng

Dinh, chồng của thái phi Trần Thị Ngọc Thiều

tớc công

1 Phú quận công Trần Thọ

2 Thái bảo đông quận công Trần Tuấn Kiệt

3 Thiếu phó, bồi tụng, liêm quận công Trần Đăng Dinh

4 Tấn quốc công Trịnh Bính (con rể của Trần Đăng Dinh)

5 Xuyên quận công tham tụng tể tớng Trần Đăng Tuyển (con của Trần

Đăng Dinh)

6 Cẩm quận công Phạm Gia Vợng (con rể của Liêm quận công, chồng

của quận phu nhân Trần Thị Cởi)

7 Quận công Võ Tá (chồng của quận phu nhân Trần Thị Uyển, con gái

của Trần Đăng Nhuận, con thứ 4 của Liêm quận công)

8 Quận công Trần Đăng Đàn (con của Trần Đăng Sĩ, cháu của Liêm quận

công Trần Đăng Dinh)

Tớc hầu, bá, tử, nam

1 Phú vinh hầu Trần Thọ (sau phong phú quận công)

2 Kiên lễ hầu Trần Văn Ngạn

3 Đông lĩnh hầu Trần Tuấn Kiệt, sau tăng quận công, gia phong đại vơng

Trang 6

1 Phô quèc thîng tíng qu©n TrÇn Thä.

2 Phô quèc thîng tíng qu©n TrÇn V¨n Ng¹n

3 Phô quèc thîng tíng qu©n TrÇn TuÊn KiÖt

4 Phô quèc thîng qu©n Ph¹m Gia Vîng (con rÓ Liªm quËn c«ng)

5 Qu¶n t¶ néi thuû c¬, TrÞ thuû sö TrÇn §¨ng Dinh

6 Thîng tíng qu©n TrÇn ChÝnh §¹o

7 Thîng tíng qu©n TrÇn dòng lîc

8 §¹i tíng qu©n TrÇn Vâ NguyÖt (cã tªn lµ Vò Môc)

9 Thuû binh tri phiªn TrÇn §¨ng ThuÇn

10 KiÖn trung tíng qu©n TrÇn §¨ng Thµnh

11 KiÖt trung tíng qu©n TrÇn §¨ng K¹o

12 §« tæng binh sø TrÇn §¨ng T¹o

13 KiÖt trung tíng qu©n TrÇn §¨ng TiÕn

14 Anh liÖt tíng qu©n TrÇn §¨ng SÜ

15 §« chØ huy sø TrÇn Phóc Thùc

16 §« chØ huy Sø TrÇn Hng Th¸i

17 Hng liÖt tíng qu©n TrÇn §¨ng Th¸i

18 Tri tæng binh TrÇn Duy SÜ

19 TrÝ anh tíng qu©n, §« chØ huy sø (khuyÕt danh)

20 CÈm y vÖ tíng qu©n TrÇn §¨ng Thä

21 CÈm y vÖ, KiÖt trung tíng qu©n TrÇn §¨ng §Þnh

Trang 7

22 Hoài viện tớng quân Trần Đăng Triều

23 Tổng binh sứ Phậm Tân (con rể Trần Đăng Tạo)

24 Chỉ huy sứ Trần Trung Hoài

25 Chỉ huy sứ Trần Đăng Dơng (con của Trần Đăng Nhợng)

26 Hiến sát Hồ Sĩ Đôn (con rể Liêm quận công Trần Đăng Dinh)

27 Điện tiền chỉ huy sứ Trần Đăng Yến

Khoa bảng, văn ban

1 Tiến sĩ, hoành từ tham chính, thợng th, thiếu phó, bồi tụng Liêm quận

côngTrần Đăng Dinh

2 Tham tụng (hàm tể tớng) Trần Đăng Tuyển

3 Giải nguyên, hoành từ Trần Đăng Dũng

4 Tiến sĩ Trần Đăng Đàn

5 Văn ban tham chính Trần Văn Ngạn

6 Cử nhân Trần Đăng Sùng

7 Cử nhân Trần Cao Thức

8 Cử nhân Nguyễn Nghĩa cháu ngoại Trần Đăng Dinh

9 Huấn đạo Trần Nho Lâm

10 Tiến sĩ Nguyễn Huy Thuật, tự Khanh (rể)

11 Tiến sĩ giám sát sứ (phu quân Thị Du - con gái Trần Đăng Tạo), không

4 Trần Đăng Triều phúc thần thờ ở Cấm Sơn, Yên Thành

5 Trần Thế Tế phúc thần thờ ở Nam Sơn, Yên Thành

Trang 8

Danh sách các mệnh phụ phu nhân

Các phu nhân đều đợc phong mệnh phụ phu nhân, đây chỉ ghi Quận phunhân trở lên

1 Chính phi tặng thái phi Trần Thị Ngọc Thiều, vợ Tấn Quang Vơng (con

rể của Liêm quận công Trần Đăng Dinh)

2 Thứ phi Ngọc Cảnh Xuân Nơng Thị Bích (con gái Liêm quận công Trần

Đăng Dinh)

3 Chính phu nhân Trần Thị Đài (có tên khác là Thái) phu nhân phú quận

công Trần Thọ

4 Chính phu nhân Phan Thị, phu nhân của Kiên lễ hầu Trần Văn Ngạn

5 Quận phu nhân Nguyễn Thị Đào, chính thất đông quận công Trần Tuấn

8 Quận phu nhân Trần Thị Vóc, kế thất Liêm quận công Trần Đăng Dinh

9 Thái phu nhân Lê Thị Nho, thứ nhất Liêm quận công Trần Đăng Dinh

10 Quận phu nhân Trần Thị Cởi, chồng là Cẩm quận công

11 Quận phu nhân Trần Thị Loan (chồng khuyết danh)

12 Quận phu nhân Thị Uyển, chồng là quận công Võ Tá con rể Trần Đăng

Trang 9

động của văn hoá nhằm xây dựng con ngời Việt Nam phát triển toàn diện vềchính trị, t tởng, đạo đức thể chất năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòngnhân ái khoan dung, tôn trọng tình nghĩa, quan hệ hài hoà trong gia đình, cộng

đồng và xã hội” [44; 114]

1.3 Trăm ngàn nhà tạo nên làng xã, nên đất nớc, trăm họ tạo nên dântộc Nhà có yên thì nớc mới vững, dân có giàu thì nớc mới mạnh Dân tộc tr-ờng tồn trong nguồn mạch văn hóa cộng đồng, văn hóa làng xã Dòng họ đóngmột vai trò quan trọng trong quá trình dựng nớc và giữ nớc Gìn giữ nhữngtruyền thống cùng với những phong tục tập quán tốt đẹp của dòng họ tạo nênnếp sống của dân tộc Tìm về cội nguồn chính là tìm về truyền thống tốt đẹpcủa dân tộc mình của đất nớc mình

Văn hóa dân tộc là sự kết tinh của văn hóa làng, văn hóa dòng họ.Muốn hiểu hơn về văn hóa dân tộc thì phải tìm hiểu văn hóa dòng họ Là ngờiViệt Nam ai cũng có ý thức về dòng họ, nó chi phối mỗi ngời, mỗi gia đìnhtrong họ tộc Mỗi dòng họ đều có những đóng góp cho công cuộc xây dựng vàbảo vệ tổ quốc Dòng họ là nơi đã sản sinh ra những nhân tài, những danhnhân hào kiệt cho đất nớc Những đóng góp đó của dòng họ cùng với truyềnthống tốt đẹp của mỗi dòng họ tạo nên những giá trị văn hóa to lớn đối với nềnvăn hóa dân tộc

Do vậy, việc nghiên cứu tìm hiểu về dòng họ có ý nghĩa vô cùng quantrọng đối với lịch sử dân tộc Qua đó, giúp chúng ta hiểu hơn về cuộc đời và sựnghiệp của những danh nhân, hào kiệt Từ đó giáo dục thế hệ mai sau noi theo

và đào tạo ra con ngời Việt Nam thế kỷ XXI

1.4 Ngày nay, đất nớc ta đang bớc vào thời kỳ hội nhập việc gìn giữbản sắc văn hóa dân tộc càng trở nên cấp thiết Việc nghiên cứu, tìm hiểu phát

Trang 10

huy truyền thống văn hóa gia đình, văn hóa dòng họ chính là thực hiện đạo lý

“Uống nớc nhớ nguồn” - truyền thống ngàn đời của dân tộc Việt Nam Tìm

hiểu văn hóa dòng họ chính là hớng về tổ tiên, nguồn cội từ đó thức tỉnh tìnhyêu quê hơng, đất nớc, thức tỉnh ý thức con ngời, khơi dậy những truyền thốngtốt đẹp nhằm gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc

1.5 Vấn đề dòng họ vừa có mặt mạnh, mặt tốt đẹp nhng cũng có nhữngmặt hạn chế nh vấn đề tranh giành đất đai, mất đoàn kết trong họ tộc, kết bècánh ở địa phơng, nó còn ảnh hởng đến các cơ quan nhà nớc Vì vậy, việcnghiên cứu dòng họ nhằm phát huy những mặt tích cực và xoá bỏ những tàn

d tiêu cực, lạc hậu Từ đó tạo ra nội lực của văn hóa đối với sự phát triển bềnvững lâu dài của đất nớc

1.6 Dòng họ Trần ở Phúc Thành, Yên Thành, Nghệ An là một dòng họlớn Trải qua hơn 500 năm dòng họ này đã có những đóng góp cho quê hơng

đất nớc Năm 1994 đền thờ Liêm quận công Trần Đăng Dinh đợc Bộ Văn hóa

thông tin xếp hạng “Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật” Đây là niềm vinh

hạnh và tự hào của tất cả con cháu họ Trần nói riêng và của nhân dân xã PhúcThành nói chung

Nghiên cứu dòng họ Trần ở Phúc Thành giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn

về gia tộc, cộng đồng, mối quan hệ giữa dòng họ Từ đó duy trì và phát huykhối đại đoàn kết, phát huy trí tuệ tài năng tạo nên sức mạnh tinh thần và vậtchất để xây dựng quê hơng, đất nớc giàu đẹp Gìn giữ truyền thống gia phong,phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

Với những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu “Lịch

nh cành lá của thân cây Vì thế việc nghiên cứu tìm hiểu lịch sử văn hóa dòng

họ có ý vô cùng quan trọng và ngày nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu

về các dòng họ lớn

Tuy nhiên, từ trớc tới nay cha có công trình nghiên cứ đầy đủ nào vềquá trình hình thành và phát triển “Lịch sử - văn hóa dòng họ Trần ở PhúcThành Yên Thành” Trong một vài năm trở lại đây, con cháu trong hội đồng

Trang 11

gia tộc họ Trần đã tập hợp gia phả của các chi phái thành quyển “Thế phổ họTrần Đại Tông Yên Lạc dòng Huyền Linh” “Tộc Trần Nguyên Hãn Nghệ

Tĩnh” Cuốn sách đã nêu lên nguồn gốc hình thành, phát triển, phả hệ đồ của

họ Trần ở Nghệ Tĩnh Tuy nhiên nội dung chủ yếu mang tính chất của mộtcuốn phả họ, cha đi sâu nghiên cứu và hệ thống hóa một cách đầy đủ, toàndiện về quá trình phát triển của dòng họ, đóng góp của dòng họ đối với lịch sử

Bên cạnh đó có một số tác phẩm, ý kiến của các nhà sử học đối với thânthế sự nghiệp của Thiếu phó Liêm quận công Trần Đăng Dinh - ngời có nhiều

đóng góp cho quê hơng và nhà nớc phong kiến thời kỳ Lê Trịnh

Trong “Lịch sử triều tạp kỷ” Ngô Cao Lãng viết: “Công bộ thợng thLiêm quận công Trần Đăng Dinh chết, tặng Hộ bộ thợng th thiếu phó Dũng

Lê Thi Liêu thay làm trấn thủ Sơn Tây Đăng Dinh đã lâu hầu chúa Trịnh từkhi còn là thế tử, có công trong chuyến theo chúa đi đánh Thuận Hóa ĐăngDinh khi nói năng bàn luận tỏ ra sáng suốt và quả quyết, đợc chúa rất yêu vàtin Nhà chúa cới con gái của Đăng Dinh làm chính phu nhân của Tấn QuốcCông Trịnh Bính” [25; 73]

Trong “Nghệ An Ký” của Bùi Dơng Lịch cũng nói lên công lao củaTrần Đăng Dinh

Trong Đông Thành phong thổ ký có ghi: “Liêm quận công ngời họ Trần

ở làng Diệu xã Yên Lạc, thuở nhỏ nghèo khó, tính trung thực, quả quyết cơngnghị, làm gia thần cho thế tử Trịnh Vơng [16; 23]

Trong “Khoa bảng Nghệ An” của Đào Tam Tĩnh cũng nói lên thân thếcủa Trần Đăng Dinh và khoa thi, kỳ thi mà ông đã đỗ đạt

Trong quyển “Yên Lạc Trần tóng công sự trạng bị khảo” của tác giảDật sử Trần Gia Miễn và cử nhân Trần Văn Huân có mục “Bình luận chthuyết” tập hợp ý kiến của các nhà sử học đánh giá về Trần Đăng Dinh, vềdòng họ Trần

Hồ sơ khoa học “Di tích sử đền thờ Trần Đăng Dinh ở xã Phúc Thành,

Yên Thành, Nghệ An” của sở Văn hóa thông tin tỉnh Nghệ An.

Qua các tác phẩm, tài liệu trên đã đề cập đến đóng góp của dòng họTrần đối với lịch sử quê hơng và lịch sử dân tộc Tuy nhiên, các tác phẩm đóchỉ mới nhấn mạnh đến thân thế sự nghiệp và công lao của Trần Đăng Dinh

mà cha đi sâu vào nghiên cứu về dòng họ Trần Do vậy việc nghiên cứu mộtcách có hệ thống và toàn diện hơn về dòng họ Trần ở Phúc Thành để góp

Trang 12

phần gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc nói chung và địa phơng nóiriêng là điều hết sức cần thiết.

Trên cơ sở kế thừa những thành quả của các nhà nghiên cứu đi truớc

đồng thời dựa vào một số nguồn t liệu khác tác giả cố gắng giải quyết vấn đềkhoa học đặt ra

3 Phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ khoa học của đề tài

3.1 Phạm vi nghiên cứu

- Thời gian: Từ giữa thế kỷ XV đến nay

- Không gian: Chúng tôi sẽ nghiên cứu dòng họ Trần ở xã Phúc Thành,Yên Thành, Nghệ An

3.2 Nhiệm vụ của đề tài

- Tìm hiểu tơng đối toàn diện có hệ thống về quá trình hình thành vàphát triển của dòng họ Trần ở Phúc Thành, những đóng góp của dòng họ quacác thời kỳ lịch sử dân tộc: Thời kỳ trung đại, cận đại và hiện đại

- Tìm hiểu những truyền thống tốt đẹp, những di sản văn hóa tiêu biểucủa dòng họ Trần

- Tìm hiểu nhân vật tiêu biểu của dòng họ nh Liêm Quận Công Trần

Đăng Dinh Từ đó để thấy đợc công lao của ông đối với dòng họ, đối với quêhơng và đất nớc

4 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn t liệu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài này chúng tôi đã tham khảo nghiêncứu các nguồn tài liệu sau:

4.1.1 Nguồn tài liệu gốc

Chúng tôi đã tham khảo các bộ chính sử, các bộ gia phả của dòng họTrần ở Phúc Thành, Yên Thành, Nghệ An Gia phả chi họ Trần ở Đan Trung,xã Diễn Thắng, Diễn Châu, Nghệ An, gia phả chi họ Trần ở Yên Hậu, xã DiễnLâm, Diễn Châu, Nghệ An Các sắc phong, văn bia, câu đối, hoành phi ở nhàthờ Trần Đăng Dinh Hồ sơ khoa học về đền thờ Trần Đăng Dinh Các bộchính sử : “Lịch triều tạp kỷ” của Ngô Cao Lãng, “Đại Nam nhất thống chí”…

4.1.2 Tài liệu nghiên cứu

Các tài liệu nghiên cứu lịch sử văn hóa mà chúng tôi tham khảo đợc nh:

“Nghệ An Ký” của Bùi Dơng Lịch, “Gia phả khảo luận và thực hành” của DãLan và Nguyễn Đức Dụ, “Văn hóa Nghệ An”, “Văn bia Nghệ An”, “Nghệ An

Trang 13

lịch sử và văn hóa” của Ninh Viết Giao, “Truyền thống văn hóa gia đình vàbản sắc dân tộc Việt Nam” của Nguyễn Thế Long, “Lịch sử huyện YênThành”, “Lịch sử xã Phúc Thành” nhà xuất bản Nghệ An.

4.1.3 Các tài liệu khác

Ngoài các tài liệu trên chúng tôi còn sử dụng các tài liệu, công cụ để tracứu nh: “Khoa bảng Nghệ An” (1075 - 1919 ) của Đào Tam Tĩnh (2005) vàkhai thác một số tài liệu kỷ yếu hội thảo khoa học, một số tài liệu chép tay và

đánh máy lu tại th viện Nghệ An, một số tạp chí, tờ báo liên quan đến đề tàinh: Kỷ yếu hội thảo khoa học văn hoá các dòng họ ở Nghệ An năm 1997, Kỷyếu hội thảo khoa học văn hóa các tỉnh Bắc Trung Bộ, Nghệ An phong thổ ký,

Địa d tỉnh Nghệ An, Đông Thành phong thổ ký (tài liệu chép tay lu tại th việnNghệ An ), Báo Nhân dân cuối tuần số 29 ngày 14 tháng 7 năm 1996

4.1.4 Tài liệu điền dã

Chúng tôi đã đi đến nhà thờ Trần Đăng Dinh ở Phúc Thành, Yên Thành,Nghệ an, nhà thờ họ Trần ở Phú Hữu và đền Thành Hoàng ở Nhân Thành, YênThành, đến nhà thờ họ Trần ở Diễn Châu… Đồng thời chúng tôi còn gặp gỡtrao đổi với ông Trần Văn Kế, ông Trần Thọ Vũ ở Phúc Thành, Yên Thành,

ông Hà Văn Tải ở Hng Lộc, ông Trần Phiên ở thành phố Vinh, ông Trần QuốcToàn giám đốc bảo hiểm xã hội Nghệ An, ông Trần Phồn nguyên giám đốcCông an tỉnh Nghệ An, ông Trần Văn Trí Đại tá anh hùng lực lợng vũ trangnhân dân

4.2 Phơng pháp nghiên cứu

4.2.1 Su tầm t liệu

Tất cả những nguồn t liệu trên chúng tôi đã tiến hành su tầm, tích luỹ,sao chép ở th viện tỉnh Nghệ An, th viện trờng Đại học Vinh và Bảo tàng tổnghợp Nghệ An Sao chép hoành phi, câu đối, gia phả Chụp ảnh sắc phong đềnthờ Trần Đăng Dinh, chụp ảnh lăng mộ họ Trần ở Phúc Thành Sử dụng cácphơng pháp phỏng vấn, nghiên cứu thực địa tại đền thờ Trần Đăng Dinh

4.2.2 Xử lý t liệu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi sử dụng phơng pháp lịch sử

và phơng pháp lôgic để trình bày một cách có hệ thống quá trình hình thành

và phát triển của dòng họ Trần theo thời gian, diễn biến lịch sử Bên cạnh đóchúng tôi còn sử dụng phơng pháp đối chiếu, so sánh gia phả, bia ký với chính

Trang 14

sử Từ đó phân tích, đánh giá nêu lên mối quan hệ chặt chẽ, sự tác động qualại giữa lịch sử dòng họ với quê hơng đất nớc.

5 Đóng góp của luận văn

- Luận văn sẽ cung cấp và giới thiệu cho độc giả về quá trình hìnhthành, phát triển của dòng họ Trần trên mảnh đất “địa linh nhân kiệt” PhúcThành, Yên Thành Qua đó góp phần giáo dục đạo đức, t tởng, phát huy nhữnggiá trị truyền thống tốt đẹp của dòng họ

- Qua việc nghiên cứu lịch sử văn hóa dòng họ Trần giúp chúng ta hiểuthêm về một số nhân vật tiêu biểu của dòng họ Trần, một số sự kiện lịch sửtrong quá khứ mà chính sử chỉ nhắc đến một cách sơ sài hoặc cha nhắc đến

- Luận văn cũng góp phần làm phong phú thêm bộ sử địa phơng, trởthành nguồn t liệu có giá trị khi nghiên cứu về lịch sử cũng nh văn hóa củadân tộc

- Luận văn còn góp phần vào việc gìn giữ, bảo tồn và phát huy những disản văn hóa dòng họ, văn hóa cộng đồng Từ đó giáo dục nhân cách cho thế hệtrẻ, phục vụ cho sự nghiệp đổi mới của dân tộc trớc sự thay đổi của thế giới

ở Phúc Thành - Yên Thành từ thế kỷ XV đến nay

1.1 Vài nét về mảnh đất và con ngời Phúc Thành

1.1.1 Địa lý và nguồn gốc hình thành xã Phúc Thành

Phúc Thành là một trong những xã của huyện Yên Thành Trong sách

“Lịch triều hiến chơng loại chí” của Phan Huy Chú có ghi: “ở phủ Diễn Châu

Trang 15

về phong cảnh đẹp, trong vùng thì có nhiều nơi nh xã Lịch Phúc có đầm Thủy

Ô, tục gọi là Bàu ác, có hoa sen thơm đẹp” [9; 62]

Từ thời nhà Lê đã ghi chép: Làng Đức Hậu trớc có tên là Đức Lân, làngDiệu ốc, Phơng Tô trớc có tên là Hơng Tô cùng với làng Thuần Vỹ, làng Vũ

Kỳ, làng Phúc Thọ cuối thế kỷ XV là Viên Yên Sơn và Viên Thọ Sơn, đến năm

Bảo Thái (1721) mới thành làng Hơng Thọ sau đổi thành làng Phúc Thọ Nhvậy là từ xã Lịch Phúc, đến thời nhà Lê là xã Yên Lạc thuộc tổng Quan Triều,huyện Yên Thành, phủ Diễn Châu Năm Minh Mệnh thứ 18 (1837), lập huyệnYên Thành, từ đó đổi thành xã Giai Lạc thuộc tổng Quan Hóa

Dới thời Pháp thuộc, từ 1910 đến năm 1945 huyện Yên Thành gồm 125thôn có triện lý trởng, trong đó có thôn Diệu ốc, Đức Hậu (Kẻ Mõ), PhúcThọ, Thuần Vỹ, Phơng Tô, Vũ Kỳ, Đồng Mai, Đồng Bản Sau Cách mạngtháng Tám 1945, tổ chức xã lần thứ nhất đầu năm 1946 xã Giai Lạc gồm cólàng Đức Hậu, làng Giai, Phúc Thọ, Diệu ốc, xã Phúc Đồng gồm làng Vũ Kỳ,

Đồng Mai, Đồng Bản, Phơng Tô, Thuần Vĩ, Trại Quánh, Trại Lền Tổ chức xãlần thứ hai vào năm 1949 theo chủ trơng của Trung ơng: “Tăng cờng xã, đơngiản huyện”, các xã nhỏ nhập thành xã lớn Xã Giai Lạc gồm hai xã Giai Lạc

và Phúc Đồng Cuối năm 1953 đầu năm 1954, tổ chức xã lần thứ ba chia xãlớn Giai Lạc thành 3 xã: Hậu Thành, Phúc Thành và Đồng Thành Xã PhúcThành gồm các làng Phúc Thọ, Diệu ốc, Phơng Tô

Xã Phúc Thành hiện nay có 21 xóm: Đông Thịnh, Nam Thịnh, YênBang, Xuân Viên, Xuân Sơn, Đông Nam, Trung Nam A, Trung Nam B, TâyNam, Nam Sơn, Liên Sơn, Đông Yên, Nam Chính, Đông - Tây Hồ, Yên Sơn,Phơng Tô, Yên Trung, Bình Nguyên, Xuân Trà, Phúc Giang, Kỳ Sơn Tính

đến tháng 3/1996, xã Phúc Thành có 1949 hộ, 9185 nhân khẩu

Xã Phúc Thành có chiều dài từ Cầu Diệu đến trại Đng 8 cây số, chiềurộng nơi trung tâm 2,5 cây số, nơi rộng nhất là từ động Mũi Thuyền đến kheDền là 4 cây số Phía Đông giáp đồng ruộng xã Văn Thành (tức Kẻ Dền cũ),phía Bắc giáp xã Hậu Thành, phía Nam giáp khe Dền, phía Tây giáp đồi núi,làng mạc của xã Hậu Thành và Đồng Thành Phúc Thành là vùng đồi núi nằm

về phía đông Động Huyệt

Sách Đại Nam Nhất Thống Chí có ghi: “Núi Mã Yên ở huyện YênThành, trong có hang sâu vài ba trợng gọi là “huyệt Vơng Mẫu” Tơng truyềncon vua Lê Đại Hành trấn thủ Diễn Châu, lỵ sở đóng ở xã Công Trung, đem

Trang 16

hài cốt của mẹ táng ở huyệt này, sau khi nhà Lý cớp ngôi, hoàng tử chiếm cứDiễn Châu xng Hoàng Đế, nhà Lý đánh mãi không đợc, bèn bí mật sai ngời

đào huyệt, sau mới đánh đợc” [34; 141 - 142]

Các đồi núi ở Phúc Thành nối đuôi nhau từ hòn này đến hòn khác: HònGai, hòn Hơng, hòn Cấm, hòn Nhạn, Mũi Thuyền, Thung Chè, hòn Giang,hòn Dù, Một mạng lới khe suối uốn khúc vòng quanh nh: Khe Chùa, Đập

Đá, Mu Cua, Tràng Lậm, Nha Vệ, Đồng Trúc, Làng Mới Cửa Đập, Trại Lạt Núi đồi ôm lấy đồng điền, đồng điền trải dài dới chân đồi núi: Đồng Cửa N-

ơng, Đá Sĩa, Đồng Dòng, Khe La, Cây Trôi, Đồng Mo, Hậu Thần, chợ Vọt,

Đồng Bàu, Làng Mới

Xóm Nhà Vàng, tức làng Phơng Tô, có nhiều cánh đồng lúa nên cócâu ca:

“Nhà Vàng đụn ló (lúa) kho tiền

Ai mà chiếm đợc lọng vàng che thân”

Các nho sĩ ngày xa đã có những câu hát ca ngợi cảnh đẹp quê hơng:

Cận thủy cận sơn Đồng điền cao ráo

Đồng điền hạt gạo

Là của trên tay

Hoa quả trên cây

Mùa nào tiết ấy

Nớc trong khe Cấy

Chảy ra đôi dòng

Trong đã nên trong

Trong tứ mùa bát tiết ”

Cách đây hơn một trăm năm, nhà yêu nớc Nguyễn Xuân Ôn đã có

những vần thơ ca ngợi cảnh đẹp lèn Vũ Kỳ:

“Cẩm Phong đặc địa phô la đáiVăn thạch liên thiên thụ phái tinhCốc ủng phong hồi minh cỗ hởng

Truyền phi thủy kích tác kim thanh”.

Dịch : Đỉnh gấm chênh vênh phơi dải lụa

Đá vằn chót vót dựng cờ mây

Trang 17

Khe vùng ngọn núi hồi chuông giục

Gió xoáy bên hang dịp trống bay

Phúc Thành có Bàu ác, tức Diệu ốc Liên Đàm (đầm sen Diệu ốc) là

một trong tám cảnh đẹp của Đông Thành khi trớc.

Về đầm Sen Diệu ốc, sách Đông Thành phong thổ ký ghi: “Đầm ở tâynam thôn Diệu ốc thuộc xã An Lạc, tổng quan triều Đứng mà trông, trên đấtgiáp chân núi, dới giáp đồng bằng, chu vi phỏng hai mơi mẫu, chu vi phỏnghai mơi mẫu, gọi là đầm Ô (Bàu ác) Đầm nở nhiều hoa sen không kém cảnh

ao Thái Dịch (ao trong kinh thành nhà vua), mỗi năm tới mùa thịnh hạ, giónam phe phẩy trớc mặt, hơng thơm ngào ngạt đợm vào ngời Giữa có nhiềuvũng sâu, tục truyền dới có vũng thuồng luồng” [30; 10 - 11]

Nhà thờ họ Lê, xóm Yên Nam có đôi câu đối:

“Hậu ủng Hơng Sơn chung tú khíTiền trình Diệu thủy vợng tài nguyên”

(Nghĩa là: Phía sau có núi chung tú khí tốt, phía trớc có Bàu Diệu giàutài nguyên)

Về nguồn gốc hình thành con ngời:

Trong sách Lịch sử huyện Yên Thành viết: “Do địa hình vùng núi YênThành ăn liền với các dãy núi từ phía Tây Bắc Nghệ Tĩnh trở xuống, có nhiềulèn đá vôi , nhiều hang động và thung lũng kín là địa bàn c trú thuận lợi củangời Việt Cổ Với những kết quả bớc đầu của khảo cổ học cho chúng ta biếtYên Thành, Diễn Châu là nơi giao lu của hai nền văn hóa Bắc Nam, là nơi ng-

ời Việt Cổ có mặt từ lâu đời” [29; 18]

Cách ngày nay khoảng 5.000 năm, ngời Việt Cổ đã quần tụ trên cáchang động ở Yên Thành Đó là những c dân trồng lúa cuối thời đại đá mới ởvùng đồng bằng ven biển Nghệ Tĩnh Họ chính là con cháu của những ngời v-

ợn ghè đá ở Thẩm ồm (Quỳ Châu) đến những bộ lạc săn bắt và hái lợm ở Cồn

Điệp (Quỳnh Văn), và là những ngời cùng thời với ngời Việt cổ ở Rú Ta - HaiVai (Diễn Châu)

Phúc Thành có núi đá vôi Vũ Kỳ rộng lớn với nhiều hang động: HangLúa, Hang Tiền, Hang Thung Buồng, có nhiều khe suối sâu và kín; có những

đồi núi với tên Thung Mây, Thung Chè Với những công cụ bằng đá, bằng

đồng mà nhân dân thu đợc Những dấu vết và di tích ấy chứng tỏ con ngời đã

có mặt ở vùng đất này từ rất sớm

Trang 18

C dân Giai Lạc nói chung và c dân Phúc Thành nói riêng tụ về đây vào vàhớng nữa từ miền rùng núi Thanh Hóa đi vào vùng núi tây bắc Nghệ An vềxuôi.

Một địa bàn nh vậy, thích hợp cho sự dừng chân và tụ c của con ngờingay từ buổi đầu sơ khai của đất nớc Con ngời đã đến đây khai phá đất đai,lập ấp làm ăn sinh sống tạo nên tinh thần đoàn kết làng xã, tạo nên một vúngvăn hóa đặc sắc

1.1.2 Truyền thống lịch sử - văn hóa của Phúc Thành

Địa thế Giai Lạc nói chung, Phúc Thành nói riêng ở vào miền đồi núi

Đinh vài cây số, cách Kẻ Dền - lỵ sở đời Lê một cây số là vùng đất nằm sátchân núi Động Huyệt Phúc Thành còn có dấu tích đồng Tàu Voi, ĐộngThành, Đồng Đồn, Bờ nh, nghĩa quân Lê Lợi dới sự chỉ huy của Đinh Lễchuyển quân về đồng Bia Những dấu tích ấy chứng tỏ cách đây hàng ngànnăm, Phúc Thành cùng với Hậu Thành và Lăng Thành là vùng căn cứ củanhiều triều đại yêu nớc Nhân dân Phúc Thành đã góp phần xây thành đắp lũy,che dấu quân cơ, tiếp tế lơng thực cho quân lính bảo vệ đất nớc, gìn giữ bờcõi

Trong thời gian Lý Nhật quang làm tri huyện Nghệ An, nhân dân xãPhúc Thành đã giúp nhà Lý xây dựng trên 50 sở kho để cất dấu lơng thực

Vào thời Lê Lợi, núi Động Đình thuộc sách Quy Lai (Yên Thành) đợcnghĩa quân chọn làm căn cứ tập kết lực lợng Tại đây vẫn còn nhiều tên đấtgắn liền với truyền thuyết đóng quân và luyện tập của nghĩa quân Lam Sơnnh: Khe Thiềm, Khe Lá, Khe Cái, Bãi Tập [30; 141]

Từ căn cứ Động đi bằng qua đờng rừng Ba Xanh, Ba Quanh, Động Cầu,Yên Ngựa về Quỳnh Lăng bao vây Thành Trài Tớng giặc là Trơng Hùng chỉhuy 300 thuyền vào tiếp tế cho quân lính trong thành bị quân ta mai phục

đánh tan đội thuyền Nhân dân xã Phúc Thành đã có sự đóng góp trong sựnghiệp đánh bại quân đô hộ nhà Minh, giải phóng đất nớc Gia phả họ Lê

Đình còn ghi rõ ông tổ Lê Đức Tính là lính của Lê Lợi

Đầu thế kỷ XVI, tầng lớp thống trị nhà Lê sống xa hoa, triều đình và bộmáy quan lại trở nên hủ bại, thối nát Đời sống nhân dân ngày càng cực khổ,nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân nổi dậy, các cuộc tranh giành quyền lựcgiữa các phe phái phong kiến xảy ra quyết liệt Trong hai thế kỷ XVI - XVII,

Trang 19

trên đất Nghệ Tĩnh đã xảy ra các cuộc nội chiến giữa tập đoàn phong kiến Lê Mạc và Trịnh - Nguyễn.

-Trong khoảng thời gian này, xã Phúc Thành nằm trong địa bàn căn cứcủa Nguyễn Kim và chúa Trịnh, nhân dân xã Phúc Thành nhiều ngời đã sungquân vào binh lính của chúa Trịnh

Trên mảnh đất nơi đây, ngời dân xã Phúc Thành đã đợc chứng kiến và

có nhiều ngời tham gia vào cuộc hành quân thần tốc ra Bắc của Nguyễn Huệ Quang Trung giải phóng thành Thăng Long, đánh thắng 29 vạn quân Thanhvào ngày mồng 5 tháng 1 năm Kỷ Dậu (1789) Chính quyền Tây Sơn đã đợcthiết lập đến cơ sở, xã Yên Lạc hồi đó có xã quan là ông Phạm Gia Oanh(1761 - 1801) cùng với nhân dân xã Phúc Thành hăng hái tòng quân, ủng hộtiền gạo góp phần làm nên chiến thắng oanh liệt đó

-Khi thực dân Pháp nổ súng xâm lợc nớc ta, những sỹ phu yêu nớc trongcả nớc nói chung và các sỹ phu ở Phúc Thành nói riêng đều đứng về phái chủchiến Tuy nhiên, triều đình đã ký một loạt hiệp ớc đầu hàng với thực dânPháp Điều ớc Giáp Tuất (1874) với những điều khoản nhợng bộ nhục nhãkhiến nhân dân sục sôi căm phẫn Nhân dân Nghệ Tĩnh đã dấy lên cuộc khởinghĩa vũ trang năm Giáp Tuất (1874) dới sự lãnh đạo của các sỹ phu yêu nớcnh: Trần Tấn, Đặng Nh Mai, Trần Quang Cán, Nguyễn Huy Điển Tại xã GiaiLạc cũng có phong trào ủng hộ khởi nghĩa nên đã xẩy ra những cuộc xung độtgiữa đồng bào bên lơng và bên giáo Tại làng Đức Hậu - Phúc Thành có ôngMai Huy Cơ chỉ huy một số nhân dân xã tham gia trận đánh Bảo Nham ÔngPhạm Gia Mỹ, tú tài ngời làng Phúc Thọ làm trùm hội Văn thân xã

Trong phong trào Cần Vơng, nhân dân xã Phúc Thành đã tham gia cuộckhởi nghĩa của Nguyễn Xuân Ôn Khi Nguyễn Xuân Ôn chuyển lên xây dựngcăn cứ địa của nghĩa quân ở phía tây huyện Yên Thành, nhân dân xã PhúcThành đã gia nhập nghĩa quân, ủng hộ lơng thực và tài sản Trong hàng ngũnhững ngời chỉ huy quân sự của ngĩa quân nổi lên ông Nguyễn Văn Nhoãn,thờng gọi là Đốc Nhoãn ngời làng Đức Hậu Trong trận đánh thành phủ DiễnChâu, Đốc Nhoãn chỉ huy 7 - 8 chiến sĩ lọt vào thành, phóng lửa đốt thành vàbắt sống tên chỉ huy ngời Pháp Acsơvang

Sau trận đánh đó, thực dân Pháp đã mở cuộc tấn công xã Phúc Thành.Giặc Pháp đốt phá nhà cửa, làng mạc, tàn sát nhân dân

Trang 20

Năm 1896, phong trào Cần Vơng thất bại, đầu thế kỷ XX, phong tràoyêu nớc giải phóng dân tộc lại dấy lên mạnh mẽ ở Nghệ Tĩnh do Phan BộiChâu khởi xớng Nhân dân xã Phúc Thành một lần nữa lại đứng lên ủng hộphong trào Đông Du Phúc Thành là địa bàn hoạt động của Đội Quyền Trongphong trào này, nổi lên ông Lê Liễu ngời làng Diệu ốc xã Phúc Thành.

Sau ngày Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, chi bộ Đảng xã Phúc Thành

đợc thành lập Nhân dân xã Phúc Thành đã ra sức đấu tranh, xây dựng tổ chứccách mạng Tháng 6 năm 1945, tổ chức Việt Minh xã Giai Lạc đợc hình thành

do tổ chức thanh niên cộng sản làm nòng cốt Ngày 19/8/1945, tại cây đa xómYên Bàu, Việt Minh xã Giai Lạc đã nhóm họp lập ra ban khởi nghĩa Dới sựlãnh đạo của Việt Minh, nhân dân xã Phúc Thành cùng nhân dân toàn huyện

đã đứng lên thực hiện tổng khởi nghĩa giành chính quyền

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc nhân dân xã Phúc Thành đãhăng hái tham gia với tinh thần:

“Đèo cao thì mặc đèo caoTinh thần cứu nớc còn cao hơn đèo”

Với tinh thần đó, nhân dân xã Phúc Thành đã góp phần to lớn vào sựnghiệp giải phóng dân tộc

Vùng đất Lịch Phúc trớc kia, rồi sau này là Giai Lạc, Phúc Thành là đất

“địa linh nhân kiệt”, ở thời nào cũng có những sự tích anh hùng, những sựkiện lịch sử hào hùng góp phần làm rạng rỡ quê hơng đất nớc

Không chỉ có truyền thống yêu nớc chống giặc ngoại xâm, vùng đấtPhúc Thành còn là nơi hội tụ của truyền thống văn hóa Phúc Thành là vùng

có truyền thống chuộng học vấn, nhiều ngời đỗ đạt làm quan nh: Trần ĐăngDinh đỗ giải nguyên và tiến sĩ khoa Bính Ngọ, đợc phong Liêm quận công,Trần Đăng Dũng giải nguyên đỗ tiến sĩ khoa Hoành Từ Trong các khoa thi tr-

ớc đây làng Diệu ốc có 13 hơng cống và cử nhân, 41 sinh đồ và tú tài PhúcThọ có 6 sinh đồ và tú tài Khoa Giáp Tý (1864) có Dơng Xuân Quản (HơngThọ), Mai Huy Cơ (Đức Lân) Khoa Đinh Mão (1867) có Trần Vũ Thọ (Diệuốc), Dơng Xuân Phấn (Hơng Thọ), Trần Vũ khuê (Diệu ốc), Trần Văn Vy(Diệu ốc) Tú tài khoa Nhâm tý (1852) có Phạm Gia Mỹ (Phúc Thọ), KhoaCanh Ngọ (1894) có Lê Liễu (Diệu ốc) Cử nhân Khoa Canh Tý có Trần VănHuân

Trang 21

Trong lãng xã có nhiều thầy dạy học nh cụ Trần Văn Huân, Tú tàiPhạm Gia Mỹ, Lê Liễu

Phúc thành còn là vùng đất có nhiều đình đền nh: Đình làng Diệu, ĐìnhHơng, Đền phủ thờ Trần Đăng Dinh, Đền Hoàng thờ Đức Thánh Cả lànhững di tích lịch sử văn hóa đợc xếp hạng

Điểm lại cội nguồn và truyền thống của nhân dân xã Phúc Thành gắnliền với xã Giai Lạc càng thấy rõ nét vị trí chiến lợc qua các triều đại, là căn

cứ “đứng chân”, có thể tiến lui ra Bắc vào Nam Chính hoàn cảnh địa lý, bềdày truyền thống lịch sử - văn hóa tốt đẹp của địa phơng đã tạo nên bản sắccon ngời Phúc Thành thật thà, chất phác rất mực cần cù, hiếu học, cơng trực,khảng khái, giàu đức hy sinh, giàu nghị lực, ý chí mạnh mẽ quyết tâm cao

Từ những đặc điểm vị trí địa lý - lịch sử - văn hóa của Phúc Thành và vìcuộc sống đói nghèo của một vùng quê phải đối chọi, vật lộn với thiên tai vàgiặc giã, nhân dân Phúc Thành luôn phát huy sức mạnh và truyền thống quýbáu muôn đời để lại Đó là đức tính cần cù sáng tạo trong đấu tranh với thiênnhiên, không chịu khuất phục trớc bất kỳ kẻ thù xâm lợc nào Những cuộckhởi nghĩa, đấu tranh của chính nhân dân Phúc Thành trên mảnh đất này, họquyết lấy sức mình làm chủ quê hơng, làm chủ vận mệnh của mình Nhân dânPhúc thành luôn thể hiện một sức sống mãnh liệt, một ý chí gan góc phi th-ờng, họ góp công sức vào chăm lo cộng đồng, thể chế làng xã, quê hơng dòng

họ Từ đó tạo nên bản sắc văn hóa của vùng đất Phúc Thành

1.1.3 Một số dòng họ ở Phúc Thành - Yên Thành - Nghệ An

C dân Giai Lạc nói chung, Phúc Thành nói riêng đợc quy tụ về đâyngày càng đông đúc theo hai hớng: hớng thứ nhất từ đồng bằng Bắc Bộ, ThanhHóa, Quỳnh Lu đi vào nh họ Nguyễn Trọng, Nguyễn Khắc, họ Hồ Hớng thứhai đi từ miền rừng núi Thanh Hóa đi vào miền Tây Nghệ An và đi dần vềxuôi định c ở Yên Thành nh họ Hà, họ Dơng Từ thế kỷ XV, XVI đến thế kỷXVII, XVIII các dòng họ về đây làm ăn, sinh sống ngày càng đông đúc Lúc

đầu c dân thờng đặt chân sinh cơ lập nghiệp ở các làng Đức Lân, Diệu ốc,Thuần Vĩ rồi định c tới làng Phúc Thọ Nơi đây xa xa đã một thời ngời Kinh

và ngời dân tộc Thổ sinh sống

Trên vùng đất Phúc Thành hiện nay có con cháu của hơn 35 dòng họlớn nhỏ, đông nhất là họ Trần rồi đến họ Nguyễn Trọng, họ Hà, họ Lê, họPhạm Gia, họ Cao

Trang 22

Sự quy tụ lâu đời của nhiều dòng họ trên vùng đất này đã tạo nên tinhthần đoàn kết cộng đồng, họ gắn với làng, làng gắn với nớc Trong quá trìnhlàm ăn, sinh sống, khai phá đất đai ngăn khe đắp đập, đánh giặc giữ làng giữnớc đã tạo nên một vùng đất văn hóa có nhiều nét đặc sắc

Các dòng họ ở vùng đất này đã sản sinh ra nhiều nhân tài cho đất nớc,góp phần làm rạng rỡ hơn nền văn hóa truyền thống của Phúc Thành nói riêng

và của cả nớc nói chung Vì thế, ngoài dòng họ Trần làm đề tài nghiên cứu,chúng tôi còn giới thiệu một số dòng họ khác ở Phúc Thành nh họ NguyễnTrọng, họ Phạm Gia Để từ đó có cái nhìn khái quát hơn về vùng đất giàutruyền thống lịch sử - văn hóa Phúc Thành này

Họ Phạm Gia

Theo gia phả họ Phạm Gia ở Phúc Thành - Yên Thành thì thủy tổ là ôngPhạm Quý Công, tự Phúc Kỳ ở tỉnh Thanh Hóa, phủ Quảng Hóa, tổng QuanHoàng, xã Quan Bằng (nay là xã Cẩm Vân, Huyện Cẩm Thủy) Con cháu họPhạm nhiều đời làm quan hiển đạt Đến đời quốc thợng tớng quân, Tham đốcthần vũ Ông là con rể của Quan thợng th bộ hộ, Thiếu phó Liêm Quận CôngTrần Đăng Dinh

Đến đời ông Phạm Gia Vinh cháu đích tôn của ông Phạm Gia Vợngxuất ngoại đến ở xứ Thọ Sơn trên vờn nhà ông ngoại Thiếu phó Liêm quậncông Trần Đăng Dinh (tức làng Phúc Thọ, Phúc Thành ngày nay) Nh vậy,

ông Phạm Gia Vinh chính là thủy tổ của dòng họ Phạm Gia ở Phúc Thành

Họ Phạm Gia có truyền thống chuộng học vấn văn chơng, có nhiều

ng-ời tham gia hội văn thân nh: Phạm Gia Hội, Phạm Gia Mỹ, Phạm Gia Mẫu,Phạm Gia Mỹ đậu tú tài khoa Nhâm Tý (1852) Tú tài Phạm Gia Mỹ đếnPhạm Gia Ky 4 đời làm nghề dạy học Truyền thống hiếu học còn đợc thểhiện qua bức hoành phi tại nhà thờ họ:

“Thuyền sơn nhất mạch th hơng kếThọ thủy thiên thu giáo trạch lu”

Nghĩa là: Một giải thuyền sơn lu truyền nền học vấn; Ngàn năm BàuThọ nền giáo dục kế tiếp muôn đời

Dòng họ Phạm Gia ở Phúc Thành đã có nhiều đóng góp cho cuộc đấutranh chống giặc ngoại xâm cũng nh xây dựng quê hơng đất nớc Trong phongtrào khởi nghĩa Tây Sơn, chính quyền Tây Sơn đợc thiết lập đến cơ sở xã YênLạc do Phạm Gia Oanh đứng đầu Trong phong trào Cần Vơng, Phạm Gia Mỹ

Trang 23

cùng với các văn thân trong làng đã tham gia trận đánh Bảo Nham do MaiHuy Cơ chỉ huy Trong cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Xuân Ôn, Phạm Gia B-ờng thờng gọi là đội Bờng đã chỉ huy một đội nghĩa quân tham gia khởi nghĩa.Sau này, con cháu dòng họ Phạm Gia có nhiều ngời tham gia kháng chiếnchống Pháp và chống Mỹ Những đóng góp đó của họ Phạm Gia đợc quê h-

ơng, đất nớc ghi nhận

Họ Nguyễn Trọng

Họ Nguyễn Trọng ở Phúc Thành chính là họ Mạc trong lịch sử ViệtNam Năm 1593, sau khi vơng triều nhà Mạc sụp đổ, con cháu họ Mạc phải ditán nhiều nơi và phải thay đổi tên họ để tránh sự truy lùng của nhà Lê - Trịnh.Con cháu họ Mạc đi vào Nghệ An rất đông và thay đổi sang các họ khác nh:

Họ Phạm, họ Phan, Họ Nguyễn Theo gia phả họ Nguyễn Trọng ở PhúcThành - Yên Thành thì thủy tổ của dòng họ là Tổ Ngũ Phơng tức Mạc HồngNinh con vua Mạc Mẫu Hợp Năm 1593, sau khi vơng triều Mạc sụp đổ, MạcHồng Ninh ẩn dật tại thôn Hào Kiệt, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa lấytên là Hoàng Phúc Thành Đến năm 1605, ông lại đi vào Yên Thành - Nghệ

An và định c tại đây Ông sinh đợc 5 ngời con, ông cùng ngời con thứ hai làBạt Cử đến định c tại thôn Diệu ốc, xã Giai Lạc (Phúc Thành ngày nay) Sau

đó Bạt Cử đổi sang họ Nguyễn

Từ đó cho đến nay, dòng họ Nguyễn Trọng trải qua 14 đời, có nhiều

ng-ời hiển đạt Bạt Cử thuộc dòng dõi quý tộc nên rất thông minh, thi hơng đậu từtrờng, thi hội đậu tam giáp đồng tiến sỹ xuất thân, làm quan huấn đạo tỉnhCao Bình Nguyễn Trọng Tâm, tại kỳ thi khảo hạch đỗ đầu bảng, năm hiệuChính Hòa nhà Lê mở khoa thần đồng ông trúng giải nhất Nguyễn Trọng Túnăm niên hiệu Vĩnh Hựu nhà Lê ông đỗ nho sinh trúng thức nhng không ralàm quan Con cháu sau này của dòng họ Nguyễn Trọng nối nghiệp cha ông

có nhiều đóng góp cho cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm và xây dựng đấtnớc Tính đến nay, họ Nguyễn Trọng đã tồn tại và phát triển qua 14 đời vớihơn 500 năm

Với những truyền thống lịch sử - văn hóa và những đóng góp của dòng

họ Nguyễn Trọng cho quê hơng, đất nớc nên năm 2008 nhà thờ Nguyễn Trọng

đã đợc nhà nớc công nhận là di tích lịch sử Quốc gia Đây là niềm tự hào vàvinh dự cho con cháu dòng họ Nguyễn Trọng

1.2 Quá trình phát triển của dòng họ Trần ở Phúc Thành - Yên Thành

Trang 24

1.2.1 Họ Trần Việt Nam

Họ Trần đợc xem là dòng họ Đế Vơng, là một trong những dòng họ lớntrong lịch sử Việt Nam Tổ tiên của dòng dõi nhà Trần có nguồn gốc dân tộcMân ở quận Phúc Kiến, Trung Hoa ông Trần Quốc Kinh từ Phúc Kiến TrungHoa sang Việt Nam vào khoảng năm 1110, thời vua Lý Nhân Tông (1072 -1127) Lúc đầu c trú tại xã An Sinh, huyện Đông Triều, Quảng Ninh, sốngbằng nghề chài lới trên sông nớc Trên đờng làm ăn ông chuyển dần vào hơngTức Mặc, huyện Thiên Trờng, nay là xã Lộc Vợng thuộc ngoại thành Nam

Định

Tơng truyền rằng: Một lần Trần quốc Kinh cứu đợc thuỷ ách cho ôngthầy địa lý ngời Tàu Thầy làm đất cho ông Nguyễn Cố, ông ấy không trảcông cho thầy bèn trói thầy đẩy thầy xuống sông Đợc Trần Quốc Kinh cứusống, thầy cảm ơn vô cùng và cho đất làm Đế Vơng Thầy địa lý nói rằng đất

ấy phía trớc có sông Tam Kỳ, phía sau có núi Phục Tợng, cờ kiếm lâu đài laliệt, toạ kiêm hớng tốn Phải chăng sau này họ Trần lên làm vua thay nhà Lý

Trần Quốc Kinh lấy vợ ngời Tức Mặc sinh ra Trần Hấp Trần Hấp sinh

ra Trần Lý và Trần Hoàng Nghi Trần Lý sinh ra Trần Tự Khánh và Trần Thừa(Trần Thái Tổ) Trần Hoàng Nghi sinh ra Trần an Quốc, Trần An Bang vàTrần Thủ Độ

Họ Trần bắt đầu tham gia chímh sự từ sau loạn Quách Bộ năm (1209

- 1210) thời Lý Cao Tông Trần Tự Khánh có công dẹp loạn và phò thái tử

Lý Sảm lên nối ngôi, tức là vua Lý Huệ Tông Quyền hành ban đầu tậptrung trong tay Trần Tự Khánh

Mời ba năm (1207 - 1220) loạn lạc, đất nớc bị chia xẻ bởi các thế lựchào trởng, chính quyền nhà Lý ngày càng suy yếu quyền lực dần tập trung,củng cố dới sự lãnh đạo của họ Trần

Năm 1223, Trần Tự Khánh - ngời có công lớn trong việc dọn đờng cho

họ Trần lên nắm chính quyền, chết ở Phù Liệt Trần Thừa đợc cử làm Phụquốc Thái uý, Phùng Tá Chu làm Nội thị phán thủ, Trần Thủ Độ làm Điện tiềnchỉ huy Sứ, thống lĩnh các quân hộ vệ cấm đình Trần Thủ Độ thực sự nắmmọi quyền hành trong triều đình

Lý Huệ Tông không có con trai, con cả công chúa Thuận Thiên gả choTrần Liễu (con Trần Thừa), con thứ công chúa Chiêu Thánh, mới lên 7 tuổi.Tháng 7/1225, Huệ Tông nhờng ngôi cho Lý Chiêu Hoàng còn mình làm Thái

Trang 25

thợng hoàng Ngày 12 tháng Chạp năm Ât Dậu tức ngày 11/1/1226, dới sự

điều khiển của Trần Thủ Độ, Lý Chiêu Hoàng chính thức nhờng ngôi chohoàng đế là Trần Cảnh Sự nghiệp Đế Vơng của Họ Trần bắt đầu từ đây

Nhà Trần trị vì đất nớc từ (1226 - 1400) trải qua 12 đời vua: Trần TháiTông (1226 - 1258), Trần Thánh Tông (1258 - 1278), Trần Nhân Tông (1278 -1293), Trần Anh Tông (1293-1314), Trần Minh Tông (1314 - 1329), TrầnHiến Tông (1329 - 1341), Trần Dụ Tông (1314 - 1369), Trần Nghệ Tông(1370 - 1372), Trần Duệ Tông (1373 - 1377), Trần Phế Đế (1377 - 1388),Trần Thuận Tông (1388 - 1398), Trần Thiếu Đế (1398 - 1400)

Trong 175 năm trị vì đất nớc, nhà Trần đã lãnh đạo nhân dân Đại Việt

ba lần kháng chiến chống quân Mông - Nguyên thắng lợi vào các năm 1258,

1285 và 1288 Nhng, trong những năm sau, kể từ đời vua Dụ Tông thì triều đạinhà Trần bắt đầu suy yếu dần vì sự mục nát của bộ máy quan lại Cuối cùng,vào năm 1400, Hồ Quý Ly đã cớp ngôi nhà Trần chấm dứt 175 năm trị vì củadòng họ này

Họ Trần Việt Nam là một dòng họ lớn sau họ Nguyễn, là dòng họ ĐếVơng nên có rất nhiều ngời làm quan giữ chức vụ quan trọng trong triều đình

và có nhiều ngời đỗ đạt cao Có thể kể qua một vài nhân vật sau:

Trần Quốc Tuấn sinh năm 1228, là con trai của An Sinh Vơng TrầnLiễu, cháu gọi Vua Trần Thái Tông bằng chú sinh ra tại Kiếp Bạc, Hng Đạo,Chí Linh, Hải Dơng Quê ở Tức Mặc, Nam Định

Ông vốn có tài quân sự, lại là tôn thất nhà Trần, trong 3 lần quân Mông

- Nguyên tấn công Đại Việt, ông đều đợc cử làm tớng ở cuộc kháng chiếnchống Nguyên lần thứ hai và lần thứ ba ông đợc Vua Trần Nhân Tông phonglàm tiết chế các đạo quân thuỷ bộ Dới tài lãnh đạo của ông, quân Đại Việtchiến thắng ở Chơng Dơng, Hàm Tử, Vạn Kiếp, Bạch Đằng, đuổi quânNguyên ra khỏi lãnh thổ

Sau khi kháng chiến chống quân xâm lợc Nguyên lần thứ 3 thành công,

ông về ở ẩn tại trang viên của mình tại Vạn Kiếp Tuy nhiên, các vua Trần vẫnthờng xuyên đến vấn đáp các kế sách

Ông có những tác phẩm nổi tếng nh: Hịch tớng sĩ, Binh th yếu lợc, VạnKiếp tông bí truyền th Ông mất ngày 20/8 năm Canh Tý (ngày 05/09/1300),thọ 70 tuổi Nhân dân lập đền thờ ông gọi là đền Kiếp Bạc, tôn ông là ĐứcThánh Trần

Trang 26

Trần Quang Khải (1248 - 1294), con thứ 3 của Trần Thái Tông, là emcùng mẹ với Trần Thánh Tông Ông là ngời học rộng, tài giỏi Năm ThiệuLong thứ 1 (1258) đời Thánh Tông, ông đợc phong tớc Chiêu Minh Đại Vơng,nắm chức Thái s.

Trấn Quang Khải cũng nh một số tớng nhà Trần, là ngời học rộng viếtvăn làm thơ Các tác phẩm của ông gồm: Tụng giá hoàn kinh s, Phúc HngViên lu gia độ, Xuân nhật hữu cảm Trần Quang Khải đợc ngời dân lập đềnthờ ở làng Phơng Bông - Nam Định

Trần Nhật Duật còn gọi Chiêu Văn Vơng Trần Nhật Duật (1255 -1300),

là Hoàng tử và tớng nhà Trần trong lịch sử Việt Nam Ông là ngời có côngtrong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ hai và lần thứ ba Ông làcon trai thứ sáu của Vua Trần Thái Tông, là em của Vua Trần Thánh Tông Từnhỏ, ông đã nổi tiếng là hiếu học và sớm lộ thiên tri, ham thích tìm hiểu cáctiếng nói và các giống ngời Tơng truyền khi mới sinh ra trên tay ông có bốnchữ “Chiêu Văn Đồng Tử”

Ông là nhà ngoại giao tài ba hiểu biết sâu rộng các nớc láng giềng Ôngmất năm 1330 đời Vua Trần Hiến Tông, thọ 78 tuổi Tên tuổi và sự nghiệp của

ông gắn liền với giai đoạn thịnh vợng nhất của nhà Trần Tài năng, đức độ, sựnghiêm thẳng của Ông cùng với các tớng văn, tớng võ trong thân tộc nhà Trần

đã góp phần không nhỏ vào sự tồn tại và hng thịnh nớc Đại Việt thời nhà Trần

Trần Quốc Lặc (? - ?) là Trạng Nguyên của Việt Nam Ông là ngờilàng Uông Hạ - huyện Thanh Lâm - châu Thợng Hồng (nay là huyện NamSách - Hải Dơng) Ông đỗ Trạng nguyên khoa Bính Thìn niên hiệu NguyênPhong thứ sáu đời Vua Trần Thái Tông (1256), làm quan đến Th ợng th Saukhi mất, ông đợc Vua phong làm Phúc thần hiệu Mạnh Đạo Đại Vơng

Trần Cố (? - ?) ngời xã Phạm Triền - huyện Thanh Miện - phủ Hồng Hà(nay huyện Thanh Miện - Hải Dơng) Ông thi đỗ kinh Trạng nguyên khoaBính Dần, năm Thiệu Long thứ chín (1266) đời Trần Thánh Tông Ông làmquan đến chức Hiến sát sứ

Trần Sùng Dĩnh (1465 - ?), là Trạng nguyên của Việt Nam Ông là ngờilàng Đông Khê - huyện Thanh Lâm - phủ Thợng Hồng (Hải Dơng) Ông đỗTrạng nguyên khoa Đinh Mùi, niên hiệu Hồng Đức thứ 18 (1487) đời LêThánh Tông Ông làm chức quan Đô Ngự Sử Thập Nhị Kinh Diên, rồi sau đó

Trang 27

đợc thăng lên chức Hộ bộ Thợng th Sau khi Ông mất đợc phong Phúc thần và

đợc thờ phụng ở quê nhà

Trần Phổ, đậu giải nguyên, làm tri huyện Đức Phổ (Quảng Ngãi) là phụthân của Trần Phú

Trần Phú: sinh ngày 1/5/1904 mất ngày 6/9/1931 là tổng bí th đầu tiêncủa Đảng Cộng sản Đông Dơng, nay là Đảng Cộng sản Việt Nam

Năm 1922, ông đỗ đầu kỳ thi thành chung - học vị cao nhất theo hệPháp đào tạo lúc bấy giờ Năm 1925, ông tham gia Hội Phục Việt tại Vinh,sau đó Hội đổi tên thành Tân Việt cách mạng Đảng Năm 1927, ông sangLiên Xô học trờng Đại học Lao Động Cộng sản Phuơng Đông của Quốc TếCộng sản ở Matxcơva với bí danh Li-cơ-vây Tháng 4/1930, ông về nớc và đợc

bổ sung vào Ban Chấp hành lâm thời của Đảng, Tháng 7, ông soạn thảo Luậncơng chính trị về vấn đề cách mạng t sản dân quyền ở Đông Dơng Tháng10/1930, Hội Nghị Ban chấp hành Trung ơng họp ở Hồng Kông (Trung Quốc)

đã thông qua Luận cơng chính trị và bầu ban chấp hành chính thức, ông đợcbầu làm Tổng Bí th

Ngày 19/4/1930, ông bị thực dân Pháp bắt, tháng 6/1931 ông qua đờitại nhà thơng chợ Quán ở tuổi 27 với lời nhắn nhủ: “Hãy giữ vững khí tiếtchiến đấu” Mộ và nhà lu niệm của ông ở Tùng ảnh - Đức Thọ (là di tích lịch

sử cấp Quốc gia)

1.2.2 Sự hình thành dòng họ Trần ở Phúc Thành Yên Thành Nghệ An

-Họ Trần Đại Tông, phái Huyền Linh tại xã Phúc Thành, huyện YênThành, tỉnh Nghệ An thuộc dòng dõi họ Trần Hoàng Phái đời nhà Trần tronglịch sử Việt Nam

Theo cuốn thế phổ họ Trần Đại Tông Yên Lạc dòng Huyền Linh thìnguồn gốc của dòng họ Trần ở Phúc Thành đợc tính từ thuỷ tổ Trần Quốc Duy(Pháp Độ)

Trần Quốc Duy hiệu Pháp Độ sinh năm 1424 tại Sơn Đông, huyện LậpThạch, phủ Tam Giới, trấn Sơn Tây (nay là tỉnh Vĩnh Phúc) Tên huý của ôngtrong các gia phả thời Lê không thấy ghi, các gia phả thời Nguyễn ghi là TrầnQuốc Duy Cuốn Thần phả thần lục (lu tại th viện Nghệ An) có ghi tên ông là

Trang 28

Trần Quốc Duy hiệu Pháp Độ Ông là con trai thứ ba của Trần Nguyên Hãn,khi Trần Nguyên Hãn lâm nạn năm 1429, ông mới năm tuổi ở với mẹ và bịtriều đình nhà Lê quản chế ở Tức Mạc (Nam Định).

Năm 1463, dới thời Lê Thánh Tông, niên hiệu Quang Thuận ông đã đỗkhoa thi năm này

Năm Hồng Đức (niên hiệu thứ hai của Lê Thánh Tông), năm thứ năm(1474) Pháp Độ về hu quan đa vợ con từ Sơn Nam vào Tống Sơn (nay là NgaSơn, Thanh Hoá) Năm 1480, ông để vợ là bà Từ Quang cùng con trởng làCông Sủng, con thứ hai là Đạo Tín ở lại Thanh Hoá, ông cùng ngời con thứ ba

là Trần Khơng tự Thiện Tính vào Nghệ An đến tổng Quan Trung, xã Thái Xã,làng Phì Cam, trụ trì tại chùa Liên Hoa (nay thộc xã Vĩnh Thành, Yên Thành)

Tại đây, ông cùng với một số ngời họ Phạm (dòng dõi tớng quân Phạm

Cự Lạng) tổ chức việc chiêu dân khai hoang lập ấp Trung tâm khai phá là xứNơng Mao, vốn là vùng nớc hoang vu, bốn bề sông nớc Ông đã khai phá lậpnên nhiều làng mới: Phú Điền, Phú Lai, Mã Lai, mở mang các làng cũ: PhìCam, Hào Cờng, Phú Lâm, Trung Xá Bên cạnh việc khai hoang Pháp Độcòn hớng dẫn và khuyến khích nhân dân phát triển nghề phụ, ông hớng dẫnnhân dân trồng tre, đan lát, làm thuyền vận chuyển, đánh bắt cá bằng lới Chính những công lao to lớn đó của ông đã đợc nhân dân lập đền thờ tôn làthần khai canh và đợc vua ban sắc thần “Tiền Sơn Nam Hách Tạc Tớng Công,Gia Tăng Tiêu Bạt Dực, Bảo Trung Hng, Trung Đẳng Thần”

Ngời con thứ ba của Pháp Độ là Trần Khơng, hiệu Chân Thờng, tựThiện Tính theo cha vào lập nghiệp ở Nghệ An lấy vợ ngời làng Hào Cờng,hiệu từ ý Phu Nhân Ông bà Chân Thờng sinh đợc ba ngời con trai, trởng làPhúc Quảng, thứ hai là Huyền Thông, thứ ba là Huyền Linh Ông Phúc Quảng

và ông Huyền Thông con cháu phát triển phồn vinh thành hai họ Trần ĐạiTông

Theo cuốn thế phổ Yên Lạc dòng Huyền Linh ghi: “Ông Huyền Linh tự

là Sinh Thiên năm thọ không ghi, giỗ ngày 14 tháng 8 Ông luôn làm điềuphúc đức, bố thí, thao lợc đạo phật, xem rộng các sách phong thuỷ, thao lợctinh thông lý số Vốn trung thành với nhà Lê, thời Lê Cung Hoàng, nămThống Nguyên (1522 - 1527) gặp loạn nhà Mạc, ông bỏ nhà ra đi tìm nơiphong thuỷ, mến thắng cảnh núi Giai Sơn, hồ Ô Đàm (Bàu ác) của làng Diệu

ốc, xã Yên Lạc làm nhà ở tại đó, nền nhà ông tự bốc lấy ở Nơng Lốt Từ đó,

Trang 29

con cháu phát triển phồn vinh, về sau trở thành họ Trần Đại Tông, làng Diệu

ốc, xã Yên Lạc, nay thuộc xã Phúc Thành, Yên Thành, Nghệ An”

Là nhà phong thuỷ, ông Huyền Linh đem hài cốt cha mẹ là ông bàChân Thờng đền táng tại Cồn Chu, trớc thuộc làng Diệu ốc xã Yên Lạc - sau

là xã Giai Lạc (nay thuộc xã Văn Thành, thờng gọi là mả tổ họ Trần) Mộtthời gian sau ông đi dạo chơi ngắm cảnh Ô Đàm (Bàu Sen), thấy cái lỗ rất tốtgọi là Long Huyệt ông lặn xuống để xem huyệt miệng rồng “tự nhiên nớcchảy thành nguồn” đa ông vào vực sâu Ngời ta cho rằng đó là mộ thiên táng(trời chôn) Sau khi vợ ông mất cũng táng trên bờ vực, về sau con cháu họTrần ở Phúc Thành có câu: “Một thân nhảy xuống, hai lăm khanh tớng ra

đời” Khởi đầu là con trai ông là Trần Thọ, thụ quan Phú Vinh Hầu, quan nộitriều, biệt hiệu là quan già Thự, đã từng tham gia trận mạc chiến thắng nhiều

kẻ thù Ông Huyền Linh mất ngày 14 tháng 8 âm lịch không rõ năm nào

Dòng họ Trần định c tại xã Phúc Thành đến nay đã hơn năm trăm năm

Kể từ đó đến nay, con cháu càng ngày càng đông đúc, phồn thịnh và để tiếngthơm lu truyền Họ Trần cùng với các dòng họ khác trong xã làm phong phúthêm truyền thống văn hoá dân tộc

1.2.3 Sự phát triển của dòng họ Trần ở Phúc Thành - Yên Thành

từ thế kỷ XV đến nay

Kể từ ông Trần Quốc Duy, hiệu Pháp Độ là thuỷ tiên tổ khảo của dòng

họ Trần ở Phúc Thành đến nay đã trải qua hơn năm trăm năm tồn tại và pháttriển với mời tám đời con cháu Dòng họ Trần ở Phúc Thành đã lan ra nhiềuxã ở trong huyện, tỉnh và các tỉnh thành khác trong cảc nớc

Cùng với sự phát triển của dân tộc, của đất nớc, dòng họ Trần ở PhúcThành, Yên Thành, Nghệ An cũng đã trải qua những thay đổi Đó là số đinh, số

hộ tăng lên, các nhà thờ chi họ đợc xây dựng để tởng nhớ các vị tổ tiên Đặcbiệt là nhà thờ Trần Đăng Dinh đợc công nhận là di tích lịch sử Quốc gia Phảichăng đây chính là phúc đức lớn lao của con cháu họ Trần ở Phúc Thành, YênThành

Ngày nay, con cháu họ Trần ở Phúc Thành - Yên Thành đã lan toả, pháttriển ra nhiều xã trong huyện, nhiều huyện nh Nghi Lộc, Diễn Châu, ThanhChơng, Nam Đàn , các tỉnh nh Đồng Tháp và nhiều tỉnh thành khác trongcả nớc Theo những bản gia phả còn lu lại đợc của dòng họ, chúng ta biết đợcdòng họ Trần ở Phúc Thành đã hình thành và phát triển qua các đời sau:

Trang 30

Đời thứ nhất

Thuỷ tiên khảo tổ là Trần Quốc Duy - hiệu Pháp Độ, sinh năm 1424 tạiSơn Đông, huyện Lập Thạch phủ Tam Giới, trấn Sơn Tây (nay là tỉnh VĩnhPhúc) Năm Hồng Đức thứ năm (1447), ông về hu quan đa vợ con vào TốngSơn - Thanh Hoá (nay là Nga Sơn, Thanh Hoá) Sau đó, do đất nớc loạn lạc,năm 1480, ông cùng với ngời con thứ 3 là Trần Khơng, tự Thiện Tính vàoNghệ An đến tổng Quan Trung, xã Thái Xã, làng Phì Cam (nay thuộc xã VĩnhThành, Yên Thành) Tại đây, ông đã khai hoang, chiêu dân lập ấp Từ đó,dòng họ Trần phát triển

Đời thứ hai

Ngời con thứ ba của Trần Quốc Duy là Đệ Tam Lang, hiệu Chân ờng, tự Thiện Tính, huý Khơng Ông Chân Thờng đã cùng cha đến Nghệ Anvào xã Thái Xã, làng Phì Cam sinh sống Vợ ngời làng Hào Cờng, hiệu từ ýphu nhân Ông bà sinh đợc ba ngời con trai Mộ ông bà do ngời con trai thứ ba

Th-là Huyền Linh đem song táng tại Cồn Chu, thôn Diệu ốc, xã Giai Lạc (PhúcThành, Yên Thành)

Đời thứ ba

Ông bà Chân Thờng sinh đợc ba ngời con trai: Con trởng là Trần ChânTịch, hiệu Phúc Quảng, con thứ là Trần Chân Tính, hiệu Huyền Thông, ôngPhúc Quảng và ông Huyền Thông con cháu phát triển thành hai họ Trần ĐạiTông ở Diễn Hồng và Diễn Thắng thuộc huyện Diễn Châu, Nghệ An

Ngời con thứ ba là Trần Chân Thiên, hiệu Huyền Linh, lúc nhà Mạc cớpngôi nhà Lê thời Thống Nguyên (1522 - 1527), vốn trung thành với nhà Lê,

ông bỏ nhà ra đi làm nhà ở xứ Nơng Lốt thôn Diệu ốc (nay là xã Phúc Thành,Yên Thành) Từ đó, con cháu phát thành họ Trần Đại Tông Yên Lạc dòngHuyền Linh Ông bà Huyền Linh sinh đợc ba ngời con trai

Đời thứ t

Ba ngời con trai của Huyền Linh: Trởng là Trần Lộc, con thứ hai làTrần Thọ, con thứ ba là Trần Huỳnh Chi Trần Lộc con cháu phát triển phồnthịnh ở Tùng ảnh, Đức Thọ Chi Trần Huỳnh con cháu phát triển ở Thanh Ch-

ơng

Trang 31

Con thứ hai Trần Thọ (1544 - 1613), dới thời Trịnh Kiểm đợc phong làPhú Quận Công Trong họ Trần thờng gọi là quan già Thự Chi Trần Thọ concháu phát triển phồn thịnh ở Phúc Thành, Yên Thành

Mộ ông bà ở xứ Nhà Cù, Đức Lân sau cải hợp táng tại xứ Bữa Bàu Ông

bà sinh đợc hai ngời con trai, trởng là Trần Văn Ngạn, thứ là Trần Thế (khôngthấy gia phả nhắc đến)

Đời thứ năm

Kiên lễ hầu Trần Văn Ngạn (1560 - 1635) Ông tên là Trần Văn Ngạn,lại có tên khác là Tộ, huý Long, tên thuỵ là Sùng Khang Trong họ Trần thờnggọi là quan già Kiên Ông sinh năm Canh Thân (1560) đời vua Anh Tông,niên hiệu Chính Trị năm thứ mời ba, mất ngày mồng 1 tháng 7 năm 1635 (ấtHợi) đời vua Thần Tông, niên hiệu Đức Long năm thứ bảy, thọ 76 tuổi

Bà là ngời họ Phan, hiệu là Từ Thục đợc phong là chính phu nhân, giỗngày 3 tháng 7, thọ 71 tuổi

Mộ ông bà hợp táng tại thôn Cồn Lại, xứ Cồn Trác, ông bà sinh đợc bốntrai và bốn gái

Đời thứ sáu

Con trởng: Trần Tuấn Kiệt (? - ?), huý Tháp, ông là Đô chỉ huy sứ

Đông lĩnh Hầu Thọ 62 tuổi, ông đợc phong phúc thần Thái Bảo đông quậncông, đền thờ đợc thành lập năm 1691 ở Cồn Lỗi làng Thuần Vĩ và ở Ba Khelàng Vũ Kỳ, đền này do các làng Thuần Vĩ, Phơng Tô, Vũ Kỳ phụng tự

Bà đích là Nguyễn Thị Đào hiệu từ Hạnh, đợc phong là chính quận phunhân, giỗ ngày 4 tháng 5, thọ 75 tuổi

Bà thứ là Phan Thị Thiên, hiệu Từ Minh phu nhân, giỗ ngày 20 tháng 6,

mộ hợp táng tại xứ Hoa Liên (nay thuộc xã Đồng Thành)

Sinh hạ đợc bốn trai, năm gái đều quý hiển Trởng là Trần Đăng Dinh Thứ nam: Trần Thọ Nhâm, em ruột Trần Tuấn Kiệt con cháu phát triểnphồn thịnh ở làng Yên Lạng, Tổng Văn Trình, huyện Nghi Lộc nay là xã Nghi

Đồng, huyện Nghi Lộc

Thứ tam nam: Trần Thọ Nhạc, tớc văn giao nam là em ruột Trần TuấnKiệt, thọ 80 tuổi Vợ là Nguyễn Thị Hạnh , hiệu Từ Đèn Con cháu Trần ThọNhạc phát triển phồn thịnh tại thôn Diệu ốc, xã Giai Lạc, nay là xã PhúcThành, Yên Thành

Trang 32

Thứ tứ nam: Trần Tất Minh, em ruột Trần Tuấn Kiệt, con cháu Trần TấtMinh phát triển thành một chi ở Nghĩa Đồng - Tân Kỳ.

Đời thứ bảy

Dòng thứ nhất: Con trởng: Trần Đăng Dinh (1620 - 1691), con trởngcủa Trần Tuấn Kiệt, là thiếu phó Liêm quận công thời Trịnh Tạc, Trịnh Căn,Trịnh Bính Do có nhiều công lao nên khi mất đợc phong Phúc Thần, đền thờ

đợc thành lập năm 1691 tại Yên Sơn, làng Hơng Thọ, nay là xã Phúc Thành

Ông có 16 ngời con trai và 7 gái đều quý hiển; Thứ nam: Trần Đăng NhợngQuan Thuỵ đình hầu, ông có 8 con trai đèu quý hiển; Thứ tam nam: Trần Thế

Tế, tớc Đặng Vũ hầu, sinh đợc 5 ngời con trai; Thứ t: Phơng Đình Hầu, giaphả ghi không tờng nay con cháu theo đạo thiên chúa ở xóm Trung Nam

Dòng thứ hai: Con Trai của Văn giao nam Trần Thọ Nhạc là Trần ThọXuân, là tán trị công thần Giỗ ngày 27 tháng giêng Vợ tên hiệu không rõ,sinh đợc một con trai tên là Trần Thọ Nhân

Đời thứ tám

- Mời sáu con trai của Liêm quận công Trần Đăng Dinh đợc phongHoàng tín đại phu: Trởng tử Trần Đăng Đê, thứ hai Trần Đăng Dũng, thứ baTrần Đăng Sỹ, thứ t Trần Đăng Nhuận, thứ năm Trần Đăng Tạo, thứ sáu Trần

Đăng Triều, thứ bảy Trần Đăng Tơng, thứ tám Trần Đăng Nhiệm, thứ chínTrần Đăng Phái, thứ mời Trần Đăng Tởng, thứ mời một Trần Đăng Vy, thứ m-

ời hai Trần Đăng Tuyển, thứ mời ba Trần Đăng Đô, thứ mời bốn Trần ĐăngChiêu, thứ mời lăm Trần Đăng Núi, thứ muời sáu Trần Đăng Tung; Tám contrai của Thụy Đình Hầu: Trần Đăng Thái, Trần Hng Hoài, Trần Hng Nhã,Trần quang Đạt, Trần Công Lợng, Trần Đăng Vận, Trần Đăng Dơng, TrầnQuốc Minh; Năm con trai của Đặng Vũ Hầu: Trần Phúc Thực, Trần QuangTrạch, Trần Quang Trân, Trần Quang Khuê, Trần Quang Cơ

Đời thứ 9

Chi 6: Trần Đăng Triều con của Thiếu phó Liêm quận công Trần ĐăngDinh (1669 - 1716), là Hoàng tín đại phu làm quan chính ngũ phẩm Khi mất

đợc tôn làm Phúc thần, thờ ở đền Cấm Sơn, làng Thọ xã Phúc Thành Chínhthất ngời họ Trịnh, hiệu từ nhã phu nhân, trắc thất họ Đậu, hiệu Từ Minh Ông

có 7 ngời con trai, 3 gái

Đời thứ 10

Trang 33

Bảy ngời con trai của Trần Đăng Triều là: Trần Đăng Cơ, Trần ĐăngBao, Trần Đăng Liễn, Trần Đăng Trang, Trần Đăng Điểm, Trần ĐăngKhuyến, Trần Đăng Quý Bảy ngời con đều quý hiển, con cháu phát triển chủyếu ở Phúc Thành, Yên Thành.

Đời thứ 11

Lấy Trần Đăng Liễn làm đại diện, ông là viên tử chức, trúng thí nhosinh, giám thủ từ đờng thời Cảnh Hng, ông giỗ ngày 14 tháng 1 Vợ làNguyễn Thị Quý, ông bà sinh đợc 3 trai: Trần Đăng Phợng, Trần Đăng Tiến,Trần Đăng Tăng

Các đời sau con cháu dòng họ Trần ở Phúc Thành, Yên Thành tiếp tụcphát huy truyền thống tốt đẹp của cha ông, dòng họ, đã có nhiều đóng góp choquê hơng đất nớc

Trang 35

từ thời Lê Trung Hng, nhiều đời là khai quốc công thần đời Lê Trung Hng,giúp việc cho triều Lê - Trịnh suốt 200 năm tồn tại.

Ngày nay, trên mảnh đất Phúc Thành - Yên Thành còn ghi danh têntuổi của con cháu dòng tộc họ Trần

2.1 Thời Trung Đại

2.1.1 Thời kỳ Lê Trung Hng

Họ Trần là dòng họ có truyền thống yêu nớc nh các dòng họ Việt Namkhác Truyền thống đó thể hiện ở tấm lòng trung quân ái quốc, dám hi sinh vìnớc vì vua, thống nhất non sông xây dựng Tổ quốc, giữ vững và mở mang bờcõi Thuỷ tổ Trần Quốc Duy - Hiệu Pháp Độ đã mở đầu cho truyền thống đócủa con cháu họ Trần ở Phúc Thành Con cháu, hậu duệ đời nối đời kế tiếpnhiều ngời đã đợc sử sách lu danh, tô đậm thêm truyền thống yêu nớc chốnggiặc ngoại xâm của dòng họ Trần ở Phúc Thành Đây là thời kỳ mà dòng họTrần ở Phúc Thành - Yên Thành đã có những đóng góp to lớn cho lịch sử dântộc

Nớc Việt Nam cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI tình hình chính trị hếtsức rối ren Nhà Hậu Lê sau một thời gian hng phục dới triều Lê Thánh Tôngthì đến các đời vua sau này nhất là dới thời vua Lê Hiến Tông, Lê Chiêu Tông

đã sa vào con đờng ăn chơi hởng lạc nên từng bớc suy tàn

Năm 1522, thế lực nhà Lê ngày càng suy tàn Dựa vào công lao củamình trong việc đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nông dân và đánh bại các thếlực chống đối Dựa vào sự ủng hộ của một số quan tớng, thái phó Nhân quốccông Mạc Đăng Dung tự quyền phế Lê Chiêu Thống lập Lê Xuân tức Lê CungHoàng lên làm vua Sau đó, năm 1527, nhận thấy sự bất lực của nhà Lê ông đãbức vua Lê phải nhờng ngôi lập ra nhà Mạc và lấy niên hiệu là Minh Đức Sựkiện này làm cho quan lại trung thành với nhà Lê không phục

Để đối phó với những ngời chống đối, nhà Mạc đã nhanh chóng tạo ramột lớp ngời có học thức trung thành với nhà nớc mới Vì thế, năm 1529, Mạc

Trang 36

Đăng Dung mở khoa thi hội lấy 27 ngời đỗ Từ đó, cứ 3 năm nhà Mạc lại tổchức thi, mở rộng việc học tập, dựng bia tiến sĩ để đào tạo nhân tài.

Về đối ngoại, nhà Mạc tỏ ra rất lúng túng trớc sức ép của nhà Minh.Nhân tình hình rối loạn ở nớc ta, bọn phong kiến nhà Minh đã cử đạo quân đixâm chiếm nớc ta buộc nhà Mạc phải đầu hàng Trớc tình hình đó, năm 1540,Mạc Đăng Dung lên tận cửa Nam Quan và cắt đất 5 động ở Đông Bắc vốn đợcsát nhập vào Đại Việt đầu thời Lê Sơ trả cho nhà Minh Điều này đã làm chonhân dân và quan lại phẫn nộ, nhà Mạc dần dần rơi vào thế cô lập

Trớc tình hình nh vậy, các quan lại trung thành với nhà Lê do TrịnhKiểm đứng đầu lãnh đạo cuộc chiến tranh với danh nghĩa “phò Lê” đã nổ raliên tục ở Thăng Long, Hải Dơng, Cao Bằng, Nghệ An làm hao tổn nhiềusinh mạng của nhân dân và của cải của đất nớc Lợi dụng cơ hội tranh chấpquyền lực giữa nhà Mạc với vua Lê - chúa Trịnh, một số quan lại chán ghéttriều đình mà đứng đầu là Nguyễn Hoàng đã lui về phơng Nam với danh nghĩakhai khẩn đất hoang, nhằm xây dựng cơ đồ riêng, cát cứ chống lại triều đình.Cuộc chiến tranh giữa nhà Mạc với vua Lê - chúa Trịnh (1533 - 1592), rồi đếncuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn (1627 - 1672) đã làm cho đất nớc thêm điêu

đứng Các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình là vùng đất khốc liệt nhất củacác cuộc tranh chấp quyền lực các tập đoàn phong kiến

Dới lá cờ của vua Lê chúa Trịnh trong giai đoạn lịch sử thế kỷ XVI XVII, trên mảnh đất Nghệ An đã có nhiều viên tớng nổi danh tài ba lỗi lạc, cónhiều công lao cho đất nớc góp phần chấm dứt nạn binh đao đem lại cuộcsống thanh bình cho đất nớc và cho nhân dân miền trung Công lao đó của họ

-đã đợc nhà nớc ban thởng, sử sách ghi và nhân dân muôn đời tởng nhớ thờphụng Đó là những ngời nh Tấn Quốc Công Nguyễn Cảnh Hoan ở Đô Lơng,Công bộ thợng th Trần Đăng Dinh ở Yên Thành

Theo gia phả họ Trần dòng Huyền Linh ở Phúc Thành Yên Thành Nghệ An, các vị tổ họ Trần dòng Huyền Linh đều là khai quốc công thần đời

-Lê Trung Hng có nhiều công lao cho đất nớc, quê hơng Đặc biệt, trong suốtthời kỳ phò Lê diệt Mạc (1527 - 1593)

+ Trần Thọ là con thứ của ông Huyền Linh, ông sinh năm Giáp Thìn(1544) niên hiệu Nguyên Hòa năm thứ 12 đời Lê Trang Tôn, mất ngày 23thàng 12 năm 1613 đời vua Hoàng Định thứ 14 thọ 70 tuổi Theo gia phả họTrần dòng Huyền Linh ở Phúc Thành - Yên Thành, ông Trần Thọ là ngời

Trang 37

thông minh, hiếu học thờng hay góp ý với thân phụ Huyền Linh mỗi khi đọcsách Tôn Ngô, ông “lấy Tôn Ngô làm chí lợc”.

Năm 1557, Trần Thọ mới 13 tuổi nhng ông đã đi theo Thế Tổ Thái

V-ơng Trịnh Kiểm ứng nghĩa giúp nhà Lê

Đến đời vua Lê Anh Tông ông xông pha trận mạc lập nhiều kỳ công và

đợc ban tớc Phú Vinh Hầu, đặc tiến phụ quốc thợng tớng quân, thăng khaiQuốc Kiệt tiết tuyên lực công thần, lăng ba ty, thự vệ sứ Phú Quận Công

+ Trần Văn Ngạn con trởng của Trần Thọ cũng kế nghiệp binh của cha

“phò Lê diệt Mạc” Ông sinh năm Canh Thân, đời vua Lê Anh Tông niên hiệuChính Trị thứ 13 (1560), mất ngày 1 tháng 7 năm ất Hợi (1635) đời vua ThầnTôn niên hiệu Đức Long năm thứ 7, thọ 76 tuổi

Ông là Công Thần Kế Quản thân binh, trong thời vua Lê Thế Tôn, niênhiệu Quang Hng, ông theo Thành Tổ Triết Vơng Trịnh Tùng lập nhiều chiếncông đại phá quân Mạc giải phóng kinh đô Ông làm quan: Tán trị công thần,

đặc tiến phụ quốc thợng tớng quân, Cẩm y vệ điện tiền đô chỉ huy sứ, Kiên LễHầu - gia tặng đặc tiến kim tử vinh - Đại phu tán trị thừa chính sứ - T thamchính Trần Tớng Công

Theo Đại Việt sử ký “Thời Lê Thế Tôn niên hiệu Quang Hng năm thứ 2Mậu Tuất (1598), Trịnh Tùng làm biểu tâu vua nói Đô chỉ huy sứ Trần Tộ (tứcTrần Ngạn) lĩnh tợng binh đánh tan quân ngụy ở Lạng Sơn [15; 163]

Theo văn bia ở đền thờ Trần Đăng Dinh ở Phúc Thành - Yên Thànhchép: “Công triệu mẫn nhung công ghi tiếp phụ luân hữu dị Cần chi hị -xétviệc sử đời Lê Thế Tôn Quang Hng năm thứ 2 Mậu Tuất - Trịnh Tùng - biểuTôn Đô chỉ huy sứ Trần Tộ (tức Ngạn) lĩnh binh tợng thu lu ngụy đảng LạngSơn”

Thái Bảo Đông quận công Trần Tuấn Kiệt: Ông tên Tuấn Kiệt, HúyTháp thọ 62 tuổi Ông có sức khỏe hơn ngời, thời còn trẻ làm rể nhà họNguyễn

Trong phả tộc họ Trần ở Phúc Thành - Yên Thành viết rằng: Ngàytháng chạp đến nhà nhạc phụ chơi, nhạc phụ đùa bảo: Tết gần đến cha có củi

đun, ông xin nhạc mẫu cho nấu một nồi bảy cơm ông ăn hết rồi vào rừng đốncủi và gánh về một gánh có thể dùng trong ba tháng Sau đó ông ra kinh đô,khi đi qua Thanh Hóa thấy có làng đang soạn lễ tế giết một con trâu nhngkhông mang về đợc Ông nói rằng: Tôi có thể mang về đợc mọi ngời có thởng

Trang 38

không? Mọi ngời hứa thởng, ông liền vác trâu lên vai đa về tế sở, dân làngkinh lạ Tế xong dân làng thởng một vai trâu một cỗ xôi ông ăn hết Ngàyhôm sau, làng ấy lập tràng vật ông vật ngã mấy chục ngời Trà Lũ khỏe mạnh,

ông nhận thởng một nén bạc một tấm vải lụa Ông đi vào kinh hầu Văn TổNghị Vơng Trịnh Tráng Bấy giờ ở kinh thành có con voi sổ tàu ra làm hạinhân dân, vua ra chiếu ngời dũng sĩ bắt và thuần đợc nó sẽ có thởng Ôngnghe chiếu chỉ liền xin rèn sẵn búa sắt, xiềng sắt tâu chúa chuẩn y Ông mangbúa xiềng nhảy lên mái nhà chờ khi nó đi qua nhảy lên lng voi và ngoắc đầu

nó lại Voi trở lại bơi ra sông Nhị Hà, ông cùng voi khi nổi khi chìm, hồi lâuvoi mới chịu phục Chúa ngự trên lầu trông thấy mừng rỡ khen rằng: "Kỳ tài

đích đáng kỳ tài, con dòng cửa tớng sinh ngời hiển nhi” và ban cho chức Nội

điện thị lang phụ y phò giá thảo tặc, thăng đô chỉ huy sứ Đông lĩnh hầu

Trong khoảng thời gian vua Lê Thần Tôn, niên hiệu Vĩnh Tộ (1619 1628) ông hộ giá đánh giặc kiêu dũng vô cùng Sau đó lại bắt đợc giặc Mạc -Nghiệt nên đợc gia thặng tán trị công thần đặc tiến phụ quốc thợng tớng quân,

-điện tiền đô hiệu ty, đô hiệu điểm Đông Lĩnh Hầu Có con là Liêm QuậnCông Trần Đăng Dinh quý hiển nên đợc vinh phong “Thái Bảo Đông quậncông dực vận Đại Vơng, Thụy Yên Đạo tôn thần” và phong phúc thần Đềnthờ ông ở Ba Khe, Cồn Lỗi, phụng chỉ vua cấp 3 làng Phơng Tô, Thuần Vĩ, Vũ

Kỳ thờ phụng

Có thể thấy, công lao của các khanh tớng họ Trần ở Phúc Thành, YênThành đối với đất nớc, quê hơng trong thời kỳ này là hết sức to lớn Đặc biệt,

ông Trần Đăng Dinh con trai của Trần Tuấn Kiệt Ông đã có nhiều cống hiến

to lớn đối với nhà Lê Trung Hng

Theo phả tộc họ Trần Giai Lạc Phúc Thành, Yên Thành Trần ĐăngDinh sinh hồi giờ Thân ngày 20 tháng bảy năm Canh Thân (1620) húy làMàn, tên là Đăng Dinh có nơi gọi là Đăng Doanh Sinh mẫu là Phan Thị mấtsớm, đích mẫu là Nguyễn Thị dỡng dục Ông thiên t đĩnh ngộ khác thờng, cótài võ theo học Nguyễn Phú Phơng tiên sinh Gặp lúc gian đa tính ông khôngchịu khuất phục nên bọn vô lại trong làng muốn làm hại, ông tới kinh đô học.Khi ông cỡi ngựa đi qua đền thừa sũng, ông không xuống ngựa, ngựa khôngchịu đi ông mật chúc ngựa mới đi đợc Lúc tới kinh thành đợc thu dụng, ông

đem việc ấy tâu vua đền ấy liền đợc ban phúc thần Nay tại ngôi đền đó còn cócâu: “Mã tích hiển linh” Khi đến kinh thành, Vơng Thế Tử Trịnh Căn vi phục

Trang 39

đến học quán cùng đàm luận văn chơng với ông, Trịnh Căn thấy ông là ngờiphi thờng nên đã đa ông về gia phủ làm gia thần Một lần Thế Tử có lỗi bịgiam trong nhà lao gia thần sợ liên lụy nên tán cả nhng Trần Đăng Dinh đã ởlại thuốc thang chăm sóc cho Thế Tử Một hôm, Trịnh vơng ra chơi ông phạmtất quan quân tra hỏi, ông đem sự thực trình bày lên chúa, chúa động lòng th -

ơng tha tội cho Thế Tử về nhiếp chính Thế Tử cảm ơn ông từ đó xng rằng

“nghĩa đệ” chứ không kêu tên

Cuộc hỗn chiến Lê - Mạc vừa mới lắng xuống thì từ năm 1627 đến năm

1672 cuộc hỗn chiến giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh - Nguyễn lại nổ ra.Tình hình đất nớc lại càng thêm rối ren, đặc biệt các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh,Quảng Bình là chiến trờng khốc liệt Trong những năm 1655 - 1660, Nghệ Anvừa là tiền tuyến vừa là hậu phơng của cuộc tơng tàn Trịnh - Nguyễn

Năm ất Mùi (1665), cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn vào giai đoạnquyết liệt Đàng Trong, chúa Nguyễn Phúc Tần mới lên ngôi, có âm mu bànhtrớng ra Bắc Đàng ngoài, quân Trịnh đang cố gắng tăng cờng lực lợng tiếnhành thu hồi những vùng đất bị chúa Nguyễn xâm chiếm Vì thế, cả hai bên

đều tăng cờng lực lợng mở những đợt tiến công lớn

Tháng 3 năm 1665, quân Nguyễn do Nguyễn Hữu Tiến làm Tiết chế,Nguyễn Hữu Dật làm Đốc chiến cùng phát cả thủy bộ binh tiến đánh, chiếm

đợc 7 huyện Nam Hà: Hơng Sơn, La Sơn, Thanh Chơng, Nghi Xuân, Can Lộc,Thạch Hà và Kỳ Hoa, đẩy quân Trịnh ra mãi bờ bắc sông Lam [22; 102]

Tháng 10 âm lịch 1655, Trịnh Tráng sai Thế Tử Trịnh Tạc vào Nghệ Anthống lĩnh các dinh thủy bộ Trịnh Tạc vừa vào đến Nghệ An thì Trịnh Tráng

đau nặng nên Trịnh Tạc phải triệu về, sai Tả đô đốc Trịnh Toàn làm thốnglĩnh

Năm Vĩnh Thọ thứ nhất (1658), chúa Trịnh sai Trịnh Căn đem quân vàogiúp Trịnh Toàn ở Nghệ An ứng chiến với quân Nguyễn Trần Đăng Dinh đợcphò giá Thế Tử Trịnh Căn vào đánh giặc ở Nghệ An Từ một ngời trai tráng ởYên Thành nay đợc làm tớng tham mu cho Thế Tử, trở về quê hơng lòng ôngkhông khỏi quặn đau khi tận mắt nhìn thấy làng mạc tiêu điều vì chiến tranhtàn phá Trần Đăng Dinh bày mu cho Thế Tử bớt tiền gạo để nuôi quân, cấpphát giúp đỡ nhân dân các làng mạc bị giặc giã Ông còn thảo chiếu kêu gọinhân dân lu tán chạy loạn ở Diễn Châu, Quỳnh Lu về làng Việc làm cơ munhng có tâm của ông đã thu phục đợc nhân tâm của nhân dân và đợc nhân dân

Trang 40

ủng hộ Mặt khác ông còn giúp Thế Tử củng cố đồn trại, cử ngời vào do thámtrong hàng ngũ đối phơng Khi đã nắm đợc thời cơ, quân Lê - Trịnh mởnhiều đợt tấn công giành lại đất đai từ tay chúa Nguyễn Với những công lao

đó ông đợc phong chức Liêm Dũng Nam và vào làm việc trong phủ chúa.Trong năm đó ông đợc triều đình ban 2 đạo sắc

Một đạo ngày 22 tháng 8 năm Vĩnh Thọ thứ nhất (1658): “Vĩnh Thọnguyên niên bát nguyệt nhị thập nhị nhật sắc:

“Sắc Đông Thành huyện, Yên Lạc xã”

Liêm dũng nam hạ tử Trần Đăng Dinh vi nguyên súy Tây Định Vơngchỉ chuẩn phụng sai thống lĩnh vụ trị Nghệ An Phú quận công Trịnh Căn loàithừa sai năng dụng mệnh công phá tặc đồ hữu công dĩ kinh luân ng gia nhấtthứ tri bộ chức, khả vi Quang Tiến thận lộc đại phu, thủy quân vệ t bộ Liêmdũng nam tá trị khanh hạ liên cố sắc”

Một đạo sắc ra ngày 24 tháng 8: “Vĩnh thọ nguyên niên, bát nguyệtnhị, thập tứ nhật Sắc Quang Tiến thận lộc đại phu Trần Đăng Dinh vi xớngxuất đồng thành huyện hơng binh, tiếp đắc lang công cận xuất hàng hữu công,

di kinh luận thởng thăng nhất thứ huyện nhng chức, khả vi Quang Tiến thậnlộc đại phu, Trà lân phủ, Tơng Dơng huyện, huyện thừa Liêm dũng nam, tátrị khanh hạ liên cố sắc”

Vùng đất Nghi Dơng - Hải Phòng quê hơng của Mạc Đăng Dung saunhiều lần binh đao, bão lụt nên tình hình đời sống nhân dân hết sức đói khổ.Lợi dụng sự bất bình của dân chúng nhà Mạc kích động dân chúng chống lạitriều đình Trần Đăng Dinh một lần nữa lại hộ giá chúa đem quân đi đánh dẹp.Sau nhiều lần điều tra thị sát thấy đời sống nhân dân đói khổ, ông đã tâu lênchúa Trịnh một mặt phải củng cố tình hình giúp đỡ nhân dân, mặt khác lôi kéonhững ngời chống đối quay trở lại làm ăn Đồng thời ra tay trừng trị bọn hào

lý, quan lại tham nhũng, tiếm quyền nên đợc dân chúng đồng tình và tìnhhình ổn định trở lại

Năm Canh Tý (1660), ông bày mu vạch chớc thu hồi 7 huyện phía NamSông Lam bị chúa Nguyễn xâm chiếm Ông Doãn Cát có câu rằng: “Hữunghiêm, hữu dực, cung vũ chi phục, văn vũ cát phủ, vạn bang vi hiến” Nghĩa

là vừa nghiêm vừa kính giữ việc nhung trăng, có văn có võ, tiêu biểu vạn bang

Xét thấy công lao mu lợc của Trần Đăng Dinh nên năm ất Tỵ (1665),triều đình thăng hàm: Thợng Bảo tử khanh liêm dũng tử và ban sắc phong

Ngày đăng: 19/12/2013, 15:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. H. Le Breton (2005), An Tĩnh cổ lục, TTVH ngôn ngữ Đông Tây, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: An Tĩnh cổ lục
Tác giả: H. Le Breton
Nhà XB: NxbNghệ An
Năm: 2005
2. Đào Duy Anh (2002), Việt Nam văn hóa sử cơng, Nxb Khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cơng
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học
Năm: 2002
4. Ban nghiên cứu lịch sử Nghệ Tĩnh (1998 ), Danh nhân Nghệ An, T1,T2, Nxb Nghệ Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh nhân Nghệ An
Nhà XB: Nxb Nghệ Tĩnh
7. Bùi Hạnh Cần, Nguyễn Lan Phơng (1995), Những ông nghè, ông cống triều Nguyễn, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những ông nghè, ông cốngtriều Nguyễn
Tác giả: Bùi Hạnh Cần, Nguyễn Lan Phơng
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1995
8. Phan Bội Châu (1996), Hậu Trần đật sử, Nxb Thông tin Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hậu Trần đật sử
Tác giả: Phan Bội Châu
Nhà XB: Nxb Thông tin Hà Nội
Năm: 1996
9. Phan Huy Chú (1992), Lịch triều hiến chơng loại chí, Nxb Khoa học xãhéi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chơng loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nxb Khoa học xãhéi
Năm: 1992
10. Nguyễn Đổng Chi (1992), Địa chí văn hóa dân gian Nghệ An, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí văn hóa dân gian Nghệ An
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi
Nhà XB: NxbNghệ An
Năm: 1992
11. Danh nhân Nghệ An (1998), Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh nhân Nghệ An
Tác giả: Danh nhân Nghệ An
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 1998
12. D Địa Chí, tài liệu đánh máy lu tại th viện Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: D Địa Chí
13. Cao Xuân Dục ( biên thuật ), Ngô Đức Thọ (dịch), Hơng Khoa lục Nghệ Tĩnh, tài liệu đánh máy lu tại th viện Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hơng Khoa lục NghệTĩnh
14. Dòng yên nhị huyện đăng khoa phổ, tài liệu chép tay do gia tộc họ Trần ở Phúc Thành cung cấp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dòng yên nhị huyện đăng khoa phổ
15. Đại Việt sử ký (1991 ), T4, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
16. Đông Thành phong thổ ký, tài liệu đánh máy lu tại th viện tỉnh Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đông Thành phong thổ ký
17. Gia phả họ Trần Đại Tông Yên Lạc dòng Huyền Linh, bản chữ Hán và ch÷ Quèc Ng÷ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia phả họ Trần Đại Tông Yên Lạc dòng Huyền Linh
19. Ninh Viết Giao (2003), Văn Hóa Nghệ An, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn Hóa Nghệ An
Tác giả: Ninh Viết Giao
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2003
20. Ninh Viết Giao (2004), Văn bia Nghệ AN, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bia Nghệ AN
Tác giả: Ninh Viết Giao
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2004
22. Ninh Viết Giao (2005), Nghệ An lịch sử và văn hóa, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ An lịch sử và văn hóa
Tác giả: Ninh Viết Giao
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2005
23. Vũ Ngọc Khánh (1995), Từ điển văn hóa Việt Nam (phần nhân vật chí), Nxb Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn hóa Việt Nam
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh
Nhà XB: Nxb Thông tin
Năm: 1995
24. Dã Lan - Nguyễn Đức Dụ (1992), Gia phả khảo luận và thực hành, Nxb Văn hóa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia phả khảo luận và thực hành
Tác giả: Dã Lan - Nguyễn Đức Dụ
Nhà XB: NxbVăn hóa Hà Nội
Năm: 1992
25. Ngô Cao Lãng (1995), Lịch Triều tạp kỷ, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch Triều tạp kỷ
Tác giả: Ngô Cao Lãng
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1995

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Chơng 1. Quá trình hình thành và phát triển của dòng Họ Trần - Lịch sử văn hó dòng họ trần ở phúc thành, yên thành, nghệ an từ thế kỷ XV đến nay (2007)
h ơng 1. Quá trình hình thành và phát triển của dòng Họ Trần (Trang 4)
Khoa bảng, văn ban - Lịch sử văn hó dòng họ trần ở phúc thành, yên thành, nghệ an từ thế kỷ XV đến nay (2007)
hoa bảng, văn ban (Trang 8)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w