Cộng đồng cư dân Quỳ Chữ trong quá trình lao độngvất vả, đấu tranh lâu dài, khai thác đất đai, xây dựng và bảo vệ quê hương đấtnước, đã tạo nên những giá trị văn hoá tốt đẹp trong nền vă
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
………*………
BÙI THỊ PHƯƠNG
LỊCH SỬ - VĂN HÓA LÀNG QUỲ CHỮ,
XÃ HOẰNG QUỲ, HUYỆN HOẰNG HOÁ, TỈNH THANH HOÁ
(TỪ THẾ KỶ XV ĐẾN NĂM 2009)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
VINH: 1/2010
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
………*………
BÙI THỊ PHƯƠNG
LỊCH SỬ - VĂN HOÁ LÀNG QUỲ CHỮ,
XÃ HOẰNG QUỲ, HUYỆN HOẰNG HOÁ, TỈNH THANH HOÁ
(TỪ THẾ KỶ XV ĐẾN NĂM 2009)
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.54
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học:
TS TRẦN VĂN THỨC
Trang 3
VINH: 1/2010
LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi đãnhận được sự giúp đỡ của các thầy cô giáo, các cơ quan, tập thể, cá nhân vànhững người thân trong gia đình
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với TS: Trần Văn Thức đã trựctiếp hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các cơ quan, địa phương mà tôiđến liên hệ tư liệu cùng các thầy cô giáo Trường Đại học Vinh đã tạo mọi điềukiện cũng như tận tình giúp đỡ, chỉ bảo để tôi hoàn thành luận văn này
Xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với gia đình, bạn bè, đã tạo điềukiện giúp đỡ, động viên khích lệ tôi về vật chất cũng như tinh thần để tôi cóđiều kiện học tập và nghiên cứu hoàn thành luận văn!
Do nguồn tài liệu, thời gian hạn chế và bản thân mới bước đầu nghiên cứumột đề tài khoa học, chắc chắn luận văn khó tránh khỏi thiếu sót, rất mongnhận được sự chỉ bảo của quý thầy cô và các bạn
Trang 4CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
1 m s t: mẫu sào thước
2 TCN: Trước công nguyên
3 VAC: Vườn – ao - chuồng
4 HTX: Hợp tác xã
5 ĐCSĐD: Đảng cộng sản Đông Dương
Trang 5MỤC LỤC
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang MỞ ĐẦU ……… ……… 1
1 Lý do chọn đề tài……… ……1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề ……… ……… 2
3 Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu ……….………….4
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu……….……….5
5 Đóng góp của luận văn ……….………….… 6
6 Bố cục của đề tài ……… ……… …………6
NỘI DUNG ……… ……… 7
CHƯƠNG 1: LÀNG QUỲ CHỮ- QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN 7
1.1 Khái quát địa lý tự nhiên ……… ………7
1.1.1.Vị trí địa lý……… ……… ….……… 7
1.1.2 Địa hình, đất đai……….……… ………… 8
1.1.3 Sông ngòi……… ………… ……….……… 10
1.1.4 Khí hậu……….……… 12
1.2 Sự hình thành, phát triển và cộng đồng dân cư làng Quỳ Chữ… 13
1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của làng……….…… … 13
1.2.2 Dân cư……… ……….………20
* Tiểu kết chương 1……….…… ……… 24
CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH KINH TẾ VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA LÀNG QUỲ CHỮ 26
Trang 62.1 Tình hình kinh tế………… ……… ….……….26
2.1.1 Ngành nông nghiệp……… ………… ……… 26
2.1.1.1 Tình hình ruộng đất làng Quỳ Chữ trước 1945.……… 26
2.1.1.2 Tổ chức hợp tác xã nông nghiệp Quỳ Chữ… ………30
2.1.1.3 Tình hình phát triển nông nghiệp……… … ……… 36
2.1.2 Ngành thủ công nghiệp……… ………40
2.1.3 Ngành thương nghiệp……… ………… 43
2.2 Cơ cấu tổ chức của làng ………… ………… … ………46
2.2.1 Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ……… 46
2.2.2 Cơ cấu tổ của làng Quỳ Chữ…….……… ………… 46
2.2.2.1 Dòng họ……… ……….47
2.2.2.2 Xóm và ngõ……… … ……… 54
2.2.2.3 Giáp……… ……… 56
2.2.2.4 Phường, hội……… ……… 58
2.2.2 5 Tổ chức hành chính của làng……… …60
* Tiểu kết chương 2……… ……… ………… ………… 64
CHƯƠNG 3: VĂN HOÁ TRUYỀN THỐNG LÀNG QUỲ CHỮ 65
3.1 Diện mạo văn hoá vật chất ……… …… ………65
3.1.1 Chùa Hưng Viên……… …… ………….……… 66
3.1.2 Đình làng……… ……… ………… 67
3.1.3 Đền làng……… ………… 69
3.1.3.1 Đền Đức Thánh Cả……… … ………69
3.1.3.2 Đền Đức Thánh Đệ Nhị……… ……… …………72
3.1.3.3 Đền Đức Thánh Đệ Tam ……… ………… ……… 74
3.1.3.4 Đền Đức Thánh Đệ Tứ……… ……… ……….…….75
3.1.4 Từ đường họ Nguyễn Đình……… ……… 77
3.1.5 Nhà ở……… ……… … …79
3.2 Diện mạo văn hóa tinh thần 81
Trang 73.2.1 Các hình thức tín ngưỡng……… ……….….… 81
3.2.1.1 Tục thờ thành hoàng làng ……… … ………….81
3.2.1.2 Tục thờ cúng tổ tiên ……… ……….83
3.2.2 Các hình thái tôn giáo……… ……… …….…84
3.2.2.1 Phật giáo……… ………… 84
3.2.2.2 Nho giáo ……… …… 86
3.2.2.3 Đạo giáo……… ……… …89
3.2.3 Phong tục tập quán ……… ……….91
3.2.3.1 Cưới xin……… ………91
3.2.3 2 Tang ma……… ………95
3.2.4 Lễ hội……….……… ……… ……….102
3.2.5 Văn học dân gian……… ……… 110
* Tiểu kết chương 3 ……… ……….117
KẾT LUẬN……….……… 118
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… ……… 121
PHỤ LỤC
Trang 8MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài
Khi nghiên cứu lịch sử Việt Nam thời kỳ Bắc thuộc, chúng ta vẫn rất đỗi
tự hào Dù bị ách áp bức hơn ngàn năm với âm mưu đồng hóa văn hóa, thủtiêu ý thức dân tộc của kẻ thù, nhưng nhân dân ta chẳng những không đánhmất đi bản sắc của mình, mà ngược lại, hết sức tự nhiên, đã đồng hoá các kênhtruyền tải của kẻ thù phương Bắc (quan lại, binh lính đồn trú, thương nhân)khi sang Việt Nam để thực hiện nhiệm vụ của mình Vậy điều gì đã làm nên
sự kỳ diệu đó?
Khi đi tìm hiểu nguyên nhân, các nhà nghiên cứu đã thống nhất với nhaurằng một trong những nhân tố quyết định đó chính là hệ thống “Làng Việt”-đơn vị hành chính nhỏ nhất với sự quần cư của cộng đồng người Cây đa,giếng nước, sân đình, lũy tre xanh đã trở thành biểu tượng của làng - nơi lưugiữ những giá trị văn hoá đặc thù của cộng đồng người Việt
Làng ở Việt Nam như GS Từ Chi nói là những “Cố kiện” đúc sẵn Tuynhiên ở mỗi làng tùy vào vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên mà hình thành nênnhững nét văn hoá riêng, đặc thù của mỗi làng chi phối suy nghĩ, lối sống,hành động của người dân trong làng
Vì vậy, tìm hiểu những đặc thù của văn hoá làng là một việc làm quantrọng cần thiết, đó chính là sự tìm về nguồn cội tinh thần văn hóa dân tộc, nhưnhững điểm tựa để điều chỉnh chính mình trong cuộc sống hiện đại đầy biếnđộng hôm nay
“Sống trên vùng đất này mà không hiểu cương vực của nó đến đâu, sáchxưa đã nghi chép về nó ra sao thì rõ ràng đó là một sự khiếm khuyết trong sự
Trang 9học vấn” [32, 2] Theo đó, trong số những làng cổ truyền trên lãnh thổ ViệtNam thân yêu, chúng tôi lựa chọn một làng ngay trên chính quê hương xứThanh - làng Quỳ Chữ (Thuộc xã Hoằng Quỳ, huyện Hoằng Hoá) để làm đốitượng nghiên cứu.
Làng Quỳ Chữ, xã Hoằng Quỳ, huyện Hoằng Hoá là một trong nhữnglàng đang còn bảo tồn được những giá trị văn hoá lâu đời Quỳ Chữ có bề dàyvăn hóa hàng ngàn năm Cộng đồng cư dân Quỳ Chữ trong quá trình lao độngvất vả, đấu tranh lâu dài, khai thác đất đai, xây dựng và bảo vệ quê hương đấtnước, đã tạo nên những giá trị văn hoá tốt đẹp trong nền văn hoá thống nhấtcủa dân tộc, đó là hệ thống các giá trị văn hoá vật chất và giá trị văn hóa tinhthần của làng
Lịch sử văn hoá làng Quỳ Chữ vừa giàu tính dân tộc, vừa thể hiện sắcthái văn hoá riêng của làng Bởi thế, nghiên cứu lịch sử văn hoá vùng đất nàykhông chỉ cho chúng ta biết thêm những nét khắc họa về làng Việt nói chung,
mà còn cho chúng ta cảm nhận được những dấu ấn riêng của một vùng đất cóquá trình phát triển lâu dài cùng dân tộc Với những lý do trên, tôi chọn vấn đề
“Lịch sử- văn hoá làng Quỳ Chữ, xã Hoằng Quỳ, huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá (từ thế kỷ XV đến năm 2009)” làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc
sĩ cho mình
2 Lịch sử vấn đề
Nghiên cứu về văn hóa làng không còn là mảng đề tài mới nhưng cũng
không kém phần hấp dẫn, lý thú Trong thời gian gần đây, với xu thế giữ gìn
và phát huy những giá trị văn hóa của các địa phương nói riêng, của dân tộcnói chung, các công trình nghiên cứu về văn hóa làng và làng văn hóa đã vàđang ngày càng tăng về số lượng cũng như chất lượng
Đặc biệt trong những năm gần đây có nhiều công trình đã đi sâu nghiêncứu từng lĩnh vực cụ thể của làng, thậm chí từng làng cụ thể
Trang 10Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau: công trình “Nông thôn
Việt Nam trong lịch sử”(2 tập) (1977, 1978),Viện Sử học,Nxb KHXH, Hà
Nội Trong đó tổng hợp các bài viết trên cơ sở đánh giá vai trò làng của nông
thôn trong lịch sử Công trình “Tìm hiểu phong tục Việt Nam nếp cũ-lễ tết-hội
hè” (2000), Nxb Thanh Niên, cũng đã đi sâu tìm hiểu các tập tục, lễ nghĩa của
làng Ngoài ra còn có các công trình “Làng văn hoá cổ truyền Việt Nam”
(2001) của Vũ Ngọc Khánh, Nxb Thanh Niên; Công trình “Cơ cấu tổ chức
của làng Việt cổ truyền ở đồng bằng Bắc bộ” (1984), Nxb KHXH, Hà Nội …
Các công trình trên đều hướng sự nghiên cứu vào làng Việt ở đồng bằngBắc Bộ, nơi dân cư đông đúc, làng nghề phát triển và có những giá trị văn hoáđặc thù Các tác giả tập trung làm rõ các vấn đề địa lý tự nhiên, kinh tế - xãhội, những nét văn hoá tiêu biểu của làng Việt nói chung
Cũng như các làng trên toàn quốc, làng Quỳ Chữ đã được giới nghiên cứuđịa phương quan tâm Tuy nhiên vì nhiều lý do khác nhau, làng Quỳ Chữ vẫnchưa được nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực Vì
lẽ đó đề tài “Lịch sử - văn hóa làng Quỳ Chữ, xã Hoằng Quỳ, huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá ( từ thế kỷ XV đến năm 2009)” còn là một khoảng
trống, bởi chưa có một bài viết, một công trình nghiên cứu nào đi sâu tìm hiểumột cách chi tiết, cụ thể các khía cạnh của văn hoá làng Có chăng cũng chỉ lànhững bài viết mang tính chung chung hoặc đề cập đến một khía cạnh nào đócủa văn hoá làng Quỳ Chữ như:
Tác giả Trọng Miễn đã tiến hành khảo sát văn hoá làng Quỳ Chữ và cho
ra đời cuốn “Văn hoá làng Quỳ Chữ” (2001) Trọng Miễn, Nxb Văn Học, Hà
Nội, thế nhưng trong tác phẩm này tác giả chỉ tập trung khai thác, đánh giá vềvăn hóa làng Quỳ Chữ ở lĩnh vực văn học mà thôi
Hay trong cuốn “Địa chí văn hoá Hoằng Hoá” (2000) của Ninh Viết
Giao, Nxb KHXH, Hà Nội, tác giả cũng chỉ dành một số trang để đề cập đến
Trang 11địa điểm khảo cổ học Quỳ Chữ và đưa ra những căn cứ xác định nguồn gốc rađời của làng Quỳ Chữ.
Ngoài ra, còn có một số bài viết liên quan đến văn hoá làng Quỳ Chữ như
trong cuốn “Những làng văn hoá tiêu biểu tỉnh Thanh” (2004), Nxb Sở Văn
Hoá Thanh Hóa, chỉ đề cập đến làng Quỳ Chữ với tư cách là một làng văn hoátiêu biểu - điểm sáng trong văn hoá làng xứ Thanh
Trong cuốn “Xây dựng làng văn hoá Thanh Hoá” (2000) của Đặng Hùng,
Nxb Sở Văn Hoá Thông tin Thanh Hóa, viết về làng Quỳ Chữ với việc giữgìn, phát huy những trò diễn truyền thống …
Như vậy, việc nghiên cứu lich sử văn hoá làng Quỳ Chữ đến nay quả thậtrất ít ỏi, chưa có công trình nào đi sâu tìm hiểu một cách chi tiết, có hệ thống
Do vậy chúng ta chưa có cái nhìn toàn diện về làng Quỳ Chữ Tuy nhiênnhững bài viết, những công trình nghiên cứu trên là cơ sở ban đầu để giúpchúng tôi thuận lợi hơn trong quá trình tìm hiểu về làng Quỳ Chữ
Thực hiện đề tài này, tác giả hy vọng giới thiệu về một làng quê tiêubiểu, với quá trình hình thành phát triển của làng, đặc biệt là các di tích lịch
sử, văn hoá để qua đó nhận diện về một làng quê tiêu biểu tỉnh Thanh - mộtlàng quê có bề dày văn hóa
3 Phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ khoa học của đề tài
3.2 Nhiệm vụ khoa học của đề tài
Từ việc nghiên cứu văn hoá làng Quỳ Chữ, luận văn nhằm giải quyết
những nhiệm vụ cơ bản sau:
Trang 12- Nắm rõ được về mảnh đất và con người làng Quỳ Chữ từ xưa đến nay,khôi phục lại bức tranh toàn cảnh về văn hoá từ xưa đến nay của làng, qua đórút ra một số nét đặc trưng về văn hoá vùng quê này.
-Trên cơ sở nắm được lịch sử - văn hoá làng để thấy đâu là điểm tiến bộtích cực để giữ gìn và phát huy, đâu là điểm lỗi thời, lạc hậu cần loại bỏ, khôiphục những giá trị văn hoá tốt đẹp đã bị lu mờ và mai một
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tư liệu
Với nguồn tư liệu sưu tầm được, xét về nội dung và tính chất của nóchúng tôi chia ra những loại sau:
Thứ nhất là loại tư liệu nằm ở các cơ quan lưu trữ như: Trung tâm lưu trữ
Thanh Hoá, thư viện tỉnh Thanh Hoá, thư viện tỉnh Nghệ An, thư viện trườngĐại học Vinh, gia phả các dòng họ ở làng Quỳ Chữ Đây là nguồn tư liệu hếtsức phong phú, có giá trị lớn, giúp cho chúng tôi có cái nhìn khái quát, dựavào đó để nghiên cứu, hình thành những luận cứ, luận điểm khoa học của đềtài
Thứ hai là nguồn tư liệu ở địa phương mà cụ thể là các công trình biên
soạn lịch sử của huyện, xã, làng, cá nhân, liên quan đến đề tài nghiên cứu Đây
là nguồn tư liệu giúp chúng tôi rất nhiều trong quá trình hoàn thành luận văn
Thứ ba là trong quá trình thực hiện luận văn của mình, chúng tôi đã trực
tiếp tiến hành nhiều cuộc điền dã, gặp gỡ trao đổi với các cụ già trong làng.Đây là nguồn tư liệu bổ trợ quan trọng giúp chúng tôi có cái nhìn đầy đủ hơn
về “Lịch sử- văn hóa làng Quỳ Chữ, xã Hoằng Quỳ, huyện Hoằng Hoá, tỉnhThanh Hoá từ thế kỷ XV đến năm 2009”
4 2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu và trình bày luận văn, chúng tôi chủ yếu sửdụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic Ngoài ra chúng tôi còn sử
Trang 13dụng các phương pháp điền dã, phỏng vấn, gặp gỡ các nhân chứng lịch sửnhằm làm sáng rõ những vấn đề mà đề tài đặt ra
5 Đóng góp khoa học và giá trị thực tiễn của luận văn
- Cung cấp một lượng thông tin nhất định cho bạn đọc, nhất là bạn đọckhông có điều kiện tiếp xúc thực tế tại địa phương hiểu được mảnh đất và conngười làng Quỳ Chữ
- Hiểu được một cách toàn diện về làng văn hoá Quỳ Chữ trên lĩnh vựcđời sống văn hoá vật chất, đời sống văn hoá tinh thần
- Góp phần nâng cao nhận thức về vai trò và tầm quan trọng của văn hoálàng đối với sự hình thành và phát triển của văn hoá dân tộc, làm phong phúthêm lịch sử địa phương, cung cấp nguồn tư liệu phục vụ nghiên cứu văn hoá,nghiên cứu lịch sử làng cổ xứ Thanh
- Là tài liệu giáo dục lịch sử địa phương
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Làng Quỳ Chữ - quá trình hình thành và phát triển
Chương 2:Tình hình kinh tế và cơ cấu tổ chức của làng Quỳ Chữ
Chương 3: Văn hoá truyền thống làng Quỳ Chữ
NỘI DUNG
Trang 14CHƯƠNG 1 LÀNG QUỲ CHỮ- QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
1.1 Khái quát địa lý tự nhiên
1.1.1 Vị trí địa lý
Làng Quỳ Chữ là nơi có địa điểm khảo cổ học Quỳ Chữ (gồm 3 di chỉgần nhau: Bãi Chùa (mộ táng), Bãi Chùa (di chỉ cư trú), Đồng Cáo Địa điểmkhảo cổ học này được phát hiện đầu tiên vào năm 1962 Theo như kết luậnnghiên cứu của các nhà chuyên môn thì đây là vùng đất xưa nhất của HoằngHoá Cách ngày nay khoảng 3500 năm, người Việt cổ đã đến đây sinh cơ lậpnghiệp Không những thế, các di chỉ khảo cổ học Quỳ Chữ cho ta thấy cư dânViệt cổ đã liên tục sinh sống và phát triển qua các giai đoạn lịch sử, từ hậu kỳthời đại Đồng Thau cho đến tận ngày nay Điều đó được biểu hiện qua cáctầng văn hoá rất dày (từ 1m đến1,6m), thể hiện sự phát triển liên tục không có
sự cắt đoạn như nhiều nơi khác
Trong các làng cổ ở xứ Thanh, làng Quỳ Chữ (Kẻ Tổ) là làng quê tiêubiểu, giàu truyền thống văn hoá Mặc dù trải qua thời gian dài, những dấu tích
cổ xưa không còn nguyên vẹn, nhưng những gì còn lại vẫn nhắc nhở cho cácthế hệ sau một quá khứ hào hùng mà ông cha ta đã viết nên
Làng Quỳ Chữ nay thuộc xã Hoằng Quỳ, nằm ở phía Tây của huyệnHoằng Hoá Làng nằm ở tả ngạn sông Mã, phía Bắc giáp Hoằng Phú; HoằngKim, phía Nam giáp với làng Ích Hạ, phía Đông giáp với làng Đông Khê, phíaTây giáp với làng An Phú (xã Hoằng Hợp) Làng cách trung tâm huỵênkhoảng 8km về phía Đông, cách thành phố Thanh Hoá khoảng 10km về phíaBắc, cách làng Bồ Điền - nơi diễn ra cuộc chiến đấu vô cùng anh dũng củanhân dân ta dưới sự chỉ huy của Bà Triệu chống giặc Đông Ngô năm 248khoảng 6km về phía Đông Nam, cách núi Đọ - di chỉ đồ đá cũ nổi tiếng thếgiới khoảng 10km về phía Đông Bắc, cách khu văn hoá Đông Sơn khoảng
Trang 153km về phía Bắc Từ xa xưa, đây là vùng đồng bằng trũng, màu mỡ, phì nhiêu
do được bồi đắp hàng năm của phù xa sông Dọc (hiện nay chỉ còn dấu tích)
So với các làng xã khác trong huyện, Quỳ Chữ có điểm đặc biệt xa núi non, xasông biển: “Có tổng diện tích đất tự nhiên 405 mẫu, đất canh tác 315,6 mẫu,trong đó đất cày 2 vụ lúa là 217,70 mẫu, đất màu (ruộng 5%) chiếm 17,90mẫu Đất ở, ao, hồ, hộc đấu là 89,55mẫu”[ 44, 1]
Đến đầu thế kỷ XIX, Quỳ Chữ có 3 thôn: Thôn Đông; Thôn Trung; ThônThịnh Mỹ Thời kỳ1862-1936 có thêm thôn Quỳ Thanh và giáp Thuận Đức.Nhưng đến năm 1953, Quỳ Thanh tách khỏi Quỳ Chữ nhập vào xã HoằngHợp Năm 1947, Quỳ Chữ thuộc xã Mỹ Lý sau đổi thành xã Hoằng Lý Hiệnnay Quỳ Chữ thuộc xã Hoằng Quỳ, có đường quốc lộ 1A và đường sắt ThốngNhất Bắc - Nam đi qua, một vị trí giao thông thuận lợi cho giao lưu và pháttriển kinh tế
Với vị trí địa lý thuận lợi, nên ngay từ sớm Quỳ Chữ đã có điều kiện giaolưu buôn bán với các vùng miền trong và ngoài tỉnh Từ đó chọn lọc và kếttinh những nét văn hoá độc đáo của các làng xã xung quanh
để có được một vùng đồng bằng như ngày nay
Trang 16Trên cái nền của địa hình xứ Thanh, địa hình xã Hoằng Quỳ tương đốibằng phẳng và có độ dốc nhỏ theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, là điều kiệnthuận lợi cho người dân có thể phát huy tối đa ưu thế của đất nhằm phát triểnkinh tế nông nghiệp.
Do sự kiến tạo của thiên nhiên, muốn thử thách con người đến định cư nơiđây Vì thế hàng năm vào mùa lũ, nước sông Mã đổ về kéo theo phù xa, trảidài trên nền đất sét, nên đi vào các làng mạc trước đây thường lầy lội nhớpnháp Theo Đại Việt sử ký toàn thư “Ất Mão năm Nguyên Phong thứ năm(1225) đời Trần Thái Tông, mùa xuân tháng 2, vua sai Lưu Miễn đi bồi đắp đêcác sông Thanh Hoá Vua còn sai cả Trần Thủ Độ vào trông coi việc đắp đêĐĩnh Nhĩ (Quai Vạc) ở Thanh Hoá và Nghệ An” [10, 24 ] Mặc dù công tácthuỷ lợi được quan tâm, nhưng đôi khi có lũ lớn nước vẫn tràn qua Điều nàynói lên rằng, dù có đê nhưng những cánh đồng ở đây vẫn luôn được phù xasông bồi đắp
Tính chất đồng trũng ở vùng đất này còn được thể hiện ở hệ thống tên gọimang âm tiết từ xa xưa như: Cồn Cáo, Cồn Mã Voi, Mã Hệ, Mã Cáo, Mã Kẻ,Đồng Bái, Đồng Rồn
Về hình dáng của làng, theo như các cụ già trong làng nguồn văn học dângian thì làng Quỳ Chữ có hình dáng như một con rùa nên gọi là “Kim Quy” “Trở về gò đất làng ta
Kim Quy Chữ đặt kể đà từ lâu
Nổi lên giữa cánh đồng sâu
Tứ bề thấp trũng, giữa cao tuyệt trần.”
(Nguồn: vè làng Quỳ Chữ)
Để phòng tránh thú dữ và trộm cướp, xung quanh làng có hàng tre để ràochắn tạo nên nét đẹp nơi thôn dã đồng thời cũng nói lên tính khép kín của cáclàng cổ Việt Nam
Trang 17“Phong cảnh làng Tổ quê taNhìn gần cũng đẹp, nhìn xa tuyệt vời
Bốn bề tre phủ nơi nơiTựa như áo giáp của người chiến binh.”
(Nguồn: vè làng Quỳ Chữ) Điều 28 khoán ước làng Quỳ Chữ ghi “xung quanh làng ta từ xưa có trebao bọc để chống gió bão và trộm cướp, vì sự thay đổi này thuộc về tư nhân,nhà ai ở gần lũy tre phải bảo vệ cho kín, nếu đốn dùng phải trồng lại khôngđược phá” [25, 43]
Dẫu địa hình đất đai ban đầu của làng không phải là thuận lợi, nhưngbằng sức lao động cần cù, chăm chỉ qua biết bao thế kỷ chống chọi với thiênnhiên, đã biến vùng đất trũng trở thành vùng đồng bằng phì nhiêu màu mỡ, có
cơ cấu kinh tế ngày càng đa dạng
1.1.3 Sông ngòi
Hoằng Hoá là một trong những huyện ở xứ Thanh có hệ thống sông ngòiphong phú và đa dạng như sông Mã, sông Ngu, sông Trà…tạo nên mạng lướisông ngòi dày đặc rất thuận lợi cho sản xuất và sinh hoạt của cư dân nôngnghiệp
Thủơ xưa, trên địa bàn làng Quỳ Chữ có hai con sông chảy qua đó làsông Dọc và sông Mã
Sông Dọc: Là con sông cổ chảy qua địa phận làng Quỳ Chữ nay đã bị lấp
chìm chỉ còn lại vết tích Nhiều đoạn sông Dọc cổ nay đã trở thành đồngruộng, xóm làng “Nhưng những vết tích của sông vẫn còn, đó là thảm cátvàng chìm sâu trong lòng đất từ 0,4m đến 1m Thảm cát này rộng 30 - 40m ởrìa phía Tây làng Quỳ Chữ Từ đây vết cát uốn lượn vòng theo hướng Tây Bắcqua làng Vĩnh (Hoằng Hợp), qua làng Cuội trên và nối vào một đoạn còn khánguyên vẹn ven bìa làng Cuội Dưới (xã Hoằng Hợp), Sau đó vết cát chảy về
Trang 18phía Tây qua Hoằng Giang, tới gần lưu vực sông Mã, sông Chu thì nhập vàosông Mã Ở hướng Quỳ Chữ, sông men theo hướng Nam - Đông Nam làng,chảy qua quốc lộ 1A, nối với sông Trà ở làng Phú Đích (xã Hoằng khuê) và đổ
ra biển Toàn bộ chiều dài của sông Dọc cổ ước tính khoảng 11km”[ 10, 179]
Sách “Đồng khánh Dư Địa Chí ” đã ghi lại một nhánh sông có thể là
bóng dáng của sông Dọc thủơ xưa “Một đoạn sông Mã và sông Lương (tứcsông Chu) hợp lại từ ngã Ba Ngu chảy xuống các xã Tào Xuyên, Cát Xuyên,Bái Xuyên giáp huyện Hoằng Hoá, dài 9 dặm rộng 3,5 trượng triền lên 4,5thước, triền xuống 3 thước” [55, 1092]
Sông Dọc hiện nay không còn nữa, nhưng những chứng tích của dòngsông vẫn còn tồn tại mãi Sông Dọc đã gắn bó chặt chẽ với cư dân Quỳ Chữ,
đi vào những câu truyện dân gian của làng quê này Sông Dọc gắn liền với sựtích đổi tên làng Chuyện kể rằng: “Xưa kia trong một lần bị giặc Minh truyđuổi, Lê Lợi cùng quân sỹ chạy đến sông Dọc thì trời sắp tối, thấy bên kiasông có ánh đèn leo lét Ông cùng quân sỹ bơi sang xin trú tạm Trong nhà có
bà lão tóc đã bạc phơ, Lê Lợi ngỏ lời mong bà giúp đỡ Bà lão đã giấu Ông vàquân sỹ váo chỗ kín đáo, sau đó tiếp tục làm việc Khi quân giặc đến mất dấuvết chúng bực tức bỏ đi Giặc bỏ đi xa, Lê Lợi cúi đầu cảm tạ bà lão, bà mờiÔng ở lại ăn bữa cơm đạm bạc Mâm cơm chỉ có tép khô và rau rền hái ở bờsông, nhưng Ông đã ăn rất ngon Lê Lợi hỏi bà tên làng ta là gì? Bà lão trả lời:Tên làng già là “Tổ Cá Phường”, Ông hỏi lại tại sao lại có tên như vậy? Bà lãonói vì chúng tôi đều là dân ngoài Nam, thấy đây có nhiều ao thuận lợi nuôi cábột để bán nên chúng tôi ở lại đây sinh cơ lập nghiệp “Tổ Cá Phường” làphường cá mà Nghe bà nói vậy, Lê Lơi cười lớn và nói: “Đội ơn bà lão đãcứu thoát nạn, nay lại đãi ta bữa cơm ngon lành, từ nay ta đổi tên làng từ “Tổ
Cá Phường” thành làng Quỳ Chữ Quỳ Chữ là bến rau quỳ mà, nói xong, LêLợi bái tạ bà lão rồi đi [38, 9]
Trang 19Hiện nay, Quỳ Chữ có 2 đoạn sông tưới dài 1km chảy theo hướng TâyBắc - Đông Nam và sông tiêu dài 1,3km đi qua địa phận của làng Ngoài raQuỳ còn có rất nhiều ao chum.
Ngày nay, tuy không còn sông Dọc, nhưng với hệ thống ao dày đặc màthiên nhiên ban tặng, có tác dụng rất lớn đối với việc định cư lâu dài của conngười nơi đây
1.1.4 Khí hậu
Trong khu vực nhiệt đới gió mùa của cả nước, Quỳ Chữ lại ở gần biểnnên hàng năm nhận được 3 luồng gió: gió mùa Đông Bắc, gió mùa Tây Nam
và gió mùa Tây Đông
Cũng như toàn huyện Hoằng Hoá, khí hậu thời tiết làng Quỳ Chữ chia làm
2 mùa rõ rệt :
Mùa nóng: Từ tháng 5 đến tháng 10 Mùa này thời tiết nóng nực, nhiệt độ
trung bình là 28°C có khi lên đến 40°C, song cũng có ngày chỉ 21°C, thườnghay có dông tố và có sấm sét dữ dội làm ảnh hưởng tới nông nghiệp Trungbình hàng năm ở đây chịu đựng gió Tây khô nóng khoảng 15 đến 20 ngày,thường vào tháng 6 và tháng 7 Mưa bão cũng xuất hiện trong mùa này, hạnhán và lũ lụt luôn là mối đe dọa cuộc sống con người và sản xuất nông nghiệpnơi đây
Mùa lạnh: Thường từ tháng 11 năm trước đến hết tháng 4 năm sau Gió
mùa này khô và lạnh, song vì thổi qua vịnh Bắc Bộ mang theo hơi nước vàoThanh Hoá gặp các dãy núi ở phía Tây, dừng lại thường gây ra mưa phùn,mưa nhỏ và ẩm ướt Nhiệt độ bình quân mùa này là 20°C
Theo như sự phân vùng của khí hậu tỉnh Thanh Hoá thì làng Quỳ Chữthuộc: vùng tiểu khí hậu đồng bằng
Nhận xét về khí hậu khu vực này Đồng Khánh Dư Địa Chí Viết “thánggiêng, hai gió Đông, thỉnh thoảng gió Bắc, mưa phùn hơi lạnh, tháng 3 gió
Trang 20Đông Nam ấm áp, các tháng 4; 5; 6 gió Nam nắng gắt, tháng 7; 8 gió thu mưa
lũ nhiều Các tháng 9;10 mưa lũ, bão lụt, gió rươi Tháng 11; 12 gió Bấc lạnhrét ít mưa, thuỷ triều lên xuống cũng giống các huyện khác” [55, 1091]
Như vậy, thiên nhiên ban tặng cho làng Quỳ Chữ nhiều thuận lơi, nhưngbên cạnh đó cũng gây nhiều khó khăn thử thách Bởi thế trong suốt quá trìnhlịch sử, cư dân nơi đây đã can trường vượt qua những gian lao tạo dựng đờisống vật chất và tinh thần cho mình
1.2 Sự hình thành, phát triển và cộng đồng dân cư làng Quỳ Chữ
1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của làng
“Làng xã là một cộng đồng có tính chất dân tộc học, xã hội học và tínngưỡng Nó hình thành trong quá trình liên hiệp tự nguyện giữa người dân laođộng trên con đường chinh phục những vùng đất gieo trồng” [39, 11] Theo
GS Từ Chi, làng là từ nôm, để chỉ đơn vị tụ cư nhỏ nhất trong hoàn chỉnh củangười nông dân, còn xã là chữ Hán để chỉ đơn vị hành chính thấp nhất ở cácvùng nông thôn Việt Nam Xã của người Việt Nam có thể bao gồm từ một đếnnhiều làng, tuỳ từng trường hợp Mặt khác trong nhiều trường hợp, xã chỉ gồmmột làng Khi đi tìm hiểu về một làng cổ truyền với những giá trị văn hoátruyền thống mang tính đặc thù của làng thì đòi hỏi người nghiên cứu phải tìm
về nguồn gốc xa xưa của nó Ngay từ buổi đầu lập làng, cư dân đã bắt đầu gâydựng đời sống vật chất ổn định, để từ đó tạo nên một cộng đồng làng xã có đờisống văn hoá tinh thần phong phú, cùng với kết cấu xã hội hoàn chỉnh
Quỳ Chữ là một làng quê có thời gian hình thành sớm, được xác định làvào khoảng thế kỷ II TCN, đây là nơi người Việt cổ đến định cư đầu tiên trênđất Hoằng Hoá và phát triển thành vùng đồng bằng Hoằng Hoá rộng lớn nhưngày nay
Theo kết quả thu được từ khảo cổ thì cư dân Quỳ Chữ ngoài làm nông, đãbiết chế tác kim loại Người Quỳ Chữ đúc đồng tại chỗ, đồng của Quỳ Chữ là
Trang 21hợp kim loại đồng thau và thiếc Những sản phẩm đồng của Quỳ Chữ phongphú về số lượng, đa dạng về loại hình Các nhà khoa học còn cho rằng cư dânViệt cổ đến định cư ở Quỳ Chữ sớm vì: Hoằng Hoá rất gần với di chỉ GòTrũng thuộc xã Phú Lộc (Hậu Lộc) bên kia Lạch Trường, thuộc nền văn minh
Đa Bút, cách ngày khoảng 7000 năm Điều đặc biệt là ở Gò Trũng, cư dân đãbiết dùng đá phiến để chế tác chì lưới và đây là nơi có số chì lưới lớn nhấttrong cả nước mà hiện nay chúng ta biết được
Hoằng Hoá còn gần với văn hoá Hoa Lộc, di tích của bộ lạc sinh tụ miềnven biển, một bộ lạc làm nông nghiệp, khai thác thuỷ sản và săn bắn thú rừng Hai di chỉ trên cách Hoằng Hoá không xa, khoảng 2-3 km theo đườngchim bay Phải chăng tại Hoằng Hoá cũng có cư dân Đa Bút, cư dân Hoa Lộc? Xét về tên gọi của làng: Quỳ Chữ là làng quê có thời gian hình thành sớm(thế kỷ II TCN), chắc hẳn trong quá trình hình thành và phát triển làng cónhững tên gọi khác nhau mà hiện nay chưa khảo cứu được Chỉ biết rằng căn
cứ vào nguồn tư liệu hiện nay thì vào khoảng thế kỷ X làng có tên là “Tổ CáPhường” “Vào thế kỷ X, vùng ô trũng sông Dọc, vùng khúc ven sông phíaĐông - Nam làng đổ ra sông Phú Địch được lấp đầy, dần dần tạo thành các ôtrũng Nghề trồng lúa nước thịnh đạt, nghề chài lưới thịnh hành, nghề nuôi cágiống ra đời Một số người vùng Nam Hà (ngày nay) biết nghề nuôi cá giốngđến đây sinh cơ lập nghiệp, truyền dạy nghề cho dân chính cư Cư dân ở đây
đã tiến dần về phía Đông Nam, vùng ô trũng 99 cái ao làm nghề nuôi cá, chàilưới và trồng lúa nước, tên “Tổ Cá Phương” tức phường cá ra đời [25, 5] Qua thời gian, dân cư tăng lên, ngoài nghề nuôi và bán cá giống họ cònkhai khẩn đất hoang trồng lúa và nhiều hoa màu khác Vì thế cũng dần bỏ hai
từ “Cá Phường” chỉ để lại Tổ Tổ là tên nôm, đứng trước Tổ là Kẻ gọi là “ KẻTổ” Quỳ Chữ có câu phương ngôn “ăn chịu được với Kẻ Tổ thì nổ xương
Trang 22đòn” (phương ngôn Quỳ Chữ) tuy có tên mới là “Kẻ Tổ” nhưng nhân dân vẫnquen gọi tên cũ là “Tổ Cá Phường”
Là vùng đất tồn tại liên tục từ khi khởi thuỷ, qua tham khảo, tra cứu cácloại sách “Dư Địa Chí” xưa và nay chúng ta biết: làng Quỳ Chữ thời VănLang - Âu Lạc thuộc đất của bộ Cửu Chân, thời Hán thuộc huyện Từ Phố, thờiNam Bắc Triều thuộc Kiên Sơ rồi Cao An, thời Tuỳ thuộc huyện Long An,thời Đường thuộc huyện Sùng An, Sùng Bình, thời Ngô – Đinh - Tiền Lê (thế
kỷ X) thuộc giáp Cổ Đằng, thời Trần thuộc huyện Cổ Đằng, từ năm 1397thuộc huyện Cổ Linh, thời thuộc Minh lại thuộc huyện Cổ Đằng, đến nămQuang Thuận thứ 10 (1469) huyện Cổ Đằng được đổi thành huyện Hoằng Hoáthuộc phủ Hà Trung
Như chúng ta đã trình bày ở phần trước, theo truyền thuyết làng “Tổ CáPhường” đổi tên thành làng “Quỳ Chữ” năm 1428, gắn liền với người anhhùng Lê Lợi
Theo “Lịch triều hiến chương loại chí”, quyển III, Nxb sử học Hà Nội
1961, Quỳ Chữ xuất hiện với tên gọi hành chính cấp xã từ năm Hoàng Địnhthứ 8 (1607) Như vậy làng Quỳ Chữ xuất hiện địa danh từ 1428, sau đó pháttriển lên thành xã Quỳ Chữ
Xã Quỳ Chữ lúc này gồm 3 thôn: thôn Đông, thôn Trung, thôn Thịnh
Mỹ, thuộc Tổng Lố Đô huyện Hoằng Hoá [47, 27] Từ năm Minh Mệnh 19(1838) Huyện Mỹ Hoá thành lập (do tách tổng Đại Lý của huyện Hậu Lôc haitổng Lổ Hương và Hương Sơn của huyện Hoằng Hoá)
Từ 1838-1889 thì làng Quỳ Chữ thuộc tổng Dương Thuỷ, huyện Mỹ Hoá Huyện Mỹ Hoá gồm 4 tổng: tổng Lổ Dương, tổng Dương Thuỷ, tổngDương Sơn và tổng Đại Lý Xã Quỳ Chữ nằm trong tổng Dương Thuỷ (tổngDương Thuỷ gồm 23 xã thôn )
Trang 23Năm 1889 bỏ huyện Mỹ Hoá, tổng Đại Lý được trả lại cho Hậu Lộc thìđịa giới Hoằng Hoá ổn định cho tới ngày nay
Từ 1889 đến 8/1945 làng (xã) Quỳ Chữ thuộc tổng Dương Thuỷ, huyệnHoằng Hoá Xã Quỳ Chữ có 4 thôn: thôn Thịnh Mỹ, thôn Đông, thôn Trung
Những dấu tích lịch sử đó, mặc dù không còn lưu lại qua sách vở tài liệu
cụ thể nhưng nó còn lưu giữ rõ nét qua các câu truyện, sự tích dân gian Tiêubiểu là truyện “Đôi Đũa Ngà” thể hiện sự ngưỡng mộ của nhân dân Quỳ Chữvới người nữ anh hùng Triệu Trinh Nương:
“Lần ấy, trên đường hành quân từ Núi Nưa ra Bồ Điền đánh Lục Dân, BàTriệu dừng chân ở Quỳ Chữ cho quân sỹ ăn cơm Khi quân ăn xong trời đã tốimịt Theo lệnh Bà, quân sỹ lặng lẽ hành quân vào Bồ Điền Vì sơ xuất nênngười hầu bỏ quên đôi đũa ngà của Bà ở Quỳ Chữ Họ liền vội vàng quay trởlại Mới đi được nửa đường họ gặp toán người Quỳ Chữ đem đôi đũa ngà ra
Bồ Điền dâng Bà Toán quân sỹ và toán người Quỳ Chữ, đều quý mến cảm
Trang 24kích trước sự tôn kính ngưỡng mộ người nữ tướng họ Triệu Toán quân sỹ lạitoàn là người Bồ Điền, nên họ giao hiếu kết chạ với nhau ” [38, 14 ].
Trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, qua mười năm nếm mật nằm gai chođến ngày toàn thắng, Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn được nhân dân hết lòngủng hộ, không ít những chiến sỹ vô danh của Hoằng Hoá nói chung, Quỳ Chữnói riêng đã có mặt trong đoàn quân cứu nước ấy Nhiều giai thoại, truyện kể,truyền thuyết trong làng đã phản ánh sinh động lòng người Quỳ Chữ đối vớinghĩa quân Lam Sơn như câu truyện “Bà Lão Quỳ Chữ”
Trong những năm Lê - Mạc phân tranh, Hoằng Hoá có nhiều người phò
Lê diệt Mạc Họ là con cháu của các cựu thần nhà Lê, quyền lợi kinh tế, chínhtrị gắn với nhà Lê Vì thế họ ra sức tôn phò nhà Lê dù phải chịu bao hy sinhmất mát Hoằng Hoá là đất tiền đồn, phải chịu đương đầu trong những trậnđầu tiên khi lực lương đối phương còn mạnh Trong hoàn cảnh lịch sử nhưvậy, đã tôi luyện nên nhiều danh tướng, sau này được tôn là những vị khaiquốc công thần nhà Lê Trung Hưng Tên tuổi các danh tướng còn lưu trongbia ký, gia phả các dòng họ, đền thờ sắc phong, tiêu biểu là cụ Nguyễn ĐìnhHội ở Quỳ Chữ (Hoằng Quỳ) Cụ Nguyễn Đình Hội, tên chữ là Pháp Chính,hiệu là Vào, là cháu nội của cụ Nguyễn Đình Khuynh Ngài có công lớn trongcuộc chiến tranh đánh bại nhà Mạc lập nên triều Lê Trung Hưng “Bậc tôn thầncao quý thượng thượng đẳng, trung trật khắc tĩnh …phong thêm danh hiệu
đẹp “Lãng Thắng Sơn”(ghi trên bài vị), và được sắc phong “Đặc tiến kim tử
vinh lộc đại phu thượng tướng quân cẩm y vệ đô chỉ huy sứ phù nghĩa hầu”[14, 9]
Đến cuối thế kỷ XIX, khi nước ta bị thực dân Pháp xâm lược, triều đìnhnhà Nguyễn bất lực Trước tình hình đó các sỹ phu phong kiến yêu nước đãcùng nhân dân cả nước đứng lên chống lại sự xâm lược của thực dân Pháp,tiêu biểu nhất là phong trào CầnVương Thanh Hoá là một trong những địa
Trang 25băn phât triển mạnh của phong trăo Cùng với nhđn dđn Thanh Hoâ thì nhđndđn Quỳ Chữ góp một phần sức người, sức của cho phong trăo Cần Vươngchống Phâp Trong số rất nhiều tấm gương vì dđn vì nước, có bă Lí Thị Nhu
đê mua súng, đạn cung cấp lương thực, nuôi nghĩa quđn “Tại lăng Quỳ Chữ có
bă Lí Thị Nhu tức bă Bâ Hộ giău nhất lăng, có lòng thương người nín đượcdđn lăng rất quý trọng Do đó bă đê chiíu mộ được 50 người khoẻ mạnh đểluyện tập vă cung cấp cho nghĩa quđn Cần Vương” [53, 7]
Từ khi có Đảng lênh đạo, truyền thống yíu nước vă ý chí đấu tranh câchmạng của dđn tộc được nhđn lín gấp bội - sức mạnh đó đê liín tiếp đânh bạimọi kẻ thù xđm lược để giữ vững độc lập của dđn tộc Trong đó có sự đónggóp của nhđn dđn lăng Quỳ Chữ Điều đó được ghi nhận qua câc thời kỳ lịch
sử Ví như năm 1939, hai thanh niín của lăng lă Lí Văn Hoât vă Lí Duy Cẩn
đê thănh lập hội “Tương Tế Âi Hữu”- hình thức tập hợp quần chúng tiến bộcủa ĐCSĐD bấy giờ
Đến khi cao trăo chuẩn bị lực lượng cho tổng khởi nghĩa dồn dập bay vềcâc thôn xóm, đặc biệt lă không khí cuộc khởi nghĩa ngăy 24-7-1945 của nhđndđn Hoằng Hoâ, đê trực tiếp tâc động đến nhđn dđn lăng Quỳ Chữ Nhđn dđnlăng Quỳ Chữ trông chờ một tổ chức có đầy đủ quyền lực vă uy tín, đứng ratập hợp mọi lực lượng yíu nước để vùng dậy đập tan bộ mây cai trị của bọnphong kiến vă thực dđn ở địa phương Đâp ứng yíu cầu chính đâng của nhđndđn Quỳ Chữ, được sự chỉ đạo trực tiếp của tổng uỷ Việt Minh, đứng đầu lẵng Lí Khắc Song đầu thâng 8-1945, ban cân sự Việt Minh ở lăng đê đượcthănh lập để chỉ đạo vă điều hănh công việc chung của cả lăng Ban cân sự năy
do ông Lí Duy Cẩn lăm chủ nhiệm
Chỉ thời gian ngắn, ở Quỳ Chữ đê khẩn trương tổ chức 3 cuộc biểu tìnhlớn để biểu dương lực lượng đó lă:
* Chống quđn khủng bố vă bảo vệ Việt Minh
Trang 26* Mừng thắng lợi của cuộc khởi nghĩa giành chính quyền24/7/1945.
* Mừng chính quyền cách mạng tỉnh ra mắt nhân dân toàn tỉnh Chính sự đóng góp xứng đáng của nhân dân Quỳ Chữ trên mọi lĩnh vực,
đã góp một phần nhỏ bé vào công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, cán bộ và nhân dân QuỳChữ luôn phát huy truyền thống yêu nước, sẵn sàng hy sinh cả nhân lực, vậtlực cho tiền tuyến, cho cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc Không chỉanh dũng giết giặc lập công trên chiến trường mà ở quê nhà, chính quyền vànhân dân Quỳ Chữ luôn cố gắng tăng gia sản xuất, xây dựng một hậu phươngvững chắc Một mặt để cho các chiến sỹ ngoài mặt trận yên tâm chiến đấu,mặt khác đảm bảo số lương thực cung cấp cho kháng chiến Trong cuộc đấutranh chống thực dân Pháp lớp lớp thanh niên Quỳ Chữ nô nức lên đườngtòng quân tham gia kháng chiến
Sau 9 năm kháng chiến, 78 thanh niên Quỳ Chữ đã gia nhập lực lượng vũtrang, trong đó 17 người đã hy sinh và 6 người là thương binh, hơn 800 lượtngười gánh bộ, xe đạp thồ đã ngày đêm trèo đèo lội suối gánh từng cân gạo,viên đạn góp phần làm nên những thắng lợi của các chiến dịch Trong lúcđang làm nhiệm vụ có 3 người hy sinh đó là ông: Vũ Duy Thợi, Lê Đắc Vát,
Lê Hữu Thịnh Với các chiến công của mình, anh Lê Văn Năm, Lưu Văn Núi
- dân công Quỳ Chữ đã vinh dự được Chính phủ tặng huân chương khángchiến hạng nhất
Tiếp tục phát huy truyền thống 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp,cán bộ nhân dân Quỳ Chữ lại tiếp nối một cuộc hành trình mới cùng với dântộc đầy gian nan, nhưng cũng làm rạng rỡ thêm truyền thống tốt đẹp cho quêhương trong 21 năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Trang 27Năm 1975 đất nước thống nhất, giang sơn thu về một mối, Bắc Nam sumhọp một nhà Cán bộ nhân dân Quỳ Chữ cùng với nhân dân cả nước bước vàothời kỳ mới - phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằngdân chủ, văn minh Kể từ ngày đó đến nay đã trải qua hơn 30 năm, không phảikhoảng thời gian quá ngắn nhưng cũng không phải là dài so với tiến trình lịch
sử của đất nước, nhân dân Quỳ Chữ lại cùng nhau tiếp bước một cuộc hànhtrình mới đầy khó khăn thử thách Song người dân Quỳ Chữ vẫn một lòng đitheo Đảng, theo Bác Hồ, quyết tâm thực hiện mục tiêu đã lựa chọn
1.2.2 Dân cư
Theo nguồn tài liệu khảo cổ học, cư dân làng Quỳ Chữ là cư dân đầu tiênđến sinh sống trên đất Hoằng Hoá, từ khoảng thiên niên kỷ thứ II TCN Khôngnhững thế, kết quả thu được từ các di chỉ khảo cổ đã nói lên rằng, cư dân Việt
cổ liên tục sinh sống và phát triển qua các giai đoạn lịch sử từ hậu kỳ thời đạiĐồng thau, qua thời kỳ đồ Sắt, đến Bắc thuộc, phong kiến và đến tận ngàynay Điều đó được biểu hiện trong tầng văn hoá dày xếp lên nhau (1 đến1,6m)
Từ các tầng văn hoá này đã thể hiện sự phát triển liên tục, không có sự giánđoạn như nhiều nơi khác
Các nhà khảo cổ học đã khai quật 3 di chỉ ở làng Quỳ Chữ gồm:
Khu mộ táng Bãi Chùa: Đây là khu mộ táng bằng đất của cư dânViệt cổ, có niên đại từ trước thiên niên kỷ thứ II TCN Tầng văn hóa dày
từ 1đến1,3m Tại đây đợt khai quật tháng 3-1978 đã phát hiện được 32ngôi mộ trong 140m2 hố khai quật Khu mộ này chủ yếu chôn người lớn,người đã trưởng thành
Từ những kết quả thu được đã khẳng định người Việt cổ đến định cư sinhsống ở đây thì mới có bãi chôn người chết, đồng thời nó cũng cho chúng tathấy, cư dân nơi đây đã phát triển đến một trình độ nhất định Vì lẽ đó họ mới
có ý thức chôn cất người chết ở một khu vực riêng
Trang 28Khu mộ táng Đồng Cáo ( Cồn Cáo): là khu mộ có quan tài bằng gốm, mộ
vó Đây là khu vực dành riêng để trôn cất trẻ em Như vậy cư dân Quỳ Chữ đã
có ý thức phân chia khu vực chôn người lớn và trẻ em Điều này chắc chắn cóliên quan đến một hình thức tôn giáo nào đó, mà hiện nay chúng ta chưa lýgiải được
Khu di chỉ cư trú Bãi Chùa: Với các hiện vật tìm thấy ở khu di chỉ nàycho thấy buổi ban đầu cư dân Việt cổ sinh sống ở đây, ngoài kinh tế nôngnghiệp, chăn nuôi, chế tác đồ gốm và đồ đồng, người Việt cổ đã biết thànhthạo nghề đan lát và dệt vải, với kỹ thuật đan lóng một, lóng đôi rất đẹp: “Trênmột mảnh đồ đồng có kích thước 8,5cm x 8cm, phía trong còn dính xương mặtngoài bám chặt một lớp vải thô, sợi rất săn và to bằng sợi chỉ” [10, 178] Người Việt cổ ở Quỳ Chữ có sự mở rộng quan hệ giao lưu kinh tế vớicác nơi khác Bằng chứng là các nhà khoa học đã tìm thấy một tỷ lệ đồ gốmmang đặc trưng Quỳ Chữ khá cao có mặt ở chợ Ghềnh (Ninh Bình), NamChính (Ưng Hoà - Hà Tây) Đồ đồng Quỳ Chữ với những di vật độc đáo nhưrìu xoè cân được tìm thấy ở Rú Trăn (Nghệ An) Ngược lại, với những hiệnvật đặc trưng của văn hoá Gò Mun (Vĩnh Phúc) cũng gặp khá nhiều ở QuỳChữ như mũi tên đồng hình cánh én …
Từ những căn cứ trên cho thấy: cư dân Quỳ Chữ chủ yếu là dân bản địa
đã tụ cư rất lâu trên mảnh đất này Về sau có cả cư dân từ nơi khác đến sinhsống nhưng cũng chỉ ở tại những nơi còn thưa thớt dân cư mà thôi Điều đócho thấy tình hình dân cư làng Quỳ Chữ trong quá trình tồn tại và phát triểntương đối ổn định, ít có sự biến đổi, ít có sự hỗn cư pha trộn từ vùng khác đến
mà chủ yếu là dân thổ cư
Nơi cư trú đầu tiên của người Việt cổ trên đất Quỳ Chữ là Đồng Cáo.Đồng Cáo là gò đất cao nổi lên giữa cánh đồng chiêm trũng rộng lớn
Trang 29Lần theo đồng ruộng quê mình Lên thăm Đồng Cáo nơi sinh thôn mình
Một vùng cây cối xanh xanh Tầng xây bao mộ xung quanh um tùm
( Nguồn: thơ- vè làng Quỳ Chữ) Đồng Cáo là nơi cư trú của người sống, đồng thời là nơi chôn cất ngườichết Cùng với sự phát triển của thời gian, dân số ngày càng tăng, nhu cầu vềnơi ở và ruộng đất canh tác cũng tăng theo, Đồng Cáo không còn đáp ứngđược nữa Mặt khác theo như quy luật sinh tồn tự nhiên, dân cư đã chuyển vềquần cư tại phía Nam Đồng Cáo và cư trú hẳn ở đó tới nay - tức địa phận làngQuỳ Chữ hiện nay
Trong suốt thời kỳ Bắc thuộc, phong kiến, sự tăng hay giảm dân số ởlàng không được sử sách ghi chép lại, hoặc có ghi lại nhưng đã bị thất truyền
do nhiều nguyên nhân Thời nhà Nguyễn, nhà nước cho lập đinh bạ, địa bạvào năm 1830, đến năm 1862 cho điều tra lại trên phạm vi cả nước
Làng Quỳ Chữ hiện nay có 54 dòng họ cùng sinh sống Theo gia phả củacác dòng họ thì họ Nguyễn Đình có thời gian sinh sống tại làng lâu nhất (22đời) Tuy nhiên đây không phải là dòng họ đầu tiên đến định cư, sinh sống tạivùng đất này Vì khi họ Nguyễn Đình đến định cư làng đã rất phát triển Hiệnnay không có nguồn cứ liệu nào khẳng định dòng họ nào đến khai phá vùngnày đầu tiên Ở Quỳ Chữ có sự góp mặt của các dòng họ lớn như: NguyễnĐình (22 đời), Lê Đình (15 đời), Lê Văn (18 đời) …
Bảng 1: Tình hình dân cư làng Quỳ Chữ từ 1945 đến 2003
TT Năm Dòng họ Số hộ Số khẩu Nam Nữ Số người Mật độ
Trang 30ở hầu khắp mọi miền trên cả nước, là tình trạng chung của dân số Việt Nam.
Do cuộc chiến tranh tàn khốc mà đế quốc Mỹ gây ra (Quỳ Chữ 54 người đã hysinh), cuộc chiến biên giới Việt - Trung (Quỳ Chữ 8 người hy sinh), thanhniên còn lại của làng rất ít, số lượng kết hôn không nhiều, vì thế số trẻ em sinh
ra ít Mặt khác chiến tranh kéo dài, chất lượng cuộc sống kém, cơ sở y tếnghèo nàn lạc hậu cũng là nhân tố dẫn tới tình trạng dân số trên, dân số năm
1980 bằng dân số 1945 Từ 1980 đến 2003 sau 13 năm dân số của làng tănglên 976 người, một sự chuyển biến rõ nét Nguyên nhân là do chiến tranh đãkết thúc, cùng với đó là sự phát triển của y tế, đời sống nhân dân được nângcao
Theo số liệu của đợt tổng điều tra dân số 1-4-2009, dân số làng Quỳ Chữ là:2906 người với 631 hộ gia đình, phân chia ở 3 thôn
Bảng 2 : Phân bố dân cư làng Quỳ Chữ năm 2009
Trang 313 Thôn Tây 171 841
( Nguồn: Địa chính xã Hoằng Quỳ) Dân số phân bố ở các thôn không đều nhau vì tuỳ vào vị trí của thôn ThônĐông có đông dân nhất vì thôn Đông được xem là anh cả của làng, nằm ởtrung tâm làng nên mật độ dân cư đông
Cư dân Quỳ Chữ sống theo từng cụm, phân bố chặt chẽ trong từng dòng
họ Ngoài các dòng họ lớn trong làng như: Lê Đình, Nguyễn Đình, Lê Văn, LêSỹ…còn có các dòng họ từ nơi khác đến sinh sống xen kẽ, quần tụ theo từngcụm, từng nhóm, nhưng hoàn toàn không tách biệt mà liên kết chặt chẽ vớinhau theo “Tình làng nghĩa xóm”, “Bán anh em xa mua láng giềng gần”, “Tốilửa tắt đèn có nhau”, tạo nên một cộng đồng dân cư phát triển kinh tế, đậm đàbản sắc dân tộc
* Tiểu kết chương 1
Nằm trong khu vực đồng bằng Xứ Thanh, ngay từ buổi đầu, làng QuỳChữ đã có điều kiện tư nhiên tương đối thuận lợi để cư dân ổn định cuộc sống,với nghề chính là nông nghiệp
Với vị trí gần đường quốc lộ 1A, có tuyến đường sắt Thống Nhất Nam chạy qua, gần trung tâm thành phố Thanh Hoá Quỳ Chữ có điều kiệnthuận lợi để giao lưu, tiếp nhận nền văn hoá trong tỉnh và các tỉnh ngoài, từ đóchọn lọc và kết tinh những nét đặc sắc cho mình
Địa hình, đất đai là cơ sở quan trọng để con người đến định cư lâu dài,liên tục Làng Quỳ Chữ nằm trên nền địa hình ổn định, là một trong nhữngđiều kiện để cư dân Việt cổ đến đây sinh sống
Khí hậu Quỳ Chữ tương đối thuận lợi cho phát triển kinh tế nông nghiệp.Tuy nhiên khu vực này cũng thường có sương muối và úng lũ, cần các cấpchính quyền quan tâm cùng với nhân dân tích cực phòng chống khi có lũ lụt,sương muối, chăm lo đến công tác thuỷ lợi
Trang 32Căn cứ vào nguồn thư tịch cổ, văn bia, đặc biệt là ngành khảo cổ hoc, cóthể khẳng định làng Quỳ Chữ được hình thành sớm: thế kỷ II TCN Từ khiđến vùng đất này định cư sinh sống, cư dân nơi đây đã tích cực cải tạo tựnhiên để có được vùng đồng bằng rộng lớn như ngày nay.
Trang 33
CHƯƠNG 2 TÌNH HÌNH KINH TẾ VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC
CỦA LÀNG QUỲ CHỮ
2.1 Tình hình kinh tế làng Quỳ Chữ
2.1.1 Kinh tế nông nghiệp
2.1.1.1 Tình hình ruộng đất ở Quỳ Chữ trước 1945
Việt Nam là nước nông nghiệp, ruộng đất là ước mơ ngàn đời của ngườinông dân, ruộng đất có vai trò quan trọng hơn bất cứ loại tư liệu sản xuất nàokhác.Vì lẽ đó, dưới chế độ phong kiến vấn đề ruộng đất được xem như nhân tốquan trọng, ảnh hưởng đến sự hưng thịnh hay suy vong của một vương triều
Vì thế ở mỗi triều đại, khi vị vua mới lên ngôi thường quan tâm đến vấn đềruộng đất cho nông dân, có nghĩa là đảm bảo sự bền vững của vương triều
Về lịch sử chế độ ruộng đất Việt Nam, ngay ở thời kỳ đầu hầu như toàn
bộ ruộng đất khai phá được đều nằm trong phạm vi quản lý của công xã Công
xã có trách nhiệm phân chia bình đẳng số ruộng đất này cho các thành viên làcác gia đình Ngoài số ruộng đã phân chia thì công xã vẫn giữ lại một bộ phận
để sản xuất chung, phục vụ cho các chi phí công cộng như: làm thuỷ lợi, đàokênh mương và lao động công ích khác
Trải qua các thời kỳ tiếp theo, tình hình ruộng đất có sự phân hóa rõ rệt.Ngoài bộ phận ruộng đất thuộc quyền sở hữu của nhà nước, ruộng đất cônglàng xã, thì ruộng đất tư đã hình thành và ngày càng đóng vai trò quan trọngđối với nền kinh tế nông nghiệp
Từ quá trình phân hóa ruộng đất công thành ruộng đất tư, qua các thời kỳlịch sử cho thấy “Ruộng đất tư đã xuất hiện ở nước ta từ rất lâu đời, tuy luôn
có xu hướng phát triển nhưng đã phải đấu tranh liên tục và gay gắt với ruộngcông để cho đến giữa thế kỷ XIX mới vượt lên được nó” [7, 38] Do vậy có
Trang 34thể nói ruộng đất tư ở nước ta phát triển trong một thế phức tạp và tính chất tưhữu bị hạn chế đi rất nhiều.
Trong xu thế phát triển chung của chế độ ruộng đất Việt Nam, Tình hìnhruộng đất của làng Quỳ Chữ trước 1945 về cơ bản giống với tình hình chungcủa cả nước Đó là diện tích ruộng đất tư ngày càng mở rộng, diên tích ruộngđất công ngày càng bị thu hẹp lại
Bảng 3: Tình hình phân bố qũy đất làng Quỳ Chữ trước 1945
Theo như khoán ước của làng thì cả làng có “40 mẫu đất công điền ởĐồng Quan, trừ số ruộng cấp cho binh lính, còn lại chia cho nam giới từ 18đến 55 tuổi, một người được 5 troi để canh tác Ai bỏ hoang hay cho ngườikhác làm, ban hương chính thu lại, cấp cho người khác không được tranhchấp, sinh sự Còn số ruộng công của phe giáp, xóm, ngõ, cho tá điền canhtác, lấy hoa lợi để tế thánh, không được phát mãi” [25, 38]
Thế nhưng, đến trước cách mạng tháng 8/1945 diện tích nàychỉ còn 20mẫu, điều này chứng tỏ ruộng công đã bị chiếm, biến thành ruộng tư Thựctrạng trên được ca dao Quỳ Chữ ghi lại:
Trang 35“Không buồn rửa bút mài nghiên
Chỉ màng mảnh đất hàng chiền nhà ai”
(Nguồn: ca dao Quỳ Chữ )
Đất “hàng chiền” là đất chùa, đất của công Vậy mà đã về “nhà ai” chắchẳn người chiếm mảnh đất này không thể là nông dân Đất chùa còn bị chiếmthì làm sao các đất công khác còn nguyên vẹn?
Trước thực trạng ruộng đất công ngày càng bị chiếm hữu, thu hẹp,vì thế ởQuỳ Chữ người thì có nhiều ruộng đất “Thẳng cánh cò bay”, kẻ thì không mộttấc đất cắm dùi
Theo nguồn địa chính xã thì trước năm 1945 tổng dân số của cả làng là:
1760 người Trong đó số người có ruộng để canh tác là 973 người, chiếm55,3% dân số cả làng Số còn lại là 787 người, chiếm 44,7% không có ruộng,phải đi cày thuê cuốc mướn sống qua ngày [44, 5]
Ca dao Quỳ Chữ phản ánh điều này qua lời than thở của cô gái:
“Hạt mưa rơi chẳng gặp may
Đồng quê bát ngát mẹ thầy tráng đinh
Nghĩ càng thêm tủi phận mình
Lúa vàng, bông trắng, đồng xanh nhà người”
(Nguồn: ca dao Quỳ chữ) Ruộng đất là tư liệu quý của người nông dân Tình trạng chiếm hữuruộng đất công biến thành ruộng đất tư, đã dẫn tới sự phân hoá thành hai tuyến
rõ rệt: kẻ giàu, người nghèo, kẻ bóc lột và người bị bóc lột Mâu thuẫn giai cấpngày càng sâu sắc Đây là một trong những nguyên nhân trực tiếp và chủ yếudẫn tới cuộc đấu tranh quyết liệt của nhân dân làng Quỳ Chữ chống lại mọi ápbức, bất công của chế độ phong kiến
Trang 36Cách mạng tháng Tám (1945) diễn ra và giành thắng lợi Lịch sử ViệtNam bước sang một kỷ nguyên mới Người dân Việt Nam nói chung, ngườidân Quỳ Chữ nói riêng bước lên vị thế mới, vị thế công dân.
2.1.1.2 Tổ chức hợp tác xã nông nghiệp ở Quỳ Chữ
Thất bại tại chiến trường Điện Biên Phủ, Thực dân Pháp không còn lựachọn nào khác, phải chấp nhận ký vào hiệp định Giơnevơ 20-7-1954 Hoàbình lập lại, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, miền Nam tiếp tục chiếnđấu chống lại các thế lực thù địch đợi ngày tổng tuyển cử Cùng với đồng bào
và chiến sỹ cả nước, nhân dân Quỳ Chữ hân hoan chào mừng cuộc khángchiến chống thực dân Pháp thắng lợi và hăng hái tiến quân thực hiện nhiệm vụnặng nề của thời kỳ mới với khí thế chiến thắng
Cùng với việc thực hiện nhiệm vụ khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thươngchiến tranh, từ 1954 trở đi Quỳ Chữ triển khai thực hiện hai cuộc vận động lớn
có ý nghĩa chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội sâu sắc Đó là thực hiện phátđộng giảm tô và cải cách ruộng đất nhằm hoàn thành một trong hai nhiệm vụ
cơ bản của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện ngươi cày córuộng Kết quả đã trưng mua được 80 mẫu ruộng đất, 16 con trâu, 46 gian nhàđem chia cho dân cày nghèo
Thực hiện khẩu hiệu “Người cày có ruộng”, làng Quỳ Chữ có 317,5mẫuđất được chia làm 7 hạng, tính bình quân đầu người 1,72 sào
Cuộc cải cách ruộng đất thắng lợi đã thực hiện khẩu hiệu “Người cày córuộng” và xoá bỏ triệt để quan hệ sản xuất phong kiến Song cuộc cải cách lạiphạm một số sai lầm nghiêm trọng như: xâm phạm lợi ích của trung nông,không liên hiệp phú nông, không phân biệt đối xử với các loại địa chủ, khôngchiếu cố địa chủ kháng chiến, cường điệu việc trấn áp phản cách mạng, khôngdựa vào tổ chức cũ, mắc chủ nghĩa thành phần và khuynh hướng trừng phạt,nặng đấu tố, nhẹ giáo dục, không kết hợp biện pháp hành chính với phát động
Trang 37quần chúng Trước tình hình đó cuối năm 1956, xã Hoằng Quỳ đã tiến hànhsửa chữa khắc phục những hậu quả mà cải cách ruộng đất để lại.
Nhằm khắc phục hậu quả chiến tranh, tập trung phát triển kinh tế đưa nềnnông nghiệp từng bước phát triển, chủ trương của huyện lúc bấy giờ là khaihoang phục hoá, mở rộng diện tích, cải tạo đồng ruộng nhằm phục hồi và pháttriển nền kinh tế theo kế hoạch 3 năm Muốn vậy phải tổ chức, củng cố các tổđổi công vững mạnh, đi vào hoạt động đem lại hiệu quả về kinh tế, tạo đà choviệc xây dựng hợp tác hóa sau này
Thực hiện chủ trương của huyện, dưới sự chỉ đạo của chính quyền xã, cán
bộ và nhân dân Quỳ Chữ đã tích cực hưởng ứng bằng các biện pháp:
* Tăng cường làm phân xanh, phân chuồng, bùn ao để chăm bón cho lúa
và hoa màu
* Thay dần cày chìa vôi bằng cày cải tiến
* Phát triển chăn nuôi lợn, nhằm mục đích tăng nguồn phân cho nôngnghiệp Có quy hoạch phá hoang một số cồn, đống để mở rộng thêm diện tíchcây trồng, tiến hành làm thuỷ lợi, từng bước đưa cơ cấu một vụ thành hai vụ Sau một thời gian tích cực lao động, nhân dân Quỳ Chữ đã khai hoangđược 5 mẫu đất, đưa 15 mẫu ruộng từ gieo cấy một vụ lên hai vụ Thúc đẩyngành nông nghiệp phát triển
Cuộc cải cách ruộng đất, đã thực hiện được khẩu hiệu “Người cày córuộng” Tuy vậy vẫn chưa giải quyết được sự phân hoá giàu nghèo trong nội
bộ nông dân Để mở đường cho sản xuất phát triển, con đường tất yếu là phảixây dựng quan hệ sản xuất mới, đưa nông dân vào con đường làm ăn tập thể
Vì thế từ đầu năm 1958, cùng với cả huyện, làng Quỳ Chữ bước vào phongtrào hợp tác hoá nông nghiệp với khí thế sôi nổi, trở thành phong trào rộng lớnthu hút đông đảo nông dân tham gia
Trang 38Hợp tác xã nông nghiệp đầu tiên ở Quỳ Chữ thành lập tháng 3-1958, có 27
hộ tham gia gồm 181 khẩu với diện tích 30 mẫu, 77 sào, 8 con trâu, bò Hợptác xã do ông Lê Xuân Phơn làm chủ nhiệm gọi là hợp tác xã Quỳ Phúc
Nhờ làm tốt công tác tư tưởng, tuyên truyền, vận động sát sao nên tạothành phong trào phát triển mạnh Với khí thế sôi nổi xin gia nhập vào hợp tác
xã, đầu năm 1959, Quỳ Chữ có 6 hợp tác xã nông nghiệp của 6 xóm, thu hút85% số hộ trở thành xã viên cùng toàn bộ ruộng đất, sức kéo,công cụ lao động
Số nhân khẩu
Nhân khẩu sản xuất nông nghiệp
Diện tích (m-s-t)
Sản lượng lúa (kg)/vụ
Trâu bò (con)
Nộp thuế (kg)
Tiếp đó, để thực hiện kế hoạch của huyện tháng 1-1961, làng Quỳ Chữ
đã hoàn thành chủ trương, chuyển hợp tác xã nông nghiệp bậc thấp quy môxóm, lên hợp tác xã bậc cao quy mô liên xóm Từ 6 hợp tác xã bậc thấp quy
mô xóm, hợp thành 3 hợp tác xã bậc cao quy mô liên xóm: HTX Tây Phúc,HTX Trung Tiến, HTX Đông Nam Với số lao động, ruộng đất và tài sản cănbản như năm 1960, chỉ có chút thay đổi không đáng kể
Trang 39Trong thời kỳ đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc, với vịtrí nằm bên cạnh cầu Hàm Rồng - vị trí đánh bom chiến lược của đế quốc Mỹ,nhằm cắt đứt con đường chi viện miền Bắc vào miền Nam, nhân dân ThanhHoá nói chung, nhân dân làng Quỳ Chữ nói riêng đã gồng mình lên để vừachiến đấu vừa sản xuất, phản kích quân thù.
Đứng trước tình hình ngày càng phức tạp, chủ trương của huyện lúc bấygiờ là chuyển hướng hoạt động từ thời bình sang thời chiến, nhiệm vụ to lớnlúc này là vừa sản xuất vừa xây dựng, vừa chiến đấu chống lại cuộc chiếntranh phá hoại của kẻ thù
Thực hiện chủ trương của huyện, dưới sự chỉ đạo khẩn trương của xã,cán bộ và nhân dân làng Quỳ Chữ đã nhận thức được rằng hai nhiệm vụ chiếnđấu và sản xuất phải kết hợp chặt chẽ với nhau, trong đó nhiệm vụ sản xuất làquan trọng nhất Để thuận lợi hơn cho công tác sản xuất nông nghiệp, tháng 10-1969, 3 hợp tác xã quy mô liên xóm được sát nhập lại với nhau thành mộthợp tác xã duy nhất - Hợp tác xã Quỳ Chữ
Với việc chăm lo đến sản xuất nông nghiệp, thực hiện thâm canh tăng vụphát triển chăn nuôi, đầu tư giống mới có năng xuất cao Nhờ vậy nên năngxuất lúa năm 1971-1972 đạt 5 tấn / ha, là một trong 7 hợp tác xã khá củahuyện
Thực hiện chủ trương đưa hợp tác xã nông nghiệp lên quy mô toàn xãcủa tỉnh, tháng 10 -1974, Quỳ Chữ thành lập HTX trên quy mô toàn xã gồm 5thôn: Quỳ Chữ, Đông Khê, Ích Hạ, Phúc Tiên và Trọng Hậu chia làm 15 độisản xuất (cũng là 15 xóm, tổng số hộ 1127 hộ, với 4974 người, người tham giatrực tiếp váo sản xuất nông nghiệp 4080 người) [44, 7]
Bảng 5: Tình hình sử dụng đất của hợp tác xã Toàn xã 1974
Trang 403 Đất ở 48,1,40
(Nguồn: hợp tác xã Quỳ Chữ) Bảng 6: Mức nộp thuế của hợp tác xã Toàn xã 1974
TT Các loại thuế Mức thuế quy ra lúa(kg)
1 Sản lượng chịu thuế của 7 hạng đất 1393485
2 Thuế phải nộp cả năm 192473
3 Trừ thuế bồ đội phục viên 2093
4 Thực thu cho nhà nước 190380
(Nguồn: hợp tác xã Quỳ Chữ) Ngày 30-4-1975, chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, miền Nam hoàntoàn giải phóng Cả nước bước vào thời kỳ mới, thời kỳ thống nhất đất nước đilên chủ nghĩa xã hội Hòa chung niềm hân hoan, phấn khởi của cả nước, cán
bộ và nhân dân Quỳ Chữ bước vào thời kỳ mới với nhiệm vụ trước mắt là:khẩn trương khắc phục hậu quả chiến tranh, phát triển kinh tế - văn hoá, nângcao cảnh giác cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Trong tình hình đất nước không còn chiến tranh, muốn phát triển kinh tếcần phải có sự đổi mới cho phù hợp với tình hình Vì lẽ đó, hình thức hợp tác
xã nông nghiệp cũng cần phải đổi mới, nhằm phát huy cao nhất năng xuất laođộng Chiến tranh kết thúc đã 5 năm song phương thức quản lý, kinh tế nóichung và quản lý hợp tác xã nói riêng ở nước ta vẫn còn duy trì cơ chế quanliêu bao cấp như những năm kháng chiến cứu nước Điều này dẫn tới sản xuấtkhông phát triển, xã hội nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp gây mất lòng tin chonhân dân, người lao động không được khuyến khích
Giữa lúc tình hình sản xuất và đời sống nhân dân đi vào bế tắc, tháng8/1979 Hội nghị Trung ương Đảng lần VI (khoá IV) đã ra quyết sách “Làmcho sản xuất bung ra” chấp nhận nền kinh tế nhiều thành phần và thực hiện kếthợp hài hòa 3 lợi ích trong xã hội: lợi ích nhà nước, tập thể và người lao động