1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lịch sử văn hoá dòng họ nguyễn tiên điền ở nghi xuân (hà tĩnh) cuối thế kỷ XVI đến nay

66 886 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lịch sử Văn Hoá Dòng Họ Nguyễn Tiên Điền Ở Nghi Xuân (Hà Tĩnh) Cuối Thế Kỷ XVI Đến Nay
Trường học Trường Đại Học Hà Tĩnh
Thể loại Luận văn
Thành phố Hà Tĩnh
Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vìvậy, khi làm khoá luận tốt nghiệp, nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đềnghiên cứu văn hoá dòng họ và việc gìn giữ, phát huy bản sắc văn hoá của quê hơng đất nớc, tôi đã chọn đề

Trang 1

Mục lục

a. Mở đầu……… 02

1 Lí do chọn đề tài……… … 02

2 Lịch sử vấn đề……….04

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu……… 06

4 Nhiệm vụ của khoá luận……… 06

5 Phơng pháp nghiên cứu……….07

6 Bố cục luận văn……… 07

B Nội dung……… 08

Chơng 1: Quá trình phát triển của dòng họ Nguyễn Tiên Điền trên đất Nghi Xuân từ cuối thế kỷ VI đến nay……… 08

1.1 Nghi Xuân - đất và ngời……… 08

1.2 Dòng họ Nguyễn Tiên Điền định c ở Nghi Xuân………14

1.3 Sự phát triển của dòng họ Nguyễn Tiên Điền trên đất Nghi Xuân………20

Chơng 2: Văn hoá truyền thống của dòng họ Nguyễn Tiên Điền ở Nghi Xuân 2.1 Truyền thống khoa bảng của dòng họ Nguyễn Tiên Điền………26

2.2 Dòng văn họ Nguyễn Tiên Điền………35

2.3 Đền thờ, bia ký, lăng mộ……… 40

2.4 Các nghề truyền thống của dòng họ Nguyễn Tiên Điền………52

Chơng 3: Đóng góp của dòng họ Nguyễn Tiên Điền trong lịch sử dân tộc.56 3.1 Nguyễn Nghiễm……….56

3.2 Nguyễn Trọng………60

3.3 Nguyễn Khản……….61

3.4 Nguyễn Điều……… 63

3.5 Nguyễn Nễ……….64

3.6 Nguyễn Du……….66

C Kết luận……… 69

a mở đầu

1 Lí do chọn đề tài “Cây cao nghìn tầm cũng do từ cội rễ, sông bắt nguồn từ núi rồi lại chảy

về biển lớn” (Đông hồ Lê Văn Diễn) Có xa thì mới có nay cũng nh con ngời

ai cũng có quê hơng, tộc họ Dẫu cho thế sự xoay vần, tên đất tên làng, kể cả con ngời có thay đổi thì những truyền thống văn hoá tốt đẹp mãi giữ giá trị lâu bền, soi sáng ngàn xa vơn tới ngàn sau

Trang 2

Văn hoá dòng họ là một dòng chảy quan trọng trong nguồn mạch văn hoáViệt Nam Dòng văn hóa này vừa mang những đặc điểm chung của văn hoádân tộc vừa có những nét riêng Nó kiến tạo nên bộ mặt tinh thần của mỗidòng họ ở một địa phơng nhất định, dựng xây nên những di sản văn hoá vôgiá, cống hiến cho đất nớc biết bao nhân tài với những đóng góp trên mọi lĩnhvực Vì vậy, việc nghiên cứu văn hoá dòng họ vừa có ý nghĩa hết sức to lớntrong việc gìn giữ, phát huy truyền thống văn hoá dòng họ, góp phần làmphong phú thêm lịch sử địa phơng, trở thành nguồn tài liệu quý để đi sâu tìmhiểu lịch sử văn hoá dân tộc; vừa giúp chúng ta hiểu rõ hơn về thân thế, sựnghiệp các nhân vật lịch sử.

Trong thời hiện đại, kinh tế càng phát triển thì văn hóa càng đợc coi trọng,việc tìm về cội nguồn trở thành nhu cầu ngày càng lớn Việc này có mặt tíchcực là nhiều dòng họ khôi phục lại đền miếu, lăng mộ, bi ký, gia phả và một

số ngành nghề, khơi dậy truyền thống ông cha đồng thời giáo dục cho concháu thế hệ sau ý thức tộc họ; song cũng không tránh khỏi hạn chế nh tranhgiành đất đai, mâu thuẫn gây mất đoàn kết Do đó, việc nghiên cứu về cácdòng họ một cách nghiêm túc, khoa học có ý nghĩa thiết thực nhằm phát huymặt tích cực, xoá bỏ mặt tiêu cực, góp phần củng cố khối đoàn kết dân tộc đểxây dựng “gia đình văn hoá”, “làng văn hoá” tiến tới thực hiện mục tiêu “Dângiàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”

Mặt khác, trong thời kỳ cơ chế thị trờng, vòng xoáy cuộc đời dễ cuốn conngời lao theo danh vọng, tiền bạc mà quên đi cội nguồn, đánh mất bản sắc vănhoá quê hơng Thử hỏi thế hệ trẻ hiện nay hiểu biết đợc bao nhiêu về lịch sửquê hơng để mà gìn giữ, để mà phát huy, để mà tự hào? Thiết nghĩ, việcnghiên cứu văn hoá dòng họ cũng góp phần cung cấp thêm cho các em nhữnghiểu biết về lịch sử địa phơng, khơi dậy trong các em ý thức tộc họ, ý thức địaphơng cũng nh ý thức dân tộc

Mảnh đất Nghi Xuân “Sơn thuỷ hữu tình” của xứ sở Hồng-Lam là nơi sinhcơ lập nghiệp của nhiều dòng họ Trong đó, có một dòng họ nổi tiếng bởinhiều ngời đỗ đại khoa với một Hoàng giáp (Nguyễn Nghiễm), bốn Tiến sỹ,

đồng Tiến sỹ nh Nguyễn Huệ, Nguyễn Khản, Nguyễn Tán, Nguyễn Mai ; bởinhiều văn thần võ tớng tài trí đức độ nh Nguyễn Nghiễm, Nguyễn Khản,Nguyễn Điều, Nguyễn Nễ ; bởi nhiều danh y nh Nguyễn Quỳnh, NguyễnTrọng, Nguyễn Nghi, Nguyễn Cảnh ; bởi nhiều tài thơ nh Nguyễn Khản,

Trang 3

Nguyễn Nễ, Nguyễn Hành ; Đặc biệt là bởi tên tuổi đại thi hào Nguyễn Du.

Đó là họ Nguyễn Tiên Điền

Dòng họ Nguyễn Tiên Điền có nguồn gốc từ làng Canh Hoạch, thuộchuyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam (nay là tỉnh Hà Đông) Thuỷ tổ dòng họ đến

đây và những năm cuối của thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII Trải qua hơn 400năm với 15 đời, dòng họ Nguyễn Tiên Điền đã có nhiều đóng góp đáng ghinhận cho lịch sử dân tộc trong quá trình dựng nớc và giữ nớc

Khu lu niệm Nguyễn Du và dòng họ Nguyễn Tiên Điền đã đợc Bộ văn hoá

và thông tin ra quyết định công nhận là di tích lịch sử-văn hoá quốc gia Đó làniềm vinh dự của họ Nguyễn Tiên Điền nói riêng, của nhân dân Nghi Xuân và

Hà Tĩnh nói chung

Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Nghi Xuân giàu truyền thống lịch sử-vănhoá, ngay từ những ngày đầu theo học ngành cử nhân khoa học lịch sử, một ớcmơ đã lớn dần trong tôi là một ngày nào đó sẽ viết về quê hơng mình Chính vìvậy, khi làm khoá luận tốt nghiệp, nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đềnghiên cứu văn hoá dòng họ và việc gìn giữ, phát huy bản sắc văn hoá của quê

hơng đất nớc, tôi đã chọn đề tài: Lịch sử-văn hoá dòng họ Nguyễn Tiên Điền

ở Nghi Xuân (Hà Tĩnh) cuối thế kỷ XVI đến nay” cũng xem nh là cơ hội thực

đây chúng tôi chỉ xem xét vấn đề dới góc độ sử học Cụ thể nh sau:

Về chính sử của các triều đại cũ nh “Đại Việt sử ký toàn th”, “Việt sửthông giám cơng mục” chỉ ghi chép một chút về các vị tổ tiên của dòng họnày Cuốn “Nghi Xuân địa chí” của tú tài Lê Văn Diễn viết năm Nhâm Dầnthời Thiệu trị (1842) đã viết khá rõ về đền miếu và các nhân vật tiêu biểu của

họ Nguyễn Tiên Điền

Trang 4

Trong công trình nghiên cứu của Hippolyte Le Breton 1936 với tựa đề:

“Le vieux An Tinh” (An-Tĩnh cổ lục) có phần ghi chép về thái ấp và đền thờ

họ Nguyễn Tiên Điền tơng đối kĩ

Năm 1978 ông Nguyễn Quốc Phẩm làm luận văn tốt nghiệp ngành sử-Đạihọc tổng hợp Hà Nội với đề tài “Làng Tiên Điền cổ truyền” Trên cơ sở đó, 20năm sau ông đã viết nên cuốn sách “Văn hoá làng Tiên Điền-truyền thống vàhiện đại” Trong đó ông có nhắc đến họ Nguyễn Tiên Điền ở một số mặt nhhọc hành khoa cử, ngành y và đền thờ nhng còn sơ sài

Đến tác phẩm “Nơi Nguyễn Du viết truyện Kiều”, Chu Trọng Huyến tậptrung tái hiện chân dung Nguyễn Du, đồng thời có đề cập tới quê hơng, cũng

nh gia hệ nhng có lẽ “đó là một quyển địa chí văn học” và “tác giả hơi tiểuthuyết hoá một công trình nghiên cứu” (Huy Cận)

Về nguồn gốc họ Nguyễn Tiên Điền, Dã lan Nguyễn Đức Dụ trong “Dõitìm tông tích ngời xa” trên cơ sở khai thác gia phả dòng họ đã đa ra một sốcách nhìn và khẳng định quan điểm của mình

Cũng có nhiều bài viết của các tác giả nghiên cứu về các nhân vật nổi tiếngvới những đóng góp của họ và các di tích của họ Nguyễn Tiên Điền Nhữngbài viết đó in trong các cuốn sách nh bài “Tể tớng Nguyễn Nghiễm” của ĐặngThanh Quê, “Đại thi hào Nguyễn Du” của Đức Ban, “Nguyễn Nghiễm” củaBùi Thiết…hoặc đăng trên các báo và tạp chí nh “Khu mộ Đại thi hào NguyễnDu”, “Đàn tế và bia Nguyễn Quỳnh”, “Nhà thờ Đại thi hào Nguyễn Du” (báoVăn hoá Hà Tĩnh) của Nguyễn Xuân Bách; “Các nhà khoa bảng đất NghiXuân” (báo Văn hoá nghệ thuật Nghi Xuân) của phó giáo s, tiến sĩ Trần ThịBăng Thanh, “Truyền thống tốt đẹp của họ Nguyễn Tiên Điền về mặt y học”(Tạp chí Đông y) của ông Lê Thớc Gần đây nhất, có cuốn “Các nhà khoabảng Hà Tĩnh” của ông Thái Kim Đỉnh viết khá rõ về một số nhà khoa bảng

họ Nguyễn Tiên Điền

Nhìn chung, các tác phẩm, các bài viết trên đã nói đến nguồn gốc tộc họ,những đặc điểm về truyền thống văn hoá, một số đóng góp của các nhân vật

và các di tích của họ Nguyễn Tiên Điền Nhng các tác phẩm, các bài viết hoặckhái quát hoá hoặc chỉ đi sâu một số vấn đề, một số nhân vật; mặt khác còn lẻ

tẻ, rải rác chứ cha nghiên cứu một cách hệ thống, đầy đủ, toàn diện về quátrình phát triển của dòng họ, đóng góp của dòng họ đối với lịch sử, những disản văn hoá truyền thống mà dòng họ đã giữ gìn và phát huy đợc Từ đó, đặt

Trang 5

ra nhiệm vụ là cần tiếp tục nghiên cứu về dòng họ NguyễnTiên Điền để gópphần gìn giữ, phát triển văn hoá địa phơng cũng nh văn hoá dân tộc.

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu

Trên cở sở những tài liệu hiện có, trong khuôn khổ một khoá luận tốtnghiệp, chúng tôi mạnh dạn tạo dựng một bức tranh về lịch sử-văn hoá họNguyễn Tiên Điền trên mảnh đất Nghi Xuân trong khoảng thời gian từ cuốithế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII đến nay

Trớc hết, chúng tôi tìm hiểu về điều kiện tự nhiên, vị trí chiến lợc cũng nhcon ngời Nghi Xuân Đó cũng chính là cái nôi đón nhận thuỷ tổ họ NguyễnTiên Điền đến đây nờn náu và sinh cơ lập nghiệp Tiếp đó, chúng tôi khái quátquá trình họ Nguyễn Tiên Điền hình thành và phát triển trên đất Nghi Xuân Phần trọng tâm của đề tài là văn hoá truyền thống của họ Nguyễn Tiên

Điền và những đóng góp của dòng họ này cho lịch sử dân tộc Chúng tôi cốgắng khắc hoạ sự thịnh suy của dòng họ qua các thế hệ để có một cái nhìnkhách quan và tổng quát Qua đó, chúng ta có thể thấy đợc sự kế thừa, pháthuy truyền thống cũng nh hạn chế của các thế hệ sau Điều quan trọng nhất là

đánh giá đúng tầm và thế cũng nh những đóng góp đáng ghi nhận của dòng họNguyễn Tiên Điền đối với quê hơng Nghi Xuân-Hà Tĩnh, đối với lịch sử dântộc

4 Nhiệm vụ của khoá luận

Nhận thức đợc vai trò to lớn của dòng họ đối với sự hình thành, phát triểncủa dân tộc và ý nghĩa to lớn của việc nghiên cứu về dòng họ trong sự nghiệp

đổi mới hiện nay, luận văn nhằm giải quyết những nhiệm vụ sau:

Trớc hết là tìm hiểu tơng đối toàn diện và có hệ thống về quá trình hìnhthành, phát triển của dòng họ Nguyễn Tiên Điền trên đất Nghi Xuân, những

đóng góp của dòng họ trong lịch sử

Bên cạnh đó cũng đi sâu tìm hiểu một số nhân vật tiêu biểu của dòng họNguyễn Tiên Điền mà nổi bật là Nguyễn Nghiễm và các con của ông để hiểuthêm những công lao của họ đối với dòng họ, đối với dân tộc

Mặt khác, tìm hiểu truyền thống, những di sản văn hóa đặc sắc của dòng

họ, sự ảnh hởng và đóng góp về văn hoá của dòng họ đối với dân tộc

5 Phơng pháp nghiên cứu

5.1 Su tầm t liệu:

Để có đợc nguồn t liệu cần thiết để thực hiện đề tài này, chúng tôi tiếnhành su tầm, tích luỹ; sao chép ở th viện tỉnh Hà Tĩnh; nghiên cứu thực địa,

Trang 6

sao chép và chụp ảnh các di tích; sử dụng phơng pháp phỏng vấn, điều tra xãhội học…

5.2 Xử lý t liệu:

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi vận dụng phơng pháp so sánh và

ph-ơng pháp logic để trình bày quá trình hình thành, phát triển của dòng họ theothời gian diễn biến của lịch sử; so sánh, đối chiếu gia phả với chính sử, các tliệu nghiên cứu để đánh giá tổng hợp

B nội dung Chơng 1: Quá trình phát triển của dòng họ Nguyễn Tiên Điền trên đất NGhi Xuân từ cuối thế

kỷ XVI đến nay.

1.1.Nghi Xuân - đất và ngời:

1.1.1.Đất Nghi Xuân:

Điều kiện địa lí, tự nhiên:

Nghi Xuân là một vùng đất lịch sử văn hoá lâu đời cách tỉnh lỵ Hà Tĩnh50km về phía Đông Bắc, nằm gọn trên toạ độ từ 28031’ đến 18045’ 30” độ vĩbắc và từ 105041’ độ kinh đông Diện tích đất tự nhiên là 217,76km2, dân số

99875 ngời, mật độ dân số 459 ngời/km2, chiếm 3,95% diện tích đất tự nhiên

và 7,9% tổng số dân toàn tỉnh (1995) Trớc năm 1945 Nghi Xuân có 5 tổng,

33 xã, thôn, trang, phờng Đến năm 2003, Nghi Xuân có 17 xã, 2 thị trấn với

192 thôn, xóm , khối Phía Bắc là dòng Lam xanh trong lu giữ bao kì tích

Trang 7

huyền thoại, từ ngàn đời nay nh một dải lụa tô điểm cho vùng đất “nên xuân”này Phía tây nam là dãy Hồng Lĩnh 99 ngọn hùng vĩ điệp trùng đi vào sử sáchvới bao giai thoại Phía đông là biển với hòn ng, hòn mắt từng in bóng trongthi ca Sự kết hợp hài hoà sông biển, núi đồi, đồng bằng, hải đảo tạo nên mộtvùng đất Nghi Xuân sơn thuỷ hữu tình, say đắm lòng ngời đã chắp cánh chohồn thơ bao thi nhân.

Về khí hậu, Nghi Xuân nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, hàng năm thờitiết phân biệt hai mùa rõ rệt Nhiệt độ cao, số ngày nắng dồi dào, đủ nhiệt l-ợng cần thiết cho yêu cầu gieo trồng, sinh trởng động thực vật, vừa thuận tiệntrong thu hoạch Bên cạnh thuận lợi cũng có hạn chế là thời tiết thờng chuyển

đổi đột ngột, thất thờng gây bất ổn định đời sống nhân dân

Nghi Xuân có tài nguyên biển, tài nguyên rừng phong phú thuận lợi pháttriển các nghành nghề nh đánh cá, chế biến thuỷ sản, khai thác lâm sản.Ruộng đất Nghi Xuân vừa hẹp vừa kém màu mỡ, hầu hết là đất cát đất bồi vensông, phù sa lắng đọng cũng chẳng bao nhiêu Điều này gây không ít khókhăn cho nông dân trong việc tăng năng suất lơng thực Tuy nhiên với tầmnhìn thoáng mở hiện nay, nó có u thế trồng những loại cây trái giỏi chịu hạn:

na, quýt, da, hồng sản xuất rau quả cao cấp

Vị trí chiến lợc:

Trong lịch sử dựng nớc và giữ nớc của dân tộc từ xa tới nay, Nghi Xuân đã

là một địa bàn chiến lợc quan trọng

Nghi Xuân là một vùng đất cổ thuộc bộ tộc Việt Thờng, thời Văn Lang-ÂuLạc thuộc bộ Cửu Đức Thời thuộc Hán, Nghi Xuân gọi là Dơng Thành ThờiTấn gọi là huyện Dơng Toại thuộc quận Cửu Đức Thời Tuỳ lại đổi thànhhuyện Phố Dơng thuộc quận Nhật Nam Thời Lý-Trần-Hồ và thời thuộc Minh

đã gọi là huyện Nha Nghi thuộc phủ Nghệ An Có lúc gồm thêm một phần đấtChi La (thuộc Đức Thọ-Hà Tĩnh nay) và một phần đất Thổ Chu (thuộc ThanhChơng-Nghệ An nay) gọi là huyện Nghi Chân Từ sau đời Lê Trung Hng, lại

đổi là huyện Nghi Xuân thuộc trấn Nghệ An Thời Thịnh Đức triều Lê, NghiXuân là một trong bảy huyện bị quân Đàng Trong đánh chiếm, gộp vào đấtNam Hà nhng không bao lâu trở lại nh cũ Năm Nhâm Dần đời Minh Mệnh(1831) tách thành hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh Từ đây, Nghi Xuân trực thuộc

Hà Tĩnh Lúc này, nhà Nguyễn đã hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nớc,Nghệ An và Hà Tĩnh không còn là vùng đất cuối cùng phía nam nữa mà trở

Trang 8

thành “khúc ruột miền trung” của nớc Việt Trải bao thăng trầm lịch sử, NghiXuân đã khẳng định vị trí chiến lợc quan trọng của mình

Theo truyền thuyết, Nghi Xuân đã suýt đợc vua Hùng chọn làm đế đô theochỉ định của đàn chim Phợng hoàng Hồng Lĩnh có 99 ngọn, 100 con chimbay về, 1 con không có nơi đỗ nên đàn chim Phợng hoàng bay đi, kinh đô vìthế không thành

Những năm dài Bắc thuộc, một ít dấu tích về cuộc khởi nghĩa Mai ThúcLoan tuy đã mờ nhạt, đến nay vẫn đợc ghi nhớ lu truyền trong dân gian Trong

kỷ nguyên độc lập tự chủ, các triều đại phong kiến Việt Nam đều chú trọng

đến vùng đất phía nam

Thời Lý, vua Lý từng cử các tớng giỏi về trấn trị, nổi bật là Uy Minh Vơng

Lý Nhật Quang (Hoàng tử thứ 8 của vua Lý Thái Tổ) làm Tri châu Nghệ An(Nghệ Tĩnh nay) từ 1039 đến 1055 “Đại Việt sử ký toàn th” và “Việt sử thônggiám cơng mục” đều công nhận Lý Nhật Quang là ngời có công lớn trong việcbảo vệ biên cơng phía nam, đồng thời chuẩn bị đầy đủ cơ sở hậu cần cho cuộcNam chinh của vua cha thắng lợi Ngày nay, ở Nghi Xuân có đền Huyện lànơi thờ phụng khắc ghi công đức của Bát Hoàng tử Lý Nhật Quang

Bên cạnh đó, Nghi Xuân cũng đợc chọn để dựng hành cung nh vua Lý TháiTôn dựng hành cung ở núi Lầu (Ngọc Lâu), Hồ Hán Trơng dựng hành cung ởBàu Lâu-Tả Ao

Thời chống Minh, cuộc nổi dậy của ngụy quan, ngụy quân do Phan Liêu-triphủ huyện Nghệ An cầm đầu, lấy huyện lỵ Nha Nghi làm căn cứ xuất phát,tiến quân lên vây hãm trấn thành Rú Rum, tạo nên tiếng vang khắp cả nớc Đó

là cuộc nổi dậy sau một năm Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn và nămnăm trớc ngày nghĩa quân Lam Sơn vào Trà Lân, xây dựng chỗ đứng chân ởNghệ Tĩnh

Trớc thời kỳ này, Nghi Xuân đã trở thành vị trí chiến lợc quân sự khôngnhững của vùng Nghệ Tĩnh mà của cả nớc Nếu nh Nghệ An (Nghệ Tĩnh nay)coi là “phên dậu thứ ba ở phơng nam” (Nguyễn Trãi), là nơi hiểm yếu, đấtrộng, ngời đông chiếm giữ cho đợc Nghệ An để làm chỗ đất đứng chân rồidựa vào nhân lực, tài lực đất ấy mà quay ra đánh Đông Đô thì có thể tính xongviệc dẹp yên thiên hạ” (Nguyễn Chích), thì Nghi xuân là đồn tiền tiêu án ngữ,che chắn cho trấn sở Nghệ An mà ngã ba Tam Chế trở thành cửa dinh luỹ củatrấn thành này Trong dân gian lu truyền lời sấm ký:

Trang 9

“Thiên hạ đại loạn Nghệ An độc an;

Nghệ An đại loạn Nghi Xuân độc toàn”

Khi nghĩa quân Lam Sơn chuyển vào Nghệ An củng cố lực lợng, cả vùngNghệ-Tĩnh, Nghi Xuân đã đóng góp nhiều nhân tài (nh tri thẩm hình viện sựPhan Nhân-quê làng Phan Xá ) và nhiều vật lực Đất đai xung quanh NgànHống đã là những trại sản xuất lơng thực cho nghĩa quân khi “Đức Cao Hoàngtừng trải bớc hiểm nghèo”

Sau khi nhà Lê hng thịnh, đất Nghi Xuân luôn là nơi để các nhà vua trongcác lần đi tuần thú phơng nam lấy làm nơi tập kết, hội quân, dừng chân:

“Hồng Lĩnh lai phong Nghi Xuân dịch mã”

(Qua núi Hồng Lĩnh Nghi Xuân là con ngựa trạm)

Trạm Chế (thuộc xã Xuân Lam ngày nay) là một trạm giao liên quan trọngtrên trục đờng thiên lý từ Thăng Long vào đến Đèo Ngang

Thế kỷ XVI- XVII, diễn ra tình trạng phân liệt và hỗn chiến giữa Mạc và Trịnh-Nguyễn Các vơng triều đều tìm mọi cách chiếm cho đợc Nghệ

Trịnh-An nên vùng này luôn bị tàn phá và xáo động

Cuối thế kỷ XVIII, trên đờng tiến quân từ Phú Xuân (Huế) ra Thăng Long(Hà Nội) Quang Trung đã dừng chân lại ở trấn doanh Nghệ An để tuyển mộthêm nghĩa quân và bổ sung lơng thực Nhân dân Nghệ-Tĩnh đã hăng hái tòngquân, tự nguyện ủng hộ vật chất tiền của

Từ giữa thế kỷ XIX đến cuối thế kỷ XX, dân tộc ta đã anh dũng khángchiến chống thực dân Pháp (1858-1954) và chống đế quốc Mỹ (1954-1975) ,kiên cờng bảo vệ biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc Quân và dân NghiXuân đã góp phần quan trọng vào chiến thắng của dân tộc, vừa là tiền tuyếnvừa là hậu phơng vững chắc

Sau ngày đất nớc thống nhất đến nay, nhân dân Nghi Xuân luôn lao độnghết mình, cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XãHội Chủ Nghĩa, đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, văn hoá, ổn

định chính trị, giữ gìn an ninh cho tỉnh Hà Tĩnh nói riêng, đất nớc Việt Namnói chung

Trang 10

1.1.2.Ngời Nghi Xuân

Theo kết quả các cuộc thăm dò khảo sát, các nhà khảo cổ học, sử học đãkhẳng định con ngời có mặt trên đất Nghi Xuân khá sớm

Di chỉ khảo cổ bãi Phôi Phối ở xã Xuân Viên là một di chỉ thuộc văn hoáBàu Tró cho thấy cách đây 5000 năm, cuối thời đại đá mới, đã có c dân sinhsống tại đây với nghề trồng lúa nớc bằng cuốc đá “Trong lớp đất sâu nhất của

di chỉ này, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy những công cụ bằng đá đợc ghè

đẽo bên cạnh những nồi đất đáy nhọn có hoa văn hai mặt tìm thấy nhữngchiếc rìu đá đợc mài và một ít đồ gốm có đáy tròn ”[13,36] “ Đặc biệt là cácnhà khảo cổ học đã tìm thấy các lỡi cuốc bằng đá chứng tỏ rằng ngay từ giai

đoạn sớm, c dân văn hóa Bàu Tró ở Nghệ Tĩnh là những ngời làm nôngnghiệp” [13,42]

Các di chỉ khảo cổ tiếp theo cho biết thêm về thời đại đồ đồng và đồ sắtsớm nh di chỉ Xuân An, bên bờ sông Lam, dới chân Rú Cơm, đối diện với BếnThuỷ cũng tìm đợc nồi gốm có dấu vết xỉ đồng chứng tỏ rằng đồ gốm đợc đúctại chỗ; di chỉ Xuân Giang cũng đã phát hiện đợc dấu vết của những lò luyệnsắt Nh vậy cách đây từ 4000 năm đến 3000 năm, trên đất Nghi Xuân đã hìnhthành và phát triển nền văn hoá rực rỡ dựa trên nền tảng nông nghiệp trồng lúanớc, đã hình thành cộng đồng làng xã với lối sống chung

Qua hàng nghìn năm tồn tại và phát triển, c dân Nghi Xuân đã từng bớc lấnbiển, chuyển từ miền núi xuống sinh sống dọc theo ven biển, lu vực sông Cả

và khai phá đồng bằng

Theo tiến trình lịch sử, c dân bản địa đợc bổ sung bằng những đợt di c từnhiều nơi khác tới, có thể từ bắc vào, từ nam ra Có thể vì nhiều lý do khácnhau: chạy loạn, theo các cuộc khởi nghĩa lui về hoặc tìm đất mới an c Mà

đặc điểm của việc di dân ở nớc ta xa kia là thờng theo tộc họ Chính vì vậytrên mảnh đất linh thiêng này, các dòng họ đã tự tìm cho mình một chỗ đứngchân và phát triển Đó là họ Nguyễn (gốc từ Canh Hoạch, Thanh Oai, Hà

Đông) ở Tiên Điền, họ Phan (gốc Can Lộc) ở Phan Xá, họ Đặng (gốc CanLộc) ở Uy Viễn, họ Võ ở Hội Thống, họ Ngụy (định c từ đầu thế kỷ XV) ởXuân Viên, họ Thái ở Xuân Lam, họ Lê (gốc Thanh Hoá, định c từ 1646) ởTiên Bào Chọn nơi đây làm đất sinh cơ lập nghiệp, các dòng họ đã cùng ngờibản địa chinh phục thiên nhiên, khai hoang lập ấp, ổn định cuộc sống, xâydựng Nghi Xuân ngày càng giàu mạnh trong thời bình, đoàn kết, chung lng

Trang 11

đấu cật chống ngoại xâm trong thời chiến Trải qua bao thăng trầm trong xâydựng và bảo vệ quê hơng, sự hoà quyện về huyết thống, văn hoá đã tạo nênnhững nét đẹp riêng trong con ngời Nghi Xuân trong truyền thống chung củangời Nghệ Tĩnh

Đại hội Đảng bộ Nghệ Tĩnh lần thứ 11 đã khẳng định những đức tính tốt

đẹp của con ngời Nghệ Tĩnh trong con ngời Việt Nam: “Có lòng yêu nớc thiếttha, có tình cảm quốc tế trong sáng đậm đà; cần cù trong lao động; nghĩa tìnhtrong cuộc sống; biết chịu đựng hi sinh, dũng cảm chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc,kiên cờng vợt qua mọi thử thách hiểm nghèo trong cuộc đấu tranh chống lại s

hà khắc của thiên nhiên, chống lại mọi sự bất công và áp bức trong xã hội”

Đức tính đó là cơ sở để hun đúc nên khí phách Hồng Lam của con ngời NghệTĩnh Trên mảnh đất Nghi Xuân, con ngời “vì thế không thể không dũng cảmvợt khó cần cù, kiên nhẫn, chăm học hành, trọng lẽ phải, sống khắc khổ, nhngvẫn lịch lãm, thơng yêu, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau, chắt lót tháo vát làm ăn”[14,20]

Mảnh đất linh thiêng xứ Hồng Lam đã cống hiến cho quê hơng đất nớcnhững ngời tài cao chí lớn, là con cháu của các dòng họ định c và phát triểntrên đất Nghi Xuân Về chính trị-kinh tế có Nguyễn Nghiễm, Ngụy KhắcTuần, Ngụy Khắc Đản, Nguyễn Công Trứ ; về sử học có Nguyễn Nghiễm,

Hà Văn Tấn ; về văn hoá-văn học có Nguyễn Du, Đặng Thái Bàng, NguyễnHành, Đỗ Minh Dơng, Lê Đăng Truyền ; về y học có Nguyễn Quỳnh,Nguyễn Nghi, Nguyễn Mạnh Liên và những chiến sĩ cách mạng u tú: Lê Duy

Điếm, Nguyễn Bật Biển, Lê Tính, Trần Sỹ Dực Cho nên nói Nghi Xuân là đất

địa linh sinh nhân kiệt quả không sai

1.2.Dòng họ Nguyễn ở Tiên Điền định c ở Nghi Xuân:

Theo “Hoan Châu Nghi Tiên Nguyễn gia thế phả” thì dòng họ NguyễnTiên Điền phát tích ở làng Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, Tỉnh Sơn Nam (naythuộc tỉnh Hà Đông) Thời vua Lê Thế Tông trung hng (1573-1599), một concháu của dòng họ này là Nam Dơng hầu Nguyễn Nhiệm (Nhậm) có dự muphục lại nhà Mạc bị thua chạy về Nghệ An đến ẩn náu tại Tiên Điền, giấu hẳntông tích (chỉ gọi Nam Dơng) để tránh sự truy lùng của chúa Trịnh

Về tông tích của dòng họ Nguyễn ở Tiên Điền, trong “Dõi tìm tông tíchngời xa”, Dã Lan Nguyễn Đức Dụ có su tầm đợc một vài chi tiết liên quan nhsau:

Trang 12

Thứ nhất là nhận định của ông Lê Thớc: “Nguyễn Trãi (thế kỷ thứ XV) vàNguyễn Du (thế kỷ thứ XIX) cùng thuộc một dòng họ và chung một ông tổ”[6,217].

Gia phả họ Nguyễn Nhị Khê (Nguyễn Trãi) có chép rằng ông nội NguyễnPhi Khanh quê ở Chí Linh, Hải Dơng có hai con trai Ngòi anh trú ngụ ở ThônNgọc ổi (sau đổi là Canh Hoạch) thuộc huyện Thanh Oai, Hà Đông Ngời anh

có con là Nguyễn Phi Khanh, Phi Khanh sinh Nguyễn Trãi thành dòng họNguyễn Nhị Khê Còn ngời em có con là Nguyễn Thiến, đậu Trạng Nguyênnhà Mạc năm 1532 Năm 1550, Nguyễn Thiến bị nhà Mạc ngờ vực bèn cùngcác con là Nguyễn Quyện và Nguyễn Miễn đầu Lê Nguyễn Thiến làm quan

đến chức Thợng Th Bộ Lại, ngự sử đài Đô ngự sử, Đông các đại học sĩ, ThiếuPhó Thủ Quận Công Khi ông mất, hai con lại trở về với nhà Mạc cho tới khicháu là Nam Dơng hầu Nguyễn Nhiệm thất trận lánh đến xã Tiên Điền maidanh ẩn tích

Thứ hai, theo khám phá của Hoàng Minh Tờng (Báo Văn Nghệ-Hội NhàVăn VN-số 22 Bộ Mới-Tháng 5/1995) thì hai họ Nguyễn Nhị Khê và NguyễnTiên Điền lại có mối quan hệ huyết thống nh sau:

Phạm Bá Ký đậu Tiến sĩ năm 1463 dới thời vua Lê Thánh Tông nguyên làthuộc dòng họ Nguyễn Trãi Nhị Khê (sau vụ án Lệ Chi Viên 1442, đổi thành

họ Phạm, đến con trai ông lấy lại họ Nguyễn) Ông làm quan đến Binh bộ ợng Th Con trai ông là Nguyễn Đức Lợng đậu Trạng nguyên khoa Giáp Tuất(1514) làm đến Lễ Bộ Tả thị lang đợc cử đi sang phơng Bắc, khi mất đợcthăng lên Thợng Th Cháu nội ông là Nguyễn Khuông Lễ con trai Nguyễn

Th-Đức Lợng cũng đậu Tiến sĩ Khoa ất Mùi (1335) làm quan đến tớc bá, cũng

đ-ợc cử đi sứ thời Mạc Đăng Doanh Nguyễn Đức Lợng có ngời em gái làNguyễn Thị Hiền sinh đợc một con trai với Nguyễn Doãn Toại (con thám hoaNguyễn Doãn Địch) đặt tên cho là Nguyễn Thiến Nh vậy, Nguyễn Du chính

là con cháu chắt ngoại của dòng họ Nguyễn Nhị Khê (Nguyễn Trãi) ở ChiNgãi, Chí Linh

Chu Trọng Huyến, tác giả của “Nơi Nguyễn Du viết truyện Kiều” cũng cóchỗ gặp gỡ quan điểm Hoàng Minh Tờng Trong tác phẩm của mình, ông đãbắt đầu câu chuyện về dòng họ nguyễn Tiên Điền từ mối lơng duyên giữaNguyễn Doãn Toại-con trai vị quan Nguyễn Doãn Địch đất Tảo Dơng với áinữ Thanh Hiền của ông Nguyễn Đức Ký mà kết quả là sự ra đời của Nguyễn

Trang 13

Thiến Khoa thi hội Quý Dậu (1514), Nguyễn Đức Lợng, anh trai Thanh Hiền

và là cậu ruột Nguyễn Thiến đỗ Trạng nguyên Mòi tám năm sau, đến khoa thihội Nhâm Thìn niên hiệu Đại Chính thứ 3 (1532) đời Mạc Thái Tông thìNguyễn Thiến ứng thí và cũng đỗ Trạng nguyên

Nh vậy, dù cha xác định họ Nguyễn Tiên Điền và họ Nguyễn Nhị Khê làhai nhánh của một dòng họ cùng chung một ông tổ hay họ Nguyễn Tiên Điền

là thế hệ sau của họ Nguyễn Nhị Khê nhng một điều rõ ràng là giữa hai dòng

họ này có mối quan hệ huyết thống Về mặt cội nguồn thì họ Nguyễn Tiên

Điền là ở làng Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông ngày nay

Trong công trình nghiên cứu của Le Breton Hippolyte năm 1936 với tựa

đề: “An Tĩnh cổ lục” ghi chép về những danh lam, di tích lịch sử và truyềnthuyết vùng Nghệ Tĩnh, phần viết về “Thái ấp và đền thờ họ Nguyễn Tiên

Điền” đã viết một vài lời “đo đái của sự thần thế họ này” nh sau: “Theo giaphổ, đó là vào hồi nhà Mạc cớp ngôi nhà Lê (1527-1592) vị thuỷ tổ của họ ta

là Nguyễn Thuyên sinh ra ở làng Cách Hoạc, huyện Thanh Ung, tỉnh Sơn Nam(nay là huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông) Ngài đã thi Hội đỗ Trạng nguyên,năm Nhâm Thìn, niên hiệu Đại Chính, triều vua Mạc Đăng Dung Nhng vềsau, quân nhà Mạc bị tiêu diệt ở Thanh Oai (1555), từ đó họ Mạc chỉ còn caitrị ở Cao Bằng, miền bắc Bắc Kỳ cho đến lúc mất ngôi hẳn Sau việc thất bạinày, Nguyễn Thuyên quay sang làm tôi cho nhà Lê Ngài là đến chức thợng

th, đợc phong tớc Th Quận công và đợc ban thái ấp Tiên Điền Chính ngờicháu trai của Nguyễn Thuyên là Nguyễn Nhiệm Nam Dơng quận công là ngời

đã có công đầu biến miền đất vùng Tiên Điền thành vùng canh tác”

Đối chiếu sử sách, ta thấy vị thuỷ tổ Nguyễn Thuyên mà Le Breton nhắctới chính là Nguyễn Thiến Về chi tiết Tiên Điền là thái ấp đợc phân phongcho Nguyễn Thiến, “Từ điển văn hoá Việt Nam” phần “Nhân vật chí” cũngkhẳng định ông “đợc phong đất ở Nghệ An”.[25,397]

Theo sách “Việt sử thông giám cơng mục” (quyển 31) thì năm 1550 MạcPhúc Nguyên nghe lời gièm pha của cha con Phạm Quỳnh và Phạm Giao ngờNguyễn Thiến làm phản nên ông cùng hai con trai của mình là Nguyễn Quyện

và Nguyễn Miễn đem hơn hai trăm lính vào Thanh Hoá theo nhà Lê Họ cũng

đợc vua Lê Trung Tông dung nạp và trọng dụng Năm Đinh Tỵ (1557)Nguyễn Thiến mất Lúc bấy giờ, sau khi Nguyễn Kim chết, Trịnh Kiểm đợcvua Lê đa lên thay thế đã tìm cách loại trừ phe cánh Nguyễn Kim mà trớc hết

Trang 14

là các con trai của ông Nguyễn Quyện và Nguyễn Miễn sợ bị họ Trịnh ghenghét mu hại đã trở ra bắc theo nhà Mạc Mạc Tuyên Tông đang rất cần ngờitài phò giúp nên đã không ngần ngại tiếp nhận và tin dùng anh em họ.

Cuối năm 1583, sau khi củng cố lực lợng, tiết chế Trởng quốc công TrịnhTùng quyết định đem quân đánh ra Bắc Trận đánh lớn nhất năm 1592, quânnhà Mạc thua to, Trịnh Tùng đem quân vào chiếm Thăng Long Nhà Mạc đổ.Cũng năm 1592, Nguyễn Quyện thua trận bị Trịnh Tùng bắt sống, năm saumất ở trong ngục Về việc này, “Đại Việt sử ký toàn th ” bản kỷ tục biên,quyển 17- kỉ nhà Lê có chép nh sau: “Tháng 11 nhuận, ngày mồng 4, NguyễnQuyện chết ở trong ngục Trớc đây con Quyện là Nhuệ quận công NguyễnTín, Thọ Nham hầu Nguyễn Trù và con của Phù Hng hầu Nguyễn Phủ là bọn

Đô Mỹ, Vân Bảng, Nam Dơng, An Nghĩa, Nhân Trí (đều không rõ tên) thấyvua Mạc bị bắt, bèn chịu khuất quy thuận Đến đây mu phản, việc bị phátgiác.Bọn Nguyễn Tín, Đô Mỹ, Văn Bảng, Nhân Trí đều bị giết Bọn Nam D-

ơng, An Nghĩa, Thọ Nham lại trốn đi theo Nguỵ” [16,186] Nh vậy, Nam

D-ơng Hầu Nguyễn Nhiệm vì sự bại vong của nhà Mạc đã vào Nghệ An ẩn c Theo “Hoan Châu Nghi Tiên Nguyễn gia thế phả” thì “Thời Lê Thế Tôngtrung hng, ông có dự mu phục lại nhà Mạc bị thua chạy về nam lập nhà tạiTiên Điền”[19,1] Thời Lê Thế Tông trung hng là từ 1573 đến 1599, mà nhàMạc mu phục lại vơng quyền từ sau khi bị Trịnh Tùng đánh bật khỏi ThăngLong năm 1592 Từ đó có thể suy ra đợc khoảng thời gian Nguyễn Nhiệm vềTiên Điền là 1592 đến 1599 Dã Lan Nguyễn Đức Dụ cũng nghiên cứu giaphả và không có ý kiến gì khác Những năm 80, cụ Nguyễn Duật, con trai ôngnghè Nguyễn Mai có su tầm và bổ sung thêm gia phả thì cho rằng Nam Dơnghầu vào Tiên Điền năm 1592

Còn Chu Trọng Huyến trong tác phẩm “Nơi Nguyễn Du viết Truyện Kiều”lại đa ra một mốc thời gian muộn hơn, đó là vào tháng giêng năm Tân Sửu(1601) Nguyễn Nhiệm là một vị tớng chỉ huy giỏi của quân Mạc Trong trận

đánh tại Linh Giang năm đó, quân Lê-Trịnh do Bình An Vơng Trịnh Tùng tựthân đốc chiến tởng nh đã giết đợc Nguyễn Nhiệm (Nhậm) Theo quan điểmChu Trọng Huyến ông chỉ bị thơng nặng chứ không chết Chán việc theo Mạc

và tất nhiên cũng chẳng về đợc với Lê, Nguyễn Nhiệm đã đi vào Nghệ An vàchọn Tiên Điền làm nơi mai danh ẩn tích

Trang 15

Về sự kiện này, “Đại Việt sử ký toàn th” có chép : “Tân Sửu, Hoằng Đinhnăm thứ hai (1601) : Mùa xuân, tháng giêng, đại quân của Bình An vơng tiếnphát, giao chiến với đảng giặc là Nam Dơng (hầu) Tiên phong của quan quân

là Chấn quận công (không rõ tên) chết tại trận Vừa khi quận Nam và quậnNga của giặc đều chết, quan quân đại thắng, thu đợc thuyền bè, phụ nữ, trâu

bò súc vật và tiền của kể hàng nghìn đem về kinh Bêu hai thủ cấp của quậnNam và quận Nga ở Trờng Yên để thị uy” [16,212]

Theo “Việt sử thông giám cơng mục” (quyển 31) thì quận Nam là NguyễnDụng (chính tên là Nguyễn Nhiệm vì tránh huý của Tự Đức nên chép làDụng) Nh vậy, theo chính sử chép thì Nguyễn Nhiệm đã bị giết nghĩa là ôngkhông thể là thuỷ tổ dòng họ Nguyễn Tiên Điền

Qua đối chiếu, khảo cứu “Hoan Châu Nghi Tiên Nguyễn gia thế phả” cùngcác tài liệu chính sử, tác phẩm nghiên cứu lịch sử có học liên quan, chúng ta

có thể khẳng định rằng Nam Dơng Hầu Nguyễn Nhiệm là thuỷ tổ dòng họNguyễn Tiên Điền, còn thời gian ông về nơng náu ở Tiên Điền tuy cha đồngnhất nhng có thể nói đó là vào những năm cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII

mà mốc sớm nhất là năm 1592, ngay sau khi Trịnh Tùng đánh nhà Mạc chạykhỏi Thăng Long, mốc muộn nhất là đầu 1601, sau một thời gian ông thamgia mu phục nhà Mạc thất bại

Chúng tôi xin nói thêm một chút về làng Tiên Điền, nơi mà Nam DơngHầu Nguyễn Nhiệm đã trú chân:

Làng Tiên Điền nằm về phía đông bắc huyện Nghi Xuân, bắc giáp xã MỹDơng (nay là xã Xuân Mỹ), đông giáp xã Tiên Bào (nay là xã Xuân Yên),

đông bắc giáp xã Đan Hải (nay là xã Xuân Hải) và phía Tây Bắc giáp xã UyViễn (nay là xã Xuân Giang) Tiên Điền nằm trên bờ nam sông Lam Địa thếkhông bằng phẳng mà mấp mô bởi nhiều cồn cát và phù sa của sông Lam tạothành Tiên Điền từ rất lâu đã giữ vai trò là trung tâm kinh tế-văn hóa củaNghi Xuân Nó có những u thế về địa thế, cảnh quan nhng cũng mang không

ít khó khăn của mảnh đất Nghi Xuân “cồn khô cát mặn”, “nớc mặn đồngchua” Con ngời Tiên Điền bên cạnh truyền thống yêu nớc và kiên còng còncần cù, chịu thơng chịu khó, hiếu học từ ngàn xa Tiên Điền lập làng sớm(khoảng từ thời Lý) trải qua bao thăng trầm lịch sử đã kết tinh nên nền vănhoá tinh thần phong phú với nhiều thành tựu rực rỡ, xứng danh lời truyền tụngtrong dân gian:

Trang 16

“ Tiên Điền văn vật thiên thu tại Dục tú chung anh vạn cổ truyền”

(Nghìn năm văn vật Tiên Điền Tinh hoa non nớc lu truyền vạn năm)

Nam Dơng Hầu Nguyễn Nhiệm vào nơng náu ở Tiên Điền khi nơi này mới

có một số tộc họ đến khai phá mở mang Ông lập nhà tại Đông Giáp, thôn

L-ơng Năng “Đất lành chim đậu”, mảnh đất Nghi Xuân với bề dày văn hoángàn đời là nơi bình yên cho cánh chim Nam Dơng Hầu Nguyễn Nhiệm dừngchân sau hành trình mệt mỏi trong thời cuộc hỗn loạn; trở thành cái nôi nuôidỡng dòng họ “danh giá thế phiệt” cống hiến cho quê hơng Hồng-Lam, cho

đất nớc bao “nhân kiệt” Dòng họ này sinh sống và phát triển chủ yếu ở Tiên

Điền nên còn gọi là họ Nguyễn Tiên Điền và cũng là để phân biệt với những

họ Nguyễn không cùng gốc gác tổ tiên khác ở ngay trên đất Tiên Điền vàtrong huyện Nghi Xuân

1.3.Sự phát triển của dòng họ Nguyễn Tiên Điền trên đất Nghi Xuân

Qua lịch sử hơn 400 năm trải 15 đời (tính từ cụ tổ Nguyễn Nhiệm), họNguyễn Tiên Điền sinh sống đông đúc nhất là ở Tiên Điền, rải rác ở các xãkhác trong huyện Nghi Xuân, một bộ phận chuyển c đi Hơng Sơn và một bộphận khác lập nghiệp ở Thanh Hoá, Quảng Bình

Theo “Hoan Châu Nghi Tiên Nguyễn gia thế phả” thì từ cuối thế kỷ XVI(1592-1599) đến năm 1940, khoảng hơn 340 năm, họ Nguyễn Tiên Điền trảiqua 9 đời nh sau:

Đời 1: Nam Dơng hầu Nguyễn Nhiệm là thuỷ tổ dòng họ Thời Lê ThếTông trung hng, ông có mu phục lại nhà Mạc bị thua trận, chạy vào Nam, lậpnhà tại Tiên Điền Ông sinh 3 con trai và 2 con gái

Đời 2: Trong 3 con trai Nguyễn Nhiệm, chi trởng dời sang thôn Văn Trờng(Nguyễn Huyền là cháu 5 đời), chi út còn ở Đông Giáp (Nguyễn Lựu là cháu

5 đời), Tham Đốc Khánh Trạch hầu (đợc tặng phong) là con thứ 2 có vợ chínhthất sinh đợc 2 con trai huý là ổn và Chung (mất sớm)

Đời 3: Đề Đốc Phơng Trạch hầu huý là ổn là con đầu Khánh Trạch hầu

Vợ chính thất sinh 2 con trai và 2 con gái

Đời 4: Trỏng nam Nguyễn ổn huý là Thể, tài sức hơn ngòi, có công đánhgiặc và hộ giá đợc bổ chức Quả cảm tớng quân tớc Phù Hng bá Vợ chính thấtsinh Nguyễn Quỳnh

Trang 17

Thứ nam Nguyễn ổn là Nguyễn Yêu vì có quân công đợc bổ chánh suất

đội hùng tài hầu ở cơ Hậu Khuông Ông chỉ có 1 ngời con gái

Đời 5: Thái tể Nhuận Quận công Nguyễn Quỳnh thi Hơng đỗ tam trờng, vì

có công đợc phong là Chính đội trởng cai quản đội thắng hữu Bên cạnh đó,

ông còn nghiên cứu viết sách Ông có 6 ngời con trai và 4 ngời con gái

Nguyễn Quỳnh là cháu 5 đời của Nam Dơng hầu Nguyễn Nhiệm, thuộcdòng thứ 2 Ngày nay, họ Nguyễn lấy thế thứ Nguyễn Quỳnh làm mốc phânbiệt chi phái

Đời 6: 6 ngời con trai của Nguyễn Quỳnh lập thành 6 chi họ Con trởng làNguyễn Huệ Năm 1733, Ông đỗ tam giáp Tiến sĩ xuất thân thứ 7 về nhà ănmừng bị cảm bệnh mất, thọ 29 tuổi Nguyễn Huệ mất sớm lại không có contrai nên chi Nguyễn Nghiễm đợc thay thế làm chi thứ nhất, chi Nguyễn Trọngthành chi thứ hai, chi Nguyễn Tín thành chi thứ ba, chi Nguyễn Sĩ thành chithứ t, chi Nguyễn Huyền thành chi thứ năm (di c ra huyện Quảng Xơng, tỉnhThanh Hoá) Nh vậy hiện nay ở Nghi Xuân có 4 chi và rất nhiều phái Từ 4 chi

ở đời thứ 6 họ Nguyễn Tiên Điền tăng nhanh về số lợng và mở rộng khônggian sinh sống khắp huyện Theo số liệu thống kê, chi Nguyễn Tín hiện nay

có khoảng 10 hộ, trong đó 7 ngời tốt nghiệp đại học Chi Nguyễn Sĩ có 8 hộ,trong đó 1 ngời đỗ đại học

Từ đây, chúng tôi đi sâu tìm hiểu chi Nguyễn Nghiễm và chi NguyễnTrọng

+ Chi thứ nhất họ Nguyễn Tiên Điền (chi Nguyễn Nghiễm)

Đời 7: Nguyễn Nghiễm có 12 con trai là Khản, Điều, Trụ, Quýnh, Trừ(Trớc), Nễ, Du, ức, Lạng, Nghi, Nhng, Soạn (Tồn) lập thành 12 phái

Phái 7A: Nguyễn Khản (1734-1785) đỗ tam giáp Tiến sĩ, hoạn lộ rộng mở,thăng chức ngày càng cao và đợc chúa yêu quý Ông có nhiều đóng góp chotriều đình và giúp đỡ nhân dân Nguyễn khản có 6 con trai và 2 con gái

Phái 7B: Nguyễn Điều (1740-1786) có 8 con trai và 1 con gái

Con trởng là Nguyễn Thiện đợc tập ấm Đại nhạc bá, thi Hơng đỗ tứ trờng,

có 6 con trai là Thốc, Tháp (đều vô tự), Thục, Thúc, Giản (đều đỗ tú tài) vàKháng Con thứ là Nguyễn Đàm tập ấm Hành nhạc bá (thờng gọi NguyễnHành), thông minh học rộng, là một trong “An Nam ngũ tuyệt” lúc bấy giờ 6ngời con khác là con vợ thiếp gồm Sử, Ngọ, Xớng, Cận, Yểu và Trị

Trang 18

Phái 7C: Nguyễn Trụ (1757-1775) đỗ tứ trờng đợc bổ Hồng Lô tự thừa.

Ông mắc bệnh mất khi mới 19 tuổi

Phái 7D: Nguyễn Quýnh (1759-1791) đỗ tam trờng, từng giữ chức quảntrấn tả đội Năm 1791, ông bị giết vì không chịu khuất Tây Sơn Ông chỉ cómột con gái

Phái 7E: Nguyễn Trừ (Trớc) (1760-1809) có 6 con trai và 2 con gái Vợchính thất sinh 2 con trai là Nguyễn Thích (làm tri phủ Nghĩa Hng-Nam Định)

và Nguyễn Đồng (có 4 con trai là Hùng, Vỹ, Năm và Tín) Vợ kế thất sinh 4con trai là Nguyễn Đại (có con là Hào), Nguyễn Trù (làm tri phủ Vĩnh Tờngsau bị cách, có 5 con trai là Bình, Đức, Dung, Đãi và Ân), Nguyễn Hồng(không có con) và Nguyễn Hiệp (có 3 con trai) Hai con gái là Thị Uyên vàThị Quyên

Phái 7G: Nguyễn Nễ (Đề) (1761-1805) có 3 con trai Giai, Lịch và Vỹ Phái 7H: Nguyễn Du (1765-1820) là ngời học rộng nhớ nhiều, có tài vănchơng thơ phú nhng học vị chỉ tam trờng Ông từng giữ một chức quan nhỏtriều Lê nhng dới triều Nguyễn đợc thăng thởng nhanh

Phái 7I: Nguyễn ức (1767-1823) có tài khéo nên thời vua Gia Long và vuaMinh Mạng đợc gọi vào kinh đô làm Thiêm sự Giám đốc bộ Công trông coiviệc xây dựng miếu điện Ông chỉ có 2 con gái

Phái 7K: Nguyễn Lạng (1768-1817) đỗ tam trờng năm 16 tuổi Ông có 1con trai là Nguyễn Truyền và 3 con gái

Phái 7L: Nguyễn Nghi (1773-1845) học giỏi hay thơ, tinh nghề y thuật,không thích làm quan Ông có 3 con trai là Tán, Lũ và Giản

Phái 7M: Nguyễn Nhng (1762-1824) vui với việc dạy học và bốc thuốc

Ông có 6 con trai là Y, Truyền (mất sớm), Hợp, Viên, Thứu (đỗ tú tài, có 2con trai là Lữ và Giá) và Tịnh (có 2 con trai là Hoành và Việt)

Phái 7N: Nguyễn Tồn (1767-1812) có 2 con trai (Hào, Duật) và 1 con gái Hiện nay ở Nghi Xuân chỉ còn 2 phái là phái trực hệ Tiến sỹ Nguyễn Khản

và phái trực hệ thi hào Nguyễn Du

Đời 8: Nguyễn Khản có 6 con trai là Chung, Tiệp, Bằng (mất sớm), Đờng,Thảng, Kệ (mất sớm) và 2 con gái Nguyễn Chung tớc Lân lĩnh bá, có 3 contrai là Tuấn, Phong và Chất Nguyễn Tiệp tớc Tiệp võ bá, thọ 29 tuổi Nguyễn

Đờng tớc Đờng xuyên bá có 1 con trai là Chế và 3 con gái Nguyễn Thảng làm

Trang 19

quan thăng từ tớc bá lên tớc hầu đến tả thị lang rồi hiệp trấn Bình Thuận Ông

có 4 con trai là Tuyên, Tiến, Hi, Cầu và 5 con gái

Phái trực hệ Nguyễn Khản tính đến nay là đời thứ 15, có khoảng 20 hộsống tản mác tại các xã Tiên Điền, Xuân Giang và Thị trấn Nghi Xuân Theothế thứ, hiện nay ông Nguyễn Mậu là tộc trởng họ Nguyễn Tiên Điền pháitrực hệ Nguyễn Khản kiêm trởng chi thứ nhất

Nguyễn Du có 12 con trai là Tứ, Ngũ, Thập, Thị, Lỡng, Thuyến, Hiệp (Sử),Hải, Miễn, Lũng, Trũ, Tiêm và 6 con gái Nguyễn Ngũ có 3 con trai là Tuấn,Cảnh và Phiến, nay không rõ con cháu còn sống hay đã mất Nguyễn Lũng có

2 con trai đi c về Lệ Thủy-Quảng Bình, hiện nay cha rõ tên các con ông.Nguyễn Thuyến có 1 con trai là Thục Nguyễn Thục có 3 con trai là An, Phụ

và Tánh (không có con trai) Nguyễn Phụ có 5 con trai đều không có con.Nguyễn An có 3 con trai là Bân (không có con), Liên và Thờng Nguyễn Liên

có 3 con trai là Thuận, Năm và Sửu thì chỉ có Nguyễn Năm có 3 con trai làPhơng, Ninh và Trờng Nguyễn Thờng cũng có 3 con trai là Hà, Hoá và Hoàthì chỉ có Nguyễn Hóa có 3 con trai là Minh, Ba (Tiến) và Sáu (Hùng) Sáucháu trai của Nguyễn Liên và Nguyễn Thờng trừ Nguyễn Ninh không có concòn lại đều có 1 con trai Con cháu phái trực hệ Nguyễn Du tính đến nay là

đời thứ 14, có khoảng 8 hộ, 13 đinh, 26 khẩu trong đó có 7 ngời đỗ đại học + Chi thứ 2 họ Nguyễn Tiên Điền (chi Nguyễn Trọng)

Đời 7: Nguyễn Trọng có 16 con trai và 6 con gái Vợ cả sinh 4 con trai làThân, Điển, Dung và Hựu; còn vợ thiếp sinh 12 ngời là Vịnh, Mật, Nhiệm,Giới, Du, Thiệu, Đồng, Bạt, Thảng, Ngạn và Trác Gia phả không chép rõ vềcác con trai và con gái của Nguyễn Trọng Riêng con trai thứ 10 có chép một

ít rằng ông đỗ tam trờng đựơc vào học ở Tú Lâm cục rồi tập ấm là Hiển cung

đại phu kiêm hội trởng văn hội bản thôn, vợ chính thất sinh 1 con trai là Trữ

và 4 con gái, vợ thứ thất sinh đợc 7 con trai thì 5 ngời mất sớm, 1 ngời không

có con, ngời còn lại là Nguyễn Đăng và 2 ngời con gái

Đời 8: Nguyễn Đăng là ngời thận trọng, chăm chỉ học tập, có mở trờng dạyhọc đợc ngời làng quý trọng Vợ chính thất sinh đợc 3 con trai là Trác, Tùng,Luân và 6 ngời con gái (1 ngời mất sớm)

Nguyễn Tùng có 2 con trai là Mai và Bá Hai ông này là đời thứ 10 kể từNam Dơng công Nguyễn Mai đỗ Tiến sỹ năm Giáp Tý (1904) Ông có 3 contrai là Hanh, Đào, Duật và 3 con gái

Trang 20

Hiện nay, chi Nguyễn Trọng là chi mạnh nhất với hơn 200 hộ sống chủ yếu

ở xã Tiên Điền, rải rác ở xã Xuân An và Xuân Giang, một bộ phận ở xã SơnTiến (Hơng Sơn) và một số tỉnh lân cận nh Thanh Hoá, Quảng Bình Chi nàyphát triển về mọi mặt, đặc biệt là nghề y, có khoảng 70 ngời tốt nghiêp đạihọc Trực hệ Nguyễn Trọng hiện nay do ông Nguyễn Thuỳ làm tộc trởng chithứ 2

Theo thống kê mới nhất, họ Nguyễn Tiên Điền hiện nay chiếm một nửadân số ở xã Tiên Điền Tổng cộng dòng họ này ở quê hơng Nghi Xuân chiếm

246 hộ, đậu đại học hơn 70 ngời Hai nhánh di c đi Thanh Hoá và Quảng Bình

đều có nhiều Tiến sỹ nhng cha thống kê đợc Trong họ có nhiều ngời đã và

đang giữ những chức vụ quan trọng trong bộ máy Nhà nớc nh ông NguyễnTuân từng là phó chủ tịch huyện những năm 70, 80; ông Nguyễn Đức Tùngtừng là phó chủ tịch huyện hai nhiệm kỳ; ông Nguyễn Phợng từng là Thiếu táquân đội, huyện đội trởng; ông Nguyễn Văn Vinh là Đại tá quân đội, chủ tịchhội cựu chiến binh huyện; ông Nguyễn Tùng là Trung tá quân đội, bí th Đảng

uỷ bệnh viện IV; ông Nguyễn Lục hiện là Trung tá công an-bộ công an; bàNguyễn Thị Hoa hiện là bí th huyện uỷ …

Trang 21

Chơng 2: Văn hoá truyền thống của dòng họ

Nguyễn Tiên Điền ở Nghi Xuân

2.1.Truyền thống khoa bảng của dòng họ Nguyễn Tiên Điền

Nhắc tới dòng họ Nguyễn Tiên Điền điều đầu tiên ngời ta không thể không

đề cập và hết lời ca ngợi là truyền thống khoa bảng Có lẽ chính vì vậy đã cónhiều sách báo cũng nh nhiều công trình nghiên cứu viết về vấn đề này nên ở

đây chúng tôi chỉ xin tôn vinh những giá trị mãi soi sáng muôn đời sau, nhữngtinh hoa của truyền thống khoa bảng dòng họ Nguyễn Tiên Điền

Nhìn lại tiến trình lịch sử đất Nghi Xuân, chúng ta thấy tình hình giáo dụckhoa cử của quê hơng thực sự rực rỡ ở thời Lê trung hng và đầu thời Nguyễn

Đây cũng chính là thời gian họ Nguyễn Tiên Điền phát triển thành một dòng

họ đại quý hiển với nhiều ngời đỗ đạt cao, làm quan lớn trong cả văn ban lẫn

võ ban, có nhiều đóng góp trên các lĩnh vực cho đất nớc cho các triều đại đợcngời đời ngõng vọng, đợc vua trọng chúa yêu

Thủy tổ dòng họ Nguyễn Tiên Điền là Nam Dơng hầu Nguyễn Nhiệm vốn

là con nhà thế gia Ông nội là Nguyễn Thiến đỗ trạng nguyên nhà Mạc, theogiúp nhà Lê làm quan tới chức Thợng Th bộ lại, ngự sử đài đô ngự sử, đôngcác học sỹ, thiệu phó th quận công Cha là Phù quận công Nguyễn Miễn, bác

là Thờng Quốc công Nguyễn Quyện Bản thân ông cũng là một tớng tài củanhà Mạc Dù ông lập nghiệp ở Tiên Điền khi thất thế nhng con cháu về sau đã

kế thừa đợc tinh hoa các thế hệ trớc và phát triển dòng họ rạng rỡ, hiển vinh,thành niềm tự hào của quê hơng, thành biểu tợng của vùng đất Nghi Xuân tơi

đẹp Dới thời quân chủ nớc ta khoa bảng dờng nh là con đờng duy nhất để vừasáng danh rạng họ muôn đời, phú quý vinh hiển, vừa có thể cống hiến tài nănggiúp dân giúp nớc Dòng họ Nguyễn Tiên Điền đã khá thành công trên con đ-ờng đó, từng bớc hình thành và phát huy mạnh mẽ truyền thống khoa bảng Ngời đầu tiên phải kể đến là Lĩnh Nam công Nguyễn Quỳnh Ông là đờithứ 5 kể từ ông tổ Nam Dơng hầu Nguyễn Nhiệm Lúc trẻ ông học để đi thi,văn chơng nổi tiếng Năm Quý Dậu (1675) ông 19 tuổi, thi Hơng đậu tam tr-ờng, đợc là nho sinh ở Tú Lâm cục Ông thông thạo thiên văn, bói toán lẫn ythuật và để lại nhiều trớc tác có giá trị Năm ất Dậu (1705) ông là mạc khách(khách quí trong nhà) của Trấn tớng Nghệ An Mỗi khi có việc ở biên thùycần đi lại biện luận, ông đợc uỷ nhiệm ra đi Đến nơi, mặc dù địch bày binhkhí để thị uy nhng ông vẫn cứ tự nhiên, đối đáp trôi chảy làm cho sứ giả bên

Trang 22

kia phải khuất phục rồi trở về Vì có công giúp việc biên chính nên ông đợc bổlàm chính đội trởng, cai quản đội Thắng hữu Mỗi khi nhàn rỗi, ông đóng cửachép sách, phân tích những chỗ huyền bí để dạy dỗ các con cho đến lúc thànhtài Sau có Trấn tớng Siêu quận công ép ông ra làm quan nhng ông nhất mực

từ chối Dù chỉ đỗ tam trờng, dù không làm quan nhng Nguyễn Quỳnh là ngời

đầu tiên trong họ đỗ đạt, là ngời đặt viên gạch đầu tiên cho nền móng truyềnthống khoa bảng dòng họ Nguyễn Tiên Điền

Con trai thứ của Nguyễn Quỳnh là Nguyễn Nghiễm “xứng đáng đợc coi làngời khai khoa và tạo dựng cơ nghiệp của họ Nguyễn Tiên Điền.” [22]

Liên quan đến sự ra đời của Nguyễn Nghiễm đã có những điềm lạ báo trớc

đây là một con ngời khác thờng Sách “Nghi Xuân huyện thông chí” (quyểnthợng) chép: “Lĩnh Nam công chiêm bao thấy mình nuốt mặt trăng vàobụng phu nhân bèn có thai, 12 tháng mới sinh ra ông Buổi chiều hôm ấy, tr-

ớc lúc sinh ông ngời ta bỗng thấy con cọp lớn xuất hiện trên bờ hồ gần nhà”

Từ nhỏ, Nguyễn Nghiễm đã có thần thái trong sáng, cơng nghị, thông minhrất mực Lúc 5 tuổi ông đã biết đọc sách, cha bao lâu đã thuộc làu kinh sử,mỗi ngày đọc và ghi nhớ mấy vạn lời Lên 8 tuổi ông bắt đầu làm văn

Năm Canh Tý (1720) ông 13 tuổi, đi sát hạch ở huyện đỗ đầu Năm QuýMão (1723) ông 16 tuổi, đi sát hạch ở tỉnh cũng đỗ đầu rồi thi hơng đỗ tứ tr-ờng Năm Giáp Thìn (1724) ông đứng đầu kì hạch tử trọng ở Quốc Tử Giám,nức tiếng kinh đô Năm Đinh Mùi (1727) ông 20 tuổi lại trúng tam trờng.Năm Tân Hợi (1731) ông thi Hội trúng cách thứ 8, đến cuối năm thi Đình thì

đỗ Hoàng giáp Buổi ấy ông mới 24 tuổi, trẻ nhất trong số những ngời đỗ khoaấy.Trong họ, ông là ngời đầu tiên đỗ đại khoa, vừa là một quan văn vừa là mộttớng võ, làm quan trải các chức: Hàn lâm viện hiệu lý, Tổng tài quốc sử quánkiêm Tế tửu quốc tử giám, Hữu thị lang bộ Lễ, Đô ngự sử, Thợng th bộ Công,Thiếu bảo, Tu đông các, thăng Thái phó, thăng Thái tể rồi Đại t không, sauthời gian trí sỹ hồi trièu đợc đổi làm Thợng th bộ Hộ Có thể nói NguyễnNghiễm quan cao một bậc đến mức khi ông mất triều đình không thể giaphong gì hơn

Con đờng khoa hoạn Nguyễn Nghiễm mở ra cho dòng họ khá hanh thông.Sau ông một khoa có anh trai ông là Nguyễn Huệ Nguyễn Huệ lúc trẻ là ngờinhanh nhẹn, có chí lớn, học sách chỉ xét đại lợc,văn chơng tơi đẹp, hoa lệ, cónhững câu làm cho ngời ta kinh ngạc Lúc 19 tuổi ông thi hơng đỗ tam trờng

Trang 23

Năm 25 tuổi ông đỗ tứ trờng, đứng thứ 3 Năm Nhâm Tý (1732) 28 tuổi ông

đỗ khoa Hoành từ, vào Phúc thí đỗ thứ t, đợc bổ làm tri huyện La Sơn Gia phả

có chép rằng ông cho việc vì đấu gạo mà phải cúi lng khom mình là xấu hổnên thờng thả thuyền đi dạo chơi, khẳng khái tự thề rằng chỉ muốn một lần đ-

ợc nhảy qua cửa rồng thì chết cũng không ân hận Năm Quý Sửu (1733) ôngthi Hội đỗ thứ 6, vào thi Đình đỗ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân thứ 7

Con trai trởng của Nguyễn Nghiễm là Nguyễn Khản là ngời nối tiếp truyềnthống đó của ông cha Năm 14 tuổi Nguyễn Khản thi Hơng đỗ tam trờng.Năm 24 tuổi ông thi Hội vào tam trờng, có lệ bổ dụng con cái quan nên quannên ông đợc nhận chức viên ngoại bộ Lại Năm Canh Thìn (1760) ông thi Hội

đợc trúng cách và vào thi Đình trúng tam giáp đồng Tiến sĩ thứ 2 Lúc đó ông

27 tuổi Theo Phạm Đình Hổ, Nguyễn Nghiễm tự tay cài hoa lên mũ cho con,

đợc ngời đơng thời xem là một “thắng sự” Lại có vị quan ngời huyện ThanhTri làm thơ mừng rằng:

“Phụ đăng khoa, tử kế đăng khoa

Thế chởng quân hành Nguyễn tớng gia”

(Cha đậu cao, con cũng đậu cao

Hai đời giữ chức trọng yếu, chỉ có nhà tớng công họ Nguyễn)

Nguyễn Khản vừa là một ngời hào hoa, có tài văn thơ vừa là vị tớng giỏi cầmquân Ông làm quan đến chức Hữu thị lang bộ Lại, Nhập thị bồi tụng sau đổisang võ ban giữ chức Lĩnh đô đốc, gia thêm chức Tham tụng kiêm trấn thủSơn Tây và Hng Hoá

Em Nguyễn Khản là Nguyễn Điều 15 tuổi thi Hơng đỗ tứ trờng Năm CanhThìn (1760) 16 tuổi ông thi Hội trúng tam trờng, đợc bổ thị nội văn chức, saulàm Lang trung bộ Lại, yhăng trấn thủ Hng Hoá-Sơn Tây rồi làm Đô đốc phủ

Trang 24

biệt ngời con thứ 6 là Nguyễn Nễ nức tiếng đơng thời với ba lần đỗ đầu Ông

từ nhỏ đã rất ham học Ông đỗ đầu kỳ khảo khóa ở Quốc Tử Giám năm 19tuổi, đỗ đầu kỳ hạch ở huyện Thọ Xơng năm 23 tuổi, sau lại đỗ đầu kỳ thi ởPhụng Thiên Bởi vậy mới có thơ mừng rằng:

“Danh kinh quốc liên tam tiệp Khoán tại gia đình hựu nhất tân”

(Nổi tiếng ở kinh đô với ba lần đỗ đầu

Nếp nhà nay lại một lần đổi mới)

Ông là ngời duy nhất trong họ làm quan dới ba triều đại: Lê trung hng, TâySơn và Nguyễn mà thời nào cũng có những đóng góp đáng kể Đến Nguyễn

Du dù chỉ đỗ tam trờng ở trờng thi Hơng Sơn Nam nhng với những đóng góptrên thi đàn dân tộc, ông đã khẳng định đợc vị trí của mình, làm rạng rỡ chogia tộc, cho quê hơng Rồi còn có Nguyễn Lạng thi Hơng đỗ tam trờng năm

16 tuổi, Nguyễn Nhng thi Hơng đỗ tứ trờng năm 21 tuổi (1783) Trớc sự biếnloạn thời thế, Nguyễn Nhng nhiều lần từ chối không chịu ra làm quan

Bên chi thứ, Nguyễn Trọng 17 tuổi thi Hơng đỗ tam trờng, 23 tuổi đỗ tứ ờng, làm quan văn đến Thừa chánh sứ Lạng Sơn rồi đổi sang võ chức:Tham

tr-đốc, Võ Huân tớng công tớc Lam khê hầu Con trai thứ 10 của Nguyễn Trọng

là Nguyễn Du thi Hơng đỗ tam trờng và đợc vào học ở Tú Lâm cục

Đời thứ 8 có Nguyễn Thiện là con trai Nguyễn Điều đỗ tứ trờng năm 21tuổi khoá thi Hơng năm Quý Mão (1783) thời Cảnh Hng, từng giữ chức Hànlâm kiểm thảo thời Tây Sơn, chuyên dịch sách ở Sùng Chính th viện tớc HoanThành bá Con Nguyễn Nhng là Nguyễn Y đỗ tú tài năm Mậu Tý (1828) vàNguyễn Hạp (Hợp) đỗ 4 khoá tú tài, thời Thiệu Trị đợc bổ huấn đạo huyện LệThuỷ (Quảng Bình) Con Nguyễn Nghi là Nguyễn Tán đỗ cử nhân thứ 6 thi h-

ơng khi 25 tuổi đến khoa Nhâm Thìn (1832) thi Hội đỗ thứ 3, thi Đình xếp thứ

7 đệ tam giáp đồng Tiến sĩ năm 29 tuổi Ông làm quan đến chức viên ngoạilang bộ Lại Đến cụ Nghè Nguyễn Mai là đời thứ 10 kể từ Nam Dơng công

Ông đỗ cử nhân năm Canh Tý (1900) và đỗ Tiến sĩ năm Giáp Thìn (1904).Lúc đầu ông không chịu xuất chính, sau ra ứng cử nghị viện dân biểu Trung

Kỳ, đợc phong Quang Lộc tự khanh

Tóm lại, thời quân chủ, họ Nguyễn Tiên Điền có một ngời đỗ Hoàng giáp,bốn ngời đỗ Tiến sĩ, đồng Tiến sĩ, phó bảng; sáu ngời đỗ tứ trờng (cử nhân);bảy ngời đỗ tam trờng (tú tài)và giữ nhiều chức vụ trọng yếu trong triều Đơng

Trang 25

thời cha, con, anh, em đồng triều, gia tộc rất hiển hách Dòng họ này thành đạtnhất là ở thời Lê trung hng, thời Tây Sơn chỉ có một vài ngời, đến nhà Nguyễnvới chính sách chiêu hiền đãi sỹ đã thu hút nhiều ngời trong họ Nguyễn Tiên

Điền ra phục vụ, con cháu lại tiếp tục tham gia khoa cử làm vẻ vang dòng họ

So với các dòng họ khác ở trong huyện có số ngời đỗ đạt cao nh họ Nguỵ ởXuân Viên, họ Đinh ở Đan Hải…, ở thời Lê trung hng, không có dòng họ nàothành danh rạng rỡ hơn họ Nguyễn với một Hoàng giáp, một Tiến sỹ, “Lỡngtriều danh tể tớng”; sang thời Nguyễn, họ Nguỵ có hai ngời đỗ đại khoa làNguỵ Khắc Tuần và Nguỵ Khắc Đản thì họ Nguyễn Tiên Điền cũng có haiTiến sỹ là Nguyễn Tán và Nguyễn Mai dù “thời vàng son” của Nguyễn tộc đãqua

Ngoài ra, trong họ cũng có nhiều ngời tài năng, đức độ nhng không thamgia thi cử cũng nh quan trờng Tiêu biểu nh Nguyễn Nghi học giỏi hay thơ nh-

ng không thích làm quan Các quan ở kinh đô có đề cử song ông từ chối Tính

ông cẩn thận, độ lợng, thờng chọn ngời giỏi giao du, các quan địa phơng xem

ông nh bậc thầy Hay nh Nguyễn Hành thông minh từ nhỏ, lớn lên không cósách nào không đọc đến, mợn sách quí ngời ta tự tay sao chép lại không biếtmệt mỏi Sau thời loạn, ông thề không ra làm quan, lấy hiểu biết rộng làmhơn

Con cháu dòng họ Nguyễn Tiên Điền trớc hết lập thân bằng chính năng lựcbản thân, bằng sự cần cù khổ học Trởng thành trong môi trờng gia giáo, đợccha ông dạy dỗ, dìu dắt, dờng nh chảy trong huyết quản mỗi ngời con họNguyễn là nguồn mạch truyền thống dòng họ, gia tộc để rồi theo thời gianhình thành nên những nhân cách những tài năng bớc tiếp con đờng các thế hệtrớc đã đặt những bớc chân đầu tiên

Bên cạnh đó, con đờng tiến thân của họ cũng có nhiều thuận lợi nhờ danh

uy của thế hệ trớc hay những quyền lợi mà con cái quan lại đợc hởng nh chế

Trang 26

là Thu nhạc bá Nguyễn ức đợc tập ấm là Sóc nhạc bá Nguyễn Lạng đợc tập

ấm là Điện nhạc bá Nguyễn Nhng đợc tập ấm là Viên nhạc bá Nguyễn Nghi

đợc tập ấm là Trung nhạc bá Nguyễn Tồn đợc tập ấm là Vinh nhạc bá Nhvậy, các con của Xuân nhạc công Nguyễn nghiễm khi cha ra ứng thí đều đã đ-

ợc tập ấm là Hoằng tín đại phu trung thành môn vệ uý tớc bá Không nhữngvậy, cháu Xuân quận công cũng đợc tập ấm nh Nguyễn Thiện tớc Đại nhạcbá, Nguyễn Đàm tớc Hành nhạc bá, Nguyễn Chung tớc Lân lĩnh bá, NguyễnTiệp tớc Tiệp võ bá, Nguyễn Đờng tớc Đờng xuyên bá Đây là một thuận lợilớn cho con cháu họ Nguyễn khi lập thân, lập công

Không những vậy, còn có những luật lệ u ái nâng đỡ con cháu các quan

đ-ơng triều nh lệ bổ dụng con các quan Nhân lệ này năm Đinh Sửu (1757),Nguyễn Khản thi Hội vào tam trờng đợc bổ chức Viên ngoại bộ Lại Mặtkhác, một khi trong họ có ngời làm quan, đặc biệt là quan lớn thì cũng tạonhững điều kiện nhất định cho con cháu khi tham gia khoa cử hay bớc vàoquan trờng cũng nh bộc lộ năng lực và chí khí

Điều đáng nói ở đây là con cháu dòng họ Nguyễn Tiên Điền đa số đã vợtlên trên danh phận đơng nhiên đợc hởng để khẳng định mạnh mẽ bản thân, đatrí tuệ và tài năng của mình ra giúp dân giúp nớc

Một nguyên nhân đặc biệt góp phần quan trọng vào sự thành đạt con cháu

họ Nguyễn là vai trò những ngời vợ, ngời mẹ, nhất là ngời vợ cả Họ là nhữngngời con dâu hiền thảo, gia giáo, đảm đang, yêu chồng thơng con

Chúng ta có thể kể đến bà Lê Thị La, con gái thứ t của Võ uý Ngọc tài bá

là vợ chính thất Bảo Lộc công Nguyễn Thể và là mẹ của Lĩnh Nam côngNguyễn Quỳnh Bà là ngời ngay thẳng, bình tĩnh, trong nhà có phép tắc Saukhi chồng mất, bà ở goá, lo làm ăn nuôi dạy con cháu, giúp đỡ dân nghèo, họhàng đều khen

Vợ chính thất Lĩnh Nam công Nguyễn Quỳnh là Phan Thị Minh, con gáilớn của Tăng Lộc Bá làm cục chính cục Ngân tợng ở xã Uy Viễn Bà thuở trẻkén chồng đến 29 tuổi mới lấy ông sinh hạ ba con trai là Nguyễn Huệ,Nguyễn Nghiễm, Nguyễn Trọng và hai con gái Bà tính nết nhân hậu, ôn hoà,cận kiệm, sửa sang việc nhà Con cái thành danh đều nhờ công của bà.Nguyễn Huệ đỗ Tiến sỹ, Nguyễn Nghiễm đỗ Hoàng giáp, giữ nhiều chức vụtrọng yếu trong triều và Nguyễn Trọng đỗ cử nhân làm đến quan tam phẩm là

sự đền đáp xứng đáng sự hi sinh của bà Năm 1735 ông mất, bà đau xót cảm

Trang 27

bệnh hai tháng sau thì mất Năm 1742 vì Nguyễn Nghiễm làm quan to nên bà

đợc phong là “T phu nhân”.Năm 1760 bà đợc gia tặng là “chính phối quậnphu nhân”

Vợ chính thất Nguyễn Nghiễm là Đặng Thị Hơng, ngời Uy Viễn, con gáithứ hai ông tri phủ Đặng Vinh Bà là ngời có sắc đẹp, tính thông minh,rất sành

về nữ công, xử lý việc nhà có phép tắc, tiếp đãi tân khách rất phong hậu, yêumến con cái, vợ thiếp nh con đẻ của mình Bà sinh hai con trai là NguyễnKhản và Nguyễn Điều Bà hai lần đợc phong là “phu nhân”, sau gia phong là

“Quận phu nhân” Sau khi chồng mất, bà rớc thầy về dạy dỗ cho con đến lúcthành ngời, trong làng trong họ đều ca tụng đức tốt của bà Khi Nguyễn Khản

và Nguyễn Điều bận quân công ở xa, Chúa đích thân đến an ủi, ban tiền bạcrất hậu Khi bà cảm bệnh, Chúa sai mang thuốc tới nhà điều trị và thờngxuyên thăm hỏi Đợc tin bà mất, Chúa ban tiền bạc, gấm đoạn, sai quân chế yphục và đồ khâm liệm, coi sóc lễ nhập quan, cấp tiền làm lễ tế Khi NguyễnKhản xin đa bà về táng ở quê, Chúa ban tên thụy là Trang Thuần, sai quanthuyền và quan binh đi đờng thuỷ đa linh cữu về Có thể nói ân điển về tang lễcha một mệnh phụ nào của bản triều đợc ban cấp hậu nh thế Năm 1783 bà đ-

ợc phong là “Ôn thục Từ Dụ Quận phu nhân”, theo lệ Trung đẳng phúc thần

Đây là một ân điển đặc biệt

Sau này nhiều ngời con dâu của dòng họ Nguyễn Tiên Điền cũng đã tiếpthu và phát huy đợc truyền thống cần cù, chịu thơng chịu khó chăm lo chochồng con ăn học thành tài, sống có tình có nghĩa với xóm làng góp phần làmrạng danh truyền thống văn hoá dòng họ

Từ cách mạng tháng Tám 1945 đến nay, con cháu đời sau đã kế thừa đợctruyền thống của ông cha, phát huy tinh thần hiếu học, không ngừng khổluyện đạt nhiều thành tích trong học tập Việc học đã trở thành bổn phận,trách nhiệm, nghĩa vụ đồng thời là niềm say mê, hớng phấn đấu Trong họ cónhiều ngời đỗ đại học: ở chi trởng Nguyễn Nghiễm phái Nguyễn Khản có nămngời, phái Nguyễn Du có bảy ngời; trong chi thứ Nguyễn Trọng có khoảngbảy mơi ngời; chi Nguyễn Tín có bảy ngời và chi Nguyễn Sỹ có một ngời Đặcbiệt có những ngời học vị cao nh giáo s tiến sĩ Nguyễn Mạnh Liên (ở phái trực

hệ Nguyễn Du đời thứ 5), thạc sĩ y học Nguyễn Nuôi ở bậc phổ thông, trong

họ cũng có nhiều em thi đỗ học sinh giỏi các cấp (tỉnh, huyện) và hàng năm

Trang 28

đạt học sinh tiên tiến xuất sắc hay tiên tiến Nhng nhìn chung các thế hệ saukhông đạt đợc thành tích rạng rỡ nh ông cha.

Theo thời gian, khi những vinh hoa phú quí đã phôi pha, khi danh vọng đãlùi vào quá khứ, cái còn sáng mãi là những giá trị truyền thống mà tiêu biểunhất ở dòng họ Nguyễn Tiên Điền là truyền thống học tập và khoa bảng đểnhân gian còn mãi lu truyền:

“Bao giờ Ngàn Hống hết câyRào Rum hết nớc, họ này hết quan.”

2.2 Dòng văn họ Nguyễn Tiên Điền:

“Xinh thay một xứ đôi Tiên Tiên Lý phát võ, Tiên Điền phát văn”

Nghiên cứu văn học sử Việt Nam vào thế kỷ XVII-XVIII, ngời ta thờng nói

đến các dòng văn nổi tiếng góp phần quan trọng làm rạng rỡ diện mạo văn hocdân tộc, trong đó không thể không kể đến dòng văn họ Nguyễn Tiên Điền nứcdanh đất Nghệ-Tĩnh

Thuỷ tổ dòng họ là Nam Dơng hầu Nguyễn Nhiệm khi về sống ở Tiên Điềncũng có viết tác phẩm “Nam Dơng tập yếu kinh nguyên” Đến NguyễnQuỳnh, ông thờng ở nhà đọc các sách thiên văn, địa lý, lịch số, sách thuốc,sách bói và nghiên cứu biên chép lại rất tinh tờng Sau lần có duyên gặp gỡ vàhọc hỏi một nhà địa lý học ngời Tàu, ông đem các điều huyền bí ấy chépthành sách gọi là “Đại hiếu chân kinh” Năm Giáp Dần (1734) khi đã 60 tuổi,

ông nghiên cứu kinh Dịch soạn ra “Dịch kinh quyết nghi” gồm 15 quyển và

“Từ ấu chân thuyên”

Đến Nguyễn Nghiễm đợc đánh giá là ngời “mở đầu cho văn nghiệp mộtdòng họ để sau đó có thành tựu của một dòng văn lớn”[22] Tác phẩm ông đểlại đợc chép rải rác trong 20 đầu sách của th viện Hán Nôm bao gồm thơ đềvịnh tặng đáp, phú, biểu tấu, bình luận (về sử, triết, thời sự), khảo cứu và cảthơ ca Nôm Tiêu biểu có các tập thơ văn bằng chữ Hán nh “Quân trung liênvịnh”, “Xuân đình tạp vịnh”, “Cổ lễ nhạc chơng thi văn” và bài phú Nôm

“Khổng Tử mộng Chu Công” “Dờng nh đó là ký sự hay nhật ký quãng đời

mà ông đã trải qua, đợc thể hiện bằng văn thơ nh bao nhiêu chính khách trung

đại đã để lại cho đời một cách hào hoa phong nhã”[17,69]

Nguyễn Nghiễm cũng “xuất hiện giữa thế kỷ XVIII nh một nhà sử học cótầm cỡ, đợc liệt vào trong số dăm bảy nhà sử học có danh tiếng nhất thời trung

Trang 29

đại của đất nớc, kể từ sau Sử Hy Nhan (thế kỷ XIV) trở đi cho đến cuối thế kỷXVIII đầu thế kỷ XIX” [17,68] Năm 1758 khi giữ chức Tổng tài Quốc sửquán, ông soạn bộ “Việt sử bị lãm” và sách “Lịch triều hiến chơng” (đã thấttruyền) thay cho bộ Quốc sử cũ quá rờm rà Bộ “Việt sử bị lãm” cũng đã thấtlạc nhng còn nhận ra một số vấn đề quan trọng của lịch sử đất nớc đợc tríchdẫn lại ở “Đại Việt sử ký tiền biên” soạn năm 1800 đời vua Cảnh Thịnh nhàTây Sơn, trong đó Nguyễn Nghiễm cùng với Lê Văn Hu, Ngô Sỹ Liên và NgôThì Sỹ là bốn nhà sử học đợc trích dẫn chính Trong “Lịch triều hiến chơngloại chí” phần “văn tịch chí”, Phan Huy Chú nhận xét bộ “Việt sử bị lãm” nhsau: “Bình luận tinh thiết, gọn đúng, đợc khen là danh bút” Những đánh giácủa Nguyễn Nghiễm về lịch sử đã góp thêm một tiếng nói đáng tin cậy vàoviệc nhìn nhận lịch sử Việt Nam và mãi sống với nền sử học chân chính nớcnhà.

Cũng qua “Lịch triều hiến chơng loại chí”, chúng ta đợc biết “Lạng Sơn

đoàn thành đồ” là tác phẩm có giá trị khảo cứu cao Chỉ với 59 trang sách,Nguyễn Nghiễm đã cho biết rất nhiều điều quan trọng và khá chi tiết Chẳnghạn: từ trấn thành Lạng Sơn đi các nơi phải qua những ải, đồn, trạm dịch nào;cách tổ chức quân đội canh phòng, trang bị súng ống, quân số ra sao, dân sốbao nhiêu và thuế má thế nào; các quy chế khi sứ bộ đi về; các thắng cảnh,suối khe, rừng núi đều đợc ghi chép tờng tận và có con số cụ thể Đây làcuốn sách cung cấp nhiều thông tin rất hữu ích khi nghiên cứu thời trung đại Còn cuốn “Nguyễn tộc gia phả” ngoài giá trị cung cấp cho ngời nghiên cứuvăn học những t liệu quý giá để khảo cứu các tác gia dòng văn Nguyễn Tiên

Điền, đối với dòng họ còn có vai trò quan trọng tạo dựng trong tâm lý concháu ý thức về gia thế dòng tộc để từ đó kích thích ý chí phấn đấu giữ gìn và

kế tục nếp nhà, đồng thời tạo cho họ lòng tin, niềm tự hào để trụ vững trongmọi hoàn cảnh

Nếu nh Nguyễn Nghiễm đã gây dựng đựơc ý thức gia phong đồng thời đặtnền móng cho dòng văn họ Nguyễn thì nối tiếp, ông Nguyễn Khản đã gợi mở

và tạo nên một số nét đặc trng Ngời ta biết rằng Nguyễn Nghiễm thiên về sửnhng Nguyễn Khản lại khác, ông thích giao du, sống hào hoa, cầm kỳ thi hoạ

đều sành, đặc biệt giỏi thơ văn quốc âm Nguyễn Khản sành âm nhạc, thíchhát xớng, thờng đặt những lời ca làn điệu mới, viết xong bài nào thì nhữngnghệ sĩ ngoài giáo phờng tranh nhau truyền tụng Ông cũng đã dịch “Chinh

Trang 30

phụ ngâm” của Đặng Trần Côn thành thơ quốc âm Nguyễn Khản cũng thíchthơ Nôm, lu giữ nhiều văn thơ Nôm của thi hữu cùng thời và bản thân ôngcũng viết văn thơ Nôm, tiểu biểu có bài “Khúc tự tình” “Có thể nói thời đóNguyễn Khản là ngời có “biệt nhãn” đối với nền văn học chữ Nôm của nớcnhà Chính điều này làm thành một nét riêng của dòng văn Tiên Điền nếu sosánh với một vài dòng văn khác nh dòng Ngô Thì ở Tả Thanh Oai và dòngNguyễn Huy ở Trờng Lu” [22] Điều đáng tiếc là năm 1783 kiêu binh nổi loạn

đã kéo đến đập phá dinh thự Nguyễn Khản có lẽ đã thiêu huỷ toàn bộ tácphẩm và sách vở ông lu giữ đợc

Sau khi Tây Sơn ra bắc, nhà nớc Lê-Trịnh sụp đổ, họ Nguyễn Tiên Điền sasút, đại gia tan tác phiêu bạt Lòng ôm trọn chữ “trung quân” theo nghĩa hẹptruyền thống là trung với một ông vua, một triều đại nhất định, đa số con cháu

họ Nguyễn Tiên Điền bất hợp tác với nhà Tây Sơn Mặc dù về sau có Nguyễn

Nễ đợc nhà Tây Sơn trọng dụng; Nguyễn ức, Nguyễn Du, Nguyễn Trứ,Nguyễn Tán, Nguyễn Hạp, Nguyễn Đảng làm quan dới thời Nguyễn nhngkhó trở lại những ngày vàng son của Nguyễn tộc Tuy vậy, văn mạch của họNguyễn Tiên Điền không bị vơi cạn theo sự thịnh suy của dòng họ

Nguyễn Nễ dới thời Tây Sơn trong hai lần đi sứ Trung Quốc có làm nhữngbài thơ ứng chế đều đợc vua Thanh khen và ban thởng, quan lại Bắc quốc mếnphục Thi phẩm của ông để lại cho đời có: “Hoa trình tiền hậu tập”, “Quế hiêngiáp ất tập”

Sự nghiệp sáng tác văn học của Nguyễn Du có số lợng lớn, đa dạng về thểloại Thuở còn ở Tiên Điền, ông viết hai bài thơ Nôm “Thác lời trai phờngnón” và “Văn tế sống hai cô gái Trờng Lu”, trong đó ghi lại một cách sinh

động dấu ấn sinh hoạt văn hoá dân gian ở một vùng quê đồng thời thể hiện sựhoà điệu tâm hồn tác giả với thiên nhiên, với con ngời

Thơ chữ Hán Nguyễn Du nh “Thanh Hiên thi tập”, “Nam Trung tạp ngâm”,

“Bắc hành tạp lục” “là những áng văn chơng nghệ thuật trác tuyệt, ẩn chứamột tiềm năng vô tận về ý nghĩa Nó mới lạ và độc đáo trong một nghìn nămthơ chữ Hán của ông cha ta đã đành, mà cũng độc đáo so với thơ chữ Hán củaTrung Quốc nữa.”[13,7] “Thanh Hiên thi tập” gồm 78 bài sáng tác trongkhoảng 1786-1804, khi Nguyễn Du ở Quỳnh Côi và những năm Nguyễn Dumới về Tiên Điền, là tâm trạng buồn chán, sầu mộng, bất lực không chỉ củathân thế mà còn trớc chế độ phong kiến suy tàn, xã hội loạn lạc và muốn xa

Trang 31

lánh đời sống ô trọc để giữ lấy cái thanh cao trong nhân cách của mình Sau

1809, những sáng tác thơ của Nguyễn Du tập hợp trong “Nam Trung tạpngâm” gồm 40 bài, cảm hứng nỗi niềm vẫn vậy nhng tâm sự u uất hơn, bế tắchơn Đến “Bắc hành tạp lục” thì đây quả là một “Thái Sơn” trong trớc tácNguyễn Du.Tác phẩm viết về Trung Quốc trong chuyến đi sứ 1813-1814 chothấy niềm tâm sự và các mối quan tâm của Nguyễn Du về thân phận con ngời,

về những buồn vui nhân thế đặt trong tơng quan cái vô cùng vô tận của thờigian không gian

Song phải đến “Truyện Kiều” thì tài năng nghệ thuật cũng nh cái tâm củaNguyễn Du mới thực sự bộc lộ đầy đủ Mặc dù là tác phẩm tái tạo, phóng tác,chuyển thể từ tiểu thuyết chơng hồi “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh TâmTài Nhân (Trung Quốc) nhng Nguyễn Du đã chuyển tải đợc điệu hồn dân tộctrong một hình thức thơ đặc sắc của dân tộc vừa sâu lắng vừa diễm lệ là thơlục bát “Về mặt t duy nghệ thuật, “Truyện Kiều” là bớc đi quá độ từ mỹ học

cổ điển phong kiến đến gần với chủ nghĩa hiện thực, có ý nghĩa kết tinh truyềnthống thơ ca của cả một dân tộc, thời đại”[8,1514]

Cháu Nguyễn Du là Nguyễn Hành là một ngời thông minh, học giỏi, có tàithơ văn, đợc các nho sĩ Bắc thành ngỡng vọng Ngời đơng thời xem Nguyễn

Du và Nguyễn Hành là hai trong “An Nam ngũ tuyệt” (năm ngời xuất sắc củanớc Nam) Tác phẩm của ông có: “Quan Hải tập”, “Minh quyên thi tập” và

“Thiên địa nhân vật th”

Trớc tác của dòng họ Nguyễn Tiên Điền còn có “Châu Trần di cảo” củaNguyễn Nghi; “Đông phủ thi tập”, “Huyền cơ đạo thuật bí th” và “Nhuận búthoa tiên” của Nguyễn Thiện

Xuất thân trong dòng họ quý tộc, trởng thành trong không khí văn chơngbác học, các thế hệ họ Nguyễn Tiên Điền đã nối tiếp và phát huy sở tr ờng vềthơ ca dân tộc, về ngôn ngữ tiếng Việt và chất văn chơng từ cha anh, đặc biệt

là từ Nguyễn Nghiễm, Nguyễn Khản Bên cạnh đó, những biến động thờicuộc, sự thịnh suy của gia tộc đã tạo nên chất trữ tình sâu đậm, sự đa dạng vềchất liệu cuộc sống thực cũng nh sự đan xen, hoà quyện giữa văn học dân gianvới văn học bác học trong các thi phẩm đa dòng văn họ Nguyễn Tiên Điềnthăng hoa

Nh vậy, không chỉ lập công lớn về chính trị, quân sự, họ Nguyễn Tiên Điềncòn có đóng góp đáng ghi nhận trên lĩnh vực văn hoá với việc khơi nguồn và

Trang 32

không ngừng nuôi dỡng, làm phong phú dòng văn dòng họ, đồng thời hìnhthành những nét riêng, xác lập một vị trí quan trọng trên văn đàn dân tộc Đặcbiệt là Nguyễn Du đã làm rạng rỡ cho mảnh đất Nghi Xuân-Hà Tĩnh để mỗikhi nhắc đến địa danh này ngời ta lại nhớ ngay rằng đây là quê hơng Đại thihào dân tộc-Danh nhân văn hoá Nguyễn Du Qua các nguồn t liệu, chúng tathấy số lợng trớc tác của dòng văn họ Nguyễn tơng đối đồ sộ và thuộc nhiềulĩnh vực nh nho học, y học,sử học; đáng tiếc là hiện nay bị mất mát và cha sutầm đợc hết.

2.3 Đền thờ, bia ký, lăng mộ.

2.3.1.Đền thờ:

Đền thờ là một di sản văn hoá vật thể vô giá của các dòng họ nói riêng vàcủa dân tộc nói chung; là một bảo tàng lịch sử, văn hoá lu giữ những sự kiệnlịch sử, nhân vật lịch sử; là chứng tích mà khi vợt qua thử thách thời gian sẽgửi đến cho ngời đời sau tiếng nói của thế hệ trớc Chính vì những giá trị đó

mà đền thờ giữ vị trí quan trọng trong văn hoá truyền thống dòng họ và dântộc

ở Nghi Xuân có nhiều đền thờ, trong đó đền thờ họ Nguyễn Tiên Điềnchiếm số lợng khá nhiều Trong “Nghi Xuân địa chí”, phần “đền miếu”, Đông

hồ Lê Văn Diễn cũng đã liệt kê tới 5 đền thờ các nhân vật họ Nguyễn Tiên

Điền gồm có:đàn tế Lĩnh Nam công Nguyễn Quỳnh, đền thờ Tiên Lĩnh hầuNguyễn Huệ, đền thờ Xuân Nhạc công Nguyễn Nghiễm, đền thờ Lam Khêhầu Nguyễn Trọng và đền thờ Điền Nhạc hầu Nguyễn Điều

Để hiểu thêm về lịch sử, văn hoá dòng họ Nguyễn Tiên Điền, chúng tôi đãtìm hiểu một số đền thờ qua khảo sát thực địa và qua nguồn t liệu ít ỏi mà chủyếu là tìm hiểu về lịch sử ngôi đền, cảnh quan và cấu trúc di tích, dấu tích các

sự kiện lịch sử, giá trị văn hoá, nghệ thuật Trong phạm vi luận văn, chúng tôixin trình bày những hiểu biết của mình về đền thờ Tiên Lĩnh hầu Nguyễn Huệ,

đền thờ Xuân Nhạc công Nguyễn Nghiễm, đền thờ Lam Khê hầu NguyễnTrọng và đền thờ Nguyễn Du

Đền thờ Tiên lĩnh hầu Nguyễn Huệ nằm ở phía đông mộ tổ họ NguyễnTiên Điền Năm 1733 ông thi đỗ Tiến sỹ mới vinh quy thì mất Trong “NghiXuân địa chí” có chép rằng: “Khi táng ông, có hai con rắn dẫn đờng Ai đi đa

Trang 33

đám cũng đều kinh hãi, không dám lại gần Khi dẫn đến huyệt, rắn mất hút,không rõ đi đâu Thôn Võ Phấn lập đền thờ Mỗi lúc có cầu đảo đều ứngnghiệm Cây cối xung quanh đền, hễ ai động đến tức khắc gặp tai nạn rủiro”[5,95] Năm 1738, em ông là Xuân Nhạc công Nguyễn Nghiễm cho dựngbia kể hành trạng của ông và việc tế tự Đền khắc câu đối sau:

“Đại danh thuỳ quốc sử

Xuân Nhạc công Nguyễn Nghiễm khi còn sống có đặt ruộng cúng và xâysẵn đền thờ Sau khi mất, ông đợc phong là Trung đẳng phúc thần, đợc quốcgia tế lễ và giao dân bốn xã phụng thờ Khi Tây Sơn ra bắc, toàn bộ dinh thất

họ Nguyễn Tiên Điền, trong đó có cả đền thờ Nguyễn Nghiễm bị đốt phá Sau

đó, Nguyễn Nễ đã xây dựng lại trên vị trí cũ

Đền thờ ông ở thôn Bảo Kệ, nay là thôn Minh Quang, xã Tiên Điền, cáchkhu di tích 300m về phía đông nam Đền cấu trúc hình chữ “nhị”, có hai toànối với nhau bằng một khoảng sân Phía bắc nay giáp trụ sở xã Tiên Điền,phía đông là cồn cát, phía nam giáp trạm điện, phía tây là Đồng Nấp Trớc

đây, hai phía trớc cửa ra vào là hai cái ao rộng và sâu

Phần ngoại thất đền thờ bao gồm: phía ngoài là một đôi voi chầu tạc bằng

đá thanh cao 1m, chiều ngang 0,8m, cạnh đó là một đôi ngựa đá cao 1m, dài1,2m, bề ngang khoảng 0,3m Voi và ngựa đều đứng trên bệ đá chầu về hớngcửa chính Tiếp đó là hai cột nanh cao lớn, rộng 0,8m, cao 5m, phía trên gắnhai nậm rợu, ghép kín bằng sứ tráng men màu ngọc bích Mặt chính diện có

đôi câu đối:

“Đơng thiên tớng nghiệp tuỳ thanh sử

Truyền thế th hơng phát bích kinh”

Ra vào đền ngoài cửa chính còn có hai cửa phụ Toàn bộ sân đền rộngkhoảng 200m2 đợc lát gạch, có một khoảng đợc ghép bằng các phiến đá to và

Ngày đăng: 19/12/2013, 15:02

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  hÇu - Lịch sử   văn hoá dòng họ nguyễn tiên điền ở nghi xuân (hà tĩnh) cuối thế kỷ XVI đến nay
ng hÇu (Trang 74)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w