1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lịch sử văn hoá dòng họ nguyễn sỹ ở thanh lương thanh chương nghệ an (từ thế kỉ XVI đến nay)

118 951 9
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lịch sử văn hoá dòng họ Nguyễn Sỹ ở Thanh Lương Thanh Chương Nghệ An (Từ thế kỷ XVI đến nay)
Tác giả Văn Nam Thắng
Người hướng dẫn PGS. Hoàng Văn Lân
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ lịch sử
Năm xuất bản 2005
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 409,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

vang; để lại một gia tài văn hóa vật thể và phi vật thể phong phú, đa dạng,mang rõ sắc thái địa phơng trong bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam.ở Nghệ An có nhiều dòng họ nổi tiếng nh họ Hồ

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh

Trang 2

Hoàn thành luận văn nh là lời cảm ơn chân thành nhất gửi tới PGS Hoàng Văn Lân vì sự hớng dẫn và giúp đỡ tận tình, chu đáo của thầy trong suốt thời gian qua Đồng thời tác giả cũng xin chân thành cảm ơn PGS-TS Nguyễn Trọng Văn, các thầy cô giáo khoa Sau Đại học, Khoa Lịch sử - Trờng Đại học Vinh đã tạo điều kiện cho tác giả trong qúa trình học tập và hỗ trợ khi tiến hành đề tài.

Qua đây cũng cho tác giả gửi lời tri ân, cảm tạ đến Hội đồng gia tộc Nguyễn Sỹ, ông Nguyễn Sỹ Hội, ông Nguyễn Sỹ Thiêm, ông Nguyễn Sỹ Mại, Thạc sỹ Nguyễn Sỹ Lan, Th viện Nghệ An, Th viện trờng Đại học Vinh, Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh, Huyện ủy Thanh Chơng, UBND xã Thanh Lơng, Thanh Khai đã cung cấp tài liệu và giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn này.

Tác giả cũng đặc biệt cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn luôn giúp đỡ, ủng hộ tác giả trong suốt những năm qua.

Trang 3

1.2 Dòng họ Nguyễn Sỹ định c ở Thanh Chơng 24

1.2.2 Sự phát triển của dòng họ Nguyễn Sỹ ở Thanh Chơng từ thế kỷ

Chơng II Những đóng góp của dòng họ Nguyễn Sỹ trong lịch sử dân tộc

Chơng III Gia phong và truyền thống dòng họ Nguyễn Sỹ Thanh Lơng

3.1 Gia phong của dòng họ Nguyễn Sỹ ở Thanh Lơng, Thanh

Trang 4

A mở đầu

1 Lý do chọn đề tài.

1.1 Văn hóa cổ truyền của dân tộc Việt Nam tồn đọng lâu dài cơ bản là ởvăn hóa làng xã và văn hóa dòng họ Trong mỗi làng cũng có ít nhất dăm ba vànhiều là vài ba chục dòng họ Dòng họ cũng là một môi trờng văn hóa gìn giữnhững phong tục, cúng tế, lễ hội… mang đậm những dấu ấn riêng của ng mang đậm những dấu ấn riêng của ngờiViệt Nam

Văn hóa Việt Nam tạo nên tính cách Việt, tâm hồn Việt do vậy Đảng vànhà nớc ta luôn xem văn hóa là một mặt trận quan trọng trong sự nghiệp xâydựng và bảo vệ tổ quốc

Vì vậy, việc nghiên cứu dòng họ có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ gìn,tôn vinh, phát huy và giáo dục các truyền thống tốt đẹp của dòng họ để độngviên các thành viên trong dòng họ tích cực xây dựng xã hội mới dới sự lãnh đạocủa Đảng vững vàng tiến bớc trong thế kỷ XXI

1.2 Dòng họ là một thực thể xã hội mang tính phổ quát của loài ngời Nóhình thành trên cơ sở huyết thống của một quần thể ngời nhất định thể hiện qua

ý niệm về một dòng dõi chung Hơn nữa nh đã nói trên dòng họ còn là một môitrờng văn hóa mang tính đặc thù Gia phong - Truyền thống của dòng họ đã trởthành một nhân tố văn hóa, hạt nhân cơ bản góp phần tạo nên truyền thống vănhóa làng xã, truyền thống địa phơng và dân tộc

ở nớc ta từng tồn tại các dòng họ văn hiến với các nhân vật kiệt xuất đãmang lại vinh quang cho cả gia tộc, dòng họ và cả quốc gia Do vậy, dòng họ

và văn hóa dòng họ còn đồng nghĩa với sự đa dạng văn hóa, bản sắc văn hóa,một nhân tố động lực thúc đẩy sự phát triển văn hóa và xã hội Việt Nam

1.3 Hiện nay một xu hớng tìm về nguồn cội đang phát triển ngày càngmạnh mẽ và đi vào chiều sâu Trong các dòng họ ở thành thị và nông thôn, ngời

ta chắp nối gia phả, trùng tu từ đờng, quy tập nghĩa trang… mang đậm những dấu ấn riêng của ng Từ đó đã khơi dậytruyền thống dân tộc, gia phong dòng họ thể hiện lòng thành kính biết ơn đốivới tổ tiên Do đó việc nghiên cứu một cách khoa học lịch sử văn hóa dòng họgóp phần "gợn đục khơi trong" củng có khối đại đoàn kết dân tộc

1.4 Nghệ An, một tỉnh ở phía Bắc Trung Bộ, địa bàn rộng, dân số đông

Là “đất cổ nớc non nhà”: từng là “phên dậu”, “biên trấn” của tổ quốc, vớitruyền thống cần cù, sáng tạo trong lao động, anh hùng, bất khuất trong chiến

đấu, nhân dân Xứ Nghệ đã cùng nhân dân cả nớc viết nên những trang sử vẻ

Trang 5

vang; để lại một gia tài văn hóa vật thể và phi vật thể phong phú, đa dạng,mang rõ sắc thái địa phơng trong bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam.

ở Nghệ An có nhiều dòng họ nổi tiếng nh họ Hồ (Quỳnh Lu), họ Đặng(Thanh Chơng), họ Nguyễn Cảnh (Đô Lơng), họ Cao (Diễn Châu)… mang đậm những dấu ấn riêng của ng Theo tàiliệu “Dân c và xã hội Nghệ An” công bố năm 1990 ở Nghệ An có 341 họ kể cảnhững họ của các dân tộc thiểu số ở miền núi

Đất nớc đang chuyển mình đi lên, việc khai thác văn hóa dòng họ, làmsống lại văn hóa các gia tộc trong di sản văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộcViệt Nam để góp phần thực hiện chiến lợc con ngời trong thế kỷ XXI, mấuchốt là làm cho nớc ta, trong đó có Nghệ An phồn vinh, trở thành một conrồng, sánh vai cùng các cờng quốc năm châu trên thế giới

1.5 Dòng họ Nguyễn Sỹ ở Thanh Lơng - Thanh Chơng - Nghệ An cónguồn gốc tổ tiên là cụ Nguyễn Sỹ Tích quê ở làng Thọ Hạc - huyện Đông Sơn

- tỉnh Thanh Hóa di c đến tổng Xuân Lâm (Thanh Chơng - Nghệ An) vào thế

kỷ XVI trong thời kỳ Lê - Mạc, Trịnh - Nguyễn phân tranh Đến nay với lịch sửhơn 400 năm đã có 15 thế hệ, con cháu của dòng họ Nguyễn Sỹ đã có mặt ởnhiều tỉnh thành trong cả nớc nhng tập trung nhất là ở Nghệ An phân bố ở cáchuyện Thanh Chơng, Đô Lơng, Anh Sơn, Thành phố Vinh… mang đậm những dấu ấn riêng của ng

Ngày 20 tháng 5 năm 1997 và ngày 28 tháng 5 năm 1998, Bộ Văn hóa vàThông tin đã ra quyết định công nhận nhà thờ họ Nguyễn Sỹ và nhà thờNguyễn Sỹ Sách (nhà thờ Can Cụ) ở làng Tú Viên, xã Thanh Lơng, huyệnThanh Chơng - tỉnh Nghệ An là hai di tích lịch sử - văn hóa quốc gia Đókhông chỉ là vinh dự lớn lao của con cháu dòng dõi họ Nguyễn Sỹ mà còn làniềm tự hào chung của nhân dân Thanh Chơng, nhân dân Nghệ An

Nghiên cứu về dòng họ Nguyễn Sỹ giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn về giatộc, cộng đồng, về mối quan hệ giữa các dòng họ Từ đó duy trì, phát huy khối

đoàn kết tạo nên sức mạnh tinh thần và vật chất to lớn để đóng góp xây dựngquê hơng ngày càng giàu đẹp Cũng từ đó mà giữ vững gia phong phát huytruyền thống tốt đẹp, đồng thời làm sáng ngời văn hóa gia tộc trong di sản vănhóa dân tộc, góp phần hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đấtnớc, đa nớc ta hiên ngang sánh vai với các cờng quốc năm châu nh mong muốncủa Bác Hồ

Với những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu “Lịch sử - văn

hoá dòng họ Nguyễn Sỹ ở Thanh Lơng - Thanh Chơng - Nghệ An (từ thế kỷ XVI đến nay)” làm đề tài luận văn Thạc sỹ của mình.

2 Lịch sử vấn đề.

Trang 6

Nghiên cứu về dòng họ là một đề tài hấp dẫn, lý thú bởi dòng họ là mộttrong những thành tố tạo nên văn hóa làng xã, tiến trình phát triển của dòng họcũng gắn liền với lịch sử dân tộc Vì vậy, việc tìm hiểu nghiên cứu về gốc tíchdòng họ, lịch sử làng xã vừa nhằm mục đích bảo tồn phát huy truyền thống vănhóa dòng họ vừa để giao lu văn hóa, phục vụ sự nghiệp cách mạng xây dựng tổquốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Do đó, hiện nay nghiên cứu về dòng họ làmột đề tài thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà nghiêncứu.

Với truyền thống uống nớc nhớ nguồn, hiện nay ở một số địa phơng đã tổchức một số cuộc hội thảo về lịch sử dòng họ với những nhân vật nổi tiếng -những ngời con u tú của dòng họ Năm 2005, nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngàysinh đồng chí Nguyễn Sỹ Sách, Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh phối hợp với Bảotàng Cách mạng Việt Nam cũng đã tổ chức một cuộc hội thảo mang tựa đề:

“Cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí Nguyễn Sỹ Sách”

Đối với dòng họ Nguyễn Sỹ ở Nghệ An nói chung và vùng đất Thanh

Ch-ơng nói riêng cũng đã có một số tác giả, tài liệu đề cập đến nhng chủ yếu làviết về địa lý tự nhiên con ngời vùng tổng Xuân Lâm (Thanh Chơng) hoặc lànhững tài liệu nói về cá nhân ngời chiến sỹ cộng sản Nguyễn Sỹ Sách chứ cha

có một tác phẩm nào nghiên cứu cụ thể về lịch sử dòng họ Nguyễn Sỹ ở Nghệ

An Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài chúng tôi có tiếp cận đợcmột số tài liệu có liên quan, tiêu biểu là các tài liệu sau đây:

Hoàng giáp Bùi Dơng Lịch trong tác phẩm “Nghệ An ký” đã khái quát về

tự nhiên, thổ nhỡng, khí chất con ngời Xứ Nghệ và có đề cập đến mảnh đấtThanh Giang (tên cũ của Thanh Chơng có từ thời Lê Sơ, đến năm 1729 chúaTrịnh Giang kiêng húy nên đổi thành Thanh Chơng)

Trong “An Tĩnh cổ lục” (Levieux An - Tinh) tác giả Hippolyte Le Bretoncũng đã có lần nói đến Tổng Xuân Lâm, Thanh Chơng, Nghệ An nơi mà dòng

họ Nguyễn Sỹ đã chọn làm nơi sinh cơ lập nghiệp Ngoài ra, tác giả cũng đã đisâu vào các xứ khác nh xứ Diễn Châu, xứ Vinh… mang đậm những dấu ấn riêng của ng nơi mà ngày nay một số chi

họ Nguyễn Sỹ đã phát triển đến

Tác giả Đào Tam Tĩnh trong “Khoa bảng Nghệ An” do Sở VHTT Nghệ

An ấn hành năm 2000 cũng có nói đến các nhà khoa bảng họ Nguyễn Sỹ nhNguyễn Sỹ Khâm, Nguyễn Sỹ Xuân, Nguyễn Sỹ Lạng, Nguyễn Sỹ Giản… mang đậm những dấu ấn riêng của ng vànhất là Phó bảng Nguyễn Sỹ ấn (1844) Tổng cộng sách đã đề cập đến 12 vịkhoa bảng của dòng họ Nguyễn Sỹ Thanh Chơng

Trong “Thanh Chơng đất và ngời” của Trần Kim Đôn, Trần Duy Ngoãn,Nguyễn Phơng Thoan, Nguyễn Minh Châu đã tái hiện lại những dấu ấn lịch sử

Trang 7

của mảnh đất con ngời Thanh Chơng Sách còn nói đến làng Tú Viên một làng

có truyền thống cách mạng và đặc biệt là cá nhân đồng chí Nguyễn Sỹ Sách.Trong “Những ngời cộng sản trên quê hơng Nghệ Tĩnh” tập I do Bannghiên cứu lịch sử Đảng, Tỉnh ủy Nghệ Tĩnh xuất bản năm 1978 đã nói về tiểu

sử và sự nghiệp cách mạng của chí sỹ Nguyễn Sỹ Sách

Ngoài những tác phẩm đã xuất bản, liên quan đến đề tài chúng tôi nghiêncứu còn có nhiều bài viết đăng trên các tạp chí, kỷ yếu hội thảo mà chúng tôi

đã tiếp cận đợc nh:

- Bài “Vài nét về văn hóa dòng họ Nguyễn Sỹ ở Nghệ An” in trong cuốn

“Văn hóa các dòng họ ở Nghệ An” do nhà xuất bản Nghệ An ấn hành năm

1997 của tác giả Nguyễn Sỹ Cẩn hậu duệ của dòng họ Nguyễn Sỹ - nguyên làgiảng viên của trờng Đại học Vinh đã đặt vấn đề về mối liên hệ giữa dòng họNguyễn Sỹ với các danh nhân nh Hàn Lâm Viện Thị Độc Sỹ Nguyễn Sỹ Cốsống ở thế kỷ XIII thời vua Trần Thánh Tông (1258 - 1278), rồi Hoàng GiápNguyễn Sỹ Nguyên làm quan Thợng Bảo Tự khanh lục cấp sự trung thời LêThánh Tông Song vẫn cha tìm ra bằng chứng khẳng định mối liên hệ dòng tộcgiữa Nguyễn Sỹ Cố, Nguyễn Sỹ Nguyên với các chi họ Nguyễn Sỹ ở Nghệ An

- Bài “Nguyễn Sỹ Xung - Vị tớng Tây Sơn sử cha biết đến” của tác giảHuy Đức đăng trên báo Tuổi trẻ chủ nhật ngày 25 tháng 01 năm 1998 đã nói rõ

về lai lịch, sự nghiệp của Trung công tiết chế Nguyễn Sỹ Xung thế hệ thứ sáucủa dòng họ Nguyễn Sỹ Thanh Lơng

- Bài “Nhà thờ họ Nguyễn Sỹ - Một di tích lịch sử cách mạng” của tác giảNguyễn Thị Quỳnh Hoa đăng trên Báo Nghệ An số tháng 1 năm 1998 đã giớithiệu và khảo tả về di tích nhà thờ họ Nguyễn Sỹ ở làng Tú Viên, xã Thanh L -

ơng

- Bài “Tình nghĩa gia đình Bác Hồ với một chi họ” của Hồ Văn Khuê đăngtrên Báo Nhân Dân số 75 (tháng 7 năm 2003) đã kể lại những kỷ niệm của cụPhó bảng Nguyễn Sinh Sắc cùng các con trong những lần ghé thăm ngời nhàPhó bảng Nguyễn Sỹ ấn ở tổng Xuân Lâm

- Bài “Về những kỷ niệm của cụ Nguyễn Sinh Sắc tại làng Tú Viên” của

ông Phan Xuân Thành đăng trên Báo Nghệ An ngày 14 tháng 5 năm 2000 cũng

đã thuật lại những chuyến lên thăm dòng tộc Nguyễn Sỹ của cụ thân sinh HồChủ tịch

- Bài “Nguyễn Sỹ Sách - Chiến sỹ cách mạng kiên cờng, ngời con u tú củaquê hơng” của Giáo s viện sỹ Nguyễn Duy Quý đã ca ngợi phẩm chất kiên c-ờng, bất khuất của đồng chí Kiếm Phong

Trang 8

- Bài “Đồng chí Nguyễn Sỹ Sách những lần xuất dơng hoạt động cáchmạng trong thời kỳ chuẩn bị thành lập đảng cộng sản Việt Nam” của Tiến sỹNguyễn Thanh Tâm công tác tại tạp chí Lịch sử Đảng đã khắc họa lại quá trình

đấu tranh khó khăn gian khổ của đồng chí Nguyễn Sỹ Sách trong những lầnhoạt động cách mạng ở nớc ngoài

- Bài “Tìm hiểu một số vấn đề về mối quan hệ dòng họ, gia đình và sựnghiệp cách mạng của đồng chí Nguyễn Sỹ Sách” của tác giả Nguyễn Sỹ Lanhậu duệ thứ 9 dòng họ Nguyễn Sỹ đã nêu lên những truyền thống tốt đẹp củadòng họ Nguyễn Sỹ Thanh Lơng và tác động của Nguyễn Sỹ Sách đối với gia

đình và dòng họ

- Bài “Mối quan hệ của đồng chí Nguyễn Sỹ Sách với bạn bè, thầy trò, gia

đình và đồng chí” của bà Trơng Quế Phơng Phó giám đốc Bảo tàng Xô ViếtNghệ Tĩnh đã nêu bật mối quan hệ gắn bó thủy chung của đồng chí Nguyễn SỹSách đối với dòng tộc, bạn hữu… mang đậm những dấu ấn riêng của ng

- Bài “Tình cảm của cụ Nguyễn Sinh Sắc, cụ Phan Bội Châu đối với gia

đình đồng chí Nguyễn Sỹ Sách” của Giám đốc Bảo tàng Xô Viết Nghệ TĩnhPhan Xuân Thành đã gợi lại những tình cảm chân thành, mộc mạc, thân thiếtgiữa cụ Sắc, cụ Phan đối với gia đình Sỹ Sách

- Bài “Trờng tiểu học Pháp Việt, nơi khẳng định quyết tâm đi theo con ờng cách mạng của Nguyễn Sỹ Sách” của Thạc sỹ Trần Quang Trung, Phó banTuyên Giáo Tỉnh ủy Hà Tĩnh đã khái quát lại quá trình xây dựng và phát triển

đ-tổ chức của đồng chí Kiếm Phong ở trờng tiểu học Pháp - Việt thị xã Hà Tĩnh

- Bài “Báo Thân ái viết về sự hy sinh của đồng chí Nguyễn Sỹ Sách” củatác giả Triệu Văn Hiển - Bảo tàng Cách mạng Việt Nam đã kể lại quá trìnhnhững nhà cách mạng Việt Nam hoạt động ở Thái Lan đã xuất bản Báo Thân

ái để tập hợp lực lợng và tuyên truyền cách mạng trong Việt kiều ở Thái Lannhất là trớc sự hy sinh anh dũng của đồng chí Nguyễn Sỹ Sách

- “Nguyễn Sỹ Sách cuộc đời và sự nghiệp cách mạng” Bài đề dẫn tọa đàmkhoa học kỷ niệm 100 năm ngày sinh Nguyễn Sỹ Sách đã đề cập đến truyềnthống quê hơng, cuộc đời, sự nghiệp và việc gìn giữ, phát huy những giá trị về

di sản văn hóa Nguyễn Sỹ Sách để lại

- Bài “Mấy suy nghĩ bớc đầu về việc tôn tạo phát huy giá trị di tích nhàthờ họ Nguyễn Sỹ và nhà thờ Nguyễn Sỹ Sách” của ông Phan Văn Hùng đã đa

ra những phơng án nhằm giáo dục truyền thống và phát huy tác dụng di tíchquan trọng này

- Tổng kết tọa đàm khoa học “Nguyễn Sỹ Sách cuộc đời và sự nghiệp cáchmạng” của Tạ Thanh Hà đã nói về quá trình chuyển hóa từ một tri thức yêu nớc

Trang 9

Nguyễn Sỹ Sách trở thành chiến sỹ cách mạng tích cực trong cuộc đấu tranhchống lại sự bất công, với khát vọng độc lập cho dân tộc, bình đẳng cho nhândân và vai trò của đồng chí đối với phong trào cách mạng ở Nghệ Tĩnh vàTrung kỳ.

- Những tài liệu của mật thám Pháp về đồng chí Nguyễn Sỹ Sách hiện lugiữ và trng bày tại Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh đã phản ánh những hoạt độngtrong nớc, ở nớc ngoài của A7255 (Bí số mật thám Pháp đặt cho Nguyễn SỹSách) và kể cả khi đồng chí đã ở trong nhà lao của thực dân Pháp

- Bản án Viện cơ mật tuyên bố kết tội các Đảng viên Việt Nam Cáchmạng Thanh niên Đảng của Tòa án Nam năm 1929 - Bản chép tay hiện lu giữtại th viện Nghệ An (NA381) Trong bản án này đã kết tội 45 ngời trong đóNguyễn Sỹ Sách bị kết án khổ sai chung thân bị đày đi Lao Bảo và thu hồithiêu hủy những bằng sắc mà triều đình đã ban cho

- Cuốn “Nghệ An những tấm gơng cộng sản” của nhà xuất bản Nghệ Annăm 1998 đã dành gần 20 trang để viết về đồng chí Nguyễn Sỹ Sách

- Phổ tộc họ Nguyễn Sỹ bản chữ Hán và bản quốc ngữ do giáo s HoàngNghĩa Quán dịch năm 1996

- Hồ sơ di tích nhà thờ họ Nguyễn Sỹ của Bảo tàng Cách mạng Việt Nam

Về cơ bản, những bài viết hồ sơ trên đều ít nhiều đề cập đến một số vấn đề

về truyền thống của dòng họ Nguyễn Sỹ, đặc biệt là đóng góp của dòng tộcNguyễn Sỹ trong thời kỳ trớc và sau khi có Đảng Nhìn chung, các bài viết đócòn mang tính khái quát, riêng lẻ hoặc chỉ tập trung vào một cá nhân (Nguyễn

Sỹ Sách hậu duệ thứ 10) chứ cha đi sâu nghiên cứu tổng thể quá trình phát triểndòng họ và những đóng góp của dòng họ Nguyễn Sỹ đối với tiến trình pháttriển của cách mạng nớc nhà

Từ thực tế đó đã thôi thúc chúng tôi đi sâu nghiên cứu một cách có hệthống và toàn diện hơn về dòng họ Nguyễn Sỹ để góp phần giữ gìn và pháttriển văn hóa dân tộc

3 Phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ khoa học của đề tài.

Trang 10

3.2 Nhiệm vụ khoa học.

- Khái quát các điều kiện tự nhiên - lịch sử của Nghệ An và các huyệnThanh Chơng, Đô Lơng, Anh Sơn và nhất là vùng đất thuộc tổng Xuân Lâm xa

- Tìm hiểu nguồn gốc họ Nguyễn Sỹ ở Thanh Lơng, Thanh Chơng, NghệAn

Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của dòng họ Nguyễn Sỹ ởThanh Lơng từ đầu thế kỷ XVI đến nay

4 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu.

4.1.2 Tài liệu nghiên cứu.

Các loại tài liệu nghiên cứu mà chúng tôi tham khảo đợc đó là các tài liệunghiên cứu lịch sử, văn hóa cụ thể nh Nghệ An ký của Bùi Dơng Lịch, An Tĩnh

cổ lục của Hippolyte Le Breton, Lê Quý Dật Sử bản dịch của Viện Hán nôm,Lịch sử Việt Nam của Đào Duy Anh, Thanh Chơng đất và ngời của Trần Kim

Đôn, Trần Duy Ngoãn… mang đậm những dấu ấn riêng của ng

4.1.3 Các tài liệu khác.

Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng các tài liệu khác nh: Từ điển các nhân vậtLịch sử Việt Nam của Nguyễn Quyết Thắng và Nguyễn Bá Thế, Danh nhânNghệ An của nhà xuất bản Nghệ An năm 1998, Việt Nam những sự kiện lịch

sử của Viện sử học, Lịch sử văn hóa dòng họ Nguyễn Cảnh ở Nghệ An từ thế

kỷ XV đến nay của Thạc sỹ Nguyễn Thị Xuân Hoa (luận văn tốt nghiệp năm2000)

Trang 11

Chúng tôi còn khai thác các tài liệu kỷ yếu hội thảo khoa học, một số tàiliệu chép tay, một số báo, tạp chí có liên quan nh: Kỷ yếu Hội thảo khoa học

“Văn hóa các tỉnh Bắc Trung Bộ” năm 1997, Kỷ yếu hội thảo khoa học “Vănhóa các dòng họ Nghệ An” in năm 1997, các bài tham luận tham dự hội thảokhoa học: “Cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí Nguyễn Sỹ Sách” Đặc biệtchúng tôi tiếp cận đợc bản án của Viện cơ mật, Bản án của tòa án Nam bảnchép tay do Phạm Mạnh Phan dịch hiện đang lu tại th viện Nghệ An Một sốbài của các tác giả trong cả nớc đăng trên các Báo Nghệ An số tháng 1 năm

1996 và tháng 5 năm 2000, Báo Tuổi trẻ số ra ngày 25 tháng 1 năm 1998, BáoNhân Dân số 75… mang đậm những dấu ấn riêng của ng

4.1.4 Tài liệu điền dã.

Để bổ sung t liệu cho đề tài chúng tôi còn tìm hiểu, khảo cứu, đi thực tếtại nhà thờ họ Nguyễn Sỹ và nhà thờ Nguyễn Sỹ Sách ở Thanh Lơng - ThanhChơng, nhà thờ họ Nguyễn Sỹ ở Liên Sơn, Đô Lơng, nhà thờ họ Nguyễn Sỹ ởHng Dũng (Vinh), nhà văn bia dựng ở nhà thánh thôn Yên Dũng Thợng

Đồng thời chúng tôi đã gặp gỡ trao đổi với các cụ bô lão của dòng họNguyễn Sỹ, tộc trởng Nguyễn Sỹ Hội, cụ Nguyễn Sỹ Mại (Tú Viên - Thanh L-

ơng), cụ Nguyễn Sỹ Lan (Hng Bình - Vinh)… mang đậm những dấu ấn riêng của ng

4.2 Phơng pháp nghiên cứu.

4.2.1 Su tầm t liệu.

Để phục vụ cho việc thực hiện đề tài chúng tôi đã su tầm tích lũy, saochép t liệu ở Th viện Quốc gia, Viện Hán Nôm, Bảo tàng Quân Đội, Bảo tàngCách mạng, Bảo tàng Tổng hợp Nghệ An, Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh… mang đậm những dấu ấn riêng của ngSao chép hoành phi, câu đối, gia phả, sắc phong, đạo dụ ở nhà thờ Nguyễn

Sỹ, rập chép bia ký ở Hng Dũng, nghiên cứu thực địa tại các nhà thờ, lăng mộ ởThanh Chơng, Anh Sơn, Đô Lơng, Vinh… mang đậm những dấu ấn riêng của ng

4.2.2 Xử lý t liệu.

Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã vận dụng phơng pháp duy vậtbiện chứng, phơng pháp lịch sử, phơng pháp lôgíc trình bày quá trình hìnhthành, phát triển của dòng họ theo thời gian diễn biến của lịch sử So sánh, đốichiếu bia ký, gia phải với chính sử, từ đó phân tích đánh giá nêu lên mối quan

hệ chặt chẽ, tác động hai chiều với dòng họ Nguyễn Sỹ với quê hơng đất nớc

5 Đóng góp khoa học của đề tài.

- Với sự nỗ lực cao nhất của tác giả, luận văn sẽ cung cấp cho độc giả bứctranh toàn cảnh về quá trình hình thành phát triển của dòng họ Nguyễn Sỹ ởThanh Chơng, giúp cho ngời đọc hiểu rõ hơn về một dòng họ đã có hơn 400

Trang 12

năm lịch sử với 15 đời con cháu Qua đó giáo dục t tởng hớng về cội nguồn,phát huy những truyền thống quý báu của gia đình và dòng họ

- Tìm hiểu một số nhân vật tiêu biểu của dòng họ Nguyễn Sỹ cùng một số

sự kiện lịch sử mà chính sử còn bỏ sót hoặc còn sơ sài, nhất là Tráng tiết tớngquân Nguyễn Sỹ Xung và những công trạng hiển hách của ông

- Hoàn thành đề tài nghiên cứu là đã góp phần nhỏ làm giàu thêm nguồn tliệu, phong phú hơn bộ sử địa phơng

Trong thời kỳ mới khi đất nớc đang có những chuyển biến tốt đẹp trongcông cuộc công nghịêp hóa, hiện đại hóa thì xu hớng tìm về nguồn cội, khơidậy truyền thống dòng họ, truyền thống quê hơng trở thành nhu cầu ngày cànglớn để giữ gìn bản sắc văn hóa dòng họ, văn hóa dân tộc Đề tài đã góp phầnphát huy truyền thống tốt đẹp để xây dựng con ngời Việt Nam mới, xây dựnggia đình văn hóa, dòng họ văn hiến, làng văn hóa

Đồng thời luận văn cũng góp phần vào việc gìn giữ, bảo tồn, phát huy disản văn hóa dòng họ, văn hóa làng xã, góp phần xây dựng nớc Việt Nam ngàycàng phồn vinh thịnh vợng

6 Bố cục của đề tài.

Luận văn đợc chia làm 3 chơng ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục,phần nội dung đợc chia nh sau:

Chơng 1: Thanh Chơng mảnh đất an c và phát triển của dòng họ NguyễnSỹ

Chơng 2: Những đóng góp của dòng họ Nguyễn Sỹ trong lịch sử dân tộcChơng 3: Gia phong và truyền thống văn hóa của dòng họ Nguyễn Sỹ

B Nội dung Chơng 1:

Thanh Chơng vùng đất an c và phát triển

Của dòng họ Nguyễn Sỹ.

1.1 Thanh Chơng - vùng đất, con ngời.

1.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên.

Vị trí địa lý:

Trang 13

Thanh Chơng là huyện miền núi thấp vùng Tây Nam của tỉnh Nghệ An.Tọa độ địa lý là 18034’ - 18055’ vĩ Bắc, 104055’ - 105030’ kinh Đông Diện tíchcủa huyện hiện nay là 1127,63 km2 xếp thứ 5 trong 19 huyện, thành phố, thị xã,trong tỉnh Năm 2000 tổng dân số của cả huyện là 228.630 ngời, năm 2005 là230.811 ngời.

Phía Đông giáp huyện Nam Đàn, Phía Nam giáp huyện Hơng Sơn tỉnh HàTĩnh, Phía Tây giáp huyện Anh Sơn và tỉnh Bôlykhămxay nớc CHDCND Lào,Phía Bắc giáp 2 huyện Đô Lơng và Anh Sơn

Trung tâm của huyện Thanh Chơng là thị trấn Dùng (còn gọi là thị trấnThanh Chơng) cách thành phố Vinh 45 km Huyện Thanh Chơng thuộc lu vựcSông Lam, Sông Giăng và Sông Gang (Rào Gang), có quốc lộ 15, 46 và đờng

Hồ Chí Minh chạy qua, có cửa khẩu Thanh Thủy - Nậm On nối Nghệ An vớiBôlykhămxay (Lào) {14,387}

Địa hình, khí hậu:

Huyện Thanh Chơng có địa hình phức tạp và bị chia cắt mạnh bởi sông vànúi, dốc dần từ Tây Nam sang Đông Bắc

Núi đồi Thanh Chơng điệp trùng, nhiều tầng, nhiều lớp, rừng sâu, núi cao,

đồi thấp Ngoài dãy Giăng Màn độ cao 1000m còn có các đỉnh cao khác nh ĐạiCan, Tháp Bút, Hoằng Bảng, Phan Sơn Đồi núi phía hữu ngạn sông Lam sắpxếp xen xẽ, có dãy chạy ngang, có dãy chạy sát bờ sông, cắt xẻ địa hình ThanhChơng ra nhiều mảng, tạo thành những cách đồng nhỏ hẹp Đồi núi phía tảngạn chỗ thấp chùng, chỗ rời rạc, nỗi liền với dãy Đại Huệ làm thành cáchcung gần khép kín ôm lấy đồng bằng tơng đối bằng phẳng

Sông núi Thanh Chơng hiểm trở Bất cứ thời nào, ở đây cũng đợc coi làvùng chiến lợc quan trọng Do đó ngời xa đã đánh giá địa thế Thanh Chơng lànơi “Tứ Tắc” tức là ngăn lấp cả 4 mặt và hình thế Thanh Chơng đợc coi là nơi

đẹp nhất ở xứ Hữu Kỳ (từ Thanh Hóa đến Quảng Trị) Địa thế hiểm yếu, địahình phức tạp rất có lợi về mặt quân sự song lại tạo ra rất nhiều khó khăn đốivới sản xuất nông nghiệp và đời sống dân sinh

Về khí hậu, Thanh Chơng nằm trong vùng nhiệt đới ẩm gió mùa, nóng ẩmquanh năm, phần nào có lợi cho sản xuất nông lâm nghiệp Song do địa hìnhphức tạp, lợng ma phân bố không đều nên hạn hán, úng lụt là mối đe dọa thờngxuyên đối với sản xuất và cuộc sống của con ngời ở đây {14,388}

Hình thành địa danh:

Thời nhà Minh xâm chiếm nớc ta (1414 - 1427) chúng hoạch định vùng

đất bên Hữu Ngạn Sông Lam kể từ bờ Nam Sông Giăng (giáp Con Cuông ngàynay) kéo dài xuống giáp Đức Thọ (Hà Tĩnh) làm thành một huyện gọi là Thổ

Trang 14

Du Cuộc kháng chiến của Lê Lợi thắng lợi, nhà Lê đã đổi tên huyện Thổ Duthành huyện Thanh Giang, nhng địa giới vẫn giữ nguyên nh cũ (Thanh Giang

có nghĩa là dòng sông xanh trong, chỉ vùng đất thuộc lu vực Sông Lam)

Đến năm 1729, Trịnh Giang lên nối ngôi chúa Trịnh vì kiêng “húy” nên

đã thay chữ “Giang” thành chữ “Chơng” và tên huyện Thanh Chơng bắt đầu có

từ đó Tuy rằng địa danh thay đổi nhng địa giới vẫn giữ nguyên cho đến đầunhà Nguyễn

Đến năm 1831, Vua Minh Mệnh cắt tổng Đặng Sơn phía trên của huyệnThanh Chơng để lập huyện Lơng Sơn thì địa giới Thanh Chơng chỉ còn từ tổngCát Ngạn trở xuống

Năm 1907 đời vua Duy Tân, tổng Nam Kim phía cuối Thanh Chơng đợcchuyển sang cho Nam Đàn, còn Thanh Chơng đợc sát nhập dải đất từ ThanhKhai đến Thanh Hng ngày nay Địa giới Thanh Chơng ổn định từ đó cho đếnbây giờ, hiện nay toàn huyện có 38 xã và một thị trấn

là mốc son đỏ thắm mở đầu cho trang lịch sử hào hùng của cộng đồng dân ctrên đất Thanh Chơng Từ đó về sau, thời nào Thanh Chơng cũng có một vị trínhất định trong lịch sử quê hơng, đất nớc

Qua hàng vạn năm khai sơn, phá thạch, chống chọi với thiên tai, thú dữ vàgiặc giã, c dân bản địa ngày càng đông đúc và tiếp nhận nhiều nguồn dân c từcác nơi khác về khai khẩn đất hoang lập thêm làng xã Qua các triều đại, cộng

đồng dân c ở Thanh Chơng đã định c hầu khắp các vùng trong huyện

Hồi thế kỷ thứ X, vùng Cát Ngạn đã là trụ sở của tỉnh khi Nguyễn CôngTrứ vào làm tri châu ở Nghệ An, Thanh Chơng với thành Bình Ngô thời chốngMinh đã góp phần đánh thắng quân xâm lợc, là một trong những nơi “đứngchân” của nghĩa quân Lê Lợi giúp khởi nghĩa Lam Sơn thành công và lập nêntriều Lê của nớc Đại Việt độc lập Và chính Triều Lê đã đặt ra địa danh “ThanhChơng”, và từ đó Thanh Chơng có một cơng vực rõ ràng trong trọng trấn Nghệ

An {14,390}

Trang 15

Sang thế kỷ XVIII, trong thời vua Lê - Chúa Trịnh Thanh Chơng là một

cứ điểm của nghĩa quân Quận He Nguyễn Hữu Cầu Dới lá cờ “Đông ĐạoTống Quốc Bảo Dân Đại Tớng Quân” và khẩu hiệu “lấy của nhà giàu chia chongời nghèo” quận He đã nhận đợc sự ủng hộ tích cực của nhân dân Thanh Ch-

ơng nói riêng và của nhân dân Nghệ An nói chung

Cũng trong thế kỷ XVIII, Thanh Chơng cũng là một trong những nơi đóngquân của nghĩa quân Lê Duy Mật với đồn Hoa Quân ở xã Thanh Hơng Trongkhoảng gần 10 năm (1758 - 1768) nhân dân Thanh Chơng đã góp phần giúpcho nghĩa quân của Lê Duy Mật ngày càng lớn mạnh

Mùa xuân năm 1789, trên đờng hành quân ra Bắc vua Quang Trung dừngchân ở Nghệ An để tuyển thêm binh lính Chỉ trong vòng 10 ngày, QuangTrung đã chiêu tập đợc tới 5 vạn quân trong đó nhân dân Thanh Chơng đã cungứng một số lợng đáng kể ngời và của Góp phần vào thắng lợi vang dội trongcuộc hành quân thần tốc của nghĩa quân Tây Sơn

Một cuộc dấy quân của Trần Tấn năm 1874, một căn cứ Bồ L thời hậuCần Vơng của Đội Huyên - Đội Phấn, một cuộc khởi nghĩa của Đội Cung dấylên từ đất Rạng… mang đậm những dấu ấn riêng của ng mảnh đất Thanh Chơng đã không bao giờ chịu khoanh tay đểcho quân thù giày xéo

Trong phong trào yêu nớc và cách mạng của Thanh Chơng, đặc biệt từ khi

có Đảng cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo, ngày 1 tháng 5 năm 1930 nhândân Hạnh Lâm nổi dậy phá đồn điền ký viện Ngày 1 tháng 9 năm 1930, nhândân Thanh Chơng vùng lên đập tan chính quyền thực dân phong kiến, thành lậpchính quyền Xô Viết đã trở thành một trong những trang vàng chói lọi nhất

“Thanh Chơng - Xô Viết bình minh đỏ” mãi là niềm tự hào của nhân dânThanh Chơng

Trải qua hàng ngàn năm lịch sử của Thanh Chơng đối mặt với thiên taikhắc nghiệt, nhân dân đã đoàn kết, gắn bó, cần cù, tiết kiệm Đối với áp bức, c-ờng quyền, nhân dân đã dũng cảm, mu lợc, sẵn sàng xả thân vì nghĩa lớn.Không cam chịu nghèo hèn, nhân dân đã năng động, sáng tạo, khổ học, luyệntài Ngay thẳng mà nhân hậu, quyết liệt mà thủy chung, dũng cảm mà mu lợc,nhân dân Thanh Chơng đã làm nên lịch sử Nhiều tên làng, tên núi, tên sông,nhiều con ngời u tú, dũng liệt của Thanh Chơng mãi mãi đi vào sử sách Đó làNguyễn Sỹ Sách, Đặng Nguyên Cẩn, Đặng Thúc Hứa, Nguyễn Cân, Tôn QuangPhiệt, Tôn Gia Chung, Tôn Thị Quế, Võ Thúc Đồng, Lê Nam Thắng… mang đậm những dấu ấn riêng của ng và biếtbao nhiêu ngời con đã ngã xuống vì sự bình an của mảnh đất này

1.1.3 Một sống dòng họ lớn ở Thanh Chơng.

ở Việt Nam theo công bố của P.Gouron năm 1930 chỉ riêng đồng bằngBắc Bộ có 202 họ Dã Lam Nguyễn Đức Dụ trong cuốn “Gia phả - khảo luận và

Trang 16

thực hành” của ông ớc tính nớc ta có khoảng 300 họ Gần đây, Giáo s Vũ Mạnh

Hà cung cấp con số 191 họ, chắc chắn còn phải nghiên cứu thêm… mang đậm những dấu ấn riêng của ng

Còn ở Nghệ An, theo tài liệu “Dân c và xã hội Nghệ An” công bố năm

1990 toàn tỉnh có 341 họ, kể cả những họ của các đồng bào dân tộc thiểu số ởmiền núi Riêng ở Thanh Chơng chúng tôi cha tìm thấy một tài liệu, công trìnhnghiên cứu nào thống kê số liệu về các dòng họ

Các dòng họ ở Thanh Chơng nói riêng và ở Nghệ An nói chung, có họ bản

địa, có họ từ ngoài họ lại từ Bắc quốc tới… mang đậm những dấu ấn riêng của ng Dù dòng họ ấy ở đâu, vốn ở ThanhChơng hay chuyển c đến Thanh Chơng vào thời gian nào với lý do gì, giờ đây

họ đều là ngời cộng đồng trên đất Nghệ An Họ đã định c trên đất Nghệ An vàtrong quá trình lịch sử các dòng họ ấy đã chung lng đấu cật với ngời bản địa,cùng cải tạo tự nhiên, chống thú dữ, khai thác đất đai lập nên những xóm làngtrù mật

Trên mảnh đất Thanh Chơng ngoài dòng họ Nguyễn Sỹ mà chúng tôi chọnlàm đề tài nghiên cứu còn nhiều dòng họ lớn nhất nổi tiếng, song trong khuônkhổ hạn hẹp của luận văn này chúng tôi xin chỉ giới thiệu khái quát về một sốdòng họ sau: họ Tôn ở Võ Liệt, họ Đặng ở Lơng Điền, họ Trần Hng ở BíchTriều

Họ Tôn (Võ Liệt):

Họ Tôn ở Võ Liệt, Thanh Chơng có nguồn gốc xuất phát từ dòng họ Tôn ởxã Yên Hồ, huyện Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh, chuyển c sang Nghệ An khoảng vàothế kỷ XVII - XVIII Đầu thế kỷ XVIII họ Tôn ở Võ Liệt hiện đã phát triểnthành một dòng họ lớn với nhiều chi họ lớn nhỏ sinh sống ở nhiều tỉnh thànhtrong cả nớc nh ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Vinh, Lâm Đồng, thậm chímột số ít ở nớc ngoài

Dòng họ Tôn có truyền thống văn hóa quý báu đáng phát huy, truyềnthống đó bắt đầu từ nhân vật cụ Lỗ Xuyên, tên thật là Tôn Đức Tiến (1794 -1877) thế hệ thứ 8 của dòng họ Tôn ở Võ Liệt Cụ Lỗ Xuyên có 5 ngời con traithì 4 ngời đỗ Hơng tiến, một ngời đã đỗ Tú tài, các con của cụ làm đến cácchức vụ nh Huấn đạo, Viên ngoại bang, Tu soạn… mang đậm những dấu ấn riêng của ng Sách “Đại Nam liệt truyện”

đời Nguyễn có viết về cụ Tôn Đức Tiến nh sau:

“Tôn Đức Tiến, hiệu là Lỗ Xuyên ngời huyện Thanh Chơng, tỉnh Nghệ

An mấy lần thi đỗ Tú tài, ở nhà dạy học, yên phận nghèo nàn, kiệm ớc, chỉchăm chắm về việc đảm bảo hậu học về các kinh sử, ch tử, bách gia cho đếncửu lu không sách gì không nghiên cứu tinh vi… mang đậm những dấu ấn riêng của ng Văn học sâu rộng học tròhiển đạt có mấy trăm ngời… mang đậm những dấu ấn riêng của ng”

Trang 17

Con cháu của dòng họ Tôn sau này cũng có nhiều ngời tiếp nối đợc truyềnthống vẻ vang của dòng họ trong những hoàn cảnh lịch sử mới, tiểu biểu nh

ông Tôn Quang Phiệt, bà Tôn Thị Quế, Tôn Gia Huyên, Tôn Quang Duyệt, TônGia Chung, Tôn Gia Tinh… mang đậm những dấu ấn riêng của ng

Họ Đặng: (Lơng Điền, Thanh Xuân)

Theo gia phả họ Đặng ở Lơng Điền thì nguồn gốc của dòng họ này từ làngHoàn Hậu, huyện Quỳnh Lu di c vào đây khai phá rừng hoang, sinh cơ lậpnghiệp, tính từ cụ thủy tổ Điền trung hầu đến Đặng Thai Mai là đời thứ 10, trảiqua trên 200 năm

Dòng họ Đặng Lơng Điền đợc sử sách biết đến nhiều kể từ khi cụ ĐặngThai Giai, còn gọi là Thai Hài (ông nội của Giáo s Đặng Thai Mai) đậu Cửnhân thời Tự Đức làm Huấn đạo tỉnh Quảng Trị rồi tri huyện Yên Định, ThanhHóa Khi Pháp xâm chiếm các tỉnh phía Bắc xứ Trung Kỳ ông phản đối thái độmột số quan lại đầu hàng giặc nên treo ấn từ quan về quê Hởng ứng lời kêu gọicủa Vua Hàm Nghi ông tham gia phong trào Cần Vơng và đã cộng tác tích cựcvới Đề Thắng, cung cấp lơng thảo cho nghĩa quân nên bị Pháp bắt giam đến khi

ông sắp chết mới thả Vợ cụ Đặng Thai Giai là Bà Đinh Thị Hoan là con gáiquan Ngự sử Đinh Nho Điển - ngời đã uống thuốc độc tự tử ở Huế khi kinhthành bị giặc Pháp chiếm năm 1884 Bà Hoan là ngời ảnh hởng rất lớn đến t t-ởng yêu nớc của các con, khi Đặng Thúc Hứa từ biệt mẹ đi hoạt động cáchmạng, bà dặn: “Con cứ đi đi! Khi nào lấy đợc nớc mới về với mẹ Chừng nàocha làm đợc việc đó thì đừng có quay về mà nhục nghe con” Gia đình cụ ĐặngThai Giai có 4 ngời con đều tích cực tham gia vào phong trào cách mạng là

Đặng Nguyên Cẩn, Đặng Thúc Hứa, Đặng Quý Hối và Đặng Thị Quỳnh Anh

Cụ Đặng Nguyên Cẩn (tức Thai Nhẫn, cụ thân sinh Giáo s Đặng ThaiMai) đậu Phó bảng năm 1895 đợc cử làm Giáo thụ Hng Nguyên, rồi Đốc họcNghệ An, Đốc học Bình Thuận Năm 1907 cùng Ngô Đức Kế lập “Tiêu DơngTơng Quán” ở Vinh Năm 1908, Thực dân Pháp khủng bố Duy Tân hội, TiêuDơng bị đóng cửa, Đặng Nguyên Cẩn bị đày đi Côn Đảo đến 1921 mới đợc thả,một năm sau thì mất

Về nghiên cứu khoa học: Giáo s Đặng Thai Mai (1902 - 1984) hậu duệthứ 10 của dòng họ Đặng đợc coi là ngời đạt diện xuất sắc nhất, sự hội tụ trongmột con ngời ba nền văn minh Ông đã đợc nhà nớc trao tặng giải thởng HồChí Minh cho những thành tựu trong lĩnh vực nghiên cứu văn học

Gia đình Giáo s Đặng Thai Mai có 6 ngời con đều là Giáo s, Tiến sỹ:

Đặng Bích Hà, Đặng Thị Hạnh, Đặng Thanh Lê, Đặng Anh Đào, Đặng ThaiHoàng, Đặng Xuyến Nh và có 3 ngời con rể đều mang hàm cấp tớng trong

Trang 18

Quân đội nhân dân Việt Nam là Võ Nguyên Giáp, Phạm Hồng Sơn, PhạmHồng C.

Trải qua gần 300 năm với 13 đời con cháu, dòng họ Đặng Lơng Điền đã

và đang đóng góp rất nhiều trong công việc đấu tranh, xây dựng và đổi mới đấtnớc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Họ Trần Hng: (Bích Triều, Thanh Xuân)

Theo gia phả dòng họ Trần Hng ở xã Thanh Xuân, huyện Thanh Chơngthì nguồn gốc của dòng họ Trần Hng từ thuỷ tổ Trần Hng Chi gọi là Thuỷ Tiên

tổ khảo Cách đây gần 500 năm ông Chi từ xã Tuần Lễ, tổng An ấp, huyện

H-ơng Sơn, Hà Tĩnh dời đến xóm Thuần Dũng thôn Điều Lao, xã Văn Điền, tổngBích Triều, huyện Thanh Chơng Dòng họ Trần Hng đã có 18 đời với tất cả 41chi họ, gần 6000 nhân khẩu sống đông nhất ở Thanh Chơng Thời kỳ phát triểnrực rỡ nhất của dòng họ là thời Lê Trung Hng Nội bật là đóng góp của cha conThái Mẫu Thành Hầu Trần Văn Cảnh, Nhuận Quận Công Trần Hng Học,Trung Quận Công Trần Hng Nhợng Hai quận công đã có nhiều đóng góp chotruyền đại nhà Lê Hai ông đã đóng vai trò quan trọng trong việc giúp nhà Lê

đánh bại quân Nguyễn ở Nghệ An và Hà Tĩnh Đặc biệt nghĩa binh của Trần

H-ng Học và Trần HH-ng NhợH-ng đã có côH-ng lớn troH-ng việc thu lại 6 huyện phíaNam sông Lam và giải phóng huyện Thanh Chơng Con trai của Trung QuậnCông Trần Hng Nhợng là Thực Dũng Hầu Trần Hng Chu nối nghiệp cha từ nhỏ

đi theo quân ngũ đã có nhiều công lao trong việc phò Lê

Trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, con cháu dòng

họ Trần Hng đã có đóng góp cho công cuộc giải phóng dân tộc Có khoảng 320con cháu nhập ngũ, có 44 liệt sỹ, có 3 gia đình liệt sỹ, có hơn 100 thơng bịnhbinh và có 2 bà mẹ đợc tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” Sau ngày

đất nớc giải phóng đến nay con cháu dòng họ Trần Hng chăm lo sản xuất pháttriển kinh tế để góp phần thúc đẩy nên kinh tế đất nớc phát triển

1.2 Dòng họ Nguyễn Sỹ định c ở Thanh Chơng.

ở Trung Quốc họ Lý là một dòng họ lâu đời với viễn tổ là Lý Nhị (tứcLão Tử) đã có trên 2500 năm - Một dòng họ đã lập nên triều đại nhà Đ ờng nổitiếng (Lý Uyên) và ngày nay hậu duệ họ Lý với các danh nhân nh Lý Bằng(Trung Quốc), Lý Quang Diệu (Singapore), Lý Đăng Huy (Đài Loan)

ở Việt Nam họ Nguyễn cũng là một dòng họ lâu đời cũng đã có trên 2500năm, có nguồn gốc từ họ Hồng Bàng từ đời các vua Hùng Cũng nh nhiều dòng

họ khác, họ Nguyễn có nguồn gốc từ bản địa Việt Nam từ lâu đời mà ngànhkhảo cổ Việt Nam đã dày công nghiên cứu chứng minh và thành công to lớn đểkhẳng định đồng thời đã phủ định lập luận của một số ngời cho rằng họ

Trang 19

Nguyễn có nguồn gốc từ Phơng Bắc Cuộc hội thảo ngày 20 tháng 8 năm 1998tại Hà Nội, 52 dòng họ Nguyễn một lần nữa khẳng định điều đó.

Đến thời điểm con cháu phát triển đông đúc, họ Nguyễn hình thành ranhiều chi họ nh: Nguyễn Đình, Nguyễn Văn, Nguyễn Cảnh, Nguyễn Khắc,Nguyễn Đức, Nguyễn Xuân, Nguyễn Sỹ… mang đậm những dấu ấn riêng của ng Mỗi chi họ có một vị thủy tổ đứng

đầu Họ Nguyễn Sỹ cũng bắt đầu có từ thời kỳ này

Họ Nguyễn Sỹ còn có tên gọi là họ Nguyễn Nhân nh ở Kim Đôi, Quế

Võ, Bắc Ninh, vị tổ đầu tiên là Nguyễn Sỹ nhng sau đó lại đổi là họ NguyễnNhân Hiện ở xã Nghi Khánh, Nghi Lộc, Nghệ An có một dòng họ NguyễnNhân đây chỉ là một chi họ Nguyễn Sỹ ở Quế Võ, Bắc Ninh chuyển vào… mang đậm những dấu ấn riêng của ng

Từ thế kỷ thứ X trở về trớc trong sử sách cũng nh dới các triều đại chỉ thấytên danh nhân họ Nguyễn và họ khác đó là thời kỳ họ Nguyễn cha phân chia

Từ thế kỷ thứ XI trở đi, thấy xuất hiện ông Nguyễn Sỹ Cố quê ở Ng Thiên, HngNhân, Hng Yên Ông Nguyễn Sỹ Cố và ông Nguyễn Thuyên là ngời sáng lập rachữ Nôm, giỏi văn chơng chữ nghĩa Sau khi đỗ Tiến sỹ ông làm quan Thiên d-

ơng các học sỹ từ đời vua Trần Thánh Tông (1258 - 1278) đến đời vua TrầnMinh Tông (1324 - 1329) ông làm quan Hàn lâm viện Thị độc học sỹ

Họ Nguyễn Sỹ là một dòng họ lớn, các vị tiền nhân đỗ đạt học vị cao, làmquan văn võ ở triều đình Nếu họ Nguyễn Cảnh Đô Lơng (Nghệ An) có 16 đờiTiến sỹ, họ Nguyễn Nhân Thanh Chơng (Nghệ An) có 15 đời quận công thì họNguyễn Sỹ cũng có 16, 17 đời Tiến sỹ Chỉ riêng họ Nguyễn Sỹ ở làng Kim

Đôi, xã Kim Châu, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh có 6 anh em ruột của cụNguyễn Sỹ Duyên đều đỗ Tiến sỹ, đều làm quan trong một triều vua Con emcháu chắt của cụ Duyên có tới 20 đỗ Tiến sỹ, 4 ngời đỗ Cử nhân, đều là quanchức cao Vua Thánh Tông thờng bảo rằng “Kim Đôi gia thế chu tử mãn triều”nghĩa là Gia thế làng Kim Đôi áo đỏ áo tía đầy triều

Dòng họ Nguyễn Sỹ làng Kim Đôi đến nay đã có đến 23 đời, so với dòng

họ Nguyễn Sỹ khác thì dòng họ ở Kim Đôi có nhiều đời hơn cả Do đó, theonhận định của chúng tôi thì có thể nơi xuất tích của dòng họ Nguyễn Sỹ chính

là địa danh quê hơng ông Nguyễn Sỹ Cố trớc thuộc tỉnh Hng Yên nay thuộctỉnh Thái Bình Khả năng thứ hai gốc tích dòng họ Nguyễn Sỹ là ở Kim Đôi,Quế Võ, Bắc Ninh Còn một địa danh nữa cũng có thể là nơi xuất tích của dòng

họ là thôn Tỉnh Cầu, xã Đình Bảng, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh, dòng họNguyễn Sỹ ở đây cũng đã rất lâu đời, có từ thời nhà Lý

Nh đã nói trên Nguyễn Sỹ là một dòng họ với hàng chục thậm chí có thểlên tới hàng trăm chi họ trong cả nớc nhằm mục đích tìm hiểu nguồn gốc sâu

xa về viễn tổ của dòng tộc Nguyễn Sỹ Thanh Lơng chúng tôi đã tiến hành khảo

Trang 20

sát các chi họ Nguyễn Sỹ trên địa bàn cả nớc Thông qua tiến hành thực địa vànghiên cứu tài liệu của 3 lần họp mặt dòng họ Nguyễn Sỹ toàn quốc chúng tôixác minh đợc hơn 40 chi họ ở nhiều địa phơng khác nhau Cụ thể nh sau:

1 Họ Nguyễn Sỹ Thôn Tỉnh Cầu xã Đình Bảng Huyện Tiên Du

-Tỉnh Bắc Ninh Tộc trởng ông: Nguyễn Sỹ Thái Điện thoại: 041834 174, thờ tổNguyễn Sỹ Lộc đỗ Tiến sỹ, họ có từ đời nhà Lý ( Lý Công Uẩn ) Có số đinh

33 ngời, 32 hộ, 127 khẩu, 3 liệt sỹ, liên lạc với ông Nguyễn Sỹ Cát - khu tậpthể 195B đội Cấn -Hà Nội Điện thoại: 048 434 l09

2 Họ Nguyễn Sỹ Tức là Nguyên Nhân, làng Kim Đôi Xã Kim Châu

-Quế Võ - Băc Ninh, thờ tổ Nguyễn Sỹ Duyên đỗ Tiến -sỹ năm Bính Tuất(1466) Tộc trởng ông Nguyễn Sỹ Phiệt ( Nguyên là trung tớng Bộ t lệnh phòngkhông không quân) 23 đời, 900 khẩu, 500 đinh, họ có 20 Tiến sỹ - đã thấy 18bia Tiến sỹ ở Quốc tử giám Hà Nội 4 cử nhân đều là anh em ruột con cháuchắt trong một nhà đợc cấp bằng di tích lịch sử văn hoá năm 1989, liên lạc với

ông Nguyễn Sỹ Tần 89 tuổi tỉnh Hà Nội Điện thoại 822 83 16, ông NguyễnThế Bôn trung tớng về hu 34 Trần Phú - Ba Đình - Hà Nội Điện thoại: 069

553250, ông Nguyễn Sỹ Phiệt 174 - Lê Trọng Tấn - khu sân bay Bạch Mai

Điện thoại: 853 3782

3 Họ Nguyễn Sỹ - Thôn Đình Cả, Nội Duệ, Tiên Du, Bắc Ninh Tộc

tr-ởng ông Nguyễn Sỹ Quyến, thờ tổ Nguyễn Sỹ Cồn tức Nguyễn Văn Bình, cửnhân khoa ất Mão 1855 từ Đức năm thứ VIII họ có 230 khẩu, 100 đinh, liênlạc với ông Nguyễn Sỹ Năm hoặc con ông Năm là ông Nguyễn Sỹ Cát địa chỉtrên

4 Họ Nguyễn Sỹ - Thôn Duệ Bao - xã Nội Duệ, Tiên Du - Bắc Ninh, liên

lạc ông Nguyễn Sỹ Ngâu, hoặc Nguyễn Sỹ Trợ theo địa chỉ trên hoặc ôngNguyễn Sỹ Thêm tổ 6 khu 4 Song Mai - Thị xã Bắc Gang

5 Họ Nguyễn Sỹ -Thôn Hơng Mạc - xã Hơng Mạc - Tiên Du - Bắc Ninh.

Liên lạc với ông Nguyễn Sỹ Hinh theo địa chỉ trên

6 Họ Nguyễn Sỹ - Thôn Cửu Sơn - xã Đông Sơn Huyện Gia Bình Bắc

Ninh thờ tổ Nguyễn Sỹ Uy Tộc trởng ông Nguyên Sỹ Khang, tổ Nguyễn Sỹ Uy

đời Lê Thánh Tông 1599 có 16 đời, 65 hộ, 165 đinh

7 Họ Nguyễn Sỹ - Thôn An Định - xã Thuỵ Văn - Thái Thuỷ - Thái

Bình Thờ tổ Nguyễn Sỹ Bằng cử nhân năm Quý Dậu (1813) Gia Long thứ 12làm quan tham hiệp, tộc trởng là ông Nguyễn Sỹ Xứng có 62 hộ, hộ này còngọi là họ Nguyễn Nhân

8 Họ Nguyễn Sỹ - Thôn Đông Phan - xã Tân An - Huyện Thanh Hà - Hải

Dơng Thờ tổ Nguyễn Sỹ Tạo hiệu Xuất Tính, giỗ tổ ngày 10/4 (âm lịch) có từ

Trang 21

đời Lê Thuần Tông (1919 - 1643) tộc trởng là ông Nguyễn Sỹ Luận địa chỉtrên Hội đồng gia tộc ông Nguyễn Sỹ Cơ, Nguyễn Sỹ An, Nguyễn Sỹ Hiệu.

Điện thoại : 03208 15605 họ có 96 hộ 19l đinh, 372 khẩu, 14 đời, 5 liệt sỹ, l bà

mẹ Việt Nam anh hùng

9 Họ Nguyễn Sỹ - Trâu Quỳ - Gia Lâm - Hà Nội.

10 Họ Nguyễn Sỹ - Thôn Tú Đôi - Xã Kiến Quốc - Kiến Thụy, Hải

Phòng Tộc trởng ông Nguyễn Sỹ Tuyết Điện thoại: 031 881 164 , 2l đời, 1000

hộ, 4530 khẩu, 1855 đinh, thờ tổ Nguyễn Sỹ Hiền họ có 76 liệt sỹ, 4 bà mẹViệt Nam anh hùng, 30 ngời bị bắt tù đày nếu cần liên lạc với ông Nguyễn SỹPhiu theo địa chỉ trên

11 Họ Nguvễn Sỹ - Cụm 3 xã Khơng Đình - Thanh Xuân - Hà Nội Tộc

trởng là ông Nguyễn Huy Phồn, điện thoại; 048585498, 20 đời, 200 đinh, thờ

tổ không rõ tên có hiệu là Phúc Hiển Phú Quân 32 liệt sỹ trớc CM tháng 1945

12 Họ Nguyễn Sỹ - Thôn Đa Hậu - xã Tợng Vãn - Nông Cống - Thanh

Hoá: Tộc trởng ông Nguyễn Văn Khánh Hội đồng gia tộc là ông Nguyên SỹHớng 14 đời, 1000 khẩu, 367 đinh, thờ 2 vị tổ bà hiệu là Từ Dung và Từ Nhankhông có tổ ông, có 2l liệt sỹ, 1 bà mẹ Việt Nam anh hùng, có thể gốc tổ từ H-

ng Dũng ra vì cùng đời thứ 12 Hng Dũng có 2 vị tổ ông, không có tổ bà Haichi họ có những đặc điểm giống nhau

13 Họ Nguyễn Sỹ - Thôn Đa Văn - Xã Xuân Sơn - Đô Lơng - Nghệ An.

Tộc trởng ông Nguyên Sỹ Niêm 13 đời, 120 hộ, 538 khẩu, 28l đinh, thờ tổNguyễn Sỹ Nghi đậu Tú tài, theo truyền thuyết gốc tổ ở Thanh Hoá vào

14 Họ Nguỵễn Sỹ - Cát Văn - Đô Lơng - Văn Tràng có 3 chi, chi đầu ở

xã Cát Văn Thanh chơng, chi thứ hai ở thị trấn Đô Lơng, chi thứ 3 ở xã VănTràng Đô Lơng cả 3 chi có vị thuỷ tổ chung là Nguyễn Sỹ Uyên 2421 khẩu,l198 đinh, 543 hộ, 36 liệt sỹ

Chi họ ở Cát Văn Thanh Chơng thờ tổ Nguyễn Cờng là con đầu của tổNguyễn Thị Uyên, 14 đời Tộc trởng là ông Nguyễn Sỹ Tiu UBND huyện AnhSơn, nhà riêng tại xã Thanh Sơn - Anh Sơn - Nghệ An

15 Họ Nguyễn Sỹ - ở Thị trấn Độ Lơng tộc trởng ông Nguyễn Sỹ Giáp

thờ tổ Nguyên Sỹ Vọng con thứ 2 của tổ Nguyễn Sỹ Uyên 14 đời

16 Họ Nguyễn Sỹ - ở xã Văn Tràng nay là xã Văn Sơn - Huyện Đô

L-ơng Tộc trởng ông Nguyễn Sỹ Vi ở xóm 3 xã Yên Sơn hội đồng gia tộc có ôngNguyễn Sỹ Tám (Tức Minh Châu) xóm Yên Hoà xã Yên Sơn, Đô Lơng thờ tổNguyễn Sỹ Lâu con trai thứ 3 của tổ Nguyễn Sỹ Uyên 14 đời

Trang 22

17 Họ Nguyễn Sỹ - Xóm 6 thị trấn Đô Lơng - Nghệ An Tộc trởng ông

Nguyễn Sỹ Khang Điện thoại: 870400 Thờ tổ Nguyễn Sỹ Kê 17 đời, 263 đinh,

4 liệt sỹ chống Mỹ

18 Họ Nguyễn Sỹ Làng Tú Viên xã Thanh Lơng Thanh Chơng

-Nghệ An Tộc trởng ông Nguyễn Sỹ Hội thờ tổ Nguyễn Sỹ Tích 14 đời, 950 hộ(400 hộ ở quê, 450 hộ ở các nơi khác), 1.300 đinh, 10 liệt sỹ 1930, 193 l - 28liệt sỹ chống Pháp chống Mỹ Gốc tổ Làng Thọ Hạc - Đông Sơn - Thanh Hoá

và nhà thờ liệt sỹ Nguyễn Sỹ Sách đợc cấp bằng di tích lịch sử văn hóa cáchmạng

19 Họ Nguyễn Sỹ - Xã Hùng Tiến - Nam Đàn - Nghệ An.70 hộ, 120 đinh.

20 Họ Nguyễn Sỹ - Xã Nam Kim - Nam Đàn - Nghệ An.

21 Họ Nguyễn Sỹ - Phú Linh xã Lĩnh Sơn - Anh Sơn - Nghệ An Tộc

tr-ởng ông Nguyễn Sỹ Lịch 15 đời 506 nhân khẩu, 242 đinh 7 liệt sỹ thờ tổNguyễn Sỹ Duyên

22 Họ Nguyễn Sỹ - Xóm 7 xã Khai Sơn - Anh Sơn - Nghệ An Tộc trởng

ông Nguyền Sỹ Hoàng có 13 đời, 40 hộ 90 đinh, 7 liệt sỹ, 1 bà mẹ Việt Namanh hùng Thờ tổ Nguyễn Sỹ Hiển họ này trớc là họ Nguyễn Nhân liên quan

đến họ Nguyễn Nhân ở xã Nghi Khánh, Nghi Lộc có thể gốc tổ ở Bắc Ninh

23 Họ Nguyễn Sỹ - ở xã Hội Sơn - Anh Sơn - Nghệ An

24 Họ Nguyễn Sỹ - ở xã Long Sơn - Anh Sơn - Nghệ An

25 Họ Nguyễn Sỹ - ở xã Đức Sơn - Anh Sơn - Nghệ An.

26 Họ Nguyễn Sỹ - ở xã Nhân Thành - Yên Thành - Nghệ An Tộc

tr-ởng ông Nguyễn Sỹ Khoa Thờ tổ Tuấn Ngạn vị tổ chung của 6 chi họ gốc tổ ở

Đình Bảng, Tiên Du, Bắc Ninh Toàn họ có 7 vị tớng trong đó có 1 tể tớng, 56liệt sỹ trớc CM tháng 8 năm l945, liệt sỹ chống Pháp, chống Mỹ 25 ngời 1 bà

mẹ Việt Nam anh hùng cả 6 chi họ có l.100 hộ, 4926 khẩu, họ Nguyên Sỹ ởNhân Thành là chi một là ông Khoa, ông Giáp, ông Khơng, ông Hộ

27 Họ Nguyễn Sỹ - ở xã Nghi Tân - Nghi Lộc là chi thứ 2 Tộc trởng

ông Nguyễn Sỹ Sen, ông Nguyễn Sỹ Trung trong hội đồng gia tộc

28 Họ Nguyễn Sỹ - ở xã Nhân Thành (trong l xã có 3 chi họ là chi thứ

3) Tộc trởng ông Nguyên Sỹ Căn, ông Nguyễn Sỹ Thế hội đồng gia tộc

29 Họ Nguyễn Sỹ - xã Nam Thành (kể cả Trung Thành) là chi thứ 4 Tộc

trởng ông Nguyễn Sỹ Ký có 15 đời, 550 khẩu, 2.235 đinh Ông Ký và ôngThám trong hội đồng gia tộc

30 Họ Nguyễn Sỹ - ở xã Nhân Thành là chi thứ 5 Tộc trởng ông

Nguyễn Sỹ Dơng

Trang 23

31 Họ Nguyễn Sỹ - ở xã Nghi Thiết - Nghi Lộc là chi thứ 6 Tộc trởng

ông Nguyên Sỹ Sọi Có 5 liệt sỹ sau CM tháng 8 năm 1945 và l bà mẹ ViệtNam anh hùng

32 Họ Nguyễn Sỹ - Tức Nguyễn Nhân ở thôn Khánh Đồng - xã Nghi

Khánh - Nghi Lộc Tộc trởng ông Nhân Đức thờ tổ Nguyễn Nhân Thế 22 đời

60 hộ Gốc tổ ở Kim Chân - Quế Võ Bắc Ninh

33 Họ Nguyễn Sỹ - Khối Xuân Tiến - Phờng Hng Dũng Vinh Tộc trởng

là ông Nguyễn Sỹ Phong 22 đời , 130 hộ, 500 khẩu, 300 đinh Thờ tổ Nguyễn

Sỹ Đàn quý nhân phụng thờ đặc biệt tổ Nguyễn Đắc Nho Tiến sỹ Gốc tổ theotruyền thuyết từ Thanh Hóa vào có 4 liệt sỹ, 1 liệt sỹ 30, 3l l liệt sĩ chống Pháp

và 2 chống Mỹ nhà thờ họ là di tích cách mạng 1930 - 1931

34 Họ Nguyễn Sỹ - ở xóm Đông Tây - Xã Phú Lộc - Can Lộc - Hà Tĩnh.

Tộc trởng là ông Nguyễn Sỹ Lan 13 đời, 400 khẩu, thờ tổ Nguyễn Sỹ Oanh,gốc tổ chợ Bồ vào (chợ Bồ thuộc xã Hng Lộc trớc cùng xã với Hng Dũng) Có 7liệt sỹ liên lạc với ông Minh Chơng 103 Nguyễn Trờng Tộ - Phờng Trúc Bạchquận Ba Đình - Hà Nội Điện thoại: 048439700

35 Họ Nguyễn Sỹ - Xóm Gia Lâm - Phúc Lộc - Can Lộc - Hà Tĩnh Tộc

trởng là ông Nguyễn Sỹ Tiến có 10 đời, 125 hộ, 400 đinh Thờ tổ Nguyễn SỹDốc, có 4 liệt sỹ chống Pháp và chống Mỹ liên lạc với ông Nguyễn Sỹ Đang bí

th Đảng uỷ Trờng Đại học Vinh về hu, số nhà 18 đờng Bạch Liêu - phờng BếnThuỷ - TP Vinh Điện thoại : 038.856 205

36 Họ Nguyễn Sỹ 3 - ở Phú Lộc - Can Lộc - Hà Tĩnh Tộc trởng ông

Nguyễn Sỹ Nhung

37 Họ Nguyễn Sỹ 4 - ở Phú Lộc - Can Lộc - Hà Tĩnh Tộc trởng là ông

Nguyễn Sỹ Bằng

38 Họ Nguyễn Sỹ - xã Nga Lộc - Can Lộc - Hà Tĩnh Tộc trởng là ông

Nguyên Sỹ Hiền 14 đời, 600 đinh

39 Họ Nguyễn Sỹ - xóm Trung Tiến - xà Phù Việt - Thạch Hà - Hà Tĩnh.

Tộc trởng ông Nguyễn Sỹ Đợc, 84 hộ, 297 đinh, thờ 2 vị tổ Nguyễn Sỹ Quý vàNguyễn Sỹ Phú

40 Họ Nguyễn Sỹ - Làng Kỳ Lan - xã Điện Thọ - Huyện Điện Bàn - tỉnh

Quảng Nam Tộc trởng ông Nguyễn Sỹ Khuê, thờ tổ ông Nguyễn Sỹ Vệ có 16

đời 600 khẩu, 350 đinh, 40 liệt sỹ, 5 bà mẹ Việt Nam anh hùng tổ từ NamNghệ An vào Lý do vào khoảng năm 1650 - 1660 khi Chúa Nguyễn đánh ra

Đằng Ngoài thắng trận trở về có mang theo nhiều ngời vùng Nam Nghệ An vàomiền trong khai khẩn Trong số ngời đó có tổ Nguyễn Sỹ Vệ liên lạc với ông

Trang 24

Nguyễn Công Huân 532B Xô Viết Nghễ Tĩnh, Phờng 25 Quận Bình Thạnh

-TP Hồ Chí Minh

41 Họ Nguyễn Sỹ - ở xã Thạch Hơng - huyện Thạch Hà - Tỉnh Hà Tĩnh

42 Họ Nguyễn Sỹ - Thôn Trung Thành - Đại Lai - Gia bình - Bắc Ninh.

Thờ tổ Nguyễn Quý Công tự là Phúc Ngộ 14 đời, 70 hộ chia làm 4 chi có 1.200khẩu, 500 đinh Tộc trởng là Nguyễn Sỹ Hoài Điện thoại: 0241 868 462 hỏi

ông Bân gặp ông Hoài Có 5 liệt sỹ

1.2.1 Nguyên nhân cuộc di c.

Hoàn cảnh lịch sử:

Đầu thế kỷ XVI sau thời kỳ cực thịnh, nhà Lê bắt đầu suy yếu dần, kể từ

đời Lê Hiến Tông (1498 - 1504) Các vua kế tiếp sau thích chơi bời, ham mêtửu sắc, không lo triều chính, không nghe lời nói phải, hung tàn bạo ngợc, aikhông ng thì giết, đến nỗi Sứ thần Trung Quốc phải gọi Lê Uy Mục là “Vuaquỷ”, Lê Tơng Dực là “Vua lợn” Vua đã nh vậy thì danh thần, lơng tớng cũnghiếm hoi và dĩ nhiên nhân dân ở các trấn chịu bao khổ đau vì bọn quan lại, bọncờng hào ức hiếp Trớc tình hình đó các thế lực phong kiến khác nổi lên nh:Nguyễn Văn Long, Nguyễn Khắc Hài, Trịnh Duy Sản… mang đậm những dấu ấn riêng của ngTiếp đó nông dân cũngvùng dậy khởi nghĩa nh Thân Duy Nhạc, Ngô Văn Trơng ở Bắc Ninh, TrầnTuân ở Sơn Tây, Đặng Hân, Đặng Ngật ở Thanh Hóa

ở Thanh Hóa, Nghệ An sau những cuộc nổi dậy lẻ tẻ năm 1512 “đại hạntrong nớc đói to”, một cuộc khởi nghĩa lớn do Lê Hy, Trịnh Hng, Lê MinhTriệt cầm đầu đã diễn ra thu hút đợc rất đông nông dân Nghĩa quân hoạt độngrộng ở nhiều vùng thuộc 2 tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa Quân triều đình đi dẹploạn nhiều lần bị đánh bại, Nhà vua lo sợ phái Trịnh Duy Sản đem đại quân vào

đánh mãi mới dẹp yên

Trong cơn khủng hoảng xã hội sâu sắc đó, Mạc Đăng Dung với dòng dõiTrạng nguyên Mạc Đĩnh Chi đời Trần, từ chân lính túc vệ thời Lê Uy Mục(1505 - 1509), Phó tớng Đô đốc đời Lê Tơng Dực (1509 - 1516) đến tớc hầu t-

ớc, công đời Lê Chiêu Tông (1516 - 1522) rồi tớc An Hng Vơng nắm trong taychức Tiết chế các doanh thủy lục cả 13 đạo lại “từng bình đợc nhiều giặc lớn,

uy quyền ngày càng thịnh, mà đạo quân thì yếu ớt, lòng ngời ai cũng hớng về

Đăng Dung” (13,46)

Năm 1527, Mạc Đăng Dung lật đổ nhà Lê lập ra nhà Mạc Song làm vuacha đợc bao lâu thì Vơng triều Mạc phải đơng đầu với sự nổi dậy chống cựmãnh liệt của cựu triều Lê Năm 1533, Nguyễn Kim lập ngời con của Lê ChiêuTông lên làm vua (Tức Lê Quang Tông) rồi lập hành điện ở An Trờng (Thanh

Trang 25

Hóa) Đợc tin ấy nhiều cựu thần nhà Lê đã tìm đến để phù Lê diệt Mạc dẫn đếncuộc chiến tranh Nam Bắc Triều hay còn gọi là Lê - Mạc phân tranh.

Trong 60 năm phân tranh (1533 - 1592), hai bên phát động liên miên cácchiến dịch lớn nhỏ, tớng Mạc đã kéo quân vào Thanh - Nghệ 13 lần Hai bên

đánh nhau giằng co tạo nên chiến trờng đẫm máu, vùng đất Thanh - Nghệ bịtàn phá và xáo động dữ dội Chiến tranh Lê - Mạc là chiến tranh huynh đệ tơngtàn đã giáng tai họa xuống đầu nhân dân: ngời chết trận, kẻ chết đói, chết dịch Các năm 1557, 1559, 1570, 1571 sử cũ đều ghi lại mất mùa, đói to Đếnnăm 1572 vùng đất Thanh Hóa, Nghệ An “nhiều phen binh hỏa, các huyện

đồng ruộng bỏ hoang, nhân dân đói khổ, ngời chết quá nửa Nhân dân phiêudạt tan tác vào Nam ra Bắc Trong cõi đìu hiu vắng tanh” (13,67)

Trong hoàn cảnh rối ren của đất nớc, nhằm mục đích tránh tâm xoáy củacuộc chiến và tìm vùng đất sinh cơ lập nghiệp cho muôn đời con cháu nên ông

tổ của dòng họ Nguyễn Sỹ đã quyết định rời vùng Thọ Hạc - Đông Sơn - ThanhHóa tiến vào phía trong tìm đến vùng Cồn Lim (Thanh Lơng - Thanh Chơng -Nghệ An)

Đó chính là nguyên nhân đầu tiên cơ bản khiến ông Nguyễn Sỹ Tích tiếnhành cuộc thiên di

Nguyên nhân thứ hai đó là, tại địa bàn Thọ Hạc - Đông Sơn - Thanh Hóadòng họ Nguyễn Sỹ đã rất phát triển lại sống dựa chủ yếu vào nông nghiệp nêncần thêm nhiều đất đai canh tác, điều đó đã thôi thúc con ngời có tìm nhìn sâurộng Nguyễn Sỹ Tích quyết định tiến hành cuộc chuyển c vào xứ Nghệ Điều

đó đợc lý giải rõ trong cuốn “Diễn ca lịch sử dòng họ Nguyễn Sỹ”:

Tổng Thọ Hạc miền tỉnh Thanh

Là gốc cổ thụ sinh thành họ ta Lớp con cháu đông ra mãi mãi

Đất làm ăn ngày lại ít đi

Sỹ Tích đổi mới t duy

1.2.2 Sự phát triển của dòng họ Nguyễn Sỹ ở Thanh Chơng từ thế kỷ XVI đến nay.

Với lịch sử hơn 400 năm qua 15 thế hệ con cháu (tính từ cụ tổ Nguyễn SỹTích) dòng họ Nguyễn Sỹ ở Tú Viên - Thanh Lơng đã lan tỏa ra hầu hết cáchuyện trên đất Nghệ An, nhiều tỉnh thành trong cả nớc và thậm chí đang cómột số ít sinh sống ở nớc ngoài Riêng ở làng Tú Viên - xã Thanh Lơng -huyện Thanh Chơng dòng họ Nguyễn Sỹ đã rất phát triển với gần 1000 hộ,

1300 đinh (với 10 liệt sỹ 1930 - 1931, 28 liệt sỹ chống Pháp, chống Mỹ)

Trang 26

Theo gia phả họ Nguyễn Sỹ bản chữ Hán dày gần 100 trang do cụ Nguyễn

Sỹ Tiết bắt đầu viết từ năm 1864 đến khi hoàn thành năm 1906 gần 40 năm nối

từ đời 1 đến đời thứ 9 và thông qua bản dịch của giáo s Hoàng Nghĩa Quán thìtrong khoảng thời gian từ thế kỷ XVI đến năm 1864 dòng họ Nguyễn Sỹ trảiqua 9 đời nh sau:

Đời 1: Thủy tổ của dòng họ là ông Nguyễn Sỹ Tích, di c từ làng Thọ Hạc

-Đông Sơn - Thanh Hóa vào Cồn Lim Thanh Lơng - Thanh Chơng - Nghệ Anvào đầu thế kỷ XVI trong thời kỳ Lê - Mạc, Trịnh - Nguyễn phân tranh (1527 -1672) Ông cố Tích đã khai khẩn đất hoang, cày cấy sống cuộc đời nông dânthuần phác

Đời 2: Nguyễn Sỹ Vinh (Viêng) còn gọi là Sỹ Phờng, là con trai độc nhất

của ông cố Tích Tiếp tục sự nghiệp khai hoang lập làng, đặt nền móng chonhiều đời con cháu

Đời 3: Nguyễn Sỹ Hoạch còn gọi là Sỹ Chợ con độc nhất của ông cố

Vinh

Đời 4: Nguyễn Sỹ Thờng (Thờng) còn gọi là Sỹ Viên cũng là con trai độc

nhất của ông Sỹ Hoạch

Đời 5: Từ Nguyễn Sỹ Tích đến Nguyễn Sỹ Thờng chỉ độc đinh, đến đời Sỹ

Thờng sinh đợc 5 con trai trong đó có 2 ngời mất sớm, 1 ngời vô tự còn lại haidòng rất phát triển

- Trởng nam Nguyễn Sỹ Hu mất sớm

- Trai thứ hai Nguyễn Sỹ Sớm mất sớm

- Trai thứ ba Nguyễn Sỹ Khóa còn gọi là Can Mậu con cháu đông đúchiển đạt

- Trai thứ t Nguyễn Sỹ Sở, gọi là cố Hảo, không có con Trởng thành bằngbinh nghiệp, đi lính dũng cảm tả xung hữu đột nên đợc sắc phong “Khuông hữu

Đội”

- Trai thứ năm: Nguyễn Sỹ Sắc gọi là Can Trị con cháu đông đúc, vinhhiển Trong phổ tộc có ghi lại rằng Can Trị (Nguyễn Sỹ Sắc) mắc bệnh đaubụng kinh niên một đêm nằm mộng gặp một vị “áo mũ đàng hoàng” chỉ chomột huyệt đất Theo lời dặn, Nguyễn Sỹ Sắc đã đa thi hài mẫu thân cải táng ở

đó Và sau đó ông cũng khỏi luôn căn bệnh đau bụng kinh niên, con cháu ngàycàng phát triển

Đời 6: Nh đã nói ở trên, Nguyễn Sỹ Thờng sinh đợc 5 ngời con trai nhng

do hai ngời mất sớm, một ngời vô tự nên từ đây dòng họ Nguyễn Sỹ chia làmhai dòng họ chính

Trang 27

Dòng 1: Nguyễn Sỹ Khóa sinh đợc 4 con trai chia thành 4 hệ lớn, mỗi hệ

chia thành nhiều chi

Hệ 1: Nguyễn Sỹ Xung (Tình) con trai trởng của Can Mẫu (Sỹ Khoá) tớng

mạo khôi ngô, tính tình dũng cảm, khi đi lính lập đợc công lớn nên đợc vuaCảnh Hng Triều Lê phong là “Tráng tiết Tớng quân Phó thiên hộ chức” Khinghĩa quân Tây Sơn do hoàng đế Quang Trung lãnh đạo hành quân ra Bắc đạiphá quân Thanh, Nguyễn Sỹ Xung liền theo cờ nghĩa và lập đợc công lớn đợctriều đình Tây Sơn ban thởng 3 đạo sắc (1 đạo đời Thái Đức Nguyễn Nhạc, 2

đạo đời Quang Trung) Sau khi Tây Sơn thất thủ, nhà Nguyễn chiếm ngôi vàtiến hành trả thù Tây Sơn, Sỹ Xung phải ẩn náu trong rừng Quảng Nam -Quảng Ngãi, lu lạc 4 năm sau mới trở về Thọ trên 70 tuổi

Nguyễn Sỹ Xung sinh đợc 5 ngời con trai đều sống thọ, thành đạt:

Nguyễn Sỹ Khâm đậu tù tài khóa ất Dậu đời Minh Mệnh, thọ 73 tuổi;Nguyễn Sỹ Điếu Tú tài khoa Tân Mão đời Minh Mệnh thọ 86 tuổi; Nguyễn SỹQuyến làm th lại Biện binh, thọ 78 tuổi; Nguyễn Sỹ Toàn thọ 73 tuổi; Nguyễn

Sỹ Nghĩa thọ 60 tuổi… mang đậm những dấu ấn riêng của ngvà 4 con gái đều thành gia thất, con cháu đông đúc

Hệ 2: Nguyễn Sỹ Hạng gọi là Can Thùng thọ 93 tuổi sinh hạ đợc 5 con

trai và 1 con gái là Sỹ Thành, Sỹ Trịnh, Sỹ Tráng, Sỹ Kính, Sỹ Nại và Thị Đảng

Hệ 3: Nguyễn Sỹ Thùy gọi là Can Dùng sinh hạ đợc 4 con trai là Sỹ Đan,

Sỹ Truyển, Sỹ Dán, Sỹ Hán

Hệ 4: Nguyễn Sỹ Hoạt gọi là Can ới, sinh hạ đợc 6 ngời con, 3 trai là Sỹ

Tráng, Sỹ Cang, Sỹ Duẩn và 3 ngời con gái là Thị ái, Thị Vĩ, Thị Hiên

- Dòng 2: Nguyễn Sỹ Sắc cũng sinh đợc 4 con trai chia thành 4 hệ lớn.

Hệ 1: Nguyễn Sỹ Chánh (tức Hóa) thọ 78 tuổi sinh đợc 2 con trai là Sỹ

Kỳ, Sỹ Lâm và 3 ngời con gái

Hệ 2: Nguyễn Sỹ Biểu, gọi là Can Tuần Sỹ Biểu lúc nhỏ tính tình quả

cảm, xử sự quyết đoán, nghiêm nghị mọi ngời đều kính nể nên đợc Tổng HoaLâm chọn làm tổng hội trởng Lúc bấy giờ trong phủ bọn lu manh tụ tập cớphiếp dân lành, năm Minh Mệnh thứ 15 đợc tỉnh cấp bằng sai đi tuần thám nhờvậy mà dân làng đợc yên nên gọi là Can Tuần Thọ 70 tuổi, sinh đợc 8 ngời controng đó 4 con trai là Sỹ Đạo, Sỹ Tạo, Sỹ Đình, Sỹ Toại tạo thành 4 đại chi

Hệ 3: Nguyễn Sỹ Lợc thọ 75 tuổi, sinh hạ 6 ngời con trong đó có 4 con

trai là Sỹ Thảo, Sỹ Tùy, Sỹ Kim, Sỹ Thấu

Hệ 4: Nguyễn Sỹ Chấn (1784 - 1844) gọi là Can Cụ Đây là hệ phát triển

thịnh đạt nhất trong cả 8 hệ của hai dòng trong họ Nguyễn Sỹ Nguyễn Sỹ Chấntính tình ôn nghị, thích đọc sách, hiểu nhiều kinh sử, lại tinh thông y thuật, địa

lý, thờng xem bệnh cứu ngời nhng không lấy bốc thuốc làm nghề, chỉ lấy việc

Trang 28

dạy con cái học hành làm vui, hòa mục với họ hàng, nghiêm nghị với gia đình.Sinh hạ đợc 11 ngời con, 6 trai, 5 gái trong đó nổi bật là Nguyễn Sỹ ấn vàNguyễn Sỹ Lạng (Thúc Hoằng).

Nh trên đã nói từ đời thứ 6 họ Nguyễn Sỹ chia thành 2 dòng chính, nếu

nh dòng 6A Nguyễn Sỹ Khóa nổi tiếng về quan võ triều đình thì dòng 6BNguyễn Sỹ Sắc hiển đạt về quan văn Nhng từ đời 7 trở đi thì con cháu củadòng 6B Can Trị Nguyễn Sỹ Sắc thành đạt hơn nên chúng tôi đi sâu tìm hiểuquá trình phát triển của dòng thứ 2 và lấy đó làm đại diện cho dòng họ NguyễnSỹ

Đời 7: Nguyễn Sỹ Chấn sinh đợc 6 con trai là Sỹ Khoát (7A), Sỹ Nguyên

(7B), Sỹ ấn (7C), Sỹ Sầm (7D), Sỹ Lạng (7E) và Sỹ Lâm (7G) Trong đóNguyễn Sỹ Nguyên (7B) “tính tình nghiêm nghị ăn ở nghiêm trang, học thôngkinh sử, thi mấy lần không đậu, có chí hớng mà không thành, bèn đọc rộngsách vở đến các sách thuốc, chữa bệnh đậu mùa nổi tiếng là giỏi” (16,35) Ôngsinh đợc 6 ngời con thọ 61 tuổi

Nguyễn Sỹ ấn (7C) thời nhỏ theo học 2 ngời thầy giỏi là Tú tài Phan

Đăng Quý và Cử nhân Phan Đình Lệ nên “20 tuổi trúng Tú tài khoa Đinh Dậu,năm 25 tuổi trúng Tú tài khoa Nhâm Dần, khoa Quý Mão đậu Cử nhân đứngthứ 6, Hội khoa Giáp Thìn trúng Phó bảng Lúc đầu bổ làm Hàn lâm viện kiểmthảo, năm Thiệu Trị thứ 6 (1847) bổ làm tri huyện Kim Thành, một năm sau lại

bổ làm tri huyện Bố Trạch” (16,37)

Tiếp đó Nguyễn Sỹ ấn sang làm phúc khảo trờng Hà Nội, sau đó ông đợcvua Tự Đức thăng làm Thị giảng Hàn lâm viện, đợc vua phong tặng 4 đạo sắc.Trong khoa thi hội năm Bính Thìn ông làm giám khảo tình cờ đã gặp NguyễnSinh Sắc, thấy Sinh Sắc nghèo nhng có chí, học giỏi nên Sỹ ấn đã khuyên SinhSắc nên đa vợ và con vào kinh đô Huế để ổn bề gia thất, an tâm học hành thìmới thành đạt Nguyễn Sinh Sắc làm theo và đợc sự giúp đỡ tận tình của Quanthị giảng, 1 năm sau Nguyễn Sinh Sắc đậu Phó bảng và đã lên tận làng Tú Viên

để tạ ơn

Ngoài ra, con rể của cụ ấn là Nguyễn Đình Điển đã xin ở rể để theo học

và đến năm 1901 đậu Tiến sỹ khoa thi hội

Nguyễn Sỹ Lạng (7E) sau đổi là Nguyễn Thúc Hoằng (1832 - 1903) emtrai Nguyễn Sỹ ấn ông đợc gọi là Tú Lạng vì đã đậu liên Tú tài các khoa ĐinhMão (1867), khoa Mậu Thìn (1868), khoa Kỷ Tỵ (1869) và đậu Cử nhân khoaCanh Ngọ (1870) Về sau ông làm nghề dạy học, trong những học trò của ông

có ngời xuất sắc nhất là Phan Bội Châu từng đỗ Giải nguyên

Trang 29

Ông là cụ thân sinh của liệt sỹ cộng sản những năm 1930 - 1931 Nguyễn

Sỹ Diệu - Đảng viên Đảng cộng sản Đông Dơng

Đời 8: Lấy con của Nguyễn Sỹ ấn làm đại diện Nguyễn Sỹ ấn sinh hạ

đ-ợc 4 ngời con thì chỉ có 1 con trai là Nguyễn Sỹ Khanh, còn gọi là Sỹ Tiết Tuy

đợc cha là Phó bảng, Hàn lâm viện thị giảng dạy học từ nhỏ nhng Sỹ Khanhkhông đậu đạt gì nên lấy bà Phan Thị Nhiên năm 19 tuổi, bà Nhiên là con gáicủa quan Phan Sỹ Thích đậu tam giáp Tiến sỹ khoa Kỷ Dậu và làm quan đếnchức Tham tri tuần phủ… mang đậm những dấu ấn riêng của ng Ông bà Khanh đều thọ trên 70 tuổi, sinh đợc 10 con

6 trai 4 gái hình thành nên 5 đại chi

Đời thứ 8 của họ Nguyễn Sỹ còn có Sỹ Vơn, Sỹ Diệu là những ngời con u

tú của dòng họ

Đời 9: Nguyễn Sỹ Khanh có 6 con trai nhng con trai đầu là Sỹ Câu mất

sớm nên còn lại 5 con trai chia thành 5 phân hệ từ 5 phân hệ chia thành 11 đạichi, từ đại chi chia thành các tiểu chi

- Hệ 9A: Nguyễn Sỹ Giản (1876 - 1952) đậu Tú tài năm 1900.

- Hệ 9B: Nguyễn Sỹ Triện (1879 - 1948) đậu Tam tràng, sinh 4 con 2 trai

là Sỹ Phợm (10C) và Sỹ Bút (10D)

- Hệ 9C: Nguyễn Sỹ Duân (1884) từng đậu Tam tràng là một lang y, sinh

2 con trong đó 1 con trai là Sỹ Đồng (10E)

- Hệ 9D: Nguyễn Sỹ Trâm (1887 - 1956) cũng từng đậu Tam tràng làm

Lý trởng về sau làm nghề dạy học sinh đợc 6 con trai 2 con gái trong đó cáccon trai là Sỹ Trúc (10G), Sỹ Địch (10H) Sỹ Tứ (10I), Sỹ Hoan (10K), Sỹ Hốt(10L), Sỹ Tiêu (10M)

- Hệ 9E: Nguyễn Sỹ Lơng (1889 - 1929) làm nghề dạy học, sinh đợc 2

con trai là Sỹ Duận (10N) và Sỹ Sinh (10P)

Đời 9 tiêu biểu nhất là Nguyễn Sỹ Giản (9A) đợc triều đình phong tớcHàn lâm nên mọi ngời gọi là ông Hàn Giản Là con trai cả của ông ấm Tiết(Nguyễn Sỹ Khanh), cháu đích tôn Phó bảng Nguyễn Sỹ ấn nên Sỹ Giản đợchọc hành bài bản, trí thức uyên thâm “đi đâu hễ ra khỏi ngõ là ăn vận nghiêmtúc: áo dài lơng thâm, quần tay cống trắng, khăn xếp, guốc mộc, chống gậyhèo, nách cặp ô đen” (1,25)

Nguyễn Sỹ Giản đậu Tú tài khoa Canh Tý (1900) nhng không làm quansống nho nhã ngoài dạy học chữ Nho, chữ Quốc Ngữ “Cụ Hàn Giản cùngNguyễn Sỹ Sáu và Nguyễn Sinh Khiêm - Anh ruột Bác Hồ là bạn chí thân, họcùng làm nghề thầy thuốc, bắt mạch kê đơn chữa bệnh cho nhân dân ở trongnhà mình và làm thầy Địa lý nh xem hớng nhà, hớng mộ, tìm mộ… mang đậm những dấu ấn riêng của ng”(20,8) Saunhững năm 1930, để dẹp phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, chính quyền thực dân

Trang 30

phong kiến bày ra nhiều thủ đoạn, trong đó thành lập “Hội đồng tộc biểu” đểthông qua Hội đồng này ngăn cấm con cháu các dòng họ đi theo Cộng sản thủtiêu đấu tranh với phong kiến, thực dân Chúng biết Sỹ tộc có cụ Hàn Giản làngời cao tuổi, có học vị, có uy tín bảo ban con cháu họ Nguyễn Sỹ, một dòng

họ chiếm đa phần dân số trong làng Chúng tìm cách đa cụ Giản làm chủ soáidòng họ để điều khiển con cháu theo ý muốn của chúng Biết âm mu của địch

nh vậy những ngày tế lễ của họ, cụ Giản không đến nhà thờ, lễ vật biếu xén của

họ, của làng cụ kiên quyết trả lại Sau đó cụ làm bài thơ với nội dung: Do concháu hậu sinh phát ngôn vô lễ, xúc xiểm đến cụ nên cụ Hàn Giản li khai họhàng, không tham gia bất kỳ công việc nào của gia tộc Thế là âm mu địch thấtbại Mãi sau này yên ổn ngời ta mới hiểu, cụ đợc thanh minh con cháu càng tônkính cụ Hàn Giản hơn (1,27)

Ông Hàn Giản sinh hạ đợc 8 ngời con: 6 gái và 2 trai là Sỹ Sách (10A) và

Sỹ Thiêm (10B) Ông Sỹ Thiêm hiện đang sống ở làng Tú Viên

Đời 10: Lấy con của Sỹ Giản làm đại diện Trong 2 ngời con trai của Sỹ

Giản thì nổi bật lên là Nguyễn Sỹ Sách (1905 - 1929)

Nguyễn Sỹ Sách sinh ngày 20 tháng 1 năm 1905 là con trai cả của cụ HànGiản Tốt nghiệp trờng Quốc học Vinh năm 19 tuổi (1924) sau đó Sỹ Sách dạytại trờng Việt Pháp thị xã Hà Tĩnh Đợc nuôi dỡng và hun đúc trong truyềnthống yêu nớc của Xứ Nghệ và gia đình, ông đã bỏ dạy để hoạt động cáchmạng Năm 1927 ông xuất dơng sang Trung Quốc dự lớp huấn luyện do lãnh tụNguyễn ái Quốc tổ chức tại Quảng Châu Sau đó ông đợc kết nạp vào Thanhniên cộng sản đoàn và về nớc đợc cử làm Bí th Thanh niên cách mạng đồng chíhội Trung Kỳ Ông hoạt động sôi nổi, hăng say, gan dạ nên năm 1929 bị thựcdân Pháp bắt và kết án chung thân khổ sai đày đi Lao Bảo ở trong tù ông tiếptục lãnh đạo anh em trong tù đấu tranh nên bị giết hại vào ngày 19 tháng 12năm 1929

Đời 11: Đến đời thứ 9, thứ 10 dòng họ Nguyễn Sỹ Tú Viên đã phát triển

rộng khắp với hàng chục chi họ, hàng trăm hộ lớn nhỏ sinh sống ở nhiều vùngkhác nhau

Lấy con của Nguyễn Sỹ Hoan (10K) làm đại diện Nguyễn Sỹ Hoan sinhnăm 1926 là con trai thứ t của Nguyễn Sỹ Trâm (9D), ông sinh hạ đợc 8 ngờicon trong đó 6 con trai là Sỹ Dũng (11A), Sỹ Ngọc (11B), Sỹ Bình (11C), Sỹ

An (11D), Sỹ Thái (11E), và Sỹ Thịnh (11G) Trong số 6 con trai của Nguyễn

Sỹ Hoan thì ngời nổi bật nhất hiện nay là Nguyễn Sỹ Dũng

Nguyễn Sỹ Dũng là con trai cả của Nguyễn Sỹ Hoan, sinh năm 1954 làTiến sỹ ngành Luật, hiện đang giữ cơng vị Phó chủ nhiệm văn phòng Quốc hội

Trang 31

Từ đời 11 đến đời 15 tất cả các chi họ đều phát triển mạnh sinh sống ởnhiều tỉnh trong cả nớc và cả ở nớc ngoài (nhiều nhất là ở Pháp), con cháu họcrộng, tài cao và ngày càng có nhiều cống hiến quan trọng cho đất nớc.

Trải qua hơn 400 năm lịch sử, kể từ khi cụ Nguyễn Sỹ Tích rời Thọ Hạc,

Đông Sơn, Thanh Hóa vào lập nghiệp ở Thanh Lơng, Thanh Chơng, dòng tộcNguyễn Sỹ đã trở thành một dòng họ lớn có truyền thống hiếu học, yêu nớc vàcon cháu dòng họ đang ngày càng tô điểm thêm truyền thống văn hóa tốt đẹp

đó của cha ông

Trang 32

Chơng 2: Những đóng góp của dòng họ Nguyễn Sỹ

trong lịch sử dân tộc.

2.1 Thời trung đại.

Lịch sử phát triển của dòng họ Nguyễn Sỹ từ đầu thế kỷ XVI đến cuối thế

kỷ XIX gắn liền với các triều đại phong kiến từ thời kỳ Lê Trung Hng đến đầuthời Nguyễn Trải qua quá trình hơn 400 năm, dòng họ Nguyễn Sỹ đã có những

đóng góp to lớn đối với sự nghiệp dựng nớc và giữ nớc của dân tộc, trong đó cónhiều ngời đã cống hiến cả tuổi thanh xuân và cuộc đời cho dân tộc

2.1.1 Thời Lê Trung Hng

Danh tớng Nguyễn Sỹ Xung là ngời nổi bật nhất trong thời kỳ này

Nguyễn Sỹ Xung là một ngời thông minh, dũng cảm, mu lợc, có tài cầmquân, ngay từ nhỏ đã có t chất của một dũng tớng Dới triều đại vua Lê HiểnTông (Cảnh Hng 1740 - 1786) ông đã tham gia 18 năm trong quân đội giữ chức

“Tráng tiết tớng quân phó thiên hộ chức” đã lập đợc nhiều công lớn nên đợcvua Lê Cảnh Hng phong 2 đạo sắc năm Mậu Ngọ (1748) Nội dung của 2 đạosắc nh sau:

Đạo sắc thứ nhất:

Sắc cho Nguyễn Sỹ Xung, ngời xã Hoa Lâm, huyện Nam Đờng là u binh củathị hầu nội khuông hữu đội Năm Nhâm Dần đã có công phò rập với ba quân nộingoại, thăng chức nhị thứ, làm đội trởng bách hộ chức, phong trật là phân lực tớngquân Nay hiệu lệnh t tráng sỹ bách hộ hạ trật Nay sắc

Ngày 26 tháng 02 năm Cảnh Hng 44 (1748).

Đạo sắc thứ hai:

Sắc cho Nguyễn Sỹ Xung xã Hoa Lâm, huyện Nam Đờng chức bách hộ, là

u binh thị hầu nội khuông hữu đội Năm Nhâm Dần đã có công cùng với baquân phò rập t vơng, đã đợc phê chuẩn thăng chức hai lần, thởng một lần Naythăng phó thiên hộ chức, xứng đáng gọi là “Tráng tiết tớng quân” hiệu lệnh tthứ kim tráng sỹ thiết kỹ phó thiên hộ trung liệt Nay sắc

Ngày 26 tháng 02 năm Cảnh Hng 44 (1748).

Trang 33

2.1.2 Thời Tây Sơn

Đây là thời kỳ tài năng và bản lĩnh của danh tớng Nguyễn Sỹ Xung đợcthể hiện rõ rệt qua những cống hiến của ông cho nghĩa quân áo vải, ngoài khảnăng cầm quân dàn trận, Nguyễn Sỹ Xung là ngời đợc vua Thái Đức và vuaQuang Trung khen là “có nhiều tài giỏi” nhất là trong việc thu phục nhân tâm

Ông có thể thông qua việc hòa đàm với đối phơng và bằng tài diễn thuyết củamình buộc đối phơng phải đầu hàng mà không cần đổ máu ở Nguyễn Sỹ Xungngời ta nh đợc nhìn thấy một Nguyễn Trãi giáng thế trong thời Tây Sơn

Năm 1771, Nguyễn Nhạc cùng với 2 em là Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữdựng cờ khởi nghĩa ở ấp Tây Sơn (Bình Định) Với khẩu hiệu và sách lợc khônkhéo, nông dân hởng ứng rất đông Chỉ trong một thời gian ngắn, nghĩa quânTây Sơn đã làm chủ Đàng Trong Năm 1786, Nguyễn Nhạc cử Nguyễn Huệ làmTiết chế đem quân đánh Phú Xuân, Nguyễn Huệ nhanh chóng hạ đợc thành PhúXuân Thừa thắng Bắc Bình Vơng đã đem quân lấy Quảng Trị, Quảng Bình rồi v-

ợt sông Gianh ra lấy Nghệ An Năm 1787, phong trào Tây Sơn chuyển mục tiêu

đấu tranh ra Đàng Ngoài nhằm lật đổ nền thống trị xây dựng gần 300 năm của Lê

- Trịnh

ở phía Bắc, Lê Chiêu Thống rớc 29 vạn quân Thanh lũ lợt kéo vào xâm lợc nớc

ta Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng Đế đặt niên hiệu là Quang Trung sáng nghiệp ra nhàNguyễn Tây Sơn, gọi Nghệ An là trấn Nghĩa An, đặt làm Trung Đô Vừa lên ngôivua đã kéo quân ra Thăng Long giải phóng Tổ quốc

Trên đờng Bắc tiến, Quang Trung đã dừng lại ở thành Nghệ An tuyển mộthêm 5 vạn quân để sung vào đạo quân cứu nớc Với truyền thống sẵn sàng xảthân khi đất nớc bị ngoại xâm, khắp nơi trên đất Nghệ An những ngời nông dânnghèo và các tầng lớp sỹ phu yêu nớc ủng hộ mạnh mẽ, trai tráng hăng hái ra đigiết giặc lập công Chỉ trong 10 ngày 5 vạn quân đã tề tựu dới cờ cứu nớc củaQuang Trung Họ đã trở thành những tớng lĩnh của đội quân áo vải mà tên tuổi

và công lao còn sống mãi với quê hơng nh Nguyễn Thiếp, Ngô Quang Sở, LêQuốc Cầu, Phạm Chinh, Nguyễn Sỹ Xung… mang đậm những dấu ấn riêng của ng

Nguyễn Sỹ Xung là một tớng giỏi đợc vua Quang Trung chọn làm u binhcận thần Ông đã sớm nhận ra đợc sự tiến bộ của nghĩa quân Tây Sơn nên đãcùng các thủ lĩnh đứng ra tuyển mộ thêm quân sỹ ở các làng Tú Viên, XuânBảng, Xuân Dơng, Xuân Trờng - Võ Liệt và các xã lân cận trong vùng huyệnThanh Chơng, Nam Đàn Họ tham gia khởi nghĩa, lấy chân núi Đại Huệ (Nam

Đàn) làm căn cứ luyện tập

Trang 34

Trớc lúc xuất quân,Quang Trung tổ chức một cuộc đại duyệt binh ở ngaychân thành cổ Nghệ An Trớc ba quân Hoàng Đế nói rõ quân Thanh đang xâmlấn nớc ta, truyền thống yêu nớc của dân ta, các vị anh hùng cứu nớc trong lịch

sử, rồi tuyên bố mục đích ra quân và kêu gọi: “Các anh em là ngời có tri thức,

có tài năng phải cùng ta đồng lòng đồng sức cùng ta dựng nên công lớn”(31,36) vua nói xong hơn 10 vạn quân rầm rộ lên đờng, cuộc hành quân từ PhùThạch ra Ngọc Hồi chỉ trong vòng 10 ngày Sỹ Xung đã “góp phần cùngNguyễn Huệ vạch ra chiến thuật hành quân: cứ 3 ngời 1 võng, 1 ngời nằm trên

2 ngời khiêng, khi mệt thì luân phiên nhau” (19,3)

Ngày 20 tháng Chạp năm đó (tức 15 - 01 - 1789) đại quân đến Ba Dội, 30tết qua sông Gián Khuất và chỉ trong 5 ngày giải phóng Thăng Long QuânThanh đại bại dẫm đạp lên nhau mà chết, số còn lại xô đạp nhau qua cầu sôngCái rồi chạy thục mạng về Trung Quốc Đó là chiến công vĩ đại, hiển hách bậcnhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta Với những công lao củamình Nguyễn Sỹ Xung đã đợc vua Quang Trung phong chức “Trung công tiếtchế” năm 1792 và ban thởng 3 đạo sắc trong thời Tây Sơn (một của vua Thái

Đức và hai của vua Quang Trung)

Đạo sắc thứ nhất:

Thái Đức thập nhất niên, thập nhất nguyệt, thập nhật Sắc phong Nam ờng huyện, Hoa Lâm xã, tả chủ Nguyễn Sỹ Xung lịch tòng chức hữu tào phấnlực khả gia đàm toại tình nghĩa tộc, phân quân ứng tòng - ch hầu thiết nhợc tiếnnghinh vơng niệm bất cần hữu quân ứng tại

Đ-Tái cố sắc

Dịch nghĩa

Sắc thởng cho Nguyễn Sỹ Xung ngời xã Hoa Lâm, huyện Nam Đờng, trớc

đã giữ chức Hữu tạo có nhiều tài giỏi, có khả năng đàm thoại với đối phơngtrên phơng diện lấy tình họ tộc buộc đối phơng đầu hàng, không đổ máu Đợcnhà vua và các tớng lĩnh hoan nghênh, khâm phục

Nay phong thởng sắc Thái Đức ngày 10 tháng 11 năm thứ 11

Đạo sắc thứ hai:

(Đạo sắc do vua Quang Trung thởng cho Nguyễn Sỹ Xung năm Kỷ Dậu

1789 khi tham gia tích cực và hiệu quả vào trận đại phá quân Mãn Thanh tại gò

Đống Đa Do bản giấy mỏng tự vụn nên không còn đọc đợc nữa.)

Đạo thứ ba:

Quang Trung ngũ niên thập nguyệt nhị thập ngũ nhật Sắc Anh Đô phủ,Nam Đờng huyện, Hoa Lâm xã tả trung tớng kỳ phó chiến Nguyễn Sỹ Xung

Trang 35

lâm tòng lính hữu cần lao thị tập phân trung đối thức tử hà gia anh dũng, Tớngquân trung khiết dũng cảm, bản thân quân sai khiết nhợc, bất cần quân ứng tại.Nay phong Tráng tiết tớng quân.

Tái hạ sắc

Dịch nghĩa

Sắc thởng cho Nguyễn Sỹ Xung xã Hoa Lâm, huyện Nam Đờng, phủ Anh

Đô, chức vụ Trung tớng phó chiến đã theo vua nhận nhiều nhiệm vụ tập trung huy

động quân lính, luyện tập giỏi, chỉ huy đánh anh dũng, có uy tín trong quân đội làtớng trung khiết dũng cảm Nay phong Tráng tiết tớng quân

Tái thởng sắc Quang Trung năm thứ năm ngày mồng 5 tháng 10 (tức năm 1792).

Đóng góp cho nhà Nguyễn Tây Sơn còn có con trai thứ ba của Nguyễn SỹXung là Nguyễn Sỹ Quyến Sỹ Quyến đã cùng với cha theo Quang Trung và đãgiúp đỡ Sỹ Xung rất nhiều trong việc tuyển huấn luyện quân sỹ cũng nh thamgia vào nhiều trận đánh quan trọng Ông đợc vua ban cho chức “Biện binh quan

th lại” năm 1788 - 1792

2.2 Thời cận đại và hiện đại.

Đây là thời kỳ con cháu dòng họ Nguyễn Sỹ đã cống hiến rất nhiều choquê hơng và giải phóng đất nớc Dù trong nhiều hoàn cảnh khó khăn nhng concháu của dòng tộc vẫn luôn phát huy đợc truyền thống yêu nớc và dám xả thânvì Tổ quốc

2.2.1 Cuối thề kỷ XIX.

Ngày 01 tháng 09 năm 1858, hạm đội của Rigault de Jenouilly bắn phát

đài bác đầu tiên vào cửa biển Đà Nẵng báo hiệu nguy cơ đất nớc Việt Nam bịxâm phạm bởi cuộc xâm lợc lần thứ nhất của thực dân Pháp Các thế hệ concháu dòng họ Nguyễn Sỹ đã đóng góp sức ngời sức của và bằng chính cả tínhmạng của họ trong hai cuộc kháng chiến vệ quốc thần thánh của dân tộc

Khi cả nớc vang lên bản cáo trạng của Hoàng Văn Thái (Nghi Lộc) và tiếnsúng Giáp Tuất khởi nghĩa của Trần Tấn, Đặng Nh Mai, nhân dân trong huyệnThanh Chơng đã kịp thời đứng lên ứng nghĩa Trong không khí kháng Pháp sôi

động ấy các sĩ phu yêu nớc ở Nghệ Tĩnh đã chọn nhiều địa điểm để tụ tập quân

sỹ Trong đó nhà thờ họ Nguyễn Sỹ đợc các văn thân sĩ phu nh Nguyễn HữuChỉnh, Trần Văn Biếng, Hà Văn Phú chọn là nơi tổ chức các cuộc họp thể hiệnquyết tâm chống Pháp Trong các cuộc họp đó, giới văn thân đã vạch ra kếhoạch rào làng kháng chiến, hòng chặn đứng bớc tiến xâm lợc của kẻ thù, bảo vệnghĩa quân Trần Tấn, Đặng Nh Mai “Kế hoạch trên đợc nhân dân Thanh Lơng

Trang 36

và nhân dân trong vùng tích cực thực hiện Ngoài ra, nhân dân địa phơng còntích cực góp tiền, góp gạo tiếp tế cho nghĩa quân và nuôi dỡng bảo vệ các vănthân sĩ phu tham gia khởi nghĩa” (29,15).

Hởng ứng chiếu “Cần Vơng cứu quốc” của vua Hàm Nghi mà trực tiếp làcuộc khởi nghĩa Hơng Khê của cụ Phan Đình Phùng, ở huyện Thanh Chơngnhiều sĩ phu yêu nớc của huyện tham gia tích cực nh Bùi Văn Huân, Nguyễn

Đình Cát, Văn Đình Nịu và nhất là Nguyễn Sỹ Lạng, Nguyễn Sỹ Vơn… mang đậm những dấu ấn riêng của ng đã

đứng ra chiêu tập nghĩa binh ngày đêm luyện tập võ nghệ, phối hợp với nghĩaquân Phan Đình Phùng đánh hai trận oanh liệt ở vùng cửa Hội (Nghi Lộc) vàvùng Đồn Nu (tổng Bích Hào, huyện Thanh Chơng) (28,21)

Đặc biệt tham gia tích cực, sốt sắng vào phong trào có Nguyễn Sỹ Vơn thuộc

đời thứ 8 của dòng họ Nguyễn Sỹ, là cháu nội của Tráng tiết tớng quân Nguyễn SỹXung Sỹ Vơn (tên khác là Sỹ Viên) vốn nổi tiếng là ngời giỏi võ nghệ, giỏi phingựa nên đợc thủ lĩnh giao chỉ huy đội nghĩa binh đắp đập đá tại Lạch Quèn đểngăn chặn thuyền chiến của giặc đổ vào Quỳnh Lu Tiếp đó ông phi ngựa tiếnquân vào Cửa Hội gặp quân giặc đổ bộ lên bờ dù quân ít, khí giới hạn chế nhng

ông vẫn chiến đấu Trong trận chiến sinh tử này ông bị thơng nặng nhng ông vẫnngoan cờng tiến lên giết giặc Khi trận chiến kết thúc, ông phi ngựa về đến núi M-

ợu thì chết Khi nghe tin ông mất, anh em dân làng vô cùng thơng tiếc đa thi hài

ông về quê chôn cất Nguyễn Sỹ Vơn hy sinh khi mới tròn 26 tuổi đời (16,42)

2.2.2 Đầu thế kỷ XX.

Sau phong trào Cần Vơng, giữa lúc các sỹ phu đang bế tắc vì đờng lối cứunớc thì đầu thế kỷ XX, ánh sáng của tân th lan tới, các sách của Lơng KhảiSiêu, Khang Hữu Vi, Đàm Tử Đồng… mang đậm những dấu ấn riêng của ng tràn vào rồi khí thế cả nớc Trung Hoasục sôi trong cuộc vận động cải cách cũng vọng sang Trí thức Nghệ An nhìnthấy nơi xa xứ đảo Phù Tang (Nhật Bản) một viễn cảnh tơi đẹp cho đất nớcmình Họ âm thầm bắt liên lạc với nhau Ngời tiên tiến, xuất sắc nhất và đầynhiệt huyết là Phan Bội Châu

Phan Bội Châu quê ở làng Đan Nhiệm nay thuộc xã Xuân Hòa, Nam Đàn,Nghệ An Sinh năm 1867, thông minh, hiếu học, quyết đoán và từng là học tròxuất sắc của thầy Thúc Hoằng (Nguyễn Sỹ Lạng - đời 7E dòng họ Nguyễn Sỹ).Phan Bội Châu là ngời có chí khí từ nhỏ, năm 7 tuổi đã chơi trò “đánh trận giảBình Tây”, năm 18 tuổi viết Hịch “Bình Tây Thu Bắc”, năm 21 tuổi lập sĩ tửCần Vơng đội để hởng ứng phong trào Cần Vơng chống Pháp “Năm 1901, saukhi đã đỗ Giải nguyên trờng Nghệ ông định cùng một số đồng chí trong ĐảngCần Vơng mu cuộc đánh úp thành Nghệ An, nhng công việc không thành”(18,130) Sau đó ông “lên Thanh Chơng cùng sĩ phu tiến bộ để thăm dò địa thế

Trang 37

và chọn nhân tài” (20,7) Tại đây, nhiều sĩ phu yêu nớc đã tham gia tích cựcphong trào nh Đặng Thúc Hứa, Đội Quyên, Văn Đình Nịu, Lê Văn Quý, LêVăn Ngạn… mang đậm những dấu ấn riêng của ngxã Thanh Lơng bấy giờ là một địa bàn hoạt động mạnh Hội đãchọn nhà thờ Can Cụ (sau này gọi là nhà thờ Nguyễn Sỹ Sách) và hội quán TúViên, đền Cả làm nơi tập trung thanh niên tri thức đàm đạo việc nớc Họ đọcthơ văn của Phan Bội Châu nh “Hải ngoại huyết th”, “Việt Nam vong quốc sử”

và tác phẩm “Thanh khí tơng cầu” của Tôn Quang Phiệt… mang đậm những dấu ấn riêng của ng rồi cùng ngẫm nghĩcác bức hoành phi, câu đối của cụ Phan Bội Châu, Nguyễn Sinh Sắc trong Nhàthờ Can Cụ Ngoài ra các thanh niên còn quyên góp tiền cho hội Duy Tân hoạt

động cách mạng Tất cả những điều đó đã khơi dậy tấm lòng nhiệt huyết củamỗi con ngời Trong những tháng năm sôi sục ấy, Nguyễn Sỹ Sách ra đời.Hởng ứng phong trào Đông Du, “tính từ năm 1925 đến 1928 cả huyệnThanh Chơng có 19 thanh niên xuất dơng” (28,23) thì con cháu họ Nguyễn Sỹ

có Nguyễn Sỹ Thả đợc cụ Nho Thăng ở Nghi Lộc tổ chức xuất dơng sang TháiLan học tập, bồi dỡng để chuẩn bị hạt nhân cho những sự kiện trọng đại về sau.Trong 30 năm đầu thế kỷ XX, khi tầng lớp văn thân sĩ phu và tri thức yêunớc đang khủng hoảng khó khăn trong việc tìm cho dân tộc một con đờng đi mớithì những đóng góp của Nguyễn Sỹ Sách trong thời đầu là vô cùng quan trọng.Nguyễn Sỹ Sách biệt hiệu là Kiếm Phong, con trai trởng cụ Hàn Giản,sinh năm 1905, ra đời dới thời cai trị thuộc Pháp Anh cùng chịu chung số phậncủa ngời dân mất nớc Từ thuở nhỏ, Nguyễn Sỹ Sách đợc tiếp thu truyền thốngyêu nớc của các sĩ phu Nghệ Tĩnh thông qua các bậc cha chú trong các buổi

đàm đạo, bình văn thơ tại nhà thờ Anh khâm phục những con ngời yêu nớc củaquê hơng Anh rất tự hào về truyền thống hiếu học yêu nớc của dòng họ vànguyện học tập truyền thống của các bậc cha chú

Lúc còn nhỏ, Nguyễn Sỹ Sách vốn là ngời thông minh, hiếu học Năm 11tuổi, anh thi tuyển sơ cấp đỗ đầu huyện Thanh Chơng Năm 13 tuổi, đỗ thứ hai

kỳ thi Tiểu học Năm 17 tuổi, Nguyễn Sỹ Sách đỗ bằng Thành chung khóa đầutiên của trờng Quốc học Vinh cùng Tôn Quang Phiệt, Đặng Thai Mai, TrầnVăn Kiên - ngời cùng huyện

Tuy sống ở xa quê hơng, nhng hàng năm vào ngày giỗ tết, Nguyễn Sỹ Sáchthờng về quê để thờ cúng tổ tiên Là ngời thông minh, sống trong sự đùm bọccủa bà con, đợc nghe các bác, các chú, các anh đàm đạo truyền thống dòng họ,lại đợc cha là ngời có tâm huyết kể thêm về những tấm gơng tiết tháo của cácbậc anh tài trong họ hàng Nhiều lần về thăm quê hơng và đợc cha, ông nộigiảng giải những bức hoành phi câu đối của Giải nguyên Phan Bội Châu, Phó

Trang 38

bảng Nguyễn Sinh Sắc, Tiến sỹ Nguyễn Đình Điển, Cử nhân Nguyễn Sỹ Lạngtại nhà thờ.

Phải nói rằng: Truyền thống gia tộc họ Nguyễn Sỹ là niềm tự hào và địnhhớng cho con đờng Nguyễn Sỹ Sách chọn sau này Không theo quan trờng mà

đi làm cách mạng cứu nớc giúp dân

Sau khi đỗ bằng Thành chung, Nguyễn Sỹ Sách đợc vua Bảo Đại mời vàolàm quan nhng anh không nhận, đợc nhà nớc bảo hộ phong cho sắc Hàn lâm,anh mang sắc về rồi đốt đi và bảo: “Chả để làm gì, chật hòm vô ích” Nguyễn

Sỹ Sách đã khắc vào cổng vào nhà ở và nhà thờ dòng chữ bằng tiếng Pháp “Lesmanains ne peuvent pas y enter” Tạm dịch: “Các quan lại không thể vào đây”.Nghĩa bóng: Trong nhà thờ và nhà ở phía trong cổng ngăn này chỉ có nhữngngời yêu nớc thơng dân không ra làm quan kể cả Nguyễn Sỹ Sách Còn nhữngquan lại Nam triều đã đầu hàng giặc không có chỗ ở trong này Kể cả t tởng đilàm quan thỏa hiệp theo giặc, tham nhũng đục khoét nhân dân cũng không thểlọt vào cổng ngăn này đợc

Trong thực tế Nguyễn Sỹ Sách đã khớc từ mọi u ái của thực dân phongkiến Anh học giỏi, đỗ giải nhất, đợc học bổng du học ở Pháp nhng anh từ chối

Đức Thi và bắt liên lạc phát triển tổ chức và thành lập tỉnh bộ Tân Việt ở Hà Tĩnh

Tổ chức Tân Việt ở Hà Tĩnh đã phát triển cơ sở từ thị xã Hà Tĩnh đến các huyện

H-ơng Khê, Kỳ Anh, Can Lộc, Đức Thọ, Cẩm Xuyên, HH-ơng Sơn, Nghi Xuân, Thạch

Hà Tân Việt có nhiều loại hình tổ chức quần chúng nh Hội tu thân, Hội đọc sáchbáo, Hội khuyến học, Hội đá bóng, Học sinh đoàn, Hội phờng vải, phờng lợp nhà,Hội ái hữu… mang đậm những dấu ấn riêng của ngMặc dù Hội cha có điều kiện, cha có chơng trình rõ rệt song cùngchung một mục đích là tự tôn dân tộc, chống đối ách thống trị của thực dân phongkiến

Năm 1925, Nguyễn Sỹ Sách tham gia vào hội Phục Việt (sau đổi thànhTân Việt cách mạng Đảng) gồm: Tôn Quang Phiệt, Trần Phú, Lê Huân, TúKiên.v.v… mang đậm những dấu ấn riêng của ngmột tổ chức cách mạng quốc gia do các tầng lớp tri thức sáng lập

Trang 39

(3,88) Anh nhận trách nhiệm tổ chức tuyên truyền t tởng yêu nớc rộng rãi tronghọc sinh, giáo chức và nhân dân Tôn Thất Cổn, hiệu trởng đã dò la đợc hoạt

động của anh, nhiều lần đốc học, công sứ Hà Tĩnh gọi anh đến dụ dỗ, vừa trấn

áp Do những hành động tích cực của đồng chí Nguyễn Sỹ Sách nên bọn thốngtrị ở Hà Tĩnh đánh hơi trớc những hoạt động của anh Công sứ Macti trực tiếpgặp Nguyễn Sỹ Sách dọa dẫm, cảnh cáo Mọi hành động của chúng đều bất lựctrớc ý chí của Nguyễn Sỹ Sách, tên thủ hiến học chính Trung kỳ Đêlêixi, điềuNguyễn Sỹ Sách và Huế để tra hỏi Hắn lên mặt hỏi: “Nớc mẹ Đại Pháp cho ănhọc, đào tạo tại sao anh dám vô lý với quan trên, lại có hành động phản bội”.Nguyễn Sỹ Sách lập tức bác bỏ và khẳng khái đáp lại: “Tôi làm việc nghĩa, tôichống lại những ngời làm việc thiếu đạo đức, tôi đòi hỏi một sự công bằng bình

đẳng sao lại bảo tôi là phản bội”(3,89) Bọn thực dân không có chứng cứ gì đểbuộc tội đành chuyển Nguyễn Sỹ Sách xuống dạy ở trờng Phú Vang cách Huế10km Sau đó anh tìm đến gặp cụ Phan Bội Châu ở Huế, vừa là ngời thầy, vừa

là học trò tri kỉ của bậc tiên khảo họ Nguyễn Sỹ Cụ Phan tỏ thái độ đồng tình

và khuyên anh “đối với giặc nớc, đấu tranh phải hết sức khôn khéo Chớ vì bựctức mà phải ứng đơn độc lẻ loi” (3,90) Lời chỉ bảo của Phan Bội Châu đã giúpNguyễn Sỹ Sách thêm những bài học kinh nghịêm quý báu trên con đờng cáchmạng

Những ngày ở Huế, anh đã phải chứng kiến biết bao hành động ngang

ng-ợc, thô bạo của quan chức và binh lính ngời Pháp đối với ngời Việt Nam Đầunăm 1926, anh vận động thân sinh đốt bỏ đạo sắc “Hàn lâm đại chiếu” ban cho

ông, rồi sau đó Nguyễn Sỹ Sách đã quyết định bỏ nghề dạy học để có thời giandốc toàn tâm lực cho việc hoạt động cách mạng

Mùa hè năm 1926, anh về quê bắt liên lạc với chú ruột là Nguyễn Sỹ Lơng(tức là Đốc Tám), hơn anh 3 tuổi Nguyễn Sỹ Lơng dạy trờng Tiểu học PhápViệt ở huyện Nam Đàn Một đôi lần anh vào Huế liên lạc với cụ Phan Bội Châunhng bị thực dân Pháp theo dõi và bị bắt giam lỏng ở Huế Sau đó đuổi anhkhông cho dạy trờng huyện Anh về cùng Nguyễn Sỹ Lơng, Vơng Thúc (Nam

Đàn) đứng ra thành lập “Hội khuyến học” trong làng, mở trờng dạy học tại nhàthờ và hội quán Tú Viên gồm có: Nguyễn Duy Quế, Nguyễn Sỹ Diệu, Nguyễn

Sỹ Đồng, Nguyễn Sỹ Đức, Nguyễn Sỹ Tâm, Nguyễn Duy Trầm, Võ Thúc

Đồng, Lê Nam Thắng, Nguyễn Đình Tùng v.v

Sau đó chuyển sang dạy chữ quốc ngữ đầu tiên ở tổng Xuân Lâm vàhuyện Thanh Chơng gồm 3 lớp sơ học: Lớp 5, lớp 4, lớp 3 Thời đó tơng đơnglớp 1,2,3 ngày nay Đối với những học trò ở xa trờng, nhà nghèo Nguyễn Sỹ L-

ơng và Nguyễn Sỹ Sách nuôi ăn học tại gia đình Hàng ngày bà Nguyễn Thị

Trang 40

Hồng - vợ Nguyễn Sỹ Sách vừa phục vụ cơm nớc cho chồng lại lo cơm nớc chocác học trò nghèo ăn học trong nhà chu đáo Những bộ phản, bộ tràng kỷ, yến

th, bàn thờ vừa là nơi học và nơi nghỉ của học trò lúc đó Trong những buổihọc, Nguyễn Sỹ Sách đa các bài thơ của cụ Phan Bội Châu để giảng giải chohọc sinh Thanh niên tham gia học ngày càng đông Đặc biệt, Nguyễn Sỹ Sáchcòn lấy ý trong các bài thơ, các bức hoành phi, câu đối, bức trớng và nhữngmẩu chuyện của các bậc tiền bối ngay trong nhà thờ của các lớp học làm giáo

cụ trực quan nhằm khơi dậy truyền thống yêu nớc đối với đông đảo thanh niên

và quần chúng Thông qua con đờng dạy học, Nguyễn Sỹ Sách đã truyền cảm tinhthần yêu nớc cho thế hệ trẻ ở Thanh Chơng Và sau này chính những ngời học trò

đó đã trở thành hạt nhân cho phong trào cách mạng Việt Nam, là những ngời đi

đầu trong cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh (1930 - 1931) Đó là Nguyễn Duy Tâm;thiếu tớng Lê Nam Thắng; đại tá Nguyễn Đình Tùng; Võ Thúc Đồng - Bí th Tỉnh

uỷ Nghệ An… mang đậm những dấu ấn riêng của ng

Có thể nói Nguyễn Sỹ Sách là một trong những ngời cộng sản đầu tiên vàsớm nhất ở huyện Thanh Chơng

Giữa năm 1926, anh liên lạc với cán bộ Việt Nam thanh niên cách mạng

đồng chí Hội vừa ở Quảng Châu về Sau đó anh định sang Trung Quốc gặpNguyễn ái Quốc nhng đến Hải Phòng bị mật thám theo dõi anh đành trở vềhoạt động tại Vinh

Mùa thu năm 1927, Nguyễn Sỹ Sách đợc hội Hng Nam cử sang Quảng Châu

dự lớp huấn luyện về chủ nghĩa Mác - Lênin do Tổng bộ Việt Nam Thanh niênCách mạng Đồng chí Hội mở Ngời trực tiếp lên lớp là đồng chí Nguyễn ái Quốc.Trớc lúc lên đờng sang Quảng Châu, anh về thăm gia đình, lên nhà thờ thắpnén hơng bái tổ cầu xin tổ tiên phù hộ cho anh sớm đạt ý nguyện của mình.Sau khi ở Quảng Châu về nớc, Nguyễn Sỹ Sách đợc cử làm Bí th Kỳ BộViệt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội Với cơng vị Bí th, đồng chí

đến các tỉnh chỉ đạo việc xây dựng, phát triển tổ chức Hội và các tổ chức quầnchúng, đặc biệt là trong các xí nghiệp, nhà máy Đi đôi với công tác tổ chứcanh dịch sách báo, soạn tài liệu bồi dỡng lý luận cho cán bộ hội viên vì vậy ch-

a đầy một năm sau tổ chức và ảnh hởng của Hội đã lan rộng:

- Hình ảnh một bộ máy tổ chức từ Kỳ bộ đến tỉnh bộ - xã bộ và chi bộ đó

là những cơ quan lãnh đạo trung tâm

- Phong trào đấu tranh của quần chúng chống áp bức, đòi quyền dân sinh,dân chủ phát triển, tiêu biểu là: Cuộc đấu tranh của Hoa kiều ở Nghệ An gửi th

về bản quốc phản đối nhà cầm quyền khủng bố Việt Nam Thanh niên Cáchmạng Đồng chí Hội ở Quảng Châu Công nhân trong các nhà máy liên tục bãi

Ngày đăng: 19/12/2013, 15:02

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

3.2.1 Truyền thống khoa bảng 84 - Lịch sử   văn hoá dòng họ nguyễn sỹ ở thanh lương   thanh chương   nghệ an (từ thế kỉ XVI đến nay)
3.2.1 Truyền thống khoa bảng 84 (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w