Luận văn này đợc hoàn thành với sự giúp đỡ của các cơ quan, tập thể, cá nhân mà tôi không thể không bày tỏ lời cảm ơn chân thành.Trớc hết, tôi xin gửi lời cảm ơn tới Th viện huyện Triệu
Trang 1đỗ thị vân
lịch sử - văn hóa dòng họ lê bật ở cổ định xã tân ninh - triệu sơn - thanh hóa
từ thế kỷ xiii đến năm 2007
Luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử
Vinh - 2008
Trang 2đỗ thị vân
lịch sử - văn hóa dòng họ lê bật ở cổ định xã tân ninh - triệu sơn - thanh hóa
Trang 3Luận văn này đợc hoàn thành với sự giúp đỡ của các cơ quan, tập thể, cá nhân mà tôi không thể không bày tỏ lời cảm ơn chân thành.
Trớc hết, tôi xin gửi lời cảm ơn tới Th viện huyện Triệu Sơn; UBND huyện Triệu Sơn; UBND xã Tân Ninh - Triệu Sơn;đồng chí Lê Thanh Sơn Trởng ban văn hoá xã; bác Lê Bật Điển, bác Lê Ngọc Bá, bác Lê Đình Minh
và các bác, các cụ trởng các dòng họ: Lê Đình, Lê Ngọc, Nguyễn Bá, Họ Doãn
và nhân dân địa phơng xã Tân Ninh đã giúp tôi trong quá trình thu thập tài liệu, khảo sát thực tế tại địa phơng.
Tôi xin cảm ơn tới Phòng Địa chí - Th viện Khoa học tổng hợp tỉnh Thanh Hoá, Bảo tàng Thanh Hoá, Th viện khoa Sử trờng Đại học Vinh đã tạo
điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập tài liệu nghiên cứu.
Đặc biệt, xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS TS Nguyễn Trọng Văn đã trực tiếp hớng dẫn tận tâm và chân thành trong suốt hơn một năm qua, các thầy giáo trong khoa Lịch sử, khoa Sau đại học - Trờng Đại học Vinh đã giúp đỡ cho tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới những ngời thân trong gia đình, bạn
bè đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Mặc dù rất cố gắng, song chắc chắn luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong đợc sự lợng thứ, góp ý của các thầy cô cùng bạn bè và đồng nghiệp.
Vinh, tháng 12 năm 2008
Tác giả
Đỗ Thị Vân
Trang 4Mở đầu 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu 4
4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Đóng góp khoa học giá trị thực tiễn của đề tài 7
6 Bố cục của luận văn 8
Nội Dung 9
Chơng 1 Quá trình hình thành và phát triển của dòng họ Lê Bật trên đất Cổ Định - Tân Ninh từ thế kỷ XIII đến 2007 9
1.1 Vài nét về mảnh đất và con ngời Cổ Định - Tân Ninh 9
1.1.1 Địa lý - lịch sử hình thành Cổ Định - Tân Ninh 9
1.1.2 Truyền thống văn hoá - lịch sử của Cổ Định - Tân Ninh 11
1.1.3 Một số dòng họ lớn ở Cổ Định 19
1.2 Quá trình phát triển của dòng họ Lê Bật ở Cổ Định từ thế kỷ XIII đến 2007 28
1.2.1 Dòng họ Lê Bật định c ở Cổ Định - Tân Ninh 28
1.2.2 Sự phát triển của dòng họ Lê Bật 30
Chơng 2 Đóng góp của dòng họ Lê Bật (Cổ Định) cho quê hơng và dân tộc 38
2.1 Đóng góp về mặt chính trị 38
2.2 Đóng góp về mặt kinh tế 46
2.3 Đóng góp về mặt quân sự 50
2.4 Đóng góp về mặt văn hoá - giáo dục 61
Trang 53.1 Gia phong của dòng họ Lê Bật 70
3.2 Truyền thống giáo dục khoa bảng 77
3.3 Nghề dạy học 83
3.4 Đền thờ, bia ký, đình làng Đài 85
3.4.1 Đền thờ 85
3.4.2 Bia ký 93
3.4.3 Đình làng Đài 104
Kết Luận 107
Tài liệu tham khảo 113
Phụ lục 118
Trang 6Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Trong lịch sử văn hóa của dân tộc dòng họ có một vị trí hết sức đặcbiệt Con ngời ngoài nhu cầu đảm bảo đời sống vật chất còn có nhu cầu khôngngừng nâng cao đời sống tinh thần, đời sống văn hóa về mọi mặt Đối với dântộc ta, văn hoá dòng họ có một vị trí quan trọng, là hạt nhân của nền văn hóadân tộc nói chung Con cháu thành kính thờ cúng tổ tiên, ông bà cha mẹ, họhàng gắn bó tình ruột thịt nội ngoại thân thiết, kẻ dới kính trọng bề trên, bề trênchan hoà với kẻ dới, chữ hiếu, chữ lễ, chữ kính, chữ hoà, bốn chữ đó xuyên suốtvăn hóa dòng họ và đã trở thành quốc giáo “hiếu, lễ, hoà, kính” bao trùm lênmọi cách biệt về chính trị, tín ngỡng, tôn giáo, vợt qua mọi cách biệt về địa vịxã hội, thành phần giai cấp, về lễ nghi phong tục từng miền
Truyền thống dòng họ đã hun đúc và bồi đắp lên nét đẹp của dân tộc.Trong lịch sử, dòng họ là một hiện tợng xã hội Mỗi dòng họ lớn, nhỏ đều có
đóng góp ở mức độ khác nhau đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ đất n ớc.Những đóng góp đó đã tạo nên tài sản vô giá trong nền văn hóa dân tộcViệtNam, từ các dòng họ là cái nôi sản sinh ra biết bao nhân tài, tuấn kiệt cho đấtnớc
Vì vậy, việc nghiên cứu dòng họ có ý nghĩa hết sức quan trọng trongviệc giữ gìn và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc Qua đó có thể tìm hiểu kỹ
về cuộc đời và sự nghiệp của những nhân vật mà lịch sử nghiên cứu còn sơ sàihoặc cha đợc nhắc đến Hơn thế, trong việc giáo dục các thế hệ trẻ về truyềnthông “uống nớc nhớ nguồn”, thực hiện “chiến lợc con ngời Việt Nam đầu thế
kỷ XXI” và xây dựng “nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc”
1.2 Chúng ta thấy rằng sự tác động tích cực của dòng họ đối với sự tồntại và phát triển của xã hội hiện nay là rất cần thiết Với đạo lý “uống nớc nhớnguồn” là truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tình yêu quê hơng đất nớc, ý thứccộng đồng của con ngời Việt Nam Đó là bản sắc văn hóa, là sức mạnh truyềnthống của ngời Việt, giúp cho ngời Việt vợt qua mọi thử thách trong lịch sử,vững bớc vào tơng lai
Ngày nay, khi đất nớc đã thống nhất thì việc nghiên cứu, tìm về cộinguồn của mỗi dòng họ càng trở thành một nhu cầu bức thiết Nghiên cứudòng họ một mặt thể hiện đợc đạo lý "uống nớc nhớ nguồn" truyền thốngdòng họ, thể hiện lòng biết ơn đối với tổ tiên song cũng không tránh khỏi
Trang 7những hạn chế nh mất đoàn kết trong dòng họ, kéo theo sự suy sụp về kỷ cơng
đạo đức Việc nghiên cứu khoa học là việc làm nghiêm túc, nhằm tiếp tục pháttriển những mặt tích cực và xoá bỏ những tiêu cực, cũng cố khối đại đoàn kếtcủa dân tộc, đó là việc làm cần thiết, đặc biệt quan trọng đối với công cuộc
đổi mới hiện nay
1.3 Dòng họ Lê Bật là dòng họ lớn ở Cổ Định xã Tân Ninh Trong suốtchiều dài lịch sử dân tộc con cháu dòng họ Lê Bật đã có nhiều đóng góp to lớntrong lịch sử dân tộc Tháng 1 năm 1998, Bộ Văn hóa - Thông tin đã ra quyết
định công nhận đền thờ Lê Bật Tứ xã Tân Ninh, Triệu Sơn - Thanh Hóa là ditích lịch sử - văn hóa Quốc gia Đó là niềm vinh dự và tự hào của con cháudòng họ Lê Bật nói riêng, huyện Triệu Sơn và tỉnh Thanh Hóa nói chung
Dới ánh sáng Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ 8 vàcác chỉ thị, nghị quyết của tỉnh, Đảng uỷ, Uỷ ban nhân dân xã Tân Ninh, đợc sựquan tâm của Sở Văn hóa Thông tin tỉnh, của huyện Triệu Sơn, đã từng bớc cốgắng có những việc làm cụ thể để vừa học tập truyền thống, vừa phát huytruyền thống của tổ tiên, của quê hơng để lại cho các thế hệ con cháu hiện nay
và mai sau, tiếp nối ý chí của các bậc tiền bối sinh ra từ Cổ Định - Tân Ninh
Đó cũng chính là thực hiện chủ trơng: “Văn hóa gắn với phát triển, mọi hoạt
động văn hóa phải hớng về cơ sở và tổ chức đời sống văn hóa cơ sở trở nên thúcbách trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc”
Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: Lịch sử - văn“
hóa dòng họ Lê Bật xã Tân Ninh huyện Triệu Sơn - Thanh Hóa từ thế kỷ XIII đến năm 2007” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trớc và sau Cách mạng tháng 8 đến nay cha có công trình nào nghiêncứu đầy đủ về quá trình phát triển “Lịch sử - văn hóa dòng họ Lê Bật” Gần
đây con cháu trong Hội đồng Gia tộc dòng họ Lê Bật và một số nhà khoa học
đã có nhiều bài viết về dòng họ Lê Bật, mà đặc biệt là danh nhân Hoàng Giáp
Lê Bật Tứ Nhiều bài viết đợc đăng trên báo, kỹ yếu hội thảo và đợc in thànhsách, chúng tôi có thể nêu một số bài viết nh sau:
- Nhân lễ Hội Ngàn Na năm 1993, báo Văn hóa thông tin Thanh Hóa
đăng bài “Tân Ninh một dòng ký ức”, bài viết đề cập đến Tân Ninh là một
làng quê khai sinh từ thuở các vua Hùng nổi lên là đất học và đất phát quan,làng có tới 24 tiến sĩ
Trang 8- Trong cuốn “Khảo sát văn hóa Xứ Thanh” NXB KHXH (1993), tác
giả cũng đã ghi nhận những ngời học giỏi nổi tiếng, làm quan mẫn cán, phụtrách nhiều công việc quan trọng dới triều Trần nh Lê Duy (Cổ Định) và cũng
là làng văn học với những vị đại khoa danh tiếng nh Lê Bật Tứ
- Trong cuốn quy ớc xây dựng “Gia đình văn hóa - dòng họ văn minh”
của Hội đồng gia tộc dòng họ Lê Bật, đã đề cập đến việc xây dựng gia đình no
ấm, nền tảng của gia đình hạnh phúc và noi gơng cụ thế tổ Hoàng Giáp Lê Bật
Tứ, đẩy mạnh tinh thần hiếu học, rèn chí, luyện tài để giúp tích cho xã hội, đểxây dựng gia định ấm no hạnh phúc
- Trong cuốn “Danh nhân họ Lê Thanh Hóa” của Nhà xuất bản Văn
học (2007) đã viết về hai nhân vật họ Lê đó là Lê Lôi và Lê Bật Tứ, trong đótác giả Đồng Thành Luân đã viết về Hoàng Giáp Lê Bật Tứ vừa là một nhàchính trị, một nhà quân sự, một nhà ngoại giao, một nhà t tởng văn hóa có tầm
cỡ Ông là một vị quan có tâm, một vị tớng có tài
- Trong cuốn “Danh nhân Thanh Hóa” của Ban nghiên cứu và biên
soạn lịch sử Thanh Hóa (2005), đã có nhiều tác giả viết về những nhân vật củadòng họ Lê Bật
Trong cuốn “Danh nhân Triệu Sơn” tập 1, tập 2 của Ban nghiên cứu và
biên soạn lịch sử Thanh Hóa (1993) đã viết về dòng họ Lê Bật luôn nổi lênnhững danh nhân sáng ngời điển hình cho tinh thần cần cù trong lao động,anh dũng trong chiến đấu, xứng đáng với truyền thống anh hùng của quê h -
- Trong tập thơ “Hơng Na”của UBND xã Tân Ninh (1997) đã có nhiều
bài thơ ca ngợi danh nhân Lê Bật Tứ và các liệt sỹ hy sinh vì Tổ quốc, quê h
-ơng Cổ Định nói chung và dòng họ Lê bật nói riêng
Tất cả những bài viết trên đã đề cập đến những đóng góp của dòng họ
Lê Bật trong lịch sử dân tộc Các bài viết mới chỉ nhấn mạnh đến danh nhânHoàng Giáp Lê Bật Tứ, còn mang tính riêng lẽ, khái quát Cha đi sâu nghiêncứu một cách có hệ thống, toàn diện về lịch sử văn hóa và sự phát triển cũng
nh đóng góp của dòng họ đối với dân tộc Từ đó đặt ra cho chúng tôi nhiệm vụ
Trang 9là phải đi sâu nghiên cứu một cách doàn diện hơn, có hệ thống hơn về dòng họ
Lê Bật để góp phần gìn giữ và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc nói chung
địa phơng nói riêng
3 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu
3.1 Nguồn t liệu
Trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi dựa vào các nguồn tài liệu sau:
3.1.1 Tài liệu gốc
Chúng tôi đã tham khảo các bộ chính sử nh: Đại Việt sử ký toàn th;
Lịch triều hiến chơng loại chí; Đại Việt sử ký tục biên Gia phả của các dòng
họ: họ Doãn, họ Lê Đình, họ Nguyễn Bá, họ Lê Ngọc
Gia phả: gia phả của dòng họ Lê Bật (viết bằng chữ Hán và chữ Quốcngữ), "Hoan châu ký" của Nguyễn Cảnh Thị Biên bản đề nghị xếp hạng ditích, bia - đền thờ Lê Bật Tứ, lý lịch cụm di tích thắng cảnh Cổ Định, nhà thờ
Lê Bật Tứ, nhà thờ họ Lê Bật, đền thờ quan nội hầu Lê Duy, đền thờ Lê tộccông thần Lê Lôi, đình Lê, văn bia, câu đối tại đền thờ Lê Bật Tứ xã Tân Ninh
- Triệu Sơn - Thanh Hóa
3.1.2 Tài liệu nghiên cứu
Một số tài liệu mà chúng tôi tham khảo để nghiên cứu: Nhân vật nhà
Lê trong lịch sử Việt Nam của Phạm Ngô Minh và Lê Duy Anh; Từ điển nhân vật lịch sử của Nguyễn Quốc Thắng và Nguyễn Bá Thế; Đóng góp của ngời
Cổ Định với phong trào Đông Du của Trơng Bính; Bia Văn miếu Hà Nội, Nhà
xuất bản thế giới; Gia phả khảo luận và thực hành của Dã Lan và Nguyễn Đức Dụ; Việc họ của Tân Việt; Lịch sử Việt Nam của Trơng Hữu Quýnh
3.1.3 Các tài liệu khác
Ngoài những tài liệu trên chúng tôi còn sử dụng các tài liệu công cụ để
tra cứu nh: Những ông nghè ông cống triều Nguyễn; Các nhà khoa bảng Việt
Nam; Trờng tiểu học Cổ Định Tân Ninh 80 xây dựng trởng thành và phát triển; Khảo sát làng văn hóa xứ Thanh của Lê Huy Trâm và Hoàng Anh
Nhân Bên cạnh đó, chúng tôi còn khai thác một số tài liệu kỷ yếu có liên
quan nh: Kỷ yếu toạ đàm của UBND xã Tân Ninh (2006), Danh nhân Thanh
Hóa Lê Bật Tứ; Kỷ yếu hội thảo khoa học (1993), Lê Văn Hu và công trình nghiên cứu danh nhân Thanh Hóa; Kỷ yếu hội thảo văn hóa làng xứ Thanh;
Kỷ yếu hội thảo (1997), Văn hóa truyền thống các tỉnh Bắc Bộ; Tham luận hội thảo khoa học về dòng họ với truyền thống văn hóa dân tộc (1996), Hơng ớc
Trang 10Thanh Hóa của Vũ Quang Trung và Vũ Ngọc Khánh, Báo Văn hóa Thông tin
Thanh Hóa
3.1.4 Tài liệu điền dã
Chúng tôi chủ yếu tìm hiểu, khảo cứu, điền dã tại xã Tân Ninh bao gồmnhà thờ của dòng họ Lê Bật đền thờ Hoàng Giáp Lê Bật Tứ, văn bia, câu đối,
mộ, đình làng Đài, một số dòng họ khác, cụm di tích thắng cảnh Am Tiêm
Đồng thời còn tiến hành gặp gỡ, trao đổi với cán bộ văn hóa xã: Anh LêThanh Sơn, bác Lê Bật Điển, bác Lê Đình Minh, bác Lê Ngọc Bá và các cụcao tuổi hiểu biết về dòng họ Lê Bật
3.2 Phơng pháp nghiên cứu
3.2.1 Su tầm tài liệu
Để có nguồn t liệu cho đề tài nghiên cứu, chúng tôi đã tiến hành su tầm,tham khảo và tích lũy tài liệu ở th viện bảo tàng tổng hợp Thanh Hóa, Bannghiên cứu lịch sử tỉnh Thanh Hóa Sau đó sao chép gia phả bằng chữ Hán,rập chép bia ký, câu đối Nghiên cứu thực địa tại nhà thờ họ Lê Bật, nhà thờ
Lê Bật Tứ và một số đền thờ khác nh: đền thờ Lê Lôi, chụp ảnh nhà thờ, đềnthờ Đồng thời tiến hành điều tra cơ bản, điền dã dân tộc các dòng họ tronglàng Phỏng vấn các bộ lão địa phơng, nghiên cứu thực địa tại các đền thờ chủyếu ở xã Tân Ninh
3.2.2 Xử lý t liệu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài chúng tôi sử dụng phơng pháp logic
để trình bày một cách có hệ thống về quá trình hình thành và phát triển củadòng họ theo thời gian, diễn biến của lịch sử Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụngphơng pháp so sánh, đối chiếu gia phả, bia ký với chính sử, từ đó đánh giáphân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, đối chiếu các nguồn t liệu khác nhau
để xác minh tính chính xác của các sự kiện
Phơng pháp điền dã, điều tra xã hội học, dân tộc học tại địa điểm làm
đề tài và một số dòng họ, giúp chúng tôi có điều kiện quan sát, gặp gỡ, ghichép những lời kể của các cụ già cao tuổi Từ đó đánh giá phân tích, tổng hợp,nêu lên mối quan hệ chặt chẽ, sự tác động qua lại giữa dòng họ Lê Bật vớicộng đồng dân tộc Việt Nam
4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tợng nghiên cứu
Trang 11Lịch sử - văn hóa dòng họ là đề tài hấp dẫn và lý thú, song trong quátrình nghiên cứu về dòng họ có lịch sử từ rất lâu, nguồn tài liệu bị cũ rách chonên trong quá trình nghiên cứu phải công phu, tỉ mỉ và lâu dài Do vậy, vớinguồn t liệu hiện có, luận văn chủ yếu tìm hiểu, nghiên cứu về các vấn đề sau:
- Tìm hiều một cấch toàn diện, có hệ thống về quá trình hình thành vàphát triển của dòng họ Lê Bật trên đất Cổ Định xã Tân Ninh, những đóng gópcủa dòng họ qua các thời kỳ lịch sử dân tộc, trung đại, cận đại và hiện đại
- Qua đó góp phần đóng góp của dòng họ nói chung, chúng tôi đi sâutìm hiểu một số nhân vật của dòng họ mà nổi bật nhất là Hoàng Giáp Lê Bật
Tứ, Lê Duy, Lê Lôi và những đóng góp của con cháu dòng họ Lê Bật nóiriêng và đất nớc nói chung
- Chúng tôi tìm hiểu những nét văn hóa truyền thống tiêu biểu của dòng
họ nh học tập khoa bảng, đình, đền, bia, mộ
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Thời gian: từ thế kỷ XIII đến năm 2007
Không gian: chủ yếu trên địa bàn Cổ Định xã Tân Ninh - Triệu Sơn
5 Đóng góp khoa học giá trị thực tiễn của đề tài
5.1 Đóng góp khoa học
- Luận văn sẽ cung cấp và giới thiệu cho độc giả quá trình hình thành,phát triển của dòng họ Lê Bật trên đất Cổ Định xã Tân Ninh Qua đó góp phầngiáo dục đạo đức, những nét đẹp văn hóa truyền thống với mục đích giữ gìn vàphát triển bản sắc văn hóa dân tộc
- Qua lịch sử - văn hóa dòng họ Lê Bật góp phần làm sáng tỏ một số sựkiện lịch sử, một số nhân vật lịch sử trong quá khứ mà trong chính sử mới chỉnhắc đến một cách sơ sài hoặc cha nhắc đến
- Luận văn cũng góp phần làm phong phú thêm bộ lịch sử địa phơng vàtrở thành nguồn tài liệu quý báu, để đợc đi sâu nghiên cứu về lịch sử văn hóadân tộc
Trang 12bỏ những tiêu cực hớng tới xây dựng khối đoàn kết dân tộc, để xây dựng gia
đình văn hóa, làng văn hóa, xã hội văn minh hiện đại
- Luận văn góp phần bảo tồn và phát huy sản văn hóa dòng họ, khôiphục nghề truyền thống giúp sức cho sự nghiệp đổi mới của dân tộc hiện naytrớc sự thayđổi của thế giới
- Luận văn góp phần làm gắn bó những con ngời cùng dòng họ có thànhphần giai cấp vị trí khác nhau, có phân biệt xa gần, thân sơ nhng “máu loãngcòn hơn nớc lã”, “chín mời đời con hơn ngời dng”
- Luận văn hoàn thành góp phần vào việc gìn giữ, bảo tồn phát huy disản văn hóa của dòng họ với những di tích lịch sử đã đợc xếp hạng Qua đó,giáo dục thực tiễn cho thế hệ trẻ nét đẹp truyền thống, tìm về cuội nguồn làtruyền thống của dòng họ và của dân tộc Việt Nam
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dungluận văn gồm có 3 chơng:
Chơng 1: Quá trình hình thành và phát triển của dòng họ Lê Bật ở
Cổ Định xã Tân Ninh - Triệu Sơn từ thế kỷ XIII đến 2007.
Cổ Định - Tân Ninh là xã nằm ở phía Nam huyện Triệu Sơn Diện tích
tự nhiên của xã: 2.573.99 ha, dân số: 10.150 ngời, gồm 2500 hộ [3;.2] PhíaBắc giáp xã Thái Hoà, xã Vân Sơn huyện Triệu Sơn; phía Nam giáp xã TânThọ huyện Nông Cống; phía Đông giáp xã Đồng Lợi huyện Triệu Sơn; phíaTây giáp xã Văn Du và Mậu Lâm huyện Nh Thanh
Trang 13Tân Ninh có địa hình đồi núi và đồng bằng đất đai màu mở có thể thâmcanh cây lúa nớc, vừa có đồi núi trồng rừng phát triển kinh tế về mọi mặt XãTân Ninh có hai con sông, sông Nhơm và sông Hoàng chảy trên địa bàn xãuốn lợn theo hình võng cáng, các khu dân c nh ất, Bính, Đinh đều ở trên dãi
đất bồi ven sông, sông tự nhiên chảy qua địa phận xã trên 6 km, trớc đây là ờng thủy dùng để làm đờng giao thông, khi đờng bộ còn cha phát triển, đồngthời còn là nơi cung cấp nớc sinh hoạt: có tôm, cá, trai, hến làm thức ăn chodân địa phơng Ngoài ra còn có hệ thống sông đào, kênh mơng làm từ thờiPháp thuộc để hỗ trợ phát triển nông nghiệp
đ-Có núi, có sông, có đờng giao thông thuỷ bộ, thuận lợi, nên xã TânNinh có vị trí hết sức quan trọng về nhiều mặt Đặc biệt trong địa bàn xã cótrung tâm của một vùng sa khoáng quý hiếm crôm Mỏ crôm Cổ Định là mỏduy nhất ở Việt Nam với trữ lợng lớn chất lợng tốt, nên từ lâu đã hình thànhtại đây một khu công nghiệp khai thác quặng Ngoài nghề trồng lúa nớc vàchăn nuôi gia súc, gia cầm, ngời dân địa phơng còn có nghề khai thác quặngcrôm Trong các mối quan hệ giao tiếp, bên cạnh ngời nông dân trong vùngdân xã Tân Ninh còn có quan hệ lâu đời với công nhân và nền sản xuất côngnghiệp, bán công nghiệp ý thức của dân địa phơng có sự hoà đồng từng bớccủa công nhân một lực lợng đại diện cho nền sản xuất công nghiệp (có tổchức, có kỷ luật)
Ngàn Na có đặc sản là cây Nứa là nguồn nguyên liệu dồi dào đợc dânbản địa dùng đan lát, giành, phên, bồ, bịch, đem bán ở nhiều nơi, nên thờnggọi dân vùng này là dân kẻ Nứa Đây là một điều kiện thuận lợi, ngoài ý nghĩakinh tế, đời sống, giúp dân kẻ nứa mở rộng giao lu, tiếp xúc và tiếp thu những
Trang 14cái hay cái đẹp của nhiều nơi mang về xây dựng quê hơng, tổ ấm của mình.Nói về cây nứa, cao dao cổ còn ghi:
Em đà thuận lấy anh ch
Để anh đốn nứa ngàn Na dựng nhà”
Cổ Định buổi sơ khai có tên là kẻ Nứa, gọi nôm là kẻ Na, năm 111(TCN) Nam Hán sang xâm lợc đặt, châu, quận để cai trị Chữ Hán tiếng Nứakhông có nên phiên âm là Na, vùng Nứa này gọi là Na Sơn Đời Lý - Trần đổi
là Cổ Na Đến năm 1428 Lê Lợi lên ngôi lấy niên hiệu là Lê Thái Tổ Cổ Na
đổi thành Cổ Ninh Đến thời Lê Trung Hng, vua đầu tiên là Lê Trang Tông(1533 - 1548), tên huý là Lê Duy Ninh vì kiêng tên vua, Cổ Ninh đợc đổithành Cổ Định [3; 17]
Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, Cổ Định mang tên mới là Tân Ninhvới lời phân tích và đề nghị của Hội đồng nhân dân xã họp khoá đầu tiên năm
1946 Cổ Định trớc là Cổ Ninh, nay trong chế độ mới thay chữ Cổ bằng chữTân và đặt tên xã là Tân Ninh thuộc huyện Nông Cống
Trong kháng chiến chống Pháp xâm lợc mở rộng vào thời kỳ ác liệt TânNinh hợp nhất với Thái Hoà thành xã Ninh Hoà Sau cải cách ruộng đất, lạiphân thành 2 xã: Tân Ninh và Thái Hoà thuộc huyện Nông Cống
Theo quyết định của Quốc hội và Chính phủ Việt Nam dân chủ cộnghoà, tháng 2/1965 huyện Triệu Sơn chính thức thành lập, bao gồm phần đấthuyện Nông Cống, Thọ Xuân, xã Tân Ninh thuộc địa bàn huyện mới huyệnTriệu Sơn
Nh vậy, địa danh Cổ Định - Tân Ninh đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử(do có nơi cũng có tên xã Tân Ninh, nên phải dùng từ Cổ Định - Tân Ninh).Vùng đất Cổ Định -Tân Ninh đã sản sinh ra biết bao ngời con u tú đầy nghĩakhí, kiên trung, những vị trạng nguyên cống hiến hết mình cho đất nớc Khinhắc đến mảnh đất Tân Ninh là nhắc đến mảnh đất “địa nhân linh kiệt”
1.1.2 Truyền thống văn hoá lịch sử của Cổ Định - Tân Ninh
Lịch sử Cổ Định - Tân Ninh gắn với lịch sử dân tộc, trên mảnh đất này từthủa khai thiên lập địa ông cha ta đã anh dũng, cần cù trong cuộc đấu tranh vớithiên nhiên để xây dựng quê hơng, xây dựng cuộc sống để sinh tồn Thời nào
Cổ Định cũng có một vị trí nhất định trong lịch sử Dựa vào các di vật đợc tìmthấy dới tầng đất ven núi Na cách nơi dân c làng Cổ Định ở bây giờ khoảng 1
Trang 15km2 các đồ vật tìm thấy đợc nh rìu đá, có vai trạm đá, khuyên đeo tai bằng đátrắng mài bóng, xen lẫn các di vật còn có dao găm đồng, mác đồng.
Từ các vật khảo cổ đã tìm thấy Cổ Định - Tân Ninh thật sự là một làngtối cổ, có từ thời đaị các vua Hùng, và đã có trên 3000 năm lịch sử Ngoài ra,còn dựa vào căn cứ: Cổ Định có nhiều thổ ngữ rất xa mà nhiều nơi nghekhông hiểu ví dụ: Con Kha Cắn (gà gáy): buốt trốc (gội đầu); trốc cuốn (đầugối); điền mụ (đàn bà); con cấy (con gái); cấu, lọ (gạo, thóc) [57; 19] Vật thờtại Nghè Giáp vỏ trấu giống vật thờ ở đền Hùng, hai vỏ trấu tạc bằng gỗ sơnson, thiếp vàng, to bằng hai chiếc thuyền thúng, nhọn hai đầu, là hình ảnh t-ợng trng cho thần lúa (một tục lệ thờ rất cổ), ngoài ra còn có những truyềnthuyết ở địa phơng: “Tu na đấu với tu vòm”; “Tu na gánh núi dọn đồng”, dẫn
ta trở lại thời khai thiên lập địa xa xa
Vì vậy, Cổ Định có nghĩa là “tối cổ Vị Định”, vị trí đã định là một làngtối cổ
Trong lịch sử đấu tranh giữ nớc của dân tộc, trên mảnh đất Cổ Định cònghi lại nhiều dấu tích văn hoá của nhiều cuộc khởi nghĩa
Thế kỷ I, đất Cổ Định đã đón nhận nghĩa quân Hai Bà Trng do tớng ĐôDơng chỉ huy rút về vùng này lập căn cứ tử thủ, để lại cho đời sau những câuchuyện dân gian đầy khí phách anh hùng Cổ Định nằm trong vùng căn cứ củakhởi nghĩa Bà Triệu năm 248 Lịch sử dân tộc còn ghi “Bà Triệu quê ở huyệnNông Cống là ngời có chí khí hơn ngời, có hoài bảo đánh giặc ngoại xâm,giành lại độc lập cho đất nớc Năm 19 tuổi, Triệu Thị Trinh cùng an là TriệuQuốc Đạt, hô hào nhân dân trong vùng nổi dậy khởi nghĩa [48;89] Bao đờinay, quanh vùng Na vẫn còn bài đồng dao, ca dao quen thuộc
Ru con con ngủ cho lành
Để mẹ gánh nớc sữa bành con voi Muốn coi lên núi mà coi
Coi bà Triệu tớng cỡi voi đánh cồng.
Tên các địa danh hoạt động của khởi nghĩa:
Bãi bò: Bãi nuôi bò lấy thịt nuôi quân
Bát gạo, đống gạo, đống thóc: nơi dự trữ lơng thực
Eo sở: nơi trồng cây sở lấy dầu thắp
Đông chợ Bụa: nơi họp chợ trên đỉnh Am Tiên
Ao hóp: nơi lấy nớc trên đỉnh Am Tiên
Trang 16Khe đá bàn: nơi làm việc của Bộ chỉ huy nghĩa quân.
Cuộc khởi nghĩa vang dội vào năm 248 đã từng làm “Chân giao chấn
động” làm cho quân Ngô ở 2 quận Giao Chỉ, Cửu Chân khiếp sợ Khi thànhlập huyện Triệu Sơn Đảng bộ và nhân dân trong huyện lấy tên họ Triệu của bà
và dấu ấn chiến tích Na Sơn tạo nên một tên mới “huyện Triệu Sơn” cũng
đồng nghĩa huyện Triệu Sơn anh hùng
Năm 1389, Nguyễn Kỵ ngời Cổ Định, huyện Nông Cống lãnh đạo cuộckhởi nghĩa của nông dân chống áp bức bóc lột của phong kiến cuối thời Trần,lấy vùng núi Na làm căn cứ Nguyễn Ky tự xng là Lỗ Vơng Điền Kỵ, sau kéoquân đến Trang Đông Lỗ (thuộc huyện Thiệu Yên trớc đây) lập căn cứ chốnglại sự rạn nứt của phong kiến cuối Trần và âm mu cớp ngôi của Hồ Quý Ly
Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lợc Cổ Định nằm trongvùng căn cứ của Nguyễn Chích đóng tại dãy Hoàng Sơn (dãy núi phía Tây sátcánh đồng Cổ Định), chống lại giặc Minh
Trơng Phụ trực tiếp mang đại quân vào đàn áp nghĩa quân nhng không
có hiệu quả Bọn giặc quay ra tàn sát nhân dân quanh vùng để cô lập nghĩaquân, chúng tàn sát vùng Cổ Định chém giết trên 3 nghìn ngời chỉ còn sót lại
13 ngời Những ngời còn sót lại tham gia khởi nghĩa Lam Sơn, nổi tiếng cóDoãn Nổ (sau đợc phong quốc tính là Lê Nổ) và Lê Lôi và đợc phong LamSơn khai quốc công thần Ngày nay, đền thời hai ông vẫn còn
Cổ Định trong thời kỳ chống thực dân Pháp xâm lợc cuối thế kỷ 19 đầuthế kỷ 20
Tham gia phong trào Cần Vơng (1885 - 1895) có cử nhân Lê NgọcToản, Tán tơng quân vụ phong trào Cần Vơng ở Thanh Hóa Một lần nữa,ngàn Na là nơi tụ họp, túc quân, bàn việc chống thực dân pháp xâm lợc củaphong trào Cần Vơng Nông Cống do cử nhân Lê Ngọc Toản chỉ huy Sau nàythực dân Pháp và Triều Nguyễn đã cho tay sai phun xăng đốt cháy trại khunhà ở của cụ Lê Ngọc Toản ở Cổ Định
Con cụ Lê Ngọc Toản là Lê Trọng Nhị tham gia phong trào chống thuế
ở miền Trung năm 1908, bị bắt và đầy đi Côn Lôn với án khổ sai 9 năm (theobản án ngày 30 tháng 1 năm 1909 lúc ấy cụ 28 tuổi)
Trong phong trào Đông Du do Phan Bội Châu khởi xớng vận động ngời
đi ra nớc ngoài học tập để trở về đánh giặc Pháp, xã Tân Ninh có cụ Trơng BáKiều tham gia, ông bị giặc Pháp bắt và bị đày đi biệt sứ
Trang 17Tháng 3/1926, có phong trào để tang Phan Chu Trinh ở Nông CốngThanh Hóa Một số học sinh buộc phải thôi học.
Tháng 7/1928 Tân Việt Cách Mạng Đảng thành lập Ông Lê Huy (còngọi là ông giáo Lâm) đang dạy học ở trờng kiêm bị Quảng Hoá (Vĩnh Lộc) đ-
ợc kết nạp vào Tân Việt Đảng, ông bị bắt năm 1929 và sau đó buộc đi dạy ởBuôn Mê Thuật rồi về Quảng Ngãi Sau cách mạng tháng 8/1945, ông đợc mờitham gia chính quyền ở huyện Nông Cống
Cổ Định trong thời kỳ đấu tranh từ 1925 đến cách mạng tháng 8/1945.Năm 1927, truyền đơn xuất hiện ở chợ Na (vào loại chợ to, nổi tiếng lúcbấy giờ ở Nông Cống, Thanh Hóa)
Đầu năm 1931, công nhân mỏ Cổ Định đấu tranh đòi giảm mức đãiquặng, chủ mỏ phải hạ mức từ 10% đến 15% mỗi ngày
Năm 1936 - 1937: Cổ Định có phong trào đọc sách báo, học chữ quốcngữ, th viện sách báo mới đặt tại nhà ông Lê Bật Nhợi, ông Nguyễn Văn Vợng
và ông Lê Nguyên Phô xây dựng cơ sở cách mạng ở mỏ Cổ Định, làng Cổ
Định và 5 tổng phía Bắc Nông Cống Ông Nguyễn Văn Vợng chính là nhà thơNguyên Hồng sau này
Năm 1940 - 1941, Hội “phản đế cứu quốc” đợc thành lập ở mỏ Cổ
Định, làng Cổ Định, phong trào quần chúng đợc cũng cố, truyền đơn xuất hiện
ở chợ Na
Tháng 9/1943, Ban cán sự Việt Minh huyện Nông Cống đợc thành lập,sau đó thành lập mặt trận Việt Minh ở Mỏ Cổ Định phát triển ngày càng sâurộng và trở thành trung tâm cách mạng trong vùng
Đầu năm 1945 mở xởng rèn dáo mác ở nhà bà Hào Cự, ông Khoát (xóm
Đinh), sửa súng hạt nẻ, súng mút ktông ở nhà ông Tài Chung và ông Nguyện(thợ rèn)
Lực lợng tự vệ Cổ Định đợc thành lập, tham gia mít tinh biểu dơng lựclợng ở Lai Thôn (Nông Cống) sau đó ủy ban khởi nghĩa huyện, ủy bân nhândân lâm thời huyện đợc thành lập, ông Vơng Trọng Hàng, ngời Cổ Định đãtham gia cả 2 uỷ ban này Ngày 21/8/1945, khởi nghĩa giành chính quyềnhuyện Nông Cống thắng lợi, tham gia phong trào cách mạng ở thời kỳ tiềnkhởi nghĩa này, Cổ Định có những cán bộ hoạt động tiêu biểu là Lê NguyênPhô, Nguyễn Nhuận, Vơng Trọng Hàng, Lê Đình Khải, Lê Nguyên Thành,Hứa Nh ý, Lê Bật Thành
Trang 18Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ nhân dân Cổ Định
đã góp phần to lớn vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, đã có 2.252 ngời đi bộ
đội, 238 ngời đi thanh niên xung phong, 223 ngời đi dân công hoả tuyến, ủng
hộ kháng chiến 2.100 tấn gạo, 400 tấn thực phẩm, 160 chỉ vàng và 4.800 kg
đồng, toàn xã có 299 liệt sĩ, 121 thơng binh, 103 bệnh binh, có 318 ngời dân
đợc tặng thởng Huân chơng chiến công, 1043 ngời có Huy chơng khángchiến, Thủ tớng tặng 39 bằng khen, đợc nhận cờ thởng thi đua “Quyết tâm
đánh thắng giặc Mỹ xâm lợc” của Hồ Chí Minh, xã có 6 bà mẹ Việt Nam anhhùng [1;14]
Với những thành tích đã đạt đợc, năm 2001 xã Tân Ninh đợc công nhận
“Đơn vị anh hùng lực lợng vũ trang nhân dân”, đây là vinh dự và niềm tự hàocủa xã
Cổ Định từ lâu đã nổi tiếng là đất học, đất phát quan, thời phong kiến
có nhiều vị đỗ cử nhân, đỗ đại khoa từ tiến sĩ đến trạng nguyên Cổ Định, Cổ
Đôi là điểm sáng đợc dân gian ca ngợi
Văn chơng Cổ Định, Cổ Đôi
Ông Nghè, ông Cống Cổ Định, Cổ Đôi.
Khoa thi năm Giáp Thìn (1304) thời Trần Anh Tông có 44 vị đỗ tháihọc sinh (tiến sĩ) riêng Cổ Na có 5 vị đỗ thái học sinh và đều đợc bổ dụng làmquan trong triều đó là các cụ: Doãn Băng Hài: Hình bộ thợng th; Lê Thân:Thái phó luật quốc công; Lê Duy: quan Nội Hầu; Lê Quát: Thợng th hữu bật;
Lê Xử làm Học quan
Tại văn miếu Quốc Tử Giám (Hà Nội) có hai bia tiến sĩ ghi tên hai ôngNghè: đó là Cụ Hoàng Giáp Lê Bật Tứ, đậu khoa thi 1598 và cụ Lê Nhân Kiệt
đậu khoa thi 1661
Đó là cha kể các nho sĩ Cổ Định đỗ tứ trờng (cử nhân) trong các kỳ thiHơng, hoặc đỗ tam trờng trong các kỳ thi Hội ở Nghè Giáp Cổ Định còn đôicâu đối:
“Thánh hiển tự Đinh, Lý, Trần, Lê dĩ lai, bách d đạo sắc phong chúa tểthần quyền khâm đế bá
Linh địa hữu lãng thuỷ Na Sơn chi mạch, thập thôn phân cổ”
Dịch là:
“Đức thánh hiển linh từ Đinh, Lý, Trần, Lê đến nay có hàng trăm đạosắc phong chúa tể thần quyền do hoàng đế ban
Trang 19Đất thiêng có mạch quý của núi Na, sông Lãng, ấp cổ, 10 thôn nền vănhoá địa phơng luôn luôn có ngời làm đến bậc công, hầu”.
Khi chữ Hán và chữ Nôm không còn là văn tự chính thức của nớc nhà,thì việc sử dụng chữ quốc ngữ đợc đẩy mạnh
Trong quá trình đấu tranh cách mạng để giành lại độc lập Đảng Cộngsản Việt Nam rất chú trọng đến việc phổ cập chữ quốc ngữ Hội truyền báchữ quốc ngữ do Đảng lãnh đạo đợc triển khai rộng rãi và thu đợc nhiều kếtquả
Ngay từ những năm học 1924 - 1925, ở Cổ Định đã có trờng tiểu học và
đến năm 1938 - 1939, trờng tiểu học đã có 6 lớp (từ lớp đồng ấu đến lớp nhất)
Đây là một điều đặc biệt, ngoại lệ, so với thể chế giáo dục của thực dân Pháp
và triều Nguyễn lúc bấy giờ
Chính điều này đã tạo đà canh tân nông thôn và nâng cao trình độ vănhoá cho lớp cán bộ Cổ Định và các tổng lân cận suốt đầu cách mạng tháng 8
và sau này trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng tổ quốc
Cổ Định còn là một địa điểm tập trung sôi động của đồng bào tản c về
đây cùng nhân dân địa phơng tham gia kháng chiến, các nơi từ Hà Nội, HảiPhòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình và một số trờng học cũng đợcchuyển về đây nh trờng y sỹ với các bác sĩ Hoàng Đình Cầu, Đặng Vũ Huỷ,Trịnh Văn Tuất, Trịnh Hữu Trớc Trờng thiếu sinh quân Liên khu 4, trờngQuân chính, có lúc cơ quan huyện Nông Cống cũng sơ tán về Cổ Định mộtthời gian Nhiều văn nghệ sĩ trong nớc cũng vài lần về vùng đất này Cho đếntận bây giờ có thể nói tình cảm của các cán bộ đã từng công tác dạy học hoặchọc ở trờng thiếu sinh quân, quân chính… tuy đã nhiều tuổi vẫn còn kỷ niệm tuy đã nhiều tuổi vẫn còn kỷ niệmrất đẹp về Cổ Định Khi về thăm Cổ Định nhà thơ, nhà nghiên cứu Trần LêVăn đã ghi lại những xúc cảm chân thực và mạnh mẽ đối với một miền quê
đã để lại cho mình nhiều kỷ niệm khó quên trong thời kỳ kháng chiến chốngPháp
Về thăm Cổ Định
Cuộc du ngoạn: cuộc hành hơng
Về thăm Cổ Định mến thơng dạt dào Núi Na sừng sững đón chào
Mắt ta đăm đắm hớng vào núi Na
Đâu đây là mái trờng xa Thầy trò họp mặt sớm tra vui vầy
Trang 20Bài toán khó, đoạn văn hay
Bom đạn giặc chẳng chuyển lay tinh thần
Đâu đây là mái nhà dân Chắn che gió biển, lán ngăn ma nguồn
Sẻ chia từng phút vui buồn
Sẻ chia ngụm nớc, miếng cơm từng ngày
Đồng bào hai tiếng đẹp thay
Biết bao ơn nặng nghĩa dày, khó quên Nhớ mong, mong nhớ triền miên Duyên tái ngộ cũng là duyên diệu kỳ Các anh, các chị xa kia
Nay là các cụ không hề lạ nhau
Dù cho bạc tóc, trắng râu Trái tim vẫn thắm một màu thanh xuân Nắm tay tha thiết ân cần
Giữ cho bền chặt tình thân lâu dài.
Ngày nay, Cổ Định - Tân Ninh vẫn là vùng đất học Cổ Định - TânNinh vẫn có 2 trờng phổ thông cấp II, 2 trờng tiểu học cấp 1 Có 2 nhà đầu t
mở trờng trung học phổ thông dân lập Trờng Lý Thờng Kiệt ở Thành phốThanh Hóa, do gia đình thầy giáo Lê Ngọc Dong đầu t và chỉ đạo công việcdạy học rèn luyện Trờng Dân Lập Triệu Sơn do thầy giáo Lê Bật Liêm làmchủ đầu t và hiệu trởng nhà trờng
Hiện nay, Cổ Định - Tân Ninh có thiếu tớng, các giáo s, phó giáo s,phục vụ trong quân đội, các viện nghiên cứu và một số lớn gia đình có con,cháu đậu tốt nghiệp đại học, đang học trên đại học
Bởi những lẽ đó, d luận và sách báo coi vùng Cổ Định - Tân Ninh làmột vùng “địa linh nhân kiệt” và trải qua thăng trầm của lịch sử, đến nay vẫncòn những di tích: Đền thờ Hoàng Giáp Lê Bật Tứ, Đền thờ Tào Sơn Hầu,Thắng cảnh Am Tiên, đền Na, Nghè Giáp, là những di tích lịch sử văn hoá đợcxếp hạng
Chúng ta không thể kể hết đợc những địa danh gắn với những giai đoạnlịch sử cùng với những con ngời đã làm nên vẻ vang cho lịch sử dân tộc Trênmảnh đất này đã sinh ra biết bao anh hùng hào kiệt, danh nhân những tâm hồn
đó, những con ngời đó đã làm nên những trang sử vẻ vang cho dân tộc mình,
Trang 21nhân dân Cổ Định, con ngời Cổ Định là thế đấy ! Sống ai ai cũng can đảm,cũng quyết tâm sáng ngời chủ nghĩa anh hùng cách mạng, vì mang trên vaimấy ngàn năm lịch sử, vì mang trong ngời cả một dòng máu hào hùng, gangóc của quê hơng.
Qua vùng đất và con ngời Cổ Định, ta thấy Cổ Định thật xứng đáng làchỗ dựa vững chắc cho các triều đại phong kiến trớc đây và nớc cộng hoà xãhội chủ nghĩa Việt Nam ngày nay Đó cũng là môi trờng tốt để giữ gìn và pháthuy bản sắc của con ngời Cổ Định nói riêng và các dòng họ nói chung của dântộc Việt Nam
Vì vậy, trong Hội thảo văn hoá làng xứ Thanh, có tác giả viết: “Cónhững tên làng xã đã đi vào lịch sử quê hơng đất nớc Những tên làng ấy đãgắn bó với bao sự kiện sống động ở từng địa phơng Những tên làng, tên xã đó
là niềm tự hào chung của những con ngời quê Bà Triệu, Dơng Đình Nghệ vànhững tên làng, tên đất kẻ Na, Bồ Điền, Đông Phố, Cổ Định vẫn còn gâyxúc động cho chúng ta mỗi khi nhắc đến” [47;62]
1.1.3 Một số dòng họ lớn ở Cổ Định - Tân Ninh
Cổ Định là mảnh đất hội tụ nhiều dòng họ lớn, các dòng họ định c ở Cổ
Định đã đoàn kết với nhân dân bản địa, lập ra nhiều làng quê trù phú, xâydựng Cổ Định trở thành vị trí quan trọng của huyện Triệu Sơn, tỉnh ThanhHóa Theo “Báo cáo thành tích xây dựng dòng họ hiếu học tại đại hội thứ nhấtxã tân Ninh năm 2007” thì Tân Ninh có 18 họ, từng dòng họ không kể lớn nhỏ
đều góp phần làm cho quê hơng Cổ Định trở nên sinh động và phong phú
Các dòng họ ở Cổ Định đã sinh sôi nảy nở, họ đã cống hiến cho dân tộcnhiều nhân tài, góp phần làm rạng rỡ thêm nền văn hoá truyền thống của xứThanh nói riêng và cả nớc nói chung Bởi vậy, ngoài dòng họ Lê Bật mà chúngtôi chọn làm đề tài nghiên cứu trong luận văn này, chúng tôi giới thiệu, nêukhái quát một số dòng họ nổi tiếng ở Cổ Định sau:
Dòng họ Lê Đình:
Theo gia phả của dòng họ Lê Đình, tính từ Cụ Thuỷ Tổ Luật QuốcCông Lê Thân đến nay có 22 đời gồm 4 chi và qua một thời kỳ lịch sử lâu dài
705 năm, dòng họ Lê Đình đã có nhiều đóng góp đối với lịch sử dân tộc Họ
Lê Đình đã sản sinh ra nhiều nhân tài cho đất nớc, thời kỳ lịch sử nào thì dòng
họ Lê Đình cũng có nhiều đóng góp to lớn
Trang 22Ngay cụ Thuỷ Tổ của dòng họ là Cụ Lê Thân đậu bảng nhãn Năm GiápThìn 1304 đời vua Trần Anh Tông với chức quan ở hàng tứ phẩm, Lê Thân đãnổi tiếng là một vị quan thanh liêm chính trực Dới triều vua Trần Dụ Tông,
Lê Thân đợc triệu về kinh đón nhận chức Hàn lâm viện biên tu hình luật, khiTrạng nguyên Mạc Đĩnh Chi mất, Lê Thân đợc thăng chức Hành khiển ôngsay sa đàm đạo với các bậc đại thần khác và bắt đầu san định bộ luật chotriều đình Ông thờng nói với các quan cùng đồng sự với mình "Hình luật làmối rờng cột của xã hội Bảo vệ cái đúng, nghiêm trị cái sai, chính tòng phânbiệt để giữ nghiêm phép nớc mới là đạo tôi trung với vua Do có công lao vớitriều đình mà Lê Thân đợc nhà vua phong tớc Luật Quốc Công Năm 72 tuổi,
cụ xin đợc về quê an dỡng, sống hoà nhã đôn hậu với bà con xóm giềng, nên
ai ai cùng mến thơng gọi cụ với cái tên kính trọng “Quan già luật”
Khi cụ mất, cảm thấu công đức cụ, ngời đã khai khoa cho quê mình,
tr-ớc miếu cụ có đôi câu đối:
Nông Cống khai khoa thiên hạ thức, Thanh Hoa quốc tớc cộng đồng tri.
Nghĩa là: Ngời khai khoa cho Nông Cống thì ai cũng biết,
Thanh Hóa có vị quốc công thì mọi ngời đều hay
Cụ Lê Thân có 2 ngời con trai Lê Dậu và Lê Quát, ông Lê Quát sinhnăm Kỷ Mùi 1319 theo về ở quê mẹ thôn Phủ Lý xã Thiệu Trung huyện ThiệuHoá, lý do ông bàn ngoại chỉ có mình bà Đặng Thị Lý
Ông Lê Quát là học trò xuất sắc của thầy giáo Chu Văn An, là ngờithông minh ham chữ nên thờng đợc gọi là Trạng Quét Ông thi đỗ thái họcsinh làm Tả t lang kiêm Hàn Lâm viện, ít lâu thăng Thợng th Hữu bật nhậpnội hành khiển
Lê Quát có ngời con trai là Lê Giốc là ngời con đã nối chí cha làm nên
sự nghiệp lớn lao đợc sử sách lu danh Ông đậu hoàng giáp đời Trần Duệ Tông(1372), sau đợc cử làm Ninh phủ sứ Nghệ An Bấy giờ có sự kiện vua DuệTông thân chinh cầm quân đi đánh Chiêm Thành chẳng may bị tử trận và tớngTrần Hiệp đầu hàng giặc Năm Đinh Tỵ (1377), ngời Chiêm đa Trần Hiệp vềnớc kèm theo binh hùng tớng mạnh và lập làm vua đóng ở Nghệ An, là miềnquân Chiêm mới chiếm đợc Lê Giốc vẫn ở lại Nghệ An để chống cự quyếtliệt, dàn quân đóng giữ ở yếu điểm Đại Hoàng Mặc dù không đợc cứu viện,khi bị bắt ông không khuất phục mà quát mắng lại “Ta là quan của nớc lớn,sao phải lạy chúng mày”
Trang 23Giặc điên cuồng hạ lệnh giết ông, hành động dũng cảm của Lê Giốc
đ-ợc quan quân triều đình tâu lên vua Trần Biết ông là con của Lê Quát, cả haicha con cùng một lòng trung nghĩa với triều đình nên ông đợc truy phong là
“Mạ tặc trung võ hầu” (có nghĩa là một tớng võ chửi giặc và trung thành, tớchầu) Sứ thần Ngô Sĩ Liên đã nói về Lê Giốc: "Bỏ lối sống để giữ nghĩa cònhơn là sống, cầu sống mà nhục, ngời quân tử không làm Kinh dịch nói: Ngờiquân tử thà hi sinh tính mạng để thực hiện chí hớng của mình Giốc là ngời
nh vậy [43; 255]
Kế thừa truyền thống yêu nớc của cha ông để lại, trớc Cách mạng tháng
8 có nhiều thế hệ tham gia hoạt động giành độc lập thống nhất Tổ quốc tiêubiểu nh ông Lê Đình Khải, Lê Nguyên Thành, Lê Nguyên Kinh, trong phongtrào văn thân có cụ Cống Ngữ
Ngoài truyền thống yêu nớc cách mạng qua mỗi chặng đờng của lịch sửdân tộc, dòng họ Lê Đình còn có truyền thống khoa Bảng, hiếu học Đến nay,dòng họ đã có 150 ngời có trình độ đại học, 6 ngời tiến sĩ, 3 phó giáo s nhiềungời đang giữ cơng vị cao cấp (lãnh đạo trờng Đại học Thuỷ lợi), có nguyênPhó tổng thanh tra Nhà nớc, giám đốc Sở và nhiều cán bộ giảng dạy trờng Đạihọc Dòng họ tham gia phong trào hiếu học đầu tiên trong xã, nhiều năm dòng
họ đều đạt chi họ xuất sắc, dòng họ tiêu biểu nhiều năm liền
Dòng họ Doãn:
Họ Doãn là một trong 8 dòng họ sớm có mặt ở làng Cổ Định xa Tính
đến cụ Thuỷ Tổ Doãn Tử T đến nay đã trải qua trên 1.000 năm, ngày nay concháu sinh sôi, phát triển đông đúc, lan toả khắp mọi miền của Tổ quốc Tronglịch sử dựng nớc và giữ nớc của dân tộc ở bất cứ thời kỳ lịch sử nào con cháucủa dòng họ Doãn cũng có nhiều đóng góp cho đất nớc
Theo gia phả của dòng họ Doãn thì dới thời phong kiến, có 3 ngời thuộc
3 thế hệ đã đảm đơng trọng trách đi sứ Đó là cụ Doãn Tử T - Thời Lý Thái Tổ(1010 - 1028) đi sứ nhà Tống có công hoạch định biên giới, đợc vua tặng tớcQuận công Cụ Doãn Đình Khải (cháu Doãn Tử T) - Thời Lý Nhân Tông(1072 - 1128) đợc vua ban tặng Quận công đi sứ sắp đặt sự hoà hiếu với nhàTống, Doãn Bằng Hài cháu 7 đời Doãn Tử T - thời Trần Minh Tông (1314 -1329) đợc cử đi xứ Nguyên - Mông ông đối đáp thông minh cứng cỏi làm rạng
rỡ quốc thể, đợc vua tặng chức Thiếu phó, tớc hiệu Hng Đình Hầu và ban ởng 100 mẫu đất ở huyện Đông Ngãi làm trang ấp (nay xã Đông Thịnh -huyện Đông Sơn)
Trang 24th-Trong sự nghiệp bảo vệ đất nớc, bên cạnh các danh tớng có tên tuổi củacác dòng họ, có thợng tớng quân Doãn Nổ, đã có nhiều công lao phò tá Lê Lợi
và đã lập nhiều chiến công trong chiến đấu nên đợc phong chức “Điện tiền xa
vệ uý” tớc quan phục Hầu đứng trong hàng ngũ khai quốc công thần ban quốctính Lê Nổ Cụ Doãn Huy làm quan đến Hữu thị lang Bộ binh, cụ có công cứuthoát Trịnh Tùng khi Trịnh Xuân nổi loạn, nên đợc phong “Phó quốc vơng”
Cụ mất phong Phúc thần và lập miếu thờ - ngời làm rạng rỡ dòng họ Doãn ở
Cổ Định Dới triều Nguyễn có tớng Doãn Uẩn, làm tổng đốc An Hà, đợc khắctên vào bia các vị công thần triều Nguyễn đặt trong võ miếu tại Huế và đợcvua Thiệu Trị cho khắc tên cụ vào khẩu súng thần công thứ nhất trong số 9khẩu loại "thần uy phục viễn đại tớng quân"
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ của dân tộc, trong sốcác anh hùng, liệt sĩ, chiến sĩ, cán bộ lực lợng vũ trang cũng có nhiều ngời con
họ Doãn mà tiêu biểu là có Trung tớng Doãn Tuế, phó tổng tham mu trởngQuân đội nhân dân Việt Nam, t lệnh pháo binh đã tham gia chỉ huy nhiềuchiến dịch lớn
Từ bảo vệ đất nớc, đấu tranh ngoại giao với kẻ địch là những cờng quốckhông bao giờ từ bỏ dã tâm xâm lợc nớc ta, cho đến xây dựng đất nớc HọDoãn cũng góp phần to lớn phục vụ nhân dân trong thời kỳ phát triển đất nớc
Về lĩnh vực văn học trong “Lợc truyện các tác gia Việt Nam” của TrầnVăn Giáp - nhà XB sử học - HN 1962) có các tác giả họ Doãn: Doãn Hành,Doãn Thực, Doãn Thai, Doãn Uẩn, Doãn Kế Thiện mà những tác phẩm chữHán, chữ nôm rất có giá trị và có cả những tác phẩm Tiếng Việt đầu thế kỷ
XX của Cụ Doãn Kế Thiện còn đợc lu giữ
Trong lĩnh vực nghệ thuật có nhạc sĩ Doãn Mẫn với những ca khúc chữtình, Doãn Quang Khải với bài hát “Vì nhân dân quên mình” quen thuộc,Doãn Phú với giọng ca êm mợt trên đài tiếng nói Việt Nam Thời kỳ sau Cáchmạng tháng 8, Doãn Nho với các bài hát quen thuộc của lực lợng vũ trang Cómột điều đáng chú ý là các bậc danh nhân dòng họ Doãn ở trên, sau khi thành
đạt, chuyển c đi nới khác Vì vậy mãi tới năm 1990, các chi họ Doãn ở các nơitrong toàn quốc, dần dần mới thống nhất: Cổ Định - Tân Ninh là quê hơng đất
tổ của dòng họ Doãn, và sau khi có nhà thờ dòng họ, năm 2007, các dòng họDoãn ở các nơi trong toàn quốc về dự họp dòng họ tại quê hơng Cổ Định Đó
là một điều rất đáng trân trọng
Trang 25Dòng họ Lê Ngọc:
Dòng họ Lê Ngọc là một dòng họ lớn ở Cổ Định, dòng họ có nhữngngời con u tú có những đóng góp đối với lịch sử dân tộc và xây dựng xómlàng
Theo gia phả dòng họ Lê Ngọc thì từ bé Lê Ngọc Toản đã là một thần
đồng, am tờng sách sử, thấu đáo văn chơng Nhng đến năm 36 tuổi ông mớicùng cha đến trờng thi ứng thí - kỳ thi hơng năm ấy ông đậu cử nhân
Lê Ngọc Toản đợc triều Nguyễn bổ nhận làm tri phủ Phủ Đoan Hùng(Hà Bắc) Tuy là một viên quan có nhiều uy quyền, nhng Lê Ngọc Toản tỏ rõ
là ngời thanh liêm chính trực Ông luôn bênh vực ngời nghèo, thẳng tay với
kẻ làm sai phép nớc Vì vậy dân khắp Phủ Đoan Hùng ai ai cũng kích trọng
ông
Lúc bấy giờ, quân cờ đen nổi lên cớp phá vùng Đoan Hùng Lê NgọcToản bị bắt Lu Vĩnh Phúc đã đóng gông ông lại và định giờ đem chém Vợcủa Lu Vĩnh Phúc đã nhận ra quan Phủ Đoan Hùng là ngời đức độ, liền xinchồng tha tội cho ông Đợc tin vùng Đoan Hùng đã rơi vào tay quân cờ đen,triều đình nhà Nguyễn đã cách chức Lê Ngọc Toản và đuổi về quê
Ông về quê, sớm chiều vui thú với nghề dạy học Đó là lúc thực dânPháp đánh chiếm thành Hà Nội ở Huế, Tôn Thất Thuyết vừa lo tổ chức các
đợt phản công lại Pháp vừa tìm cách đa vua Hàm Nghi chạy lên Sơn PhòngQuảng Trị Tại đây Hàm Nghi đã nổi hịch Cần Vơng, kêu gọi nhân dân đứnglên chống Pháp
Lê Ngọc Toản ngày đêm trèo đèo, lội suối vợt qua muôn ngàn gian khổ
đến bệ kiến vua Hàm Nghi và xin vâng mệnh chống giặc Ông đợc phongchức Tán Vơng quân vụ và phái về Thanh hợp đồng cùng các văn thần sĩ phutrong tỉnh chuẩn bị kháng chiến Giặc Pháp biết ông là một trong những yếunhân của phong trào kháng chiến ở Thanh Hóa, chúng đã dở mọi thủ đoạnmua chuộc, đe doạ ông (Nếu ông không ra hàng, chúng sẽ tàn sát cả làng Cổ
Định) Khi mặt trận Ba Đình bị vỡ, để dân làng thoát khỏi nạn diệt vong LêNgọc Toản nhận chức tri huyện Anh Sơn (Nghệ Tĩnh), cha đầy một năm ôngcáo quan về quê ở ẩn
Lê Trọng Nhị là con thứ hai của cụ Đoan Hùng Lê Ngọc Toản Ông đậu
cử nhân năm 18 tuổi Bất bình với chế độ hà khắc của vua nhà Nguyễn và chế
Trang 26độ cai trị thâm độc của thực dân Pháp, tuy là ngời học rộng, đỗ cao nhng LêTrọng Nhị không ra làm quan mà ở nhà dạy học.
Năm 1908, phong trào chống thuế của nhân dân Trung Kỳ nỗi lên mạnh
mẽ, Lê Trọng Nhị bí mật cùng với các sĩ phu văn thân trong vùng họp nhaubàn bạc tổ chức lực lợng đấu tranh ủng hộ phong trào chống thuế Giặc Pháp
đã theo dõi do cha có kinh nghiệm nên lực lợng bị đàn áp và ông bị địch bắt.Toà án thực dân đã tuyên phạt ông án tù chung thân và đày đi Côn Lôn
Trong những năm tháng bị giam cầm nơi Côn Lôn, Lê Trọng Nhị đãphải chịu đủ mọi cực hình tra tấn của kẻ thù Trớc tinh thần đấu tranh củanhân dân ta, thực dân Pháp buộc phải ân xá cho ông sau 9 năm tù ngục Khitrở về quê, tuy sức đã tàn, lực đã kiệt, nhng Lê Trọng Nhị nêu cao khí tiết củamột sĩ phu giàu lòng yêu nớc, về với ruộng vờn, đồng nội, ông đề ra chủ ch-
ơng “Cải lơng hành chính” nhằm làm cho quê hơng ngày một đổi thay, thịnhvợng
Đất Cổ Định khi ấy, do chính sách “chia để trị” của thực dân Pháp Mộtlàng lớn chia thành năm làng nhỏ Lê Trọng Nhị thấy việc đầu tiên là phải hợpnhất các làng Nhng việc làm đó không dể Lê Trọng Nhị quyết định bán đi ítruộng do cha ông để lại để lo lót cho quan trên Một năm sau việc hợp làng đãtrở thành hiện thực ông nghĩ ngay đến việc mở mang dân trí cho dân làng, ông
đã ngày đêm lặn lội đi vận động từng gia đình khá giả ủng hộ tiền để xâydựng lớp học, con em trong làng đi học không mất tiền học
Cũng nh bất cứ một làng quê Việt Nam nào ở đầu thế kỷ này, Cổ Định
đầy rẫy những hủ tục mê tín dị đoan, ma chay Bằng tấm lòng nhiệt tình, ônglại vận động bà con loại trừ các hủ tục lạc, hậu giữ lại thuần phong mỹ tục củalàng ở một vùng chiêm trũng chiêm khê, mùa úng nh quê nhà, muốn đời sống
ấm no, Lê Trọng Nhị thấy cần có những cải tiến trong cách làm ăn, đồngruộng tu bổ sửa sang Làng Cổ Định đã không ngừng khởi sắc Tiếng đồn vềnhững đổi thay của làng Cổ Định đã lan khắp huyện Nhiều làng đã cử ngời
đến tận nơi tham quan học tập
Ngày nay con cháu dòng họ Lê Ngọc rất thành đạt trên mọi lĩnh vực,dòng họ có 48 ngời có trình độ đại học, trong đó có 2 ngời là tiến sĩ, 3 ngời làthạc sĩ, 1 thầy thuốc u tú, nhiều bác sĩ đang phục vụ trên mọi miền của Tổquốc Gia đình ông Lê Ngọc Bá có tới 2 con là bác sĩ, chính ông là ng ời thành
Trang 27lập Hội khuyến học xã Dòng họ đã tham gia khuyến học, khuyến tài đầu tiêntrong xã, nhiều năm liền đạt chi họ xuất sắc cấp huyện.
đến t tởng, chí hởng của Nguyễn Ky
Thủa thiếu niên, ông có sức khoẻ hơn nhiều bạn bè cùng trang lứa.Trong những trò chơi hàng ngày, bọn trẻ trong làng, trong xóm ít ai địch nổi
ông, thờng phải tôn ông làm thủ lĩnh Ông ham rèn võ nghệ hơn là thích vănchơng thơ phú, thích làm tớng hơn là một văn nho quần chũng áo dài lợt thợt
Lớn lên, ông thích đi khắp đó đây, giao du rộng rãi tìm kết bạn vớinhững ngời cùng chí khí trong thiên hạ, gặp thời loạn lạc, quan trên thì chèn
ép, nha lại thì đục khoét dở trò, nông dân đau khổ, lại phải đóng góp đủ thứ sucao thuế nặng đi phu, đi lính xã hội rối ren, chiến tranh liên tiếp Là ng ời ởtrong đám dân chúng bần cùng nhất của thời đại nên ông thấu hiểu nổi đaukhổ của dân, muốn xoá tan mọi bất công, thiết lập một xã hội công bằng tốt
ở 5 châu huyện quanh vùng Nông Cống cũ (gồm các huyện: Nông Cống, ThọXuân, Đông Sơn, Quảng Xơng)
Nghĩa quân của ông đã tịch thu ruộng đất của nhà giàu chia cho dânnghèo (mỗi nhà giàu chỉ đuợc giữ 5 mẫu, còn bao nhiều phải chia cho dân,nô tỳ)
Trang 28Nguyễn Kỵ, ngời con của quê hơng Triệu Sơn đã nêu cao tấm gơng vìnghĩa lớn, không cam chịu ách áp bức thống trị, chống lại cờng quyền bạo ng-
ợc, giành cuộc sống ấm no cho những tầng lớp nghèo khổ trong xã hội ĐạiViệt thời hậu Trần Tấm gơng ấy vẫn còn mãi mãi lu truyền trong tâm tởngcủa mỗi ngời dân Triệu Sơn và nhân dân Thanh Hóa
Ngày nay, con cháu dòng họ Nguyễn Bá có những nhà doanh nghiệpthành đạt, đặc biệt gia đình ông Phạm Văn Thụ tức Nguyễn Bá Long, tổnggiám đốc Công ty Thái Sơn vừa đoạt cúp Doanh nhân thành đạt, trên 109doanh nhân trên cả nớc Ông ý thức chăm lo xây dựng dòng họ và quê hơng
đất tổ, ông tài trợ xóm 11 - 12 xây dựng nhà văn hoá với số tiền 135 triệu
đồng, đờng bê tông, xoá nhà tranh tre nứa lá gần 25 triệu đồng, họ có phongtrào nhà nhà làm khuyến học, cả họ đều làm khuyến học
Nh vậy, các dòng họ ở Cổ Định đã cùng nhau sát cánh đấu tranh kiên ờng bảo vệ quê hơng, làng xóm, đóng góp to lớn trong sự nghiệp dựng nớc vàgiữ nớc của dân tộc Mỗi dòng họ đều vốn có truyền thống riêng của mình,hoà quyện cùng truyền thống tốt đẹp các dòng họ khác, trở thành truyền thốngquý báu của con ngời xứ Thanh làm phên dậu của Tổ quốc qua mọi thời đại
c-1.2 Quá trình phát triển của dòng họ Lê Bật ở Cổ Định từ thế kỷ XIII đến 2007
1.2.1 Dòng họ Lê Bật định c ở Cổ Định, xã Tân Ninh - Triệu Sơn
Theo gia phả dòng họ Lê Bật ở Cổ Định - Tân Ninh thì nguồn gốc củadòng họ Lê Bật từ thuỷ tổ Hứa Duy Đàn (Lê Duy Đàn) gọi là thuỷ tiên tổ khảocách ngày này hơn 700 năm
Qua tìm hiểu trao đổi, về cội nguồn của dòng họ Lê Bật thì Cổ Địnhquê hơng khởi nguồn bởi 10 vị tiên công (ông đến trớc) sau này phát triểnthành 10 dòng họ, trong đó có dòng họ Lê Bật ngày nay, ở cửa đình thờ ThànhHoàng trớc đây có ghi câu đối:
Hầu tộc phong th, danh ngũ giáp thập thôn kim cổ Bá gia cảch vật, thắng Na Sơn Lãng thuỷ Cao Thanh.
Tạm dịch:
Phong t cửa họ, tiếng 5 giáp 10 thôn còn mãi mãi Cảnh vật trăm nhà, so núi Na sông Lãng có phần hơn.
Trang 29Buổi đầu chạ kẻ Nứa có 10 chòm, sau này phát triển thành 10 dòng họ(gọi là hầu tộc) và 10 vị đứng đầu (sau này đợc thờ Thành hoàng, đợc gọi là
10 vị tiên công, trong đó có tiên công dòng họ Lê Bật ngày nay)
Tạm dịch: “Khi bắt đầu khai phá lập làng, có 10 vị đại diện các dòng họ:
Lê, Hứa, Nguyễn, Hoàng, Doãn, Phan, Ngô, Trịnh và xa núi (tức núi Na) vàgần sông nớc (sông Lãng hay còn gọi là sông Lờng) đời đời sinh sống, pháttriển Trong quá trình phát triển, các dòng họ đã chuyển c về sinh sống và tiếptục xây dựng quê hơng Cổ Định về mọi mặt đặc biệt về mặt văn hoá
Trải qua thăng trầm của lịch sử, đến nay t liệu về dòng họ Lê Bật đợcghi chép bắt nguồn từ cụ thuỷ Tổ Hứa Duy Đàn (Lê Duy Đàn), sinh năm 1250(đời vua Trần Thái Tông ở Cả Đoài, Cổ Na, Nông Cống, Thanh Hoa (nay làThanh Hóa) hiệu là Thiền S Pháp Giác, trong hoàn cảnh đất nớc ta với quốchiệu Đại Việt đã bớc vào kỷ nguyên phục hng và phát triển Xét về mặt họcthuật thì nhà Trần là giai đoạn rực rỡ của t tởng dân tộc, Phật giáo đã ảnh hởngsâu sắc trong trí thức và cung đình lúc bấy giờ và đợc coi là “quốc giáo” Nh-
ng Phật giáo Việt Nam lại mở cửa đón tiếp cả Nho giáo, Lão giáo, với tinhthần “Tam giáo đồng nguyên”, vì vậy bộ mặt văn hoá, nghệ thuật, t tởng thờiTrần rực rỡ hẳn lên
Sinh trởng trong hoàn cảnh nh vậy, gia phả dòng họ còn ghi lại cụ Thuỷ
tổ dòng họ tính tình thuần cẩn, đức hạnh lơng hoà, hết lòng chăm lo học hànhcho con cái, chăm lo xây dựng đức nhân Do đó các con học hành thi cử, vìkiêng tên huý vua Trần, cụ đổi họ là Lê Duy Đàn
Nh vậy, dòng họ Lê Bật ở Cổ Định tính từ cụ Thuỷ tổ Lê Duy Đàn đãhơn 700 năm và là một trong 10 dòng họ có mặt sớm nhất ở Cổ Định, cũngvới các dòng họ khác đã hàng trăm năm chung sống đoàn kết bên nhau, đùm
Trang 30bọc lẫn nhau, ra sức xây dựng quê hơng và làm phong phú thêm truyền thốngvăn hoá của dân tộc.
1.2.2 Sự phát triển của dòng họ Lê Bật ở Cổ Định - Tân Ninh (từ thế kỷ XIII đến 2007)
Tính từ cụ Thuỷ tiên Tổ khảo Lê Duy Đàn, dòng họ Lê Bật đã trãi qualịch sử hơn 700 năm tồn tại và phát triển với 23 đời con cháu Dòng họ Lê Bật
đã lan toả ra nhiều huyện trong tỉnh và các tỉnh thành trong cả nớc, hơn 700năm đất nớc đã trãi qua nhiều thăng trầm, từ nhà Trần, hậu Lê đến Trịnh,Nguyễn phân Tranh, rồi thực dân Pháp xâm lợc đô hộ, cách mạng tháng8/1945 thành công, nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời Tiếp đến nhân dân
ta phải đơng đầu chống Pháp đô hộ với đế quốc Mỹ xâm lợc, đại thắng mùaxuân 1975 nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra đời
Cùng với sự phát triển của đất nớc, dòng họ Lê Bật cũng đã trải qua baonhiêu sự biến đổi, nhng là sự biến đổi đi lên Đó là phúc lớn của dòng họ LêBật, bởi số đinh, số hộ đông thêm, các chi ngày một nhiều Theo số liệu thống
kê của dòng họ Lê Bật có 366 hộ với 1398 khẩu (đông nhất của xã Tân Ninh),con cháu họ Lê Bật đã sống khắp nơi trên đất nớc Nhng đông nhất vẫn ở cáchuyện Triệu Sơn, Đông Sơn Chúng tôi có thể xin nêu lên sự phát triển củadòng họ Lê Bật qua các đời nh sau:
Cụ Lê Duy Đàn là Thuỷ tiên Tổ khảo của dòng họ Lê Bật sau này, sinhnăm 1250 ở Cả Đoài Cổ Na, Nông Cống, Thanh Hoa (nay là Thanh Hóa),trong hoàn cảnh đất nớc ta với quốc hiệu Đại Việt đã bớc vào kỷ nguyên phụchng và phát triển Sống trong hoàn cảnh đó, cụ Lê Duy Đàn hết lòng chăm loviệc học tập cho con cái Cụ có 4 ngời con, ba trai một gái Khoa thi năm GiápThìn (1304) đời Trần Anh Tông, gia đình cụ có hai con trai là Lê Duy Thúc(sau này lấy tên là Lê Duy) và Lê Duy Thứ (Xử) và ngời con rể là Lê Thân,
đều đỗ thái học sinh (tức tiến sĩ) Khoa thi này lấy 44 thái học sinh (Mạc ĐĩnhChi, đỗ trạng nguyên) và Cổ Na có 4 thái học sinh Đó là các cụ:
1 Doãn Băng Hài (Hiến)
2 Lê Thân (Lê Đình Thân)
3 Lê Duy Thúc (Lê Duy)
4 Lê Duy Thứ (Xử)
Trang 31Con các cụ học hành thi cử đỗ đạt, từ đây đặt nền móng vững chắc chocác thế hệ sau tiếp bớc Vì vậy, tên cụ Lê Duy Đàn đợc nhà vua ghi vào tăng
đạo lục
Đời thứ 2:
Gồm các con của cụ Lê Duy Đàn: con trởng là cụ Lê Duy Gia, làm hàotrởng Cổ Na, con thứ hai là cụ Lê Duy đỗ thái học sinh năm 1304, làm quantrãi qua 4 triều vua Trần: Trần Anh Tông, Trần Minh Tông, Trần Hiến Tông
và Trần Dụ Tông Nhiều năm làm việc ở Đài ngự sử, cụ đã thể hiện nhân cáchcủa một vị quan có phẩm chất thanh liêm đứng đầu văn võ bá quan và đợc vuahết lòng tin cẩn, góp phần xây dựng một nhà nớc pháp quyền, thực hiệnnghiêm phép nớc, cụ giữ chức Ngự sử trung tán chởng kim ng ấn (giữ ấn vàngcủa vua), nhập nội hành khiển, tớc quan nội hầu, đợc sử sách đánh giá là một
vị quan mẫn cán, phụ trách nhiều công việc triều Trần, ngời con thứ ba là Cụ
Lê Duy Thứ cũng đỗ thái học sinh năm 1304, làm học quan Con út là bà LêThị Việt lấy cụ Lê Đình Thân Trong gia phả họ Lê Đình còn viết về bà Lê ThịViệt: "Lê Thân nhà nghèo đợc vợ đảm đang tần tảo nuôi con, nuôi chồng ănhọc thành tài, xóm làng ai cũng khen ngợi"
Đời thứ 3:
Cụ Lê Duy Gia sinh đợc 4 ngời con, cụ cả làm quan chức Hà đê sứ, thứ
2 là cụ Lê Duy Tứ làm hào trởng Cổ Na, thứ 3 Lê Duy Điều, thứ 4 là cụ VôChú, đỗ tiến sĩ cụ làm quan An Phủ sứ Lạng Sơn
đội quân vận chuyển lơng thảo tiếp tế cho nghĩa quân Nguyễn Chích ở căn cứHoàng Nghiêu đánh đuổi giặc Minh Trong lần đi gánh gạo tiếp tế nghĩa quân,không may bị giặc bắt, ban đêm 3 cụ đều chạy thoát Sau đó, cụ Lê Duy
Trang 32Thạch, tham gia nghĩa quân Lam Sơn từ ngày 18/8/1417, với tên đăng ký là
Lê Lôi Vì có công trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418 - 1428) cụ đợcphong Ngân thanh quang lộc đại phu, tả xa kỵ vệ uý đại tớng quân, Quan nộihầu và là khai quốc công thần trong khởi nghĩa Lam Sơn
Khi về hu, cụ trở về quê hơng Do hoàn cảnh lịch sử, cụ đã đổi tên lótcho các thế hệ con cháu sau này từ Lê Duy thành Lê Đình Các thế hệ hậu duệcủa cụ, noi gơng tổ tiên đã có nhiều đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc Đền thờ và mộ của cụ đã đợc bảo vệ là một di tích lịch sửvăn hoá ở quê hơng Cổ Định - Tân Ninh ngày nay
Đời thứ 9:
Cụ Lê Duy Trung con trai của cụ Lê Duy Cảnh là ông nội của HoàngGiáp Lê Bật Tứ 9 (1562 - 1627) đợc phong Tả thị lang, tớc Khánh Nguyên Bá
Bà nội của Hoàng Giáp Lê Bật Tứ, hiệu Tĩnh Hạnh đợc phong Khánh Nguyên
Tự phu nhân (vì có cháu nội hiển đạt)
Đời thứ 10:
Cụ Lê Duy Tốn, tên thụy là Đức Dụng, đợc phong Hữu thị lang, tớcDuyên hựu Bá thân sinh ra Hoàng Giáp Mẹ của Hoàng Giáp là cụ bà NguyễnThị Oánh (quê ở Lu Xá, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam) đợc phong úy Hạnh
Tự Phu Nhân
Do hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ, nhà Mạc đã cớp ngôi nhà Hậu Lê, kể
từ năm 1528, nên cụ Lê Duy Tốn đã đổi tên lót cho các con trai từ Lê Duythành Lê Bật
Nh vậy, dòng họ Lê Bật là hậu duệ trực tiếp của dòng họ gốc Lê Duy,bắt đầu thế hệ thứ 11 là các con của cụ Lê Duy Tốn và cụ bà Nguyễn Thị Oánh
Đời thứ 11:
Cụ cả Lê Bật Trực, đỗ cử nhân làm quan Tán lý công thần Tây kinh
đạo, Thái thờng tự khanh tớc vị Dơng Bá, cụ Lê Bật Hiền, đỗ cử nhân, làmquan Đại Lý Tự thiếu khanh
Trang 33Cụ bà Lê Thị Loan, Lê Thị Luyện, cuối cùng cụ Lê Bật Tứ là con úttrong gia đình, Cụ Lê Bật Tứ sinh năm 1562 mồ côi cha lúc mới sinh đợc 7ngày, 9 tuổi thì mẹ cũng qua đời, đợc anh trai nuôi dạy đến năm 1598 cụ Bật
Tứ đỗ Hoàng Giáp làm quan đời Lê Trung Hng (1598 - 1627) trải qua 29 nămlàm quan Hoàng Giáp Lê Bật Tứ đã kinh qua nhiều chức vụ quan trọng: Đêngự sử (1604), làm chánh sứ sang triều Minh (1606) Năm 1608, đi sứ về vì cócông đợc thăng Tả thị lang Bộ hộ Năm (1610) đợc phong diễn gia hầu vàonhững năm 1610, 1615, 1618 cụ đã dâng 3 khải Đặc biệt trong khải năm
1618 cụ đã cùng cụ Ngô Trí Hoà điều trần 6 việc nhằm diệt những trừ gian đểyên dân xã tắc Năm 1619 làm Thợng th Bộ binh Năm 1620 làm Tham tụngphủ chúa năm 1623, dẹp loạn Trịnh Xuân và dẹp quân Mạc, từ năm 1623 -
1638 cụ đợc thăng Thiếu Bảo Năm 1626, đợc tăng Thiếu phó Năm 1627 cụ
từ trần lúc đang làm nhiệm vụ
Nh vậy, bắt đầu từ thế hệ thứ 11 trở đi, cụ Lê Duy Tốn đã đổi tên lótcủa các con từ Lê Duy thành Lê Bật Dòng họ Lê Bật ở quê hơng đất tổ Cổ
Định - Tân Ninh thờ cụ Lê Duy Đàn là thuỷ tổ của dòng họ và thờ Thái bảoquận công Hoàng Giáp Lê Bật Tứ là thế tổ của dòng họ và dòng họ Lê Đình,thờ Lam Sơn Khai quốc công thần Lê Lôi, thuộc thế hệ thứ 6, là con thứ 3 của
cụ Lê Duy Duật còn lại dòng họ Lê Bật là hậu duệ của cụ Lê Duy Lãn conthứ 2 của tiến sĩ Lê Duy Duật Ngày nay, hai dòng họ anh em ruột thịt cùngchung một gốc ngọn ngành tốt tơi đang đoàn kết xây dựng quê hơng dòng họ,gia đình giàu mạnh xứng đáng với truyền thống của quê hơng Cổ Định - TânNinh một vùng “địa linh nhân kiệt”
Đời thứ 12:
Hoàng Giáp Lê Bật Tứ, sinh đợc 4 ngời con 3 trai 1 gái, con trai trởng là
Lê Bật Giáo (tức Lê Khả Giáo) sinh năm 1588, Tự Tuấn Anh - năm 1611 đợcvua phong Gia tính đại phu năm 1612, thi đỗ tứ trờng (cử nhân) làm quanchức t vụ Năm 1619 đợc phong Lại bộ viên ngoại lang - cùng năm này, cụ thi
đỗ tam trờng kỳ thi hội Năm 1624 đợc phong Kim Tử Vinh Lộc đại phu, SơnNam xứ, tiên tri thừa chính sứ, tớc Xuân Lộc Bá Khi cụ Hoàng Giáp Lê Bật
Tứ hy sinh trong lúc đang làm nhiệm vụ đợc triều đình đa linh cửu về quê antáng Vì vậy khi về hu, cụ đã trở về quê hơng sinh sống thờ phụng tổ tiên vàxây dựng quê hơng Cụ thứ 2 là cụ Lê Bật Thế (Lê Khả Thế) sinh năm 1604,năm 1611 đợc vinh phong Hiển cung đại phu, năm 1612 thi đỗ tứ trờng (cử
Trang 34nhân) làm tri phủ Đông Sơn Sau này cụ cũng trở về quê hơng Cụ thứ 3 là cụ
Lê Bật Kính (Lê Khả Kính) sinh năm 1603, năm 1611 đợc kính phong hiểncung đại phu, thi đỗ tứ trờng (cử nhân) làm quan lại bộ viện ngoại lang Năm
1627 đợc phong Thông cơng điển sự, khi nghỉ hu cụ trở về quê ngoại ở SơnTây (nay là tỉnh Hà Tây - Hà Nội)
Vì vậy, các thế hệ con cháu chắt của dòng họ Lê Bật Cổ Định - TânNinh ngày nay là trực hệ của Gia tính Đại phu, cử nhân, Lê Bật Giáo (Lê KhảGiáo) và hiển cung đại phu, cử nhân Lê Bật Thế (Lê Khả Thế)
đỗ đại học lấy chồng là nhà doanh nghiệp giỏi, gia đình anh Lê Bật Dũng, th
-ơng binh loại 2/4 Hiện nay công tác tại đài truyền hình thành phố Hồ ChíMinh, trởng ban Hội đồng hơng Cổ Định ở miền Nam, có nhiều hoạt động
đóng góp cho quê hơng Cổ Định - Tân Ninh
Chi họ 1 nổi lên 2 nghề truyền thống đó là dạy học và y học, riêng vềnữ có thạc sĩ y khoa Lê Thị Hờng, chồng là bác sĩ
Chi 2:
Do ông Lê Bật Quyền làm trởng ban điều hành có 65 hộ, với 167 khẩu.Trong chi họ 2 này tiêu biểu thiếu tớng Lê Bật Bảy, hiện là hiệu phó học việnquân sự Đà Lạt, ông có 3 ngời con đại học Gia đình kiến trúc s Lê Bật Kính
vợ trung cấp, 2 con đại học Ông Lê Bật Long là một thơng binh nhng ông làmột nhà doanh nghiệp giỏi có nhiều đóng góp cho quê hơng ông có 4 ngờicon đại học (có một con du học ở nớc ngoài)
Trang 35Chi 3:
Do ông Lê Bật Lãng làm trởng ban điều hành có 55 hộ và 221 khẩu Chi
hộ 3 có gia đình cô Lê Thị Khơng chồng là liệt sỹ, nuôi một con trai đang học
đại học Gia đình ông Lê Bật Thuật vợ chồng là công nhân mỏ Cổ Định có 3con là đại học
Chi 4:
Do ông Lê Bật Trịnh làm trởng ban có 50 hộ và 177 khẩu Chi 4 có 24ngời đại học, 6 sĩ quan quân đội, trong đó có 1 thợng tá về hu Có gia đình ông
Lê Bật Bình vợ mất nhng đã nuôi 4 con đại học Gia đình ông Lê Bật Tải nuôi
3 con đại học và 1 cao đẳng Gia đình đại tá Lê Bật Mai, có 3 trai và 1 cô condâu đại học Gia đình ông Lê Bật Bảy, cán bộ về hu, 2 con đại học trong nớc
và 1 con du học ở Nga Gia đình ông Lê Bật Trinh, ông là kỹ s về hu và là mộtnhà doanh nghiệp thành đạt có nhiều đóng góp cho quê hơng, dòng họ, gia
đình ông có 3 con đều đại học
Chi 5:
Do ông Lê Bật Lân làm trởng ban có 28 hộ và 106 khẩu, chi họ có 2tiến sĩ, 3 thạc sĩ, 15 đại học, 31 cao đẳng, trung học chuyên nghiệp
Chi 6:
Do ông Lê bật Hoà làm trởng ban điều hành, có 26 hộ 22 khẩu Có gia
đình anh Lê Bật Cung ở thành phố Thanh Hóa có 4 ngời con đại học, anh LêBật Minh, có 2 con học đại học
Hiện nay chi họ có rất nhiều gia đình tiêu biểu nh gia đình ông Lê Bật
Đoan, ông là giáo s tiến sĩ y học (thầy thuốc u tú), gia đình ông Lê Bật Cơng,gia đình ông Lê Bật Xuân, trung tá về hu vợ là giáo viên, các con ông đều tốtnghiệp đại học, gia đình thiếu tá Lê Bật Chính
Chi 8:
Do ông Lê Bật Thiều làm trởng ban có 13 hộ, 52 khẩu, chi họ có 3 đạihọc, 13 cao đẳng, trung học chuyên nghiệp
Trang 36Chi 9:
Do ông Lê Bật Công làm trởng ban, có 9 hộ 36 khẩu, số khẩu con nhỏ
đang học phổ thông, có 3 đại học, 8 cao đẳng, trung học chuyên nghiệp
Ngày nay con cháu dòng họ Lê Bật ở Cổ Định - Tân Ninh ngày càng
đông và có những cố gắng học tập phát huy truyền thống văn hoá của đất nớc,của quê hơng, con cháu ngày càng phồn thịnh và để tiếng thơm lu truyền Đó
là nhờ có nòi giống tốt và công đức lớn của tổ tiên mà con cháu ngày nay
đang thừa hởng
Trang 37Thời quân chủ, dòng họ Lê Bật phát triển vinh hiển nhất là thời nhàTrần, thời Lê Trung Hng và sau này khi đất nớc giành đợc độc lập cũng cónhững đóng góp nhất định
Dới thời Trần đất nớc ta giành đợc thắng lợi vẽ vang với 3 lần khángchiến chống quân Nguyên thắng lợi Nhà Trần là giai đoạn rực rỡ của t tởngdân tộc Phật giáo đã ảnh hởng sâu sắc trong trí thức và cung đình lúc bấy giờ
và đợc coi là “Quốc giáo”, vì vậy bộ mặt văn hoá, nghệ thuật, t tởng thời Trầnrực rỡ hẳn lên
Sinh trởng trong hoàn cảnh nh vậy cụ Tổ của dòng họ là Lê Duy Đànhiệu là Pháp Giác, khoa thi năm Giáp Thìn (1304) đời Trần Anh Tông, gia
đình cụ đã đạt đợc một thành tựu tuyệt đỉnh: hai con trai cụ là Lê Duy Thúc,
Lê Duy Xử và ngời con rể là Lê Thân đều thi đỗ thái học sinh (tiến sĩ), vì vậy,tên cụ Lê Duy Đàn đợc nhà vua ghi vào tăng đạo lục
Lê Duy (Xử) làm quan trãi qua 4 triều vua (từ Trần Anh Tông, MinhTông, Hiến Tông và Dụ Tông) đã đợc sử sách đơng thời hết lời ca ngợi, nỗitiếng là ngời thông tuệ, thanh liêm: “Năm Quý Hợi (1327) bấy giờ quantrong triều nh Trần Thừa Kiến, Đoàn Nh Hài, Đỗ Thiện Hứ, Mạc Đĩnh Chi,Nguyễn Dũ, Phạm Mai, Phạm Ngô, Nguyễn Trung Ngạn, Lê Duy (Lê Duy Cổ
Định, huyện Nông Cống) nối nhau vào triều, nhân tài nở rộ” [60;7]
Lê Duy là vị quan chính trực, làm việc ở Bộ hình, phải trái đều xử theophép nớc Năm 1327 dới triều Trần Minh Tông, khi ấy Trơng Hán Siêu làmhành khiển một hôm nói trong triều rằng: Hình quan Phạm Ngô, Lê Duy, ăn
Trang 38hối lộ Vua lập tức sai ngời đi điều tra, Trơng Hán Siêu liền nói: “Tôi làm việc
ở chính phủ đợc chúa thợng tin dùng cho nên mới nói thế, đâu biết có cuộc
điều tra này” Vua Trần nghe tâu đã hỏi “Hành khiển là quan ở sảnh, thẩmhình là quan ở viện, ta đều tín nhiệm, sao quan ở sảnh lại ngờ quan ở viện”
Đến khi tra xét, Hán Siêu phải chịu phạt bỏ quan tiền [60; 8]
Năm 1328, Lê Duy đợc xét xử vụ án: Trần Phẩm vu oan cùng mu giancủa Trần Khắc Chung để đến nổi quốc phụ thợng tể Trần Quốc Chẩn phảichết Ngay hôm sau đợc giao xét xử, với những chứng cứ rõ ràng mà Lê Duythu thập đợc, ông đã khép Trần Phẩm vào tội lăng trì Các quan trong triều đềukhen Lê Duy là ngời ngay thẳng
Năm Nhâm Ngọ 1342 dới triều Trần Dụ Tông, Lê Duy đợc vinh phongchức ngự sử đài, đứng đầu văn võ bá quan và đợc hết lòng tin cẩn
Trải qua bốn triều vua, Lê Duy đợc phong là Đại tứ kim tử vinh lộc đạiphu, Ngự sử trung tán, Chỡng kim ng ấn (giữ ấn vàng của vua), nhập nội hànhkhiển, tớc quan Nội hầu
Con rễ của cụ Lê Duy Đàn là Lê Thân, lấy bà Lê Thị Việt con út của cụ
Đàn, Lê Thân nhà nghèo đợc vợ đảm đang tần tảo nuôi con, nuôi chồng ănhọc thành tài, xóm làng ai cũng khen ngợi, khoa thi 1304, Lê Thân cùng haingời anh trai vợ đỗ thái học sinh (tức tiến sĩ)
Lê Thân làm quan nổi tiếng là một vị quan thanh liêm chính trực Dớitriều vua Dụ Tông, Lê Thân đợc triệu về kinh đô nhận chức Hàn Lâm việnbiên tu hình luật ở cơng vị mới, ngày đêm ông miệt mài nghiền ngẫm cácsách cổ kim về hình luật Khi trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi mất, Lê Thân đợcthăng chức Hành khiển Ông say sa đàm đạo với các bậc đại thần khác và bắt
đầu san định bộ luật cho triều đình Lê Thân thờng nói với các quan cùngcộng sự với mình: “Hình luật làm mối rờng cột của xã hội Bảo vệ cái đúng,nghiêm trị cái sai, chính tòng phân biệt để giữ nghiêm phép nớc mới là đạo tôichung với vua” [60; 35]
Trải qua ba năm miệt mài công việc, Lê Thân đã dâng lên vua bộ luậthình vừa san định Vua đọc thấy những điều luật ở đó vừa đúng ý trời lại hợplòng ngời nên ban cho ông rất nhiều phẩm vật rồi đa ra triều đình cùng bànluận Khi về hu vua Trần Dụ Tông xuống chỉ ban cho Lê Thân tớc Luật quậncông và cấp cho ông ruộng lộc điền, lụa là gấm vóc
Trang 39Vào những năm giữa thế kỷ XVI, do sự tranh giành quyền lực giữa haidòng họ Trịnh - Mạc, cuộc chiến tranh Nam - Bắc triều bùng nổ, trấn ThanhHóa đã trở thành một trong những bãi chiến trờng ác liệt nhất của cuộc chiến.Hâụ quả là cả một vùng đồng bằng rộng lớn đã bị tàn phá nặng nề Làng xómtiêu điều, xơ xác bởi khói lửa binh đao, Thêm vào đó sự tàn phá của thiên tai,mùa màng liên tục bị thất bát, khiến đời sống của nông dân càng thêm khốn
đốn
Lê Bật Tứ sinh ra trong một dòng họ khoa bảng có nhiều ngời thành
đạt Nhng thủa thiếu thời Lê Bật Tứ gặp không ít thăng trầm, mới 7 ngày sinhkhi chào đời, ngời cha lâm bệnh nặng và mất, sinh ra phải thời loạn lạc NămTân Mùi (1571), ở Cổ Định mất mùa, nhân dân đói khổ, sau bao nhiêu đêmtrần trọc, suy tính, ngời mẹ tội nghiệp quyết định đa Lê Bật Tứ, Lê Bật Hiền
về nơng nhờ quê ngoại ở Liên Xá, Kim Bảng, nơng nhờ anh em bên ngoại, để
Lê Bật Trực, Lê Thị Loan, Lê Thị Luyện ở lại quê nhà nhờ dòng họ giúp đỡ
Do phải làm việc vất vả quá sức, cộng với nỗi niềm thơng xót ba con ở quênhà, nên bà đã từ bỏ cõi trần để lại các con bơ vơ Nhận đợc tin “sét đánh”,anh cả Lê Bật Trực phần thơng mẹ xót xa, phần lo em nhỏ dại, vội khăn góilên đờng Nhờ sự giúp đỡ của anh em họ ngoại, Lê Bật Trực đã trăm ngàn giankhổ, đắng cay để nuôi các em
Chẳng phụ công anh cả, lần hồi kiếm sống nuôi dỡng cậu bé Lê Bật Tứngày một lớn và tỏ ra có chút thông minh hơn ngời Nhờ hiếu học, khổ học kếthợp với ý chí quyết tâm tìm cách thoát khỏi khó khăn, Lê Bật Tứ cần mẫnchăm chỉ đèn sách cùng anh dùi mài kinh sử, để nuôi chí lập thân Khoa thiMậu Thìn (1586) dới triều Mạc, công lao của anh em ông đợc đền bù xứng
đáng cả hai anh em đều đỗ cử nhân Năm Nhâm Thìn (1592), nhà Mạc mất
Đông Đô Năm Giáp Ngọ (1594), Lê Bật Tứ về Thanh Hóa dự kỳ thi hơng donhà Lê Trung Hng mở, ông đỗ tứ trờng Đến khoa thi Mậu Tuất (1598) đờivua Lê Thế Tông, Lê Bật Tứ dự kỳ thi hội và đỗ tiến sĩ Cả khoa thi năm đóchỉ lấy 5 ngời đỗ tiến sĩ Khi vào triều đình, vua chọn ba ngời đỗ đệ nhị giáptiến sĩ (Hoàng Giáp), Lê Bật Tứ đứng đầu
Khác với nhiều nho sĩ, lúc thiếu thời Lê Bật Tứ đã phải mồ côi cha mẹ,trãi qua những năm tháng gần gũi với tầng lớp bình dân và lớn lên trong sự
đùm bọc của các anh và bà con họ mạc, nhất là nơi ký ngụ, trong hoàn cảnh
đất nớc gặp nhiều khó khăn và cuộc chiến Hoàn cảnh đó đã cho Lê Bật Tứ,
Trang 40gần dân, thông cảm nổi khổ của nhân dân tất cả những cái đó là cơ sở quantrọng và sâu xa tạo nên tính cách t tởng nhân văn và tinh thần dân tộc của một
vị Hoàng Giáp một vị đại quan tài đức, có đầy đủ trí - nhân - dũng, có lòng
th-ơng dân cth-ơng trực và thanh liên sau này
Sau khi đỗ Hoàng Giáp, Lê Bật Tứ đợc ra làm quan đời Lê Trung Hng trãi qua 29 năm phụng sự đất nớc (từ 1598 - 1627), Hoàng Giáp Lê Bật Tứ đãkinh qua các chức vụ: Năm 1598 ông đợc bổ dụng chức Hàn Lâm hiệu lý.Năm 1600 có bọn Phan Ngạn, Bùi Văn Khuê làm loạn, vua phải dời về TâyKinh, dân tình náo loạn lo lắng Nhà Mạc thừa cơ hội về cớp Đông Đô, lúcnày, Lê Bật Tứ đang làm Hộ khoa Đô cấp sự, đi khám đạc bãi dâu ở Đan Ph-ợng, động viên nhân dân chăn tằm dệt lụa Khi nhận đợc tin ông vội nhanhchóng trở về Thanh Hóa ra mắt vua Lê đợc tham gia luận bàn việc nớc, phơngsách khôi phục đế đô Lê Bật Tứ đã đa ra nhiều mu kế đợc vua Lê - chúa Trịnhkhen ngợi Nhà vua đã phong cho ông làm chánh phủ tham bời cùng cácdoanh tớng xây dựng lại doanh trại, chiêu tập, thu phục các tớng sĩ, quan lạicác nơi về, rèn luyện quân đội, cũng cố đội ngũ chờ thời cơ khôi phục lạiThăng Long Tháng 8, chúa Trịnh xuất quân hành quân ra Bắc, Lê Bật Tứphụng mệnh cùng các quan văn võ khác đi dẹp loạn khôi phục kinh thành
-Đông Đô lại đợc giải phóng, Lê Bật Tứ lại đợc lệnh mang quân về đón vua trởlại Thăng Long Năm 1601, ông đợc thăng Lại khoa đô cấp sự, làm giám khảotrờng thi Kinh Bắc Năm 1603, làm giám khảo trờng thi Thiên Trờng, sau đó
đợc cử đi dẹp loạn Cao Bằng Năm 1604, ông đợc thăng Đô ngự sử
Năm Bính Ngọ (1606), sau khi Nam triều thắng Bắc Triều (nhà Mạc)chiếm đợc thành Thăng Long, triều đình bắt đầu giao hảo với nhà Minh Đểgiữ hoà khí giữa hai nớc, ông đợc cử làm Chánh sứ cùng với các phó sứNguyễn Thực, Nguyễn Duy Thì Sang “Tạ” nhà Minh về việc vua Lê đợc
“phong” với tài năng khéo léo của một ông chánh sứ, lúc đối đáp, khi luận bànvới đủ loại quan chức Minh, chánh sứ Lê Bật Tứ đã tiến lễ tạ ơn vua Minh vềviệc vua Lê đuợc phong đã xuất sắc trong đọ trí, thi tài, với mu lợc uyên thâm,với nhân cách lớn của ông chánh sứ giàu khí tiết, không sợ cờng quyền, nắmvững nguyên tắc, đề cao quốc thể Lê Bật Tứ đã có công hoàn thành tốt sứmệnh của mình nên năm 1608 đi sứ về đợc nhà vua thăng Tả thị lang Bộ Hộ
Vua Lê tuy đã chiếm lại đợc kinh đô Thăng Long, cuộc xung đột Nam
- Bắc cơ bản đã chấm dứt nhng d đảng họ Mạc vẫn còn chiếm cứ vùng biên