Nghiên cứu vềlịch sử văn hóa dòng họ vừa có ý nghĩa trong việc giữ gìn, tồn vinh, phát huy và giáo dục các truyền thống lịch sử địa phương, giữ gìn và phát huy các giátrị văn hóa của dân
Trang 1từ ánh nguyệt
lịch sử - văn hóa dòng họ hà huy ở cẩm hng, cẩm xuyên, hà tĩnh từ thế kỷ XVI
đến nay (2009)
Luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử
Trang 2
Vinh - 2009
Trang 3tõ ¸nh nguyÖt
lÞch sö - v¨n hãa dßng hä hµ huy ë cÈm hng, cÈm xuyªn, hµ tÜnh tõ thÕ kû XVI
Trang 4Vinh - 2009
Trang 5Hoàn thành luận văn như là lời cảm ơn chân thành nhất gửi tới PGS.TSNguyễn Trọng Văn vì sự hướng dẫn và giúp đỡ tận tình, chu đáo của thầytrong suốt thời gian qua Đồng thời tác giả cũng xin chân thành cảm ơn cácthầy cô giáo khoa Sau Đại học, Khoa Lịch sử - Trường Đại học Vinh đã tạođiều kiện cho tác giả trong qúa trình học tập và hỗ trợ khi tiến hành đề tài.
Qua đây cũng cho tác giả gửi lời tri ân, cảm tạ đến Hội đồng gia tộc HàHuy, ông Hà Huy Sửu, ông Hà Huy Quỳ, Hà Huy Tửu; Thư viện Nghệ An,Thư viện Hà Tĩnh, Thư viện trường Đại học Vinh, Bảo tàng Xô Viết NghệTĩnh, Bảo tàng Hà Tĩnh, Huyện ủy Cẩm Xuyên, UBND xã Cẩm Hưng đãcung cấp tài liệu và giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn này
Tác giả cũng đặc biệt cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luônluôn giúp đỡ, ủng hộ tác giả trong suốt những năm qua
Xin tỏ lòng thành kính !
Vinh, tháng 12 năm 2009
Tác giả
Từ Ánh Nguyệt
Trang 6MỞ ĐẦU 1
Chương 1 Quá trình phát triển của dòng họ Hà Huy ở Cẩm Hưng,
1.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 11
1.1.3 Một số dòng họ lớn ở Cẩm Xuyên 221.2 Sự phát triển của dòng họ Hà Huy ở Cẩm Hưng, Cẩm Xuyên,
Hà Tĩnh từ thế kỷ XVI đến nay (2009) 25
1.2.2 Sự phát triển của dòng họ Hà Huy ở Cẩm Xuyên từ thế kỷ
Trang 73.6 Từ đường, văn bia 77
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Những tưởng rằng thời gian đi qua sẽ xóa nhòa tất cả những gì thuộc vềquá khứ, nhưng những gì là giá trị đích thực thì vẫn mãi mãi tồn tại và tháchthức cùng tháng năm Lịch sử dân tộc Việt Nam trải qua bao thăng trầm biếnđộng với những cuộc thiên di đắp đổi vẫn sáng ngời những chiến tích âmvang và đáng tự hào Trong bản hùng ca chung ấy có cội nguồn của mỗi tênđất, tên làng, có truyền thống của mỗi phong tục tập quán và đặc biệt có cảlịch sử đi về của mỗi dòng họ, giống nòi
Văn hóa cổ truyền của dân tộc Việt Nam tồn đọng lâu dài và cơ bản là
ở văn hóa làng xã và văn hóa dòng họ Dòng họ là một môi trường văn hóagìn giữ những phong tục, cúng tế, lễ hội mang đậm những dấu ấn riêng củangười Việt Nam Nó tạo nên bộ mặt riêng cho từng địa phương, tạo nênnhững di sản văn hóa vô giá cho văn hóa dân tộc Văn hóa Việt Nam tạo nêntính cách Việt, tâm hồn Việt Do đó, Đảng và Nhà nước ta luôn xem văn hóa
là một mặt trận quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong
đó có văn hóa dòng họ
Ở nước ta từng tồn tại các dòng họ văn hiến với những nhân vật kiệtxuất đã làm vinh quang cho cả dòng họ và cả quốc gia Do vậy, dòng họ vàvăn hóa dòng họ còn đồng nghĩa với sự đa dạng văn hóa, bản sắc văn hóa mộtnhân tố động lực thúc đẩy sự phát triển của văn hóa Việt Nam Nghiên cứu vềlịch sử văn hóa dòng họ vừa có ý nghĩa trong việc giữ gìn, tồn vinh, phát huy
và giáo dục các truyền thống lịch sử địa phương, giữ gìn và phát huy các giátrị văn hóa của dân tộc, trở thành nguồn tài liệu để tìm hiểu lịch sử văn hóadân tộc, vừa giúp chúng ta hiểu thên về thân thế, sự nghiệp và những đónggóp của những nhân vật lịch sử
Từ xưa nhân dân ta đã có những câu “Chim có tổ, người có tông”,
“Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” Đó là truyền thống đạo
Trang 9lý của người Việt Nam Do vậy, nghiên cứu tìm hiểu dòng họ là góp phầncủng cố, nuôi dưỡng ý thức về cội nguồn, tình yêu quê hương, đất nước, ýthức cộng đồng của người Việt Nam Đó là bản sắc văn hóa, đó là sức mạnhcủa truyền thống Việt Nam đã giúp con người Việt Nam vượt qua những thửthách trong lịch sử và vững bước đi vào tương lai
Trong thời kỳ mới, khi đất nước đang có những chuyển biến tốt đẹptrong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì xu hướng tìm về cội nguồn,khơi dậy truyền thống dòng họ, truyền thống quê hương trở thành nhu cầungày càng lớn để giữ gìn bản sắc văn hóa dòng họ, văn hóa dân tộc Trong cácdòng họ, người ta chắp nối gia phả, trùng tu lại từ đường, lăng mộ, bia ký vàmột số nghề truyền thống.v.v Từ đó đã khơi dậy truyền thống dân tộc, giaphong dòng họ, thể hiện lòng thành kính, biết ơn tổ tiên Do đó, nghiên cứumột cách nghiêm túc, khoa học lịch sử - văn hóa dòng họ góp phần gợn đụckhơi trong củng cố khối đại đoàn kết dân tộc
Hà Tĩnh - mảnh đất địa linh nhân kiệt với truyền thống cần cù, sáng tạotrong lao động, anh hùng bất khuất trong chiến đấu Nhân dân Hà Tĩnh đãcùng nhân dân cả nước viết nên những trang sử vẻ vang, để lại một gia tài vănhóa vật thể và phi vật thể phong phú, đa dạng mang rõ sắc thái điạ phươngtrong bản sắc văn hóa Việt Nam, trong đó tiêu biểu là văn hóa dòng họ HàTĩnh là nơi sinh cơ lập nghiệp của biết bao dòng họ Người ta từng biết đếnnhững cái tên rất dễ khắc sâu như dòng họ Nguyễn ở Trường Lưu, họ Lê ởTrung Lễ, họ Nguyễn ở Tiên Điền, họ Ngụy ở Xuân Viên, họ Dương ở MỹDuệ, họ Lê ở Hà Trung, họ Đặng ở Tùng Lộc, họ Phan Huy ở ThạchChâu.v.v Đặc biệt, người ta từng biết đến dòng họ có bề dày lịch sử vàtruyền thống, có những cống hiến về mọi lĩnh vực cho đất nước qua các thờikỳ: có nhiều bậc tài cao, học rộng, có lòng yêu nước thương dân, là những
Trang 10danh nhân, nhà giáo, nhà văn, nhà thơ, nhà chính trị lỗi lạc.v.v Đó là dòng
họ Hà Huy ở Cẩm Hưng, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh
Dòng họ Hà Huy ở Cẩm Hưng, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh có nguồn gốc tổtiên là từ cụ thủy tổ Hà Công Mại (1306 - 1405) ở xã Tĩnh Thạch, huyệnThiên Lộc, nay là Tùng Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh Vào đời thứ 7, có một chichuyển về làng Kim Nặc nay là xã Cẩm Hưng, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh HàTĩnh và đời thứ 8 dòng họ Hà ở Cẩm Hưng, Cẩm Xuyên đổi thành Hà Huy.Đến nay đã hơn 400 năm với 17 thế hệ, con cháu của dòng họ Hà Huy đã cómặt ở trong nhiều tỉnh thành trong cả nước như Thanh Hóa, Nghệ An, HàTây Ngoài ra, còn có nhiều người sinh sống ở nước ngoài như ở Ô-xtrây-lia,Canađa Dòng họ Hà Huy đã có những đóng góp đáng ghi nhận cho lịch sửdân tộc
Nghiên cứu về dòng họ Hà Huy giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn về giatộc, cộng đồng, về mối quan hệ giữa các dòng họ Từ đó duy trì, phát huykhối đoàn kết tạo nên sức mạnh tinh thần và vật chất to lớn để đóng góp xâydựng quê hương ngày càng giàu đẹp Cũng từ đó mà giữ vững gia phong, pháthuy truyền thống tốt đẹp, đồng thời làm sáng ngời văn hóa gia tộc trong di sảnvăn hóa dân tộc, góp phần hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước, đưa nước ta hiên ngang sánh vai với các cường quốc năm châunhư Bác Hồ mong muốn
Với những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu “Lịch sử
-văn hóa dòng họ Hà Huy ở Cẩm Hưng, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh từ thế kỷ XVI đến nay (2009)” để làm đề tài luận văn Thạc sĩ của mình.
Trang 11tích dòng họ, lịch sử làng xã vừa nhằm mục đích bảo tồn phát huy truyềnthống văn hóa dòng họ vừa để giao lưu văn hóa phục vụ sự nghiệp cách mạngxây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Do đó, hiện nay nghiên cứu vềdòng họ là một đề tài thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học, cácnhà nghiên cứu
Với truyền thống uống nước nhớ nguồn, hiện nay một số địa phương đã
tổ chức các cuộc hội thảo về lịch sử dòng họ Năm 2006, nhân kỷ niệm 100năm ngày sinh đồng chí Hà Huy Tập, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã tổchức một cuộc hội thảo mang tựa đề “Đồng chí Hà Huy Tập với cách mạngViệt Nam” tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội
Đối với dòng họ Hà Huy ở Cẩm Hưng, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh nói chung
và vùng đất Cẩm Xuyên nói riêng cũng đã có một số tác giả, tài liệu đề cậpđến nhưng chủ yếu là viết về địa lý tự nhiên, con người vùng đất Cẩm Xuyênhoặc là những tài liệu nói về cá nhân người chiến sĩ cộng sản Hà Huy Tập chứchưa có một tác phẩm nào nghiên cứu cụ thể về lịch sử - văn hóa dòng họ HàHuy Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài tôi đã tiếp cận được một
số tài liệu như sau:
Trong “An Tĩnh cổ lục” (Levieux An - Tinh) tác giả Hippolyte LeBreton cũng đã nói đến vùng đất Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh nơi mà dòng họ HàHuy chọn làm nơi sinh cơ lập nghiệp
Tác giả Thái Kim Đỉnh trong “Các nhà khoa bảng Hà Tĩnh” do Sở Vănhóa Thông tin Hà Tĩnh ấn hành cũng có nói đến các nhà khoa bảng của dòng
họ Hà Huy như Hà Huy Sào, Hà Huy Phúc, Hà Huy Đán, Hà Huy Phẩm
Trong “Lịch sử Đảng bộ huyện Cẩm Xuyên” tập 1 (1930 - 1945) củaBan thường vụ huyện đảng bộ Cẩm Xuyên đã giới thiệu về vị trí địa lý, điềukiện tự nhiên và con người Cẩm Xuyên
Trang 12Trong cuốn “Họ Hà - các nhà khoa bảng, các nhân vật lịch sử, các vănbia” của nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc, Hà Nội do Hà Văn Sỹ chủ biên đã đềcập đến dòng họ Hà ở Hà Tĩnh cũng như nhánh Hà Huy ở Cẩm Hưng, CẩmXuyên, Hà Tĩnh Ngoài ra, tác phẩm còn trình bày về Tổng Bí thư Hà HuyTập với quá trình hình thành Mặt trận Dân chủ Đông Dương.
Tác phẩm “Hà Huy Tập Tổng Bí thư của Đảng (1936 - 1938)” của tácgiả Đức Vượng, Hội đồng lý luận Trung ương - Ban thường vụ Tỉnh ủy HàTĩnh xuất bản năm 2002 đã nói về đóng góp của Hà Huy Tập đối với cáchmạng Việt Nam
Tác phẩm “Quê hương, gia đình, những nhân tố hình thành nhân cách
và bản lĩnh chính trị của Hà Huy Tập” của tác giả Nguyễn Thiện, Tỉnh ủy HàTĩnh đã trình bày về truyền thống khoa bảng, những người đậu đạt của dòng
họ Hà Huy
Bản gia phả của dòng họ Hà Huy ở Cẩm Hưng, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh
do cụ Tư Doãn Hà Huy Đán (1772 - 1837) và cụ đốc học Hà Huy Phẩm biênsoạn đã trình bày về nguồn gốc của dòng họ Hà Huy, quá trình phát triển quacác đời thứ, những nhân vật tiêu biểu của dòng họ
Bản gia phả họ Hà trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, gia phả họ
Hà Tông ở Tùng Lộc, Can Lộc, gia phả họ Hà Huy ở Sơn Thịnh, Hương Sơn
Trong cuốn “Hà Huy Tập một số tác phẩm” của NXB Chính trị Quốcgia đã đề cập đến các tác phẩm chính trị của Tổng Bí thư Hà Huy Tập
“Thêm một số hiện vật, tư liệu góp phần phác họa chân dung cáchmạng của đồng chí Hà Huy Tập” của Ths Triệu Văn Hiển - Giám đốc Bảotàng Cách mạng Việt Nam đã đề cập đến chuyện gia đình giữa Hà Huy Tậpvới vợ là bà Nguyễn Thị Giáo
Bản dịch từ bút tích viết tay bằng tiếng Pháp của Hà Huy Tập do NXBChính trị Quốc gia, Hà Nội dịch năm 2006 đã trình bày về tiểu sử tự thuật của
Hà Huy Tập
Trang 13Trong tập “Hà Huy Tập với cách mạng Việt Nam và quê hương HàTĩnh” của NXB Lý luận Chính trị, Hà Nội 2006 có bài viết “Lê Hồng Phong
và Hà Huy Tập trong quá trình khôi phục ban lãnh đạo Đảng và phong tràocách mạng Việt Nam những năm 30 của thế kỷ XX” của TS Trần Hải
Trong “Những người cộng sản trên quê hương Nghệ Tĩnh” do Bannghiên cứu lịch sử Đảng, Tỉnh ủy Nghệ Tĩnh xuất bản năm 1978 đã nói vềtiểu sử và sự nghiệp cách mạng của Hà Huy Tập
Ngoài những tác phẩm đã xuất bản, liên quan đến đề tài chúng tôinghiên cứu còn có nhiều bài viết đăng trên các tạp chí như bài “Hà Huy Tậptiểu sử tự thuật”, Tạp chí nghiên cứu Lịch sử Đảng số 1 - 2002 Đặc biệt làcác bài tham luận tham gia Hội thảo khoa học nhân dịp kỷ niệm 100 nămngày sinh Tổng Bí thư Hà Huy Tập như:
- Bài “Đồng chí Hà Huy Tập với cách mạng Việt Nam” của TSNguyễn Văn Sáu - Phó Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
- Bài “Hà Huy Tập - người tổ chức, chỉ đạo xuất bản sách, báo, tạp chícủa Đảng trong thời kỳ mặt trận dân chủ (1936 - 1939)” của ThS Ngô VươngAnh, Viện Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
- Bài “Tổng Bí thư Hà Huy Tập - nhà hoạt động lý luận xuất sắc củaĐảng ta” của GS Nguyễn Đức Bình, Nguyên ủy viên Bộ Chính trị - Giámđốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
- Bài “Đồng chí Hà Huy Tập - người cộng sản kiên trung, hiến dângtrọn đời cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam” của ThS Nguyễn Thị Giang,Viện Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
- Bài “Đồng chí Hà Huy Tập với báo chí cách mạng Việt Nam” củaThS Nguyễn Thị Bích Hạnh, Viện Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị Quốc gia
Hồ Chí Minh
Trang 14- Bài “Một số tư liệu của mật thám Pháp liên quan đến hoạt động củađ/c Tổng Bí thư Hà Huy Tập” của TS Phan Xuân Thành, Giám đốc Bảo tàng
Xô viết Nghệ Tĩnh
Về cơ bản, trong các tài liệu mà chúng tôi tiếp cận trên ít nhiều đã nóiđến một số vấn đề về truyền thống dòng họ Hà Huy, một số đóng góp củadòng họ Hà Huy cho lịch sử dân tộc, cũng như đóng góp của các nhân vật và
di tích dòng họ Hà Huy Nhìn chung, các bài viết đó còn mang tính khái quát
lẻ tẻ hoặc chỉ tập trung vào một cá nhân như Hà Huy Tập chứ chưa đi sâunghiên cứu tổng thể quá trình phát triển của dòng họ và những đóng góp củadòng họ Hà Huy đối với tiến trình phát triển của lịch sử nước nhà
Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Hà Tĩnh, từ lâu tôi mong muốn đượcđóng góp sức mình cho sự nghiệp phát triển của quê hương và từ thực tế trêncùng với mong muốn đóng góp cho quê hương đã thôi thúc tôi đi sâu nghiêncứu một cách có hệ thống và toàn diện hơn về dòng họ Hà Huy để góp phầngiữ gìn và phát triển văn hóa địa phương cũng như văn hóa dân tộc
3 Phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ khoa học của đề tài
Trang 15- Phần quan trọng của đề tài là truyền thống của dòng họ Hà Huy vànhững đóng góp của dòng họ này cho lịch sử dân tộc qua các thời kỳ Chúngtôi đi trình tự qua các thế hệ để có một cái nhìn tổng quan về sự phát triển củadòng họ Qua đó chúng ta có thể nhận thấy được sự tiếp nối truyền thống củadòng họ, sự phát huy cũng như những hạn chế của thế hệ sau Đặc biệt làđánh giá đúng những đóng góp lớn lao của dòng họ Hà Huy với quê hươngCẩm Xuyên, đối với lịch sử dân tộc.
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tư liệu
4.1.2 Tài liệu nghiên cứu
Các loại tài liệu nghiên cứu mà chúng tôi tham khảo được đó là các tàiliệu nghiên cứu lịch sử, văn hóa, cụ thể như: An Tĩnh cổ lục của Hippolyte LeBreton, Lịch sử Việt Nam của Đào Duy Anh, Lịch triều hiến chương loại chí,Đại Việt sử ký toàn thư, Dư địa chí Hà Tĩnh trong Dư địa chí các tỉnh, CẩmXuyên đất và người, Lịch sử Đảng bộ huyện Cẩm Xuyên.v.v
4.1.3 Các tài liệu khác
Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng các tài liệu khác như: Từ điển cácnhân vật lịch sử Việt Nam của Nguyễn Quyết Thắng và Nguyễn Bá Thế,Danh nhân Hà Tĩnh, Các nhà khoa bảng Việt Nam của Ngô Đức Thọ (CB),Danh nhân đất Việt của Quỳnh Cư, Các nhà khoa bảng Hà Tĩnh của TháiKim Đỉnh, Lịch sử - văn hóa dòng họ Nguyễn Sĩ ở Thanh Lương, Thanh
Trang 16Chương, Nghệ An từ thế kỷ XVI đến nay (Luận văn Thạc sĩ của Văn NamThắng năm 2005).
Chúng tôi còn khai thác các tài liệu kỷ yếu hội thảo khoa học, một số tàiliệu chép tay, một số bài báo, tạp chí liên quan như các tham luận trong Hộithảo khoa học “Đồng chí Hà Huy Tập với cách mạng Việt Nam” nhân kỷ niệm
100 năm ngày sinh của Tổng Bí thư Hà Huy Tập Đặc biệt chúng tôi tiếp cậnđược bản chép tay bằng tiếng Pháp tự thuật về tiểu sử của chính Hà Huy Tập
4.1.4 Tài liệu điền dã
Để bổ sung tư liệu cho đề tài chúng tôi còn tìm hiểu, khảo cứu, đi thực
tế tại nhà thờ họ Hà Huy và nhà tưởng niệm Tổng Bí thư Hà Huy Tập ở CẩmHưng, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh Đồng thời chúng tôi đã gặp gỡ trao đổi với các
cụ bô lão của dòng họ Hà Huy, tộc trưởng Hà Huy Sửu, cụ Hà Huy Tửu, cụ
Hà Huy Quỳ.v.v
4.2 Phương pháp nghiên cứu
4.2.1 Sưu tầm tư liệu
Để phục vụ cho việc thực hiện đề tài chúng tôi đã sưu tầm, tích lũy, saochép tư liệu ở Thư viện Quốc gia, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Bảo tàng
Hà Tĩnh, Bảo tàng Xô viết Nghệ Tĩnh, Thư viện Hà Tĩnh, thư viện Nghệ An.Ngoài ra chúng tôi còn tiến hành nghiên cứu thực địa tại nhà thờ của dòng họ
Hà Huy, nhà tưởng niệm Tổng Bí thư Hà Huy Tập, chụp ảnh các di tích, sửdụng phương pháp phỏng vấn.v.v
4.2.2 Xử lý tư liệu
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi vận dụng phương pháp lịch sử,phương pháp so sánh và phương pháp logic để trình bày quá trình hình thành,phát triển của dòng họ theo thời gian diễn biến của lịch sử So sánh, đối chiếugia phả với chính sử từ đó phân tích đánh giá nêu lên mối quan hệ chặt chẽ,tác động hai chiều của dòng họ Hà Huy với quê hương đất nước
Trang 175 Đóng góp của đề tài
- Với sự cố gắng cao nhất của tác giả, luận văn sẽ góp phần cung cấp
cho độc giả bức tranh toàn cảnh về quá trình hình thành và phát triển củadòng họ Hà Huy ở Cẩm Xuyên với lịch sử hơn 400 năm với 17 thế hệ concháu Qua đó giáo dục tư tưởng hướng về cội nguồn, phát huy những truyềnthống quý báu của dòng họ
- Tìm hiểu một số nhân vật tiêu biểu của dòng họ và làm rõ nhữngđóng góp của các nhân vật đối với quê hương, đất nước
- Hoàn thành đề tài nghiên cứu sẽ góp phần làm giàu thêm nguồn tưliệu, phong phú hơn bộ sử địa phương
- Đồng thời luận văn cũng góp phần vào việc giữ gìn, bảo tồn, pháthuy di sản văn hóa dòng họ, văn hóa làng xã, góp phần xây dựng nước ViệtNam ngày càng phồn vinh thịnh vượng
Trang 18NỘI DUNG
Chương 1 QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA DÒNG HỌ HÀ HUY Ở CẨM HƯNG,
CẨM XUYÊN, HÀ TĨNH TỪ THẾ KỶ XVI ĐẾN NAY (2009)
1.1 Cẩm Xuyên - đất và người
1.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý:
Xét về mặt địa lý hành chính, so với các đơn vị huyện, thị xã của tỉnh
Hà Tĩnh, thì Cẩm Xuyên nằm về phía Đông tỉnh, có tọa độ địa lý như sau:
- Điểm cực Nam là 18002’18” vĩ Bắc, mốc là núi Cù Han, đỉnh cao400m, thuộc xã Cẩm Thịnh, giáp với xã Kỳ Thượng, huyện Kỳ Anh và 2 xãHương Hóa và Kim Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình
- Điểm cực Bắc là 18020’51” vĩ Bắc, mốc giới là nơi tiếp giáp giữaxóm Bắc Hà xã Cẩm Hòa với biển Đông và xóm Đông Bàn xã Thạch Văn,huyện Thạch Hà
- Điểm cực Tây là 105051’17” kinh Đông, mốc giới là núi My Ôn, đỉnhcao 238m, thuộc xã Cẩm Mỹ, giáp với xã Hương Trạch và Lộc Yên, huyệnHương Khê
- Điểm cực Đông trên đất liền là 106009’13” kinh Đông mốc giới lànúi Ba Cội, đỉnh cao 400m, ở thôn Bắc Lĩnh, xã Cẩm Lĩnh, giáp với biểnĐông và thôn Trung Kiên, xã Kỳ Xuân, huyện Kỳ Anh
Phía Bắc giáp biển Đông, thành phố Hà Tĩnh và huyện Thạch Hà;phía Đông và Đông Nam giáp huyện Kỳ Anh; phía Tây và Tây Nam giáp
2 huyện Thạch Hà và Hương Khê; phía Nam giáp huyện Tuyên Hóa, tỉnhQuảng Bình
Trang 19Tổng diện tích tự nhiên Cẩm Xuyên là 628,9 km , là huyện có diện tíchrộng thứ tư so với 12 thành phố, huyên, thị xã trong tỉnh, sau các huyện:Hương Khê (1241 km2), Kỳ Anh (1052 km2), và Hương Sơn (950 km2).
Dân số toàn huyện tính đến 2005 là 156.583 người, mật độ dân số 246người/km2 (trong đó xã Cẩm Mỹ 4 người/km2, xã Cẩm Nhượng 8.3 người/
km2, tỷ lệ tăng dân số hằng năm 8,4%)
Địa hình, khí hậu:
Từ Kỳ La hàng ngàn năm trước, đến huyện Kỳ La, rồi huyện Hà Hoarồi huyên Hoa Xuyên và huyện Cẩm Xuyên đương đại, dương như gắn chặtvới vị trí địa lý tương đối ổn định; ngoại trừ mấy thế kỷ có chung tên huyện
Kỳ Hoa với huyện Kỳ Anh ngày nay, thì Kỳ La - Cẩm Xuyên, được quy địnhbởi một không gian địa lý đặc thù
Nhìn trên bản đồ địa hình, đất Cẩm Xuyên có hình lục lăng tương tựmột hình chữ nhật mà hai cạnh dài chạy song song hai phía Tây - Đông; phíaBắc là biển Đông và phía Nam là dãy Trương Sơn Bắc, ngăn cách với huyệnThạch Hà Ở phía Tây là hệ thống sông Ngàn Mọ (Rào Cái), còn ngăn cáchvới Kỳ Anh ở phía Đông là hệ thống sông Rác (Lạc Giang) Hai hệ thốngsông này cùng phát nguyên từ rừng núi cao phía cực Nam tựa như hai cánhtay bên lồng ngực hẹp vung ra vươn về phía Bắc đổ nước ra biển, ôm vàovòng tay rộng của mình cả núi đồi - trung du - đồng bằng ven biển và cồn cátven bờ của Cẩm Xuyên - đất của những con sông tuyệt diệu
Từ địa danh thôn Bắc Mỹ (xã Cẩm Mỹ) chạy về phía đông qua xã CẩmQuan, xã Cẩm Hưng, xã Cẩm Lộc đến phía Nam xã Cẩm Lĩnh, tương đươngvới từng vĩ độ 18015 Bắc, trở ra phía bắc chia Cẩm Xuyên thành 1/3 diện tích
là đồng bằng ven biển và hệ thống các cồn cát trắng do biển rút mà thành Tuyvậy thuộc 1/3 diện tích phía Bắc huyện nổi lên một số núi đồi, như Cụp Mộ
Trang 20Độ, núi Thành, núi Nhược Thạch, núi Trốc, núi Hội, núi Trộn, núi ThiênCầm, như là những rơi vãi của dãy Trường Sơn Bắc ở giữa đồng bằng.
Đất Cẩm Xuyên có một dải trung du hẹp, nằm trước thềm núi cao trùngđiệp ở phía Nam
Hơn 2/3 diện tích là núi đồi chằng chịt khe suối và những thung lũnghẹp, vốn là những rừng già nhiệt đới đầy những chủng loại thực vật, động vậtquý hiếm, hơn thế nữa dưới lòng đất chứa đựng nhiều khoáng sản - kim loại
có giá trị Với hai hồ nước lớn Kẻ Gỗ và sông Rác, cùng với khu bảo tồn thiênnhiên Kẻ Gỗ; vùng núi rừng Cẩm Xuyên bao chứa một tiềm năng kinh tế vôhạn, đang chờ được khai thác một cách có hiệu quả
Cùng với đồng bằng ven biển, núi rừng đại ngàn, Cẩm Xuyên có mộtlợi thế khác là biển Đông, với chừng 20 km, bờ biển tạo cho Cẩm Xuyênnhững lợi thế biển có giá trị như đánh bắt nuôi trồng thủy - hải sản và du lịchsinh thái biển hấp dẫn, biển Cẩm Xuyên mà tiêu biểu là biển Thiên Cầm nếuđược phát huy tích cực sẽ trở thành một lợi thế lớn của huyện
Về khí hậu, Cẩm Xuyên nằm trong vùng nhiệt đới ẩm gió mùa, nóng
ẩm quanh năm, phần nào có lợi cho sản xuất nông lâm nghiệp
1.1.2 Truyền thống văn hóa, lịch sử
Theo dư địa chí Cẩm Xuyên, từ thời viễn cổ, cách ngày nay khoảng
3000 năm, khoảng thời gian xuất hiện nhà nước cổ đại, vùng Cẩm Xuyên vàNghệ Tĩnh nói chung là đất đai của Việt Thường Thị - một nhà nước của họViệt Thường; Việt Thường Thị có trước nhà nước Văn Lang của Hùng Vươnghơn 500 năm Việt Thường Thị là nhà nước cổ sơ của người Việt cổ, được sửsách cổ của Trung Hoa ghi chép và được dẫn lại trong các bộ sử biên niên củaViệt Nam thời trung đại Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục củaQuốc sử quán triều Nguyễn chép: “Sai sứ sang nhà Chu dâng chim trĩ trắng”
Sử ký Trung Quốc chép: “năm Tân Mão thứ 6 (1110 TCN) đời Thành Vương
Trang 21nhà Chu, phía nam bộ Giao Chỉ có Việt Thường Thị, qua ba lần sứ dịch, sangdâng chim trĩ trắng” [11 4] Điều đó xác định vị trí của Việt Thường Thị thời
đó ở vùng Nghệ Tĩnh là có căn cứ, vì sau này có huyện Việt Thường, một địadanh có nguồn gốc từ Việt Thường Thị xa xưa, ở đó có suối Việt Thường, consuối đổ ra biển Đông ở vùng núi Nam Giới (Thạch Hà, Hà Tĩnh) Thêm nữa,chim trĩ trắng là một đặc sản của Việt Thường Thị nay vẫn còn ở vùng núiNghệ Tĩnh như ở các khu bảo tồn thiên nhiên: Kẻ Gỗ (Cẩm Xuyên), VũQuang, Pù Mát (Nghệ An)
Hơn 2000 năm lịch sử, từ thiên niên kỷ II trước Công nguyên đến thế
kỷ X sau Công nguyên, địa danh Việt Thường từ nhà nước Việt Thường Thịlặp đi lặp lại trong lịch sử hành chính như là một khẳng định đầy ấn tượng củavùng đất địa linh Hà Tĩnh nói chung và các huyện phía đông nam như CẩmXuyên nói riêng
Từ họ Khúc (905 - 917), nhà Ngô (939 - 967), nhà Đinh (968 - 980),nhà Tiền Lê (980 - 1009), hơn một thế kỷ chuyển giao lịch sử từ bị đô hộ xâmlược sang độc lập tự chủ và với nhiều biến động nội bộ về chính trị và quân
sự cho nên những sắp đặt về tổ chức hành chính như quận, huyện là chưa rõràng Nhưng vào thời Tiền Lê đã có sắp đặt hành chính mới trong cả nước.Riêng vùng Hà Tĩnh lúc đó đã có châu Thạch Hà; sách Đại Việt sử ký toànthư chép rằng: “Ất Tỵ (1005) mùa đông tháng mười, Đông Thành Vương thuachạy vào đất Cửu Long Vua đuổi bắt lại chạy sang Chiêm Thành, chưa đếnthì bị người châu Thạch Hà giết ở cửa biển Cơ La (nay là Thiên Cầm, CẩmXuyên)” [11, 8] Đất châu Thạch Hà bao gồm các xã phía Đông Nam huyệnCan Lộc vào đến hết đất Kỳ Anh ngày nay
Dưới vương triều Lý (1010 - 1225), Trần (1225 - 1400) thừa hưởngthành tựu của sắp đặt hành chính trong một thế kỷ độc lập từ các vương triều
Lý, Trần đã ổn định vững chắc tổ chức hành chính Đại Việt Những năm đầu,
Trang 22nhà Lý đổi tổ chức hành chính cấp quận thuộc triều đình làm Lộ, chia cả nướclàm 24 lộ Năm 1036, đổi châu Hoan làm châu Nghệ An; sách Đại Việt sử kýtoàn thư chép: “Mùa hạ, tháng tư đặt hành dinh ở châu Hoan, đổi châu ấy làmchâu Nghệ An” [12, 213] Năm 1025, nhà Lý lập trại Định Phiên ở vùng NamGiới của châu Hoan, theo đó có người hiểu rằng trại Định Phiên là để chỉ đấtNghệ An - vốn được mệnh danh là đất trại thời Lý - Trần.
Năm 1242, nhà Trần đổi châu lộ làm phủ lộ trong cả nước, theo đóchâu lộ Nghệ An làm phủ lộ Nghệ An, dưới phủ lộ có năm châu trực thuộcvùng Đông Nam Hà Tĩnh thời đó thuộc châu Nam Tĩnh Dưới có 4 huyện là
Hà Hoàng, Bàn Thạch, Kỳ La, Hà Hoa trong đó Kỳ La tương đương vớihuyện Cẩm Xuyên hiện tại Năm 1397, nhà Trần đổi phủ lộ làm trấn theo đóphủ lộ Nghệ An đổi làm trấn Lâm An, nhân đây nhập 2 huyện Kỳ La và HàHoa thành huyện Kỳ Hoa
Nhà Minh xâm chiếm nước ta (1407 - 1428) hành chính Đại Việt đã cómột số thay đổi liên quan đến Hà Tĩnh, đó là việc năm 1419 đặt phủ Hà Hoagồm 2 huyện Thạch Hà và Kỳ Hoa Nhưng phải đến thời Lê các địa danhhành chính này mới có tác dụng
Những năm đầu dưới vương triều Lê, Lê Thái Tổ vẫn theo sắp đặt hànhchính thời Trần - Hồ mà trong 20 năm đô hộ nhà Minh chưa thể làm thay đổi
hành chính Đại Việt Năm 1434, Nguyễn Trãi biên soạn sách Dư địa chí
thống kê danh sách các đơn vị hành chính của Đại Việt đến tận cấp cơ sở.Năm 1469 và năm 1490, nhà Lê đã 2 lần cho vẽ bản đồ Đại Việt thống kê rõdanh sách các đơn vị hành chính từ trấn đến cấp cơ sở Năm 1723 nhà Lê -Trịnh cho vẽ lại bản đồ Đại Việt Như vậy có thể khẳng định rằng, đất huyệnCẩm Xuyên các thế kỷ XV - XVII là nửa phía Tây Bắc của huyện Kỳ Hoa,phủ Hà Hoa, trấn Nghệ An
Trang 23Dưới vương triều Nguyễn đã kế thừa sắp đặt hành chính cũ của ĐạiViệt nhưng đến 1831 nhà Nguyễn đã đổi trấn làm tỉnh, vẫn là cấp hành chínhtrực thuộc triều đình; ở giữa cấp huyện và cơ sở đặt thêm cấp tổng Theo đó,năm 1831 trấn Nghệ An cũ chia thành tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, năm 1851đổi tỉnh Hà Tĩnh làm đạo Hà Tĩnh Năm 1875, bỏ đạo nâng Hà Tĩnh lên cấptỉnh nhưng vẫn do Tổng đốc An Tĩnh quản lý Từ 1837 huyện Kỳ Hoa đượcchia làm 2 huyện là Kỳ Hoa và Hoa Xuyên; năm 1841 đổi Kỳ Hoa thành KỳAnh và Hoa Xuyên thành Cẩm Xuyên.
Huyện Cẩm Xuyên cho đến năm 1945 thuộc phủ Thạch Hà, tỉnh HàTĩnh Riêng phủ Thạch Hà cũng có thay đổi, vốn là phủ Hà Hoa từ cuối thế
kỷ XIV đầu thế kỷ XV đến năm 1841 đổi làm phủ Hà Thanh; đến 1853 bỏhuyện Thạch Hà và đổi phủ Hà Thanh làm phủ Thạch Hà và phủ Thạch Hàcho đến năm 1945 có 3 huyện là Thạch Hà, Cẩm Xuyên và Kỳ Anh Từ saunăm 1945 đến nay vẫn giữ nguyên tên gọi hành chính và diện tích địa lý hànhchính của huyện Cẩm Xuyên cũ
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm của dân tộc ta,vùng đất và con người Cẩm Xuyên nói riêng và con người xứ Nghệ nói chung
đã có những đóng góp xứng đáng Nhìn lên bản đồ địa hình đất nước và đặttrong quan hệ giao lưu giữa 3 vùng lớn Bắc - Trung - Nam thì Cẩm Xuyên có
vị trí chiến lược quan trọng Nếu Hà Tĩnh được coi là cuống phểu đặt về phíaBắc thì Cẩm Xuyên là phần nhỏ và cuối của cuống phểu đó cho nên mọi sựthông hay tắc đều nằm ở chỗ đó Nhận thấy vị trí chiến lược của mình đối vớidân tôc, đất và người Cẩm Xuyên luôn dũng cảm, kiên cương đối phó với cácthế lực xâm lược từ bên ngoài để giành độc lập và bảo vệ nền độc lập dân tộc
Nói đến đất và người Cẩm Xuyên, không thể không nói đến các giá trịvăn hóa mà các thế hệ cư dân đã tạo ra, tiếp thu, lưu truyền và phát huy, tạonên cảnh quan và tính cách cho văn hóa Cẩm Xuyên
Trang 24Văn hóa nói chung được cấu thành từ văn hóa vật chất, văn hóa tinhthần và văn hóa ứng xử, hiểu văn hóa Cẩm Xuyên cũng nên hiểu trên các khíacạnh đó.
Về văn hóa vật chất của vùng Cẩm Xuyên, là thứ tương đồng với Nghệ
An và Hà Tĩnh, đó là toàn bộ giá trị vật chất do con người làm ra trong suốtlịch sử của mình.Từ công cụ lao động nông nghiệp và các ngành nghề khác,đến nhà cửa nơi sinh sống, cho đến cái ăn, cái mặc của vùng Cẩm Xuyêndường như giống với các vùng lân cận, nhưng nhìn thật kỹ có thể có khácbiệt, chẳng hạn những ngôi nhà gỗ vùng Cẩm Xuyên tuy có cùng loại hìnhnhưng đơn giản hơn ở cấu trúc và nhỏ hơn ở hình dáng, bởi vì vùng CẩmXuyên có khí hậu khác hơn các nơi khác: mùa nắng gió Lào mạnh, mùa mưabão cũng dữ dội hơn Về văn hóa ăn, mặc, nghề thủ công truyền thống, các disản văn hóa của Cẩm Xuyên đều có sự khác biệt Toàn bộ những giá trị vănhóa vật chất được sáng tạo bởi cư dân Cẩm Xuyên và được người Cẩm Xuyênchấp nhận, nhìn chung là đầy đủ, song chưa đạt đến trình độ cao, hay chưaphải là thương hiệu, tạo nên phong cách Cẩm Xuyên
Về văn hóa tinh thần của Cẩm Xuyên có phần vượt trội hơn và phongphú hơn Trước hết đó là việc hình thành ba vùng văn hóa: văn hóa sông biển
ở các xã ven biển mà tiêu biểu là Cẩm Nhượng với nghề đánh cá biển và một
số làng chài ở cửa sông và ven sông Ngàn Mọ - sông Rác - sông Họ được coi
là Giang phái; văn hóa nông nghiệp thuộc các xã nữa phía Bắc huyện, lấynông nghiệp độc canh làm cơ sở; văn hóa lâm nghiệp, thuộc các xã vùng Namhuyện, lấy nghề rừng làm nền tảng Tuy vậy, không có sự khác biệt giữa batiểu vùng Văn hóa tinh thần vùng Cẩm Xuyên được thể hiện rất rõ nét dướidạng văn hóa dân gian - diển xướng dân gian - truyện kể dân gian Hát ví dặm
và hò vè đặc trưng của diển xướng dân gian Hà Tĩnh đều thịnh hành khắp cáclàng quê Cẩm Xuyên, nhất là các làng hai bên sông Ngàn Mọ từ Kẻ Gỗ đổ về
Trang 25cửa Sót hay đổ vào cửa Nhượng Nơi biểu diển của ví dặm - hò vè chủ yếu làhiện trường lao động, bởi những tốp người lao động cùng một loại công việc,
mà xưa nay quen gọi là phường, như phường cấy, phường gặt hái, phường cắt
rạ, phường đi củi, phường đi cỏ Đó là những con người vừa lao động vừahát là nét độc đáo của diển xướng vùng Cẩm Xuyên và Đông Nam Hà Tĩnh.Cho đến nay, dân chúng vẫn lưu truyền lại nhiều làng quê ở Cẩm Xuyên đãtừng là những làng ví dặm nổi tiếng như: Vịnh Lại, Phương Cần, Quy Vinh nằm bên bờ sông Ngàn Mọ Hệ thống truyện kể - truyền thuyết dân gian vùngCẩm Xuyên có nét riêng rất đỗi bi hùng, đó là sự tích các vết dấu chân lớnhằn trên các ngọn núi như ở núi Voi, ở núi Thiên Cầm và một vài dấu nữa ởCẩm Quan mà tương truyền đó là dấu chân ông Đùng gánh núi; rồi các sựtích ở núi Thiên Cầm từ thời Hùng Vương đến đời Hồ; lại có truyền thuyết vềmột vị thần, vốn là một vị tướng xông trận, bị giặc chém đứt đầu (còn lại một
ít da cổ) thế mà một tay cương ngựa, một tay gở lấy đầu, vừa đi vừa nhỏ máu,nơi nào có giọt máu nơi đó có mối xông ở đó lập đền thờ, và nơi ngài nằmxuống là phần mộ, dân lập đền thờ chính, tương truyền đó là vị thần được thờtại lăng Tăng Phúc (nay là Cẩm Vịnh), di tích được xếp hạng cấp tỉnh quản lý.Một trong những nét văn hóa tinh thần vùng Cẩm Xuyên, ngoài cố kết làng
xã, cố kết họ tộc còn có sự cố kết phường bạn, đó là mối liên hệ mật thiết củanhững người hợp thành phường lao động theo thời vụ
Về văn hóa ứng xử của vùng Cẩm Xuyên, cũng có những biểu hiện vừachung lại vừa riêng phù hợp với điều kiện sống của vùng Văn hóa ứng xửphản ánh sự đối xử giữa con người với con người, giữa xã hội con người vớithế giới xung quanh Chẳng hạn sự ứng xử giữa con người với khí hậu khắcnghiệt trong vùng có nét độc đáo, cũng là cái để che mưa che nắng nhưng cái
áo tơi truyền thống là sáng tạo của Nghệ Tĩnh, áo tơi là một di sản của vănhóa vật chất thật đơn sơ, nhưng đó cũng là một di sản của văn hóa ứng xử, áo
Trang 26tơi không chỉ che mưa, cả việc gió chiều nào che chiều ấy, mà còn là cái chenắng, tạo mát mẻ cho người làm đồng giữa lúc nắng nóng như thiêu như đốt.Ngoài ra nó còn làm nơi nghỉ lưng chốc lát hay là cho một giấc ngủ say, cũng
có thể bày làm cổ bàn với khoai, cà, nước trám cả nhóm cùng ăn Với cộngđồng làng xóm, văn hóa ứng xử có nét đậm đà, chẳng hạn các nhà liền nhau,
có nhau khi tối lửa tắt đèn, là lòng tin cậy vào nhau, hàng xóm không có gìphải đề phòng, cảnh giác, dường như rất khác câu: “thương nhau rào dậu chonhau” rất phổ biến ở nhiều nơi Làng xóm với nhau có củ khoai, bát nước chèluôn luôn mời chào nhau
Những biểu hiện của văn hóa vùng Cẩm Xuyên, từ vật chất - tinh thầnđến ứng xử dương như có nét gì đó thật riêng, thật độc đáo, thật gây ấn tượng,
nó không cao sang, không khoe mẽ cũng không hoành tráng, mà sâu lắng và
ấm cúng như củ khoai, bát nước, như bữa cơm cà, như chiếc áo tơi vừa chemưa vừa che nắng vậy
Từ truyền thống văn hóa và lịch sử của vùng đất Cẩm Xuyên đã sinh ra,nuôi dưỡng và rèn luyện nên chí khí con người Cẩm Xuyên trong suốt thời kỳlịch sử của mình
Đó là những những người yêu nước nhiệt thành, dám xả thân và hy sinh
vì Tổ quốc Nói đến lòng yêu nước, thì không phân biệt vùng hay miền, mọingười dân Việt Nam hết thảy đều yêu nước, nhưng những biểu hiện yêu nước
có khác nhau, không ai giống ai, không nơi nào giống nơi nào, và mỗi thời đại
có cách biểu hiện tương ứng Lòng yêu nước tựu trung lại được biểu hiệntrước họa ngoại xâm, và trong hoàn cảnh đó sự hy sinh xả thân cho Tổ quốc làbiểu hiện cao cả nhất Cư dân Cẩm Xuyên từng đóng góp công sức cho sựnghiệp giữ nước suốt mấy ngàn năm lịch sử Hơn một thế kỷ qua nhiều tấmgương xả thân vì nước thật cảm động, phong trào Cần Vương chống Phápcuối thế kỷ XIX có đóng góp nhiều xương máu của con em Cẩm Xuyên;
Trang 27trong 9 năm kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954) anh hùng liệt sỹ PhanĐình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai để đồng đội tiến lên chiến thắng ởĐiện Biên Phủ, như là biểu trưng cao đẹp nhất cho lòng quả cảm của conngười Cẩm Xuyên.
Đó là những người gắn bó thiết tha với quê hương, luôn giữ trọn tìnhlàng nghĩa xóm Dân cư Cẩm Xuyên đương đại có nguồn gốc bản địa, nhưngđại bộ phận là từ nơi khác đến đây an cư lạc nghiệp; do đó sự cố kết cộngđồng với tình làng nghĩa xóm, “bán anh em xa mua láng giềng gần” là nét trộitrong truyền thống của người Cẩm Xuyên Với một điều kiện tự nhiên cực kỳ
hà khắc, không hiểu vì sao hàng ngàn năm qua Cẩm Xuyên là chỗ dừng châncủa nhiều nhóm dân cư, chủ yếu là từ ngoài Bắc vào Trước hoàn cảnh thiênnhiên khắc nghiệt, sự đoàn kết chung lưng đấu cật của người dân Cẩm Xuyên
đã góp phần hạn chế tối đa những tai họa do thiên nhiên gây ra Cũng vì vậy
mà tính cộng đồng làng xóm vùng Đông Nam Hà Tĩnh không bị ràng buộcbởi những quy định của luật tục được phản ánh trong các hương ước ở nhữngnơi khác, song lại có sự gắn bó chặt chẽ bởi sự tự nguyện của các thành viêntrong công đồng bởi sự đồng tâm, đồng cảm của mọi người Một biểu hiệnnữa trong tính cộng đồng đó là sự giảm nhẹ các hình phạt đối với các thànhviên, chẳng hạn những người vi phạm thuần phong mỹ tục như trộm cắp, traigái, có những hành vi vô đạo đức thường được uốn nắn qua dư luận, ít cónhững đấu tố hay trừng trị kiểu “cạo đầu bôi vôi” đối với gái chửa hoang nhưnhững nơi khác
Đó là những con người cương trực, không chịu khuất phục trước bất cứthế lực và bạo lực cường quyền, nhưng lại là những con người có sức chịuđựng gian khổ rất cao và tạo ra khả năng giám đương đầu với mọi khó khăn,gian khổ Tìm trong lịch sử di dân vào Nghệ Tĩnh nói chung, thấy có nhiềudòng họ từ Bắc vào, có nhiều lý do của những cuộc di dân trong đó có lý do
Trang 28để trốn tránh sự truy nã của cường quyền mà bỏ quê hương, bản quán vào đây
dù biết rằng đây là vùng đất khắc nghiệt Từ đó họ biết chung sống và thíchứng với nó để may ra cải tạo được nó để an cư lạc nghiệp
Đó là những con người yêu lao động, cân cù lao động, lấy lao động là
lẽ sống trọn đời Tuy là nét phổ biến, song đối với vùng đất như Cẩm Xuyênthì đó là một đòi hỏi bắt buộc, ở đây mọi sự nhàn rỗi, lười biếng hết thảy đều
bị trả giá, những gia đình giàu có trong các làng quê là những gia đình cần cùlao động và tiết kiệm nhất Ở đây không có việc làm chơi ăn thật như nhiềunơi khác, mà làm thật cũng chưa ăn ai nữa là chiểng mảng!
Đó là những con người có tâm hồn phong phú, đa cảm, ham học hỏi vàyêu đời Sống trong điều kiện thiên nhiên như vậy, nếu không có được tâmhồn phóng khoáng, yêu đời, quên đi những vất vã của đời thường thì khó cóđộng lực để vượt qua khó khăn Cư dân Cẩm Xuyên sống trong hoàn cảnhnhư vậy mà tất cả đều như không có gì phải lo lắng, để mà sống cho ra sống,điều đó thật kỳ diệu Những giá trị văn hóa tinh thần và văn hóa ứng xử củangười Cẩm Xuyên như đã giới thiệu cho phép ta khẳng định về một tâm hồncao thượng của cộng đồng Đồng đất Cẩm Xuyên nghèo thật, nhưng qua cáclàn điệu ví dặm - hò vè đã nói lên tất cả, những bài vè - hát ru “Ai về MỹDuệ” tục truyền là của Nho Diệu ở Phương Phong (nay là Cẩm Duệ) sáng tác
từ giữa thế kỷ XIX, và bài “Huyện nghèo” của Trần Hữu Thưởng, quê ở CẩmNhượng sáng tác trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1946 - 1954), vàhàng chục bài vè khuyết danh khác mới thấy được sự phong phú trong tâmhồn của người Cẩm Xuyên Người dân Cẩm Xuyên còn có truyền thống hiếuhọc, ham học hỏi Nếu so với các huyện khác trong tỉnh thì số người khoabảng nho học có thể không bằng nhưng sự học của vùng quê nghèo này cótruyền thống và có những địa chỉ gây ấn tượng, đền thờ Khổng Tử của phủ HàHoa từ thời Lê được tọa lạc tại thôn An Việt (làng Vịt) nay thuộc xã Cẩm
Trang 29Thành là một sự thừa nhận đạo học ở vùng đất này Cũng tại đây, trong suốt 9năm kháng chiến chống Pháp là cơ sở sơ tàn của trường Trung học Phan ĐìnhPhùng, rồi trường Trung học Đại Thành, rồi trường cấp II - III Cẩm Xuyên,thu hút học sinh 3 huyện Đông Nam Hà Tĩnh Học sinh Đại Thành cũ nhiềungười đã trở thành các nhà khoa học thuộc các thế hệ đầu đàn của nước nhà.Nhân đây cũng cần nhắc đến sự kiện gây ấn tượng, đó là năm 1948, CẩmXuyên là huyện đầu tiên trong cả nước thanh toán xong nạn mù chữ cho toàndân Truyền thống ham học được tiếp nối và phát huy cao hơn mà điển hình làlàng học Cẩm Bình, đơn vị 2 lần được phong Anh hùng Lao động vì thànhtích học tập Cẩm Xuyên cũng là nơi sinh cơ lập nghiệp của nhiều dòng họ cótruyền thống khoa bảng như dòng họ Hà Huy, dòng Họ Đậu đời nào trongdòng họ cũng có người đỗ đạt.
Với truyền thống văn hóa và lịch sử từ xa xưa đó đã tạo nên cho vùngđất và con người Cẩm Xuyên những nét đặc trưng khác với những vùng đấtkhác Chính điều đó sẽ tạo nên sức mạnh giúp Cẩm Xuyên vượt qua mọi thửthách trong quá trình phát triển để trở thành một huyện giàu có - văn minh -lịch sự
1.1.3 Một số dòng họ lớn ở Cẩm Xuyên
Ở Việt Nam theo công bố của P.Gouron năm 1930 chỉ riêng đồng bằngBắc Bộ có 202 họ Dã Lam Nguyễn Đức Dụ trong cuốn “Gia phả - khảo luận
và thực hành” của ông ước tính nước ta có khoảng 300 họ Gần đây, Giáo sư
Vũ Mạnh Hà cung cấp con số 191 họ, chắc chắn còn phải nghiên cứu thêm
Các dòng họ ở Cẩm Xuyên nói riêng và ở Hà Tĩnh nói chung, có họbản địa, ngoài Bắc vào Dù dòng họ ấy ở đâu, vốn ở Cẩm Xuyên hay chuyển
cư đến Cẩm Xuyên vào thời gian nào với lý do gì, giờ đây họ đều là ngườicộng đồng trên đất Hà Tĩnh Họ đã định cư trên đất Hà Tĩnh và trong quá
Trang 30trình lịch sử các dòng họ ấy đã chung lưng đấu cật với người bản địa, cùng cảitạo tự nhiên, chống thú dữ, khai thác đất đai lập nên những xóm làng trù mật.
Trên mảnh đất Cẩm Xuyên ngoài dòng họ Hà Huy mà chúng tôi chọnlàm đề tài nghiên cứu còn nhiều dòng họ lớn nhất nổi tiếng, song trong khuônkhổ hạn hẹp của luận văn này chúng tôi xin chỉ giới thiệu khái quát về một sốdòng họ sau: họ Đậu (Cẩm Hưng), họ Nguyễn Đình (Cẩm Thành), họ Lê (MỹDuệ), họ Bùi (Mỹ Duệ)
Họ Đậu
Vốn là họ Đỗ nhưng từ Nghệ An vào lại gọi là họ Đậu, có lẽ là vì lý dohúy kị nào đó chưa có lời lý giải hoặc vì thói quen mà Đỗ và Đậu trong thuậtngữ của học hành - khoa bảng thì đỗ hay đậu là hoàn toàn giống nhau HọĐậu phân bố trên 6 xã với 9 chi họ
Họ Đậu ở làng Khả Luật, xã Cẩm Hưng theo gia phả vốn là họ Đỗ ởtỉnh Bắc Ninh, khoảng thế kỷ XVI - XVII vào sinh cơ lập nghiệp tại xã PhùViệt, huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh Đầu thế kỷ XVII họ Đậu ở đây có 8 anh em,tản mác đi các nơi và người con thứ 8 vào Cẩm Xuyên, lấy vùng Động Choáclàm nơi lập thân Thủy tổ họ Đậu ở Cẩm Xuyên là Đậu Bá Út, truyền đến nay
đã 14 đời, có đến 120 hộ Trải hơn 3 thế kỷ họ Đậu Khả Luật có nghiều người
đỗ đạt Hương cống - Tú tài, Cử nhân và thành đạt trên quan trường Trướcnăm 1945 cụ Đậu Văn Bính (Đậu Đình Cung) Cử nhân khoa Nhâm Tý (1912)được bầu vào dân biểu trung kỳ, có nhiều người là đảng viên Đảng Cộng sản
từ những năm 1930 - 1931
Họ Nguyễn Đình
Họ Nguyễn Đình ở làng Hưng Mỹ, xã Cẩm Thành là một chi nhánh của
họ Nguyễn Xí (ở Cương Gián, Nghi Xuân, Hà Tĩnh), đến đời thứ 7 NguyễnHoành Từ (1536 - 1599) vào Phạt Nạo (nay là xã Thạch Bình, thành phố HàTĩnh) sinh sống Đến đời thứ 9 là Nguyễn Đình Nhiếp đến sinh sống tại đất
Trang 31Hưng Mỹ Tục truyền đây là một trong những dòng họ đầu tiên khai canhlàng Hưng Mỹ cách đây chừng 400 năm Từ đời thứ 9 đến nay họ NguyễnĐình Hưng Mỹ trải qua 17 đời và từ Hưng Mỹ có 12 chi họ Nguyễn Đìnhsinh sống rải rác ở các nơi Trong thời Lê - Nguyễn, dòng họ Nguyễn Đình cónhiều người đỗ đạt và có công trung với các vương triều, được phong tướccao chức trọng cùng biểu ngạch phụng thờ Tiêu biểu như Nguyễn ĐìnhThạch xã Cẩm Thành đỗ Đồng tạo sĩ khoa Quý Sửu năm Vĩnh Khánh thứ 5(1733), Nguyễn Đình Chử người xã Hương Duệ, đỗ Đồng tạo sĩ khoa Ất Mùinăm Vĩnh Hựu thứ 5 (1739), Nguyễn Đình Quyền đỗ Đồng tạo sĩ khoa QuýHợi năm Cảnh Hưng thứ 4 (1743), Nguyễn Đình Khanh đỗ Đồng tạo sĩ khoaĐinh Sửu năm Cảnh Hưng thứ 18 (1757), Nguyễn Đình Cẩn đỗ Đồng tạo sĩkhoa Kỷ Hợi năm Cảnh Hưng thứ 40 (1779).
Họ Lê
Có mặt trên 23 xã với 63 chi họ, xếp vào hàng thứ 3 của các họ đông vàphân bố trên đất Cẩm Xuyên Họ Lê là 1 trong 3 dòng họ đông người ở xã cótruyền thống học hành thi cử và làm quan Đầu thế kỷ XX có cụ Lê Thuyên
đỗ Tú tài (quen gọi là Tú Ba), ông Lê Văn Dụ làm đến Tham biện lục bộ Lêtrọng Nhã làm quan trong triều, sau khi mất được dân làng lập đền thờ gọi làđền Hậu Thiêm, hiện vẫn còn ở thôn Yên Khánh
Họ Bùi
Hiện có 37 chi họ, phân bố tại 17 xã, thị trấn giữa 37 chi họ ít có quan
hệ huyết thống với nhau, chỉ có một chi họ Bùi Quang ở Cẩm Duệ tục truyền
có nguồn gốc từ họ Bùi ở vùng xã Thạch Khê cũ (tức vùng Cẩm Huy, CẩmQuang ngày nay) Họ Bùi ở Cẩm Xuyên có nguồn gốc xa xưa nhất chưa quá
400 năm trước tức là khoảng 16 đời trở lại, nhiều chi họ có thể có từ 100
-150 năm mà thôi Đa số các chi họ Bùi ở Cẩm Xuyên là từ phía Bắc vào
Trang 32Họ Bùi Quang ở Gia Hội nay thuộc thị trấn Cẩm Xuyên Theo gia phảtruyền lại thì thủy tổ họ Bùi Quang là Bùi Quang Nghị từ Thiệu Châu, ThiệuHoá, Thanh Hóa vào định cư ở Gia Hội lấy bà Trương Thị Biệt ở Kẻ Xá.Ông có trong tay nghề đúc đồng tạc tượng, đã tạo cho chùa Gia Hội 3 photượng Phật và đúc cho chùa một chuông đồng cao 1,5m đường kính 0,45m.Tính đến nay họ Bùi Quang truyền được 16 đời, hiện có khoảng 3000 nhânkhẩu Thời nào họ Bùi Quang cũng có người đỗ đạt và thành đạt trong sựnghiệp và quan trường.
Trong họ Bùi ở Mỹ Duệ có Bùi Suyền đỗ Cử nhân khoa Mậu Thìnnăm Tự Đức thứ 21 (1868), Bùi Đạt đỗ Cử nhân khoa Kỷ Mão năm TựĐức thứ 22 (1879)
1.2 Sự phát triển của dòng họ Hà Huy từ thế kỷ XVI đến nay (2009)
Ở Trung Quốc họ Lý là một dòng họ lâu đời với viễn tổ là Lý Nhị (tứcLão Tử) đã có trên 2500 năm - Một dòng họ đã lập nên triều đại nhà Đườngnổi tiếng (Lý Uyên) và ngày nay hậu duệ họ Lý với các danh nhân như LýBằng (Trung Quốc), Lý Quang Diệu (Singapore), Lý Đăng Huy (Đài Loan)
Ở Việt Nam họ Nguyễn cũng là một dòng họ lâu đời cũng đã có trên
2500 năm, có nguồn gốc từ họ Hồng Bàng từ đời các vua Hùng Cũng nhưnhiều dòng họ khác, họ Nguyễn có nguồn gốc từ bản địa Việt Nam từ lâu đời
mà ngành khảo cổ Việt Nam đã dày công nghiên cứu chứng minh và thànhcông to lớn để khẳng định đồng thời đã phủ định lập luận của một số ngườicho rằng họ Nguyễn có nguồn gốc từ Phương Bắc Cuộc hội thảo ngày 20tháng 8 năm 1998 tại Hà Nội, 52 dòng họ Nguyễn một lần nữa khẳng địnhđiều đó
1.2.1 Nguồn gốc dòng họ
Theo các gia phả họ Hà ở Hà Tĩnh thì họ Hà ở Hà Tĩnh có nguồn gốcchung Căn cứ vào các gia phả thì họ Hà ở Hà Tĩnh có từ thời Trần, cư trú tại
Trang 33huyện Cẩm Xuyên, sang thời thuộc Minh thì dời về xã Tĩnh Thạch, Thiên Lộc(nay là xã Tùng Lộc, huyện Can Lộc) Thủy tổ tên húy là Hà Công Mại (1306
- 1405), vì có công trong việc xây dựng và bảo vệ nhà Trần, nên được vuaTrần sắc phong “khai quốc công thần đời đời thừa ấm” [18, 406] Thủy tổ chinhánh Hào Mại ở xã Cẩm Tiết, tổng Thạch Hà nay là thôn Phủ Hào, xã TrungTiết, huyện Thạch Hà Húy là Hà Tôn Hiếu, thụ tước Phụ Trần quốc, kiêm đibắc sứ Trung quốc Húy là Hà Công Huy Đỗ, nhà giàu có nhưng sau gặp cơnbinh lửa về ở chùa An Lạc, núi Hồng Lĩnh, xã Thiên Lộc, huyện Can Lộc sinhcon trưởng là Hà Công Nho Về đời nhà Lê, con thứ là Hà Công Tôn Trìnhlúc thiếu thời có tiếng là hiếu học, đức hạnh là người có chí lớn trong thiên
hạ Đời Quang Thuận thứ 7 (1467) đậu Nhị giáp Tiến sĩ khoa Bính Tuất lúc
đó 37 tuổi Bổ làm Tri huyện huyện Tứ Kỳ, rồi thăng chức Tri phủ phủ TriệuPhong, rồi lại được cân nhắc lên làm tham chánh việc dân Sau đó được thăngQuốc tử giám tế tửu, làm Thái thượng tự khanh Trong triều thấy ông phu thêsong toàn nên khiến phò vua khi lên điện, sau đó được cất lên làm Thượngthư Bộ Hình, Bộ Binh
Đời thứ 7, dòng họ Hà ở Tỉnh Thạch đã xảy ra một sự cố đáng ghi nhớ,
đó là “nhân một ngày trong nhà có kỵ giỗ, mời dân xã đến uống rượu, chèchén, trong bếp khi ấy có nấu một nồi cháo lớn đã vô ý dùng gạo có lẫn hạt
“đại phong tử” do chim nhả vào, lại có người cho rằng do người nấu bếp bỏthuốc độc, không biết việc nào đúng hơn chỉ biết rằng sau khi ăn cháo thì dânlàng bị ngộ độc và chết 2 người” [14, 5] Quan huyện sai người đến bắt, vì vậy
có 3 người con trai bỏ trốn
- Một người chạy ra Thanh Hóa, sau đó có người dời về Cát Đông,huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông làm thành dòng họ Hà Tông Quyền đỗ Tiến
sĩ năm Minh Mạng thứ 3
Trang 34- Một người chạy về xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân tức là nhánh củaGiám sinh Hà Tôn Doanh, nay là ông Hà Văn Gia.
- Người con thứ ba chạy về Kim Nặc, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh làmthành dòng họ Hà Huy Cẩm Xuyên
Như vậy vào đời thứ 7 của dòng họ Hà ở Tỉnh Thạch huyện Thiên Lộc(nay là xã Tùng Lộc, huyện Can Lộc) có một chi chuyển về làng Kim Nặc,Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh Đối chiếu với phả cũ ghi là Hà Văn, đến đời cụ Hầuhúy là Sào tức đời thứ 8 của dòng họ Hà ở Kim Nặc, Cẩm Xuyên là Hà Tôn.Như vậy, họ Hà có lúc lấy chữ lót là Tông, lúc là Tôn, lúc là Văn Nhưng thời
đó Chúa Trịnh tên là Tông cho nên dòng họ mới đổi thành Hà Huy để tránhnạn trùng húy nhà Chúa Trịnh Như vậy bắt đầu từ đời thứ 8 họ Hà ở CẩmHưng mới chính thức là Hà Huy
1.2.2 Sự phát triển của dòng họ Hà Huy từ thế kỷ XVI đến nay (2009)
Từ khi chuyển đến làng Kim Nặc, xã Cẩm Hưng, huyện Cẩm Xuyênđến nay, dòng họ Hà Huy đã trải qua 400 năm tồn tại và phát triển khôngngừng, ngày càng phồn vinh thịnh vượng Dòng họ Hà Huy ở Cẩm Hưng,Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh đã lan tỏa đến nhiều huyện trên đất Hà Tĩnh trong đólớn nhất là ở huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh Dòng họ Hà Huy ở đây có nhiềungười học giỏi, đỗ đạt cao, chức vụ lớn, tiêu biểu như Hà Huy Giáp nguyên lànhà giáo, tham gia hoạt động cách mạng sớm, được bầu vào Ban chấp hànhTrung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Giáo sư Hà Huy Khôi là Viện trưởngViện dinh dưỡng, Đại tá Hà Huy Tính và nhiều Giáo sư, bác sĩ khác
Đến đời thứ 15 dòng họ Hà Huy có sự lan tỏa đi nhiều tỉnh khác và có
cả ở nước ngoài Một chi ở phía Nam nước ta là chi của Hà Huy Quảng, mộtchi ở Hà Nội là chi Hà Huy Tiến và một chi ở Canađa, một chi ở Ôxtrâylia
Theo cuốn gia phả của dòng họ Hà Huy ở Cẩm Hưng, Cẩm Xuyên, HàTĩnh từ thế kỷ XVI đến nay (2009) dòng họ trải qua 15 đời như sau:
Trang 35Đời 1: Tổ khảo và Tổ tỷ (Phả cũ gọi là Cao tổ) tên húy là gì, làm gì, ở
đâu, ngày kị không biết rõ
Đời 2: Tổ khảo và Tổ tỷ cũng không cho biết tên húy là gì, làm gì, ở
đâu và cũng không biết ngày kị
Đời 3: Tổ khảo tên là Hà Văn Nhất.
Đời 4: Tổ khảo là Minh, Tổ tỷ là Đặng thị Tổ khảo kị ngày 5/11, Tổ tỉ
Đời 7: Húy là Mưu, con thứ của tổ đời thứ 6, bản tính hào hung, giỏi
văn chương, đậu Hiệu sinh, làm xã chính xã nhà Sức khỏe dồi dào, hàng tổngkhông ai không sợ Tổ tỷ là Vũ Thị Duyên Sinh được 4 trai, 2 gái
Đời 8:
Đời cụ Hầu, Hiển tổ khảo húy là Sào, từ đời thứ 8 này dòng họ Hà ởCẩm Hưng, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh mới chính thức sang Hà Huy Cụ Hà HuySào là cương dũng, khỏe mạnh, tính tình cứng cỏi, cương nghị, thẳng thắn,đứng ngồi nghiêm nghị, lấy công minh giữ mình, lấy thẳng thắn đãi người, lờinói ấm mà đanh thép, hay giúp người, ai cũng kính nể 20 tuổi thì đậu Tamtrường, được bổ làm Hiệu sinh tại phủ nhà, sau làm Tri huyện huyện BìnhDương sau đổi thành phủ Trường Khánh Làm Tri phủ xứ Lương Sơn, Thừachính sứ ty, tước phong là Hòa phương hầu Ông lấy vợ người làng Khả Luật,gần quê nhà tên là Đỗ Thị Nghiêm, con trai ông học giỏi và thành danh
Anh của Hà Huy Sào là Hà Huy Quán có học, tính tình cương nghị,làm quan chức Phó Sở, nhà giàu, lấy vợ là Lê Thị Đỗ, sinh được một con gái
là Hà Thị Thắm
Trang 36Đời 9: Thường gọi là đời Cụ Lang.
Hiển khảo húy là Phúc (Hà Huy Phúc) Tính tình cương nghị, phúchậu, thật thà, biết lẽ tới lui, luôn giữ mình làm cung, đãi người lấy thành.Thiếu thời làm Huyện thừa huyện Trung Sơn Năm 30 tuổi trúng Tamtrường Lấy vợ là Nguyễn Thị Tình, người thôn Vân Đồn Có hai người con
là Lộc và Đắc
Anh của Hà Huy Phúc là Hà Huy Đôn Tính tình thẳng thắn, rắn rỏi,hoạt bát, cần mẫn, thuở thiếu thời giữ chức Huyện thừa, lấy vợ là Nguyễn ThịHiệp sinh được 2 con trai là Hà Huy Khuê và Hà Huy Kỳ
Em trai là Hà Huy Chu, tư chất thông minh, biết mình biết người Tuổitrẻ làm Huyện thừa, nhà giàu có, về sau làm Cai tổng có tiếng là cần mẫn, giỏigiang Vợ là Đặng Thị Hoảng sinh được 5 con trai
Chị gái của Hà Huy Phúc là Hà Thị Bạng, Hà Thị Vinh Em gái là HàThị Lục
Đời 10:
Là cụ Hà Huy Đán, sinh năm Nhâm Thìn (1772) đời vua Lê CảnhHưng năm thứ 33, hiệu là Ngọa Đình Là người thông minh, ham học 18 tuổihọc với thầy Nguyễn Quý Công - nguyên là Tri phủ Uông Độ và là rể của Cao
tổ Ông học hành ngày càng tiến bộ và rất kính trọng thầy học của mình Gặpthời loạn lạc (khởi nghĩa Tây Sơn) cho nên ông không đi làm quan mà ở nhànằm đọc sách ngày đêm dùi mài kinh sử và cho rằng đó là thượng sách Năm
33 tuổi (Gia Long năm thứ 2) Quý Hợi sinh con trai trưởng tên là Hà HuyTrực Năm 40 (Tân Vị 1811) sinh con thứ hai là Hà Huy Phẩm (Ông nội của
Hà Huy Tập) Năm 43 tuổi sinh con thứ 3 là Hà Huy Phi
Em của Hà Huy Đán là Hà Huy Lục lấy vợ người tổng nhà, thôn Thuận
Lễ, người họ Cao Làm chức Cựu thiên sự, thuở nhỏ đi học với Hà Huy Đán,
Trang 37tuổi già dạy học trò và làm thuốc cứu người Ông thọ 60 tuổi Ông có 3 con:Con trưởng là Hà Huy Sỹ, thứ là Hà Huy Giám, con út là Hà Thị Thang.
Hà Huy Đán còn có em là Hà Huy Đắc, lấy vợ người xã, họ Nguyễn.Thuở nhỏ theo Hà Huy Đán đi học, tuổi già đi dạy học trò Ông thọ 60 tuổi
Em gái út là Hà Thị Sự lấy chồng cùng thôn là Hà Đăng Tĩnh, không cócon và thọ 50 tuổi
Đời 11: Thường gọi là đời Cụ Hương.
Hiển tăng tổ khảo húy là Trực (Hà Huy Trực) lấy vợ là Nguyễn ThịHuân Sinh 3 con trai là Hà Huy Bằng, Hà Huy Hách và Hà Huy Đốc và haicon gái là Hà Thị Phú lấy chồng là giám sinh Nguyễn Trinh sinh được 6 contrai và 3 con gái Con gái thứ hai là Huệ lấy chồng thôn Lai Trung làm Chánhtổng là Phan Xuân Hiệu
Em của Hà Huy Trực là Hà Huy Phẩm đỗ Cử nhân làm Đốc học ởQuảng Bình
Em khác mẹ là Hà Huy Nhiếp, đỗ Cử nhân làm Tri phủ Nghĩa Hưng
Đời 12:
Gọi là đời cụ Huyện Cả là Hà Huy Bằng Sinh năm Minh Mạng thứ 12(1834) Giáp Ngọ Từ nhỏ đi theo Hà Huy Phẩm là Đốc học đại nhân để họchành Năm Ất Mão (1855) thi khoa mùa thu không đỗ Lấy vợ chính là PhanThị Hoan, vợ lẽ là Nguyễn Thị Thịnh Đến năm Quý Dậu (1872) thi đỗ Tú tàilúc 40 tuổi Sinh con trưởng là Hà Huy Song tức là cụ Hòe Năm 42 tuổi(1875) sinh con gái lớn là Bạt, gả chồng về Hậu Cồn Năm 43 tuổi dự khoa thimùa thu, có trình văn kêu oan nên có thi Đình một khóa Năm 44 tuổi sinhcon gái thứ là Tương Năm 50 tuổi sinh con là Quất, lấy chồng xã Án Đỗ, KỳAnh là Tú tài Nguyễn Trinh Dung Năm 51 tuổi, có ân khoa, thi đỗ Tú tài
Trang 38Em của Hà Huy Bằng là Hà Huy Hách, thường gọi là Cố Bang ở nhánh
cố Sinh năm Tự Đức thứ 20 Đinh Mão đậu Tú tài, được bổ làm Mục huyệnHàng Liêu Sinh được 4 con trai và 4 con gái
Hà Huy Bằng còn có em là Hà Huy Đốc (tức quan Cử) sau đổi là Ban.Sinh năm Tân Sửu (1841) Năm Tự Đức thứ 23 ngài đỗ Tư tài, sung chứcBang tá huyện nhà Về kinh được bổ dụng Dực thân phủ kiếm phong NămGiáp Ngọ (1894) và Bính Dần (1817) thi tại trường Thừa Thiên Huế lại đỗ Tútài Năm Quý Mão (1908) đỗ Cử nhân Sinh con trai đầu lòng là Hà HuyPhan, con trai thứ là Hà Huy Dư làm giáo thụ, hàm cửu phẩm, thường đượcgọi là Cố Cửu giáo
Đời 13:
Là đời cụ Hà Huy Song (Cụ Hòe) Cụ sinh năm 1873, mất 11/1920, thọ
47 tuổi Vợ là bà Hoàng Thị Dung, con gái nhà bá hộ Hoàng Loan ở HậuCôn Bà là người hiền lành, đức độ Ông có 5 người con: 3 trai là Hà HuyLiêm, Hà Huy Đạm, Hà Huy Trạm, 2 con gái là Hà Thị Hưu và Hà Thị Tửu
Đời 14:
Là đời Hà Huy Liêm, sinh năm 1899 Cha mất lúc ông 20 tuổi, được
mẹ tần tảo nuôi ăn học, ông đỗ bằng Thành chung sau đó được bổ làm trợgiáo dạy học tại trường huyện Thanh Chương, Nghệ An Về cuối đời bị bệnhcao huyết áp và nhũn não rồi mất vào năm 1963 Ông lấy vợ là Nguyễn ThịChức, con út một nhà phú hộ, là một gia đình được nhân dân trong vùng trọngvọng Bà Chức sinh 15 lần nhưng nuôi được 9 là: Hà Huy Quảng, Hà HuyTiến, Hà Huy Thao, Hà Thị Nhung, Hà Huy Khiết, Hà Huy Phiến, Hà ThịNga, Hà Huy Vĩnh và Hà Huy Kinh
Em Hà Huy Liêm là Hà Thị Cựu, thường gọi là O Thừa Ngạc vì lấychồng là Nguyễn Cao Ngạc ở Phật Não, Thạch Hà, Hà Tĩnh Thời Pháp thuộclàm Thừa phái ở Hà Tĩnh, sau đổi vào Quảng Ngãi, có con gái là Nguyễn Thị
Trang 39Đường Con trai thứ là Nguyễn Cao Thân là bác sĩ Chánh văn phòng Bộ Y
Tế Sau sinh thêm 3 người con nữa là: Nguyễn Thị Nghĩa, Nguyễn Cao Điềm
và Nguyễn Cao Phùng
Hà Huy Đạm, thường gọi là chú Phán Đạm, trước cách mạng làmThông phán ở tòa Thống sứ Bắc kỳ, bị bệnh mất năm 1940 Lấy vợ là NguyễnThị Khuê quê quán ở Kỳ Anh, Hà Tĩnh bị bệnh mất năm 1944 Có 4 con đãthành đạt: con trưởng là Hà Huy Tâm, công tác ở Bộ Ngoại giao; Hà ThịTuyết; Hà Thị Hồng; Hà Huy Nguyên
Ngoài ra, Hà Huy Liêm còn có 2 em là Hà Thị Tửu và Hà Huy Trạm,thời Pháp thuộc làm thừa phái lục sư, sau cách mạng về công tác tại huyệnnhà và thàm thư ký văn phòng
Đời 15:
Đời thứ 15 gồm có Hà Huy Quảng, Hà Huy Tiến, Hà Huy Thao, HàThị Huy Nhung, Hà Huy Khiết, Hà Huy Phiến, Hà Thị Huy Nga, Hà HuyVĩnh, Hà Huy Kinh, Hà Huy Lăng
Hà Huy Quảng sinh năm 1920, học hết bậc thành chung rồi ở quê lậpgia đình Trước cách mạng tháng 8 có tham gia phong trào Việt Minh và sau
đó làm công tác Mặt trận Liên Việt ở Tỉnh Hà Tĩnh Ông có 2 người con trai
là Hà Huy Kỳ, Hà Huy Việt và 3 người con gái là Hà Thị Vân, Hà Thị Cẩm,
Hà Thị Xuyên
Hà Huy Tiến sinh năm 1923, học trung học ở Quy Nhơn, sau đó học ở
Hà Nội đỗ Tú tài toàn phần Trong kháng chiến chống Pháp đi bộ đội Năm
1952 chuyển sang học Đại học y khoa, năm 1958 tốt nghiệp bác sỹ và sau đóông đi tu nghiệp ở Tiệp Khắc Sau khi về ông làm chủ nhiệm khoa ở bệnhviện mắt Trung ương, kiêm giảng dạy sau Đại học Năm 1983 được phongPhó Giáo sư, năm 1990 được phong Giáo sư và thầy thuốc ưu tú Ông có 3người con: Con gái đầu là Hà Minh Thuyết làm bác sĩ, con gái thứ 2 là Hà
Trang 40Phương Trinh làm biên tập ở Thông tấn xã Việt Nam, con trai út là Hà HuyTài làm bác sĩ.
Hà Huy Thao (1924 1953), đỗ Tú tài, có đầu óc kinh doanh, năng nổ,thông minh nhưng cuộc đời không thành đạt do mất năm 30 tuổi
Hà Huy Phiến sinh năm 1932, học trường trung học Quy Nhơn, đỗ sưphạm đệ nhất cập của Việt Nam dân chủ cộng hòa, đỗ Tú tài I, II, Cử nhânHọc viện hành chính, Cử nhân văn chương, Thạc sĩ kinh tế tài chính, làmcông chức cộng hòa Việt Nam và giảng sư tại Viện Tu nghiệp quốc gia vàHọc viện hành chính, năm 1984 được cử sang Canađa và giảng dạy Đại họctại đây Ông có 5 người con là: Hà Huy Bội Trà, Hà Huy Thái Dũng, Hà HuyBội Tiên, Hà Huy Thái Tuấn, Hà Huy Thái Nhận
Hà Huy Vĩnh sinh năm 1945 ở Quy Nhơn Đỗ Tú tài ở Sài Gòn, sau đóxuất ngoại sang Canađa (1965), học tiếp và đỗ kỹ sư hóa học (1970) tạitrường Đại học Ottawa Hiện đang làm quản lý tại trường Đại học Me gill Vợ
là Trịnh Thị Tường Vi làm việc tại Bộ công chánh Hai vợ chồng ông có 3người trai là: Hà Huy Brian Bách (1977), Hà Huy Michel Đan (1978), HàHuy Philippe Bình (1986) Cả gia đình hiện đang cư trú tại Canađa
Hà Huy Kinh sinh năm 1946, đỗ Tú tài ở Sài Gòn, được học bổng duhọc tại Canađa từ năm 1964 Học cao học, rồi nghiên cứu sinh ngành kiếntrúc, thiết kế Hiện nay là Giáo sư giảng dạy Đại học kiêm Phó Viện trưởngphân khoa Kiến trúc xây dựng trường Đại học Concordia ở Montreal Vợ làĐào Tuyết Trinh là Thạc sĩ thương mại tài chính Vợ chồng ông có con gáiđầu lòng là Hà Huy Y Băng và con trai là Hà Huy Luân David Cả gia đìnhông hiện đang sống tại Montreal, Canađa