Tại Hội nghị Giơnevơ năm 1954 về Đông Dơng, các nớc lớn đã có vai trò quyết định trong việc triệu tập Hội nghị,quyết định khuôn khổ đàm phán với những nội dung cơ bản của bản Hiệp định.V
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh
Trang 2Mục lục
Trang
Mở đầu 1 1
Lí do chọn đề tài 1 2 Lịch sử
nghiên cứu vấn đề 3
3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu 6
4 Nguồn tài liệu của luận văn 7
5 Phơng pháp nghiên cứu 8
6 Đóng góp của luận văn 8
7 Bố cục của luận văn 9
Chơng 1: Khái quát về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội – của ngời Thái ở Thái Lan 10
1.1 Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên 10
1.2 Ngời Thái ở Thái Lan: Thành phần, tên gọi và sự phân bố 18
1.3 Khái quát về tình hình kinh tế xã hội của ngời Thái 24
1.2.1 Kinh tế 24
1.2.2 Xã hội 32
Chơng 2 : Một số nét Văn hóa truyền thống của ngời Thái
ở Thái Lan 36
2.1 Đời sống kinh tế - văn hóa vật chất 36
2.1 1 Nghề nông 36
2.1 2 Nghề thủ công và trao đổi hàng hoá 42
2.1.3 ăn uống 46
2.1.4 Nhà cửa 52
2.1.5 Trang phục 56
2.2 Văn hóa xã hội 59
2.2.1 Gia đình và dòng họ 59
2.2.2 Bản mờng truyền thống 61
Trang 32.3 Văn hóa tinh thần 65
2.3.1 Tôn giáo tín ngỡng 65
2.3.2 Một số phong tục tập quán trong đời sống 69
2.3.3 Một số lế hội truyền thống chủ yếu 73
Chơng 3: Sự tơng đồng và khác biệt về văn hóa giữa ngời Thái ở Thái Lan và ngời Thái ở Việt Nam 79
3.1 Giới thiệu khái quát về của ngời Thái ở Việt Nam 79
3.1.1 Dân số, tên gọi, địa bàn c trú 79
3.1.2 Một số đặc điểm về văn hóa truyền thống 83
3.2 Sự tơng đồng và khác biệt về một số nét văn hóa giữa ngời Thái ở Thái Lan và ngời Thái ở Việt Nam 92
3.2.1 Vài nét về nguồn gốc và tên tự gọi của ngời Thái 92
3.2.2 Tơng đồng và khác biệt về ngôn ngữ và chữ viết 100 3.2.3 Tơng đồng và khác biệt về hôn nhân và gia đình 107
3.2.4 Tơng đồng và khác biệt về thiết chế bản, mờng 112
3.3 Một vài nhận xét về sự tơng đồng và khác biệt về văn hóa giữa ngời Thái ở Thái Lan và ngời Thái ở Việt Nam 121
* Kết luận 124
* Tài liệu tham khảo 129
* Danh mục công trình của tác giả
* Phụ lục
Trang 4Danh môc c«ng tr×nh cña t¸c gi¶
Lôc ThÞ Liªn - Vi V¨n An (2006), Gãp thªm t liÖu vÒ lÞch sö vµ mèi quan
hÖ nguån gèc cña ngêi Th¸i ë hai níc ViÖt - Lµo T¹p chÝ Nghiªn cøu §«ng Nam
3 §èi tîng vµ ph¹m vi nghiªn cøu 6 4.Nguån tµi liÖu cña luËn v¨n 7
Trang 55 Phơng pháp nghiên cứu 8
6 Đóng góp của luận văn 8
7 Bố cục của luận văn 9
Chơng 1: Khái quát về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội – của ngời Thái ở Thái Lan 10
1.1 Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên 10
1.2 Ngời Thái ở Thái Lan: Thành phần, tên gọi và sự phân bố 18
1.3 Khái quát về tình hình kinh tế xã hội của ngời Thái 24
1.2.1 Kinh tế 24
1.2.2 Xã hội 32
Chơng 2 : Một số nét Văn hóa truyền thống của ngời Thái
ở Thái Lan 36
2.1 Đời sống kinh tế - văn hóa vật chất 36
2.1 1 Nghề nông 36
2.1 2 Nghề thủ công và trao đổi hàng hoá 42
2.1.3 ăn uống 46
2.1.4 Nhà cửa 52
2.1.5 Trang phục 56
2.2 Văn hóa xã hội 59
2.2.1 Gia đình và dòng họ 59
2.2.2 Bản mờng truyền thống 61
2.3 Văn hóa tinh thần 65
2.3.1 Tôn giáo tín ngỡng 65
2.3.2 Một số phong tục tập quán trong đời sống 69
2.3.3 Một số lế hội truyền thống chủ yếu 73
Chơng 3: Sự tơng đồng và khác biệt về văn hóa giữa ngời Thái ở Thái Lan và ngời Thái ở Việt Nam 79
3.1 Giới thiệu khái quát về của ngời Thái ở Việt Nam 79
3.1.1 Dân số, tên gọi, địa bàn c trú 79
Trang 63.1.2 Một số đặc điểm về văn hóa truyền thống 83
3.2 Sự tơng đồng và khác biệt về một số nét văn hóa giữa ngời Thái
ở Thái Lan và ngời Thái ở Việt Nam 92
3.2.1 Vài nét về nguồn gốc và tên tự gọi của ngời Thái 923.2.2 Tơng đồng và khác biệt về ngôn ngữ và chữ viết 100 3.2.3 Tơng
đồng và khác biệt về hôn nhân và gia đình 107
3.2.4 Tơng đồng và khác biệt về thiết chế bản, mờng 112
3.3 Một vài nhận xét về sự tơng đồng và khác biệt về văn hóa giữa
ngời Thái ở Thái Lan và ngời Thái ở Việt Nam 121
* Kết luận 124
* Tài liệu tham khảo 129
* Danh mục công trình của tác giả
nó còn thể hiện ra bên ngoài bằng hai cuộc chiến tranh nóng ở khu vực châu á làcuộc Chiến tranh Triều Tiên (1950 - 1953) và cuộc Chiến tranh Đông Dơng (1945
- 1954) Bên cạnh đó, xu thế hoà hoãn trên thế giới cũng bắt đầu xuất hiện khiHiệp định đình chiến ở Triều Tiên đợc kí kết vào ngày 27 tháng 7 năm 1953 ở BànMôn Điếm trên cơ sở giữ nguyên hiện trạng hai miền của Triều Tiên Tiếp đó, năm
1954 bắt đầu bằng sự kiện ngày 25 tháng 1 năm 1954, Hội nghị Tứ cờng tại Béclin
đợc khai mạc với sự tham gia của các Ngoại trởng: Môlôtốp (Liên Xô), Đalét(Mỹ), Iđơn (Anh), và Biđôn (Pháp) Đây đợc xem là bớc khởi đầu cần thiết cho quá
Trang 7trình đối thoại giữa các bên Do sự đấu tranh kiên trì của Liên Xô và thái độ thực tếcủa Anh – Pháp đã dẫn đến kết quả tích cực duy nhất của Hội nghị liên quan đếnmặt trận châu á là quyết định triệu tập Hội nghị Giơnevơ vào ngày 26 tháng 4 năm
1954 có sự tham gia của Trung Quốc nhằm đa ra giải pháp hoà bình cho vấn đềTriều Tiên và Đông Dơng
ở Đông Dơng, cuộc kháng chiến của nhân dân ba nớc Đông Dơng ngàycàng giành đợc nhiều thắng lợi quan trọng Chiến cuộc Đông – Xuân mà đỉnh cao
là chiến dịch Điện Biên Phủ ở Việt Nam đã đánh gục hoàn toàn ý chí xâm lợc củathực dân Pháp, buộc các thế lực hiếu chiến Pháp và các nớc đồng minh của Phápphải ngồi vào bàn thơng lợng - điều mà trớc đây Pháp luôn bác bỏ - để tìm kiếmmột giải pháp hoà bình cho cuộc chiến tranh Đông Dơng Hội nghị Giơnevơ đợctriệu tập trong khuôn khổ quan hệ giữa các nớc lớn, nó
nằm ngoài cơ chế của Liên Hợp Quốc và đợc đặt trong khung cảnh Chiến tranhlạnh diễn ra trên toàn cầu giữa hai phe, hai cực
Trong bối cảnh đó, lập trờng quan điểm của các nớc lớn có vai trò, vị trí và
ảnh hởng rất lớn tới quá trình triệu tập Hội nghị, xác định khuôn khổ cuộc đàmphán cũng nh có ảnh hởng quyết định đến kết quả của Hội nghị Giơnevơ
Chúng ta biết rằng, trong lịch sử cũng nh hiện tại các nớc lớn luôn có ảnhhởng to lớn tới quá trình vận động và phát triển của lịch sử nói chung và quan hệquốc tế nói riêng, là yếu tố không thể bỏ qua trong qúa trình hoạch định và triểnkhai đờng lối đối ngoại của các quốc gia Tại Hội nghị Giơnevơ năm 1954 về
Đông Dơng, các nớc lớn đã có vai trò quyết định trong việc triệu tập Hội nghị,quyết định khuôn khổ đàm phán với những nội dung cơ bản của bản Hiệp định.Việc các nớc lớn tham gia vào quá trình giải quyết cuộc Chiến tranh Đông Dơng
đã để lại cho Việt Nam ngày nay nhiều bài học quý giá
Do đó, việc nghiên cứu lập trờng quan điểm của các nớc lớn và ảnh hởngcủa các lập trờng quan điểm đó đến Hội nghị Giơnevơ năm 1954 về vấn đề ĐôngDơng có giá trị thực tiễn to lớn trong bối cảnh Việt Nam đang ngày càng tham gia
Trang 8nhiều vào các diễn đàn đa phơng để bàn và giải quyết các vấn đề lớn trên thế giới,khu vực cũng nh những vấn đề liên quan trực tiếp đến đất nớc.
Với tính cấp thiết và ý nghĩa nh vậy, chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Lập ờng quan điểm của một số nớc lớn trong việc giải quyết cuộc Chiến tranh Đông Dơng tại Hội nghị Giơnevơ năm 1954“ để nghiên cứu
tr-2 Lịch sử vấn đề.
Có thể thấy rằng, từ trớc đến nay đã có nhiều sách báo trong và ngoài nớcviết về Hội nghị Giơnevơ, tuy nhiên cha có một công trình chuyên khảo nào đề cậpmột cách đầy đủ về quan điểm của các nớc lớn tại Hội nghị Giơnevơ về vấn đề
Đông Dơng Tất cả những công trình đó chỉ mới dừng lại ở việc giới thiệu, haytrình bày lại diễn biến của Hội nghị; hoặc là cung cấp những thông tin cần thiết cóliên quan Trong số các công trình đó, thời gian qua chúng tôi đã đợc tiếp xúc vớimột số tài liệu sau:
Cuốn sách “Trung Quốc với việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dơnglần thứ nhất” của tác giả Francois Joyaux (NXB Thông tin lý luận, Hà Nội 1981)
Đây là cuốn sách nghiên cứu khá kỹ về Hội nghị Giơnevơ, có thể nói là nguồn tàiliệu quý bởi tác giả trong quá trình nghiên cứu đã tham khảo nhiều công trìnhnghiên cứu, nhiều hồi ký của các nhân vật quan trọng, đồng thời tác giả còn đọcnhiều báo chí của các nớc tham gia Hội nghị để đa ra những trích dẫn có tính chínhxác cao
Cuốn “Pháp tái chiếm Đông Dơng và Chiến tranh lạnh” của tác giả Lu VănLợi và Nguyễn Hồng Thạch (NXB Công an nhân dân, 2002) Đây là cuốn sách đợctrình bày khá lôgic, lý luận chặt chẽ về cuộc Chiến tranh Đông Dơng lần thứ nhất
Đặc biệt, trong phần cuối cuốn sách, tác giả cho thấy rõ ảnh hởng sâu sắc củaChiến tranh lạnh đối với châu á, và Việt Nam trong những toan tính của các nớclớn
Cuốn “Nớc Mỹ và Đông Dơng từ Rudơven đến Nichxơn” của tác giả Peter
A Poole (Th viện quân đội dịch, 1986), là cuốn sách trình bày khá đầy đủ về
Trang 9những chính sách của sáu đời Tổng thống Mỹ đối với Đông Dơng kể từ sau Chiếntranh thế giới thứ hai Đặc biệt, trong chơng ba của cuốn sách, tác giả đã đề cập
đến một số khía cạnh của Hội nghị Giơnevơ mặc dù chỉ mới ở góc độ khái quát lạidiễn biến của Hội nghị mà thôi Tuy nhiên, khi tham, khảo tài liệu này, chúng tôicũng có thể phần nào tiếp cận tới các chính sách của Mỹ đối với Đông Dơng xungquanh bàn Hội nghị Giơnevơ
Tập “Hồ sơ về Hội nghị Giơnevơ” (tài liệu lu tại Viện Thông tấn xã), là tậptài liệu lu giữ những bài phát biểu của các đoàn tham dự Hội nghị Giơnevơ cùngnhững văn bản đợc ký kết tại Hội nghị Đây là tập tài liệu hết sức quý giá đối vớichúng tôi trong qua trình hoàn thành đề tài này Thông qua những bài phát biểucủa các đoàn chúng tôi có thể phân tích đợc khá rõ về quan điểm của các nớc thamgia Hội nghị Giơnevơ
Cuốn “Cuộc đấu tranh của ấn Độ cho độc lập và tự do của các dân tộc
Đông Dơng” của tác giả G Giaxov (PGS.TS Nguyễn Công Khanh dịch) cũng làmột cuốn sách quan trọng giúp chúng tôi tìm hiểu và phân tích quan điểm của ấn
Độ đối với Hội nghị Giơnevơ về vấn đề Đông Dơng
Bên cạnh đó, trên các tạp chí đã có một số bài của nhiều tác giả nghiên cứunhững nội dung khác nhau có liên quan tới Hội nghị Giơnevơ và quan điểm củacác nớc lớn tại Hội nghị Giơnevơ về Đông Dơng: tác giả Vũ Quang Hiển với bàiviết “Hội nghị Giơnevơ 1954 – 50 năm nhìn lại” (Tạp chí Lịch sử Đảng, Số 7,2004); “Hội nghị Giơnevơ giữa các ngoại trởng các nớc đã kết thúc” (Tạp chí Lịch
sử Đảng, số 7, 2004); tác giả Nguyễn Viết Thảo: “Bài học từ Hội nghị Giơnevơ về
xử lý linh hoạt quan hệ với các nớc lớn” (Tạp chí Lịch sử Đảng, số 7, 2004);Nguyễn Dy Niên: “Hội nghị và Hiệp định Giơnevơ 1954 – Bớc trởng thành củanền ngoại giao Việt Nam” (Tạp chí Cộng sản, số 14, 2004); Trịnh Thị Định: “Âm
mu can thiệp quân sự của Mỹ vào Đông Dơng” (Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 6,2005); Kiên Cờng: “Sự phản bội của những ngời lãnh đạoTrung Quốc tại Hội nghịGiơnevơ về Đông Dơng” (Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 2, 1980)…
Trang 10Ngoài ra, các bài viết của Hồ Chí Minh đợc tập hợp trong: “Hồ Chí Minhtoàn tập ” (tập 4, 6, 7, 8, 11); “Văn kiện Đảng toàn tập” (Tập 14)… đã đa ra một số
t liệu và nhận xét hết sức khách quan và khoa học là cơ sở cho luận văn về mặt
ph-ơng pháp luận
Đặc biệt, những bài viết đợc tập hợp từ hai cuộc Hội thảo: Hội thảo khoahọc quốc tế 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ (1954-2004) Viện KHXH Nhânvăn – Hà Nội (27-28/4/2004); và Hội thảo khoa học quốc gia kỷ niệm 50 nămchiến thắng Điện Biên Phủ và công cuộc đổi mới, phát triển đất nớc (1954-2004).Viện KHXH Nhân văn và Tỉnh Uỷ, UBND tỉnh Điện Biên (7-8/3/2004), là nhữngtài liệu phục vụ quan trọng để chúng tôi hoàn thành luận văn
Trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của những ngời đi trớc, chúng tôi cốgắng tiếp tục đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện hơn, có hệ thống và khách quan
hơn về “Lập trờng quan điểm của một số nớc lớn trong việc giải quyết cuộc Chiến tranh Đông Dơng tại Hội nghị Giơnevơ năm 1954“.
3 Phơng pháp nghiên cứu
Luận văn dựa vào chủ nghĩa duy vật lịch sử , t tởng Hồ Chí Minh và quan
điểm, đờng lối của Đảng ta làm cơ sở phơng pháp luận cho việc nghiên cứu Trìnhbày sự kiện trung thực, xem xét sự vận động của lịch sử trong mối liên quan chặtchẽ với nhau, từ đó đa ra những nhận xét, đánh giá
Đây là một đề tài lịch sử nên nội dung đợc thể hiện theo trình tự thời gian
và trong một không gian cụ thể, sử dụng phơng pháp lịch sử, phơng pháp lôgíc,cùng các phơng pháp: hệ thống,so sánh, đối chiếu rồi phân tích, tổng hợp
4 Giới hạn, nhiệm vụ nghiên cứu và đóng góp của luận văn.
4.1 Giới hạn nghiên cứu
Nh tên đề tài đã chỉ rõ, đối tợng nghiên cứu của luận văn là: Lập trờng quan
điểm của một số nớc lớn trong việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dơng tại Hộinghị Giơnevơ năm 1954 Vì vậy, giới hạn nội dung của đề tài là tìm hiểu về quan
điểm của một số nớc lớn bao gồm: Anh, Mỹ, Pháp, Liên Xô, Trung Quốc và ấn
Trang 11Độ (dù ấn Độ không trực tiếp tham gia tại Hội nghị Giơnevơ nhng đã có những
đóng góp tích cực bên ngoài lề Hội nghị)
Về thời gian: Giới hạn thời gian của đề tài là từ khi Hội nghị Giơnevơ bàn
về vấn đề Đông Dơng đợc triệu tập đến ngày Hiệp định Giơnevơ đợc kí kết(8/5/1954 đến 21/7/1954) Tuy nhiên, để tìm hiểu về quá trình vận động của cácquan điểm đó, luận văn còn mở rộng tìm hiểu về bối cảnh lịch sử trớc khi diễn raHội nghị cũng nh những bài học đợc rút ra từ Hội nghị Giơnevơ đối với nớc ta saunày
4.2 Nhiệm vụ của luận văn.
Từ đối tợng và giới hạn trên, nhiệm vụ khoa học của luận văn là:
- Thứ nhất, làm rõ bối cảnh quốc tế và Đông Dơng dẫn tới việc triệu tậpHội nghị Giơnevơ
- Thứ hai, trình bày khái quát về diễn biến của Hội nghị Giơnevơ
- Thứ ba, làm rõ lập trờng quan điểm của một số nớc lớn tại Hội nghịGiơnevơ và ảnh hởng của nó đối với Hội nghị
- Thứ t, rút ra hệ quả (đối với Pháp và các nớc Đông Dơng mà chủ yếu là
đối với Việt Nam và những bài học kinh nghiệm mà Hội nghị Giơnevơ để lại
4.3 Đóng góp của luận văn.
Trên cơ sở tiếp thu, nghiên cứu những kết quả mà các nhà nghiên cứu đi trớc
đã làm, luận văn của chúng tôi đi vào tìm hiểu khái quát về bối cảnh quốc tế và
Đông Dơng dẫn tới việc triệu tập Hội nghị Giơnevơ và diễn biến của Hội nghị.Trên cơ sở những nội dung chủ yếu của Hội nghị Giơnevơ, luận văn sẽ tập trungvào phân tích, xử lý, hệ thống hoá các t liệu nhằm làm nổi bật lập trờng quan điểmcủa các nớc lớn tại Hội nghị Giơnevơ, qua đó thấy rõ hơn những tác động của cáclập trờng quan điểm đó đối với Hội nghị Giơnevơ
Từ việc phân tích, đánh giá lập trờng quan điểm của các nớc lớn tại Hội nghịGiơnevơ luận văn đã rút ra đợc bài học lịch sử trong việc xử lý linh hoạt mối quan
hệ với các nớc lớn
Trang 12Nội dung và t liệu của luận văn sẽ đóng góp vào tài liệu tham khảo phục vụcho công tác giảng dạy và học tập bộ môn lịch sử Việt Nam và lịch sử thế giớitrong thời kỳ hiện đại.
5 Bố cục của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3chơng:
Chơng1: Hoàn cảnh lịch sử và diễn biến của Hội nghị Giơnevơ
Chơng 2: Lập trờng quan điểm của một số nớc lớn tại Hội nghị Giơnevơ về vấn đề
Đông Dơng
Chơng 3: Hệ quả và bài học kinh nghiệm từ Hội nghị Giơnevơ
B phần Nội dung
Ch ơng 1 : hoàn cảnh lịch sử và diễn biến của Hội nghị Giơnevơ 1.1 Hoàn cảnh lịch sử
Đặc biệt, tháng 10 năm 1949, với sự thành lập nớc Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa
đã có ảnh hởng lớn đến tình hình thế giới, làm cho u thế của hệ thống chủ nghĩa xãhội trở nên nổi trội, một cục diện mới xuất hiện ở miền Đông á
Trang 13Khi đó, ở khu vực này diễn ra 3 cuộc xung đột: 1 Chiến tranh Đông Dơng
do thực dân Pháp tiến hành; 2 Đoạn kết của cuộc nội chiến Trung Quốc do giảiphóng quân tiến hành nhằm quyết sạch tàn quân Quốc dân đảng; 3 Cuộc chiếntranh mới bùng nổ trên bán đảo Triều Tiên giữa hai miền đất nớc
Cuộc chiến trên đại lục Trung Hoa tạm kết thúc khi quân giải phóng TrungQuốc đã dừng chân bên bờ biển phía Đông, để lại Hồng Kông trong tay Anh, MaCao trong tay Bồ và Đài Loan cho chính quyền bại trận họ Tởng
Đỉnh điểm của tình hình căng thẳng ở phơng Đông bộc lộ khi cuộc Chiếntranh Triều Tiên bị "quốc tế hoá", Mỹ nhảy vào chiến trờng dới danh nghĩa quân
đội Liên Hợp Quốc cùng 13 nớc Đồng minh cứu nguy cho Hàn Quốc Các đơn vịchí nguyện quân Trung Quốc trực tiếp tham chiến, viện trợ cho Triều Tiên Do vậy,cuộc chiến tranh đã vợt khỏi giới hạn nội bộ hai miền vì mục tiêu thống nhất đất n-
ớc mà bán đảo này đã bị biến thành bãi chiến trờng đọ sức trực tiếp giữa hai lực ợng Trung Quốc và Mỹ, đằng sau đó là sự ủng hộ của các nớc hai phe: Liên Xôcùng các nớc xã hội chủ nghĩa một bên và Anh, Pháp cùng các nớc t bản chủ nghĩamột bên Nơi đây trở thành điểm nóng của cuộc Chiến tranh lạnh giữa hai nửa của
l-"Trật tự Ialta" mà mỗi bên đều muốn giành phần thắng
Cùng với cuộc đấu tranh căng thẳng để giành giật lực lợng và khu vực ảnhhởng, trên thế giới lúc này đã xuất hiện chiều hớng hoà hoãn giữa hai phe, đặc biệtgiữa Xô - Mỹ Hai bên đã chấp thuận đình chiến ở Triều Tiên bằng Hiệp định đìnhchiến đợc ký kết ở Bàn Môn Điếm vào ngày 27/7/1953, trên cơ sở giữ nguyên hiệntrạng hai miền của Triều Tiên lấy vĩ tuyến 380 Bắc làm ranh giới
Sau khi đạt đến Hiệp định đình chiến ở Triều Tiên, Liên Xô và Trung Quốc
đều muốn thúc đẩy hoà hoãn hai phe Giảm căng thẳng ở châu á là yêu cầu trớcmắt có thể đạt đợc
Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô lần thứ XIX năm 1952 nêu khẩu hiệu: "đấutranh cho hoà bình, chống chiến tranh" là nhiệm vụ hàng đầu của phong trào cộngsản và công nhân, của phe xã hội chủ nghĩa và của nhân dân các dân tộc trên toànthế giới
Trang 14Sau khi Stalin qua đời, ban lãnh đạo mới của Liên Xô đã nhấn mạnh hơn nữa
đến mặt hoà hoãn, coi đấu tranh cho hoà bình là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, từ
đó đa ra đờng lối "quá độ hoà bình", "thi đua hoà bình" nhằm đuổi kịp và vợt Mỹ
về số lợng tổng thu nhập quốc dân tính theo đầu ngời, chủ trơng giải quyết các mốixung đột bằng thơng lợng hoà bình, lo sợ "đốm lửa thiêu rừng" sẽ làm trở ngại chohoà hoãn giữa hai phe và hai cờng quốc Xô - Mỹ
Trung Quốc sau Chiến tranh Triều Tiên cũng gặp rất nhiều khó khăn, vì thếcác nhà lãnh đạo Trung Quốc phải quan tâm đến việc tạo nên một môi trờng quốc
tế thuận lợi, hết sức tránh sự can thiệp của Mỹ vào các quốc gia láng giềng để cóthể tập trung sức lực cho công cuộc kiến thiết quốc gia Vả lại, đối với họ, việc tạmdừng cuộc chiến tranh ở Đông Dơng chính là giảm bớt nguy cơ lan rộng chiếntranh giáp vùng biên giới phía Nam, đồng thời tạo nên một khu đệm an toàn chochủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, "mục tiêu chính của họ là khuyến khích hoà bìnhtrong khu vực để cho họ có thể tập trung chú ý vào sự phát triển kinh tế trong nớc
và trên hết là tránh một sự can thiệp có thể có của Mỹ vào Chiến tranh Đông
D-ơng" [28, 149]
Cho nên, trong khi viện trợ tích cực cho cuộc kháng chiến của Việt Nam,nhất là trong chiến dịch Điện Biên Phủ, các nớc lớn xã hội chủ nghĩa cũng muốntìm kiếm biện pháp hoà giải
Ngày 27/11/1953, Liên Xô đề nghị triệu tập Hội nghị Ngoại trởng bốn nớclớn để bàn về vấn đề Đức, việc kí hoà ớc áo và có thể bàn về vấn đề hoà bình ởTriều Tiên và việc chấm dứt cuộc Chiến tranh Đông Dơng
Ngày 25/1/1954, Hội nghị tứ cờng tại Béc lin đợc khai mạc với sự tham dựcủa các Ngoại trởng: Môlôtốp (Liên Xô), Đalét (Mỹ), Iđơn (Anh) và Biđôn (Pháp)
Đây đợc xem là bớc khởi đầu cần thiết cho quá trình đối thoại giữa các bên Do sự
đấu tranh kiên trì của Liên Xô và thái độ thực tế của Anh và Pháp đã dẫn đến kếtquả tích cực duy nhất của Hội nghị liên quan đến Mặt trận châu á là quyết định
Trang 15triệu tập Hội nghị Giơnevơ với sự tham gia của Trung Quốc nhằm đa ra giải pháphoà bình cho vấn đề Triều Tiên và Đông Dơng
1.1.2 Tình hình Đông Dơng
1.1.2.1 Đông Dơng miếng mồi ngon của các nớc đế quốc
Đông Dơng bao gồm ba nớc Việt Nam, Lào, Campuchia, nằm trên một bán
đảo cạnh bờ biển Đông thuộc khu vực Đông Nam á Bán đảo này có diện tíchkhoảng 7500.000 km2 với dân số khoảng 93 triệu ngời (vào thập niên 90 của thế kỷXX)
Bán đảo Đông Dơng nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, điềukiện tự nhiên thuận lợi, có nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và đadạng Nơi đây có nhiều rừng với nhiều loại gỗ quý, có đồng bằng phì nhiêu trên luvực các con sông lớn: sông Hồng, sông Mêkông hàng năm cho năng suất lúa gạocao Cùng với các nớc Đông Nam á, Đông Dơng cung cấp cho thị trờng thế giớinhững nguồn nguyên liệu quan trọng nh thiếc, cao su, gỗ… và đặc biệt ở Đông D-
ơng có những nguyên liệu chiến lợc cần thiết cho nghành công nghiệp quốc phòngnh: thiếc, ăngtimoan, vônphram…
Bên cạnh đó, Đông Dơng còn có vị trí chiến lợc hết sức quan trọng Bán
đảo Đông Dơng vừa tiếp giáp với Thái Bình Dơng, vừa nối liền với lục địa châu á
Đông Dơng án ngữ một phần quan trọng các tuyến đờng giao thông đờng biểnchạy dài dọc Đông Bắc á, chạy từ Tây Thái Bình Dơng sang ấn Độ Dơng Ngay từthế kỷ XVI, XVII, XVIII… nhiều thơng thuyền và các hạm đội của Trung Quốc,Nga, Hà Lan, Anh, Bồ Đào Nha, Pháp… đã từng vào trú chân ở một số hải cảng ởViệt Nam
Do có vị trí địa lý chiến lợc và những tiềm năng kinh tế quan trọng nh vậynên từ lâu Đông Dơng đã trở thành nơi mà các thế lực thực dân, đế quốc nhòm ngó
và tìm cách nhảy vào thôn tính
Trong lịch sử cổ - trung đại, nơi đây đã nhiều lần phải chứng kiến sự giàyxéo của gót chân những kẻ đi xâm lợc Đó là đế quốc phong kiến Trung Hoa hùng
Trang 16mạnh ở phơng Bắc, là vó ngựa quân Nguyên Mông từng chinh phạt khắp cả lục địa
á - Âu… Chính vì thế, lịch sử của Đông Dơng mà tiêu biểu nhất là lịch sử ViệtNam luôn gắn với quá trình chống giặc ngoại xâm
Vào nửa cuối thế kỷ XIX, ở phơng trời Tây xa xôi, thực dân Pháp đã đếnnơi đây và tự nhận lấy cho mình cái "sứ mệnh" hết sức cao cả đó là "khai hoá vănminh" cho xứ sở này Kỳ thực đó là cái lý lẽ nhằm che đậy cho hành động xâm lợctrắng trợn của tên thực dân đế quốc cáo già Năm 1858, thực dân Pháp bắt đầu xâmlợc Việt Nam, đến năm 1884 thì chiếm xong toàn bộ Việt Nam Tiếp đến Pháp bắt
đầu chinh phục xứ Lào và Campuchia Đến tháng 10 năm 1887, Pháp đã hoànthành việc thôn tính Việt Nam, Lào, Campuchia lập nên xứ Đông Dơng thuộc Pháp
và đến tháng 4 năm 1889 Pháp thiết lập Liên bang Đông Dơng
Đối với Mỹ, từ lâu Mỹ đã chú ý đến khu vực Đông Dơng Trên thực tế, Mỹ
đã đến Đông Dơng từ rất sớm Ngay từ những năm đầu thế kỷ XIX, Mỹ đã tiếnhành buôn bán với Việt Nam Cũng nh Pháp, Mỹ muốn mợn chiêu bài thơng mại
để dò xét dọn đờng cho việc xâm nhập vào Đông Dơng Điều này đợc ngời Mỹ gọi
là "thơng mại đi trớc, cờ Mỹ theo sau" Lần hồi với các hoạt động thơng mại, ngời
Mỹ đến Đông Dơng ngày một nhiều hơn Nhng có lẽ Mỹ đã thành kẻ đến sau,miếng mồi Đông Dơng đã có chủ Lúc này thực dân Pháp còn mạnh và không dễdàng gì lại chịu nhả miếng mồi ngon ấy cho một ai khác
Trong cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai, khi lên kế hoạch thôn tính châu á,Nhật đặt Đông Dơng vào vị trí khá quan trọng Sự quan tâm lớn nhất của Nhật Bản
ở vùng Đông Nam á là Inđônêxia - một nớc có nhiều dầu lửa Đông Dơng là mộtcăn cứ quan trọng cho mục đích này Cả hải cảng và sân bay ở Đông Dơng có thểrất có ích và có lẽ rất thiết yếu trong cuộc tấn công đánh chiếm Mã Lai, Singapo vàInđônêxia của Nhật Bản Sau sự bại trận của nớc Pháp, Nhật đã nhanh chóng bớcvào "sân khấu" ở Đông Dơng thông qua thuyết "Đại Đông á" Các nớc Đông D-
ơng rơi vào quỹ đạo của Nhật Năm 1941, Nhật ký với chính phủ Vichy "Hiệp địnhphòng thủ chung" Với việc ký hiệp định này Pháp đã bán lại Đông Dơng cho
Trang 17Nhật Nh vậy, Đông Dơng đã hoà nhập vào hệ thống quân sự Nhật Bản Cho đếnngày 9 tháng 3 năm 1945, khi tình thế trên chiến trờng ở cả châu Âu và châu ákhông có lợi cho Nhật, Nhật đã làm đảo chính trong một đêm trên toàn cõi ĐôngDơng "… các doanh trại Pháp đều bị tiến công và phần lớn đều bị vô hiệu hoá" Từ
đây, quân Nhật nhận lấy trách nhiệm điều hành công việc hành chính của cả ĐôngDơng
Tháng 8 năm 1945, cuộc đại chiến thế giới lần thứ hai bớc vào giai đoạnkết thúc, phát xít Nhật đầu hàng vô điều kiện Đông Dơng đã trở thành khu vực "vôchủ", tạo ra "khoảng trống quyền lực" đáng lu ý đối với các nớc đế quốc lớn
Trong thời gian này, phong trào làm cách mạng ở Việt Nam và Lào pháttriển mạnh mẽ Tại đây, dới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dơng, nhân dânViệt Nam, Lào đã chớp lấy thời cơ giành chính quyền từ tay phát xít Nhật và bọnphong kiến tay sai Việt Nam đã tiến hành cuộc Cách mạng tháng Tám thắng lợi,khai sinh ra nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Còn ở Lào, nhân dân Viên Chăn đãtiến hành cuộc khởi nghĩa giành chính quyền vào ngày 12 tháng 10 năm 1945 (còngọi là cuộc Cách mạng Tu la), thiết lập nên nhà nớc Lào độc lập Riêng ởCampuchia, tuy rằng phong trào cách mạng có lên cao nhng không dẫn đến sựbùng nổ cách mạng Chính quyền phản động của Sơn Ngọc Thành, tay sai của phátxít Nhật vẫn tiếp tục tồn tại
Từ tình hình cụ thể trên bán đảo Đông Dơng sau cuộc Chiến tranh thế giớithứ hai, chúng ta có thể nói Đông Dơng đã trở thành miếng mồi ngon khiến các n-
ớc đế quốc đều ham muốn Và có thể chắc chắn một điều rằng nơi đây sẽ diễn racuộc tranh chấp của các thế lực đế quốc để giành lấy mảnh đất mang đầy đủ cácyếu tố địa chiến lợc này, và trên thực tế lịch sử đã diễn ra đúng nh vậy Tháng 9năm 1945, nơng vào sự thắng trận của các cờng quốc Đồng minh phơng Tây, quânPháp trở lại Đông Dơng với mu toan phục hồi sự thống trị về kinh tế, tài chính,chính trị và văn hoá tại phần đất đông dân và giàu tài nguyên này
1.1.2.2 Cuộc chiến tranh Đông Dơng lần thứ nhất và sự quay trở lại của ngời Pháp
Trang 18Trong suy nghĩ của thực dân Pháp, Đông Dơng là hòn ngọc quý, là xứthuộc địa đẹp và giàu có nhất của mình, nên việc để mất Đông Dơng vào tay Nhật
là điều mà họ khó có thể chấp nhận đợc Họ vẫn luôn mơ tởng đến một ngày trở lại
"giải phóng Đông Dơng", và trên thực tế đã ráo riết chuẩn bị cho sự trở lại này.Ngay từ năm 1943, Đờ Gôn đã tuyên bố sẽ quay lại giải phóng Đông Dơng Vàsang năm 1944, Đờ Gôn lại khẳng định một lần nữa là sẽ quay trở lại giải phóng
Đông Dơng Trong tháng 2 năm 1944, Đờ Gôn thấy đã đến lúc cần xác định chínhsách của Pháp đối với Đông Dơng và ra lệnh nghiên cứu một bản chính sách về
Đông Dơng Sau cuộc đảo chính 9 tháng 3 năm 1945, chính phủ lâm thời Phápthấy không thể không tuyên bố chính sách về Đông Dơng Đờ Gôn nôn nóng trởlại Đông Dơng không chỉ để khôi phục lại chủ quyền của Pháp mà còn hy vọng đaPháp trở thành cờng quốc "đã đánh bại" Nhật Bản Ông xúc tiến việc đa đạo quânviễn chinh Pháp ở Viễn Đông (COFEO) sang Đông Dơng
Nh vậy, âm mu và chính sách của thực dân Pháp trở lại Đông Dơng trớcsau là nhất quán Nhng tình hình Đông Dơng và quốc tế lúc này có nhiều chuyểnbiến cơ bản, khiến cho việc "trở lại Đông Dơng" của Pháp không hề đơn giản
Việc tiếp quản sự đầu hàng của Nhật đã đợc Hội nghị Potsdamtrao choAnh ở phía Nam Đông Dơng, cho Trung Hoa dân quốc ở phía Bắc Đông Dơng (với
vĩ tuyến 16 làm giới tuyến) Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đang kiểmsoát nớc Việt Nam từ Bắc xuống Nam Nh vậy, Pháp phải đợc sự đồng ý của cảAnh, Trung Hoa dân quốc và Việt Nam mới có thể đa quân vào Việt Nam đợc
Đối với Anh, Pháp không gặp khó khăn gì Anh hoàn toàn ủng hộ chủquyền của Pháp ở Đông Dơng và sẵn sàng giúp Pháp trở lại Đông Dơng Bởi Anhvốn là đồng minh thân cận của Pháp Cũng nh thực dân Pháp, thực dân Anh là một
đế quốc thực dân già, có rất nhiều thuộc địa Trong hoạt động ngoại giao của mình,ngời Anh luôn có suy nghĩ "không dính dáng những vùng lãnh thổ không phải củamình" Bên cạnh đó, thực dân Anh cũng không muốn có một Đông Dơng tách rờikhỏi khối Liên hiệp Pháp Anh lo sợ Đông Dơng độc lập sẽ dẫn đến một phản ứngdây chuyền làm sụp đổ hệ thống thuộc địa rộng lớn của Anh ở Nam á, châu Phi
Trang 19Và trên thực tế, khi thực dân Anh vào giải giáp nam vĩ tuyến 16 đã mang theo quân
đội Pháp, trên cơ sở đó đã giúp Pháp chiếm lại Sài Gòn
Đối với Mỹ và Chính phủ Trung Hoa dân quốc, thực dân Pháp không phải
đã gặp thuận lợi từ đầu Bởi nh chúng ta đã biết, Mỹ là đế quốc ra đời muộn, vì vậy
để tranh giành quyền lợi với các đế quốc khác Tổng thống Mỹ F.Rudơven đề ra
"chính sách thác quản quốc tế" ủng hộ các dân tộc thuộc địa giành độc lập sau khicuộc Chiến tranh thế giới hai kết thúc, mà thực chất là nhằm tranh giành quyền lợivới Anh, Pháp Mãi khi tổng thống kế nhiệm F Rudơven là Harry Truman lên thaythì vấn đề quay trở lại Đông Dơng của Pháp mới đợc ủng hộ Tổng thống Truman
đã thực hiện thoả hiệp với Anh và Pháp, đồng ý cho Pháp có quyền lợi ở Đông
D-ơng Còn đối với Chính phủ Trung Hoa dân quốc, vấn đề phức tạp hơn Bởi tronglịch sử bang giao giữa Trung Hoa với các nớc láng giềng, mà cụ thể ở đây là ViệtNam, cha bao giờ ngời Trung Hoa từ bỏ cái tham vọng thôn tính đất đai của họ.Hiểu đợc điều đó, Đờ Gôn đã phải thơng lợng rất nhiều để có thể đợc thay thế quânTởng ở Bắc Đông Dơng
Đối với Liên Xô, chính sách của Liên Xô với Đông Dơng là ủng hộ cuộc
đấu tranh chống xâm lợc phát xít Nhật và ách thống trị của thực dân Pháp của nhândân Đông Dơng Tháng 11 năm 1943 tại Hội nghị các cờng quốc ở Têhêran, Stalinngỏ ý muốn giải quyết vấn đề Đông Dơng theo kiểu Libăng, nghĩa là sau chiếntranh Đông Dơng sẽ đợc độc lập Stalin nêu rõ lập trờng của Liên Xô: “Khôngmuốn thấy Đồng minh đổ máu để giải phóng Đông Dơng rồi sau đó Pháp sẽ tiếpnhận, tái lập ở đây chế độ thuộc địa” [44, 94] Stalin còn tuyên bố: “Pháp khôngthể trở lại Đông Dơng, Pháp phải trả nợ về sự hợp tác tội lỗi của họ đối với Đức”[36, 19] Điều này cũng đã gây trở ngại lớn đến sự quay trở lại Đông Dơng củathực dân Pháp trong thời gian sau này
Trong khi đó, nét nổi bật của Đông Dơng sau Chiến tranh thế giới hai là nơi
đây đã trở thành tấm gơng sáng trong phong trào tự giải phóng của các dân tộc bị
áp bức trên thế giới; là mối nguy cơ cho sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân Các nớc
đế quốc thực dân lo sợ cho một sự thực đó là những thắng lợi của nhân dân Đông
Trang 20Dơng sẽ tạo đà cho những thắng lợi tiếp theo tại các thuộc địa khác ở châu á, châuPhi và châu Mỹ la tinh Nhằm đè bẹp làn sóng cách mạng giải phóng dân tộc đanglên ở Đông Dơng, tại Hội nghị Potsđam, ngay sau khi phát xít Đức đầu hàng, Tổngthống Mỹ Truman viện “lý do quân sự” đề nghị để đại diện các nớc Đồng minhbàn và đi đến quyết định chia đôi Đông Dơng theo vĩ tuyến 16 để giải giáp quânNhật Việc thoả thuận này của Mỹ không phải là để bảo đảm quyền tự quyết củacác dân tộc ở bán đảo này mà thực chất là nhằm phân chia khu vực và phạm vi ảnhhởng Qua đó cũng thấy rõ quân Anh kéo vào Nam Bộ và Nam Đông Dơng là sự
mở đờng cho Pháp dựa vào quân Anh đánh chiếm Sài Gòn Nh vậy, thông qua ngờiAnh, Mỹ đã bật đèn xanh cho quân đội viễn chinh Pháp trở lại Đông Dơng CuộcChiến tranh Đông Dơng của ngời Pháp bùng nổ và kéo dài đến chín năm sau mớikết thúc Sự ngoan cố của các đế quốc thực dân nói chung và thực dân Pháp nóiriêng, ý chí đấu tranh giành độc lập của nhân dân ba nớc Đông Dơng cùng với sựchi phối của mối quan hệ hai cực đã làm cho sự quay lại của ngời Pháp trở nên hếtsức quyết liệt và đẫm máu Nó mãi mãi đi vào lịch sử nh một bài học đắng cay chonhững dã tâm độc ác, muốn biến cuộc sống tự do của con ngời thành những kiếp
đời nô lệ Sự thất bại của thực dân Pháp trong cuộc chiến lần này cũng chính là sựthất bại của chủ nghĩa thực dân cũ trên toàn Đông Dơng
1.1.2.3 Âm mu và sự can thiệp của Mỹ đối với cuộc chiến tranh Đông Dơng
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ từng bớc can thiệp sâu vào Đông Dơng.Mục đích là gây ảnh hởng của Mỹ ở Đông Dơng, ngăn chặn làn sóng đỏ đang lantràn xuống khu vực Đông Nam á, quyết tâm không để chủ nghĩa cộng sản pháhoại “châu á tự do” Đồng thời Mỹ muốn gạt Pháp ra khỏi khu vực này và độcchiếm lấy Đông Dơng, biến nơi này thành thuộc địa của mình
Đông Dơng đã nằm trong tầm mắt của ngời Mỹ từ khi ngời Nhật chinh phụcbán đảo này Lúc bấy giờ, chính quyền F.Rudơven đã nhận thấy mối đe doạ do sựbành trớng của Nhật vào Đông Nam á gây ra Tuy nhiên, lúc đầu các chính sáchsức mạnh hay đúng hơn là việc chống chủ nghĩa thực dân (cũ) đã làm cho
Trang 21F.Rudơven chọn giải pháp đứng trung lập trong cuộc tranh chấp giữa Nhật vàPháp Mà trên thực tế quan điểm trung lập đồng nghĩa với việc bênh vực cho kẻmạnh Tổng thống F.Rudơven luôn bày tỏ sự phản đối của mình về sự hiện diệncủa Pháp ở Đông Dơng Ông cho rằng, Mỹ không phải chấp nhận bất cứ một kếhoạch nào để duy trì tham vọng đế quốc Pháp ở đây Ngày 22 tháng 8 năm 1940,Chính phủ Mỹ nói với Chính phủ Vichy là họ không thể giúp Pháp ở Đông Dơng.
Tuy vậy, Mỹ cũng không muốn Nhật chiếm Đông Dơng thay Pháp.F.Rudơven luôn cố gắng thông qua đàm phán để giữ không cho Nhật độc chiếmvùng này Tháng 7 năm 1941, F.Rudơven đề nghị trung lập hóa Đông Dơng, đồngthời còn gửi đến thống chế Pétain và đô đốc Darlan lời tuyên bố thẳng thừng rằngnếu Nhật Bản thắng trong cuộc Chiến tranh ở Đông Dơng thì Mỹ đồng ý để Nhậtchiếm xứ Đông Dơng nhng nếu các nớc Đồng minh thắng thì Mỹ sẽ chiếm [69]
Và chúng ta đã biết đến những cố gắng của F.Rudơven để mở ra một tơng lai cho
Đông Dơng nhằm tránh sự tái đô hộ của chủ nghĩa thực dân Pháp Ông cho rằng
“Đông Dơng thuộc Pháp sẽ phải đặt dới một chế độ quản trị quốc tế ngay sau khichiến tranh kết thúc, và để cho xứ này đợc độc lập càng sớm càng hay”[1, 65].Thực chất, chính phủ Mỹ muốn Pháp phải từ bỏ Đông Dơng để sau thế chiến cóthể dễ dàng hơn trong việc tách Pháp khỏi thuộc địa của nó Cùng lúc này, quan hệ
Mỹ với Việt Minh cũng bắt đầu nảy nở và phát triển theo chiều hớng tốt đẹp Mặttrận Việt Minh trong thời gian này đã nhận đợc sự giúp đỡ về vũ khí cũng nh sựgiúp đỡ về mặt chính trị của ngời Mỹ Cơ quan mật vụ Mỹ O.S.S (tiền thân củaC.I.A sau này) cũng đã thiết lập quan hệ với Việt Minh Điều này xuất phát từ thái
độ không ủng hộ của Mỹ đối với tham vọng thuộc địa của Pháp
Nhng đến gần ngày chiến tranh thế giới kết thúc, thái độ của F.Rudơven vềvấn đề thuộc địa nói chung và vấn đề Đông Dơng bắt đầu có sự thay đổi Chínhphủ Mỹ tuyên bố vấn đề ủy trị nh một thỏa thuận sau chiến tranh và quy chế ủy trị
đối với Đông Dơng sẽ dựa trên sự tự nguyện hay nói cách khác sẽ phụ thuộc vàoPháp Quan niệm đó về quyền ủy trị đồng nghĩa với việc Mỹ không còn phản đốiPháp quay trở lại Đông Dơng nữa
Trang 22Tháng 2 năm 1945, hai tháng sau khi từ Hội nghị Ianta về, Tổng thốngF.Rudơven qua đời; Harry Truman lên nhận chức Tổng thống, cùng với nhiềunguyên nhân khác, chủ trơng “uỷ trị kinh tế” mà Rudơven đã từng theo đuổi không
đợc thực hiện Chính sách của Mỹ đối với Đông Dơng bắt đầu có sự thay đổi rõ rệt:
Mỹ dần từ bỏ thái độ cững rắn đối với Pháp Tuy cha chính thức thừa nhận Pháptrở lại Đông Dơng nhng Mỹ cũng tạo cho Pháp “cơ hội bỏ ngõ để trở lại xứ này”.Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Mỹ tỏ ra công khai thừa nhận sự cómặt của Pháp ở Đông Dơng, các quan chức Mỹ ở Đông Dơng đợc chỉ thị không đ-
ợc chống đối việc ngời Pháp trở lại khu vực này Tập tài liệu mật của Lầu NămGóc đăng trên tờ New York Times khẳng định là trong một bức điện gửi sứ quán
Mỹ tại Oasinhtơn, Ngoại trởng George Marshall đã khẳng định “Mỹ công nhậnhoàn toàn chủ quyền của Pháp đối với Đông Dơng và không làm gì để có thể gâytổn thơng vị trí đó của Pháp”[33,178]
Cũng từ tháng 9 năm 1945, Pháp đã bắt đầu kế hoạch tái chiếm Việt Nam.Mặc dù không chống lại việc tái thiết lập sự kiểm soát của Pháp ở Đông Dơng nh-
ng Chính phủ Mỹ lúc này cũng không có ý định giúp Pháp tái thiết lập sự kiểmsoát của mình bằng vũ lực Nên vào tháng 12 năm 1946, khi cuộc xung đột quân sựgiữa Pháp và Việt Minh lên đến đỉnh điểm, ngời Mỹ đã không đồng tình với biệnpháp quay lại Đông Dơng bằng vũ lực của Pháp, họ cho rằng đó không phải là mộtbiện pháp khôn ngoan Chính vì lẽ đó mà Mỹ từ chối những nỗ lực quân sự củaPháp
Từ sự ủng hộ cho Pháp quay lại Đông Dơng, Mỹ cũng đã xóa bỏ luôn mốiquan hệ tốt đẹp với Việt Minh đã đợc xây dựng từ trớc đó Mỹ đã từ chối nhữngyêu cầu can thiệp, ủng hộ nền cộng hòa non trẻ của Chủ tịch Hồ Chí Minh Đếntháng 4 năm 1946, khi quân Tởng Giới Thạch và quân Anh đại diện của các nớc
Đồng minh rút khỏi Đông Dơng, Mỹ đã thừa nhận cho Pháp kiểm soát toàn bộ
Đông Dơng
Khi cuộc chiến tranh ở Đông Dơng lan rộng, Mỹ không ngừng kêu gọiPháp trao trả độc lập cho Việt Nam Mỹ luôn lo ngại cuộc xung đột giữa Pháp và
Trang 23Việt Minh sẽ trở thành một cuộc xung đột giữa hai phe, mà lúc này, tại đây, thì
điều đó không phải là điều có lợi cho Mỹ Vì vậy, các nhà ngoại giao Mỹ đợc lệnh
là phải làm tất cả những gì có thể đợc để thuyết phục và gây áp lực cho Pháp Mỹluôn thúc giục Pháp thành lập một cơ cấu quốc gia chống Cộng và tiến tới thànhlập một nhà nớc Việt Nam tự trị, một lập trờng mà Pháp cho là một đòi hỏi củaOasinhtơn nhằm mở rộng ảnh hởng của mình ở khu vực này Cũng chính lúc này,giới ngoại giao Mỹ đã nhìn thấy Bảo Đại nh một giải pháp có thể chấp nhận đợccho việc giải quyết vấn đề Đông Dơng Các nhà đơng cục Mỹ đã ra sức mời ông tatrở lại sân khấu chính trị và cầm đầu phong trào giải phóng quốc gia Mỹ muốn
“thử nghiệm Bảo Đại” thành công vì dờng nh không còn sự lựa chọn nào khác vàvì vậy Mỹ rất muốn ngời Pháp sẽ tìm đợc tiếng nói chung với Bảo Đại Họ ra sứckêu gọi tạo điều kiện cho những ngời dân tộc không cộng sản (mà ở đây ta có thểhiểu là Bảo Đại) chuẩn bị cho các tổ chức chính trị, kinh tế và quân sự để có thểkiểm soát đất nớc Cựu Đại sứ Mỹ ở Pháp William Bullitt đã phác thảo giải pháp
“thừa nhận chính phủ Bảo Đại, giúp chính phủ Bảo Đại tổ chức quân đội” Ông tacòn khẳng định thêm rằng: “nếu nớc Pháp không muốn giải pháp này thì Mỹ nhất
định nắm lấy việc đó” Trớc tình hình đó, nớc Pháp phải buộc lòng chuyển sanghành động Trong năm 1947, Toàn quyền E.Bollaert đã nhiều lần cử Đặc phái viênCousseau sang Hồng Kông tiếp xúc trao đổi với Bảo Đại Kết quả là vào tháng 6năm 1948, Pháp đã lựa chọn Bảo Đại đứng đầu “Quốc gia Việt Nam” Vậy là mộtquốc gia Việt Nam thứ hai ra đời, lần này là do ngời Pháp đẻ ra trong sự mớm sứccủa Mỹ Cái “Quốc gia Việt Nam” ấy trên thực tế thì lại không có quyền lực gì Nócũng chẳng phải là một nớc dân chủ, cũng chẳng phải là một nớc cộng hòa và cũngchẳng có một cơ sở nào trong nhân dân Không Quốc hội, không Hiến pháp thậmchí là không ngân sách; đó là tình trạng chung của “Quốc gia” ấy trong nhiều năm
Có thể thấy trên thực tế, nó hoàn toàn phụ thuộc vào quân đội, cảnh sát và ngânkhố nớc Pháp
Vào cuối thập niên 40 và bớc sang thập niên 50 của thế kỷ XX, ở Đông
D-ơng đã có những biến chuyển mới thúc đẩy Mỹ tiến hành công nhận chính phủ Bảo
Trang 24Đại Đó là sự xuất hiện Nhà nớc Trung Hoa mới ở phía Bắc (1949) và hành độngcông nhận nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của họ (1950) Nh vậy, vấn đề ngăncản không để cho một quốc gia cộng sản khác xuất hiện ở châu á bắt đầu có sứcnặng lớn hơn Chính sách ngăn chặn của Mỹ bấy giờ đợc đa lên hàng đầu Điềunày đã đa đến việc Mỹ ủng hộ các cố gắng của Pháp nhằm quyét sạch cách mạng.Bên cạnh đó, Bộ Ngoại giao Mỹ cũng đang xem xét cách thức và thời điểm để cóthể tiến hành công nhận “Quốc gia Việt Nam” của Bảo Đại Các nhà ngoại giao
Mỹ đã đa ra bốn lý do để công nhận chính quyền của Bảo Đại: Khuyến khích pháttriển tinh thần dân tộc dới sự lãnh đạo của lực lợng không cộng sản ở các nớc
Đông Nam á; thành lập các chính phủ phi cộng sản ở đây; ủng hộ Pháp vì Pháp là
đồng minh NATO; đối phó với chiến lợc của chủ nghĩa cộng sản là thống trị châu
á thông qua “cái lốt” dân tộc chủ nghĩa Rõ ràng cả bốn lý do công nhận chínhphủ Bảo Đại đều mang tính ý thức hệ Đầu tháng 5 năm 1949, lãnh sự Mỹ tại SàiGòn đã nhận đợc bức điện, trong đó nhấn mạnh “vào một thời điểm thích hợp vàtrong điều kiện thích hợp, Bộ Ngoại giao sẽ sẵn sàng công nhận chính phủ Bảo Đại
và sẵn sàng cung cấp viện trợ vũ khí và kinh tế đáp ứng yêu cầu của chính phủnày” Đồng thời, bức điện cũng nhấn mạnh Pháp phải có những nhợng bộ cần thiết
để giải pháp Bảo Đại trở nên hấp dẫn đối với những lực lợng dân tộc chủ nghĩa.Ngày 3 tháng 2 năm 1950, Tổng thống Truman đã công nhận chính quyền Bảo
Đại Ngày 4 tháng 2 năm 1950, lãnh sự quán của Mỹ ở Sài Gòn nhận đợc lệnhchuyển th công nhận Quốc gia Việt Nam cho Bảo Đại Sau đó, Mỹ tiếp tục côngnhận thêm các “Quốc gia độc lập” còn lại ở Đông Dơng là Lào và Campuchia
Sau khi công nhận ba quốc gia này, Mỹ bắt đầu tiến hành viện trợ kinh tếcho các quốc gia đó thông qua Pháp Tất nhiên Mỹ không quên đặt điều kiện củamình cho viện trợ Trong đàm phán Pháp - Mỹ tại Oasinhtơn, Ngoại trởng Achesonhứa sẽ tăng viện trợ với điều kiện là Pháp tăng tính độc lập cho các Quốc gia liênkết Ngoại trởng Mỹ còn đòi hỏi phần lớn viện trợ phải trực tiếp đến tay các Quốcgia liên kết, chứ không phải thông qua tay Pháp
Trang 25Bên cạnh hành động viện trợ cho các Quốc gia liên kết, Mỹ còn cung cấpviện trợ kinh tế cho Pháp Trong giai đoạn từ tháng 7 năm 1947 đến tháng 7 năm
1948, Mỹ đã viện trợ 1,9 tỷ USD cho Pháp Do đó, mặc dù Mỹ không viện trợ vũkhí trong những năm này song nó đã gián tiếp giúp đỡ tài chính cho cố gắng chiếntranh của Pháp
Năm 1949, đã diễn ra hai sự kiện buộc chính phủ Mỹ phải quan tâm hơnnữa đến vấn đề viện trợ cho Đông Dơng Thứ nhất, là Hiệp ớc Bắc Đại Tây Dơng
đã đa Pháp và Mỹ vào trong một liên minh chính thức Thứ hai, đó là sự thất bạicủa Quốc dân đảng ở Trung Hoa, nớc Trung Hoa mới dới sự lãnh đạo của ĐảngCộng sản ra đời Các nhà lãnh đạo Pháp đã thấy rõ thời cơ do những sự kiện nàytạo ra để họ giành đợc sự chi viện với quy mô lớn của Mỹ cho cuộc chiến tranh
Đông Dơng Trên thực tế, vào cuối năm 1949, sau những sự lỡng lự, Mỹ chính thứccam kết dính líu vào cuộc chiến tranh xâm lợc của ngời Pháp ở Đông Dơng Trongvăn kiện của Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ (NSC.51) do Tổng thống Truman phêchuẩn ngày 30 tháng 12 năm 1949, nhấn mạnh sự cần thiết phải ngăn chặn sự bànhtrớng của chủ nghĩa cộng sản ở Đông Dơng bằng sự giúp đỡ về chính trị, viện trợkinh tế, quân sự Một phái đoàn kinh tế và kỹ thuật đặc biệt đã đợc thành lập đểtrực tiếp làm việc với các liên minh về việc viện trợ kinh tế với hi vọng tăng cờng
địa vị quốc tế của Mỹ ở Đông Dơng
Từ năm 1950, Tổng thống Truman đã cam kết công khai dính líu vào cuộcchiến ở Đông Dơng, đánh dấu mốc quan trọng trong quá trình can thiệp của Mỹvào cuộc chiến tranh xâm lợc của Pháp ở Đông Dơng Từ đây, sự can thiệp ngàycàng trở nên mạnh mẽ và trực tiếp hơn, cơ quan Bộ Ngoại giao Mỹ đã chuẩn bịviện trợ quân sự cho Pháp ở Đông Dơng
Cụ thể khi cuộc Chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, Tổng thống Trumantuyên bố rằng Mỹ sẽ xúc tiến việc cung cấp viện trợ cho Pháp ở Đông Dơng Ngày
10 tháng 8 năm 1950, chuyến tàu viện trợ vũ khí đầu tiên của Mỹ đến Đông Dơng.Phái đoàn viện trợ quân sự thờng trực của Mỹ ở Đông Dơng (MAAC) bắt đầu hoạt
Trang 26động ở Sài Gòn Mỹ cử thiếu tớng Franois L.Brink làm trởng đoàn điều hành toàn
bộ việc phân phối, sử dụng viện trợ quân sự Mỹ ở Đông Dơng (4/10/1950)
Về viện trợ kinh tế, trong cuộc đàm phán Mỹ - Pháp ở Oasinhtơn ngày 17tháng 10 năm 1950, Mỹ quyết định dành phần lớn số tiền 500 triệu đô la viện trợquân sự cho khu vực Viễn Đông để viện trợ cho Pháp trong Chiến tranh Đông D-
ơng, dành u tiên cho Pháp trong việc vận chuyển vũ khí và phân phối viện trợ.Cũng trong cuộc đàm phán này, Mỹ còn quyết định dành cho Pháp một phần quantrọng trong số 5 tỷ đô la viện trợ quân sự của Mỹ cho Tây Âu theo kế hoạch củakhối NATO trong tài khóa 1950 -1951 Ngày 23 tháng 12 năm 1950, Mỹ, Pháp và
ba chính quyền bù nhìn ở Đông Dơng ký hiệp ớc phòng thủ tơng hỗ lẫn nhau,trong đó Mỹ cam kết viện trợ vũ khí, thiết bị quân sự và nắm quyền kiểm soát việc
sử dụng viện trợ quân sự Việc ký hiệp ớc này đánh dấu sự dính líu chính thức của
Mỹ vào Đông Dơng
Chiến tranh Đông Dơng kéo dài, mức độ can thiệp của Mỹ càng tăng, ý đồthực sự của Mỹ ngày càng rõ ràng, điều này, làm cho nội bộ chính quyền Pháp ởPari phân hóa mạnh Họ nhận ra rằng, nếu dựa vào Mỹ mà đẩy lùi đợc các lực lợngcách mạng ở Đông Dơng thì thành quả cuối cùng sẽ rơi vào tay Mỹ Nhiều ngờingã hẳn sang quyết tâm đi tìm một giải pháp bằng đàm phán cho cuộc Chiến tranh
Đông Dơng Để đối phó với xu hớng ấy trong giới chính trị Pháp, Mỹ đã tăng cờngviện trợ quân sự, đáp ứng mau chóng nhu cầu chiến tranh của Pháp ở Đông Dơng
Từ tháng 7 năm 1950 đến tháng 1 năm 1951, Mỹ đã cung cấp cho Pháp gần 300triệu đô la vũ khí và trang bị quân sự Tại hội nghị tay ba Mỹ, Pháp, Anh họp ởPari bàn về các vấn đề Đông Nam á ngày 28 tháng 5 năm 1952, Ngoại trởng MỹAcheson nói từ tháng 6 năm 1951 đến tháng 6 năm 1952, Mỹ sẽ gánh 1/3 chi phícho cuộc chiến tranh của Pháp ở Đông Dơng Và từ hội nghị này, Mỹ đồng ý tăngthêm 150 triệu đô la trong tài khóa 1952 - 1953 viện trợ quân sự cho Pháp Đạidiện chính phủ Pháp Lơ Tuốcnô xác nhận 6 tháng tới viện trợ quân sự Mỹ sẽ chiếm
tỷ lệ 40% chi phí chiến tranh của Pháp ở Đông Dơng Cùng lúc đó, Mỹ khẳng định
Trang 27sẽ không can thiệp vào Đông Dơng một khi Trung Quốc không can thiệp Mặc dầuvậy, Pháp vẫn không bớt lo ngại trớc ý định can thiệp vào Đông Dơng của Mỹ.
Bên cạnh việc tích cực viện trợ cho quân đội Pháp ở Đông Dơng, trongkhoảng thời gian này, Mỹ còn tăng cờng viện trợ cho chính quyền của các “Quốcgia độc lập” mà cụ thể ở đây chính là chính phủ Bảo Đại Mỹ tìm mọi cách hạn chếvai trò của Pháp đối với chính quyền Bảo Đại, biến Bảo Đại thành con bài của Mỹthông qua một loạt hiệp ớc mà Pháp buộc phải thừa nhận, mục đích là để Mỹ cóthể lấn dần từng bớc, tiến tới hất cẳng Pháp ở Đông Dơng Thông qua việc viện trợ,
Mỹ ép buộc Pháp phải nhợng bộ, đòi Pháp phải để cho chính phủ bù nhìn nhữngquyền hạn rộng rãi hơn, có thể trực tiếp ký kết, giao thiệp với Mỹ Điều qua trọng
là phải đẩy mạnh thành lập quân đội bù nhìn Sau vài lần mặc cả, trong cuộc họpgiữa Đônan Hớt (Donal Heath) với J Lơ Tuốcnô và Bảo Đại đã đi đến quyết địnhthành lập 4 s đoàn quân đội bù nhìn do Mỹ cung cấp quân trang, quân dụng
Sau thất bại của Pháp ở Hoà Bình cuối năm 1951 đầu năm 1952 và việcthành lập 4 s đoàn quân nguỵ đợc chính thức công bố, Mỹ đã đòi cho quân đội bùnhìn đợc quyền trực tiếp nhận viện trợ của Mỹ mà không cần qua khâu trung gianPháp
Trong những năm 1951 - 1952 và đầu năm 1953, tình hình của Pháp trongcuộc chiến tranh xâm lợc Đông Dơng ngày càng xấu hơn, quyết tâm chiến tranhcủa chính giới Pháp lung lay mạnh Cả hai cuộc chiến tranh của Mỹ, của Pháp ởTriều Tiên và Đông Dơng đã đẩy chiến lợc ngăn chặn của Mỹ ở châu á vào thếlúng túng, buộc các giới cầm quyền Mỹ phải xem xét lại để tìm ra một sự chuyểnhớng chiến lợc mới Khi cuộc Chiến tranh Triều Tiên kết thúc, trọng điểm chiến l-
ợc quân sự của Mỹ ở châu á - Thái Bình Dơng đang đợc chuyển từ Đông Bắc áxuống Đông Nam á với tiêu điểm là Việt Nam và Đông Dơng Với sự chuyển h-ớng chiến trờng này, Mỹ dính líu sâu hơn vào Việt Nam, Đông Dơng và ĐôngNam á
Trang 28Trong tình hình Pháp đang gặp rất nhiều khó khăn và ở thế bất lợi trongcuộc chiến tranh, Mỹ một mặt dốc thêm nhiều viện trợ cho Pháp, mặt khác tìm mọicách để nắm lấy việc điều hành chiến tranh ở Đông Dơng Âm mu thâm độc của đếquốc Mỹ không chỉ là cung cấp đô la, vũ khí cho đế quốc Pháp mà chính là tìmcách lấn dần từng bớc để cuối cùng gạt Pháp ra ngoài độc chiếm Đông Dơng.
Sự tăng viện trợ của đế quốc Mỹ không chỉ thu hẹp trong phạm vi tài chính
mà chủ yếu là thực hiện dới hình thức các phơng tiện giết ngời của bọn trùm láisúng
Tháng 7 năm 1953, Mỹ phê chuẩn kế hoạch Nava của bộ chỉ huy Pháp,gánh chịu mọi khoản chi phí cho kế hoạch đó Tính đến tháng 1 năm 1954, riêng
về vũ khí và phơng tiện chiến tranh, Mỹ đã viện trợ cho Pháp ở Đông Dơng gồm
360 máy bay, 1400 xe tăng và xe bọc thép, 390 tàu chiến và tàu quân sự, 16000 xequân sự các loại, 175000 súng trờng và súng máy, với chi phí lên đến gần 400 triệu
đô la
Năm 1953, Mỹ vừa tăng cờng viện trợ quân sự cho Pháp, vừa không épPháp nhiều, sợ Pháp bỏ cuộc sớm trong khi Mỹ cha chuẩn bị đủ điều kiện thuận lợi
để thay Pháp Mặt khác, Mỹ cũng chuẩn bị cho những tính toán riêng của mình,
Mỹ ráo riết đa ngời của mình lên nắm chính quyền bù nhìn
Cuối năm 1953 đầu năm 1954, tình hình quân Pháp trên chiến trờng ĐôngDơng diễn biến theo chiều hớng xấu Giải pháp đình chiến và kết thúc chiến tranhthông qua con đờng đàm phán hoà bình ở Triều Tiên có tác động mạnh đến cuộcchiến tranh xâm lợc của Pháp ở Việt Nam và Đông Dơng Ngời Pháp chủ trơng kếtthúc chiến tranh với “thắng lợi khiêm tốn”, Mỹ lại rất muốn tiếp tục chiến tranhnên vẫn chuẩn bị những biện pháp để đẩy nhanh tốc độ viện trợ quân sự Trongcuộc họp ngày 8 tháng 1 năm 1954, Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ đã thảo luậnvấn đề cấp bách và xác định mức độ can thiệp sâu hơn vào Đông Dơng Có nhiềugiả thuyết đợc đa ra trong cuộc tranh cãi này Những ý kiến tuy có vẻ đối lập vớinhau, song tựu trung đều ra sức bảo vệ vị trí của Mỹ ở Việt Nam, Đông Dơng và
Đông Nam á nói chung Vấn đề đợc đặt ra là: “Nếu nh ngời Pháp bỏ cuộc ở Đông
Trang 29Dơng thì Mỹ phải làm gì?”, “Trờng hợp Pháp yêu cầu Mỹ can thiệp bằng lực lợngquân sự thì Mỹ có chấp nhận không?”.
Bộ Ngoại giao Mỹ cho rằng, phải nhanh chóng sử dụng lực lợng Mỹ vàocuộc chiến ở Đông Dơng vì Pháp đang trong tình trạng nguy kịch
Bộ Quốc phòng Mỹ thì lại đặt hy vọng thắng lợi của ngời Pháp vào mùaxuân năm 1955 Vì thế, việc sử dụng lực lợng Mỹ ở Đông Dơng chỉ nên tiến hànhtrong trờng hợp cần thiết [44, 226]
Cũng vào thời điểm này, tháng 1 năm 1954, Mỹ đứng trớc sự lựa chọn canthiệp quân sự trực tiếp vào Đông Dơng ở Hội đồng An ninh quốc gia và Bộ Quốcphòng Mỹ, một số dự án đã đợc chuẩn bị, trong đó nổi bật là ba xu hớng: Dùng lụcquân Mỹ trực tiếp tham chiến; Quốc tế hoá cuộc chiến tranh, thông qua “hành
động thống nhất của Đồng minh”; Dùng vũ khí hạt nhân
Tuy nhiên, do những bất đồng, mâu thuẫn trong nội bộ chính giới Mỹ,cũng nh giữa Mỹ với Đông minh nên các dự án đó không đợc thực thi
Tháng 3 năm 1954, trong lúc số phận của hàng loạt quân Pháp tại lòng chảo
Điện Biên Phủ đang đi đến hồi quyết định thì Aixenhao xin Quốc hội Mỹ đợc phéptoàn quyền hành động trên chiến trờng Đông Dơng theo kế hoạch của Đalét - mở
“chiến dịch Vautour”(Chiến dịch diều hâu) Theo kế hoạch này, Mỹ sẽ sử dụng cảbom nguyên tử để giúp đỡ cho quân Pháp ở Điện Biên Phủ Ngày 29 tháng 3 năm
1954, tại Câu lạc bộ báo chí quốc tế, Ngoại trởng Mỹ Đalét đã công khai kêu gọi
“hành động thống nhất của các đồng minh” vào Đông Dơng để ngăn cản sự thốngtrị của cộng sản [44, 227] Thực chất, Mỹ muốn thực hiện ý định quốc tế hoá cuộcChiến tranh Đông Dơng thông qua một hiệp ớc phòng thủ tập thể Chính vì vậy, tr-
ớc khi số phận Điện Biên Phủ sắp đợc định đoạt, Mỹ ráo riết hành động bằngchuyến công du của Ngoại trởng Đalét tại Luân đôn và Pari (4/1954) nhằm tìmkiếm “hành động thống nhất” của giới lãnh đạo Anh cũng nh Pháp Nhng nhữngbất đồng sâu sắc giữa Mỹ và các đồng minh đã bộc lộ rõ rệt Chính phủ Anh sẵnsàng tham gia dàn xếp an ninh tập thể nhng lại không đồng tình với hành động canthiệp ngay vào Đông Dơng Anh không muốn dính vào cuộc chiến tranh mà họ
Trang 30thấy không có khả năng thắng Còn Pháp tỏ rõ thái độ kịch liệt phản đối việc quốc
tế hoá cuộc chiến tranh Vì Pháp cho rằng, việc làm này không chỉ đe doạ uy tíncủa Pháp ở Đông Dơng mà thậm chí Đông Dơng sẽ tuột khỏi sự kiểm soát củaPháp Trớc sự khác biệt trong quan điểm giữa Mỹ, Anh, Pháp, việc tìm sự phối hợphành động chung thất bại
Ngày 7 tháng 5 năm 1954, khi số phận của Pháp tại Điện Biên Phủ đã đợc
định đoạt, Tổng thống Mỹ đã gửi điện cho Tổng thống Pháp Rơnê và “Quốc trởngViệt Nam” Bảo Đại nhấn mạnh quyết tâm của “thế giới tự do” vẫn tiếp tục “trungthành với các sự nghiệp chiến đấu cao cả của mình”[44, 234] và hy vọng sự tiếptục chiến đấu của quân Pháp ở Đông Dơng Nhng những đòn thất bại quân sự ởViệt Nam nói chung và đặc biệt là ở Điện Biên Phủ đã gây sự choáng váng chochính phủ Lanien; Pháp muốn thông qua thơng lợng để tìm giải pháp cho “lối thoátdanh dự” Anh không tán thành với Mỹ, cũng muốn thông qua thơng lợng để giảiquyết vấn đề Đông Dơng, tránh tình hình phức tạp, uy hiếp quyền lợi của họ ở
Đông Nam á Cho nên, Ngoại trởng Anh Iđơn đã từ chối công hàm đề nghị tổchức hội nghị quân sự tay ba (Anh - Pháp - Mỹ) do Mỹ đề xuất
Trớc tình hình đó, cuối cùng Mỹ buộc phải chấp nhận thơng lợng, đồng ýtham gia Hội nghị Giơnevơ Nhng theo những tài liệu Lầu Năm Góc ghi lại thì đóchỉ là sự chấp nhận bề ngoài nhằm tiếp tục thực hiện mu đồ riêng Mở đầu chonhững âm mu mới đó là việc thành lập khối liên minh quân sự Đông Nam á do
Mỹ cầm đầu và phá hoại Hội nghị Giơnevơ về Đông Dơng, hòng không cho ViệtMinh giành đợc thắng lợi, mà trên thực tế là muốn mau chóng thay chân Pháp, làmchủ Đông Dơng
1.1.2.4 Tình hình chiến sự ở Đông Dơng trớc ngày diễn ra Hội nghị Giơnevơ
Thu - Đông năm 1953, cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chốngthực dân Pháp bớc sang năm thứ 8 Sau năm năm tự lực chiến đấu trong vòng vây,
từ năm 1950 trở đi, quân chủ lực của Việt Nam liên tiếp mở nhiều chiến dịch lớn,tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng nhiều vùng rộng lớn ở Biên Giới Việt –
Trang 31Trung, Hoà Bình, Tây Bắc, Thợng Lào Chiến tranh du kích phát trỉên mạnh, làm
“ruỗng nát” vùng tạm chiếm của đối phơng
Trớc tình hình nguy khốn ở Đông Dơng, Chính phủ Pháp cử tớng Nava làmTổng chỉ huy đội quân viễn chinh xâm lợc.Ông ta lập tức đa ra Kế hoạch Nava đề
ra mục tiêu trong vòng 18 tháng, tập trung lực lợng cơ động chiến lợc để tiêu diệtphần lớn chủ lực của bộ đội Việt Nam, buộc Chính phủ Hồ Chí Minh phải chấpnhận đàm phán theo những điều kiện do Pháp đề ra, nhằm tìm “lối thoát danh dự”cho cuộc chiến tranh xâm lợc
Trong Đông – Xuân năm 1953-1954, Nava tập trung các binh đoàn cơ
động ở đồng bằng Bắc Bộ nhằm đối phó với cuộc tiến công có thể xẩy ra của chủlực Việt Nam, càn quyét bình định vùng sau lng họ; cho quân nhảy dù xuống LạngSơn, đánh ra Ninh Bình, uy hiếp các căn cứ kháng chiến của Việt Nam ở Việt Bắc
và Thanh – Nghệ – Tĩnh
Để phá tan kế hoạch Nava, buộc quân Pháp phải phân tán lực lợng, Bộ chỉhuy tối cao của Việt Nam chủ trơng dùng một bộ phận quân chủ lực, phối hợp vớicác lực lợng địa phơng, chủ động mở các cuộc tiến công lên Tây Bắc, Trung Lào
và Hạ Lào, Bắc Tây Nguyên, lấy Tây Bắc làm hớng chính Đó là những hớng chiếnlợc hiểm yếu mà địch tơng đối yếu, quân đội Việt Nam có thể tiêu diệt sinh lực
địch, giải phóng đất đai, tiếp tục khoét sâu mâu thuẫn cơ bản giữa tập trung vàphân tán binh lực của địch, tạo nên thế trận mới, thời cơ mới
Tháng 11 năm 1953, khi phát hiện chủ lực Việt Nam tiến lên Tây Bắc, Navacho quân nhảy dù xuống Điện Biên Phủ để yểm trợ cho các đơn vị ở Lai Châu rútchạy, đồng thời bảo vệ Thợng Lào
Đầu tháng 12 năm 1953, Việt Nam mở cuộc tiến công tiêu diệt phần lớnquân Pháp ở Lai Châu rút chạy, bao vây Điện Biên Phủ Hạ tuần tháng 12, Quântình nguyện Việt Nam phối hợp với Quân giải phóng Pathét Lào mở cuộc tấn côngvào Trung Lào, giải phóng Thà Khẹt và phát triển xuống Hạ Lào, giải phóng Caonguyên Bôlôvên Tháng 1 năm 1954 Việt Nam lại mở cuộc tiến công lên Bắc TâyNguyên, giải phóng Kon Tum và một vùng rộng lớn, nối liền với khu giải phóng
Trang 32Hạ Lào Hạ tuần tháng 1 năm 1954, trong khi tạm đình cuộc tiến công vào ĐiệnBiên Phủ, một đơn vị chủ lực Việt Nam đã bất ngờ mở cuộc tiến công sang ThợngLào Đòn tiến công này đã giải phóng lu vực sông Nậm Hu, uy hiếp thủ đô LuôngPha băng.
Bằng 5 dòn tiến công chiến lợc nói trên, Việt Nam đã điều động đợc lực ợng của quân Pháp, thu hút chúng chiến trờng có lợi cho mình, buộc khối cơ độngchiến lợc của Nava phải chia năm sẻ bảy để tiêu diệt chúng
l-Sau thất bại ở Tây Bắc và biên giới phía Bắc cũng nh Trung Lào, Kinh đôLào bị uy hiếp, Nava quyết định xây dựng một cứ điểm mạnh vùng Tây Bắc đểbuộc chủ lực Việt Nam phải bị động đối phó Điện Biên Phủ trở thành nơi lý tởngvì theo chúng, đó là nới quá xa hậu phơng của ta, tiếp tế khó khăn, không sử dụng
đợc pháo binh cơ giới, Việt Nam buộc phải sử dụng lực lợng hạn chế cả về mặtquân sự lẫn phơng tiện chiến tranh Trái lại, quân đội viễn chinh phát huy đợc thếmạnh về khí tài hiện đại, pháo binh, tăng thiết giáp và không quân Đợc Mỹ giúpsức, Bộ chỉ huy Nava dồn sức xây dựng tại Điện Biên Phủ một tập đoàn cứ điểmchiến lợc mạnh nhất Đông Dơng với hệ thống 49 đồn bốt có công sự chìm, lực l-ợng xe tăng thiết giáp và pháo binh hùng hậu tạo thành sức mạnh cơ động cao, đợcmáy bay yểm trợ, tiếp tế hậu cần đầy đủ nhất ở Đông Dơng, với số quân có lúc lên
đến 16.200 lính Cả Pháp và Mỹ đều cho rằng đây là một “pháo đài khổng lồkhông có thể công phá”, một “con nhím” hoàn hảo đợc tổ chức phòng ngự theo môhình hiện đại
Về phía Việt Nam, này 16 tháng 12 năm 1953, sau khi nghe báo cáo củaquân uỷ, Bộ Chính trị đã đi đến quyết định mở chiến dịch quy mô lớn để giảiphóng Điện Biên Phủ nhằm phá hình thức phòng ngự cao nhất của địch, đánh gãyxơng sống của kế hoạch Nava, phá âm mu kéo dài, mở rộng chiến tranh, đẩy đốiphơng vào tình thế thất bại thảm hại hơn, làm vô hiệu hoá một bớc mu đồ can thiệpcủa Mỹ
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị: “Chiến dịch này là một chiến dịch rất quantrọng, không những về quân sự mà cả về chính trị, không những đối với trong nớc
Trang 33mà đối với quốc tế Vì vậy, toàn quân, toàn dân, toàn Đảng phải tập trung hoànthành cho kỳ đợc”[43, 200].
Sau khi hoàn tất các bớc chuẩn bị, ngày 13 tháng 3 năm 1954, Việt Nam nổsúng tiến công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ Đến ngày 17 tháng 3 Việt Namtiêu diệt cứ điểm phòng ngự Him Lam và Độc Lập phân khu phía Bắc, mở màn chochiến dịch công phá Điện Biên Phủ Qua đợt tấn công lần thứ 2 (30/3/1954) thắnglợi, đợt tấn công lần thứ 3 bắt đầu từ ngày 1 tháng 5, và kết thúc vào ngày 7 tháng
5 với thắng lợi vĩ đại: toàn quân và dân Việt Nam đã hoàn toàn giải phóng ĐiệnBiên Phủ, tiêu diệt và bắt sống toàn bộ quân đội đối phơng, buộc chỉ huy tập đoàn
cứ điểm Điện Biên Phủ đầu hàng vô điều kiện
Chiến thắng Điện Biên Phủ “đi vào lịch sử thế giới nh một chiến công chóilọi đột phá thành trì của hệ thống nô dịch thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc” [16,578] “Điện Biên Phủ thất thủ gây nỗi kinh hoàng khủng khiếp Đó là một trongnhững thảm bại lớn nhất của phơng Tây báo trớc sự sụp đổ của các đế quốc thuộc
địa”[16, 578]
Ngay từ trớc khi cha có chiến thắng của Điện Biên Phủ, để tác động mạnhvào nội bộ Pháp và tranh thủ d luận thế giới, khi trả lời báo Expressen Thụy Điển,ngày 26 tháng 11 năm 1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố “Hiện nay nếu thựcdân Pháp tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lợc thì nhân dân Việt Nam quyết tâm tiếptục cuộc chiến tranh ái quốc đến thắng lợi cuối cùng Nhng nếu Chính phủ Pháp đãrút đợc bài học trong cuộc chiến tranh mấy năm nay, muốn đi đến đình chiến ởViệt Nam bằng cách thơng lợng và giải quyết vấn đề Việt Nam theo lối hoà bìnhthì nhân dân và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẵn sàng tiếp ý muốn đó Cơ sở của việc đình chiến ở Việt Nam là Chính phủ Pháp thật thà tôn trọng nền độclập thật sự của nớc Việt Nam” Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nói thêm “Việc thơnglợng đình chiến chủ yếu là một việc giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoàvới Chính phủ Pháp”[8, 138] Trong lời kêu gọi nhân dịp kỷ niệm bảy năm toànquốc kháng chiến, ngày 19 tháng 12 năm 1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữatuyên bố với nhân dân Việt Nam và nhân dân Pháp: “Bởi vì thực dân Pháp cứ tiếp
Trang 34tục cuộc chiến tranh xâm lợc, cho nên nhân dân Việt Nam quyết đánh mạnh hơnnữa, tiêu diệt sinh lực địch nhiều hơn nữa, quyết kháng chiến đến thắng lợi cuốicùng Nhng nếu Chính phủ Pháp muốn đi đến đình chiến ở Việt Nam bằng thơng l-ợng và muốn giải quyết vấn đề Việt Nam theo lối hoà bình, thì nhân dân và Chínhphủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cũng sẵn sàng nói chuyện”[8, 138].
Tuyên bố của Chủ tịch Hồ Chí Minh gây tiếng vang lớn trên thế giới, nhất là
ở Pháp Các đoàn thể và nhiều nhà chính trị Pháp sôi nổi đòi Chính phủ Lanien
đàm phán với Chính phủ Hồ Chí Minh Trớc sức ép của d luận, ngày 12 tháng 12năm 1953, Thủ tớng Lanien phải tuyên bố: “Nếu một giải pháp danh dự xuất hiệntrong khung cảnh địa phơng hoặc trong khung cảnh quốc tế, nớc Pháp sẽ vui lòngchấp nhận một giải pháp ngoại giao cho cuộc xung đột”[8, 138]
Nh vậy, rõ ràng là những thắng lợi về quân sự, chính trị và ngoại giao củanhân dân Việt Nam đã góp phần đa đến việc triệu tập Hội nghị Giơnevơ về ĐôngDơng
Cuối cùng, tại Hội nghị Béclin các nớc lớn thoả thuận và quyết định triệu tậpHội nghị Giơnevơ vào ngày 26 tháng 4 để bàn về vấn đề hoà bình ở Triều Tiên và
Đông Dơng
1.2 Diễn biến của Hội nghị Giơnevơ
1.2.1 Thành phần tham dự Hội nghị Giơnevơ
Hội nghị Giơnevơ về Đông Dơng khai mạc vào ngày 8 tháng 5 năm 1954,
đúng lúc tin chiến thắng Điện Biên Phủ bay tới Giơnevơ Đây thực sự là một tráibom đối với Chính phủ Pháp ngay trớc ngày khai mạc hội nghị, đồng thời nó cũngtạo ra những thuận lợi không nhỏ trên bàn hội nghị đối với ba nớc Đông Dơng
Thành phần tham dự Hội nghị gồm có chín đoàn (do các nớc lớn quyết
định) trong đó có năm nớc lớn (Mỹ, Anh, Pháp, Liên Xô và Cộng hoà Nhân dânTrung Hoa), và 4 bên khác gọi là chính phủ hữu quan (Việt Nam Dân chủ Cộnghoà và 3 chính quyền “liên kết” với Pháp ở Lào, Việt Nam và Campuchia) ấn Độtuy không là thành viên chính thức dự họp , nhng hoạt động rất tích cực bên ngoài
lề hội nghị Trong khi đó, đại diện lực lợng kháng chiến Pathet Lào và Khơme
Trang 35Itsarak tuy đã có mặt ở Giơnevơ cùng đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nhngkhông đợc các đoàn phơng Tây chấp nhận cho tham dự hội nghị cũng nh khôngnhận đợc sự ủng hộ nhiệt tình của Liên Xô và Trung Quốc.
Ngoại trởng Anh Iđơn và Ngoại trởng Liên Xô Môlôtốp đợc cử là đồng Chủtịch của hội nghị
1.2.2 Diễn biến Hội nghị Giơnevơ(8/5/1954 đến 21/7/1954)
Hội nghị Giơnevơ bắt đầu từ ngày 8 tháng 5 và kết thúc ngày 21 tháng 7năm 1954, trải qua 75 ngày thơng lợng, tới 31 phiên họp, trong đó có 7 phiên họptoàn thể và 24 phiên họp hẹp cấp trởng đoàn
Hội nghị diễn ra trong 3 giai đoạn:
Giai đoạn đầu tiên diễn ra từ ngày 8 tháng 5 đến ngày 19 tháng 6 năm 1954,với 6 phiên họp toàn thể và 17 phiên họp hẹp cấp trởng đoàn
Ngoài việc trao đổi chơng trình nghị sự, trong giai đoạn này các bên trìnhbày lập trờng của mình về giải pháp cho các vấn đề Việt Nam và Đông Dơng,trong đó tranh luận nhiều về hai vấn đề: có bàn chung cả hai mặt chính trị và quân
sự, nh Đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đề nghị, hay chỉ bàn mặt quân
sự nh đoàn Pháp đề nghị; có bàn chung vấn đề Việt Nam, Lào, Campuchia “theonguyên tắc, những biện pháp, những bớc đờng giống nhau” [8, 143], nh phái đoànViệt Nam Dân chủ Cộng hoà đề nghị, hay “giải quyết vấn đề riêng của Lào và củaCampuchia”[8, 143], nh đồng Chủ tịch hội nghị Ngoại trởng Anh Iđơn đề xuấttrong bản sơ kết của ông ta sau tháng đàm phán đầu tiên tại hội nghị
Tại cuộc họp, theo chơng trình nghị sự, đoàn Pháp phát biểu trớc Mở đầubài phát biểu, Ngoại trởng Pháp Biđôn đã xúc động thông báo việc tập đoàn cứ
điểm Điện Biên Phủ thất thủ và sau đó Biđôn đề nghị chấp thuận nguyên tắc củamột cuộc tổng ngừng chiến tại Đông Dơng nhằm đảm bảo an ninh cần thiết, đồngthời Pháp đã nêu lên giải pháp năm điểm của Pháp Trong đó, Pháp chỉ đề cập đếnviệc giải quyết vấn đề quân sự và khăng khăng đòi tách vấn đề Lào và Campuchia
ra khỏi vấn đề Việt Nam
Trang 36Ngày 10 tháng 5, Phó Thủ tớng Phạm Văn Đồng đã trình bày lập trờng đàmphán của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trên cơ sở: Hoà bình, độc lập, thống nhất vàdân chủ, đồng thời đề ra giải pháp 8 điểm cho việc chấm dứt chiến tranh, lập lạihoà bình ở Việt Nam và Đông Dơng.
Sau hơn một tháng thơng lợng, xét theo những điểm giống nhau trong đềnghị của các đoàn, các bên tham gia hội nghị đã nhất trí về nguyên tắc một số vấn
đề sau: Ngừng bắn hoàn toàn, cùng một lúc trên toàn Đông Dơng; Cần thơng lợng
về việc điều chỉnh các vùng chiếm đóng cho thích hợp; Cùng một lúc với việcngừng bắn, đình chỉ việc đa quân đội và trang bị quân sự mới vào Đông Dơng; Các
uỷ ban liên hợp gồm đại diện bộ t lệnh hai bên tham chiến đảm trách việc thi hànhhiệp định ngừng bắn; Kiểm soát quốc tế gồm các nớc trung lập (hiểu theo nghĩa làkhông dính líu vào chiến tranh Đông Dơng), nhng cha nhất trí về thành phần;những nớc tham gia hội nghị bảo đảm thi hành hiệp định; Thả tù binh quân sự vàthờng dân bị bắt trong chiến tranh; Từ các phiên họp toàn thể ngày 18 và 19 tháng
5 trở đi, cách thức giải quyết vấn đề Lào và Campuchia trong mối liên hệ nh thếnào với vấn đề Việt Nam dần dần đợc đặt vào trung tâm các cuộc thảo luận giữachín đoàn đại biểu Các đoàn phơng Tây đòi thơng lợng giải quyết riêng từng vấn
đề Việt Nam, Lào và Campuchia
Ngoài ra, theo thoả thuận giữa các đoàn trong phiên họp ngày 29 tháng 5 vềthành lập cơ chế để bàn các vấn đề quân sự và đình chiến ở Việt Nam, các đại biểuquân sự Việt Nam và Pháp đã tiến hành các cuộc thảo luận riêng tại Giơnevơ và tạiViệt Nam
Sau thất bại của cuộc thơng lợng về vấn đề Triều Tiên, để tránh cho cuộc
đàm phán về Đông Dơng bị tan vỡ, ngày 16 tháng 6, Trởng đoàn Trung Quốc, Thủtớng Chu Ân Lai đã gặp Trởng đoàn Anh cho biết Trung Quốc có thể công nhậntính hợp pháp của các chính phủ Vơng quốc Lào và Campuchia khi nào TrungQuốc đợc đảm bảo rằng không một căn cứ quân sự nào của Mỹ đợc xây dựng tạihai nớc này Các đoàn đại biểu xã hội chủ nghĩa đã quyết định tách riêng vấn đề
Trang 37Lào và Campuchia để thúc đẩy cuộc thơng lợng về vấn đề Đông Dơng, nhằmchống lại âm mu phá hoại hội nghị của Mỹ.
Trong những cuộc hội đàm giữa các Trởng đoàn Pháp, Anh và Trung Quốcngày 17 tháng 6, đã đề cập tơng lai chính trị của Lào và Campuchia, việc côngnhận khu tập kết của bộ đội Pathét Lào ở gần biên giới Việt Nam và Trung Quốc,những nguyên tắc rút quân đội nớc ngoài, trong đó có quân đội tình nguyện ViệtNam khỏi hai nớc
Tại Pari, sự kiện đáng chú ý trong thời kỳ này là việc Chính phủ Lanien bịlật đổ (12 tháng 6 năm 1954) và Măng đét Phơ-răng lên thay (14 tháng 6 năm1954) Với việc thay đổi chính phủ ở Pháp, phần lớn các trởng đoàn về nớc trao đổi
ý kiến với chính phủ nớc mình
Trớc khi rời Giơnevơ, các trởng đoàn đã thoả thuận xong về nguyên tắc sẽthơng lợng những hiệp định riêng biệt cho mỗi nớc Đông Dơng Tại hai cuộc họphẹp ngày 18 và 19 tháng 6, các đoàn đã thảo luận văn kiện thoả hiệp do đoàn Pháp
đợc giao dự thảo và nhất trí các cuộc đàm phán về quân sự liên quan đến Lào vàCampuchia sẽ đợc tổ chức nh đã tiến hành về vấn đề đình chiến ở Việt Nam từngày 29 tháng 5
Đoàn Mỹ không chấp nhận đề nghị của Trung Quốc về Lào và Campuchia,nhng ý kiến của đoàn Mỹ bị cô lập Đến thời điểm này, tình hình đã rõ ràng: Hộinghị có thể tiếp tục công việc để đạt đến một hiệp định đình chiến ở Đông Dơngngay cả trong trờng hợp Hoa Kỳ từ chối tham gia vào quá trình đó
Giai đoạn hai là thời kỳ các trởng đoàn về nớc báo cáo và trao đổi hành lang.Bắt đầu từ ngày 20 tháng 6 đến ngày 9 tháng 7 năm 1954, Hội nghị chỉ làm việc ởcấp chuyên viên và đạt đợc kết quả kỹ thuật về vấn đề thơng binh ở Điện Biên Phủ
Trong giai đoạn này, thông qua thơng lợng và mặc cả gay go bên ngoài diễn
đàn, Hội nghị đã tạo cơ sở chung của hai phía cho việc tiến đến thoả hiệp cuốicùng Nổi lên điều đáng ghi nhận của giai đoạn này là Mỹ tỏ ra bất bình với Pháptrong việc thực thi 7 điều kiện thoả hiệp của Mỹ, Anh đã đa ra cho Pháp
Trang 38Ngày 10 tháng 7, trong th gửi Thủ tớng Pháp, Ngoại trởng Mỹ Đalét chorằng: trên thực tế Pháp đã có những thoả hiệp đi chệch khỏi 7 điểm: sẵn sàng chấpnhận Pathét Lào có vùng tập kết ở Bắc Lào, chấp nhận đờng phân giới ở khá xa
Đồng Hới, chấp nhận trung lập hoá và phi quân sự hoá ở Lào Và Campuchia, chophép tổ chức tuyển cử sớm [8, 233] Đứng trớc khả năng buộc phái đoàn Pháp phảithoả hiệp sớm trớc sức ép của các đoàn xã hội chủ nghĩa, Đalét cho biết Ngoại tr-ởng Mỹ và Thứ trởng Ngoại giao Mỹ sẽ không trở lại Giơnevơ, vì không muốnràng buộc vào một giải pháp mà những nhợng bộ của nó sẽ “vi phạm một sốnguyên tắc mà Hoa Kỳ muốn bảo vệ” Kết quả những cuộc mặc cả qua con đờngngoại giao giữa Oasinhtơn và Pari đã dẫn đến việc ngày 14 tháng 7, tại Pari, Thủ t-ớng Pháp và Ngoại trởng Mỹ ký một văn bản thoả thuận việc Pháp tán thành bảy
điều kiện về một giải pháp và Đalét cũng đã đa cho M.Phơ-răng dự thảo một Hiệp
định phòng thủ tập thể Đông Nam á Đó là cái giá Đalét bắt Anh, Pháp phải trả để
Mỹ cử đại diện tới dự phiên họp cuối cùng (bởi lúc này, Mỹ nhất định không tham
dự phiên kết thúc Hội nghị và Mỹ không muốn dính líu vào mọi sự cam kết).Ngoại trởng Mỹ đã thông báo sẽ cử Thứ trởng Ngoại giao B.Smít trở lại Hội nghịGiơnevơ cầm đầu phái đoàn Mỹ
Ngoài ra tại Giơnevơ, diễn đàn về những vấn đề quân sự Việt – Pháp cũngthu đợc một số kết quả khiêm tốn nh: đến cuối tháng 6 đề cập thể thức kiểm soátngừng bắn và đầu tháng 7 bàn về vấn đề rút quân đội Liên hiệp Pháp khỏi các vùng
sẽ trao cho Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, trong đó Việt Nam đề nghị hoàn thànhtrong thời hạn 90 ngày, Pháp đề nghị 380 ngày; vấn đề thời hạn tổng tuyển cử; sựbảo đảm của các nớc tham gia hội nghị đối với hiệp định; đa các huấn luyện viên
và thiết bị quân sự vào Lào và Campuchia
Giai đoạn ba, bắt đầu từ ngày 10 tháng 7 đến ngày 20 tháng 7 năm 1954
Đây là thời kỳ đấu tranh gay go nhất, quyết định nhất của cuộc đàm phán, tậptrung vào những vấn đề trọng yếu nh phân vùng tập kết, giới tuyến quân sự tạmthời, rút quân đội nớc ngoài ra khỏi Đông Dơng, thời hạn tổng tuyển cử, vấn đề
đình chiến ở Lào và Campuchia
Trang 39Nổi bật trong các cuộc đàm phán đa phơng hoặc tay đôi để tháo gỡ nhữngvấn đề bế tắc là các cuộc gặp gỡ, thảo luận giữa Phó Thủ tớng Phạm Văn Đồng vàThủ tớng Pháp Măng đét Phơ-răng vào ngày 13, 16 và 19 tháng 7.
Qua 10 ngày đấu tranh, mặc cả gay go ở các diễn đàn khác nhau, những vấn
đề then chốt, gay cấn đợc tháo gỡ bằng những thoả hiệp của cả hai phía
Vấn đề phức tạp và quan trọng hàng đầu mà hai bên đều quan tâm là vấn đềphân vùng, định ranh giới tạm thời cho hai phía ở Việt Nam Trong thời kỳ này,Liên Xô, Trung Quốc và Việt Nam buộc đối phơng phải từ bỏ phơng án chia vùngtập kết quân theo kinh tuyến Đông - Tây, đồng thời cũng buộc quân viễn chinhphải đồng thời đình chỉ chiến sự và rút quân khỏi Lào và Campuchia
Đối phơng phải nhợng bộ vì tình hình chiến trờng Điện Biên Phủ, nhất làchiến trờng phía Bắc ngày càng xấu hơn với quân viễn chinh Chúng buộc phải rútkhỏi thành phố Nam Định và nhiều vị trí quan trọng ở đồng bằng Bắc Bộ Hơn nữa,thời hạn cam kết trong 30 ngày đem lại hoà bình cho cuộc Chiến tranh Đông Dơngcủa Thủ tớng Măng đét Phơ-răng sắp hết
Qua 10 ngày đấu tranh, các văn kiện về chấm dứt chiến tranh lập lại hoàbình ở Đông Dơng đạt đợc thoả thuận cuối cùng
Rạng sáng ngày 21 tháng 7, ba hiệp định về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam,Lào và Campuchia đợc ký kết
Vào 15 giờ ngày 21 tháng 7 năm 1954, phiên họp toàn thể cuối cùng củaHội nghị đợc triệu tập Trong phiên họp này, lời tuyên bố cuối cùng của Hội nghịGiơnevơ đợc toàn thể Hội nghị thông qua
1.2.3.Kết quả của Hội nghị Giơnevơ
Hội nghị Giơnevơ kết thúc với kết quả đạt đợc là Hiệp định Giơnevơ đợc kýkết bao gồm các văn bản với những nội dung chủ yếu sau đây:
Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam có sáu chơng với 47 điều khoản, cácchơng gồm các vấn đề lớn:
Giới tuyến quân sự tạm thời và khu phi quân sự, gồm chín điều khoản, trong
đó quy định việc quân đội nhân dân Việt Nam tập kết phía Bắc, quân đội Liên hiệp
Trang 40Pháp ở phía Nam giới tuyến, với một khu phi quân sự; thời hạn di chuyển hoàntoàn lực lợng hai bên không vợt quá 300 ngày.
Nguyên tắc và cách thức thi hành hiệp định, gồm sáu điều khoản, trong đótheo nguyên tắc ngừng bắn trên toàn cõi Đông Dơng, sự đình chỉ chiến sự phải
đồng thời trên toàn cõi Việt Nam
Cấm đa thêm quân đội, nhân viên quân sự, vũ khí đạn dợc mới, căn cứ quân
sự, gồm năm điều khoản trong đó cấm không dợc đa thêm vào Việt Nam quân đội
và nhân viên quân sự, vũ khí, dụng cụ chiến tranh, tuy nhiên cho phép thay thếngang cấp, một thay một; cấm không đợc lập căn cứ quân sự mới, cấm không đợclập căn cứ quân sự ngoại quốc
Tù binh và thờng dân bị giam giữ, gồm một điều khoản, quy định tất cả tùbinh và thờng dân Việt, Pháp hoặc quốc tịch khác bị giam giữ từ đầu chiến tranh sẽ
đợc tha trong vòng 30 ngày
Mục linh tinh, gồm sáu điều khoản, trong đó quy định t lệnh hai bên trừngphạt những ngời thuộc quyền mình làm trái điều khoản hiệp định; cho phép cácchuyên viên liên quan vào trong vùng của phía bên kia lấy thi hài của quân nhânhoặc tù binh chết
Ban liên hợp và Ban quốc tế ở Việt Nam, gồm 17 điều khoản, trong đó quy
định thành lập một Ban liên hợp; thành lập một Ban quốc tế giám sát và kiểm soátthực hiện hiệp định
Văn bản đợc coi là quan trọng nhất thể hiện sự nhất trí cao của các Đoàntham gia Hội nghị là “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Giơnevơ”, bao gồm 13