Tôi chọn “ Kinh tế Nghệ An trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp từ năm 1946 - 1954” làm đề tài luận văn tốt nghiệp nhằm làm rõ thêm nền kinh tế của tỉnh nhà trong thời kỳ này, r
Trang 1Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Hồ Thị Thúy Nga
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lịch sử Việt Nam gắn liền với những cuộc đấu tranh kiên cườngbất khuất của nhân dân ta nhằm giành lại độc lập cho dân tộc Xuấtphát từ truyền thống đấu tranh kiên cường bất khuất nhưng cũng đầykhó khăn gian khổ, dân tộc ta đã liên tiếp giành thắng lợi trước nhữngbọn xâm lược hung bạo Đặc biệt là thắng lợi của hai cuộc khángchiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã chấm dứt hoàn toàn ách
đô hộ của chủ nghĩa thực dân cũ và mới
Để đưa cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi cuối cùng, Đảng ta đãthực hiện phương châm: “Kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài,dựa vào sức mình là chính” và khí thế “mỗi làng xóm là một pháo đài,mỗi người dân là một chiến sĩ” đánh giặc ở khắp mọi nơi, mọi chỗ,mọi lĩnh vực đồng thời ra sức cũng cố hậu phương, xây dựng vùng tư
do kháng chiến, căn cứ địa cách mạng; đồng thời Đảng, Nhà nướccũng không ngừng xây dựng mở rộng mặt trận đoàn kết để tất cảnhững người Việt Nam yêu nước tham gia các đoàn thể “cứu quốc”,tạo sức mạnh tổng hợp nhằm làm cô lập suy yếu kẻ thù Một trongnhững yếu tố quan trọng đưa cách mạng Viêt Nam đi đến thắng lợi
“trước hết và trên hết là những chiến thắng về tổ chức và tiếp tế”[21;192] Nói như vậy để khẳng định rằng việc xây dựng tổ chức, sảnxuất kinh tế ở hậu phương là vô cùng quan trọng, quyết định đếnthắng lợi của cách mạng Việt Nam Nghệ An là một tỉnh có diện tíchrộng chiếm khoảng 5% diện tích cả nước, tuy nhiên nền kinh tế cònnhiều lạc hậu lại thường xuyên bị thiên tai lũ lụt và sự phá hoại củabọn thực dân nhưng với truyền thống yêu nước từ xa xưa đã thấm vào
Trang 3máu của những con người Xứ Nghệ, Nghệ An đã trở thành hậu phươngcực kỳ quan trọng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Làhậu phương trực tiếp chi viện cho chiến trường Lào và các chiếntrường khác trong cả nước Để đảm nhiệm vừa là vùng tự do vừa làmtròn nghĩa vụ hậu phương, nhân dân Nghệ An đã ra sức phát triển kinh
tế, củng cố an ninh quốc phòng Trên thực tế, kinh tế Nghệ An khángchiến chống thực dân Pháp đã đạt được nhiều thành tựu, chẳng nhữngđảm bảo sự ổn định của kinh tế - xã hội của địa phương mà còn thựchiện tốt nghĩa vụ hậu phương, đóng góp một phần quan trọng cùng cảdân tộc đi đến thắng lợi Nghiên cứu kinh tế Nghệ An trở thành một
đề tài có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc Tôi chọn “ Kinh tế Nghệ An trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp từ năm
1946 - 1954” làm đề tài luận văn tốt nghiệp nhằm làm rõ thêm nền
kinh tế của tỉnh nhà trong thời kỳ này, rút ra những bài học kinhnghiệm làm rõ thêm nền kinh tế của tỉnh nhà nhằm khơi dậy tiềm năngcủa con người và vùng đất Xứ Nghệ; bổ sung một phần nhỏ bé vào cáccông trình nghiên cứu về lịch sử Nghệ An nói riêng và lịch sử dân tộcnói chung
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Từ trước tới nay, vấn đề kinh tế Nghệ An từ năm 1946 - 1954 đãđược quan tâm và đề cập trong các công trình nghiên cứu về Nghệ Annhư:
“Lịch sửu Đảng bộ Nghệ An (1930 - 1954)” tập một , (NXB
chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 1998) Phản ánh về phong trào Cáchmạng Nghệ An trước và sau khi thành lập Đảng và sự lãnh đạo củaĐảng bộ Nghệ An trong công cuộc chống đế quốc, phong kiến và kiếnthiết xây dựng Nghệ An
Trang 4“Nghệ An - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)” của BCH quân sự tỉnh Nghệ An, năm 1997, tập trung
viết về địa bàn chiến lược, truyền thống yêu nước, xây dựng chế độmới, bảo vệ chính quyền cách mạng chuẩn bị cho cuộc kháng chiếnchống Pháp; phối hợp với các chiến trường để chiến đấu, bảo vệ vàxây dựng củng cố hậu phương, dốc sức cho chiến trường, cùng với cảnước đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đi đến thắng lợi
“Nghệ Tĩnh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1954”, ( BCH quân sự Nghệ Tĩnh 1998, NXB Nghệ Tĩnh, sơ thảo) nói
1945-về vị trí chiến lược, truyền thống đấu tranh, quá trình xây dựng lựclượng chuẩn bị cho kháng chiến, xây dựng củng cố hậu phương chiviện cho các chiến trường và làm nghĩa vụ quốc tế
“Vùng trời tự do Thanh Nghệ Tĩnh trong kháng chiến chống Pháp 1945-1954” ( Ngô Đăng Trí, NXB chính trị quốc gia), phản ánh
những đóng góp của Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh cho các chiếntrường Bình - Trị - Thiên, Trung Lào, Hạ Lào, Điện Biên Phủ trongkháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
“Lịch sử công nghiệp Nghệ An 1945-1995”, (Sở công nghiệp
Nghệ An, NXB Hà Nội) viết về quá trình phát triển của công nghiệpNghệ An trước và sau cách mạng Tháng Tám, vai trò của công nghiệptrong kháng chiến chống Pháp
Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu về lịch sử Nghệ
An chung như: Lịch sử Nghệ Tĩnh (NXB Nghệ Tĩnh năm 1984); Lịch
sử Đảng bộ Nghệ Tĩnh, các tác phẩm viết về văn hóa địa chí Nghệ An.Các công trình nói trên được đề cập, một khía cạnh, một bộ phận củatiến trình lịch sử mà chưa trở thành một đối tượng độc lập chuyên sâu
Trang 5về lịch sử kinh tế Hầu hết các tác phẩm này đề cập đến vấn đề kinh tếNghệ Tĩnh như một tiền đề và cơ sở để nghiên cứu các vấn đề khác.
Nhìn chung các công trình đã công bố chỉ đề cập đến kinh tếNghệ An từ những góc độ chuyên môn khác nhau, không toàn diện vàthiếu tính hệ thống Trên cơ sở kế thừa các công trình trước cả về tưliệu lẫn phương pháp tiếp cận, chúng tôi đã khái quát về kinh tế Nghệ
An thời kỳ chống thực dân pháp một cách đầy đủ và hệ thống hơn
3 Đối tượng nhiệm vụ của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài “Kinh tế Nghệ An trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954)” trên cơ sở nguồn tư liệu đã
tìm được Luận văn của tôi đã trình bày một cách hệ thống về nền kinh
tế Nghệ An trong giai đoạn chống thực dân Pháp 1946 - 1954, để thấy
rõ hơn những chuyển biến của kinh tế Nghệ An trong giai đoạn khángchiến và tác động của sự nghiệp kháng chiến đến nền kinh tế tỉnh nhà
Để đáp ứng nhu cầu tại chỗ và chi viện cho chiến trường, hàng loạtcác ngành nghề kinh tế ở Nghệ An đã góp phần cung cấp một lượnglớn cho nhân dân và các chiến trường
Nhiệm vụ giải quyết:
Kinh tế Nghệ An trước năm 1945
Các ngành kinh tế Nghệ An trong cuộc kháng chiến chống thựcdân Pháp (tình hình phát triển, năng lực sản xuất,… )
Mục đích và vai trò của các ngành kinh tế Nghệ An trên phươngdiện đời sống xã hội tại chỗ và cuộc kháng chiến của dân tộc
Từ thực tế nền kinh tế 1946-1954, luận văn rút ra ý nghĩa, bàihọc để áp dụng vào công cuộc xây dựng bảo vệ đất nước ngày nay
Trang 64 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành khóa luận này, tôi đã sử dụng các nguồn tư liệusau: Các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, các Nghị quyết củaTỉnh ủy Nghệ An, các sách lịch sử Việt Nam, tỉnh Nghệ An, lịch sửquân sự Quân khu IV, các luận án, các tiểu luận có liên quan tới đềtài, các tài liệu liên quan đến truyền thống văn hóa - kinh tế Nghệ An
Để thực hiện đề tài, chúng tôi đã sử dụng các phương phápnghiên cứu khoa học trong đó nổi bật là hai phương pháp cơ bản:phương pháp lịch sử và lôgic ngoài ra còn sử dụng tư liệu chính xácđảm bảo tính khoa học của quá trình phân tích, tổng hợp nhằm trìnhbày một cách có hệ thống sự phát triển, tác động và vai trò của nềnkinh tế Nghệ An trong giai đoạn 1946 - 1954
5 Bố cục của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung củaluận văn được trình bày trong ba chương
Chương 1 Khái quát chung về nền kinh tế Nghệ An thời Pháp
Trang 7CHƯƠNG I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NỀN KINH TẾ NGHỆ AN THỜI PHÁP
THUỘC (1885 -1945)
1.1 Điều kiện tự nhiên và dân cư
1.1.1 Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên
* Điều kiện tự nhiên
Địa hình: diện tích tự nhiên có 16.487,39 km chiếm khoảng 5%
diện tích cả nước Với địa hình đa dạng và phức tạp bị chia cắt mạnh,
ở vùng đồng bằng vừa có núi cao, vừa có đồng bằng và ven biển
Đồi núi: địa hình núi cao chiếm 83% diện tích đất tự nhiên của
núi như (Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông,… ), phía Tây Nam làdãy núi Trường Sơn chạy dài theo biên giới Việt - Lào theo hướngTây Bắc - Đông Nam làm cho địa hình bị chia cắt phức tạp và hiểmtrợ
Đồng bằng: được tạo nên do sự bồi đắp của các con sông: Sông
Lam, Sông Hoàng Mai, Sông Cấm,… ở đây có một số đồng bằng rộng
Trang 8lớn do có sự bồi đắp của phù sa từ các vùng cao đổ xuống như: YênThành, Đô Lương, Nam Đàn.
Sông ngòi: đặc điểm của sông ngòi ngắn và hẹp chỉ có Sông Lam
là chủ yếu Sông suối Nghệ An có giá trị lớn về kinh tế - xã hội, đó lànguồn cung cấp nước chủ yếu cho nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản vàsinh hoạt hàng ngày cho nhân dân Là tuyến giao thông đường thủytiện lợi, là nguồn thủy năng để phát triển thủy điện
Rừng: phong phú và đa dạng, theo số liệu năm 2003 Nghệ An có
720,13 nghìn ha rừng đứng thứ hai toàn quốc, độ che phủ 43,6%.Rừng có nhiều loại gỗ quý như: Đinh Hương, Lim, Sến, Táu,… có giátrị kinh tế cao Trữ lượng có khoảng 51 triệu m3 và 1,1 tỉ cây nứa mét.Động vật rừng đa dạng và phong phú với nhiều loại thú lớn như: Voi,
Hổ, Gấu, Nai,…
Tài nguyên biển: Nghệ An có bờ biển dài 92 km rộng 4229 hải lý
vuông (1 hải lý là 16 km) Với nhiều loại sinh vật biển và động vậtbiển phong phú với khoảng 200 trăm loại tạo và 190 loài động vật nổi,
300 trăm loài động vật đáy, 207 loài cá,… ngoài ra biển Nghệ An còn
có vai trò lớn là nguồn cung cấp cá, muối cho nhân dân Mặt khác, đócũng là nguồn tài nguyên có giá trị phát triển các ngành kinh tế biểnđảm bảo đời sống cho nhân dân và nhu cầu xuất khẩu
Khoáng sản với trữ lượng phong phú: Sắt, Thiếc, Vàng, các loại
đá, đất sét, đặc biệt là nguồn đá vôi thuận lợi cho phát triển các ngànhkhai khoáng, luyện kim và xây dựng (Thiếc ở Quỳ Hợp, Mangan ởHưng Nguyên, Ti tan ở Cửa Hội)
Tài nguyên nước: phong phú và đa dạng bao gồm nước trên mặt
và nguồn nước ngầm là nguồn nước quan trọng trong sản xuất nông
Trang 9nghiệp và các ngành kinh tế Trữ lượng nước khoảng 2 tỉ triệu m3
(lượng nước trên mặt)
Tài nguyên đất: đất nông nghiệp chiếm 12,38% diện tích đất tự
nhiên, về cơ bản đất được chia làm hai loại: đất thủy thành và đất địathành
Hệ thống giao thông đa dạng: đường bộ, đường sắt, đường sông,
đường biển, đường hàng không là một phần của cơ sở hạ tầng, có vịtrí, vai trò lớn đối với nền kinh tế - xã hội cũng như quốc phòng anninh của tỉnh nói riêng của cả nước nói chung
Về khí hậu: Nghệ An nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa ẩm
trong phạm vi của khí hậu Việt Nam Hàng năm Nghệ An nhận đượcbức xạ mặt trời với tổng bức xạ khoảng 131,8 kcal/cm2/năm và cáncân bức xạ khoảng 87,3 kcal/cm2/năm (tại trạm Vinh) Tổng nhiệt độtrong năm khoảng 8.500oc Số giờ nắng trung bình năm đạt khoảng
1500 đến 1700 giờ Nhiêt độ trung bình năm ở vùng núi là 23,50c còn
ở đồng bằng duyên hải là 23,90c
Với đặc thù đó nên Nghệ An không những là nơi ảnh hưởngmạnh mẽ của gió mùa Đông Bắc, ít mưa và còn hứng chịu những trậngió Lào (gió Phơn Tây Nam) khô và nóng kéo dài có lúc nhiệt độ lêntới 39 - 400C Khoảng giữa tháng 7 đến tháng 10 thường có bão vàmưa lớn gây ra lũ lụt và ngập úng Nhìn chung khí hậu Nghệ An khắcnghiệt hơn nhiều vùng khác trong cả nước, với điều kiện khó khănhơn là thuận lợi Đó cũng là một trong những nhân tố tạo nên tínhcách con người Xứ Nghệ
1.1.2 Dân cư
Các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học đã đưa kết luận:trên đất Nghệ An đã có người vượn cư trú cách ngày nay khoảng 20
Trang 10vạn năm cùng với quá trình lao động và tiến trình của lịch sử, cư dânNghệ An ngày càng phát triển tới hàng triệu người với hàng trăm họtộc có nguồn gốc bản địa hoặc từ nơi khác đến Hiện nay dân số Nghệ
An có khoảng 3.014.850 người (31/12/2004) gồm nhiều họ tộc sinhsống, trên lãnh thổ Nghệ An có nhiếu dân tộc chung sống: Kinh, Thái,Thổ, Mông, Khơ Mú,… dân cư Nghệ An theo phân loại của các nhàdân tộc học Việt Nam 6 tộc người cư trú thuộc 4 nhóm ngôn ngữ: tộcngười Việt - Mường - Thổ thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường; tộcngười Thái thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái; tộc người Khơ Mú và
Ơ du thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me; tộc người Mông thuộcnhóm ngôn ngữ Mèo - Dao Trong đó đông nhất là người Kinh Do đặcthù về vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên như thế, nên để tồn tại vàphát triển con người nơi đây phải vượt lên tất cả những khó khăn,khắc nghiệt đó Chính trong quá trình ấy đã hình thành nên nét đẹp vàcùng với lịch sử những nét đẹp ấy được bồi đắp mãi trở thành truyềnthống tốt đẹp
1.2 Tình hình kinh tế Nghệ An thời Pháp thuộc (1885 - 1945)
Ngày 1 tháng 9 năm 1858, Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam,triều đình nhà Nguyễn do dự đã lùi hết bước này đến bước khác để rồiđến ngày 6 tháng 6 năm 1884 kí với Pháp hòa ước Pa - tơ - nốt, hiệpước này đã biến nước ta thành nước phụ thuộc Pháp cùng với đó làcác quyền hành về kinh tế và quân sự đều do Pháp nắm giữ Khi thựcdân Pháp đánh Bắc Kỳ lần thứ nhất (1873) rồi lần thứ hai (1882) vàchiếm luôn Bắc Kỳ, đất nước bước vào tình hình hỗn loạn nghiêmtrọng hơn bao giờ hết phong trào kháng chiến chống cả triều đình lẫnthực dân Pháp nổ ra mạnh mẽ, trên địa bàn Nghệ An vào thời điểmlịch sử đó cũng dấy lên nhiều cuộc đấu tranh nhằm chống lại triều
Trang 11đình và thực dân Pháp, cho đến khi Pháp chiếm thành Nghệ An(20/7/1885), thiết lập bộ máy cai trị ở đây và công cuộc khai thácthuộc địa của thực dân Pháp đẩy mạnh sau chiến tranh thế giới thứnhất thì nền kinh tế Nghệ An có nhiều biến chuyển mới.
1.2.1 Nông nghiệp
Cho đến khi Pháp chiếm thành Nghệ An (20/7/1885) kinh tếTrung Kỳ nói chung, Nghệ An nói riêng vẫn là nền kinh tế nôngnghiệp tiểu nông mang tính tự cung tự cấp lỗi thời lạc hậu Làng xã làđịa bàn cư trú của đại bộ phận dân chúng Tuy nhiên, nền nông nghiệpNghệ An có những nét chung cơ bản sau Nông dân làng xã sống bằngnghề nông truyền thống theo quy luật: “chồng cày vợ cấy - con trâu đibừa”, nhưng đáng nói là đại bộ phận nông dân làng xã cày ruộng thuêcho địa chủ, tư liệu sản xuất chủ yếu nằm trong tay địa chủ, ngườigiàu có
Nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, yếu tố khoa học kỹthuật chưa được can thiệp vào sản xuất
Tuy nhiên, bức tranh kinh tế nông nghiệp Nghệ An đến trướcchiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ và kết thúc (1914 - 1918) xét vềphương thức canh tác trồng trọt chăn nuôi, nông cụ, giống vật nuôicây trồng chưa mấy thay đổi
Từ cuối thế kỉ XIX, kinh tế đồn điền đã bắt đầu phát triển ởNghệ An Ngày 29/7/1887 chính quyền thực dân pháp ép vua ThànhThái ra dụ thừa nhận quyền sử dụng đất đai của người Pháp chiếmđược ở Trung Kỳ dưới mọi hình thức Phòng thương mại Hà Nội,phòng canh nông Bắc Kỳ và Trung Kỳ lập cơ quan đại diện ở Vinh rasức hoạt động tạo điều kiện cho các nhà tư sản Pháp và Việt cướpđoạt ruộng đất và đồi núi lập các đồn điền
Trang 12Từ năm 1919 - 1939, các điền chủ người Pháp và người Việt đãmạnh dạn bỏ vốn lập ra một hệ thống đồn điền hầu khắp các huyệntrên địa bàn tỉnh Nghệ An đáng kể là đồn điền Sapainhe, Pau Hugon,
Kí Viễn ở Hạnh Lâm (Thanh Chương), đồn điền của anh em nhà LeJeune, đồn điền của Emileur, Chavanon ở Quỳnh Lưu, đồn điền của
Bá Hộ Cầu (Hưng Nguyên),…
Cho đến năm 1943 của thế kỉ XX, Nghệ An có khoảng 70 đồnđiền diện chiếm 1/6 diện tích đất nông nghiệp toàn tỉnh(26.085ha/140.000ha)
Phần lớn đồn điền trồng các loại cây công nghiệp như cà phê cao
su, hồ tiêu và sản phẩm được xuất khẩu đi nhiều thị trường trên thếgiới
Về chăn nuôi gia súc, gia cầm ở nghệ An cũng không có bướcchuyển biến, phần lớn trâu bò tập trung vào tay địa chủ phú nông vàtrung nông, mặt khác việc chăn nuôi gia cầm chủ yếu phục vụ cho nhucầu gia đình, chưa trở thành sản phẩm hàng hóa trên thị trường Việcnuôi trồng thủy hải sản chưa trở thành thói quen đối với người dân, cóchăng một số địa chủ, phú nông, trung nông cho đào một vài hồ ao thả
cá cuối năm thu hoạch, cung cấp phục vụ nhu cầu tại gia
Từ năm 1939, khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ tình hìnhViệt Nam nói chung và Nghệ An nói riêng chịu nhiều biến đổi về kinh
tế - xã hội, kéo theo nông nghiệp cũng ít nhiều thay đổi, tuy vậynhững thay đổi ấy chưa đủ làm cơ sở thay đổi cuộc đời của đại bộphận nông dân không có ruộng đất và tư liệu sản xuất mà còn phảichịu biết bao nhiêu thứ thuế khóa, phu phen tạp dịch do chính quyềnthực dân phong kiến đề ra Những đầu tư của chính quyền thực dânvào việc dẫn thủy nhập điền chống lũ lụt từ những năm 30 trở đi tuy
Trang 13có làm thay đổi ít nhiều diện mạo của kinh tế nông nghiệp ở đồngbằng chứ không làm thay đổi toàn bộ nền kinh tế nông nghiệp tạiđây,
Tóm lại, nền kinh tế nông nghiệp Nghệ An kể từ khi thực dânPháp xâm lược vẫn là nền kinh tế tiểu nông truyền thống lỗi thời vàlạc hậu với hai ngành chính là trồng trọt và chăn nuôi Ruộng đất, tưliệu sản xuất nằm trong tay địa chủ phong kiến, phú, trung nông làchủ yếu, nông dân phần lớn là không có ruộng đất hoặc nếu có thìcũng không đáng kể, trâu bò, nông cụ Quan hệ bóc lột kiểu phát canhthu tô truyền thống vẫn tiếp tục tồn tại một cách phổ biến ở các làng
xã Ở các vùng miền núi phía Tây nơi sinh sống của các đồng bào dântộc thiểu số, thì việc canh tác nông nghiệp lại càng trở nên lạc hậuhơn bao giờ hết, sản xuất nông nghiệp chủ yếu theo phương thức phátnương làm rẫy, phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, do vậy năng suất vàchất lượng cây trồng không cao, đời sống nhân dân không ổn định
Có thể khẳng định rằng nền kinh tế tiểu nông đã bám chặt vàonếp sống và suy nghĩ của mỗi con người Xứ Nghệ, đây cũng là nguyênnhân gây nên tình trạng chậm phát triển của ngành nông nghiệp Nghệ
An, mặc dù thực tế có thể thấy rằng người Pháp cũng đã can thiệp vàonông nghiệp (xây dựng các công trình thủy lợi tưới tiêu, các côngtrình ngăn lũ lụt ở dọc tả ngạn sông Lam,…) Nghệ An
Cũng với quan hệ sản xuất phong kiến tồn tại lâu đời trong nềnkinh tế nông nghiệp Nghệ An mà mâu thuẫn truyền kiếp giữa nôngdân và địa chủ ở mọi lúc mọi nơi đều âm ỉ cháy, rồi theo đó lại là sựcan thiệp của thực dân Pháp khiến cho những mâu thuẫn xã hội ngàycàng chồng chất, và chỉ chờ có điều kiện là nó bùng phát thiêu trụinhững tàn tích của sự bóc lột
Trang 141.2.3 Công nghiệp
1.2.3.1 Ngành cơ khí sửa chữa đầu máy toa xe và vận tải đường sắt
Ngày 27 tháng 12 năm 1896, Chính phủ Pháp quyết định bổnhiệm cựu bộ trưởng tài chính Pon-Dume, sang giữ chức toàn quyềnĐông Dương, đồng thời xây dựng một dự án, chương trình hành độngnhằm chuẩn bị cho công cuộc khai thác thuộc địa với quy mô lớn ởđây (xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông thủy lợi, đào tạo đội ngũ côngnhân kĩ thuật, phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa của chúng)
Trên địa bàn Nghệ An, ngay sau khi dập tắt phong trào CầnVương (1896) các ông chủ người Pháp đã bắt đầu thực hiện quá trìnhđầu tư tư bản vào Vinh, Bến Thủy, Trường Thi Vinh được coi làtrung tâm đầu mối giao thông vận tải thủy bộ, hàng không quy môlớn, tập trung ở Bắc Kỳ, tiếp đó người Pháp cho xây dựng nhà máysửa chữa đầu máy xe lửa lớn nhất Đông Dương tại Trường Thi (diệntích 10ha), cùng với việc xây dựng các tuyến đường sắt, trong thờigian này việc xây dựng các tuyến đường bộ nối Vinh - Bến Thủy,Vinh - Phủ Quỳ, việc xây dựng sân bay Vinh phục vụ cho mục đíchvận tải, quân sự cũng được gấp rút triển khai
Ngày 17 tháng 3 năm 1905, tuyến đường sắt Hà Nội - Bến Thủydài 326km chính thức được đưa vào sử dụng khai thác Nhà máy sửachữa đầu máy toa xe Trường Thi, Đề Pô xe lửa Vinh trở thành ngànhcông nghiệp vận tải đường sắt của Pháp (quy mô 1.000 công nhân, với
4 phân xưởng), đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển ngànhcông nghiệp vận tải đường sắt ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ ngay từ nhữngnăm đầu của thế kỉ XX, là điểm nối trên bản đồ ngành công nghiệpvận tải thời thuộc Pháp
Trang 15Với sự phát triển của nhà máy sửa chữa đầu máy toa xe Trườngthi là nguyên nhân dẫn đến việc vua Khải Định ra đạo dụ thành lậptrung tâm đô thị Trường Thi (27/7/1917).
Việc hình thành ngành cơ khí vận tải đường sắt là nguyên nhânhình thành đội ngũ công nhân cơ khí đông đảo
1.2.3.2 Ngành công nghiệp vận tải đường bộ
Khi bình định xong lãnh thổ Việt Nam, Pháp bắt tay vào xâydựng hệ thống giao thông quy mô lớn nối các tỉnh, các vùng, các xứ,
xuyên Việt (đoạn từ Quỳnh Lưu đến phà Bến Thủy hay còn gọi làquốc lộ 1) cho phép đi từ Vinh - Bến thủy đến bất cứ tỉnh nào ở Bắc
Kỳ hoặc Trung Kỳ, Nam Kỳ
Đường số 7 Nối Vinh bến thủy với Phủ Quỳ - Trấn Ninh - CửaRào tận Viên Chăn Đường số 8 Nối Vinh - Bến Thủy với Hà Tỉnhqua Trung Lào tại cửa khẩu Cầu Treo thuộc địa phận Hương Sơn - HàTĩnh
Ngoài ra Pháp còn huy động cộng đồng cư dân xứ Nghệ xâydựng các tuyến đường nội tỉnh như : Đường Vinh - Cửa Hội - Cửa Lò,Vinh - Hưng Nguyên - Nam Đàn - Thanh Chương Chủ yếu phục vụvận tải hàng hóa và hành khách, vận chuyển lương thực, quân đội đàn
áp các lực lượng vũ trang chống đối,…
1.2.3.3 Ngành công nghiệp vận tải đường thủy
Vào cuối thế kỷ XIX, hết chiến tranh thế giới thứ nhất, Pháp độcquyền về vận tải đường thủy trên đất nước ta Cảng Bến Thủy nằmtrong hệ thống cảng sông, cảng biển do hội đồng các hải cảng Đôngdương trực tiếp nắm giữ, độc quyền Cảng bến thủy trở thành đầu mốigiao thông quan trọng ở trung Kỳ - Lào
Trang 16Với tầm quan trọng của cảng Bến Thủy Ngày 17/3/1930 Hộiđồng hải cảng Đông Dương ra thông báo về dự án cải tạo cảng BếnThủy nhằm đưa các loại tàu bề cập bến (tuy vậy dự án này chỉ nằmtrên giấy tờ chưa được thực hiện do tác động của một số nguyên nhânkhách quan) Tuy vậy cản Bến Thủy vẫn được nhắc đến như mộtthương cảng quan trọng nhất Bắc Kỳ
1.2.3.4 Ngành công nghiệp sản xuất diêm, cưa, xẻ gỗ và chế biến lâm sản xuất khẩu
Trước chiến tranh thế giới thứ nhất, ngành khai thác cưa, xẻ gỗ,lâm sản khá phát triển, các công ty lâm sản của người Pháp và ngườiViệt dần được hình thành như Công ty diêm Đông Dương, Công tylâm sản thương mại Trung Kỳ, các xưởng cưa của người Việt nhưXưởng cưa của Lê Viết Lới ra đời Các công ty này mở rông cưa xẻ
gỗ, lắp đặt hệ thống máy cưa xẻ gỗ hiện đại, lập các đại lý mua bán
gỗ trên địa bàn Nghệ An Do thị trường tiêu thụ rộng lớn nên sảnphẩm làm ra từ gỗ được xuất khẩu đi nhiều nơi
Bến Thủy trong suốt thời gian thuộc Pháp, nhất là giai đoạn sauchiến tranh thế giới thứ nhất, luôn là trung tâm buôn bán kinh doanh
gỗ lớn nhất Đông Dương
Bên cạnh việc sản xuất và chế biến lâm sản, người Pháp còn choxây dựng nhà máy diêm Bến Thủy, nhằm tận dụng lượng gỗ dư thừa
và tạo ra thị trường tiêu thụ mới Hàng năm nhà máy diêm Bến Thủy
có thể sản xuất tới 190 - 200 triệu bao diêm, cung cấp cho toàn ĐôngDương và xuất khẩu đi một số nước khác [17; 167]
Tuy vậy khi Nhật đảo chính Pháp ngày (9/3/1945) thì nhà máydiêm Bến Thủy ngừng sản xuất và từ sau cách mạng Tháng Tám năm
Trang 171945 cho đến những năm 90 của thế kỷ trước, công nghiệp sản xuấtdiêm được tổ chức và xây dựng lại trên địa bàn Nghệ An.
1.2.3.5 Công nghiệp điện lực.
Ngay từ đầu những năm sau chiến tranh thế giới thứ nhất, ngườiPháp lại đẩy mạnh quá trình khai thác thuộc địa, bên cạnh việc xúctiến mở các tuyến giao thông, đào tạo đội ngũ công nhân, người Phápcũng hiểu rằng muốn làm cho quá trình khai thác và sản xuất, chế biếnđạt được hiểu quả cao thì cần phải đẩy mạnh phát triển điện lực
Trên địa bàn Nghệ An lúc bấy giờ người Pháp đã cho xây dựngnhà máy nhiệt điện Bến Thủy lớn nhất ở Trung Kỳ với công suất2760kw/h gấp 12 lần công suất các cơ sở điện lực ở Sầm Sơn, HồiXuân, Thanh Hóa cộng lại [19; 154] Chỉ tính riêng nhà máy nhiệtđiện Bến Thủy có khả năng sản xuất 1.690.000kw/h chiếm gần 1/3 khảnăng sản xuất điện của tất cả các nhà máy ở Trung Kỳ
So với Sài Gòn, Hà Nội, Nam Định ngành công nghiệp điện lựcđược đầu tư xây dựng ở Nghệ An muộn hơn vài thập kỷ Phải đến giữathập kỷ XX của thế kỷ trước nhà máy điện Bến Thủy mới được xâydựng xong Tuy nhiên, sự ra đời của ngành điện lực đã thúc đẩy tốc
độ sản xuất ở cảng Bến Thủy, nhà máy cưa xẻ gỗ, nhà máy xe lửaTrường Thi phát triển với quy mô ngày càng lớn, tốc độ đô thị hóa ơVinh - Bến Thủy diễn ra nhanh
Công nghiệp điện lực ở Nghệ An thời Pháp thuộc là bức tranhthu nhỏ của nền công nghiệp điện lực nước ta và cả Liên bang ĐôngDương
1.2.4 Buôn bán - Thương mại
Nhìn chung thời Pháp thuộc, việc buôn bán giao dịch thương mạitrên địa bàn Nghệ An đó là sự độc quyền kiểm soát của công ty Rừng
Trang 18và Diêm Đông Dương đều nằm trong tay ông chủ buôn người Pháphàng năm công ty này có thể xuất khẩu tới 60.000 đến 70.000m3 gỗ vàkhoảng 190 đến 200 triệu bao diêm, công ty dầu lửa Pháp Á, hãngShell, Caltex mỗi năm số lượng hàng hóa nhập khẩu từ 35.000 tấn đến55.000 tấn đều do pháp độc quyền năm giữ [17; 200].
Việc buôn bán các mặt hàng như muối đều do Sở Thương Chínhđộc quyền năm giữ, đem lại nguồn lợi lớn cho người pháp, theo sốliệu thông kê của kĩ sư GilBert – chánh sở canh nông Bắc Kỳ vào năm
1929 Các tỉnh Trung Kỳ có 617ha 24,9 arơ trong đó Nghệ An có 34ha
2 arơ [17; 201]
Hoạt động buôn bán rượu cũng nằm trong sự kiểm soát của sởthương chính của người Pháp ở Vinh - Bến Thủy, Pháp cấm các hoạtđộng nấu rượu trong nhân dân thay vào đó là các cơ sở sản xuất vàbuôn bán của chính quyền tay sai ở phủ, huyện
Các hoạt động buôn bán nhỏ ở nông thôn của các tầng lớp tiểuthương nhà buôn nhỏ cũng diễn ra không mấy sôi động, chủ yếu buônbán nhỏ tại các chợ nhằm kiếm vốn nuôi sống gia đình Tuy vậy, buônbán vẫn chưa được coi là nghề phụ, buôn bán trao đổi nhỏ khiến chocác thương nhân chưa dám thoát khỏi lũy tre làng Các hoạt đôngbuôn bán lớn ở thành phố Vinh - Bến Thủy diễn ra khá nhộn nhịp,muối rượu do các đại lí Sở Thương Chính độc quyền nắm giữ với đầy
đủ các mặt hàng (vải vóc, tơ lụa,… ) Chợ Vinh trở thành một trongnhững chợ lớn nhất ở Trung Kỳ
Hoạt động buôn bán thương mại trên địa bàn Nghệ An sau chiếntranh thế giớ thứ nhất diễn ra theo một chiều, đó là các công ty tư bảnPháp độc quyền chiếm thị trường, nắm các đầu mối qun trọng tronggiao lưu buôn bán, còn hoạt động buôn bán của một bộ phận tiểu
Trang 19thương tiểu chủ diễn ra nhỏ lẽ chưa đủ sức thúc đẩy kinh tế hàng hóaphát triển Nghệ An, một triệu dân vẫn là thị trường tiêu thụ sản phẩmsản xuất trong nước hay nhập từ Pháp và xuất khẩu những sản phẩmmới sơ chế mà thôi.
1.2.5 Ảnh hưởng của các chương trình khai thác thuộc địa đến tình hình kinh tế xã hội ở Nghệ An
Ngày 20 tháng 7 năm 1885, tướng Sô - Mông đem hai đại độilính Pháp gồm 118 tên đổ bộ lên Cửa Hội, đánh chiếm thành nghệ An.Thương biển tỉnh vụ Nghệ An là Vũ Trọng Bình đã hèn nhát dângthành Nghệ An cho giặc Tòa thành kiên cố tượng trưng cho vươngquyền họ Nguyễn ở lưu vực sông Lam đã hoàn toàn mất hết chứcnăng, là một pháo đài quân sự Từ đây, số phận Nghệ An nói riêng vàtoàn xứ Trung kỳ nói chung bước vào một giai đoạn đầy khó khăn thửthách “Của thời kỳ phát triển trong chế độ thuộc địa nửa phong kiến,trong bão táp của công cuộc khai thác thuộc địa kéo dài của tư bảnPháp” [1; 27]
Để đạt được mục đích của cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam,Thực dân Pháp đã khai thác với quy mô ngày càng lớn Với mưu đồcai trị của chúng, dưới sự sắp đặt của quan thầy Pháp, chính cơ mậtviện triều đình Huế và Vua Thành Thái về lập sáu trung tâm đô thị ởtrung Kỳ trong đó có Vinh “Vinh trở thành một mắt xích quan trọngđối với chính quyền thuộc địa cả về kinh tế lẫn chính trị văn hóa”[ 2; 27]
Đến năm 1914, toàn quyền Đông Dương buộc vua Duy Tân rađạo dụ ngày 13/3/1914, nâng thị trấn Bến Thủy lên thành Thị xã Vinh
- Bến Thủy Đến ngày 28/7/1917, vua Khải Định lại ra đạo dụ lập thị
xã Trường Thi
Trang 20Như vậy đến thời điểm này ở Nghệ An đã có 3 thị xã Ba Thị xãnày tồn tại với 3 chức năng khác nhau: Vinh là trung tâm chính trị,Trường Thi là thị xã của công nghiệp sữa chữa máy móc và Bến Thủy
là trung tâm thương nghiệp buôn bán và giao lưu luân chuyển với bênngoài
Đến ngày 10 tháng 12 năm 1927, toàn quyền Đông Dương raquyết định bãi bỏ Thị xã Vinh, Trường Thi, Bến Thủy và ra nghịquyết sát nhập địa bàn 3 thị xã đó thành lập thành Thành Phố Vinh -Bến Thủy đặt dước sự điều hành của công xứ Nghệ An kiêm giữ chứcđốc lý thành phố
Tư bản Pháp đã đẩy mạnh việc xây dựng cơ sở công thươngnghiệp Vinh - Bến Thủy, đi liền với nó chúng tận thu mọi nguồn lợinông nghiệp và thuế để phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa củachúng
Trong công nghiệp: Chúng tăng cường khai thác gỗ và các lâm
sản quý để kinh doanh, nhập khẩu, vừa mở đồn điền Chúng ra sứcchiếm đoạt taì nguyên, tận dụng tối đa sức người sức của để phục vụcho mưu đồ của chúng
Trong thương nghiệp - dịch vụ : Thực dân Pháp đẩy mạnh hoạt
động xuất nhập khẩu, chúng còn độc quyền kinh doanh các mặt hàngđặc biệt và lập ra 17 đồn thương chính ở Nghệ An để kiểm soát nhữngmặt hàng: Muối, rượu, thuốc phiện, thuốc lá
Nông nghiệp: cũng như các ngành kinh tế khác, trước sự khai
thác của thực dân Pháp Nông nghiệp Nghệ An đã có sự biến đổi sâusắc ở trên nhiều khía cạnh Nông nghiệp không còn giữ vị trí độc tônnhư trước nữa Trong khi tiến hành xây dựng đường giao thông, cầu,cảng, cơ sở công nghiệp, Thực dân pháp đã xóa sổ một phần lớn ruộng
Trang 21đất của nông dân, cùng với sự tàn phá của thiên tai, nông nghiệp Nghệ
An đã mất hẳn vị trí là một ngành kinh tế chủ đạo Chúng còn mởrộng khai thác bằng cách chiếm đoạt ruộng đất, lập đồn điền, chiếmđất đai làm trại lính, công xưởng và giao Pháp tăng cường tuyển mộculi Hàng trăm ngàn người dân xứ Nghệ bị bắt làm culi với đồnglương rẻ mạt phải chịu những trận đòn roi tra tấn của các chủ đồnđiền
Bên cạnh những biện pháp khai thác thuộc địa trên lĩnh vực kinh
tế thì thực dân Pháp còn áp dụng những chính sách về chính trị, vănhóa, giáo dục Chính những điều đó đã tác động sâu sắc đến đời sốngcác tầng lớp nhân dân Nghệ An
Đối với giai cấp công nhân : Đây là một giai cấp được hình thành
trong cuộc khai thác thuộc địa của Thực dân pháp, công nhân Nghệ
An cũng chịu chung số phận như công nhân cả nước với đời sống bấpbênh, đồng lương ít ỏi, bị bóc lột nặng nề nên khi được giác ngộ họnhanh chóng trở thành những chiến sĩ cộng sản kiên cường
Giai cấp tiểu tư sản: tầng lớp tiểu tư sản Nghệ An bao gồm viên
chức, trí thức học sinh, thợ thủ công, tiểu thương tiểu thủ… (tầng lớpnày làm biến đổi thêm một bước tiến trong cơ cấu xã hội), họ cũng cómột cuộc sống bấp bênh, tiềm lực kinh tế mỏng, lại bị chèn ép nên họ
có tinh thần chống Pháp, chống phong kiến
Giai cấp tư sản: Tư sản người Việt ở nghệ An nhỏ bé, hình
thành sau giai cấp công nhân, kinh doanh chủ yếu trong lĩnh vực buônbán nhưng bị chèn ép bởi tư sản Pháp, tư sản nước ngoài, nên đờisống của họ cũng gặp nhiều khó khăn, bởi thế giai cấp tư sản Nghệ Ancũng có ý thức chống đế quốc, chống phong kiến Bên cạnh đó có một
bộ phận ôm chân đế quốc là tay sai cho thực dân Pháp
Trang 22Giai cấp nông dân: Nông dân Nghệ An có số lượng đông nhất, là
lực lượng đầu tiên chịu hậu quả cuộc khai thác thuộc địa thực dânPháp Quá trình xây dựng Nghệ An, đặc biệt là Vinh thành một trungtâm công thương nghiệp cũng là quá trình phá sản của những ngườinông dân ở đây
Cùng với sự ra đời của kinh tế công thương nghiệp, kinh tế nôngnghiệp ở Nghệ An bị đẩy vào hàng thứ yếu nên nông dân Nghệ Ancũng bị phá sản, vì họ đã bị mất tư liệu sản xuất Đất canh tác củanông dân bị san bằng, thay vaò đó là các nhà máy, đặt các hiệu buônbán,… điều đó dẫn tới sự phân hóa sâu sắc trong nội bộ giai cấp nôngdân, người thì đi tha phương cầu thực, còn một bộ phận khác thì tìmviệc tại các phân xưởng nhà máy Họ là những đối tượng bị bóc lộttrực tiếp của bọn tư bản, cai lý, đốc công,… Hầu hết nông dân Nghệ
An vẫn bám trụ lấy số ruộng còn lại gắn bó với nghề nông song thực
tế bị sưu thuế ngặt nghèo lại bị thiên tai đe dọa nên chẳng mấy chốc
họ trỏ thành bần nông, cố nông rơi xuống đấy của xã hội
Như vậy, dưới tác động của cuộc khai thác thuộc địa đã làm biếnđổi sâu sắc tình hình xã hội ở Việt nam nói chung ở đầu thế kỷ XX, ởNghệ An nói riêng cũng có sự chuyển biến mạnh mẽ về xã hội đó là
sự phân hóa trong lòng các giai cấp cũ: giai cấp nông dân, địa chủ, và
sự ra đời các tầng lớp giai cấp mới: giai cấp công nhân, giai cấp tưsản, giai cấp tiểu tư sản, cùng với đó là sự bần cùng hóa các tầng lớpnhân dân Chính những nhân tố này tạo điều kiện tiền đề cần thiết chophong trào giải phóng dân tộc ta ở những giai đoạn sau
Trang 23Chính quyền cánh mạng từ tỉnh đến cơ sở mới được thành lập,hầu hết các cán bộ chưa có kinh nghiệm quản lý Nhà nước Ở một sốnơi như Tương Dương, Quỳ Châu, khi cách mạng thành công tachuyển nguyên bộ máy chính quyền cũ sang làm nhiệm vụ của chínhquyền cách mạng Tình hình đó đã làm cho các hoạt động của chínhquyền cách mạng và công tác mặt trận gặp nhiều khó khăn.
Trong lúc toàn dân ta đang ra sức khắc phục khó khăn và xâydựng bảo vệ chế độ mới thì bọn phản động cách mạng cũng dần dầntập hợp lực lượng lại để chống phá chính quyền cách mạng Việt Nam
và tạo điều kiện cho bọn thực dân Pháp trở lại xâm lược Đông Dương
Trang 24Lúc này ở Nghệ An quân Tưởng núp dưới danh nghĩa quân Đồngminh vào giải giáp quân đội Nhật, nhưng thực chất chúng đã bằng mọicách thực hiện âm mưu: tiêu diệt Đảng Cộng sản, phá tan Việt Minh,giúp bọn tay sai đánh đổ chính quyền nhân dân, lập chính phủ quân sự
do chúng nắm, cùng với đó là bọn Việt Quốc, Việt Cách cũng theo gótquân Tưởng vào phá hoại chính quyền cách mạng Giữa lúc đó phíabiên gới Việt - Lào, quân Pháp đã co cụm lại và chiếm giữ Nọong Héttrên trục đường số 7 Chúng còn cho quân nhảy dù tăng cường thêmlực lượng móc nối với bọn phản động nội địa, ráo riết chuẩn bị chocuộc tấn công xâm lược vào đất Nghệ An
Trong bối cảnh hết sức khó khăn cùng một lúc phải đối đầu vớinhiều kẻ thù Vì vậy muốn bảo vệ được thành quả cách mạng, giữvững được chính quyền dân chủ nhân dân, một yêu cầu khẩn cấp đốivới toàn Đảng, toàn dân lúc này là phải chủ động đối phó với những
âm mưu hành động phá hoại của địch, đồng thời tích cực chuẩn bịnhân tài, vật lực về mọi mặt đặc biệt là kinh tế để đảm bảo tối thiểuđời sống tự cung tự cấp cho quân dân trên địa bàn, đồng thời làmnghĩa vụ hậu phương chi viện cho chiến trường, góp phần quan trọngđưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của cả nước đếnbến bờ thắng lợi
2.2 Kinh tế Nghệ An trong thời kỳ 1946 - 1954
Trang 25Đánh đổ hào lý, tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc và bọn Việt gianphản động Thực hiện giảm tô, giảm tức, áp dụng quy chế lĩnh canhđối với giai cấp địa chủ, chia lại công điền, tạm cấp, tạm giao ruộngđất vắng chủ nhằm giảm bớt và hạn chế một phần chế độ bóc lột củađịa chủ, đem lại một phần quyền lợi cho nông dân Đã kích giai cấpđịa chủ, về mặt chính trị - xã hội vẫn lôi kéo một số địa chủ khángchiến, trung lập địa chủ thường, đã kích địa chủ Việt gian, thuyếtphục giai cấp địa chủ thực hiện chích sách của Đảng và Chính phủ đãquy định Điều đó có nghĩa là ta vận công nhận địa chủ có quyền, dânquyền, tài quyền và địa quyền.
Sau cách mạng Tháng Tám, Việt Nam phải đối mặt với nhiềukhó khăn về nạn đói, mù chữ,… cùng với đó là phải đối mặt với nhiều
kẻ thù cùng một lúc, vấn đề “độc lập dân tộc” vẫn là trên hết, nhiệm
vụ dân chủ được đề ra và được thực hiện ở một chừng mực nhất định.Tạo điều kiện cho toàn dân tập trung nhân tài, vật lực phục vụ chocuộc kháng chiến lâu dài
* Quá trình thực hiện chính sách
Dưới sự chỉ đạo của Đảng, Tỉnh ủy và UBKH Hành chính Nghệ
An đã lãnh đạo nhân dân thực hiện những chính sách ruộng đất nhằmgiải quyết một phần yêu cầu ruộng đất của nông dân phục vụ yêu cầucuộc kháng chiến và kiến quốc
Để nhân dân có ruộng, Tỉnh ủy còn phát động sâu rộng phongtrào khai hoang, phục hóa làm thủy lợi nhỏ (dẫn thủy nhập điền),phong trào khai hoang mở rộng diện tích phát triển mạnh tháng 6 năm
1946 các huyện Yên Thành, Quỳnh Lưu, Nghĩa Đàn, Anh Sơn, NghiLộc đã vỡ hoang được hơn 700 mẫu (Trung Bộ), phục hóa 1420 mẫu.Tính đến tháng 11 năm 1948 toàn tỉnh đã khai hoang được hơn 2000
Trang 26ha ruộng đất, lập 20 trại sản xuất và nuôi trâu bò ở Anh Sơn, NamĐàn, Nghi Lộc, Thanh Chương So với năm 1947, tổng sản lượng lúa,ngô tăng gấp đôi, diện tích bông tăng từ 17.511 lên 24.056 mẫu.
Năm 1947 - 1948 Nghệ An tiến hành vận động xóa nợ giúp nôngdân chuẩn bị ruộng đất để tập trung sản xuất
Khi Sắc lệnh giảm tô của Chính phủ ban hành năm 1949 ấn địnhmức địa tô và lập Hội đồng giảm tô cấp tỉnh Đến năm 1950, Chínhphủ lại ban hành Sắc lệnh tịch thu ruộng đất của bọn địa chủ chạy vàovùng địch tạm chiếm và trưng thu tất cả ruộng đất bỏ hoang tạm cấpcho nông dân nghèo cày cấy Cuộc vận động giảm tô, giảm tức, quychế lĩnh canh, tạm cấp ruộng đất cho nông dân đã được Đảng bộ vàchính quyền các cấp thực hiện
Trong năm 1950, Nghệ An đã vận động được các chủ ruộng giảm
tô 25% cho hơn 95% diện tích ruộng đất phát canh, tạm cấp 17 đến
282 mẫu ruộng đất công, ruộng đất của tư bản Pháp, Việt gian và đấtvắng chủ cho 4892 hộ nông dân nghèo
Trong những năm 1950 - 1951, thực hiện chủ trương quân cấpcông điên, ở các địa phương Nghệ An đã tiến hành quân cấp lại nhưngnhìn chung diễn ra còn khá chậm
Ở Nam Đàn, trước đây do không có sự hướng dẫn thống nhất củahuyện nên việc sử dụng ruộng đất công ở mỗi xã thực hiện một cách,nơi thì đấu thầu lấy tiền và hoa lợi bỏ vào quỹ xã, nơi thì giao chodân quân sản xuất tự túc, có nơi thì lấy ruộng đất công chia cho dânngụ cư Trình trạng đó gây nên các vụ kiện cáo, tranh chấp, mất đoànkết trong nông thôn, nhất là ở làng Vạn Thu (Nam Lộc) Sau khi cóchỉ thị hướng dẫn cụ thể của Trung Ương Đảng, Tỉnh ủy, Huyện ủy đãtập trung chỉ đạo các xã chia lại ruộng đất công theo nguyên tắc ruộng
Trang 27đất làng nào chia cho dân làng ấy Trường hợp ở những nơi nhiềuruộng công mới vận động nhường cho dân làng khác Vận động cácgia đình địa chủ, phú nông nhường phần ruộng đất được hưởng củamình cho nông dân (ở xã Vạn Thọ vì số ruộng đất công và ruộng nhàchung còn có nhiều ý kiến khác nhau nên tạm gác cấp cho dân cày vànạp cho Chính phủ 10% địa tô) Đây là một thắng lợi lớn, làm cho mọingười tin tưởng, phấn khởi đẩy mạnh thâm canh tăng năng suất trênphần ruộng được chia, nhằm nâng cao đời sống và góp phần phát triểnkinh tế, phục vụ kháng chiến, kiến quốc.
Ở Diễn Châu, năm 1951 có 442 chủ điền giảm tô, giảm lợi Từ
sự giảm tô, giảm tức của các chủ điền có 1061 tá điền được hưởng
Cũng trong năm 1950 - 1951, Nghệ An đã tiến hành tạm cấp một
số đồn điền đồng thời tịch thu ruộng đất của bọn Việt gian, ruộngvắng chủ và ruộng bỏ hoang chia cho nông dân sản xuất
Trong năm 1949 - 1950, Nghệ An thực hiện chủ trương vận độnghiến điền Trong năm 1949 đã vận động được một vạn mẫu UBKHtỉnh còn thu gần 600 mẫu từ các chủ đồn điền để cấp cho bộ đội địaphương, lập các trại sản xuất phục vụ thương binh Tuy nhiên trongcuộc vận động hiến điền ở Nghệ An còn mắc phải một số hạn chế đólà: coi hiến điền là một bộ phận trong chính sách ruộng đất nhằmgiảm bớt sự bóc lột của phú nông và địa chủ nên có nơi vận động cảnhững hộ còn thiếu ruộng hiến điền, trong khi đó việc sử dụng ruộnghiến điền không có hiệu quả
Từ năm 1952, có phong trào đấu tranh chống dây dưa thuế.Chính sách vận động đóng thuế nông nghiệp đã đi vào cuộc sống, địachủ buộc phải giao canh cho nông dân và nộp thuế cho Nhà nước.Người nông dân có cơ hội chuộc lại ruộnng, địa chủ phải trả ruộng
Trang 28cho nông dân Hình thức bóc lột của địa chủ cũng giảm, nông dân ítnhiều được cấp ruộng đất nên ít phụ thuộc vào địa chủ hơn, hình thức
nợ lãi đến năm 1951 hầu như không còn, hình thức bóc lột công nhângiảm mạnh
Tuy nhiên vẫn còn một số địa chủ có nợ máu thâm thù với cáchmạng ngoan cố không chấp hành đúng chích sách giảm tô Chích sáchthuế nông nghiệp chỉ có một số địa chủ có tinh thần yêu nước sớmnhận thức và chấp hành nghiêm túc
Như vậy, để thiết thực bồi dưỡng sức dân, nhất là nông dân,Tỉnh ủy đã thực hiện từng bước chính sách ruộng đất của Đảng vàChính phủ, UBKH Hành chính đã mở 17 lớp huấn luyện cho khoảng
600 cán bộ huyện xã về chính sách giảm tô 25%, quy chế lĩnh canh,chính sách quân cáp công điền, công thổ, xử lý ruộng đất vắng chủhoang hóa: toàn tỉnh có 586 chủ điền đã thực hiện giảm tô đúng 25%
và các quy chế lĩnh canh, lĩnh điền đối với 5.622 tá điền Ruộng đấtđồn điền Trịnh Môn được cấp cho nông dân nghèo Có 477 ha ruộngvắng chủ được tạm chia cho 1.588 bần, cố nông Một số sai lệch trongquá trình quân cáp điền thổ được phát hiện, điều chỉnh, sửa chữa kịpthời
Việc thực hiện chính sách năm 1945 - 1952, là cơ sở để quân vàdân Nghệ An vượt qua thiên tai, địch họa tạo điều kiện cho hàng chụcvạn nông dân nhập ngũ trở thành chiến sĩ trên mặt trận sản xuất ở địaphương và hăng hái tham gia phục vụ tiền tuyến Trong 6 tháng củanăm 1951, nông dân toàn tỉnh làm hơn 1 vạn tấn phân bón cho 5.233
ha đất hoang hóa thu nhập gần 9.000 tấn thóc, có 1.946 hộ được côngnhận là gia đình gương mẫu sản xuất
Trang 29Cùng với việc thực hiện chính sách về ruộng đất, công tác chấnchỉnh bộ máy chính quyền cũng hết sức được chú trọng Trong chươngtrình nội chính năm 1948, UBKC Hành chính Liên khu IV đã đề ranhiệm vụ trọng tâm trong công tác nội chính là củng cố bộ máy chínhquyền cấp xã Tháng 7 năm 1950 đã diễn ra cuộc bầu cử Hội đồngnhân dân các cấp kém năng lực và được thay thế bằng những đại biểuthực sự đại diện cho các tầng lớp nhân dân Đặc biệt đã đưa thànhphần bần, cố nông vào bộ máy chính quyền.
Việc thực hiện chính sách ruộng đất ở Nghệ An mặc dù cònnhiều hạn chế nhưng bước đầu đã đem lại lợi ích thiết thực cho ngườinông dân, bộ mặt nông thôn bước đầu có sự chuyển biến Tuy yêu cầu
về ruộng đất của nông dân mới chỉ giải quyết được một phần nhưng
đó cũng là cơ sở để tiếp tục thực hiện khẩu hiệu “người cày có ruộng”trong những năm tiếp theo
Trước khi bước vào công cuộc triệt để giảm tô, giảm tức năm
1953 - 1954, ở Nghệ An đã diễn ra phong trào quần chúng nông dânđấu tranh với giai cấp địa chủ nhằm không cho địa chủ dây dưa vớithuế nông nghiệp, phong trào này được phát động trong toàn tỉnh bắtđầu từ ngày 20 tháng 12 năm 1952 Đến năm 1953, Đảng bộ Nghệ An
đã phát động phong trào đấu tranh chính trị nhằm hạ uy thế cường hào
đi đôi với đấu tranh chính trị là giảm tô, giảm tức, thoái tô, xóa nợ
Từ tháng 6 năm 1953, Nghệ An đã thực hiện thí điểm phát độnggiảm tô ở các xã Tam Thái (Nghi Lộc), Tân Diễn (Diễn Châu), QuangThành (Yên Thành) để mở đầu cho cuộc phát động quần chúng đánh
đổ thế lực về chính trị của địa chủ, phong kiến ở nông thôn, bước đầuthực hiện người cày có ruộng, tạo thêm niềm tin tưởng cho các chiến
sĩ đang chiến đấu ngoài mặt trận
Trang 30Qua một thời gian, phong trào đã hạ được uy thế của bọn cườnghào, địa chủ, phú nông mang lại quyền lợi thiết thực cho nông dân.
Tại Nam Đàn, cùng với việc đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh
tế, văn hóa Từ cuối năm 1953, tỉnh cử cán bộ về huyện Nam Đàn tiếnhành cuộc vận động phát động quần chúng đấu tranh triệt để giảm tô,thực hiện giảm tức Được các đội công tác phát động, giai cấp nôngdân trong các huyện đã vùng dậy vạch tội ác của cường hào, địa chủphong kiến, đấu tranh buộc chúng phải triệt để giảm tô, giảm tức.Những tên trước đây ngoan cố không chịu thực hiện hoặc thực hiệnchưa đúng mức nay buộc phải thoái tô cho tá điền Ruộng công đượcchia hẳn cho nông dân, các thứ nợ được giảm lãi, có thứ bỏ hẳn chonông dân Qua công cuộc bình tô ở Nam Đàn thì thấp nhất là giảm37%, trung bình và đại bộ phận là 60%, cao nhất là 90% Ở DiễnChâu, mức tô thấp nhất là 25%, trung bình và đại bộ phận là
40 - 45%, cao nhất là 90% Ở Quỳnh Lưu thấp nhất là 25%, trung bình
là 45 - 50%, cao nhất là 95%
Tháng 6 năm 1953, Ủy Ban cải cách ruộng đất Trung Ương cửmột đoàn cán bộ về chỉ đạo thí điểm cuộc “phóng tay phát động quầnchúng triệt để giảm tô” ở Nghệ An đã chọn xã Tam Thái (Nghi Lộc) làmột trong ba xã làm thí điểm Đến tháng 9 năm 1953, cuộc vận độnggiảm tô đã được mở rộng ra toàn tỉnh Ở Nghi Lộc cũng được tiếnhành rộng ra các xã Qua cuộc “ phóng tay phát động quần chúng triệt
để giảm tô phát động được đại bộ phận nông dân vùng dậy đấu tranh
hạ uy thế của bọn địa chủ, cường hào ác bá, bắt chúng phải thoái tô,thoái tiền công quỵt của tá điền Qua đợt phát động này các đơn vịhành chính xã và các tổ chức Đảng, chính quyền mặt trận, đoàn thể ởcác cấp đều được chấn chỉnh, sắp xếp lại Trong việc giảm tô vụ
Trang 31chiêm năm 1953 ở Nghệ An từ nông dân nhất là bần, cố nông đã hănghái thực hiện chủ trương giảm tô của Đảng, gây thành một phong tràosôi nỗi rộng khắp.
Tuy nhiên trong quá trình thực hiện giảm tô vụ chiêm năm 1953.Đảng bộ Nghệ An cũng đã mắc một số sai lầm, đó là chính sách khôngđược phổ cập rộng rãi trong Đảng trong nhân dân, nông dân học tậpcòn sơ sài, không nghiên cứu kỹ nội dung của chính sách, do đó khithực hiện nhiều nơi đẩy mức tô 80 - 90%, thẩm chí có nơi lên 100%,120% Ngoài ra còn có một số sai lầm, lớn nhất là không tăng cường
sự lãnh đạo của Đảng trong thực hiện mà lập các đội công tác độc lập.Tuy nhiên, những sai lầm này đã dần được khắc phục trong đợt sau
Qua các đợt giảm tô được thực hiện ở các địa phương trong toàntỉnh Nghệ An đã có hàng vạn mẫu ruộng, hàng vạn tạ thóc thu được đãđược nông dân đưa vào sử dụng sản xuất, mua sắm trâu bò, nông cụ.Sau đợt đấu tranh này đã dấy lên phong trào thi đua sản xuất phục vụkháng chiến, đóng thuế và đi dân công
Như vậy, từ năm 1945 - 1953 dưới tác động của chính sáchruộng đất, số ruộng đất của địa chủ và phú nông ngày càng giảm theohướng có lợi cho nông dân, đối tượng chính của quá trình thực hiệnchính sách ruộng đất đã có sự chuyển biến tích cực rõ rệt cả về số hộ
và ruộng đất So với trước cách mạng Tháng Tám và năm 1949 thìchiếm hữu ruộng đất cũng như bình quân ruộng đất của nông dân có
sự chuyển biến lớn Nhìn chung đối tượng chủ yếu có ruộng vẫn làtrung, bần nông còn cố nông rất ít Nguyên nhân đó là trong khi chiaruộng cho nông dân chúng ta không thực hiện đúng nguyên tắc “ thiếu
ít chia ít, thiếu nhiều chia nhiều ” mặt khác trung, bần nông có điềukiện chuộc lại ruộng, còn cố nông thì không Tuy nhiên bộ mặt nông
Trang 32thôn Nghệ An về cơ bản đã có sự chuyển biến tích cực, chính quyềncấp xã được chấn chỉnh, nhằm gạt bỏ khỏi bộ máy chính quyền nhữngphần tử phản động, đề bạt một số bần cố nông tham gia vào bộ máychính quyền.
Bước sang năm 1954, Nghệ An cùng các tỉnh miền Bắc thực hiệnhai nhiệm vụ trọng tâm mà Trung Ương Đảng và Hồ Chủ Tịch xácđịnh là “ra sức đánh giặc và thực hiện cải cách ruộng đất ”
Dưới sự chỉ đạo của Trung Ương Đảng và Liên khu ủy, Đảng bộNghệ An đã lãnh đạo quần chúng tiếp tục thực hiện các đợt giảm tôtrong điều kiện cả nước dồn sức cho chiến cuộc Đông Xuân và chiếndịch Điện Biên Phủ Nhiệm vụ phát động quần chúng giảm tô nhằmđẩy mạnh hơn nữa sức người tập trung cho nhiệm vụ đánh giặc
Như vậy, từ năm 1953 - 1954 Nghệ An đã tiến hành phát độngquần chúng đấu tranh triệt để giảm tô, thực hiện giảm tức tại 120 xãtrong số 155 xã thuộc các huyện đồng bằng, trung du Qua các đợtphát động quần chúng, các địa phương đã đưa ra khỏi tổ chức Đảng,chính quyền cấp huyện và cấp cơ sở những địa chủ và quan lại cườnghào trước cách mạng Tháng Tám năm 1945 làm tay sai cho đế quốcphong kiến Những cán bộ địa phương thuộc thành phần công nhân,bần cố nông được tăng cường vào cấp ủy Đảng và chính quyền cấphuyện, xã, quyền làm chủ của nông dân được đề cao
2.2.1.2 Kết quả của quá trình thực hiện chính sách.
Quá trình thực hiện chính sách ruộng đất ở Nghệ An từ 1945
-1954 dưới sự lãnh đạo của Trung Ương và Liên khu VI về căn bản đãgiành được thành quả mà quá trình thực hiện đã mang lại Thực hiệnchủ trương của Đảng, Nghệ An đã thực hiện chính sách ruộng đất,giảm tô, giảm tức, tịch thu ruộng đất của thực dân Pháp và Việt gian