Đảng và Nhà nước ta đã lần lượt ban hành các chủtrương, chính sách pháp luật về đất đai .Và Nhà nước đã tiến hành giao đất nông,lâm nghiệp cho các hộ nông dân sử dụng ổn định lâu dài để
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia Đất là
tư liệu sản xuất đặc biệt và cơ bản không thể thay thế được của một số ngành sảnxuất như nông nghiệp, lâm nghiệp.Việt Nam với khoảng trên 80 dân số sống ởnông thôn và 75% lao động hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thuỷ sản[4], thì vai trò và tầm quan trọng của đất đai càng to lớn
Kinh tế hộ là hình thức kinh tế có tính độc lập, tự chủ cao trên cơ sở tư hữu
về tư liệu sản xuất cho nên nó phát huy đựoc tính năng động, sáng tạo, trí tuệ vànăng lực “thật sự” của từng thành viên và nguồn lực trong hộ gia đình Chính vìvậy trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể, phù hợp thì kinh tế hộ là hình thứckinh tế tạo tiền đề và tiềm lực cho nền kinh tế quốc dân
Đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng nhất, đặc biệt và không thể thay thế đểphát triển kinh tế hộ nông dân Chính vì vậy đất đai và chính sách về đất đai tácđộng trực tiếp, mạnh mẽ và sâu sắc đến sự tồn tại và phát triển của kinh tế nông
hộ Đặc biệt sau khi có Nghị quyết 10/NQ-TƯ ngày 05/4/1988 của Bộ Chính trị(K.VI) về “Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp”, hộ nông dân được thừa nhận làđơn vị kinh tế tự chủ, kinh tế hộ nông dân trong thời gian qua đã có những bướcphát triển khá, đã phát huy được tính tự chủ, tự lực, khai thác và sử dụng đượctiềm năng về đất đai là nguồn lực bên trong của hộ nông dân Vì vậy trải qua hơn
15 năm đổi mới, nền nông nghiệp nước ta đã đạt được những thành tựu quantrọng Từ một nền sản xuất phổ biến là tiểu nông, tự cấp tự túc đã vươn lên sảnxuất hàng hoá xuất khẩu với khối lượng và giá trị ngày càng lớn
Trong quá trình đổi mới, để đáp ứng yêu cầu của quá trình chuyển đổi cơcấu kinh tế và cơ chế quản lý Đảng và Nhà nước ta đã lần lượt ban hành các chủtrương, chính sách pháp luật về đất đai Và Nhà nước đã tiến hành giao đất nông,lâm nghiệp cho các hộ nông dân sử dụng ổn định lâu dài để gắn quyền lợi người
sử dụng đất với đất đai, qua đó kích thích và nâng cao hiệu quả sản xuất, tạo điều
Trang 2kiện pháp lý cơ bản hình thành các mô hình kinh tế nông lâm kết hợp, kinh tếtrang trại, kinh tế vườn hộ, vườn rừng … trong phát triển kinh tế hộ nông dân Hương Sơn là một huyện miền núi có diện tích đất đai lớn nhất của tỉnh HàTĩnh và đã tiến hành giao đất, giao rừng cho các hộ nông dân từ năm 1993 (đấtlâm nghiệp tiến hành giao năm1994) Vậy thực trạng sản xuất nông, lâm nghiệpphát triển kinh tế hộ như thế nào sau 15 năm được giao đất ? Các nguồn lực đểphát triển kinh tế hộ như đất đai, vốn…biến động như thế nào so với năm 1993 ?Người gặp khó khăn gì trong việc sử dụng nguồn lực phát triển kinh tế ?
Để trả lời cho những thắc mắc đó, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng phát triển kinh tế của hộ nông dân ở huyện Hương Sơn tỉnh Hà Tĩnh sau 15 năm người nông dân được giao đất nông, lâm nghiệp”.
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá thực trạng sản xuất nông, lâm nghiệp và phát triển kinh tế hộ sau
15 năm người dân được giao đất nông lâm nghiệp Đồng thời mô tả những biếnđộng về nguồn lực để phát triển kinh tế hộ hiện tại so với năm 1993
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các hộ nông dân sử dụng đất NLN trên địa bàn huyện
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về thời gian:
Lấy thời gian năm 1993 làm mốc so sánh để so sánh các nguồn lực nhằmphát triển kinh tế hộ với hiện tại (Vì khoán đất nông lâm nghiệp được thực hiệntheo khoán 10 song chỉ đến khi Luật đất đai 1993 ra đời tiếp tục khẳng định việcgiao đất ổn định lâu dài và quy định thêm 5 quyền cho người sử dụng đất thìngười nông dân miền núi mới thực sự yên tâm đầu tư vào đất đai Bên cạnh đóđối với đất lâm nghiệp thì thì đến đầu năm 1994 mới được chính thức tiến hànhgiao cho các hộ nông dân theo Nghị định 02 của Chính phủ) Vì vậy phạm vi thờigian điều tra, nghiên cứu 2006, 2007, 2008 và năm 1993
Trang 3Phạm vi không gian: Điều tra nghiên cứu ở 2 xã đại diện các vùng trên địabàn huyện Hương Sơn tỉnh Hà Tĩnh.
4 Ý nghĩa của đế tài
Đánh giá thực trạng xuất nông, lâm nghiệp và kinh tế hộ nông dân HươngSơn sau 15 năm được giao đất nông lâm nghiệp
Trang 4Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1 Vai trò của phát triển nông, lâm nghiệp và kinh tế hộ nông dân
1.1.1.1 Sản xuất nông, lâm nghiệp là ngành sản xuất quan trọng đối với các quốc gia
Ở bất cứ quốc gia nào dù giàu hay nghèo, sản xuất nông, lâm nghiệp đều có
vị trí quan trọng: Đó là ngành sản xuất vật chất chủ yếu của nền kinh tế, cung cấpnhững sản phẩm thiết yếu như lương thực, thực phẩm cho con người và cung cấpnguyên liệu cho công nghiệp Trong quá trình phát triển kinh tế, sản xuất nông,lâm nghiệp cần được phát triển để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về lươngthực, thực phẩm và sản phẩm lâm sản của xã hội Vì thế sự ổn định xã hội vàmức an toàn lương thực của xã hội phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển củanông nghiệp
Nông nghiệp không những là nguồn cung cấp sản phẩm hàng hoá cho thịtrường trong nước và nước ngoài mà còn cung cấp các yếu tố sản xuất như laođộng và vốn cho các khu vực kinh tế khác Sự phát triển của các ngành côngnghiệp lệ thuộc nhiều vào lực lượng lao động do nông thôn cung cấp Quá trìnhcông nghiệp hoá của các quốc gia đều cần sự đầu tư lớn về vốn, với những nướcđang phát triển, một phần đáng kể về vốn đó phải do nông nghiệp cung cấp thôngqua nhiều con đường như thuế nông nghiệp, thuế nông lâm sản xuất khẩu và sựthay thế các sản phẩm nhập khẩu của nông nghiệp
Nông nghiệp còn là thị trường tiêu thụ các sản phẩm, dịch vụ của côngnghiệp và các ngành kinh tế khác Sự phát triển ổn định về vật tư, phân bón,thuốc bảo vệ thực vật, máy móc nông cụ cũng như các mặt hàng tiêu dùng Nông, lâm nghiệp còn có tác dụng rất quan trọng là gìn giữ và bảo vệ tàinguyên thiên nhiên và môi trường, ở bất cứ nước nào NLN cũng gắn liền với việc
sử dụng và quản lý các tài nguyên thiên nhiên như đất đai, nguồn nước, rừng,
Trang 5động thực vật Một nền nông nghiệp phát triển còn góp phần gìn giữ và bảo vệ tàinguyên thiên nhiên, môi trường, chống giảm cấp về nguồn lực và mất đa dạngsinh học
Ở Việt Nam sản xuất NLN vẫn giữ một vị trí rất quan trọng trong nền kinh
tế quốc dân và dù tỷ trọng GDP của nông nghiệp có giảm dần trong quá trìnhtăng trưởng của nền kinh tế trong thời gian qua song vẫn còn khá lớn so với cácnước trong khu vực và nói lên rằng Việt Nam vẫn là một nước nông nghiệp
1.1.1.2 Trong kinh tế hộ nông dân sản xuất nông, lâm nghiệp gắn kết chặt chẽ với sử dụng tài nguyên đất
Đối với sản xuất nông, lâm nghiệp trong kinh tế hộ nông dân tài nguyên đất
là nguồn lực chủ yếu đầu tiên vì đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt vàkhông thể thay thế được trong sản xuất NLN của hộ nông dân Đất đai được gọi
là tư liệu sản xuất đặc biệt vì nó là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động Trong sản xuất nông, lâm nghiệp, tài nguyên đất không chỉ là môi trườngsống mà còn là nguồn cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng Năng suất cây trồng,vật nuôi phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng đất đai Đất đai là sản phẩm tự nhiên,người nông dân thông qua lao động mà chủ yếu là hoạt động sản xuất nông, lâmnghiệp đã làm tăng giá trị của đất đai và độ phì nhiêu của đất đai đáp ứng nhucầu ngày càng cao của con người Song diện tích đất đai có hạn vì nó bị giới hạntrong từng nông trại, từng vùng và phạm vi lãnh thổ của mỗi quốc gia, sự có hạn
về diện tích đất cho sản xuất nông, lâm nghiệp còn thể hiện ở khả năng có hạn vềkhai hoang, tăng vụ trong từng điều kiện cụ thể Quỹ đất đai dùng vào sản xuấtnông, lâm nghiệp còn có hạn và ngày càng trở nên khan hiếm do nhu cầu ngàycàng cao việc sử dụng đất đai cho việc đô thị hoá, công nghiệp hoá, hiện đại hoá,xây dựng nhà ở, đường giao thông và các công trình phục vụ khác
Bên cạnh đó tài nguyên đất đai còn có một số đặc điểm là vị trí của đất đai
cố định và do đó tính chất vật lý, hoá học, sinh thái của đất đai đã góp phần hìnhthành nên những lợi thế so sánh nhất định của từng vùng, từng địa phương vàmỗi quốc gia
Trang 6Chính vì sản xuất nông, lâm nghiệp trong hộ nông dân gắn kết chặt chẽ với
sử dụng tài nguyên đất nên việc quản lý và sử dụng tốt đất đai trong sản xuấtNLN sẽ làm tăng thu nhập của các hộ nông dân, góp phần ổn định kinh tế, chínhtrị và xã hội, điều đó càng có ý nghĩa lớn với Việt Nam đang còn là một nướcnông nghiệp và với vùng khó khăn như ở Hương Sơn, Hà Tĩnh
1.1.1.3 Sự phát triển của kinh tế hộ nông dân với việc xác lập quyền được giao đất và sử dụng đất nông, lâm nghiệp lâu dài
a Các khái niêm cơ bản
- Theo Ellis 1988: Hộ nông dân là hộ có phương tiện kiếm sống từ ruộngđất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình vào sản xuất, luôn nằm trong một hệthống kinh tế rộng hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bởi sự tham gia từngphần vào thị trường với mức độ hoàn hảo không cao [15]
- Kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở nền sản xuất xãhội, trong đó các nguồn lực như đất đai, lao động, tiền vốn và tư liệu được coi làcủa chung để tiến hành sản xuất, có chung ngân quỹ, ở chung một nhà, ăn chung,mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh và đời sống là tuỳ thuộc vào chủ hộ,được Nhà nước thừa nhận, hỗ trợ và tạo điều kiện phát triển
b Tính tất yếu của sự tồn tại và phát triển của kinh tế nông hộ
Kinh tế hộ nông dân là hình thức kinh tế cơ bản và tự chủ trong nôngnghiệp Nó được hình thành, tồn tại và phát triển một cách khách quan, lâu dàidựa trên sự tư hữu các yếu tố sản xuất Trong thực tế kinh tế hộ nông dân là loạihình kinh tế có hiệu quả, phù hợp với sản xuất nông nghiệp, thích ứng, tồn tại vàphát triển trong mọi tổ chế độ kinh tế - xã hội [15]
Quyển 3 trong bộ tư bản Kmark viết: “Nông trại gia đình là hình thức tổ
chức sản xuất nông nghiệp có hiệu quả và phù hợp với đặc điểm của sản xuất nông nghiệp” [15].
Theo Lênin: “cải tạo tiểu nông không phải là tước đoạt họ mà phải tôn
trọng sở hữu cái nhân của họ, khuyến khích họ liên kết với nhau một cách tự nguyện để tạo điều kiện thuận lời cho sự phát triển của chính họ” [15]
Trang 7Theo Traianốp - một nhà kinh tế nông nghiệp nổi tiếng ở Nga 1920 kết
luận:“Hình thức kinh tế nông hộ có khả năng thích ứng và tồn tại trong mọi
phương thức sản xuất” [15] Như vậy kinh tế hộ nông dân tồn tại và dễ thích ứng
với những hoàn cảnh khác nhau vì:
Các thành viên trong nông hộ có cùng mục đích và cùng lợi ích chung
là làm sao cho hộ của mình ngày càng phát triển ngày càng giàu có
Nông dân là người có khả năng tự duy trì được tái sản xuất đơn giản
do họ có tư liệu sản xuất chủ yếu như đất đai và lao động, nhờ đó họ có thể chủđộng, tiến hành tổ chức sản xuất
Trong quá trình tồn tại và phát triển, mục tiêu tối đa hoá lợi nhuậnkhông phải là mục tiêu duy nhất trong sản xuất của các hộ nông dân
Quá trình tập trung hoá ruộng đất vào một số người bị hạn chế vì đấtđai bị chia nhỏ do quá trình tách hộ và sự thừa kế, mỗi hộ đều muốn giữ lại phầnđất đó để đảm bảo có thu nhập dù là ít cho cuộc sống
Nông dân có thể vượt qua các áp bức, xô đẩy của thị trường nhờ có sửdụng nguồn lao động trong phạm vi của hộ
Do sản xuất nông nghiệp không hấp dẫn cho quá trình đầu tư thành tưbản nông nghiệp vì chu kỳ sản xuất nông nghiệp dài, lại phụ thuộc chặt chẽ vàođiều kiện tự nhiên, vào thị trường nên mức lãi suất thấp và rất bấp bênh
Nông dân có khả năng đa dạng hoá các hoạt động kinh tế ở hộ nhưphát triển trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp … để sử dụng triệt để sức lao động,đất đai, vốn liếng của hộ vào sản xuất để tăng thu nhập [15]
c Vai trò của kinh tế hộ
Với ý nghĩa trên kinh tế hộ nông dân có những vai trò to lớn trong nôngnghiệp và nông thôn nói riêng cũng như trong toàn bộ nền kinh tế xã hội:
Kinh tế hộ nông dân đã góp phần làm tăng nhanh sản lượng sản phẩm cho
xã hội như lương thực, thực phẩm, sản phẩm cây công nghiệp, nông sản xuấtkhẩu và nhiều loại sản phẩm là nguyên liệu cho các ngành nghề công nghiệp, đặcbiệt là công nghiệp chế biến trong nước và xuất khẩu.Ví dụ: Mỹ là nước có nền
Trang 8nông nghiệp phát triển ở trình độ cao nhưng 1,4 triệu nông trại đã cung cấp cho
xã hội lượng hàng hoá nông sản tới 59,2% so với tổng số [15]
Ở Hungari: Sản phẩm hàng hoá nông trại chiếm 60% tổng
số hàng hoá trong thị trường nông thôn [15]
Ở Việt Nam, kinh tế nông hộ quy mô còn nhỏ và phân tánnhưng đã cung cấp cho xã hội tới 95% sản lượng thịt, 90% sản lượng trứng và93% sản lượng rau quả Sản xuất của nông hộ chiếm 48% tổng sản lượng củangành nông nghiệp [15]
Kinh tế hộ nông dân đã góp phần sử dụng đầy đủ và có hiệu quả các yếu tốsản xuất như đất đai, lao động, tiền vốn và tư liệu sản xuất
Kinh tế hộ nông dân làm tăng thêm việc làm và nâng cao thu nhập chongười dân ở nông thôn vì vậy đã góp phầm tạo ra sự ổn định xã hội ở địa bànnông thôn rộng lớn, mà đây vừa là tiền đề, vừa là điều kiện cho sự phát triển kinh
tế - xã hội nói chung trên bình diện rộng Như vậy kinh tế hộ nông dân tồn tại làmột yếu tố khách quan và với vị trí vai trò to lớn của nó trong đời sống kinh tế -
xã hội nên phát triển kinh tế hộ nông dân luôn là một yêu cầu phù hợp với quyluật, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay của Việt Nam
Phát triển kinh tế hộ nông dân là quá trình lớn lên (tăng lên) về mọi mặt củakinh tế hộ nông dân trong một thời gian nhất định Trong đó bao gồm cả sự tăngthêm về qui mô (tăng trưởng) và sự tiến bộ về cơ cấu của kinh tế hộ nông dân
Để phát triển kinh tế hộ nông dân, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, cầnphải dựa trên các quan điểm: Tạo sự tăng trưởng, ổn định và hài hoà các mốiquan hệ đảm bảo sự cân bằng hệ sinh thái, đảm bảo sự phát triển bền vững, đảmbảo đáp ứng nhu cầu hiện tại nhưng không làm giảm khả năng đáp ứng nhu cầucủa thế hệ mai sau, phát triển kinh tế hộ nông dân trên mối quan điểm phát triển
Trang 91.1.2.1 Đặc điểm sử dụng đất đai
Đất đai là bề mặt trái đất, là thành phần quan trọng của môi trường sống, lànguồn tài nguyên vô cùng quý giá do thiên nhiên ban tặng cho con người, conngười khai thác đất đai để trồng trọt, chăn nuôi tạo ra sản phẩm nuôi sống cả xãhội loài người
Vì vai trò to lớn của đất đai trong đời sống kinh tế - xã hội nên căn cứ vàomục đích sử dụng chủ yếu, đất đai được phân thành các loại:
Đất canh tác hàng năm dùng vào mục đích trồng cây lương thực,thực phẩm mà thời gian canh tác dưới 1năm
Đất canh tác trồng cây lâu năm như các cây lấy gỗ, lấy lá, lấy quả
mà thời gian sinh trưởng của nó từ 1 năm trở lên
Đất đồng cỏ phục vụ chăn nuôi
Đất ao hồ, đầm gọi chung là đất có mặt nước để nuôi tôm, cá, ếch
và các loại động vật thuỷ sinh khác [21]
- Đất nông nghiệp cung cấp thức ăn cho cây trồng và thông qua sự pháttriển của trồng trọt tạo điều kiện cho chăn nuôi phát triển, vì vậy đất nông nghiệp
là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt của hộ nông dân
- Đất lâm nghiệp: là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất lâmnghiệp, gồm có đất rừng tự nhiên, đất đang có rừng trồng và đất để sử dụng vàomục đích lâm nghiệp như trồng rừng, khoanh nuôi, tu bổ, bảo vệ để phục hồi
Trang 10rừng tự nhiên, nuôi dưỡng làm giàu và rừng nghiên cứu thí nghiệm về lâmnghiệp [18].
Do điều kiện địa lý nên đất lâm nghiệp là loại đất chiếm tỷ lệ tương đối lớntrong vốn đất đai nước ta Diện tích đất lâm nghiệp có rừng có tác dụng chốngxói mòn, điều hoà và bảo vệ môi trường sinh thái, cung cấp các sản phẩm lâmnghiệp (như gỗ, lâm thổ sản…) cho nền kinh tế quốc dân
1.1.2.2 Các chủ trương của Đảng, Pháp luật của Nhà nước và chính sách của Chính phủ Việt Nam về đất đai và đất nông nghiệp, lâm nghiệp
a Chính sách đất đai
“Chính sách được xác định như là đường lối hành động mà Chính phủ lựa
chọn đối với một lĩnh vực của nền kinh tế, kể cả các mục tiêu mà Chính phủ tìm kiếm và sự lựa chọn các phương pháp để theo đuổi các mục tiêu đó” [22].
+ Nội dung và quá trình thực hiện chính sách đất đai
- Về quyền sở hữu và quyền sử dụng đất đai
“Quyền sở hữu là tổng hợp một hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà
nước đặt ra để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực chiếm hữu, sử dụng và định đoạt các tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng trong xã hội”(22).
Hiến pháp năm 1992, để phù hợp với công cuộc đổi mới của đất nước.Hiến pháp đã xác nhận tồn tại lâu dài của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phầntheo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN.Hiến pháp năm 1992 quy định Nhà nước là chủ sở hữu đối với tất cả những tưliệu sản xuất chủ yếu Luật đất đai này (1993 – 1998, 2001, 2007) đã xác định
“Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước thống nhất quản lý” [20]
Đất đai là một trong những khách thể chủ yếu của quyền sở hữu của Nhànước
Quyền sử dụng của chủ đang sử dụng đất: Đã được Luật đất đai 1993 quyđịnh 5 quyền cụ thể là:
Quyền sử dụng ổn định lâu dài
Quyền chuyển đổi sử dụng đất
Trang 11 Quyền thừa kế quyền sử dụng
Quyền thế chấp
Quyền cho thuê [24]
Tóm lại: Việc quy định các quyền sử của Nhà nước và các quyền của chủthể sử dụng đất trong đó có các hộ nông dân tạo nên cấu trúc của quan hệ sở hữuđất đai phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể của nước ta hiện nay, đồng thời tạo ra
cơ sở pháp lý cần thiết cho quan hệ đất đai vận động có hiệu quả trong cơ chếmới
- Quyền tài sản về đất đai và vấn đề an ninh trong sử dụng đất đai
Quyền tài sản về đất đai của hộ nông dân đã thực sự được luật hoá trong cácLuật đất đai (1993, 1998, 2001, 2007,2008) trong đó với việc quy định 5 quyềncủa người sử dụng đất (các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế,thế chấp) là những quyền năng rất cụ thể mà pháp luật giao cho các cá nhân, các
hộ nông dân trong việc quản lý, sử dụng đất đai Đây là sự đổi mới cơ bản nhấttrong quản lý đất đai của Đảng và Nhà nước ta trong thời gian qua Việc quy định
5 quyền hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất phù hợp với yêu cầu khách quan của sựphát triển kinh tế - xã hội của đất nước ta Trong khi luật pháp quy định: “Đất đaithuộc sở hữu toàn dân” thì các quyền tài sản về đất đai được Nhà nước giao chocác hộ nông dân thông qua việc thực hiện các luật đất đai, thông qua việc traoquyền sử dụng đất … đã tạo nên an ninh trong sử dụng đất đai, đó là:
Các hộ nông dân sử dụng đất đai có hiệu quả
Tạo điều kiện cho các hộ nông dân đầu tư dài hạn vào đất đai,nâng cao được sức sản xuất của đất đai
Là điều kiện để nông dân tiếp cận các nguồn đầu tư khác
- Vấn đề hạn điền (hay hạn mức đất nông nghiệp)
Hạn điền là mức đất tối đa mà luật cho phép cá nhân được quản lý sử dụng [2].Vấn đề hạn điền tại Việt Nam hiện nay được điều 44 - Luật đất đai 1993quy định “Hạn mức đất nông nghiệp trồng cây hàng năm của mỗi hộ gia đìnhkhông quá 3 ha do Chính phủ quy định cụ thể đối với từng địa phương”
Trang 12Chế độ quản lý và sử dụng đối với phần đất mà các hộ gia đình sử dụngvượt quá hạn mức nói trên do Chính phủ quy định
Hạn mức đất nông nghiệp cây lâu năm và hạn mức đất trống, đồi trọc, đấtkhai hoang, lấn biển của mỗi hộ gia đình khai thác để sản xuất nông nghiệp,trồng rừng, nuôi trồng thuỷ sản do Chính phủ quy định
Theo Nghị định 64/CP ngày 27/9/1993 thì 18 tỉnh vùng đồng bằng sông CửuLong có hạn mức là 3 ha, các tỉnh còn lại có hạn mức là 2 ha Riêng đối với đấttrống, đồi núi trọc có thể sử dụng vào mục đích nông nghiệp thì UBND cấp huyệncăn cứ vào vốn đất đai để giao cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân [24]
Như vậy vấn đề hạn mức đất thì Chính phủ - trong thẩm quyền của Luật đấtđai giao cho - phải tiếp tục quy định cụ thể về hạn mức đất nông nghiệp, đấttrồng cây lâu năm, đất trống, đồi núi trọc… phải qui định cụ thể, rõ ràng vềquyền lợi của người có diện tích lớn vượt quá hạn mức Việc qui định một mặtphải đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, mặt khác phải cóchính sách khuyến khích mọi tổ chức và cá nhân tận dụng đất đai để sản xuấtnông nghiệp, trồng rừng thông qua việc khai hoang, phục hoá, cải tạo đất trống,đồi núi trọc, đất hoang ven biển
Theo tinh thần của Luật đất đai hiện hành, người đang sử dụng đất nôngnghiệp vượt quá hạn mức vẫn được Nhà nước cho phép tiếp tục sử dụng nhưngphải nộp một khoản phụ theo qui định của Nhà nước Người có diện tích vượtquá hạn mức không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ổn định, lâudài và được giải quyết theo hướng:
Nếu diện tích do khai hoang hoặc nhận quyền sử dụng của người khác thìnộp thuế phụ thu vượt mức do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội qui định Hết hạn sửdụng đất Nhà nước sẽ thu hồi Nếu Nhà nước chưa sử dụng đến đất đó thì có thểgiao cho người có đất tiếp tục sử dụng
Nếu diện tích do lấn chiếm, do đòi lại trái phép thì Nhà nước sẽ thu hồi
Nếu ở địa phương nào bình quân diện tích quá thấp, có nhiều hộ không cóhoặc thiếu ruộng thì UBND xã bàn bạc, thương lượng với những hộ có nhiều
Trang 13diện tích vượt quá hạn mức để chuyển một phần diện tích đất đó cho những hộthiếu đất Số diện tích này được bồi hoàn theo giá quy định
- Vấn đề giao đất nông, lâm nghiệp
Đảng và Nhà nước ta đã có chủ trương, chính sách giao đất nông, lâmnghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sảnxuất nông, lâm nghiệp qua hoạt động giao khoán đất nông nghiệp theo nghị quyết
10 và chủ trương này đã được pháp luật hoá - điều 20 Luật đất đai năm 1993 quyđịnh: “Nhà nước giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài, ổn định cho các tổ chức,
hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài”
Thời hạn giao đất sử dụng ổn định lâu dài để trồng cây hàng năm, nuôitrồng thuỷ sản là 20 năm, để trồng cây lâu năm là 50 năm Khi hết thời hạn, nếungười sử dụng đất có nhu cầu tiếp tục sử dụng và trong quá trình sử dụng đất chấphành đúng pháp luật về đất đai thì được Nhà nước giao đất tiếp tục sử dụng [10]
Để thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và các quy định của phápluật, Chính phủ đã ban hành các nghị định: Nghị định 64/CP ngày 27/9/1993 banhành bản qui định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng
ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp và Nghị định số 02/CP ngày15/01/1994 ban hành bản qui định về việc giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộgia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp
Đối với đất nông nghiệp, bản qui định ban hành kèm theo Nghị định 64/CPChỉ rõ: Loại đất để giao gồm: Đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, đất nôngnghiệp trồng cây lâu năm, đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản Các loại đất nàygồm cả đất làm kinh tế gia đình trước đây hợp tác xã giao, đất vườn, đất xâmcanh, đất trống, đồi núi trọc, đất hoang hoá để xác định sản xuất nông nghiệp [8].Bản qui định khẳng định: “Đất giao cho hộ gia đình theo qui định này là giaochính thức và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ổn định lâu dài” [8]
Về thời hạn giao: Với đất trồng cây hàng năm, nuôi trồng thuỷ sản là 20năm; để trồng cây lâu năm là 50 năm
Trang 14Bản qui định còn hướng dẫn chi tiết để thực hiện đối với các trường hợpchuyển cư, cách xử lý đối với diện tích đất vượt hạn mức của các hộ gia đình vàthủ tục giao đất
Đối với đất lâm nghiệp, bản qui định ban hành kèm nghị định 02/CP ngày15/01/1994 của Chính phủ chỉ rõ:
Loại đất lâm nghiệp để giao gồm: Đất có rừng tự nhiên, đất đang có rừngtrồng, đất chưa có rừng được qui hoạch để gây trồng rừng, khoanh nuôi, bảo vệthảm thực vật [24]
Bản qui định cũng khẳng định: “Nhà nước giao đất lâm nghiệp cho tổ chức,
hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài theo đúng mục đích sử dụng củatừng loại rừng” [24] và thực hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đấtlâm nghiệp cho các đối tượng có đủ điều kiện qui định ở điều 14
Đối tượng được giao đất lâm nghiệp:
Các tổ chức, các ban quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, các doanhnghiệp lâm nghiệp, nông nghiệp, các trạm, trại, trường học, các đơn vị lực lượng
vũ trang nhân dân…
Hộ gia đình cư trú tại địa phương được UBND xã, phường xác nhận
Cá nhân
Đối với đất lâm nghiệp là đất trống, đồi núi trọc, các tổ chức, hộ gia đình,
cá nhân được giao đất ngoài việc được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
ổn định lâu dài còn được hưởng chính sách đầu tư hỗ trợ hợp lý, miễn giảm thuếtheo quy định của pháp luật
Về thời hạn giao đất lâm nghiệp: Đối với gia đình, cá nhân là 50 năm hếtthời hạn nếu vẫn có nhu cầu và sử dụng đúng mục đích thì được Nhà nước xétgiao tiếp Nếu trồng các loại cây lâm nghiệp có chu kỳ trên 50 năm thì sau 50năm được Nhà nước giao tiếp cho đến khi thu hoạch sản phẩm chính
Thời hạn giao giao đất lâm nghiệp được tính thống nhất từ 15/10/1993, vớiđất được giao sau 15/10/1993 thì được tính từ ngày giao
- Chính sách thuế đất
Trang 15Nhà nước thông qua chính sách thuế đất để các đối tượng sử dụng đất đai thấyđược nghĩa vụ và tránh nhiệm của hộ trong việc sử dụng các yếu tố về dất đai cũngnhư nghĩa vụ và trách nhiệm của họ đối với Nhà nước Các đối tượng sử dụngnhiều hay ít đất đai đều phải có nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước theo luật định Thuế đất là khoản tiền (giá trị) hay hiện vật (tuỳ vào từng loại đất và tuỳvào chính sách từng thời kỳ) mà tổ chức, cá nhân phải nộp vào ngân sánh Nhànước.
Chính sách thuế đất trong những năm đổi mới được quy định trong các vănbản Nhà nước:
Luật đất đai năm 1993: Chính sách về thuế đất được qui định tại điều 79(khoản 4) qui định nghĩa vụ của người sử dụng đất: “nộp thuế sử dụng đất: thuếchuyển quyền sử dụng đất, lệ phí địa chính theo qui định của pháp luật” [9]
Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp: (ngày 01/7/1993): Đây là chính sách
về thuế đất nông nghiệp với cách đánh thuế đất theo loại đất, đất trồng cây hàngnăm được chia ra 6 hạng (từ hạng 1 đến hạng 6) đất trồng cây lâu năm chia làm 5hạng (từ hạng 1 đến hạng 5) (8), căn cứ vào chất đất, vị trí, địa hình, điều kiệnkhí hậu, thời tiết và điều kiện tưới tiêu và qui định suất thuế cho từng hạng đất(điều 7, điều 9 của luật)
Cũng theo qui định của luật thì thuế sử dụng đất nông nghiệp được tínhbằng thóc và thu bằng tiền và giá thóc căn cứ vào giá thóc trên thị trường địaphương trong vụ thu thuế - giảm thuế, các qui định về xử lý vi phạm, về khiếunại và thời hiệu, về tổ chức thực hiện
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.2.1.Quá trình phát triển kinh tế hộ ở nước ta
1.2.1 Kinh tế hộ trước khi thành lập hợp tác xã nông nghiệp
Trước cách mạng tháng 8/1945, xét trên cả nước giai cấp địa chủ chỉ có3% dân số đã chiếm 41,1 % ruộng đất, nông dân chiếm 97% dân số nhưng chỉ có36% diện tích đất, còn lại thuộc đồn điền của pháp và đất công Số hộ không có
Trang 16ruộng đất chiếm 5%, trong số có ruộng đất khoảng 49% có từ 0,3 đến dưới 1 ha/1hộ.
Xét từng miền, ở Nam Bộ 3/4 số hộ nông dân, ở Bắc Bộ và Trung Bộ ½
số hộ không có ruộng đất phải lĩnh canh làm tá điền cho địa chủ hoặc làm thuêcho các đồn điền của thực dân Pháp
Giai đoạn này, sản xuất nông nghiệp dựa trên cơ sở hộ gia đình nông dân
là chính, kinh tế phát triển theo 2 cực:
- Phú nông, địa chủ: Thuê mướn lao động, kinh doanh ruộng đất, cho cấy rẽ
- Nông dân nghèo có ruộng đất thì tự tổ chức sản xuất, số còn lại phải đi làmthuê hoặc lĩnh canh
Sau cải cách ruộng đất ở miền bắc năm 1956, đa số hộ nông dân nhiều ít đều
có đất cho người trực tiếp sản xuất nông nghiệp
Nét đặc trưng của hộ nông dân ở giai đoạn này là nông hộ sản xuất hoàn toàn cáthể
1.2.2 Kinh tế hộ từ năm 1960 đến năm 1980
Từ năm 1958, tiến hành hợp tác hoá nông nghiệp, cuối năm 1960 có 84%nông hộ đã tham gia vào hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, từ đó làm cho môi trườngsản xuất nông hộ thay đổi căn bản Hiến pháp năm 1959 đã xác định: Đất đai thuộc
sở hữu toàn dân, mọi quan hệ mua bán, trao đổi đất bị cấm nghiêm ngặt
Giai đoạn này, sản xuất nông nghiệp được tổ chức chủ yếu theo các hợp tác
xã và các nông trường quốc doanh Trong hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, nông hộđược tập thể giành cho 5% đất canh tác nhưng đã sản xuất ra 48% giá trị tổng sảnlượng nông nghiệp, 95% sản lượng chăn nuôi, 93% sản lượng râu quả và chiếm 50 -60% thu nhập của hộ Tuy không công khai nhưng kinh tế hộ đã thực sự là cơ sởđảm bảo cho kinh tế tập thể tồn tại Nông hộ được chia thành 2 loại:
- Hộ nông dân cá thể: Ngày càng giảm, có phân biệt, đối xử, sản xuất luôn bịkìm hãm bóc lột
Trang 17- Hộ gia đình xã viên trong hợp tác xã và hộ công nhân viên trong các lâmtrường: Loại hộ này có nguồn thu từ kinh tế tập thể thông qua ngày công đóng góphoặc tiền lương và thu từ đất là 5 %.
Kinh tế nông hộ chỉ giới hạn ở phần đất 5%, kinh tế hợp tác xã đình đốn,kinh tế quốc doanh luôn thua lỗ Do thu nhập từ kinh tế tập thể thấp đã làm chonông dân, xã viên chán nản, muốn xa rời kinh tế tập thể
1.2.3 Kinh tế hộ giai đoạn 1981 – 1987
Trước thực trrạng diễn biến của sản xuất nông ngghiệp, của kinh tế hộ bị hạnchế, khủng hoảng về lương thực thường xuyên xảy ra Nghị quyết TW VI tháng 9năm 1979 xác định “những vấn đề kinh tế - xã hội cấp bách” nhằm tìm giải phápcho nông nghiệp phát triển
Chỉ thị 100 CT/TW ngày 13/1/1981 về cải cách công tác khoán, mở rộng
“khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp” Xãviên được đầu tư vốn, sức lao động trên ruộng đất được khoán và hưởng trọn phầnvượt khoán nên kinh tế hộ gia đình được khôi phục và phát triển nhanh chóng
Năm 1986 - 1987 giá vật tư nông nghiệp tăng lớn hơn giá thóc chế độ thumua lương thực theo chế độ nhà nước nặng nề, ruộng đất khoán mà tập thể đảmnhận 5 khâu là giống, làm đất, thuỷ lợi, phân bón, phòng trừ sâu bệnh; 3 khâu mànhóm và người lao động chịu trách nhiệm là cấy,hăm sóc và thu hoạch Không được
ổn định, sản lượng khoán thường xuyên nâng cao dần
Từ đó, hiệu quả đầu tư giảm, thu nhập của nông hộ cũng giảm dần, nông dân
xã viên trả ruộng, có tâm trạng mong muốn mất mùa để giảm sản lượng khoán hơn
là được mùa
Kinh tế hộ giai đoạn này gồm thu từ đất 5% và phần vượt khoán
1.2.4 Kinh tế hộ giai đoạn 1988 đến nay
Trước thực trạng trên, Nghị quyết 10 NQ/TW ngày 5/4/1988 của Bộ chính trị
về đổi mới quản lý nông nghiệp nhằm giải phóng mạnh mẽ sức sản xuất trong nôngthôn, trong từng hộ nông dân Đặc biệt Nghị quyết khẳng định hộ gia đình là xã viên
Trang 18là đơn vị kinh tế tự chủ ở nông thôn có ỹ nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh
tế nông hộ
Ngị quyết còn chủ trương giao quyền sử dụng ruộng đất ổn định, lâu dài cho
hộ, xoá bỏ chính sách thu mua lương thực theo nghĩa vụ cho nông hộ phát triến sảnxuất
Thực hiện khoán theo nghị quyết 10 đã làm cho người lao động quan tâmđến sản phẩm cuối cùng
Các thành phần kinh tế và kinh tế nông hộ phát triển dẫn đến hiệu quả trongsản xuất và khhông ngừng nâng cao mức sống nông dân
Lực lượng khoa học kỹ thuật đã thực sự đi vào sản xuất của từng nông hộgóp phần tăng năng suất lao động trong nông hộ
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI, VII và VIII đã đưa ra tiếp những chủtrương về phát triển 5 thành phần kinh tế và 3 chương trình kinh tế lớn của nhànước; hộ nông dân là chủ thể sản xuất với việc ban hành những chính sách lớn nhưgiao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, mở rộng cho vay vốn đến nông
hộ, mở rộng tín dụng nông thôn, thực hiện xoá đói giảm nghèo… đã làm tăng lòngtin, mowr rộng quyền tự chủ kinh doanh cho nông hộ, kinh tế nông hộ đã có nhiềuthây đổi lớn, đã làm cho sản lượng lương thực không ngừng tăng lên qua các năm
Theo đánh giá của ban nông nghiệp TW:
Giai đoạn 1960 - 1975: Mức sống nông dân tăng 2%/ năm, chênh lệch giàu nghèo 1,5 - 2lần
Giai đoạn 1976 - 1980: Mức sống nông dân tăng 1%/ năm, chênh lệch giàu nghèo 3 - 4lần
Giai đoạn 1988 - 1990: Mức sống nông dân tăng 5%/ năm, chênh lệch giàu nghèo xa hơn.Năm 1993 chênh lệch giàu nghèo tăng 5 lần
Năm 1995 chênh lệch giàu nghèo tăng 10,5 lần
Trang 19Những chuyển biến tích cực quản lý và sử dụng đất nông lâm nghiệp đãđược nhiều tác giả, nhiều công trình khoa học đánh giá, nhìn nhận dưới các góc
độ khác nhau
Tài liệu phát triển hệ thống canh tác do Lê Trong Cúc và Trần Đức Viêndịch năm 1995 phổ biến cách tiếp cận và phát triển hệ thống canh tác một cáchbền vững [27]
Những mô hình cây trồng chính, hợp lý để phát triển kinh tế nông hộ nhưnông lâm kết hợp, mô hình sử dụng và quản lý đất tổng hộp theo quan điểm của
hệ thông nông nghiệp, mô hình cây ăn quả, cây công nghiệp ở các tỉnh phía Bắcđược tác giả Trần Đức Viên và Đỗ Văn Hoà nghiên cứu đề xuất [27]
Nguyễn Tử Siêm và Thái Văn Phiên đã nghiên cứu và đưa ra các giải pháp
để phát triển kinh tế hộ nông dân miền núi bền vững là thông qua 3 mặt: Bền vững
về kinh tế, môi trường và sự chấp nhận của người dân, thông qua 5 thuộc tính làtính hiệu quả, tính an toàn, tính bảo vệ, tính lâu bền và tính chấp nhận [27]
Khi xem xét tình hình giao đất từ 1988 - 1992 đề tài “những định hướng vàgiải pháp bước đầu nhằm đổi mới giao đất và giao rừng” của Nguyễn Đình Tư đãđánh giá thực trạng sau khi nhận rừng từ đó đề xuất các giải pháp cơ bản nhằmđổi mới công tác giao đất, giao rừng ở miền núi [27]
Nguyễn Hữu Từ đã nghiên cứu đề xuất một số giải pháp cơ chế chính sáchcần triển khi thực hiện đối với chủ rừng đặc biệt là các đơn vị quốc doanh, hộ giađình cá nhân được giao đất lâu dài [27]
Tóm lại ở nước ta đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu để đưa ra cácgiải cụ thể của mỗi vùng để quản lý và sử dụng đất nông lâm nghiệp phát triểnkinh tế hộ sau khi giao
Trang 20Chương 2
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Các phương pháp nghiên cứu
2.1.1 Các phương pháp thu thập số liệu
2.1.2.1 Phương pháp chọn địa điểm nghiên cứu
Hương Sơn là một huyện miền núi, địa hình phân thành 2 vùng có đặcđiểm địa bàn khác nhau là đồng bằng và miền núi Chọn ngẫu nhiên mỗi vùngmột xã, và 2 xã : Sơn Kim và Sơn Ninh là 2 xã được chọn:
- Sơn Ninh đại diên cho khu vực đồng bằng có chỉ có đất nông nghiệp
- Sơn Kim là xã ở khu vực biên giới có diện tích đất lâm nghiệp lớn (lớnhơn rất nhều so với đất nông nghiệp) đại diện cho khu vực các xã miền núi
Ở mỗi xã chon ngẫu nhiên mỗi xã 30 hộ sản xuất nông, lâm nghiệp
2.1.1.2 Phương pháp điều tra
- Điều tra thu thập tài liệu thứ cấp: Tài liệu thứ cấp là các loại tài liệu đã
được tỉnh, huyện và các ngành hữu quan công bố (như kết quả các cuộc điều tra,thanh tra nhanh, điều tra đói nghèo, điều tra nông nghiệp nông thôn, điều tranăng suất, sản lượng …) thừa kế các kết quả nghiên cứu này đồng thời tiến hànhtìm kiếm, thu thập các tài liệu, số liệu lưu trữ thuộc các phòng ban thuộc Huyện
uỷ, UBND huyện (các Niên giám thống kê của ngành thống kê huyện, các vănbản kế hoạch, qui hoạch …) để thu thập số liệu về đặc điểm địa bàn nghiên cứu,
sự phát triển kinh tế hộ nông dân
Đây là những số liệu đã công bố, đảm bảo tính đại diện và khách quan của
đề tài nghiên cứu Những số liệu này mang tính tổng quát, giúp cho người nghiêncứu có bước đầu hình dung được tình hình sản xuất kinh doanh, những vấn đềthuận lợi và khó khăn mà nông hộ thường gặp Những kinh nghiệm về nghiêncứu và giải pháp đã được áp dụng Các thông tin thu thập cụ thể như sau:
Trang 21Bảng 2.1 Nguồn thu thập thông tin thứ cấp
1 Điều kiện TN - KT - XH của
huyện
Phòng thống kê, trạm khí tượng thuỷvăn huyện
2 Điều, khoản của luật đât đai Bộ luật đất đai các năm, luật sửa
đổi.Văn kiện đại hội của Đảng
3 Thực trạng đất đai, lao động, tài
chính, dịch vụ
Phòng tài nguyên & môi trường, phòngLĐTBXH, phòng kinh tế
4 Các nghiên cứu có liên quan
Internet, các báo các khoa học, các bàigiảng, bài viết của các tác giả Sách giáokhoa của các trường các ngành
- Điều tra thu thập tài liệu sơ cấp: Bằng phương pháp sử dụng mẫu bảng
hỏi và phương pháp điều tra nhanh nông thôn (PRA) chúng tôi tiến hành điều tra
60 hộ nông dân và thu thập số liệu những nội dung cơ bản sau:
Các thông tin chung về địa bàn nghiên cứu
Các thông tin về nguồn lực của nông dân, đi sâu vào thu nhập về nguồnlực về đất nông, lâm nghiệp, lao động, vốn và cơ sở vật chất kỹ thuật …
Các thông tin về thực trạng sản xuất của hộ nông dân, đi sâu thu thậpthông tin về thu nhập từ sản xuất trên đất NLN
Và rất nhiều thông tin khác có liên quan đến toàn bộ hoạt động sản xuất,đời sống văn hoá, tinh thần cũng như những kiến nghị, đề nghị của các hộ nôngdân
Trang 22Sau khi chọn được hộ điều tra, kế thừa các kết quả điều tra trước đây trongđịa bàn huyện (như kết quả điều tra nhanh diện tích đất đai và sản xuất NLN của
hộ nông dân trước khi giao đất - dự án tiến hành giao đất của ngành địa chínhHương Sơn), tiến hành điều tra trực tiếp tại cơ sở, sau khi thu được các thông tincần thiết của hộ, căn cứ vào tiêu chuẩn phân loại hộ giàu, nghèo mới nhất (Quyếtđịnh số170/TTg ngày 08/7/2005LĐTB - của của thủ tướng chính phủ ban hànhchuẩn nghèo quốc gia giai đoạn 2006 - 2010) đã tiến hành tính toán lại thu nhậpcủa hộ nông dân theo giá cố định năm 2008 và việc phân loại hộ chủ yếu là theochỉ tiêu thu nhập/khẩu/tháng Kết quả phân loại các hộ điều tra, tỷ lệ các nhóm hộqua các thời kỳ sau khi kế thừa số liệu và điều tra trực tiếp tại cơ sở được thểhiện ở bảng:
Bảng 2.2 Phân tổ số hộ nông dân điều tra ở huyện Hương Sơn (năm 1993
(Nguồn số liệu điều tra)
Bảng 2.3 Tiêu chuẩn và kết quả phân loại các hộ nông dân điều tra ở huyện Hương Sơn (Các năm 1993, 2008)
Trang 23BQ/khẩu/tháng (1000đ) SL (hộ) CC (%) SL (hộ) CC (%)
Giá trị sản xuất (GO): Là toàn bộ giá trị sản xuất được tạo ra trongmột thời kỳ nhất định, thường là 1 năm
Xét về mặt giá trị thì giá trị sản xuất là giá trị tính bằng tiền của toàn bộcác loại sản phẩm của hộ sản xuất trong một thời gian xác định
GOP i*Q i
Trong đó: GO: là giá trị sản xuất
Pi: Đơn giá loại sản phẩm i
Qi: Khối lượng sản phẩm i
Chi phí trung gian (IC): Là toàn bộ chi phí vật chất và dịch vụđược sử dụng trong một thời kỳ sản xuất xác định
Chi phí trung gian là một bộ phận cấu thành nên giá trị sản xuất
Giá trị gia tăng (VA): Là chênh lệch giữa giá trị sản xuất và chiphí trung gian, đây là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh kết quả cuối cùng củahoạt động sản xuất:
VA = GO – IC
Thu nhập hỗn hợp (MI): Là phần thu nhập của người sản xuất baogồm tiền công lao động gia đình và lợi nhuận của sản xuất trong một chu kỳ sảnxuất
MI = VA – (A + T) – Lao động thuê ngoài
Trong đó:
Trang 24A: Khấu hao tài sản cố định + Chi phí phân bổ; T: Thuế
2.1.2.5 Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo
Tham khảo ý kiến chuyên môn của các chuyên gia có kinh nghiệm trongphát triển nông thôn, nông nghiệp, các cán bộ khoa học, cán bộ kỹ thuật, cán bộhuyện, xã và các lao động có kinh nghiệm ở địa phương để đánh giá thông tin thuđược qua các tài liệu sơ cấp, thứ cấp và các thông tin liên quan
2.1.1.6 Phương pháp phân tổ diện tích đất đai
Với đất nông nghiệp
Tổ có diện tích đất nông nghiệp: Từ 2500 - 5000 m2(5-10 sào)
Tổ có diện tích đất nông nghiệp nhỏ hơn 2500 m2 (5 sào)
Tổ có diện tích đất nông nghiêp >5000m2 (10 sào)
Với đất lâm nghiệp
Tiến hành phân tổ các hộ điều tra theo các tổ:
Tổ diện tích đất lâm nghiệp xoay quanh gần điểm bình quân
50000-100000 (5-10 ha)
Tổ có diện tích đất lâm nghiệp lớn hơn 100.000 m2 (10 ha)
Tổ có diện tích đất lâm nghiệp nhỏ hơn 50.000 m2 (5 ha)
2.1.1.7 Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh được dùng để so sánh các chỉ tiêu về nguồn lực chủyếu để phát triển kinh tế hộ như: Đất đai, lao động – nhân khẩu, vốn và tài sảnchủ yếu phục vụ cho sản xuất của các hộ năm 2008 với năm 1993
Trang 25Chương 3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm địa bàn huyện Hương Sơn
3.1.1 Đặc điểm về tự nhiên của huyện Hương Sơn
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Hương Sơn là một huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Hà Tĩnh thuộcvùng Bắc Trung Bộ và có toạ độ địa lý từ 105006’08” đến 105033’08” Kinh độĐông và từ 18016’07” đến 18037’28” Vĩ độ Bắc Ranh giới chính của huyện đượcxác định như sau:
Phía Bắc giáp với huyện Nam Đàn và huyện Thanh Chương,
Phía Nam giáp với huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh
Phía Đông giáp với huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh
Phía Tây giáp với nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào
Toàn huyện có 32 đơn vị hành chính cấp xã gồm 30 xã và 2 thị trấn với tổngdiện tích tự nhiên là 110.314,98 ha; chiếm 18,33 % tổng diện tích tự nhiên toàntỉnh (huyện Hương Sơn có diện tích tự nhiên lớn thứ hai trong toàn tỉnh, sauhuyện Hương Khê và lớn gấp 19,58 lần đơn vị hành chính có diện tích nhỏ nhấttỉnh) Huyện có hai thị trấn là Phố Châu và thị trấn Tây Sơn, trong đó Thị trấnPhố Châu là trung tâm văn hoá – chính trị của huyện, cách thành phố Hà Tĩnh 70
km về phía Tây Bắc Thị trấn Tây Sơn là trung tâm dịch vụ – thương mại củahuyện – là đầu mối lưu thông hàng hoá từ cửa khẩu Cầu Treo đến các vùng trong
cả nước Trên địa bàn huyện có tuyến đường chiến lược Hồ Chí Minh – trụcxuyên Việt phía Tây của cả nước; trục quốc lộ 8A – hành lang kinh tế Đông –Tây nối Việt Nam với nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào qua cửa khẩu Quốc
tế Cầu Treo với chiều dài gần 70 km…đã tạo nên những thuận lợi quan trọng chophát triển kinh tế – xã hội của huyện trong tương lai khi nền kinh tế cả nước hộinhập với khu vực và thế giới
Trang 26Ở đây có địa hình, sinh thái, tài nguyên rừng, tiềm năng về đất đai, năngsuất cây trồng, vật nuôi và các điều kiện tự nhiên còn lớn vì vậy có thể phát triểnnền nông nghiệp đa dạng và toàn diện Ngoài ra, huyện Hương Sơn còn có thảmthực vật phong phú, có nhiều sông suối thuận lợi cho việc phát triển chăn nuôivới quy mô lớn, là một trong những điều kiện tốt nhằm ổn định kinh tế và pháttriển nền nông sản hàng hoá tập trung.
3.1.1.2 Đất đai và phân bố sử dụng đất đai của huyện
Qua bảng 3.1 ta thấy tổng diện tích đất tự nhiên của toàn huyện Hương Sơn
là 110314,98 ha Trong đó đất nông nghiệp năm 2006 là 13.396,7 ha chiếm12,14% tổng diện tích đất tự nhiên của toàn huyện Nhưng đến năm 2008 diệntích đất nông nghiệp đã giảm đi là 13.275,4 ha chiếm 12,03% tổng diện tích đất
tự nhiên của toàn huyện Bình quân mỗi năm diện tích đất nông nghiệp giảm đi là0,45% Nguyên nhân của việc giảm đi này là đo sau khi có đự án 135 đất chuyêndùng tăng lên do đầu tư mở rộng đường giao thông, đất xây dựng cơ bản, các khukinh tế Tuy nhiên, diện tích đất nông nghiệp giảm xuống cho thấy nền kinh tếnền kinh tế xã hội ngày càng phát triển theo hướng có lợi giảm tỷ trọng ngànhnông nghiệp
Trang 27Bảng 3.1 Tình hình đất đai của huyện Hương Sơn qua 3 năm (2005 – 2007)
Chỉ tiêu SL (ha) Năm 2006 CC (%) SL (ha) Năm 2007 CC (%) SL (ha) Năm 2008 CC (%) 07/06 So sánh (%) 08/07 BQ
Trang 28Trong đất nông nghiệp thì đất trồng cây hàng năm chiếm chủ yếu, năm 2006diện tích trồng cây hàng năm là 7.865,4 ha chiếm 58,71% tổng diện tích đất nôngnghiệp của huyện; đến năm 2007 diện tích trồng cây hàng năm là 7.729,34 ha chiếm58,22% diện tích đất nông nghiệp Xu hướng biến động qua 3 năm cho thấy diệntích đất trồng cây hàng năm bình quân mỗi năm giảm 0,87% Diện tích đất vườn tạpnăm 2006 của cả huyện là 1642,7 ha chiếm 12,26% tổng diện tích đất nông nghiệpđến năm 2008 giảm xuống còn 1.554,06 ha và chỉ còn chiếm 11,71%; bình quânmỗi năm giảm đi 2,73% Diện tích đất trồng cây lâu năm năm 2005 là 3.411 hachiếm 25,46% diện tích đât nông nghiệp nhưng đến năm 2008 tăng lên là 3.507 hachiếm 26,42% diện tích đất nông nghiệp Bình quân mỗi năm diện tích đất trồngcây hàng năm tăng 1,4% Diện tích trồng cây lâu năm tăng là do các hộ nông dân đã
mở rộng quy mô trồng cây ăn quả Đặc biệt là cây cam bù là đặc sản của huyệnHương Sơn
Diện tích đất lâm nghiệp năm 2006 là 83.470,96 ha chiếm 75,67% tổng diệntích đất tự nhiên của toàn huyện đến năm 2007 tăng lên 83.608,36 ha chiếm 75,79%tổng diện tích đất tự nhiên Bình quân mỗi năm diện tích đất lâm nghiệp tăng0,08% Nguyên nhân của việc tăng lên này là do có dự án trồng rừng của Nhà nước.Diện tích đất chuyên dùng năm 2006 là 2.541,8 ha chiếm 2,3% diện tích đất tựnhiên; đến năm 2008 diện tích đất chuyên dùng đã tăng lên là 2.635,7 ha chiếm2,39% tổng diện tích đất tự nhiên Bình quân mỗi năm diện tích đất chuyên dùngtăng lên 1,83% Điều này cho thấy huyện Hương Sơn đang ngày càng phát triển,
mở rộng về điều kiện kinh tế
Qua bảng 3.1 cho ta thấy diện tích đất chưa sử dụng năm 2006 là 10.016,2 hachiếm 9,08% diện tích đất tự nhiên; nhưng đến năm 2008 giảm xuống chỉ còn9895,78 ha chiếm 8,97% diện tích đất tự nhiên, bình quân mỗi năm giảm 0,6%.Diện tích đất chưa sử dụng giảm là do diện tích đất thổ cư và đất chuyên dùng ngàycàng tăng lên
Tóm lại, qua bảng 3.1 chúng ta thấy diện tích đất nông nghiệp qua 3 năm có
xu hướng giảm, với tốc độ giảm bình quân hàng năm là 0,45% Trong đó đất trồng
Trang 29cây hàng năm có biến động lớn, đất trồng cây lâu năm có tốc độ phát triển bìnhquân là 101,4%.
Với điều kiện đất đồi núi và huyện miền núi của tỉnh Hà Tĩnh cho phép huyệnHương Sơn phát triển các loại cây trồng lâu năm, cây ăn quả đặc biệt là cây cam bùđang là loại cây đem lại hiệu quả kinh tế cao cho các hộ nông dân
3.1.1.3 Điều kiện thời tiết, khí hậu, thuỷ văn
Hương Sơn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, là vùng có khí hậunóng ẩm, mưa nhiều chịu ảnh hưởng nhiều của gió Tây Nam (gió Lào) Khí hậu ởđây chia thành hai mùa rõ rệt, từ tháng 5 đến tháng 10 là mùa mưa, khí hậu nắngnóng mưa nhiều, từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau là mùa khô lạnh, nhiệt độ trungbình hàng năm là 270C Hai tháng nóng nhất là tháng 6 và tháng 7, nhiệt độ trungbình hai tháng này là 370C, có lúc lên đến 400C, tháng lạnh nhất là tháng 1, nhiệt độxuống dưới 100C Độ ẩm trung bình tương đối cao dao động trong khoảng 80 – 90%.Lượng mưa trung bình hàng năm lớn nhưng phân bố không đều, thường tậptrung vào tháng 8 và tháng 9 Do có nhiều sông chảy qua nên nguồn nước khá dồidào nhưng lại không đều trong năm Vì vậy mùa khô thường thiếu nước cho sinhhoạt và sản xuất, mùa mưa thường xảy ra lũ lụt Nhìn chung thời tiết ở đây tươngđối khắc nghiệt, vào mùa khô gió Lào thường gây ra nắng nóng, hạn hán, mùa mưa
do có nhiều đồi núi, sông suối, địa hình lại phức tạp nên thường xuyên xảy ra hậuquả khó lường và ảnh hưởng không nhỏ tới sản xuất và đời sống
Trang 30Bảng 3.2.Đặc điểm khí hậu, thời tiết của huyện Hương Sơn điểm khí hậu, thời tiết của huyện Hương Sơn ểm khí hậu, thời tiết của huyện Hương Sơn c i m khí h u, th i ti t c a huy n H ậu, thời tiết của huyện Hương Sơn ời tiết của huyện Hương Sơn ết của huyện Hương Sơn ủa huyện Hương Sơn ện Hương Sơn ương Sơn ng S n ơng Sơn
(C 0 )
Lượng mưa
Số ngày mưa
Độ ẩm (%)
Số giờ nắng (giờ)
Trang 31là miền núi thấp, hẹp ngang, sườn dốc, với độ cao trung bình khoảng 600 – 700 m,cấu trúc kéo dài theo hướng Tây Bắc – Đông Nam bao gồm nhiều dãy núi so lenhau Đồi núi tập trung chủ yếu ở phía Tây Bắc và thấp dần về phía Đông Nam vớicác vùng đất phù sa nằm dọc theo con sông Ngàn Phố, chia cắt địa hình thành 2phần Sự khác biệt về địa hình đã tạo nên sự khác biệt trong cơ cấu các loại vật nuôicây trồng của các xã ở khu vực miền núi và vùng đồng bằng.
3.1.2 Đặc điểm về kinh tế xã hội của huyện Hương Sơn
3.1.2.1 Dân số và lao động của huyện
Dân số và lao động là yếu tố quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội củamỗi vùng, mỗi địa phương Không có lao động thì quá trình sản xuất không thể diễn
ra Lao động vừa là lực lượng sản xuất ra của cải vật chất, vừa là lực lượng tiêu thụsản phẩn cho xã hội Tuy nhiên, dân số tăng sẽ kéo theo bình quân diện tích trên đầungười giảm, thu nhập giảm từ đó từ đó yêu cầu giải quyết công ăn việc làm
Trang 32Bảng 3.3. Dân s v lao ố và lao động của huyện Hương Sơn qua 3 năm (2005 – 2007) à lao động của huyện Hương Sơn qua 3 năm (2005 – 2007) điểm khí hậu, thời tiết của huyện Hương Sơnộng của huyện Hương Sơn qua 3 năm (2005 – 2007) ng c a huy n H ủa huyện Hương Sơn ện Hương Sơn ương Sơn ng S n qua 3 n m (2005 – 2007) ơng Sơn ăm (2005 – 2007)
I Nhân khẩu – lao động
Nông nghiệp Người 112.631 89,97 111.796 89,76 110.066 89,70 99,26 98,45 98,86 Phi nông nghiệp Người 12.699 10,03 12.726 10,22 12.639 10,30 100,21 99,32 99,76
Trang 33Tình hình dân số và lao động của huyện Hương Sơn được thể hiện qua bảng3.3 Qua bảng trên cho ta thấy tổng nhân khẩu của huyện năm 2006 là 125.330người, năm 2008 là 122.705 người giảm 2.625 người so với năm 2006 Bình quânmỗi năm nhân khẩu của huyện Hương Sơn giảm đi 1,05% Sở đĩ có sự giảm đi đáng
kể này là do trong 3 năm vừa qua người dân Hương Sơn đã di dân đi làm ăn ở nơikhác như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội… Đồng thời một số người dân đi xuấtkhẩu lao động Nhìn chung trong những năm vừa qua tỷ lệ tăng tự nhiên của toànhuyện Hương Sơn là 0,458%
Số nhân khẩu nông nghiệp năm 2006 là 112.631 người chiếm 89,97% nhânkhẩu toàn huyện, năm 2007 là 111.796 người chiếm 89,76% và năm 2008 là110.066 người chiếm 89,70% tổng số nhân khẩu của huyện Bình quân mỗi năm sốnhân khẩu nông nghiệp của huyện Hương Sơn giảm đi 1,14% Số nhân khẩu phinông nghiệp của huyện năm 2006 là 12.699 người chiếm 10,03%, năm 2008 là12.639 người chiếm 10,30% tổng dân số Bình quân mỗi năm giảm 0,24%
Tổng số hộ của huyện năm 2006 là 31.818 hộ, đến năm 2008 là 31.875 hộ,tăng lên 57 hộ Bình quân mỗi năm số hộ tăng 0,09% Trong đó tổng số hộ nôngnghiệp chiếm tỷ lệ tương đối cao cụ thể như: năm 2006 là 28.800 hộ chiếm 90,51%,năm 2008 là 28.804 hộ chiếm 90,37% Bình quân mỗi năm số hộ nông nghiệp tăng0,01% Số hộ phi nông nghiệp bình quân mỗi năm tăng 0,87% Điều này cho thấy
số hộ phi nông nghiệp đang có xu hướng tăng dần nhưng vần còn rất chậm
Số lao động qua 3 năm có xu hướng giảm đi, bình quân mỗi năm giảm đi0,87% Nhưng số lao động phi nông nghiệp có xu hướng tăng lên cụ thể: năm 2006
là 3.924 người chiếm 8,89%, đến năm 2008 là 5.085 người chiếm 11,73% tổng sốlao động Bình quân mỗi năm tăng lên 13,84% Còn lao động nông nghiệp có xuhướng giảm đi, bình quân mỗi năm giảm đi 2,43% Nguyên nhân là lao động làmcác ngành nghề khác như buôn bán, dịch vụ… tăng nhanh trong những năm gầnđây Đặc biệt là gần đây lao động nông nghiệp di cư đi làm ăn nơi khác và một sốlao người đi xuất khẩu lao động làm cho lao động trong nông nghiệp có xu hướnggiảm Tuy nhiên xu hướng giảm này không đáng kể so với tỷ lệ lao động trong nông
Trang 34nghiệp hiện nay Nhưng đây cũng là một dấu hiệu rất đáng mừng cho huyện vì nóthể hiện xu hướng giảm tỷ trọng lao động trong ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọnglao động trong các ngành phi nông nghiệp
Các chỉ tiêu phân tích ở bảng 3.3 cho chúng ta thấy, bình quân lao động/hộ,bình quân khẩu/hộ, nhân khẩu nông nghiệp/hộ, lao động nông nghiệp/hộ có xuhướng giảm dần qua các năm nhưng sự giảm đi là chưa đáng kể Đây cũng là mộtnguyên nhân gây ra nhiều khó khăn trong việc giải quyết việc làm cho người dântrên toàn huyện Chính vì vậy, huyện cần có những chủ trương chính sách phù hợpnhằm giải quyết việc làm cho người dân
* Hệ thống thuỷ nông: Toàn huyện đã xây dựng được 160 km kênh mương đểphục vụ cho công tác tưới tiêu trong toàn huyện Toàn bộ hệ thống đã được quyhoạch và từng bước điều chỉnh bổ sung cho phù hợp Đến nay toàn huyện có 6.200con kênh, 7.540 cống đập điều tiết nội đồng và 84 trạm bơm các loại với tổng côngsuất 415 kw/h
* Hệ thống điện: Hệ thống đường điện đã đưa đến các xã, thôn, xóm và hộ giađình, tỷ lệ hộ dùng điện cho sinh hoạt chiếm 98,6% Toàn huyện có 150 km đườngđiện cao thế, 840 km đường điện hạ thế, 55 trạm biến áp hạ thế Ngoài ra trongnhững năm gần đây huyện cũng đã đầu tư xây dựng mới và nâng cấp mạng lướiđiện trong toàn huyện để phục vụ cho nhu cầu ngày một tăng cao của người dân
* Về hệ thống thôn tin liên lạc: Toàn huyện có 33 đài phát thanh trong đó cómột đài phát thanh huyện, 32 đài phát thanh xã và thị trấn Tổng số máy điện thoạitrên địa bàn huyện tính đến hiện nay là 10.235 máy
Trang 35* Về hệ thống y tế: Toàn huyện có 36 cơ sở khám chữa bệnh, trong đó có 2bệnh viện, hai phòng khám đa khoa khu vực; có 32 cơ sở trạm y tế xã, cơ quan, xínghiệp, 100% số xã có trạm y tế Toàn huyện có 330 giường bệnh trong đó giườngbệnh viện là 170 giường bệnh, có 737 cán bộ y tế từ huyện đến thôn, trong đó cán
bộ y tế xã, thôn là 561, có 45 bác sỹ và 133 y sỹ Cơ sở vật chất y tế được nâng cấpngày càng hoàn thiện tao điều kiện tốt chăn sóc sức khoẻ cho người dân
* Về hệ thống giáo dục: Sự nghiệp giáo dục và đào tạo của huyện đã có nhữngbước khá phát triển, quy mô trường lớp tiếp tục giữ vững và phát triển rộng khắptoàn huyện nhằm đáp ứng đầy đủ nhu cầu cho con em trong toàn huyện
- Giáo dục mầm non: Toàn huyện có 32/32 xã thị trấn có trường mầm non với
55 nhóm trẻ, 737 số cháu vào nhà trẻ Hiện nay toàn huyện có 33 trường mẫu giáovới 226 lớp và 258 giáo viên, có 4.314 cháu
- Giáo dục tiểu học: Toàn huyện có 36 trường tiểu học với 417 phòng caotầng, 420 lớp học và 9.690 học sinh, 640 giáo viên, 32/32 xã thị trấn đạt tiêu chuẩnquốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi vào năm 2002, tỷ lệ trẻ em 6tuổi đi học lớp 1 đạt 100%
- Giáo dục trung học cơ sở: Toàn huyện có 25 trường Trung học cơ sở với 328lớp học, 11.655 học sinh và 735 giáo viên, 32/32 xã và thị trấn đạt chuẩn quốc gia
và tạo điều kiện thuận lợi cho việc học tập của con em địa phương trên toàn huyện
* Văn hoá, thể thao: Huyện Hương Sơn có một sân vận động và nhà văn hoátrung tâm, 32/32 xã, thị trấn có sân vận động, nhà văn hoá và sân thi đấu cầu lông,
Trang 36bóng chuyền, nhà thi đấu bóng bàn…Các phong trào văn hoá, văn nghệ, thể dục thểthao thường xuyên được tổ chức, thi đấu đáp ứng nhu cầu nguyện vọng của nhân dân.
3.1.2.3 Kết quả sản xuất của huyện Hương Sơn
Qua số liệu bảng 3.4 ta thấy kết quả sản xuất kinh doanh của huyện HươngSơn tương đối cao và đang có chiều hướng tăng lên qua các năm cụ thể như: năm
2006 tổng giá trị sản xuất đạt 910.099 triệu đồng, năm 2007 đạt 999.517 triệu đồngtăng 9,83% so với năm 2006và năm 2008 đạt 1.269.081 triệu đồng tăng 26,97% sovới năm 2006 Bình quân mỗi năm giá trị sản xuất tăng 18,09% Điều này cho thấytình hình kinh tế của huyện đang phát triển đi lên, đời sống vật chất tinh thần củangười dân được cải thiện
Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp năm 2006 đạt 412.270 triệu đồng chiếm89,74%; năm 2007 đạt 433.959 triệu đồng chiếm 88,66% đến năm 2008 đạt513.922 triệu đồng chiếm 87,12% tổng giá trị sản xuất trong năm của toàn huyện.Năm 2007 và 2008 giá trị sản xuất ngành nông nghiệp tăng nhưng chiếm tỷ trọngthấp hơn so với tổng giá trị sản xuất các ngành khác của toàn huyện Nguyên nhân
là do sau khi có dự án 135 ở huyện hoàn thành đời sống của người dân ở các xãtrong huyện tăng lên, phương tiện đi lại, cơ sở hạ tầng, thông tin liên lạc thuận tiệnhơn nên người dân có điều kiện tiếp thu những kiến thức làm ăn mới, kỹ thuật tiến
bộ mới trong sản xuất Bên cạnh đó người dân đã biết chuyển đổi những diện tíchđất nông nghiệp không có hiệu quả sang trồng những cây, con có hiệu quả kinh tếcao phù hợp với điều kiện sản xuất của nhân dân trong huyện
Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp có nhiều hướng tăng lên về giá trị tuyết đối
và giảm xuống về giá trị tương đối, những ngành khác có chiều hướng tăng lên cả
về giá trị tuyết đối lẫn giá trị tương đối như các ngành thương mại dịch vụ, ngànhcông nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, xây dựng cơ bản, thuỷ sản, lâm nghiệp…Điềunày hoàn toàn đúng với chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước ta hiện nay làchuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng Công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệpnông thôn
Trang 37Giá trị sản xuất ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp năm 2006 là 40.267triệu đồng chiếm 4,42% tổng giá trị sản xuất trong năm Đến năm 2008 đạt 63.671triệu đồng chiếm 5,02% tổng giá trị sản xuất trong năm Bình quân mỗi năm giá trịsản xuất ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tăng lên 25,45%.
Giá trị sản xuất của ngành thương mại dịch vụ và ngành xây dựng cơ bản qua
3 năm có xu hướng tăng nhanh và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong thu nhậpcủa huyện Giá trị sản xuất ngành thương mại dịch vụ năm 2005 chiếm 12,07% giátrị sản xuất của huyện, đến năm 20067 tăng lên chiếm 12,59% và năm 2008 tỷ trọngngành này là 12,80% Bình quân mỗi năm trong giai đoạn 2006- 2008, giá trị sảnxuất ngành thương mại dịch vụ tăng 21,58% Nguyên nhân của sự tăng vọt này là
do khu du lịch Nước Sốt của huyện đã và đang thu hút được ngày càng đông khách
du lịch đến tham quan Giá trị sản xuất ngành xây dựng cơ bản (XDCB) năm 2006
là 102.400 triệu đồng chiếm 11,25%, tổng giá trị sản xuất toàn huyện, đến năm
20078 chỉ tiêu này đã tăng lên đạt 182.200 triệu đồng và chiếm 14,36% tổng giá trịsản xuất của huyện Bình quân mỗi năm trong giai đoạn trên giá trị sản xuất ngànhXDCB tăng 33,39%
Nhìn chung 3 năm qua tổng giá trị sản xuất của huyện luôn có sự tăng trưởngđáng kể, thu nhập của người dân trong huyện ngày càng tăng lên, điều này cho thấythu nhập của người dân trong huyện đang được đảm bảo Bình quân GTSX nôngnghiệp/hộ nông nghiệp; GTSX nông nghiệp/khẩu nông nghiệp và GTSX nôngnghiệp/lao động nông nghiệp tăng nhanh trong 3 năm qua Nguyên nhân là do trongthời gian từ sau năm 2003 đến nay nhân dân huyện Hương Sơn đã tiếp cận nhữngkến thức về chăn nuôi, trồng trọt, biết áp dụng tốt những tiến bộ khoa học kỹ thuậtvào sản xuất và đời sống, đồng thời nhờ chủ trương, chính sách của Đảng và Nhànước và các giải pháp phát triển kinh tế của tỉnh và huyện trong thời gian qua.Chính vì vậy giá trị sản xuất không chỉ của ngành nông nghiệp tăng lên mà tất cảcác ngành khác tăng lên trong thời gian qua
Trang 38B ng 3.4 K t qu s n xu t kinh doanh c a huy n H ết của huyện Hương Sơn ất kinh doanh của huyện Hương Sơn qua 3 năm (2005 – 2007) ủa huyện Hương Sơn ện Hương Sơn ương Sơn ng S n qua 3 n m (2005 – 2007) ơng Sơn ăm (2005 – 2007)
Chỉ tiêu
GT (Tr.đ)
CC (%)
GT (Tr.đ)
CC (%)
GT (Tr.đ)
2 Ngành lâm nghiệp 42.281 9,20 48.661 9,95 62.849 10,66 115,09 129,16 121,92
II Ngành CN - TTCN 40.267 4,42 45.303 4,53 63.671 5,02 112,51 140,55 125,45III Ngành XDCB 102.400 11,25 135.515 13,56 182.200 14,36 132,34 134,45 133,39
Trang 39 Là cửa ngõ phía Tây của tỉnh, vị trí của Hương Sơn cho phép huyện có thể hoànhập nhanh chóng vào tiến trình phát triển chung của tỉnh, của cả nước và khu vực
Điều kiện thời tiết, khí hậu, đất đai, địa hình và vị trí địa lý rất thuận lợi cho
sự phát triển của ngành sản xuất NLN theo hướng sản xuất hàng hoá và phát triểnkinh tế hộ nông dân theo mô hình nông, lâm kết hợp hoặc kinh tế trang trại
Nguồn lao động dồi dào, trình độ lao động tương đối cao hơn so với cácvùng khác trong tỉnh
Thực hiện phát triển kinh tế - xã hội của huyện những năm qua có tốc độ tăngtrưởng khá lớn Trong cơ cấu kinh tế, tỷ trọng các ngành công nghiệp – xây dựng vàthương mại - dịch vụ đã tăng dần qua các năm, sản xuất nông, lâm nghiệp đangchuyển dần theo hướng sản xuất hàng hoá, cây ăn quả, cây công nghiệp lâu năm cóhiệu quả kinh tế cao thay thế dần diện tích các loại cây lương thực hiệu quả thấp.Kinh tế hộ nông dân sau giao đất có bước tiến bộ to lớn đời sống của đại bộ phậnnhân dân được cải thiện
3.1.2.5 Những khó khăn và thách thức
Xuất phát điểm và mức bình quân GDP còn quá thấp
Cơ cấu kinh tế của huyện chủ yếu vẫn là NLN vì vậy để chuyển đổi nềnkinh tế theo hướng nông – lâm – công nghiệp - dịch vụ trong một thời gian tươngđối ngắn với một nhịp độ tăng trưởng cao, trong điều kiện nguồn đầu tư còn hạn chế
là một điều không dễ dàng
Các tiềm năng và lợi thế về kinh tế - xã hội, tự nhiên, đặc biệt là các tiềmnăng về đất đai chưa được khai thác một cách triệt để, hợp lý và có hiệu quả trongkhi sức ép dân cố còn lớn đã gây nhiều áp lực đối với quỹ đất đai và tình hình sửdụng đất trong huyện
Cơ sở vật chất kỹ thuật chưa cao, chưa đồng bộ vì vậy đã và sẽ chưa đápứng yêu cầu của sự phát triển với nhịp độ cao Những lợi thế và thách thức trên là
cơ sở để nghiên cứu đề ra các giải pháp nhằm tiếp tục phát triển kinh tế - xã hội củahuyện trong giai đoạn cùng cả nước đẩy mạnh CNH – HĐH, trong đó giải phápkhai thác sử dụng quỹ đất đai một cách khoa học, hợp lý, tiết kiệm để phát triểnkinh tế hộ nông dân là giải pháp quan trọng, là sơ sở đảm bảo sự ổn định và pháttriển ở vùng nông thôn miền núi Hương Sơn
Trang 40Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Tình hình giao đất nông, lâm nghiệp ở huyện Hương Sơn
Bảng 4.1 Ý kiến đánh giá của người dân về khó khăn khi nhận đất
Không tiến hành giao cụ thể mà chỉ giao trên giấy tờ
(dễ dẫn đến tranh chấp)
( Nguồn số liệu điều tra)
93% Ý kiến cho rằng họ không gặp bất cứ một khó khăn trong quá trình nhận đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Chỉ có 1,5% ý kiến đánh giá thủ tục nhận đất phức tạp, chờ cấp bìa đỏ lâu Điều đó chứng tỏ quá trình giao đất ởHương sơn về cơ bản được tiến hành đồng bộ, triển khai nhanh chóng và tạo bước đầu tạo điều kiện thuận lợi cho người dân an tâm đầu tư sản xuất
Hộp 4.1 Đánh giá hoạt động giao đất
“ Tôi nghĩ lại mà thấy tiếc quá Hồi đó (1994) cán bộ lâm trường đến nhà vận độngtôi nhận đất rừng phía sau nương (vườn), nhưng tôi không dám nhận nhiều vì sợ rừng không có thu nhập gì mà lại phải nộp thuế như đất nông nghiệp Lúc đó chưa trồng rừng như bây giờ, đất lâm nghiệp không ai muốn nhận chứ không có khó khăn gì cả thủ tục giấy tờ đơn giản, lâm trường họ làm cho.”
Ông trần Văn Thụ ở xã Sơn Kim
Ngay từ đầu năm, sau khi có Luật đất đai (1988) và NQ 10 Hương Sơn đã tiếnhành triển khai việc giao khoán đất nông nghiệp cho các hộ nông dân Đến năm