1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đóng góp của dòng họ nguyễn đình ở nghi hợp nghi lộc nghệ an từ thế kỷ xv đế đầu thế kỷ xx

88 927 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đóng góp của dòng họ Nguyễn Đình ở Nghi Hợp - Nghi Lộc - Nghệ An từ thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XX
Tác giả Nguyễn Thị Hiền
Người hướng dẫn ThS. Mai Thị Thanh Nga
Trường học Trường đại học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử - Văn hóa
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 3,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tộc phả - Di Huấn - Phụ lục, của hội đồng gia tộc đại tôn họ Nguyễn Cơng Quốc Công tại Nghi Hợp - Nghi Lộc - Nghệ An, đã nói tới Tộc phả - Di Huấn - Phụ Lục của gia tộc Nguyễn Đình.. -

Trang 1

Trờng đại học vinh Khoa lịch sử

Trang 2

Vinh, 5/2010

Trang 3

Trờng đại học vinh Khoa lịch sử

chuyên ngành lịch sử việt nam

Giáo viên hướng dẫn: ThS Mai Thị Thanh Nga

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hiền

Trang 4

Vinh, 5/2010

Trang 5

Văn hóa của quốc gia dân tộc bao giờ cũng có cội nguồn từ văn hóa dòng

họ Truyền thống dòng họ sẽ bồi đắp nên truyền thống dân tộc Dòng họ chính

là nơi sản sinh, bảo tồn, lu giữ những giá trị văn hóa, là chiếc nôi sinh ra những nhân tài cho đất nớc Dòng họ phản ánh một môi trờng văn hóa thông qua những phong tục cúng tế, lễ hội mà vẫn còn đợc lu giữ đến ngày nay Vì thế các nhà nghiên cứu lịch sử khi nghiên cứu lịch sử dân tộc, trớc tiên thờng rất quan tâm tới vấn đề dòng họ

Việc nghiên cứu dòng họ vừa có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ gìn, tôn vinh, phát huy và giáo dục truyền thống lịch sử địa phơng, là nguồn t liệu vô cùng quý giá giúp chúng ta hiểu văn hóa dân tộc đồng thời hiểu thêm về thân thế và sự đóng góp của các nhân vật lịch sử

Hiện nay, khi đất nớc đã thoát khỏi chiến tranh, đang chuyển mình trên

Trang 6

đà phát triển, đời sống của con ngời ngày càng đợc nâng cao, xu hớng tìm về cội nguồn ngày càng phát triển mạnh mẽ và đi vào chiều sâu Nhiều dòng họ đã tiến hành chắp nối gia phả, trùng tu lại từ đờng, lăng mộ, bia kí, tổ chức lễ hội nhằm khơi dậy truyền thống dân tộc, lòng biết ơn, thành kính với tổ tiên.

Nghi Lộc - mảnh đất địa linh nhân kiệt, nơi sinh cơ lập nghiệp của nhiều dòng họ lớn, sản sinh ra rất nhiều các vị anh hùng hào kiệt Trong đó có một dòng họ mà lịch sử phát triển gần nh theo suốt chiều dài lịch sử dân tộc, một dòng họ mà khi nhắc đến chúng ta không thể phủ nhận những đóng góp rất lớn

đối với lịch sử dân tộc qua các triều đại phong kiến lịch sử Việt Nam Đó là dòng họ Nguyễn Đình

Dòng họ Nguyễn Đình khởi thủy từ Nghi Hợp - Nghi Lộc - Nghệ An Tổ tiên của dòng họ đến đây sớm nhất từ thời Hậu Lê thế kỷ thứ XV Trải qua hơn

600 năm với 15 ngời con đại diện cho 15 chi phái trong họ, dòng họ Nguyễn

Đình đã có rất nhiều đóng góp đáng kể trong quá trình dựng nớc và giữ nớc của dân tộc

Quyết định 34 vào danh mục nhà nớc số 491 ngày 13 tháng 1 năm 1990 công nhận nhà thờ Họ Nguyễn Đình ở Nghi Hợp - Nghi Lộc - Nghệ An là khu

di tích lịch sử văn hóa Quốc gia Đây là niềm tự hào chung cho con cháu dòng

họ Nguyễn Đình và nhân dân Nghi Hợp - Nghi Lộc - Nghệ An

Nghiên cứu về dòng họ Nguyễn Đình giúp cho chúng ta hiểu sâu sắc hơn

về gia tộc, cộng đồng và mối quan hệ giữa các dòng họ, từ đó duy trì và phát huy khối đại đoàn kết dân tộc Tạo nên sức mạnh lớn cả về vật chất và tinh thần

to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đồng thời giữ vững gia phong, phát huy truyền thống tốt đẹp từ đó làm sáng ngời văn hóa gia tộc trong

di sản văn hóa của dân tộc Góp phần vào sự nghiệp xây dựng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, đa đất nớc ngày càng phát triển giàu mạnh sánh vai với các nớc trong khu vực cũng nh các nớc trên thế giới

Với những lí do trên, chúng tôi chọn vấn đề Lịch sử - văn hóa dòng họ Nguyễn Đình ở Nghi Hợp - Nghi Lộc - Nghệ An từ thế kỷ XV đến đầu thế kỷ

Trang 7

XX” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp đại học của mình.

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Văn hóa dòng họ nằm trong khuôn khổ văn hóa làng xã Hiện nay một

số địa phơng đã tổ chức các cuộc hội thảo về lịch sử - văn hóa dòng họ thông qua những nhân vật nổi tiếng, những con ngời u tú của dòng họ Nghiên cứu lịch sử - văn hóa dòng họ hiện nay đợc coi là một hớng tìm tòi, khảo cứu hấp dẫn đợc sự quan tâm đông đảo những ngời làm lịch sử Họ Nguyễn Đình là dòng họ lớn ở xứ Nghệ, đợc nhiều tác giả đề cập đến với những khía cạnh và mức độ khác nhau nhng cha có một tác phẩm nào nghiên cứu cụ thể về lịch sử văn hóa dòng họ Nguyễn Đình Vấn đề này đã đợc đề cập qua một số công trình nghiên cứu mà chúng tôi có điều kiện tiếp cận sau:

- Cuốn Cơng Quốc Công Nguyễn Xí Tộc phả - Di Huấn - Phụ lục, của

hội đồng gia tộc đại tôn họ Nguyễn Cơng Quốc Công tại Nghi Hợp - Nghi Lộc

- Nghệ An, đã nói tới Tộc phả - Di Huấn - Phụ Lục của gia tộc Nguyễn Đình

- Cuốn Thân Thế, sự nghiệp Thái s Cơng Quốc Công Nguyễn Xí do hội

đồng quản tộc dòng họ Nguyễn Cơng Quốc Công, đã nói tới thân thế sự nghiệp Cơng Quốc Công Nguyễn Xí

- Cuốn Thái s Cơng Quốc Công Nguyễn Xí quê hơng - con ngời - sự nghiệp, của trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia UBND tỉnh Nghệ

An, gồm toàn bộ những bài viết về dòng họ Nguyễn Đình và Đức Tổ Nguyễn Xí

- Về chính sử có “Đại Việt thông sử” nhắc tới gia đình Nguyễn Xí với

nghề làm muối truyền thống Hay trong “Lịch triều hiến chơng loại chí” (nhân

vật chí) có đề cập đến nhân vật Nguyễn Xí

- Trong cuốn “Quê hơng Nghi Lộc - Cửa Lò và những con ngời” của hội

đồng hơng Nghi Lộc Cửa Lò, Huyện ủy - HĐND - UBND huyện Nghi Lộc đã giới thiệu về mảnh đất và con ngời Nghi Lộc

- Cuốn “Danh nhân Nghệ Tĩnh” (tập 1) nói tới tiểu sử và sự nghiệp của

Trang 8

Nguyễn Xí.

- Cuốn “Đền Vạn Lộc”của UBND Nghi Tân - Thị xã Cửa Lò đề cập tới

tiểu sử, sự nghiệp Nguyễn S Hồi và đền thờ

Ngoài các tác phẩm đã xuất bản liên quan đến đề tài nghiên cứu, chúng tôi còn có dịp tiếp cận với nhiều bài viết trên các tạp chí, kỉ yếu hội thảo nh:

- Bài “Ngời có công đầu trong việc tạo dựng vơng triều Lê Thánh Tông”

của GS Nguyễn Đình Chú - Trờng ĐHSP - ĐH Quốc gia Hà Nội

- Hồ sơ khảo cứu nhà thờ họ Nguyễn Đình từ năm 1988 đến năm 1900

- Đỗ Minh Nụ (bảo tàng Nghệ An) “Từ góc độ lễ hội truyền thống nhìn nhận về những sinh hoạt văn hóa trong lễ hội danh nhân Nguyễn Xí”.

- Bài viết “Long Sơn- Nguyễn Đình Hồ - Thân thế và sự nghiệp” của

cháu nội Nguyễn Đình Lễ viết

- Ngoài ra còn có rất nhiều cuốn gia phổ của 15 chi do những tộc trởng của mỗi chi viết ra theo từng chi, từng nhánh của dòng họ Nguyễn Đình

Về cơ bản trong các cuốn tài liệu mà chúng tôi tiếp cận trên ít nhiều đã nói đến một số vấn đề truyền thống dòng họ Nguyễn Đình, một số đóng góp của dòng họ Nguyễn Đình đối với lịch sử dân tộc cũng nh đóng góp của các nhân vật và di tích của dòng họ Nguyễn Đình Nhìn chung, các bài viết này còn mang tính khái quát lẻ tẻ hoặc chỉ tập trung vào một số cá nhân tiêu biểu nh Nguyễn Xí, Nguyễn S Hồi, chứ cha đi sâu nghiên cứu tổng thể quá trình phát triển dòng họ và những đóng góp của dòng họ đối với tiến trình phát triển của lịch sử nớc nhà

Do đó, việc nghiên cứu của chúng tôi gặp không ít những khó khăn về mặt t liệu

3 Đối tợng, phạm vi nghiên cứu

Chúng tôi xác định đối tợng nghiên cứu trong khoá luận này là “Lịch sử - văn hoá dòng họ Nguyễn Đình ở Nghi Hợp - Nghi Lộc - Nghệ An từ thế kỷ XV

đến đầu thế kỷ XX”

Trang 9

- Về phạm vi thời gian: Đề tài nghiên cứu những nội dung nêu trên trong giới hạn từ thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XX,( tức là từ khởi nghĩa Lam Sơn đến Duy Tân hội đầu thế kỷ XX).

- Về phạm vi không gian: Chúng tôi chỉ nghiên cứu về dòng họ Nguyễn

Đình ở xã Nghi Hợp - huyện Nghi Lộc - tỉnh Nghệ An Tuy nhiên, để phục vụ cho việc so sánh, liên hệ, trong khoá luận chúng tôi có đề cập đến một số không gian ngoài giới hạn trên nhng không phải là không gian chính của công trình nghiên cứu

Những vấn đề nằm ngoài giới hạn về nội dung, thời gian và không gian nêu trên không thuộc đối tợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

4 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn t liệu

Để thực hiện đề tài, chúng tôi tập trung khai thác các nguồn tài liệu sau:

- Tài liệu thành văn: Chúng tôi tham khảo các bộ chính sử nh Đại Việt Thông Sử, Đại Việt sử ký toàn th, Lịch triều hiến chơng loại chí , các bộ gia

phả của các chi của dòng họ Nguyễn Đình ở Nghi Hợp - Nghi Lộc - Nghệ An, các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nớc nh Breton, Đào Duy Anh, và một số luận văn của học viên cao học, của sinh viên khoá trớc

nghiên cứu về dòng họ Đây là nguồn t liệu chính phục vụ cho việc nghiên cứu của chúng tôi

- Tài liệu điền dã: Để bổ sung t liệu cho đề tài, chúng tôi đã đi thực tế để tìm hiểu, khảo cứu nhà thờ họ Nguyễn Đình, đồng thời gặp gỡ trao đổi một số nhân vật là hậu duệ của dòng họ Nguyễn Đình nh Nguyễn Đình Lễ, Nguyễn

Đình Nguyên, Nguyễn Đình Điệp (tộc trởng chi 2), Nguyễn Đình Tuấn (trông coi nhà văn hóa của dòng họ), Nguyễn Đình Dơng

4.2 Phơng pháp nghiên cứu

Đề tài đợc thực hiện bằng phơng pháp luận Mác - Lênin, trong đó chủ yếu là hai phơng pháp chính là phơng pháp logic và phơng pháp lịch sử Để

Trang 10

phục vụ tốt cho mục đích nghiên cứu, chúng tôi còn sử dụng các phơng pháp khác nh thống kê, phân tích, so sánh, làm hỗ trợ.

Trang 11

5 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung chính của khóa luận đợc trình bày trong 3 chơng:

Chơng 1. Quá trình phát triển của dòng họ Nguyễn Đình ở Nghi Hợp

- Nghi Lộc - Nghệ An

Chơng 2. Văn hóa truyền thống của dòng họ Nguyễn Đình ở Nghi

Hợp - Nghi Lộc - Nghệ An

Chơng 3. Đóng góp của dòng họ Nguyễn Đình trong lịch sử dân tộc

từ thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XX (qua một số nhân vật tiêu biểu)

Trang 12

NộI DUNG Chơng 1 QUá TRìNH PHáT TRIểN CủA DòNG Họ NGUYễN ĐìNH

ở nghi hợp - NGHI LộC - NGHệ AN 1.1 Nghi Lộc - vùng đất và con ngời

1.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên

Địa hình:

Trên cơ sở khảo sát địa chất của tỉnh Nghệ An cũ, các nhà nghiên cứu lịch sử và địa lý đoán định cách đây khoảng một vạn năm, bờ biển còn nằm sâu trong địa phận huyện Nghi Lộc ngày nay Thời ấy, sông Cấm là dòng sông rộng lớn nhất của huyện, phát nguyên từ dãy núi Đại Huệ ở phía Tây Nam và dãy núi

Đại Vạc ở phía Tây Bắc theo độ nghiêng từ 60 đến 00 đổ xuống đến núi Voi (Đô Cấm - Nghi Quang) tách thành 2 nhánh chảy quanh núi Voi và Lữ Sơn (nay là

đồi 200) Sau khi biển lùi, nhánh sông phía Nam bị bồi đắp, chỉ còn lại nhánh sông Phía Bắc nh ngày nay Với độ nghiêng không lớn, sông Cấm mang đặc tr-

ng của dòng sông đồng bằng có độ gấp khúc lớn, vận tốc chậm (khoảng 0,9

m3/giờ vào mùa khô kiệt và 2,5m3 /giờ vào mùa lũ), lợng phù sa thấp và chịu

ảnh hởng của thủy triều

Sông Cấm cũng là ranh giới tự nhiên giữa 2 vùng có đặc điểm riêng biệt của huyện Vùng phía Bắc và phía Tây, Tây Nam từ tả ngạn sông Cấm trở lên

Trang 13

núi đồi nối tiếp nhau dàn dầy suốt dọc địa giới chung với các huyện Nam Đàn,

Đô Lơng, Yên Thành, Diễn Châu, lấn sâu vào nội địa lan rộng ra dọc bờ biển phía Bắc Cửa Lò Lớn nhất là dãy núi Đại Vạc bắt đầu từ làng Cổ Văn, Cổ Lãm (Nghi Văn) địa đầu phía Tây Bắc huyện ven theo địa giới chung hai huyện Yên Thành, Diễn Châu chạy thẳng xuống sông Cấm đối đầu với núi Voi ở hữu ngạn, tạo thành cửa vào ra của các tuyến giao thông Bắc - Nam của đất nớc Trên dãy núi Đại Vạc có động Thần Vũ (Nghi Hng) cao từ 200m đến 500m so với mặt biển, núi đồi ở vùng này hầu hết có độ dốc lớn (350 - 400) và bị xói mòn nặng Khoáng sản tuy có sắt, mang gan, phốt phát song trữ lợng ít, chất lợng thấp, giá trị công nghiệp không nhiều Diện tích bán sơn địa chiếm tỷ lệ lớn bị phủ dày sỏi đá, nghèo chất mùn và chất hữu cơ, thung lũng đồng bằng vì tiếp giáp với núi đồi nên khập khễnh, bị chia cắt, tỷ lệ sét cao, độ pH thấp (khoảng từ 4,5

đến 5%)

Vùng phía Đông và Đông Nam từ hữu ngạn sông Cấm trở xuống tuy không có nhiều núi đồi, song địa hình hết sức phức tạp Sau các đợt biển lùi cứ cách nhau khoảng trên dới 1km lại nổi lên cồn cát cao, rộng, kéo dài song song theo bờ biển Xen kẽ giữa các cồn cát là các lòng chảo và Bầu Đầm Thổ nhỡng

ở các lòng chảo có hiện tợng tích tụ sắt và nhôm rất nghèo chất mùn Tỷ lệ đất canh tác trong vùng vừa ít vừa manh mún và năng suất các loại cây trồng đều thấp, đồng bằng màu mỡ phần lớn nằm ở hai ven bờ sông Cấm, nhất là phía hữu ngạn, thích nghi nhiều loại cây trồng nhất là lúa

Huyện Nghi Lộc có bờ biển dài 25 km chiếm 1/10 bờ biển của tỉnh Nghệ

An, có hai cửa sông lớn là Cửa Lò và Cửa Hội, có vị trí chiến lợc rất quan trọng cả về quân sự và kinh tế của quốc gia và quốc tế, cửa biển có độ sâu đảm bảo cho tàu thuyền lớn đi vào dễ dàng, bờ biển có nhiều bãi tắm đẹp nh bãi Lữ, bãi Tiền Phong, cửa Hiền

Khí hậu:

Huyện Nghi Lộc nằm trong vùng tiểu khí hậu vịnh, nơi có nhiệt độ mặt

đất diễn biến tơng tự và trùng hợp với thời gian nhiệt độ của không khí vì vậy

Trang 14

mỗi năm có 2 mùa: mùa nóng và mùa lạnh Mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 10,

đầu mùa nóng cũng là lúc gió mùa Tây Nam (gió Lào) từ Vịnh Băng Gan vợt Trờng Sơn tràn sang với tốc độ mạnh, nhiệt độ cao có lúc lên tới 40 - 420 Mùa bão lụt kéo dài từ tháng 8 đến tháng 10 Có năm tới tháng 11 trên 70% lợng ma mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau nhiệt độ trung bình ở mùa này của Nghi Lộc không quá 140C, lợng ma trung bình ít, bình quân chỉ 100mm

Địa danh Nghi Lộc qua các thời kỳ lịch sử:

Cũng nh các huyện đồng bằng ven biển khác của tỉnh, từ thủa các vua Hùng dựng nớc, trên lục địa Nghi Lộc ngày nay đã có c dân ngời Việt cổ sinh sống, thủa ấy nơi đây là lãnh thổ Bộ Việt Thờng của nớc Văn Lang, sau

là nớc Âu Lạc, tơng truyền Thục An Dơng Vơng đã có qua lại vùng này

Qua hàng ngàn năm cai trị của các tập đoàn phong kiến Việt Nam cũng

nh các địa phơng trong cả nớc, địa giới và tên gọi quận, huyện ở vùng đất Nghi Lộc đã nhiều lần thay đổi Mãi tới năm (1889), Vua Thành Thái mới đổi tên huyện Chân Lộc dới triều Tây Sơn thành huyện Nghi Lộc và mời năm sau (1899), địa giới giữa phủ Hng Nguyên và huyện Nghi Lộc đợc điều chỉnh Tổng Yên Trờng phía Bắc Vinh - Bến Thủy trớc đây thuộc huyện Nghi Lộc nay cắt sang phủ Hng Nguyên, tổng Vân Trình phía Tây sông Cấm trớc đây thuộc phủ Hng Nguyên nay cắt sang huyện Nghi Lộc, các làng, xã phía Bắc sông Cấm đợc tách ra lập thành tổng La Vân Địa giới này của huyện Nghi Lộc ổn định cho tới trớc ngày Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công

Ngày 29/8/1994 Thủ tớng Chính phủ ra quyết định số 113/Cp về thành lập thị xã Cửa Lò tách khỏi huyện Nghi Lộc Sau khi thành lập thị xã Cửa Lò trực thuộc tỉnh, huyện Nghi Lộc còn lại 32 xã và thị trấn Quán Hành, trong đó

có 6 xã miền núi là Nghi Yên, Nghi Văn, Nghi Kiều, Nghi Lâm, Nghi Công, Nghi Hng từ đó Nghi Lộc với tổng diện tích tự nhiên là 39,731 ha, trong đó 14,555 ha đất chuyên dùng, 1.039 ha đất ở và 15.422 ha đất cha sử dụng với dân

số 202.224 ngời [18,70]

1.1.2 Truyền thống văn hóa, lịch sử

Trang 15

Nghi Lộc là vùng đất có bề dày truyền thống văn hóa, lịch sử tinh thần yêu nớc, cách mạng đáng tự hào.

Trên mảnh đất Nghi Lộc, dân c hình thành khá sớm, từ dọc sông Cấm và

đờng Thiên Lý (tên trớc khi có đờng quốc lộ 1) rồi lan dần ra các vùng trong huyện, trớc hết là vùng phía Đông và Đông Nam theo sự lùi dần của biển Theo tộc phả của các dòng họ lớn lâu đời trên lãnh thổ huyện Nghi Lộc nh dòng họ Nguyễn Thợng Xá và họ Nguyễn Tiên Điền thì thủy tổ phần lớn từ phía Bắc vào một số từ phía Nam ra Các cụm dân c đợc hình thành muộn từ thế kỷ XIV về sau đều bắt nguồn từ trang trại khai khẩn đất hoang và thu góp ngời ở nhiều nơi

đến

Sau khi biển lùi, nhánh sông Cấm phía Nam bồi lấp, ông Nguyễn Hội quê làng Cơng Gián, huyện Nghi Xuân chiêu lập ra hai đồng muối Thợng Xá (Nghi Xá, Nghi Hợp) và Yên Lơng (Nghi Thủy) Tiếp đó, Nguyễn Xí con thứ của ông là một danh tớng của nhà Lê lấy tù binh quân Minh (Trung Quốc) và quân Chăm Pa, Chiêm Thành (các quốc gia phía Nam) khai phá đất hoang dọc

bờ biển từ Cửa Lò đến Cửa Hội làm cho dân c và ruộng canh tác của vùng nay ngày càng đợc mở rộng Riêng vùng Bàu ổ làng Văn Trung (Nghi Hơng) và

Đồng Sở làng Phú ích (Nghi Phong) đợc ông lập thành hai làng mới và cử các thủ lĩnh ngời Chăm Pa làm thủ chí kỳ hào Con đầu Nguyễn Xí là quận công Nguyễn S Hồi khi đợc Vua Lê Nhân Tông phong chức “Thái bảo tổng đô đốc hải binh thợng tớng quân thập nhị hải môn” (Quan Thái bảo, thợng tớng tổng

đô đốc hải quân trấn thủ 12 cửa biển) đã lấy Cửa Xá làm trung tâm của tuyến phòng thủ cùng với xây dựng căn cứ Xá Tấn, sau đổi là Lò Tấn (tức Cửa Lò ngày nay) Ông dùng thuyền hải quân chở đá xây kè dọc bờ phía Nam của sông Cấm để bảo vệ căn cứ và chiêu dân ở các nơi đến phát triển nghề đánh cá và làm ruộng Năm 1493, ông lập xã Hải Giang bao gồm Vạn Lộc và Tân Lộc (Nghi Tân) Sau này, cùng thời với thành lập xã Hải Giang ở Cửa Lò, cụm dân

c “Ba trang, bảy trại” dọc bờ phía Bắc của sông Lam từ cửa Hội trở lên (bao gồm các làng thuộc xã Nghi Hải, Nghi Hòa, Nghi Xuân, Phúc Thọ và Nghi

Trang 16

Thái) cũng đợc hình thành và phát triển đông đúc kề cận với “Ba trang, Bảy trại” là làng Kiều Mộc, sau đổi là Kiều Thái (Nghi Thái) là một trong ba làng

do bà Vơng mẫu Phạm Thị Dung làng Nghi Xá (Nghi Đức) là mẹ vú của Trần Nhân Tông lập ra để khai khẩn điền trang đợc triều đình ban cho lúc trở về sinh sống ở quê nhà

Đi đôi với phát triển dân c, ruộng đất canh tác ven biển các trang trại khai khẩn đất hoang ở đồng bằng và bán sơn địa cũng đợc thành lập ngày càng nhiều, khi đợc triều đình cử vào trấn thủ Nghệ An, Thái bảo Lãng Quận Công Trần Bá Chúc đã chiêu dân khai phá đất hoang lập nên các làng Nhất Tộc, Xuân

Mỹ (Nghi Đồng) và xã Quá Khê (Nghi Hng) còn Quận Công Nguyễn Quang Thực ở xã Mặc Điền, Trấn Nam Đờng thì lập ra ấp Kim Ngọc (Nghi Long) khi dòng họ bị truy diệt Ông Lê Công ùm ở Kinh Bắc đổi tên họ thành Nguyễn Văn vào lánh nạn lập nên trại Đậu Lâm (Nghi Lâm) Dòng họ Phạm Huy ở Tiên

Động (Nghi Xuân) Phợng Cung (Nghi Phong) cũng gốc họ Mạc ở Kinh Bắc vào

đây lánh nạn gây dựng nên tổ dòng họ Phùng ở Thiêm Lộc (Nghi Hơng), Thu Lũng (Nghi Thái), Phợng Cơng, Mỹ Chiêm (Nghi Phong), Phúc Lợi (Phúc Thọ) Nghề đóng cối xay ở Cao Xá (Nghi Văn), Yên Lạc (Nghi Diên), nghề làm đá ở Lam Nham (Nghi Yên), Đông Ngàn (Nghi Tiến), Trung Kiên (Nghi Thiết) Nghề buôn bán vận vải bằng thuyền mành vợt biển vào Nam ra Bắc và trên các tuyến đờng sông trong tỉnh phát triển ở các xã Song Lộc (Nghi Hải, Nghi Hòa, Tân Hợp (Nghi Xuân) Vạn Lộc, Tân Lộc (Nghi Tân), Xuân anh (Nghi Quang) Dù không có đồng cỏ, song ở một số vùng nh Thu Lũng (Nghi Thu), Văn Trung Đông Quan (Nghi Hơng), Cổ Đan, Cổ Bái, Phúc Lợi (Phúc Thọ) vẫn mua bò gầy các nơi về vỗ béo bán lấy lãi

Trang 17

Những nghề nghiệp trên đây đã góp phần quan trọng tạo việc làm, nâng cao mức sống cho nhân dân, nhất là các xã vùng phía Đông và Đông Nam, nơi thiếu ruộng đất canh tác, thừa lao động và luôn bị tổn thất về thiên tai, dịch họa Không những cần cù, kiên nhẫn trong lao động sản xuất nông nghiệp, đánh cá, phát triển ngành nghề mà nhân dân vùng này còn phải căn cơ tiết kiệm hết mức trong sinh hoạt mới trang trải đợc quanh năm Ngay các gia đình địa chủ, phú nông và các gia đình nông dân có chút d thừa cũng làm giàu theo con đờng ấy.

Về việc học ở Nghi Lộc, tinh thần hiếu học trong nhân dân không ngừng

đợc phát huy, thời chữ Hán còn đợc trọng dụng ở trong huyện không làng xã nào không có trờng học Các trờng này phần lớn do các nho sĩ nghèo tự lập và lấy đó làm nghề sinh sống Số đông các gia đình cho con cháu đi học là cốt để bồi dỡng về đạo lý làm ngời để có ngời đọc văn tế lễ tổ tiên, để đọc và viết các văn tự khỏi bị khinh bỉ, lừa đảo Những ngời có điều kiện dùi mài kinh sử theo dõi thi cử thì không ít ngời đã thành đạt rạng danh cho quê hơng, đất nớc

Theo Hơng khoa lục triều Nguyễn của Cao Xuân Dục thì từ khoa thi

H-ơng đầu tiên năm Đinh Mão (1807) đến khoa thi cuối cùng về chữ Hán năm Mậu Ngọ (1918) huyện Nghi Lộc đã có 83 ngời đỗ cử nhân ở trờng Nghệ An và các tỉnh Trong tổng số khoa thi thời kỳ này có 6 khoa Mỗi khoa huyện Nghi Lộc có tới 4 ngời đỗ cử nhân Riêng hai khoa Canh Tý (1900) và Quý Mão (1903) mỗi khoa thi Nghi Lộc có 6 ngời đỗ cử nhân Còn thi hội dới triều Nguyễn, Nghi Lộc có 11 ngời đỗ tiến sĩ, 4 ngời đỗ phó bảng Trong số đó 3 xã Kim Khê Thợng ở (Nghi Long), Đông Hải (Phúc Thọ) Vạn Lộc (Nghi Tân) đã chiếm tới 9 vị [18,18-19 ] Riêng gia đình tiến sĩ Đinh Văn Phác ở làng Ông La xã Kim Khê Thợng ở (Nghi Long) 3 đời liên tục (ông, cha, cháu) đều đỗ Tiến

sĩ Trong hàng đại khoa ở Nghi Lộc cụ Phạm Nguyễn Du, tên thật là Pham Huy Khiêm ở Đặng Đền (Nghi Phong), cụ vừa đỗ đầu thi Hơng (tức giải Nguyên) vừa đỗ đầu thi Hội (Tức hội Nguyên), dới thời Lê Cảnh Hng cụ là một trong những nhà thơ hiện thực ở nớc ta đợc đánh giá cao, ông Hoàng Nguyên Cát ở xã Vạn Lộc (Nghi Tân) đã viết cuốn sách thuốc gia truyền gồm

Trang 18

12 tập đợc các danh y trân trọng, góp phần làm phong phú thêm nền y học của dân tộc.

Ngoài những nét tiêu biểu trên ngời Nghi Lộc còn có một tinh thần yêu nớc, ý chí đấu tranh chống áp bức, chống xâm lợc liên tục trong quá trình lịch

1.2 Sự phát triển của dòng họ Nguyễn Đình ở Nghi Hợp - Nghi Lộc - Nghệ

An từ thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XX

Trong số các dòng họ tồn tại lâu đời ở nớc ta, dòng họ Nguyễn Đình

đ-ợc xem là dòng họ lớn và có từ lâu đời (theo truyền thuyết từ thời An Dơng

V-ơng năm 208 trớc công nguyên, cách ngày nay hơn 2.200, nhà Triệu dùng mu gian cớp nỏ thần An Dơng Vơng rồi đem quân sang đánh chiếm nớc ta Không còn cách chống cự An Dơng Vơng đành phải bỏ Cổ Loa lên ngựa chạy về phía Nam Đến bờ biển cuối huyện Diễn Châu ngày nay, bị đuổi ráo riết phía sau nhà vua nhảy xuống biển tự tử, con ngựa của ngời chạy tiếp vào đầu bờ huyện Nghi Lộc ngày nay cũng chết theo Hai nơi này vừa là dấu tích lịch sử vừa là chỉ giới bờ biển thủa ấy) Về sau, bờ biển lùi xa về phía Đông làm cho lục địa huyện Chân Phúc ở thế kỷ XIV bao gồm các huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An

và huyện Nghi Xuân tỉnh Hà Tĩnh đợc mở rộng

Mãi đến đầu thế kỷ XIV, trên bãi biển rộng lớn này vẫn chỉ là dãy cồn cát khô cằn, xen kẽ vào đó là đầm lồi, đầm đìa và lạch nớc biển hoang sơ Ngời các nơi đang lần lợt tìm đến đây bắt đầu khai phá đất hoang, canh tác và làm nghề

Trang 19

đánh cá biển, hình thành ra các cụm c dân tha thớt mang tính chất trang trại Nghiên cứu tộc phổ các dòng họ lớn lâu đời trên dải đất này, gốc tổ phần lớn là ở các địa phơng phía Bắc và phía Nam đến Một trong số ngời đến lập c đầu tiên ở Hải Tân gần sát cửa Xá, thuộc làng Thợng Xá, huyện Chân Phúc là cụ Nguyễn Hợp Qua đây chúng ta thấy dòng họ Nguyễn Đình là một trong những dòng họ

đầu tiên định c vùng đất Nghi Lộc và đóng góp tích cực vào quá trình dựng nớc

và giữ nớc của cộng đồng ngời Việt Nam

Theo “Cơng Quốc Công di huấn” và “Thợng Xá cựu Lê Công Thần tộc”

cụ Nguyễn Hợp gốc ở làng Đồng Giản (nay là xã Cơng Gián, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh), cụ có hai ngời con trai là Nguyễn Khai và Nguyễn Hội Vào giữa thế kỷ XIV, cụ để ngời con đầu ở quê tổ, đa con là Nguyễn Hội đến lập lò nấu muối ở Hải Tân, làng Thợng Xá (nay là xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An) Tại đây vợ chồng Ông Nguyễn Hội và bà Vũ Thị Hạch sinh hai ngời con trai là Nguyễn Biện và Nguyễn Xí Nguyễn Biện sinh năm Giáp Tuất (1394), Nguyễn Xí sinh năm Đinh Sửu (1397)

Tơng truyền nghề nấu muối của gia đình ông Nguyễn Hội rất phát đạt

đ-ợc mang đi bán ở nhiều nơi Nhờ nghề buôn bán mà cụ Nguyễn Hội đã thân quen với Lê Khoáng (thân sinh Lê Lợi) ở Lam Sơn, thán phục nghĩa cử của ông

bà cụ Lê Khoáng, ông Nguyễn Hội xin cho ngời con đầu của mình là Nguyễn Biện vào làm trong trang trại

Ngày 23 tháng 3 năm ất Dậu (1405) Nguyễn Hội chết, thơng chồng, buồn phiền bà Vũ Thị Hạch cũng lâm bệnh và qua đời vào ngày 7 tháng 5 Nguyễn Biện và Nguyễn Xí sống trong tình thơng của ông nội và gia đình Lê Lợi Đợc ông bà cụ Lê Khoáng cu mang, Nguyễn Biện đem em ra trại Lam Sơn, lúc Nguyễn Xí mới lên 9 tuổi Cụ Nguyễn Hội ông tổ nghề nấu muối ở làng Th-ợng Xá cùng rời quê mới trở về quê cũ Hai anh em Nguyễn Biện và Nguyễn Xí

từ đó gắn bó với sự nghiệp của Lê Lợi và nhà Hậu Lê Riêng Bá Tổ Nguyễn Biện hi sinh oanh liệt trong trận Lê Lai liều mình cứu chúa, còn Đức Tổ Nguyễn

Xí đã chiến đấu trong suốt khởi nghĩa Lam Sơn, Phục vụ 4 triều vua Lê Thái Tổ,

Trang 20

Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông, Lê Thánh Tông ở cơng vị mới với lòng trung quân ái quốc rất đỗi tự hào.

Với lịch sử hơn 600 năm, qua 15 chi (tính từ thời Đức Tổ), dòng họ Nguyễn Đình ở Nghi Hợp - Nghi Lộc - Nghệ An đã lan toả ra nhiều huyện trên đất Hà Tĩnh, nhiều tỉnh trong cả nớc và thậm chí đang có số ít sống ở n-

ớc ngoài Với một dòng họ quá lớn cùng với sự biến động của thời gian và của lịch sử do sự phát triển để sinh sống có sự di chuyển nơi c trú để làm ăn nên hiện thời cha có đợc cách nắm bắt đầy đủ ngay đợc vốn chính nh nó đã có

Cơng Quốc Công Nguyễn Xí đợc coi là Đức Tổ của dòng họ Nguyễn

Đình và là đời thứ nhất, đời thứ 2 là 16 ngời con trai và 8 ngời con gái Có thể liệt kê theo thứ tự sau:

1 Con trai trởng là Nguyễn S Hồi, nhng tên Húy lúc đầu là Đình Khôi Nguyễn S Hồi ngoài công lao đã cùng tham gia diệt bọn phản nghịch Lê Nghi Dân và bọn Phạm Đồn, Phạm Ban, đa Lê T Thành lên ngôi còn có công trấn

bố phòng tại nhiều vùng của Nghệ An trong đó có vùng Cửa Lò Trong thời gian trấn ngự vùng biển Cửa Lò ngay quê hơng Thợng Xá, ngài đã có công chiêu lập ấp lấn biển bao gồm cả nông dân và ng dân ra thôn Tân Lộc, Vạn Lộc, sau đó đã phát triển một xã vừa có truyền thống văn vật, vừa có đời sống kinh tế đa dạng và sung túc hơn ở trong vùng Ngài đợc chức quan cao nhất là Thái úy, tham dự triều chính Mã Đô Uý Sau khi qua đời đợc dựng đền thờ đợc phong là Thợng Đẳng Phúc Thần

Tại đây, xã Nghi Tân, Nghi Lộc (nay đã chuyển sang phờng Nghi Tân thuộc thị xã Cửa Lò) hiện có đền thờ S Hồi và vết tích một đoạn lũy bảo vệ mặt biển do ngài xây đắp Năm 1991 đền thờ Nguyễn S Hồi đã đợc Bộ Văn hóa nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra quyết định công nhận là di tích lịch sử văn hóa quốc gia

2 Con thứ hai: Nguyễn Sơng làm quan tới chức Tổng quản vệ Nghiêm

Võ Hành Thuận Hóa đạo Đô tổng binh sứ Phò mã Đô úy

3 Con thứ ba: Nhật Huyền làm quan đến chức Hóa Châu Thần Giáp quân

Trang 21

đồng tri, Đô tổng binh sứ, Ty Đô tổng binh sứ.

4 Con thứ t: Bá Kiệt làm quan đến chức Phấn Võ Vệ Tam phụ Quốc quân đồng tri

5 Con thứ năm: Kế Sài làm quan đến chức Hành Thuận Hóa đạo tam phụ quốc quân đồng tri, Đô tổng binh sứ, Ty Đô tổng binh sứ

6 Con thứ sáu: Phùng Thời, làm quan đến chức Thanh Hóa đạo Đô tổng binh sứ, Ty Đô tổng binh sứ

7 Con thứ bảy: Thúc Ngu, làm quan đến chức Nhất cuộc chính giám, Đô tổng binh sứ, Ty Đô tổng binh sứ đồng tri

8 Con thứ tám: Tôn Cao, làm quan đến chức Nhất cuộc chính giám Lạng Sơn xứ Đô tổng binh sứ, Ty Đô tổng binh sứ đồng tri

9 Con thứ chín: Cảnh Thanh làm quan đến chức Tuyên quốc vệ Đô tổng binh sứ, Ty Đô tổng binh sứ đồng tri

10 Con thứ mời: Trong Đạt, làm quan đến chức Đạt tín đại phu

11 Con thứ mời một: Phúc Xá làm quan đến chức Nhất cuộc chính giám,

16 Con thứ mời sáu: Duy Tân, mất lúc còn nhỏ cha chẵn năm

Đức Tổ Nguyễn Xí có 8 ngời con gái: Ngọc Hỷ, Ngọc Lệ (lấy thái tử con vua), Ngọc Minh, Ngọc Thái, Ngọc Biên, Ngọc Viên (có bản chép là Ngọc Liễn), Ngọc Kinh (có bản chép là Ngọc Quỳnh), Ngọc Bình

Trang 22

Tất cả đều lấy chồng thuộc tầng lớp công thần, quý tộc, cháu gái là Ngọc Hân (con ông Nguyễn Sơng) làm chức Dì thiên thuộc đợc phong tớc Quận Th-ợng công chúa

Những ngời con trai của Đức Tổ đã noi gơng thân phụ mình đều hết lòng trung quân ái quốc, trong 15 ngời thì có 7 ngời giữ các chức vụ quan trọng trong triều và 8 ngời điều khiển chỉ huy 8 đạo quân trấn thủ các vùng xung yếu của

đất nớc Đại Việt Tất cả đều đợc phong tớc, thấp cũng là “Tớc hầu” cao hơn là tớc “Quận Công”, cao hơn nữa là Quốc Công có 2 ngời là Phò mã (con rể) của nhà vua, còn 8 ngời con đều lấy chồng thuộc gia đình quý tộc

15 ngời con trai của Đức Tổ Nguyễn Xí đã sinh hạ con cháu và hình thành 15 chi chính Tông của họ Nguyễn Cơng Quốc Công (còn gọi là họ Cựu

Lê Công Thần) và tiếp tục có nhiều ngời đợc phong chức tớc

Ngoài 15 chi chính Tông còn có 3 chi dỡng tử (con nuôi, tức là con cháu của những ngời Minh, ngời Chiêm Thành vốn là hàng binh đợc Đức Tổ Nguyễn Xí nhận về nuôi dỡng thành con nuôi và đợc công nhận là ngời Việt)

Nh ban đầu chúng tôi đã nói, dòng họ Nguyễn Đình là dòng họ lớn hiện nay cha có một gia phả chung cho cả dòng tộc, vì thế ở mỗi chi chúng tôi sẽ chọn một số ngời đại diện để minh chứng cho điều đã trình bày ở trên

1 Nguyễn Bá Nhật, cháu 3 đời con ông Nguyễn Sơng đợc phong là Uy

Vũ công thần, Tả đô đốc, Huân kiệt hầu

2 Nguyễn Cận (Hân), cháu 3 đời con ông Nguyễn Sơng đợc phong là Lu

Trang 23

thủ tuần Lô Đồng lơng hầu, tặng Phấn lợc tớng quân.

3 Nguyễn Bá Ký, cháu 4 đời con ông Nguyễn Bá Nhật, đợc phong Suy trung công thần, Thái bảo Chiêu quận công

4 Nguyễn Đình Hán, cháu 4 đời con ông Nguyễn Đình Cận (Hân) đợc phong Kiệt tiết công thần, Thiếu úy, Ân trung hầu

5 Nguyễn Bá Quýnh, cháu 5 đời con ông Nguyễn Bá Ký đợc phong là

C-ơng chính công thần, Thiếu úy, Nguyên quận công

6 Nguyễn Bá Kỳ, cháu 5 đời con ông Nguyễn Bá Ký đợc phong là Khâm sai Thống tớng, Thái úy, An quốc công

7 Nguyễn Đình Đặng, cháu 5 đời con ông Nguyễn Đình Hán đợc phong Chánh đội trởng

8 Nguyễn Bá Tổng, cháu 6 đời con ông Nguyễn Bá Cơng đợc phong Kiệt tiết tuyên lực công thần,Tả đô đốc, Vận quận công

9 Nguyễn Bá Nhung, cháu 6 đời con ông Nguyễn Bá Quýnh đợc phong

Đặc tiến phụ quốc, Kim ngô vệ, Đô chỉ huy sứ thực võ sự, Trung lơng hầu

10 Nguyễn Đình Đạt, cháu 6 đời con ông Nguyễn Đình Đặng đợc phong Chánh đội trởng

11 Nguyễn Đình Hớng, cháu 6 đời con Ông Nguyễn Đình Đặc đợc phong Thành đội trởng

12 Nguyễn Đình Hóa, cháu 6 đời con ông Nguyễn Đình Đặng đợc phong Chánh đội trởng

13 Nguyễn Bá Bác, cháu 6 đời con ông Nguyễn Bá Cơng đợc phong Kiệt tiết công thần, Tả đô đốc, Phúc quận công

14 Nguyễn Bá Ngữ, cháu 7 đời con ông Nguyễn Bá Tống đợc phong

Trang 24

17 Nguyễn Bá Trân, cháu 7 đời con Ông Nguyễn Bá Hiệu đợc phong

21 Nguyễn Đình Tài, phong Chánh đội Triêu Văn Bá

22 Nguyễn Bá Luật, phong Hải Dơng hầu (cháu 8 đời con ông Nguyễn Bá Trân)

23 Nguyễn Bá Lệ, cháu 8 đời con ông Nguyễn Bá Trân đợc phong Tra lân hầu

24 Nguyễn Đình Sản, cháu 8 đời con ông Nguyễn Đình Đo đợc phong làm Trần Vinh Bá

25 Nguyễn Đình Đặc, cháu 8 đời con ông Nguyễn Đinh Đa đợc phong Chánh đội trởng

26 Nguyễn Bá Kiện, cháu 9 đời con ông Nguyễn Bá Luật đợc phong Xá lĩnh hầu

27 Nguyễn Đình Tấn, cháu 9 đời con ông Nguyễn Đình Đặc đợc phong Chánh đội trởng

28 Nguyễn Đình Đạt, cháu 9 đời con ông Nguyễn Đình Đạo đợc phong Hoàng lợc bá

29 Nguyễn Bá Cảnh, cháu 10 đời con ông Nguyễn Bá Kiên đợc phong Chởng lộc hầu

30 Nguyễn Bá Đĩnh, cháu 10 đời con ông Nguyễn Bá Kiên đợc phong Chởng lộc hầu

31 Nguyễn Đình Du, cháu 11 đời con ông Nguyễn Đình Luân đợc phong Thăng thụ xuất thần, Hiệu úy anh Võ tớng quân

Trang 25

32 Nguyễn Đình Mai, cháu 13 đời con ông Nguyễn Đình Quê trúng tú tài Đinh Dậu khoa.

33 Nguyễn Đình ái, cháu cháu 14 đời con ông Nguyễn Đình Thớc đợc phong Thủy dũng suất đội

34 Nguyễn Huy Xán (Côn), cháu 16 đời con ông Nguyễn Đình Liễn trúng tú tài Giáp Ngọ khoa, đệ nhị chi khoa xớng phát thí

3 Nguyễn Đình Đức, cháu 5 đời con ông Nguyễn Đình Quan đợc phong

Đô chỉ huy sứ, Tuấn lơng hầu

4 Nguyễn Đình Thăng, cháu 6 đời con ông Nguyễn Đình Đức đợc phong

Đô chỉ huy sứ, Lâm xuyên hầu

5 Nguyễn Đình Tộ, cháu 11 đời con ông Nguyễn Đình Tân đợc phong Chánh đội trởng

6 Nguyễn Đình Mậu (Việt), cháu 12 đời con ông Nguyễn Đình Tộ đợc phong Cẩm y vệ, Đô úy

7 Nguyễn Đình Cống, cháu 12 đời con ông Nguyễn Đình Tộ đợc phong Cẩm y vệ suất đội

Trang 26

4 Nguyễn Đình Bính, cháu 3 đời con ông Nguyễn Kế Sài đợc phong Quy thiêng s vệ thống vệ.

5 Nguyễn Đình Điển, cháu 3 đời con ông Nguyễn Kế Sài đợc phong Thị lang hầu

6 Nguyễn Đình Lô, cháu 4 đời con ông Nguyễn Đình Quang đợc phong Thiêm lộc hầu

7 Nguyễn Đình Báu, cháu 4 đời con ông Nguyễn Đình Phú đợc phong Kim ngô vệ, Đô chỉ huy sứ, Quỳnh Sơn hầu

8 Nguyễn Đình Nghi, cháu 4 đời con ông Nguyễn Đình Phú đợc phong Phấn dũng vệ, Tổng binh ,Thọ khê hầu

9 Nguyễn Đình Sủng, cháu 4 đời con ông Nguyễn Đình Phú đợc phong Vạn thăng hầu

10 Nguyễn Đình Liêu, cháu 4 đời con ông Nguyễn Đình Phú đợc phong Dực nghĩa hầu

11 Nguyễn Phục Minh, cháu 5 đời con ông Nguyễn Đình Báu đựơc phong Tả hiệu điểm, Lan xuyên hầu

12 Nguyễn Kế Hng, cháu 5 đời đợc phong Thiếu bảo Hoàng quận công

13 Nguyễn Trọng Thởng, cháu 6 đời con ông Nguyễn Kế Hng đợc phong Dực vận tán trị thuần tín uy dũng công thần phó tớng Trịnh quận công

14 Nguyễn Đình Yên (An), cháu 6 đời con ông Nguyễn Đình Tông đợc phong Kim ngô vệ, Đô chỉ huy sứ, Nghĩa thắng hầu

15 Nguyễn Đình Khang, cháu 6 đời con ông Nguyễn Đình Tông đợc phong Chánh đội trởng, Đại trung bá

16 Nguyễn Kế Đại, cháu 6 đời con ông Nguyễn Kế Hng đợc phong là Hữu hiệu điểm, Hòa thắng hầu

17 Nguyễn Đình Công, cháu 7 đời con ông Nguyễn Kế Đại đợc phong Hữu hiệu điểm, Cảnh lơng hầu

Trang 27

18 Nguyễn Kế Đô, cháu 7 đời con ông Nguyễn Đình Yên đựơc phong Tham đốc, Tuấn lơng hầu.

19 Nguyễn Trọng Chất, cháu 7 đời con ông Nguyễn Trọng Thởng đợc phong Thịnh xá hầu

20 Nguyễn Trọng Hạ, cháu 7 đời con ông Nguyễn Trọng Thởng đợc phong Chánh đội trởng, Ân vinh bá

21 Nguyễn Trọng Hiền, cháu 7 đời con ông Nguyễn Trọng Thởng đợc phong Đô chỉ huy sứ, Uy lộc hầu

22 Nguyễn Trọng Lơng (Phòng tử), cháu 7 đời con ông Nguyễn Cảnh

Hà (rể Nguyên quận công) ông Nguyễn Trọng Thởng đem về nuôi làm con thứ

4 đợc phong làm Tham đốc, Hán dơng hầu

23 Nguyễn Kế Tào, cháu 8 đời con ông Nguyễn Kế Đô đợc phong Tả hiệu điểm, Thủy đờng hầu

24 Nguyễn Kế Luân, cháu 8 đời con ông Nguyễn Trọng Hạ đợc phong Thành vinh bá

25 Nguyễn Kế Chức, cháu 8 đời con ông Nguyễn Trọng Hiền đợc phong Chánh đội trởng, Dũng lộc bá

26 Nguyễn Cảnh Diệu, cháu 8 đời con ông Nguyễn Cảnh Hữu đợc phong Cảnh đội trởng, Hiển lộc bá

27 Nguyễn Đình Biện, cháu 10 đời con ông Nguyễn Kế Huy đợc phong Kinh trung bá

28 Nguyễn Đình Hiệu, cháu 11 đời con ông Nguyễn Đình Biên đợc phong Thuận trung bá

29 Nguyễn Kế Ninh, cháu 11 đời con ông Nguyễn Kế đợc phong Phó tớng Thái quận công

30 Nguyễn Đình Đắc, cháu 12 đời con ông Nguyễn Công Thúc đợc phong Suy trung dực vận công thần, Đặc tiến phụ quốc Thợng tớng quân, Th-ợng trụ quốc, Phó tớng, Đắc lộc hầu, Khâm sai chởng dinh tăng Thiếu bảo

31 Nguyễn Đình Liệm, cháu 12 đời con ông Nguyễn Đình Hiệu 16 tuổi

Trang 28

đậu tú tài khoa cho chi 5 đợc phong Đô chỉ huy sứ, Liêm thọ hầu.

32 Nguyễn Đình Quyên, cháu 13 đời con ông Nguyễn Đình Liêm đợc phong Kiệt tiết trung tớng quân, Quyên thọ hầu

33 Nguyễn Đình Vi, cháu 13 đời con ông Nguyễn Đình Đắc đợc phong

Bổ thụ đại hùng, Phó quản kỳ

34 Nguyễn Đình Tú, cháu 13 đời con thứ 4 của Nguyễn Đình Đắc đợc phong Nam Định tỉnh hữu vệ hiệp quân

35 Nguyễn Đình Đức, 13 đời con thứ 5 của Nguyễn Đình Đắc đợc phong Khâm sai hổ uy danh, Tiền vệ thất đội bổ thụ tinh binh, Chánh đội tr-ởng suất

36 Nguyễn Đình Dung, cháu 14 đời con ông Nguyễn Đình Quyên đợc phong Quản lệnh tớc, Duy võ bá

37 Nguyễn Đình Dân, cháu 14 đời con ông Nguyễn Đình Tính đợc phong Chánh vệ úy

38 Nguyễn Huy Cảnh, cháu 13 đời tú tài khoa ất dậu (1885) khai hoa cho xã Thợng Xá thời Nguyễn

39 Nguyễn Đình Thung, cháu 14 đời con ông Nguyễn Đình Đức đợc phong Bổ thụ Hà Nội tinh trung quân hữu kỳ bát đội tinh binh, Chánh đội trởng suất đội

40 Nguyễn Đình Thuật, cháu 15 đời con ông Nguyễn Đình Đán đợc phong Chánh đội trởng suất đội

Trang 29

Hiển lam hầu

5 Nguyễn Đình Khang, cháu 6 đời con ông Nguyễn Đình Lân đợc phong

Trang 30

8 Nguyễn Đình Phiên, cháu 15 đời chi 14 con ông Nguyễn Đình Suất

đ-ợc phong Hoàng chiêu võ sinh suy Nghệ Tĩnh thừa phái

* ở chi 15:

1 Nguyễn Đình Tiến, cháu 3 đời con ông Văn Chinh đợc phong Tả đô

đốc, tặng Thái bảo đức hầu

2 Nguyễn Nh Ngọc, cháu 4 đời đợc phong Phó tớng Nham quận công

3 Nguyễn Nh Khuê, cháu 5 đời đợc phong Phó cai đội,Triều hoan hầu

4 Nguyễn Nh Lộc, cháu 6 đời con ông Nguyễn Nh Khúc đợc phong Chánh đội trởng ,Vĩ dơng bá

5 Nguyễn Nh Lâu, cháu 6 đời con ông Nguyễn Nh Khuê đợc phong Hữu hiệu điểm Trừu võ hầu

6 Nguyễn Đình Bính, cháu 7 đời con ông Nguyễn Đình Lộc đợc phong Thiêm sự Thái Xá hầu

7 Nguyễn Đình Hách, cháu 8 đời con ông Nguyễn Đình Bính đợc phong Chánh đội trởng, Cẩn Giang bá

Đặc biệt, trong thời đại cách mạng xã hội chủ nghĩa từ những năm 1930

đến 1997 có rất nhiều ngời trong dòng họ Cơng Quốc Công đã có cống hiến lớn

và đợc giữ nhiều trọng trách, đợc tặng thởng nhiều danh hiệu cao quý của cơ quan trung ơng cũng nh của địa phơng (bao gồm tỉnh thành, huyện, thị xã ) ở trong ngành và trên nhiều lĩnh vực công tác Theo nguồn t liệu mà dòng họ cung cấp cho chúng tôi, chúng tôi sẽ nêu tên một số những ngời có công để nói lên việc phát triển và cống hiến của cháu chắt dòng họ Nguyễn Đình cho thế hệ mai sau:

- Ông Nguyễn Duy Trinh ở chi 2 là ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng Sản Việt Nam, Phó Thủ tớng kiêm Bộ trởng Bộ Ngoại giao lâu nhất nhiệm kì 1965 - 1980

- Ông Lê Nam Thắng ở chi 1 là Thiếu tớng, T lệnh trởng Quân khu Thủ

Trang 31

đô trớc đây nay đã nghỉ hu, tên thật là Nguyễn Đình Khiếng.

- Ông Nguyễn Đình Quê ở chi 1 là Đại tá ở Quân khu 4

- Ông Nguyễn Đình Khiệp ở chi 3 là Đại tá ở Quân khu 4

- Ông Nguyễn Đình Tuấn Anh ở chi 2 Trung tá ở Quân khu 4

- Ông Nguyễn Đình Hiệp ở chi 2 là Thợng tá ở Quân khu 4

- Ông Nguyễn Đình Sơn ở chi 13 là Thợng tá ở Quân khu 4

- Ông Nguyễn Văn Lạc ở chi 2 là Trung tá ở Quân khu 4

- Ông Nguyễn Ngọc Châu ở chi 2 là Trung tá ở Quân khu 4

- Ông Nguyễn Đình Lâm chi 2 là Thợng tá ở Quân khu 4

- Ông Nguyễn Đình Tuấn chi 3 là Trung tá ở Quân khu 4

- Ông Nguyễn Đình Thụy là Trung tá ở Quân khu 4

- Ông Nguyễn Đình Minh chi 5 Trung tá ở Quân khu 4

- Ông Nguyễn Quý chi 2 là Thiếu tá ở Quân khu 4

- Ông Nguyễn Lập chi 8 là Thiếu tá ở Quân khu 4

- Ông Nguyễn Đình Thái chi 8 Thiếu tá Quân khu 4

- Ông Nguyễn Đình Quang chi 8 là Trung tá Quân khu 4

Danh sách một số cán bộ còn đơng chức thuộc dòng họ Nguyễn Đình ở Vinh (một số còn rất ít) tại Ngành công an

- Nguyễn Bá Lơng chi 2 ở Nghi Trung

- Nguyễn Đình Phùng chi 3 ở Nghi Phong

- Nguyễn Đình Trần chi 3 ở Nghi Thái

- Nguyễn Tiến Dần chi 5 ở Thanh Chơng

- Nguyễn Đình Sáu chi 5 ở Anh Sơn

- Nguyễn Đình Vinh chi 5 ở Nghi Long

- Nguyễn Đình Lý chi 5 ở Hng Nguyên

- Nguyễn Đình Minh chi 2 ở Nghi Trờng

- Nguyễn Đình Xuân ở chi 13 ở Quỳnh Lu

- Nguyễn Đình Kỳ chi 13

Trang 32

- Nguyễn Đình Cảnh chi 13 Nam Đàn

- Nguyễn Đình Ngạc chi 3 ở Nghi Thu

Danh sách 1 số cán bộ đơng chức hiện nay và đã từng công tác giữ cơng

vị Giám đốc, phó Giám đốc, Chủ tịch huyện, Giáo s, Tiến sĩ

- Nguyễn Hữu Lơng - ngân hàng tỉnh Nghệ An

- Nguyễn Đình Chi - Chủ tịch huyện Yên Thành (nay là Phó Chủ tịch tỉnh Nghệ An)

- Nguyễn Đình ám - Giám đốc bảo hiểm

- Nguyễn Đình Phợng - Giám đốc kho bạc

- Nguyễn Đình Lợng - Giám đốc liên hiệp đá Nghệ An

- Nguyễn Đình Vinh - Giám đốc Công ty xi măng Anh Sơn

- Nguyễn Đình Thanh - Giám đốc Bệnh viện Tâm thần Nghệ An

- Nguyễn Song Tùng - phó Giám đốc Sở Xây dựng

- Nguyễn Thanh Tiên - Tổng biên tập báo Nghệ An (nay đã nghỉ hu)

- Nguyễn Đình Thông - Phó Tiến sĩ, nhà giáo u tú

- Nguyễn Đình Sùng - Phó Giám đốc Công ty xăng dầu

- Nguyễn Đình Noãn - PTS Giáo s

em cha, con đều là tớng giỏi, nắm các trọng trách lớn trong triều đình nhà Lê,

có vai trò to lớn trong việc dựng lên một triều đại vua sáng, tôi hiền, một dòng

họ nh thế thật là hiếm có trong lịch sử nớc nhà

Trải qua 600 năm con cháu Đức Tổ Nguyễn Xí đã phát triển sinh sôi nảy

nở rất đông, cha có điều kiện thống kê thành con số đích thực Hàng năm cứ

đến ngày giỗ Tổ 30/10 âm lịch hoặc vào ngày lễ hội mừng công vào 30 tháng giêng âm lịch của Đức Tổ Nguyễn Xí, con cháu gần xa đều về với cội nguồn

Trang 33

của dòng họ, hội tụ tại đền thờ Tổ ở xã Nghi Hợp - Nghi Lộc - Nghệ An để ôn lại những truyền thống vinh quang hào hùng và trọn đời giữ vững tấm lòng trung với dân với nớc Phải thừa nhận rằng, ngọn lửa truyền thống của ý chí bảo

vệ độc lập tự do của dân tộc, của đất nớc ta từ buổi đầu dựng nớc, giữ nớc cho tới nay là một kho báu vô tận, dòng họ Nguyễn Cơng Quốc Công trớc đây cũng

nh hiện nay vẫn thờng xuyên giáo dục cháu chắt các thế hệ giữ niềm trung hiếu, coi đó là trách nhiệm của mỗi một ngời và của cả dòng họ

Họ Nguyễn Đình cho tới nay đã trải qua hơn hai chục đời, kế thừa công

đức của Đức Tổ Cơng Quốc Công Nguyễn Xí, con cháu trải bao đời nay trong 15 chi phái, không ít ngời đã nỗ lực rèn luyện để trở thành những ngời có ích cho đất nớc, cho xã hội, làm rạng rỡ non sông, ngày càng tô điểm thêm truyền thống tốt

đẹp của cha ông Cũng mong hớng về cội nguồn, hớng về tổ tiên nh cây phải có gốc, nớc phải có nguồn chúng ta phải ôn lại ngày xa để biết ngày nay, quá khứ và hiện tại, hiện tại và tơng lai, bởi nó luôn luôn hoà quyện với nhau tạo thành một truyền thống tốt đẹp, rất hào hùng, rất vẻ vang đối với dòng họ cũng nh đối với

đất nớc

Trang 34

Chơng 2 VĂN HóA TRUYềN THốNG CủA Dòng họ NGUYễN ĐìNH

ở nghi hợp - NGHI LộC - nghệ an

2.1 Sự nghiệp chính trị - quân sự của dòng họ Nguyễn Đình

Nghiên cứu lịch sử - văn hóa dòng họ Nguyễn Đình điều đầu tiên không thể không nhắc tới đó là sự nghiệp chính trị - quân sự lừng lẫy của dòng họ Nguyễn Đình đặc biệt từ thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XX

2.1.1 Họ Nguyễn Đình trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc

Lãnh thổ Việt Nam nằm trong vị trí chiến lợc quan trọng, nằm trên bán

đảo Đông Dơng Nếu chiếm đợc Việt Nam là chiếm đợc Đông Dơng, từ đó làm bàn đạp tấn công sang các nớc khác trong khu vực và trên thế giới Việt Nam trở thành con mồi béo bở cho các nớc lớn trên thế giới dòm ngó, là mục tiêu xâm lợc hấp dẫn Dân tộc Việt Nam trong chiều dài mấy ngàn năm lịch sử luôn luôn phải đơng đầu với những thế lực ngoại xâm để giữ gìn trọn vẹn non sông

đất nớc Thật hiếm có dân tộc nào trên thế giới mà thời gian chiến tranh gộp lại

có đến 12 thế kỷ nh dân tộc Việt Nam Và cũng thật hiếm có một dân tộc nào trên thế giới lại liên tiếp phải đơng đầu với những kẻ thù mạnh của thời đại nh dân tộc Việt Nam Để vợt qua đợc những thử thách của lịch sử, lớp lớp các thế

hệ ngời Việt Nam của hàng trăm dòng họ khác đã chung lng đấu cật để xây dựng và giữ gìn quốc gia dân tộc Trong đó dòng họ Nguyễn Đình với hơn 600 năm phát triển Gần nh tồn tại theo chiều dài lịch sử từ thời nhà Lê Sơ đến nay, dòng họ Nguyễn Đình đã đóng góp xứng đáng với công cuộc chống ngoại xâm Trong tiến trình lịch sử ấy sử sách đã ghi nhận những tấm gơng của lớp con cháu dòng họ Nguyễn Đình làm rạng danh quê hơng Đó là tấm gơng của Nguyễn Xí với nỗ lực phò tá Lê Lợi và là đại thần 4 triều của nhà Lê Sơ Đặc biệt ông đã có công đầu trong việc gây dựng vơng triều Lê Thánh Tông, một vơng triều hng thịnh bậc nhất trong lịch sử dân tộc ta Hay đó là tấm gơng của

Trang 35

Nguyễn S Hồi, một vị tớng có tài thao lợc đợc vua gả công chúa cho Đa Gia vơng Lê T Thành lên ngôi vua, Nguyễn S Hồi con tìm mọi cách loại bỏ bọn gian thần nịnh hót cùng với sự nghiệp khai hoang, lấn biển lập ra các làng mới

ở vùng Cửa Lò, Cửa Hội Tiếp đó là có Nguyễn Sơng, Nguyễn Kế Sài và sau này hàng loạt lớp trẻ thế hệ sau nh Nguyễn Kế Hng, Nguyễn Trọng Hiền, Nguyễn Đình Hồ

Trong suốt tiến trình lịch sử chống giặc ngoại xâm oai hùng của dân tộc Các thế hệ của dòng họ Nguyễn Đình đã thể hiện khí phách quật cờng, bản lĩnh, dám đơng đầu với những khó khăn và trí tuệ mu lợc Những trang sử oanh liệt của cuộc khởi nghĩa chống quân Minh còn ghi lại chiến tích của những ngời con của dòng họ Nguyễn Đình nh Nguyễn Biện, Nguyễn Xí mở ra 2 dòng lừng lẫy trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc của dòng họ Nguyễn Đình

Nối tiếp truyền thống của cha ông, con cháu của họ Nguyễn Đình tiếp tục góp sức mình cho công cuộc xây dựng bảo vệ Tổ quốc

Tiến trình cách mạng Việt Nam từ cuộc trờng chinh hơn 10 năm chống Pháp, 5 năm kháng Nhật để giành lại tự do cho đến 9 năm trờng kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, 21 năm gian nan chống Mĩ để bảo vệ Tổ quốc, chủ quyền của dân tộc và giữ gìn vị thế đã có biết bao ngời con đổ máu, biết bao tấm gơng

hi sinh, đặc biệt là sự cống hiến và hi sinh của những ngời con dòng họ Nguyễn

Đình tiêu biểu nh Nguyễn Đình Cơng, Nguyễn Đình Tuấn, Nguyễn Đình Tiếu

hi sinh trong kháng chiến chống Pháp, kháng chiến chống Mĩ có Nguyễn Đình Quang, Nguyễn Đình Nguyên

2.1.2 Dòng họ Nguyễn Đình trong sự nghiệp xây dựng củng cố vơng triều

Lê Sơ nửa đầu thế kỉ XV

Nhà Trần suy tàn, đất nớc rơi vào tình trạng khủng hoảng nặng nề về chính trị và xã hội Nhà Hồ cớp ngôi nhà Trần Tuy có ý thức cải cách lớn, có tinh thần dân tộc cao, song chính sự nhà Hồ phiền hà không đợc lòng dân nên làm cho mâu thuẫn xã hội vốn gay gắt giờ càng gay gắt hơn Các cuộc khởi nghĩa “diệt nhà Hồ, phục nhà Trần” nổi lên ở khắp nơi Lợi dụng khẩu hiệu ấy

Trang 36

nhà Minh (Trung Quốc) đem quân sang diệt nhà Hồ Thực hiện mu đồ thôn tính nớc ta Nhà hậu Trần đợc khôi phục và tiến hành các cuộc chống giặc Minh xâm lợc nhng lần lợt bị thất bại.

Năm 1407, nhà Minh chiếm đợc nớc ta và thực hiện âm mu biến nớc ta thành quận, huyện của chúng Chính sách cai trị tàn bạo của nhà Minh đẩy nhân dân ta vào cảnh điêu linh Vì vậy gia đình và quê hơng Lê Lợi đã trở thành nơi hội tụ hiền tài để khởi nghĩa chống quân xâm lợc nhà Minh

Tháng 2 năm Bính Thân (1416), Lê Lợi cùng với Lê Lai tập hợp hào kiệt thân tín của mình ở các nơi đến Lũng Nhai làm lễ ăn thề kết nghĩa anh em chống giặc Minh

Hai năm sau, ngày hai tháng Giêng năm Mậu Tuất (1418), Lê Lợi đợc tôn làm Bình định Vơng cùng với những ngời trong “Hội thề Lũng Nhai” tập hợp hào kiệt bốn phơng về Lam Sơn làm lễ tế cờ khởi nghĩa Từ đó cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã nhanh chóng quy tụ đợc tất cả các cuộc khởi nghĩa chống quân Minh ở các địa phơng trong nớc vào một mối Lam Sơn quê hơng của Lê Lợi trở thành căn cứ của cuộc khởi nghĩa Nguyễn Biện và Nguyễn Xí là gia nô của Lê Lợi nên không đợc dự “Hội thề Lũng Nhai” song khi cờ khởi nghĩa đợc dựng lên, hai anh em họ Nguyễn đã sớm có mặt trong hàng ngũ nghĩa quân Nguyễn Biện thuộc đội quân dũng sĩ Nguyễn Xí đợc Bình Định vơng Lê Lợi giao “Binh Phù”, chỉ huy đội quân Thiết Đột, là đội xung kích, cận vệ của Bộ chỉ huy Với vị trí ấy, Nguyễn Xí luôn ở bên cạnh Bình Định Vơng Lê Lợi và đ-

ợc Lê Lợi tin cẩn nh ngời nhà Nguyễn Xí đem hết lòng trung thành và tài năng của mình bảo vệ và phục vụ Bình Định Vơng Lê Lợi và Bộ chỉ huy khởi nghĩa

Cuộc khởi nghĩa vừa dấy lên thì bị quân Minh tập trung lực lợng mạnh gấp trăm lần bao vây, càn quét hòng bóp chết từ trứng nớc Yêu cầu bảo vệ Bình

Định Vơng Lê Lợi đợc đặt ra cấp thiết, Nguyễn Xí đã cùng các tớng lĩnh đảm nhiệm trọng trách này, vừa chỉ huy quân Thiết Đột tham gia chiến đấu phá vỡ các cuộc tấn công của giặc Minh Trong điều kiện Lê Lợi bị o ép hiểm nghèo thì Lê Lai đã khoác áo hoàng bào liều mình cứu chúa Lê Lai bị chém chết cùng

Trang 37

với nhiều nghĩa quân cận vệ của ông, trong đó có Nguyễn Biện anh của Nguyễn

Xí Sự hi sinh cao cả của Lê Lai và nghĩa quân đã đi vào lịch sử dân tộc nh bản thiên anh hùng ca bất diệt, Nguyễn Trãi đánh giá “không có sự hi sinh đó thì không có cơ đồ nhà Lê Sơ”

Tiếp đó là sự thắng lợi lớn liên tiếp ở Chúc Động - Tốt Động và chiến thắng thành Đông Quan chấm dứt 20 năm cai trị của nhà Minh Ngày 21/02 năm Mậu Thân (1428), Lê Lợi xét ban tớc hầu cho 88 ngời Nguyễn Xí đợc phong tớc Liệt hầu là bậc thứ 5 trong 9 bậc tớc hầu đứng sau 21 ngời đợc phong tớc hầu của 4 bậc tớc Ngày 29/4/1428 Bình Định vơng Lê Lợi lên ngôi vua Lê Thái Tổ niên hiệu là Thuận Thiên, mở đầu cho triều đại nhà Lê (còn gọi là Hậu Lê)

Triều đình nhà Lê đợc thiết lập với tớc “Liệt hầu”, Nguyễn Xí đợc cử dự chức “Long Hổ thợng tớng quân, suy trung bảo chính công thần” đợc ban quốc tính nhà vua (Lê Xí) Với cơng vị ấy Nguyễn Xí đã đem hết lòng trung thành, tinh thần nghị lực của mình phò tá nhà Lê từ thời Lê Thái Tổ đến thời Lê Thái Tông

Tháng 8 năm Giáp Tuất (1442) Lê Thái Tông mất, con vua Lê Thái Tông còn nhỏ tuổi, trong triều đã có lời bàn đa Thái s Nguyễn Xí lên làm vua Nguyễn Xí can ngăn và nói rằng: “Họ Nguyễn làm vua thì thiên hạ nổi loạn nên không nhận” Ông chỉ nhận chức “Nhập nội đô đốc” và tiếp tục phò tá Lê Nhân Tông

Năm Kỷ Mão (1459), Nguyễn Xí 62 tuổi, triều đình nhà Lê xảy ra sự kiện cực kỳ nghiêm trọng Đó là việc Lê Nghi Dân giết chết Lê Nhân Tông và cớp ngôi đổi niên hiệu là Thiên Hng Hành động này của Lê Nghi Dân quá bạo ngợc làm cho triều đình rối loạn Nguyễn Xí cùng với các công thần Đinh Liệt,

Lê Niệm, Nguyễn S Hồi (con đầu của Nguyễn Xí) đã bí mật bàn định kế hoạch lật đổ Lê Nghi Dân để đa Lê T Thành lên ngôi vua Để có thể thực hiện kế hoạch thành công, ông đã giả mù và hi sinh ngời con trai thứ 16 của ông đang tuổi sơ sinh, để tránh sự nghi ngờ của bọn phản nghịch

Trang 38

Tháng 6 năm Canh Thìn (1460) theo kế đã định, Nguyễn Xí cùng với các công thần và ngời con trai là Nguyễn S Hồi đã lật đổ và giết chết Lê Nghi Dân rồi cho rớc Lê T Thành lên ngôi lấy niên hiệu Quang Thuận (tức vua Lê Thánh Tông).

Việc diệt bọn phản tặc, truất ngôi vua Lê Nghi Dân, đa Lê T Thành lên ngôi Hoàng đế là chủ trơng cực kỳ sáng suốt của ngời khởi xớng đứng đầu là Nguyễn Xí Để làm đợc việc này Nguyễn Xí không những kiên trì giả làm mù gần một năm mà con phải chịu sự hi sinh cao cả để trừ hậu họa cho nhà Lê Sơ Lịch sử xa và nay đều công nhận: “Vơng triều Lê Thánh Tông là vơng triều cực thịnh toàn diện nhất trong khuôn khổ chế độ phong kiến Đại Việt, ngang tầm với quốc gia cờng thịnh ở vùng Đông Nam á Ngời tạo dựng lên vơng triều Lê Thánh Tông là Nguyễn Xí, Đinh Liệt, Lê Niệm và Nguyễn S Hồi, mà trớc hết là cựu công thần Nguyễn Xí” [23,40 - 41]

Nối tiếp truyền thống của dòng họ Nguyễn Đình, 15 ngời con trai của Nguyễn Xí tiếp tục sự nghiệp phụng sự nhà Lê Sơ và ngời nào cũng có chức cao trong triều, cháu chắt của ông cũng tiếp tục phụng sự nhà Lê nh Nguyễn Kế

Đại, Nguyễn Trọng Hiền, Nguyễn Công Đĩnh, Nguyễn Đình Phú

Vơng triều Lê Sơ bắt đầu từ 1428 với chiến thắng oanh liệt chống giặc ngoại xâm và kết thúc vào năm 1527 tròn 100 năm 100 năm tồn tại của vơng triều Lê Sơ là 100 năm con cháu dòng họ Nguyễn Đình đã cống hiến vào sự nghiệp xây dựng, củng cố và bảo vệ, góp phần vào sự hng thịnh của vơng triều này

2.1.3 Họ Nguyễn Đình với tài thao lợc quân sự

Dân tộcViệt Nam có truyền thống quật cờng, bất khuất, truyền thống không chịu làm nô lệ Con ngời Việt Nam có lòng nhân nghĩa, trung thực, có

đầu óc trong sáng, đoàn kết thơng yêu nhau, không lừa lọc, giả dối Đặc biệt, mỗi ngời con đất Việt luôn có ý thức gìn giữ và phát huy truyền thống của dòng

họ, của tổ tiên Trong chiều dài lịch sử, con cháu họ Nguyễn Đình vẫn thờng xuyên nâng cao hơn nữa tài thao lợc và nghệ thuật giữ nớc của dân tộc Việt

Trang 39

Nam, anh hùng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Ngay từ khi còn nhỏ, Nguyễn Xí đã thể hiện rõ đợc tài thao lợc quân sự của mình Khi ở nhà Lê Lợi, Nguyễn Xí đã đợc giao nhiệm vụ chăn dạy một

đàn chó săn Nguyễn Xí đã có biệt tài điều khiển chúng đứng, ngồi, chạy, nhảy,

ăn uống răm rắp theo hiệu lệnh bằng tiếng mõ, tiếng cồng Lê Lợi đã phát hiện tài năng quân sự của ông và cho rằng: “Loài vật vô tri còn nuôi dạy đợc nh thế, huống hồ là việc luyện tập và cai quản quân sĩ ” [21, 62 - 63]

Chính vì vậy mà khởi đầu cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, Lê Lợi đã giao cho Nguyễn Xí cai quản đội quân Thiết Đột thứ nhất và ông đã nhanh chóng lập đợc công đầu ở vùng Lạc Thủy, Mờng Thôi, Mỹ Canh

Tài thao lợc quân sự của Nguyễn Xí còn thể hiện qua trận đánh ở Tốt

Động - Chúc Động Trong trận này, Nguyễn Xí chỉ huy một đội quân tinh nhuệ

đánh về hớng Đông Quan, bẻ gãy đội kỵ binh của địch, đập tan thế hiểm đánh sau lng của địch, yểm hộ, chi viện đồng thời hiệp đồng với đội chủ lực của ta

đánh tiêu diệt đội chính binh của địch, giành đợc chiến thắng vang dội

Chiến thắng Tốt Động - Chúc Động tạo ra bớc ngoặt quan trọng cho cuộc chiến tranh, nghĩa quân mạnh hẳn lên tiến vào vây hãm thành Đông Quan Tại trận đánh ở thành Đông Quan, Nguyễn Xí chỉ huy đội quân tinh nhuệ tổng dự bị chiến lợc Khi thấy đạo quân của Liễu Thăng tử trận, Vơng Thông không còn hi vọng đánh ra ngoại thành Đông Quan để liên kết với đạo quân cứu viện thì lúc đó đội quân do Nguyễn Xí chỉ huy cơ động lên Xơng Giang tiêu diệt lực lợng còn lại của đội quân cứu viện và hoàn thành thắng lợi

Tháng 4 năm ất Sửu (1445), một lần nữa tài thao lợc của Nguyễn Xí lại

đợc thể hiện khi vua Chiêm Thành đem quân sang đánh chiếm Hóa Châu thuộc phía Nam nớc ta Nguyễn Xí đợc triều đình cử làm đô đốc cùng với quan t đồ

Lê Thận đem quân đánh dẹp Trong trận này, ngoài số bị tiêu diệt tại trận, hai

ông đã dụ hàng đợc 3 tớng của vua Chiêm Thành là Chế Hiệp, Chế Đá và Chế Lân

Cùng với Nguyễn Xí, 8 trong số 15 ngời con trai của ông ngời con nắm

Trang 40

giữ những vị trí quan trọng trong quân đội Các thế hệ sau này của dòng họ Nguyễn Đình tiếp nối tài thao lợc quân sự của Đức Tổ Nguyễn Xí Đặc biệt, trong dòng họ có Nguyễn Đình Đắc là một danh tớng bậc nhất, là vị tớng lĩnh

có tài thao lợc và là trụ cột của vơng triều Nguyễn ánh trong buổi đầu xây dựng vơng triều Hiện nay dòng họ Nguyễn Đình đã và đang có rất nhiều ngời giữ chức vị cao trong quân đội nh Nguyễn Duy Trinh làm Phó Thủ tớng kiêm Bộ tr-ởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Đình Khiếng làm Thiếu tớng T lệnh trởng Quân khu Thủ đô, Nguyễn Đình Quế Đại tá Quân khu 4

Trong thời đại mới, dân tộc ta nói chung, dòng họ Nguyễn Đình nói riêng vẫn đang tiếp tục gìn giữ và tô thêm truyền thống thợng võ của cha ông, góp phần đáng kể vào việc đa nền nghệ thuật quân sự dân tộc phát triển cao hơn trong thời đại Hồ Chí Minh, trong đấu tranh và bảo vệ tổ quốc, xây dựng CNXH

2.2 Gia phong của dòng họ Nguyễn Đình

Các bậc danh nhân anh hùng hào kiệt thủa xa trớc lúc qua đời có lời dặn

dò việc nhà cho con cháu đời sau, thờng gọi là di chúc Trong di chúc một phần dạy bảo mang giá trị tinh thần đối với con cháu, thờng đợc con cháu đời sau coi

là di huấn và trở thành “gia pháp” (phép nhà) của họ

Chính vì vậy mà khi chúng tôi đến với nhà thờ họ Nguyễn Đình, thì cái chúng tôi thấy đầu tiên là bảng bia đá khắc di huấn của Nguyễn Xí để lại dặn

dò con cháu thế hệ sau Chúng tôi xin trích một phần trong nội dung di huấn của Nguyễn Xí dạy lại con cháu mình trớc khi ông về cõi vĩnh hằng:

“ Nay các ngơi trông thấy nhà đẹp, ruộng tốt, giàu có thì phải nghĩ

đến nỗi vất vả, chặt gai phát bụi của ta Trông thấy cảnh ca nhi múa hát vui vẻ thì phải nghĩ đến thời ta phải gian khổ, nằm tuyết gối đồng Ta thấy đời Đờng (Trung Quốc) Lý Tĩnh là một bậc danh tớng nhng có hai con là Kính và Nghiệp phạm tội làm phản, các ngời cần lấy đó làm gơng để tránh Đời Tống (Trung Quốc) có Tào Bân cũng là danh tớng nhng có 2 con là Xán và Vĩ đã b-

Ngày đăng: 19/12/2013, 14:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Biên niên Lịch sử cổ trung đại Việt Nam (1987), Nxb Khoa học Xã hội Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biên niên Lịch sử cổ trung đại Việt Na
Tác giả: Biên niên Lịch sử cổ trung đại Việt Nam
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội Hà Néi
Năm: 1987
2. Biên bản giao nhận ruộng đất, bản chép tay lu tại Đền thờ Nguyễn Xí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biên bản giao nhận ruộng đất
3. Hippolyte Le Breton (2005), An tĩnh cổ lục, Nxb Nghệ An, Trung tâm Văn hoá ngôn ngữ Đông Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: An tĩnh cổ lục
Tác giả: Hippolyte Le Breton
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2005
4. GS. Nguyễn Đình Chú, “Cơng Quốc Công Nguyễn Xí những cống hiến và sự tôn vinh”, Báo Văn hoá Nghệ An số 58, tháng 03/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơng Quốc Công Nguyễn Xí những cống hiến và sự tôn vinh
5. Phan Huy Chú (1992), Lịch triều hiến chơng loại chí (nhân vật chí), Nxb Khoa học Xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chơng loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội Hà Nội
Năm: 1992
6. Quỳnh C (chủ biên) (2005), Danh nhân Đất Việt (Tập 2), Nxb Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh nhân Đất Việt
Tác giả: Quỳnh C (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2005
7. (1984), Danh nhân Nghệ Tĩnh (Tập 1), Nxb Nghệ Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: (1984), Danh nhân Nghệ Tĩnh (Tập 1)
Nhà XB: Nxb Nghệ Tĩnh
Năm: 1984
8. (2000), Di tích lịch sử Lam Kinh, Sở Văn hoá Thông tin Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: (2000), Di tích lịch sử Lam Kinh
Năm: 2000
9. (2005), Đền Vạn Lộc, UBND Phờng Nghi Tân - Thị xã Cửa Lò Sách, tạp chí
Tiêu đề: (2005), Đền Vạn Lộc
Năm: 2005
10. Trần Bá Đệ (2001), Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến nay, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến nay
Tác giả: Trần Bá Đệ
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
11. (1978), Lê Quý Đôn toàn tập (Tập 3), Đại Việt thông sử, Nxb Khoa học Xã hội Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt thông sử
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội Việt Nam
Năm: 1978
12. Gia phổ họ Nguyễn công thần Thợng Xá, bản chép tay, lu tại Đền thờ NguyÔn XÝ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia phổ họ Nguyễn công thần Thợng Xá
13. Gia phổ họ Nguyễn công thần Thợng Xá của chi 5, bản in lu tại đền thờ NguyÔn XÝ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia phổ họ Nguyễn công thần Thợng Xá của chi 5
14. (1969), Lam Sơn khởi nghĩa, Nxb Khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lam Sơn khởi nghĩa
Nhà XB: Nxb Khoa học
Năm: 1969
15. Phan Huy Lê (1999), Tìm về cội nguồn (tập 2), Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm về cội nguồn (tập 2)
Tác giả: Phan Huy Lê
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 1999
16. (1998), Lịch sử Đảng bộ Nghệ An, (tập 1), Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: (1998), Lịch sử Đảng bộ Nghệ An
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
17. Ngô Sĩ Liên (1998), Đại Việt sử kí toàn th , Nxb Khoa học Xã hội, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử kí toàn th
Tác giả: Ngô Sĩ Liên
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1998
18. Nguyễn tộc cổ Lê Công Thần, lu tại Đền thờ Nguyễn Xí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn tộc cổ Lê Công Thần
19. Nguyễn Diên Niên khảo chứng, Lê Văn Uông chú thích (1976), Lam Sơn thực lục, Ty Văn hoá Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lam Sơn thực lục
Tác giả: Nguyễn Diên Niên khảo chứng, Lê Văn Uông chú thích
Năm: 1976
20. (2001), Quê hơng Nghi Lộc, Cửa Lò và những con ngời, Ban liên lạc hội đồng hơng Nghi Lộc - Cửa Lò tại Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: (2001), Quê hơng Nghi Lộc, Cửa Lò và những con ngời
Năm: 2001

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Một số hình ảnh về dòng họ Nguyễn Đình - Đóng góp của dòng họ nguyễn đình ở nghi hợp   nghi lộc   nghệ an từ thế kỷ xv đế đầu thế kỷ xx
t số hình ảnh về dòng họ Nguyễn Đình (Trang 86)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w