Một vấn đề mà những người dân nuôi cua ở Nghệ an lo lắng đó là tình hình bệnh đã bắt đầu xuất hiện ở cua, đặc biệt là bệnh ký sinh trùng dẫn đến tình trạng cua chậm lớn, cua óp, thịt khô
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập và thực hiện đề tài tôi luôn nhận được sự quan tâm giúp đỡ của Ban giám hiệu Trường Đại Học Vinh, Ban Chủ nhiệm khoa Nông Lâm Ngư trường Đại học Vinh Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Tiến Sỹ Nguyễn Quang Huy là người hướng dẫn trực tiếp, đã cho tôi nhiều hướng dẫn chi tiết và lời khuyên bổ ích trong suốt thời gian thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn này
Tôi không thể hoàn thành luận văn này nếu không được sự góp ý xây dựng của các thầy, cô trong Hội Đồng khoa học trong việc xây dựng đề cương nghiên cứu của đề tài
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè đồng nghiệp, tập thể cán bộ khoa Nông Lâm Ngư
đã nâng đỡ tôi về mặt tình cảm, vật chất lẫn tinh thần trong quá trình thực hiện đề tài
Tác giả
Chu Thị Ngọc Diệp
Trang 21.2 Tình hình nghiên cứu bệnh cua biển (Scylla sp) trên thế giới và Việt
Nam
7
2.3 Phương pháp nghiên điều tra hiện trạng nghề nuôi cua và tình hình dịch
bệnh
15
2.4 Phương pháp nghiên cứu bệnh kí sinh trùng trên cua 15
Trang 33.3.3 pH 263.4 Kết quả nghiên cứu về ký sinh trùng trên cua (Scylla sp) nuôi thương
phẩm tại Nghệ An
27
3.4.1 Thành phần giống ký sinh trùng đa bào ngoại ký sinh trên cua 273.4.2 Thành phần giống ký sinh trùng đơn bào ngoại ký sinh trên cua 303.4.3 Thành phần giống loài ký sinh trùng đơn bào nội ký sinh trên cua nuôi 32 3.4.4 Tỷ lệ, cường độ nhiễm ký sinh trùng trên cua biển ở các giai đoạn
3.6 Tỷ lệ nhiễm bệnh ký sinh trùng ở cua trong quần đàn và mức độ thiệt hại 433.6.1 Tỷ lệ nhiễm Hematodinium sp ở cua và mức độ thiệt hại 433.6.2 Tỷ lệ nhiễm Amesoma sp ở cua và mức độ thiệt hại 433.6.3 Tỷ lệ nhiễm Zoothamnium sp ở cua và mức độ thiệt hại 433.6.4 Tỷ lệ nhiễm Sacculina ở cua và mức độ thiệt hại 443.6.5 Tỷ lệ nhiễm Octolasmis ở cua và mức độ thiệt hại 443.6.6 Tỷ lệ nhiễm Banalus và Chelonobia ở cua và mức độ thiệt hại 44
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Diện tích nuôi cua tại Nghệ An 21
Bảng 3.2 Địa điểm và loại hình nuôi cua của các hộ chọn điều tra 22
Bảng 3.3 Các bệnh cua trong ao nuôi tại Nghệ an 23
Bảng 3.4 Bảng các yếu tố môi trường trong quá trình nghiên cứu 27
Bảng 3 5 Tỷ lệ, cường độ nhiễm ký sinh trùng trên cua ở các giai đoạn khác nhau 35 Bảng 3.6 Số mẫu từng loại bệnh thu được 39
Bảng 3.7 Tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng ở các loại bệnh trên cua 39
Bảng 3.8: Kết quả kiểm tra ký sinh trùng đơn bào ngoại ký sinh nhiễm trên cua giai đoạn Ấu trùng và giai đoạn cua bột
42
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Hình thái ngoài của các loài cua biển ở Việt Nam 4
Hình 1.3: Các giai đoạn phát triển của ấu trùng Cua biển (± 30oC) 6
Hình 3.2 Bananus theo Darwin(1854) 29Hình 3.3 Chelonobia, Bananus theo Bùi Quang Tề (2005) 29
Hình 3.4 Hà- Chelonibia patula (A- mặt lưng; B- mặt đáy) 30
Hình 3.5: Zoothamnium sp ký sinh trên mắt cua bột 31
Hình 3.6: Zoothamnium sp ký sinh trên ấu trùng Megalops 31
Hình 3.7: Zoothamnium sp ký sinh trên ấu trùng Zoea 5 32
Hình 3.8: Hematodinium sp đa nhân ký sinh cơ chân cua (nhuộm giemsa)
gây nhiễm trên cua thương phẩm
33
Hình 3.9: Hematodinium sp đa nhân ký sinh trên cua bột (nhuộm giemsa) 34
Hình 3.11 Amesoma sp (vi bào tử) ký sinh trên cua ấu trùng (nhuộm H&E) 35
Trang 6MỞ ĐẦU
Trên thế giới, người ta đã biết có hơn 4000 loài cua Chúng phân bố ở các vùng nước ngọt, lợ, mặn [2] Các loài cua sống ở nước lợ, mặn có sản lượng và giá trị kinh tế
cao, đặc biệt là cua biển (Scylla sp)
Nghề nuôi cua biển có cách đây hơn 100 năm bắt nguồn từ Trung Quốc và được phát triển rộng rãi tới các nước Nam Á từ hơn 50 năm trước sau đó tới Nga, Mỹ, Canada,
Úc [1] Đây là đối tượng nuôi quan trọng với các nước có rừng ngập mặn trên toàn thế giới, góp phần tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập cho ngư dân các nước này
Ở Việt Nam nói chung, Nghệ an nói riêng, nghề nuôi cua biển đã được người dân đưa vào từ cách đây 50 năm nhưng chỉ nuôi ở hình thức quảng canh nhỏ lẻ Hiện nay
nguồn lợi cua biển (Scylla sp) trong tự nhiên bị suy giảm nghiêm trọng do cường độ khai
thác ngày một tăng, cách khai thác mang tính hủy diệt (mìn, kích điện…) Do đó việc phát triển nuôi đối tượng này trong ao đất là một trong những biện pháp bảo vệ nguồn lợi, đồng thời cũng là nguồn cung cấp sản lượng chủ yếu cho nhu cầu của người tiêu dùng và đem lại lợi nhuận kinh tế cho người dân làm nghề nuôi trồng hải sản Với xu thế
đó người dân Nghệ an đã đưa cua biển (Scylla sp) vào nuôi đại trà với mật độ cao hơn và
sảm xuất thành công giống cua biển nhằm đáp ứng nhu cầu con giống phục vụ cho việc nuôi thương phẩm cua biển trong tỉnh
Một vấn đề mà những người dân nuôi cua ở Nghệ an lo lắng đó là tình hình bệnh
đã bắt đầu xuất hiện ở cua, đặc biệt là bệnh ký sinh trùng dẫn đến tình trạng cua chậm lớn, cua óp, thịt không ngon (vào các tháng mùa hè có ao nuôi, số cua kém chất lượng do
ký sinh trùng lên đến 70%-80%), làm sản lượng và giá thành cua bị giảm, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của người dân Đây cũng là một vấn đề liên quan đến tính bền vững của
nghề nuôi cua, trước tình hình đó chúng tôi tiến hành đề tài: “Điều tra hiện trạng nuôi
và nghiên cứu bệnh ký sinh trùng trên cua biển (Scylla sp) nuôi tại Nghệ an”
Nghiên cứu ký sinh trùng gây bệnh cho phép chúng ta biết được tình hình nhiễm
ký sinh trùng trong quần đàn nuôi, ngoài tự nhiên, mức độ thiệt hại, điều kiện phát triển
và gây bệnh của chúng trên cua từ đó định hướng nghiên cứu các biện pháp phòng trị bệnh cho cua có cơ sở khoa học và hiệu quả
Trang 7* Mục tiêu của đề tài
Xác định được i) Hiện trạng nghề nuôi và tình hình bệnh cua biển và ii) thành
phần giống loài KST và mức độ nhiễm bệnh trên cua biển (Scylla sp) nuôi tại Nghệ an,
qua đó góp phần tìm ra các giải pháp phòng trị bệnh KST hiệu quả
* Nội dung nghiên cứu
- Điều tra hiện trạng nghề nuôi và tình hình dịch bệnh cua biển nuôi tại Nghệ an
- Nghiên cứu xác định KST và mức độ nhiễm bệnh KST trên cua biển nuôi tại Nghệ an
Trang 8Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số đặc điểm sinh học của cua (Scylla sp)
1.1.1 Vị trí phân loại
Ở Việt Nam giống cua biển (Scylla sp) phân bố ở khắp các vùng biển trong cả
nước, tuỳ theo từng địa phương mà có các tên gọi khác nhau là cua biển, cua sú, cua xanh, cua bùn, cua lửa Dựa theo khoá phân loại đã được công bố của các tác giả Dr Estompador (1949); Dr Clive P Keenan (1998); Dr Ketut Sugama (1998) và cộng sự,
giống Scylla sp thưòng gặp bốn loài Scylla serrata, Scylla paramamosain, Scylla olivacea, Scylla tranquebarica Theo Mc Lauhlin và ctv (2005) (dẫn qua [9]) hệ thống
phân loại của của cua biển Scylla như sau:
Trang 9Hình 1: Hình thái ngoài của các loài cua biển ở Việt Nam 1.1.2 Một số đặc điểm sinh học chủ yếu của cua
Cua có kích thước lớn tối đa từ 18 - 19 cm, thường trong khoảng 7,5 - 10,5cm Trọng lượng từ 1 - 3 kg/con Bên ngoài cơ thể là lớp vỏ kitin dầy có mầu xanh lục hay vàng sẫm (tùy loài) Cơ thể cua được chia thành hai phần là phần đầu ngực lớn nằm trong giáp đầu ngực (mai cua), phần bụng nhỏ và gập lại dưới giáp đầu ngực (yếm cua) Cua
ưa sống ở vùng nước ấm, biển nông, các cửa sông, eo vịnh, nơi có nhiều mùn bã hữu cơ Phân bố ở vùng biển Ấn Độ Dương - Tây Thái Bình Dương, nửa phía bắc châu Úc
Trang 10Hình 2: Vòng đời phát triển của Cua biển
Vòng đời cua biển trải qua nhiều giai đoạn: giai đoạn ấu trùng từ Zoea đến Mysis chúng sống trôi nổi ở biển, nơi có độ muối từ 25 - 32‰, đến Megalopa vào ven bờ biến thái thành cua con Cua con 2 - 3cm thích nghi và phát triển tốt trong các bãi rong ở các rừng ngập mặn thuộc hạ triều, đến khi 7 - 13cm cua di chuyển ra các vùng quang đãng hơn Giai đoạn phôi phát triển và nở ra ấu trùng cần độ mặn từ 28 - 35‰do đó cua ôm trứng có tập tính di cư ra vùng nước biển sâu
Trang 11Hình 3: Các giai đoạn phát triển của ấu trùng Cua biển (± 30 o C)
Cua có thể sống ở độ mặn từ 2‰ - 50‰, pH 6,5 - 9,5 và nhiệt độ dao động từ 7oC
- 38oC nhưng ngưỡng thích hợp nhất lần lượt tương ứng là 18 - 32‰, 7,5 - 8,2, 25oC –
32oC Khi nhiệt độ nước dưới 7oC và trên 39oC cua bị chết
Cua biển là loài ăn tạp, nghiêng về động vật và thay đổi theo từng giai đoạn phát triển Tuổi thọ trung bình của cua từ 2 - 4 năm Trong cả vòng đời cua lột xác 13 - 24 lần, thời kỳ ấu trùng cua lột 7 lần, thời kỳ từ cua con đến cua trưởng thành cua lột 6 - 17 lần (mỗi lần lột xác trọng lượng cua tăng trung bình 20 - 50%) Ở giai đoạn ấu trùng và cua bột thời gian giữa các lần lột xác thường ngắn, dao động từ 2 - 3 ngày hoặc 3 - 5 ngày
Ở nước ta cua sinh sản quanh năm Miền Bắc cua đẻ nhiều trong các tháng 3, 4, 5,
6 và tháng 8, 9, 10 (sớm muộn tuỳ theo thời tiết) và ở miền Nam, cua thường bắt đầu di
cư từ tháng 7, 8 và sinh sản từ tháng 10 đến tháng 1, 2 năm sau, tháng 7, 8 cũng vẫn gặp
cua ôm trứng Đối với các tỉnh nam Trung bộ cua đẻ chính vụ vào tháng 2, 3 và tháng 7,
8 trong năm Mỗi cua mẹ có thể đẻ 2.000.000 trứng/1 lần đẻ [1], [2], [3], [9]
TRỨNG CÓ ĐiỂM MẮT
Larval stages (at ±30°C)
10 ngày
15 ngày (4 chu kỳ lột xác)
7 ngày (biến thái lần 2)
7 ngày (biến thái lần 1)
Trang 121.2 Tình hình nghiên cứu bệnh cua biển (Scylla sp) trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Trên thế giới
Nghiên cứu về bệnh cua được chú ý khi xảy ra dịch bệnh ở bang Maryland, Virginia và dọc theo bờ biển phía Đông (Sprague và Beckett, 1966; Johnson, 1976; Conch, 1983), tuy nhiên còn biết rất ít về những điều kiện dẫn tới dịch bệnh Nhưng hậu quả lớn về các ổ dịch bệnh ký sinh trùng trên cua xanh ở bang Virginia (Shields J D, 1997) đã được một hội nghị chuyên đề về nguồn lợi thiên nhiên của bờ biển phía Đông bàn đến để tìm cách giải quyết sớm một cách triệt để vấn đề này [36]
1.2.1.1 Bệnh do virut
Johnson (1983) (dẫn qua [36]) đã phát hiện 8 loài virut từ loài cua xanh Những virut gây bệnh điển hình sống ở các huyết cầu hay ở các tế bào biểu mô, cua nhiễm virut
thì lờ đờ, run rẩy, liệt thậm chí mù, nhậy cảm với stress Loại virut Reolike (RLV) gây
bệnh cấp tính cực kỳ ngắn, sự nhiễm bệnh thực nghiệm gây chết chỉ trong 3 ngày ở vùng vịnh Chincoteague, VA; vịnh Chesapeake, MD (Johnson và Bodammes, 1975) (dẫn qua
[36]) Virut Herpeslike gây bệnh ở vịnh Chincoteague Bay, VA; Vịnh Assawoman, DE
Mô bào chủ yếu ở huyết cầu thời gian lưu hành cao 1-2 tháng cho tới khi tử vong
(Johnson, 1976) (dẫn qua [36]) Virut Rhabdolike A, (RhVA) gây dịch ở Đại Tây Dương
vịnh Mexico mô bào chủ yếu tế bào thần kinh, tế bào nội mạc, huyết cầu mô liên kết,
chưa rõ liên quan tới tỷ lệ tử vong (Jahromi, 1977) (dẫn qua [36]) Virut Picornalike
(CBV) là loài virut gây dịch bệnh ở Tangier Sound năm 1983, bệnh phát triển từ 2 tuần
đến 2 tháng [36] Bower và cộng sự (1994) (dẫn qua [20]) tìm thấy các loại virut Facies-like virut (BFV), Reo-like virut (RLV), Picorna-like virut (CBV), Rhabdo-like virut (EHV), Baculo virut dạng A và B trên cua biển Macropipus depurator, Callinectes sapidus, Carcinus maenas các loài virut này cũng đã từng gây bệnh cho cua ở Mỹ, Pháp,
Bi-Canada và nhiều nơi khác Chen, Lo, Chiu, Chang và Kou (2000) [22] đã phát hiện thấy virut đốm trắng (WSSV) trên ấu trùng cua vùng biển sâu duyên hải Đài Loan và cảm
nhiễm thành công trên ấu trùng cua Scylla serrata Sau khi gây cảm nhiễm 15 ngày, tỷ lệ
chết ở lô cảm nhiễm là 43% và lô đối chứng là 20% Bằng phương pháp PCR và lai
insitu các tác giả cho rằng nguyên nhân gây chết trong hầu hết các lô thí nghiệm là
WSSV và WSSV gây bệnh cho cua cũng tương tự WSSV ở tôm [21]
Trang 13trong vòng 72 giờ (Krantz và cs, 1969) (dẫn qua [37]) Người ta đã phân lập được Vibrio parahemolyticus từ mẫu cua bệnh đã gây chết cua khỏe sau 1-3 ngày thí nghiệm gây
nhiễm (Tubiash và Kavantz, 1970) [19] Các nghiên cứu đã xác định được hơn 30 loài vi khuẩn tác nhân gây bệnh hoại tử lớp vỏ kitin ở nhiều loài giáp xác trong đó có cua Ở Đông Bắc Thái Bình Dương (Bright et al, 1960) bệnh bào mòn vỏ kitin đã tìm thấy ở loài
cua Paralithodes camtschatica và P plastypus Các tác giả Colwell và ctv (1975), Johnson (1975), Newmen và Feng (1982) cùng xác định vi khuẩn Vibrio là tác nhân
chính gây bệnh ở cua Johnson (1974), Nilson và cộng tác viên (1975), Fisher (1976) mô
tả một loại bệnh khác có tên là đóng rong ở cua được gây ra do tập hợp quần thể vi khuẩn dạng sợi và không ở dạng sợi Các vi khuẩn này làm chết tôm he, tôm hùm, cua ở giai đoạn trứng và ấu trùng Tác nhân trên được khẳng định thêm khi tác giả Lighner (1977)
kết luận bệnh đóng rong là do vi khuẩn dạng sợi Leucothrixmucor gây nên còn tác nhân
khác chỉ là tác nhân cơ hội (dẫn qua [22]) Theo Bower (1999) (dẫn qua [17]) một số
giống loài vi khuẩn có khả năng tiết ra các men phân huỷ như chitinase, protease, lipase
có thể thuộc giống Vibrio spp, Pseudomonas spp, Aeromonas spp, chúng gây bệnh ăn
mòn vỏ kitin ở giáp xác Tại vùng cảng Glastone và Curtis thuộc bang Queensland của
Úc, Williams và cộng sự (2000) (dẫn qua [29]) một loại bệnh đã để lại các vết dỉ sắt trên
vỏ mai cua Scylla serrata gây thiệt hại 7 triệu đô la Úc mỗi năm cho người nuôi cua Một
biểu hiện bệnh vỏ nữa là vỏ ngoài của cua mang tổn thương mầu đen, Claire Vogan và ctv (2001) (dẫn qua [35]) cho rằng đây là biểu hiện bên ngoài của một loại bệnh vi
khuẩn thuộc nhóm Vibrio tấn công vào mang, tim …Bệnh này thường làm tổn thương
biểu bì của mang, gan gây biến dạng các cơ quan, làm tắc mạch máu và tạo ra các điểm chứa vật chất mầu đen bên trong các cơ quan này Ông cũng tìm thấy mối tương quan tỷ
lệ thuận giữa mức độ nhiễm vi khuẩn trong máu và các điểm đen ngoài vỏ
Trang 141.2.1.3 Bệnh do nấm
Người ta cũng tìm thấy tác nhân gây bệnh ở cua là nấm trong mọi thời điểm sinh trưởng của cua đặc biệt là giai đoạn trứng và ấu trùng điều này được nhiều tác giả nghiên cứu và cho các kết luận như: Couch (1942) và Rogers-Talbert (1948) (dẫn qua [36]) các
tác giả đã tìm thấy loại nấm Lagenidium callnectes ở vùng dịch Đại Tây Dương Loại
nấm này nhiễm vào trứng, ấu trùng cua, nó làm cho một số lượng lớn trứng trong ổ trứng
bị nhiễm bệnh, trong một số trường hợp hầu hết trứng bị phá hoại bởi nấm này Chúng lưu hành cao 25–50% trong bọt biển do vậy sự lây lan rộng, nấm này chịu đựng nơi có
độ mặn thấp ở mức trung bình Bland và Amerson (1973, 1974) thông báo loài nấm
Lagenidium callinectes có thể gây chết nghiêm trọng ở trứng và ấu trùng cua, phát triển ở
độ mặn 5–30‰ (dẫn qua [36], [37]) Zafran và ctv (1993) (dẫn qua [37]) đã phân lập
được Lagenidium và làm thí nghiệm cảm nhiễm trên ấu trùng larva, kết quả sau 24 giờ
nấm phát triển trên larva, sau 1 giờ có 20-40 bào tử phóng thích ra Ở nồng độ formalin
10ppm sau 24 giờ làm chết Lagenidium mà không ảnh hưởng tới ấu trùng cua Des Zora
và K.Ha Tai (1999) (dẫn qua [13]) khi nghiên cứu ấu trùng cua chết hàng loạt ở Nhật Bản
(Eriocheir Japoniais) đã phát hiện ra tác nhân gây bệnh là loài nấm Atkinsiella dubia Ở Indonesia khi kiểm tra ấu trùng cua Scylla serrata tác giả Kishio Ha Tai (2000) (dẫn qua [13]) đã phân lập được một số loài nấm bậc thấp là Lagenidium callinectes, Haliphthoros mifodenssis và Halocrusticida baliensis Tác giả cũng cho biết nấm còn phá huỷ các tổ
chức cơ bên trong của cua làm ảnh hưởng đến quá trình lột xác, gây hoại tử mắt và dẫn đến tử vong hàng loạt
1.2.1.4 Bệnh do ký sinh trùng
Động vật nguyên sinh (protozoa) có khả năng gây bệnh và làm tỷ lệ chết ở cua khá cao Sparague và cs (1969) (dẫn qua [36]) đã tìm thấy loài Paramoeba perniciosa
trong vùng dịch các bang Mid Atlantic, loài này xâm nhập vào mô bào và hệ bạch huyết
của cua Paramoeba xâm nhập dần vào mô liên kết dọc theo đoạn ruột giữa, tuyến
antennal, cơ quan Y và khoảng cách giữa các mạch máu ở yếm Cua bị bệnh này mặt bụng trở lên xám, bệnh phát triển mạnh gây nhiễm toàn thân, huyết cầu bị thay đổi, cua
trở lên lờ đờ và cuối cùng chết, bệnh phát triển mạnh vào cuối xuân Loài Ameson
michaelis được tìm thấy ở Tây Đại Dương, vịnh Mexico gây thuỷ phân cơ bắp, thịt cua bị
Trang 15nhiễm bệnh giống sợi bông có mùi thối và có dấu hiệu bệnh lý tương như bệnh cua bông [37] Cũng liên quan tới bệnh cua bông tác giả Bower (1996) [17] đã tìm thấy các loại ký
sinh Agnasoma spp, Amesoma spp, Plestophora spp, Nadelspora spp và kết luận bệnh
gây tử vong thấp nhưng làm giảm giá trị thương phẩm do làm ảnh hưởng tới chất lượng
thịt cua Loài Hematodinium peregi (dạng trùng roi), đã được Newman và Johnson phát
hiện trong vùng dịch Đại Tây Dương, vịnh Mexico, chúng sống trong hệ bạch huyết của
cua, có thể gây ra một ổ dịch lớn [36] Khi có bệnh dịch do Hematodinium peregi gây ra,
cua nuôi trong lồng có thể chết 50% và trong ao đất là 75% Trong một ổ dịch tỷ lệ nhiễm ở cua non là 100%, ở cua trưởng thành là 75%, và bệnh dịch xảy ra cao nhất vào mùa thu (Messick, 1994) (dẫn qua [33]) Gretchen và Jefferey (2000) (dẫn qua [16])
nghiên cứu trên cua xanh Callinectes sapidus ở vùng biển Đại Tây Dương của nước Mỹ thấy rằng Hematodinium spp xuất hiện ở tất cả các giai đoạn trong vòng đời của cả cua
đực và cua cái, chúng xâm nhập vào máu, thịt của cua Cua bị bệnh nặng thì vỏ đầu ngực, bụng có mầu trắng phấn, tế bào Lympho vón cục, tế bào hồng cầu bị rỗng hoặc chứa đầy
tế bào Hematodinium spp.
Theo Couch (1983) [23] cua bị bệnh do vi bào tử trùng nhỏ (Microsporidia) gây ra
rất nguy hiểm và thường chết với tỷ lệ cao Các cơ quan (cơ vân, gan tuỵ, tuyến sinh dục…) nhiễm ký sinh trùng này thường có mầu trắng đục
Bower và ctv (1994) [20] đã xác định nguyên nhân gây ra bệnh cua xám là loài
Paramoeba pemiciosa (trùng amib), trùng này ký sinh vào các tổ chức cơ ruột giữa,
tuyến râu, cơ quan y, vi huyết quản mang Cua bị bệnh hoạt động chậm chạp và cho đến nay chưa có biện pháp chữa trị hữu hiệu bệnh này
Brower (1996) [18] đã tìm thấy loài trùng Mesanophrys sp, M magi ký sinh ở cua Cancer maenas; loài trùng Mesanophys carcini ký sinh ở cua Cancer productus, loài Mesanophys chesapeakensis ký sinh ở cua Callinectes sapidus Các ký sinh trùng này
sống nội ký sinh gây bệnh rất nguy hiểm ở cua
Sán, các loài giun tròn như Nectonema spp cũng ký sinh ở cua, làm cho cua bị rối
loạn chức năng sinh lý, thoái hoá tuyến sinh dục (Bower, 1996) [18] Đối với loài giun
Nemertean spp khi phát triển chúng có thể tiêu hoá một số lượng trứng lớn của cua và có
Trang 16thể gây chết hàng loạt cua con sắp nở (Shields và cs, 1991; Kuris và cs, 1991) (dẫn qua [36], [37]).
1.2.2 Ở Việt Nam
Ở nước ta, những nghiên cứu về cua mới chỉ bắt đầu khoảng 2 thập kỷ gần đây Đầu tiên là công bố kết quả nghiên cứu về phân loại nhóm giáp xác 10 chân của Nguyễn Văn Chung (1987) Đầu những năm 1990 có các công trình nghiên cứu về các đặc điểm sinh học, sinh sản và sản xuất giống cua biển của Hoàng Đức Đạt, Đoàn Văn Đẩu, Nguyễn Cơ Thạch… đã đạt được những kết quả nhất định Đến năm 2000, công trình
nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh sản và sản xuất giống cua bùn Scylla serrata được
công bố do Nguyễn Cơ Thạch Viện nghiên cứu thuỷ sản III [4]
Những nghiên cứu về bệnh trên cua ở Việt Nam còn rất ít, chỉ là những nghiên cứu nhỏ lẻ, chưa có công trình nghiên cứu sâu về bệnh ở cua
- Từ năm 1990 đến nay Hoàng Đức Đạt đã nghiên cứu về kỹ thuật nuôi cua biển
và ông đã nghiên cứu một số bệnh thường gặp ở cua và đề ra một số biện pháp phòng trị [4] Các bệnh ở giai đoạn ấu trùng bao gồm :
+ Bệnh phát sáng do vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus trên các giai đoạn Zoae,
biện pháp phòng trị bệnh là dùng chloramphenicol 1-3ppm hoặc kết hợp Oxyteracylin với Bactrim cho vào bể ương sau 10 –12 giờ, thay nước và xử lý liên tục 2-3 ngày
+ Bệnh ở giai đoạn con non và trưởng thành tác giả mô tả một số bệnh như: Bệnh rệp bám vào phần thịt ở khoang mang, bệnh có nhiều đốm trắng, đốm đen trắng, đốm nâu trên vỏ cua do vi khuẩn gây ra
+ Bệnh do trùng Loa kèn (Zoothamnium sp, Epistylis sp…) tác giả đưa ra biện
pháp trị bệnh là dùng xanh malachite nồng độ 0,05 - 0,2ppm trong bể ương liên tục 2-3 ngày hoặc Sunfat đồng nồng độ 0,5- 0,6ppm, Formalin 10-15ppm trong bể ương từ 12-24 giờ
- Năm 1993-1994, Bùi Quang Tề và CTV [2] đã điều tra cua nuôi tại Hải Phòng
và Quảng Ninh sơ bộ thông báo cua nuôi thường nhiễm bệnh run chân, bệnh cua sữa, bệnh đốm vỏ, bệnh thường phát huy vào mùa hè nắng nóng kéo dài sau đó mưa rào.Bùi Quang Tề và CTV (2004-2006) [3] Điều tra tình hình dịch bệnh trên cua ghẹ ở Nam Định và Hải Phòng xác định được một số bệnh thường gặp: Bệnh vỏ (hoa mu, khó
Trang 17lột vỏ); Bệnh cua sữa (cua sữa, bóng nước); Bệnh do giáp xác chân tơ (rung chân, bóng bánh đa, bóng giấy, đỏ yếm, cua còi); Bệnh đen mang; Bệnh sinh vật bám (đóng rong, sen biển, hà).
Bệnh vỏ (hoa mu): bước đầu xác định tác nhân gây bệnh chính là nhóm vi khuẩn
Vibrio spp, Pseudomonas sp Tần suất gặp thấp, chiếm tỷ lệ 22,62% ở cua và ở ghẹ là
15,46%
Bệnh cua sữa: Tác nhân gây bệnh chủ yếu do nhóm ký sinh đơn bào Hematodinium,
vi bào tử và Rickettsia Tần suất gặp trên cua là 19,28% và ở ghẹ là 18,04%
Bệnh do giáp xác chân tơ (Sacculina sp), gồm: bệnh bóng bánh đa, bệnh đỏ yếm,
bệnh rung chân gặp ở cua và bệnh còi gặp ở cua ghẹ, có tỷ lệ nhiễm giáp xác chân tơ
(Sacculina sp) từ 94,74- 100% Tần suất gặp trên cua khá cao, chiếm tỷ lệ 35,99% và
ở ghẹ thấp hơn là 12,89%
Bệnh đen mang ở cua ghẹ thường gặp nhóm sen biển (Octolasmis sp), tỷ lệ nhiễm 91,5-95,74%; tỷ lệ nhiễm Vibrio spp từ 44,68-50,09% ngoài ra ở cua phân lập thấy nấm Fusarium Tần suất gặp trên cua thấp, chiếm tỷ lệ 18,25% và ở ghẹ cao hơn là
Môi trường nuôi cua thương phẩm và cua giống ở các địa điểm thu mẫu ít biến động,
pH, DO, độ mặn, độ kiềm, COD, H2S, NH3 đều ở mức cho phép trong nuôi trồng thủy sản
Kết quả thí nghiệm diệt giáp xác chân tơ (sen biển- Octolasmis)
- Kết quả thí nghiệm cho thấy cả BKA và Iốt không cho kết quả trong việc phòng trị
sen biển (Octolasmis) nhiễm trên ghẹ xanh trong điều kiện phòng thí nghiệm.
- Sen biển- Octolasmis nhiễm trên ghẹ xanh có thể phòng trị bằng phương pháp tắm
nước ngọt trong 70 phút cho kết quả tốt so với lô thí nghiệm đối chứng với độ tin cậy P<0,01
Trang 18- Việc tắm ghẹ xanh bằng nước ngọt cũng có tác dụng làm giảm cường độ nhiễm của
sen biển- Octolasmis trong mang ghẹ xanh Tuy nhiên kết quả thí nghiệm chỉ giới hạn
trong quy mô phòng thí nghiệm
Kết quả các ao thí nghiệm áp dụng quy trình phòng trị bệnh tổng hợp bằng sử dụng các chế phẩm: Navet- Biozym, Vitacalcium và BKA của cua sinh trưởng tốt, năng suất
và tỷ lệ sống cao hơn ao đối chứng không sử dụng các chế phẩm
Năm 2004 Phan Hồng Dũng và CTV đã công bố một số tác nhân gây bệnh và
cách chữa trị trên cua biển Scylla serrta ở Hải Phòng với đề tài nghiên cứu xây dựng mô
hình nuôi cua biển bằng ô lồng trong đầm nước lợ Với các bệnh thông thường đã gặp ở cua: Bệnh đen mang, phồng mang, đốm trắng -Vàng trên vỏ, bệnh chậm lớn, bệnh cụt râu, bệnh khó lột xác trong thời gian dài, bệnh mềm mai, bệnh bị rêu - tảo bám vỏ mai, bệnh đóng hà, bệnh rệp cua [8]
Nguyễn Cơ Thạch (2005) đã phân lập các loài vi khuẩn trong mẫu cua bị bệnh
đốm vỏ: Vibrio harveyi, V carcharuiae, V vulnificus, V anguillarum, Psseudomonas spp, Aeromonas spp, Proteus sp với tỷ lệ bắt gặp là 5,5- 42,6% Trên mẫu cua bị bệnh đen mang đã phát hiện vi khuẩn: Vibro alginolyticus, V vulnificus, V anguillarum, Vibro
sp, V, Psseudomonas putida, Aeromonas sp, Proteus sp; các loài nấm ký sinh: Fusarium semitectum, Lagenidium spp và đặc biệt đã phát hiện một số ký sinh trùng đơn bào: Epistyliss sp, Zoothamnium sp, Vorticella sp Tỷ lệ cảm nhiễm của cua với Bào tử nhỏ
với tỷ lệ nhiễm bệnh từ 10,4% - 43,8% Ngoài ra cua còn mắc một số bệnh khác như: bệnh mất phần phụ, bệnh mềm vỏ, …Tác giả cũng chưa đề cập đến các giải pháp phòng
và trị bệnh cho cua [5]
Nhìn chung ở Việt Nam các công trình nghiên cứu về các thành phần loài ký sinh trùng đơn bào trên cua biển chưa nhiều Để phát triển nghề nuôi cua ở Việt Nam, không chỉ quan tâm tới quy trình kỹ thuật sản xuất giống, kỹ thuật nuôi cua thương phẩm, mà dịch bệnh và giải pháp phòng trị cũng là nội dung quan trọng cần quan tâm
Trang 19Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là cua biển (Scylla sp) nuôi tại Nghệ An
Nghiên cứu về kí sinh trùng trên cua được thực hiện ở cả giai đoạn sản xuất giống (ấu trùng Zoae 5, giai đoạn Megalops, cua bột) và nuôi thương phẩm
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.3 Phương pháp nghiên điều tra hiện trạng nghề nuôi cua và tình hình dịch bệnh
2.3.1 Thu số liệu sơ cấp: phỏng vấn 90 hộ nuôi cua ở 15 xã thuộc 3 huyện Phương
pháp chọn mẫu là ngẫu nhiên
2.3.2 Thu số liệu thứ cấp: Báo cáo, tài liệu, internet
2.4 Phương pháp nghiên cứu bệnh kí sinh trùng trên cua
2.4.1.Vật liệu nghiên cứu
2.4.1.1.Dụng cụ và hoá chất
+ Kính hiển vi, bộ đồ giải phẩu, khay men (20 × 30 cm), đĩa lồng, đèn cồn, lọ đựng mẫu,
bộ đồ thuỷ hoá (nhiệt kế, pH, Độ mặn), cốc đong, ống đong, pipet, bể nhựa
+ Nước muối sinh lý, Cồn Mêthanol, Dung dịch Davidsion, thuốc nhuộm Giemsa, dung dịch phosphate buffer pH = 6,8, cồn 70%, 80%, 95%, 100%, xylen
2.4.1.2 Số lượng mẫu thu
- Thu mẫu cua con ngẫu nhiên từ các trại sản xuất cua giống, thu theo giai đoạn:
+ Giai đoạn ấu trùng Zoea 5: 30 con /1 địa điểm × 3 địa điểm × 3 đợt = 270 con
+ Giai đoạn Megalops: 30 con /1 địa điểm × 3 địa điểm × 3 đợt = 270 con
Trang 20+ Giai đoạn cua bột : 30 con/1 địa điểm x 3 địa điểm x 3 đợt = 270 con.
Tổng số cua con (Zoea 5, Megalops, cua bột) là 810 con
- Thu mẫu cua nuôi thương phẩm của một số vùng nuôi khác nhau, thu 3 lần, 1 đến 2 tháng thu 1 lần Tổng số mẫu cua thương phẩm là 810 con
Tổng số mẫu cua thu (cua con + cua nuôi thương phẩm) là 1620 con
- Mẫu cua thu tại các địa điểm khác nhau được để riêng
- Phương pháp bảo quản mẫu sau khi thu: Những mẫu cua không kiểm tra sống ngay được bảo quản trong cồn 70o, dung dịch Davidsion hoặc trong tủ lạnh
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu ký sinh trùng
Áp dụng theo phương pháp nghiên cứu ký sinh trùng (KST) đồng bộ của Viện sỹ V.A
Dogiel, được Hà Ký và Bùi Quang Tề (2007) hoàn thiện, bổ sung
Sơ đồ thực hiện gồm các bước sau:
Một số chú ý trước khi tiến hành các bước nghiên cứu
+ Cua nghiên cứu là cua sống, nếu cua chết thì phải còn tươi
+ Khi đưa mẫu cua về cần nghiên cứu ngay tránh KST rời khỏi ký chủ
+ Xác định giai đoạn phát triển của cua
+ Cân, đo để xác định kích cỡ (khối lượng, chiều dài, chiều rộng của mai cua) trước khi kiểm tra ký sinh trùng
Thu mẫu cua
Soi tươi KST ngoại ký
sinh Phết mẫu cố định KST nội ký sinh
Nhuộm Giemsa mẫu
KST
Quan sát tiêu bản dưới kính hiển viĐịnh loại ký sinh trùng
Trang 212.4.2.1 Phương pháp kiểm tra ký sinh trùng ngoại ký sinh
- Với cua giai đoạn ấu trùng, giai đoạn Megalope, để cua vừa chết còn tươi, soi cả con trên kinh hiển vi có độ phóng đại 40 lần (10 x 4)
+ Kiểm tra dấu hiệu bệnh lý bên ngoài mặt lưng của cua (chân bò 1, chân bò 2, chân bò
3, chân bò 4, chân bơi, anten, mắt, mai lưng)
+ Kiểm tra dấu hiệu bệnh lý bên ngoài mặt bụng của cua
+ Lấy vỏ, các phần phụ…các mẫu này được quan sát bằng kính hiển vi và mắt thường
2.4.2.2 Phương pháp kiểm tra ký sinh trùng nội ký sinh
+ Giải phẫu cua: Lấy các cơ quan nội tạng của cua (tim, mang, gan tuỵ, ruột), các mẫu này được quan sát bằng mắt thường, soi dưới kính hiển vi độ phóng đại 100 lần (10x10).+ Phết mẫu cua (mang, gan tuỵ, tim, máu, cơ chân bò, chân càng và cơ thịt) để khô trong không khí, cố định trong cồn methanol 10%
+ Nhuộm Giemsa (dung dịch Giemsa mẹ 1 phần cộng 10 phần buffer phos phatte pH = 6) thời gian 45 phút
2.4.2.3 Phân loại ký sinh trùng
+ Các tiêu bản soi tươi và nhuộm màu, chụp ảnh, đo đếm các chỉ tiêu hình thái của
ký sinh trùng và căn cứ các tài liệu tham khảo liên quan phân loại để xác định giống ký sinh trùng ký sinh trên cua.Vận chuyển mẫu bằng vật liệu chuyên dùng, mẫu tại các địa điểm khác nhau được để riêng
+ Phương pháp bảo quản mẫu sau khi thu: những mẫu cua không kiểm tra sống ngay được ta bảo quản trong cồn, dung dịch Davidsion hoặc trong tủ lạnh
* Một số chú ý trước khi tiến hành các bước nghiên cứu
- Mẫu cua thu về nghiên cứu là cua sống, nếu cua chết thì phải tươi
- Mẫu đưa về cần nghiên cứu ngay tránh KST rời khỏi ký chủ
- Xác định rõ cua thuộc loài nào, cân đo để xác định kích cỡ cua trước khi kiểm tra
ký sinh trùng
- Khi thu mẫu phải điền đầy đủ các thông tin theo phiếu thu mẫu điều tra (phụ lục)
* Các hình thức kiểm tra ký sinh trùng
Trang 22• Kiểm tra ngoại ký sinh trùng
- Quan sát bằng mắt thường những dấu hiệu thay đổi bên ngoài của cua
- Đo kích thước chiều dài và chiều rộng của mai cua, cân trọng lượng
- Thu mẫu bên ngoài: vỏ, các phần phụ các mẫu này được quan sát bằng mắt thường
• Kiểm tra nội ký sinh trùng
- Giải phẫu cua: bóc mai cua sẽ lộ ra các cơ quan của cua như mang, xoang… các mẫu này được quan sát bằng mắt thường, dưới kính hiển vi, kính soi nổi
- Mẫu được cố định làm tiêu bản, kiểm tra dưới kính hiển vi, kính soi nổi, chụp ảnh
và phân loại
2.4.3.3 Dung dịch cố định và thuốc nhuộm
- Dung dịch cố định Davidson
- Cồn 95% 330ml – Fomalin (37% fomaldehyde) 220ml
- Nước cất 335ml, Giemsa – Ramonov
Trộn 3,8 gam bột Giemsa với 250ml cồn metilic hoặc cồn etilic Để yên từ 3-5 tuần Sau
đó cho thêm 250 ml glycerin và để yên từ 3-5 tuần, khi dùng pha 7ml dung dịch mẹ với
100 ml dung dịch phosphate buffer 1% ( pH = 6)
- Dung dịch phosphate bufer 1% (pH = 6)
Trang 23- Cường độ nhiễm cao nhất (Max.) là số lượng trùng nhiều nhất ký sinh trên một
cá thể hoặc một cơ quan của cua
- Cường độ nhiễm thấp nhất (Min.) là số lượng trùng Cirripedia nhiễm ít nhất trên
cá thể hoặc cơ quan của cua
- Cường độ nhiễm trung bình (CĐNTB), cách tính
Tổng số trùng Cirripedia nhiễm trên các cá thể cua
CĐNTB =
Số cá thể cua nhiễm Cirripedia
2.5.2 Đối với KST đơn bào
- Tính tỷ lệ nhiễm (TLN): Là tỷ lệ số cua nhiễm ký sinh trùng chia cho số cua kiểm tra
Số cua (hoặc tổ chức) bị nhiễm ký sinh trùng
Tỷ lệ nhiễm( % ) = x 100
Tổng số cua kiểm tra
- Tính cường độ cảm nhiễm (CĐCN).
Ký sinh trùng đơn bào có kích thước nhỏ, tính cường độ nhiễm bằng số lượng
ký sinh trùng đếm trên thị trường kính hiển vi (với ngoại ký sinh trùng: x 40; với nội
ký sinh trùng x 100) Mỗi lamen đếm kiểm tra 15-20 thị trường
Tổng số trùng của 15 thị trường kiểm tra
- Cường độ nhiễm trung bình ngoại ký sinh =
15 + Ít : dưới 5 trùng/thị trường x 40 của tiêu bản kiểm tra
+ Trung bình: 5-10 trùng/thị trường x 40 của tiêu bản kiểm tra
+ Nhiều: trên 10 trùng/thị trường x 40 của tiêu bản kiểm tra
Tổng số trùng của 15 thị trường kiểm tra
- Cường độ nhiễm trung bình nội ký sinh =
15 + Ít : dưới 5 trùng/thị trường x 100 của tiêu bản kiểm tra
+ Trung bình: 5-10 trùng/thị trường x 100 của tiêu bản kiểm tra
+ Nhiều: trên 10 trùng/thị trường x 100 của tiêu bản kiểm tra
Trang 24- Đo kích thước:
Đối với ký sinh trùng đơn bào dùng thước đo (Ocularis) micromet Đo các chỉ tiêu phân loại của từng loài ký sinh trùng yêu cầu Số lần đo ít nhất là 10-15 trùng, số trùng gặp ít cần đo toàn bộ số trùng bắt gặp
2.6 Phương pháp xử lý số liệu
Toàn bộ số liệu được ghi và xử lý trên phần mềm Excel 2003
Trang 25Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Hiện trạng nghề nuôi cua biển tại Nghệ an.
- Về diện tích nuôi: Theo số liệu thống kê của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Nghệ An năm 2010 cho thấy, nghề nuôi cua biển ở Nghệ An chưa thật sự được chú trọng Điều này được thể hiện qua diện tích nuôi cua ở các huyện (bảng 3.1)
Bảng 3.1 Diện tích nuôi cua tại Nghệ An
Nguyên nhân chủ yếu là do người nuôi còn nặng suy nghĩ về các đối tượng nuôi truyền thống, công nghệ nuôi chưa hoàn thiện: Các đối tượng nuôi nước ngọt vẫn chủ yếu là các loài cá truyền thống, chỉ có giá trị tiêu thụ nội địa giải quyết nhu cầu thực phẩm hàng ngày, các loài nuôi khác thì thị trường không ổn định, thị hiếu tiêu dùng thay đổi theo thời gian nên người dân không mạnh dạn đầu tư nuôi thâm canh theo chiều sâu Tôm sú và tôm he chân trắng có khả năng thâm canh cho năng suất cao, thị trường ổn định, vòng quay vốn ngắn nên có sức hút đầu tư từ người dân nhưng con giống lại chưa đáp ứng đủ nhu cầu cả về số lượng lẫn chất lượng, đặc biệt vào thời gian chính vụ, hiện tượng thiếu giống cục bộ vẫn thường xuyên xảy ra Các đối tượng nuôi biển có thời gian nuôi dài, hệ số thức ăn cao, công nghệ nuôi lồng chưa phù hợp với điều kiện thời tiết khí hậu ở Nghệ An nên số lồng ngày càng giảm
Ngoài ra, còn một số nguyên nhân khác như: Công tác chuyển đổi diện tích sản xuất nông nghiệp, muối năng suất thấp sang nuôi trồng thuỷ sản đạt kết quả thấp, đó là:
Do chính quyền địa phương các cấp chưa nhận thức đầy đủ về công tác chuyển đổi; quá trình tổ chức thực hiện thiếu kiên quyết; Tư tưởng ỷ lại, trông chờ ở người dân còn lớn,
Trang 26dân chưa dám mạnh dạn đầu tư Mặt khác, cơ sở hạ tầng chậm được đầu tư và thiếu đồng
bộ, đây cũng là nguyên nhân dẫn đến năng suất thấp, thiếu bền vững và tỷ trọng sản phẩm nuôi trồng đưa vào chế biến xuất khẩu đạt thấp Hệ thống thu mua chế biến xuất khẩu trên địa bàn tỉnh hoạt động kém, công nghệ chậm đổi mới, sản phẩm đơn điệu Công tác tiếp thị, dự báo thị trường xuất khẩu thuỷ sản của các cơ quan thương mại còn yếu Làm cho người dân chưa mạnh dạn đầu tư chiều sâu, nhất là đầu tư cơ sở hạ tầng và thức ăn, dẫn đến năng suất thấp, chất lượng sản phẩm không cao, không đủ tiêu chuẩn xuất khẩu
Khi điều tra các hộ nuôi cua tại Nghệ An chúng tôi thấy loại hình nuôi chủ yếu là nuôi trong ao đất 2000 – 5000m2 , hình thức nuôi là bán thâm canh và loài nuôi chủ yếu
trũng đất ruộng
Ruộng chuyển đổi
Hình thức nuôi
Trang 273.2 Kết quả điều tra bệnh cua từ các đầm nuôi
Chúng tôi đã tiến hành điều tra 90 hộ nuôi cua thuộc ba huyện: Quỳnh Lưu, Diễn Châu và Nghi Lộc và kết quả điều tra cho thấy, các loại bệnh sau thường xuất hiện trên cua nuôi Triệu chứng bệnh và tỷ lệ chết của cua cũng như thời gian xuất hiện bệnh được chi tiết ở bảng 3.3
Bảng 3.3 Các bệnh cua trong ao nuôi tại Nghệ an
Thời gian xuất hiện bệnh
1
Bệnh
bóng
bánh đa
Cua sau khi lột vỏ, nuôi không chắc thịt Tất
cả cua bị nhiễm bệnh này đều bị chết Cua bị bệnh thường chết theo từng đợt Tỷ lệ cua bị bệnh trong ao thường dao động từ 20–90%
Mùa vụ bị bệnh chủ yếu xảy ra vào các tháng
4, 7, 8
55/90
Tháng 3 - 10 (từ năm
2006 đến
2008 bệnh phát triển mạnh
cua sữa
Thịt cua có mầu trắng sữa hoặc phớt hồng, có thể nhìn thấy rất rõ khi cua đang sống Cua bệnh thường chết rải rác đến hàng loạt Tỷ lệ nhiễm bệnh trong ao dao động từ 2–50%
Mùa bệnh thường xuất hiện vào tháng 4 và tháng 5
86/90
Quanh năm (từ năm
2006 đến
2008 bệnh phát triển mạnh)
3 Bệnh đỏ
thân
Cua bị bệnh có dấu hiệu là toàn thân đỏ giống cua luộc Cá thể bị bệnh thường chết rất nhanh và tỷ lệ cua bị bệnh dao động từ 30–35%
năm, tỷ lệ bệnh thấp dao động từ 2 đến 4 %
47/90 Quanh năm