1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan hệ việt nhật những năm 30 thế kỷ XVIII đến hết chiến tranh thế giới thứ nhất

42 614 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan hệ Việt- Nhật những năm 30 thế kỷ XVIII đến hết chiến tranh thế giới thứ nhất
Tác giả Nguyễn Văn Hồng, Shiraishi Masaya, Vĩnh Sính
Trường học Đại học Alberta
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2001
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 143,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2.1- Thí dụ nh tác giả SHIRAISHI MASAYA “Phong trào dân tộc Việt Nam và quan hệ của nó với Nhật Bản và Châu á t tởng của Phan Bội Châu về cách mạng và thế giới” gồm 2 tập của NXB chính t

Trang 1

A Dẫn luận.

1- Lý do chọn đề tài.

Quan hệ Việt – Nhật đ có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đờiã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

xuất phát từ vị trí địa lý và nhu cầu riêng của mỗi nớc Cả hai nớc đều ởven bờ Tây Thái Bình Dơng, rất thuận tiện cho việc giao lu, buôn bánbằng đờng biển Hai nớc đều có những nhu cầu đối với nhau ngay từ thời

xa xa cho đến ngày nay

Nhật Bản và Việt Nam cùng ảnh hởng của nền văn hoá Trung Hoa.Trớc thời cận đại, cả hai nớc đều tiếp thu với mức độ khác nhau nhiềuyếu tố của văn hoá Trung Hoa nh chữ Hán nho giáo, phật giáo Vì vậy,văn hoá Việt Nam – Nhật Bản có những nét tơng đồng, tâm hồn ngờiViệt Nam, ngời Nhật Bản có bao kênh đồng điệu

Quan hệ Việt - Nhật phát triển hay dừng lại tuỳ thuộc vào tìnhhình chính trị, kinh tế của mỗi nớc trong từng thời kỳ Từ lâu, Việt Nam vàNhật Bản đ có mối quan hệ với nhau về nhiều mặt Dù có bã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời ớc thăng trầm,song quan hệ ấy ngày càng phát triển nhất là từ những năm gần đây.Ngày nay khi đất nớc ta đang trên con đờng phát triển ngày một đi

lên, nên tìm hiểu “Quan hệ Việt- Nhật từ những năm 30 thế kỷ XVIII

đến hết chiến tranh thế giới thứ nhất" vẫn còn có những giá trị nhất

định

Là một sinh viên lịch sử, tôi tự thấy mình cần phải có trách nhiệm

và nghĩa vụ tìm hiểu về vấn đề này, góp một phần nhỏ bé vào việc sutầm và đánh giá đang đợc tiến hành trong những năm gần đây

Với những lí do trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Quan hệ Việt- Nhật những năm 30 thế kỷ XVIII đến hết chiến tranh thế giới thứ nhất”.

2.1- Thí dụ nh tác giả SHIRAISHI MASAYA “Phong trào dân tộc

Việt Nam và quan hệ của nó với Nhật Bản và Châu á t tởng của Phan Bội Châu về cách mạng và thế giới” gồm 2 tập của NXB chính trị quốc

gia Hà Nội – 2000 đ trình bày những nội dung cơ bản sau:ã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

+ Bối cảnh thời đại trớc khi sang Nhật

+ Nhà nớc, dân tộc, nhân dân

Trang 2

+ Hiện trạng Việt Nam và thế giới bên ngoài Việt Nam trong mốiquan hệ với Nhật Bản, Trung Quốc, Châu á và Pháp.

+ Phan Bội Châu và phong trào dân tộc Việt Nam từ sau phong trào

Đông Du

Trong công trình này tác giả ShiraiShi masaya chỉ quan tâm đến

ảnh hởng của phong trào dân tộc Việt Nam và quan hệ của nó với NhậtBản, cha tập trung nói tới quan hệ về nhiều mặt khác nh : Kinh tế, vănhoá…

2.2- Vĩnh Sính Giáo s Đại học Alberta, Canađa trong “Việt Nam và

Nhật Bản giao lu văn hoá” của nhà xuất bản văn nghệ TP Hồ Chí Minh

năm 2001 Tập sách đ tổng hợp phần lớn những tiểu luận và sách viếtã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

xung quanh chủ đề Nhật Bản và Việt Nam giao lu văn hoá mà ngời viết

đ công bố rải rác trong khoảng mã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời ời năm lại đây Song tác phẩm cũngmới chỉ dừng lại ở khía cạnh : Những nét đại cơng cùng các đặc trng củalịch sử và văn hoá của Nhật Bản, những nét tơng đồng và dị biệt giữahai nền văn hoá Nhật Bản và Việt Nam

2.3- Tác giả Nguyễn Văn Hồng trong “Mấy vấn đề về lịch sử Châu á

và lịch sử Việt Nam một cách nhìn” của NXB văn hoá dân tộc năm 2001, trong đó có bài “Giao lu văn hoá Việt – Nhật” một cách tiếp cận nghiên

cứu ở bài viết này, G.S Nguyễn Văn Hồng đ khai thác ở lĩnh vực giao lã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

-u văn hoá Việt- Nhật có những nét tơng đồng

Mặc dù vậy, bài viết này tác giả phần lớn nhấn mạnh đến nét tơng

đồng, gần gủi về mặt văn hoá không đề cập đến các lĩnh vực khác nhkinh tế, t tởng…

2.4- Ngoài ra, đ có một số tài liệu khác ít nhiều quan tâm đến vấnã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

Trang 3

giới sỹ phu, văn thân yêu nớc Việt Nam tin tởng và đi theo Những nhàyêu nớc ấy đ viết nhiều về Nhật Bản Những sự kiện chính về quan hệã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

Việt- Nhật trên các lĩnh vực không đợc nghiên cứu đầy đủ

Một số tài liệu khác nh Tạp Chí Nghiên cứu Lịch sử của Trung tâmkhoa học X hội và Nhân văn quốc gia, Tạp Chí nghiên cứu quốc tế củaã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

học viện quan hệ quốc tế, báo cáo hội thảo khoa học Việt Nam trong thế

kỷ XX tiểu ban V… đều đề cập đến vấn đề này, nhng chỉ dừng lại ở mức

độ đa ra những sự kiện, số liệu, ít nhận xét, đánh giá cụ thể vấn đề này.Tóm lại, trên cơ sở kế thừa những công trình đ nghiên cứu trã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời ớc

đây, cùng với nguồn tài liệu đ thu thập đã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời ợc, chúng tôi cố gắng bổ sungthêm những phần còn thiếu và cha đợc nghiên cứu để hoàn chỉnh cơ bảnquan hệ Việt- Nhật trong thời kỳ cận đại

3- Đối tợng và phạm vi nghiên cứu

Từ lịch sử vấn đề nh đ nêu ở trên, chúng tôi xác định đối tã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời ợng

nghiên cứu luận văn đề tài “Quan hệ Việt- Nhật những năm 30 thế kỷ XVIII đến hết chiến tranh thế giới thứ nhất”.

Về thời gian, luận văn giới hạn từ những năm 30 thế kỷ XVIII đếnhết chiến tranh thế giới thứ nhất Tuỳ từng thời kỳ, thời gian nhất định

mà quan hệ Việt- Nhật lúc đặt vấn đề kinh tế t tởng lên hàng đầu, lúcthì đặt vấn đề t tởng lên hàng đầu

Do đó, luận văn chỉ nghiên cứu quan hệ Việt- Nhật trên hai lĩnhvực kinh tế và t tởng từ những năm 30 thế kỷ XVIII đến hết chiến tranhthế giới thứ nhất

Về nội dung, luận văn tập trung phân tích chủ yếu trên hai lĩnhvực kinh tế và t tởng Cụ thể nh sau:

+ Quan hệ thơng mại Việt- Nhật

+ Giao lu văn hoá Việt- Nhật

+ Phong trào Đông Du - đờng lối đấu tranh vũ trang và mối quan

4- Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu.

Nh trên đ nêu, đây là một đề tài chã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời a có một đề tài nào nghiên cứutoàn diện các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, x hội, tã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời tởng, do nguồn tài

Trang 4

liệu có phần hạn chế Ngoài các tài liệu giáo trình nh: Đại cơng lịch sửViệt Nam tập 2, tập 3, lịch sử Nhật Bản chúng tôi chủ yếu khai thác vàdựa vào nguồn tài liệu từ (kho địa chí Th viện Nghệ An) tạp chí nghiêncứu lịch sử, tạp chí nghiên cứu quốc tế, tạp chí nghiên cứu Nhật Bản…

Do nguồn tài liệu phân tán nên việc thu thập và xử lý thông tingặp nhiều khó khăn

Để giải quyết đề tài này, chúng tôi sử dụng phơng pháp lo gíc vàphơng pháp lịch sử Mặt khác xử lý thông tin để phác hoạ đợc quan hệViệt- Nhật về những nét cơ bản giai đoạn từ những năm 30 thế kỷ XVIII

đến năm 1945 rút ra đợc những nhận xét, những kết luận bớc đầu Doyêu cầu của đề tài, chúng tôi có sử dụng một số phơng pháp khác đốichiếu, so sánh…

Cơ bản, đề tài đ đã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời ợc nghiên cứu khách quan, chân thực, đảm bảo

đợc tính khoa học của một công trình nghiên cứu

5- Đóng góp của luận văn

Trên cơ sở các nguồn tài liệu đ đã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời ợc xử lý, chúng tôi:

5.1- Có cách nhìn nhận khách quan về quan hệ Việt – Nhật từnhững năm 30 thế kỷ XVIII đến hết chiến tranh thế giới thứ nhất

5.2- Bớc đầu đ có những đánh giá, những nhận xét về quan hệã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

Việt – Nhật trên các lĩnh vực kinh tế, t tởng, văn hoá…

5.3- Cũng từ luận văn này, chúng tôi mong muốn nhận thức vềquan hệ Việt – Nhật thời cận đại đợc đầy đủ hơn trong các khoá trìnhlịch sử các cấp học Giáo viên và học sinh có thể sử dụng những t liệu cótrong luận văn làm tài liệu tham khảo khi giảng dạy và học tập lịch sử

giai đoạn cận đại Qua đó, giúp chúng ta “ôn cố để tri tân”.

6- Bố cục của luận văn.

Ngoài phần dẫn luận và kết luận, nội dung của luận văn đợc chiathành ba chơng:

Chơng 1: Quan hệ kinh tế Việt – Nhật những năm 30 thế kỷ XVIII

đến hết chiến tranh thế giới thứ nhất

Chơng 2: Phong trào dân tộc Việt Nam và quan hệ của nó với NhậtBản đầu thế kỷ XX đến hết Chiến tranh thế giới thứ nhất

Chơng 3: Sự thất vọng đối với Nhật Bản – “Kẻ thù chung” của

Châu á

Trang 5

B Nội dung.

Ch ơng 1:

hệ kinh tế Việt – Nhật những năm 30 thế kỷ XVIII đến hết chiến tranh thế giới thứ nhất.

-1.1- Khái quát.

Nhật Bản và Việt Nam có quan hệ văn hoá, lịch sử từ lâu Theonhiều t liệu lịch sử và các th tịch còn lu lại, những tiếp xúc giữa ViệtNam và Nhật Bản đ có từ xa xã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời a Giáo s Nhật Bản ShibaRyô đ đã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời a ragiả thuyết cho rằng ngời Việt thời kỳ Bách Việt (trớc công nguyên) gồmmiền Bắc Việt Nam tỉnh Quảng Đông và Phúc Kiến (Trung Quốc) đ đã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời a

kỹ thuật trồng lúa nớc vào Nhật Bản Bộ bách khoa Kadanshi của NhậtBản có ghi lại một ngời Nhật tên là AbeNoNukamaro phục vụ triều Đờng(Trung Quốc) với tên Chao Heng đ đã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời ợc cử sang Việt Nam giữ chức

“Kinh lợc sứ An Nam” vào khoảng năm 760 Cũng có ý kiến cho rằng

quan hệ Việt- Nhật bắt đầu từ thế kỷ XI, vì dới triều Lý ở Việt Nam(1009 – 1225) cảng Vân Đồn (Cẩm Phả) đ trở thành thã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời ơng cảng sầmuất, các tàu buôn nớc ngoài nh Trung Quốc, Nhật Bản, các nớc ĐôngNam á đ đến đây buôn bán và trao đổi hàng hoá Những phát hiệnã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

khảo cổ học gần đây tại miền Bắc đảo KyuShu (Nhật Bản) về nhữngmảnh đồ gốm Việt Nam có ghi niên đại năm 1330 cho thấy quan hệ th-

ơng mại giữa hai nớc bắt đầu phát triển vào thế kỷ XIV và XV Tại ViệtNam dới triều Trần (1226 – 1400) quan hệ buôn bán với nớc ngoài kháphát triển, tại Nhật Bản việc pha trà và uống trà đ trở thành một nghệã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

thuật thời thợng gọi là “Trà đạo” Theo giáo s ngời Nhật Hasebe Gakuji

nhiều hiện vật gốm Việt Nam sản xuất vào thế kỷ XII và XIII còn đợc cấtgiữ tại bảo tàng mỹ thuật Nesu (Tokyô)

Đó là những giả thuyết và phát hiện khảo cổ học về quá trình tiếpxúc ban đầu giữa Việt Nam và Nhật Bản Quan hệ giữa hai nớc có thểtính từ thế kỷ XVI khi các hoạt động thơng mại trở nên tấp nập vào thời

kỳ lịch sử này ở thơng cảng Hội An (Quảng Nam) và một số thơng cảngkhác của Việt Nam – nơi các thơng gia Nhật đến buôn bán và c trú

Quan hệ Việt- Nhật từ thế kỷ XVI – XVII đến những năm đầu thế kỷXX

Trong giai đoạn đầu của thời kỳ này, thành phố cổ Hội An nổi lên

nh một điểm sáng, là chiếc cầu hữu nghị nối liền hai dân tộc Việt Nam và

Trang 6

Nhật Bản Vào thế kỷ XVI và XVII, quan hệ buôn bán giữa Việt Nam vàNhật Bản phát triển mạnh Nhiều thuyền buôn Nhật hàng năm theo các

đợt gió mùa đến buôn bán trên các thơng cảng của Việt Nam, nhiều nhất

là ở Hội An

Bộ su tập tài liệu và văn kiện ngoại giao có tên là GaibanTSuuShocủa Mạc Phủ ToKugawa (1599 – 1764) có ghi lại 56 bức th trao đổi giữaMạc Phủ và chúa Nguyễn ở Đàng Trong và chúa Trịnh ở Đàng Ngoài (từ

1601 – 1694) Giáo s Nhật Ogura Sadao cho rằng từ năm 1593 tức thời ớng quân ToKygawa leyasu đ cấp giấy phép xuất dã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời ơng cho các thơng

t-nhân Nhật buôn bán với nớc ngoài, mở đầu thời kỳ “Châu ấn thuyền”

(Shuinsen Age) Từ đó các hoạt động giao thơng Việt- Nhật ngày càngphong phú đa dạng

Do tính chất buôn bán theo mùa, các thuyền buôn Nhật phải dừngchân tại các thơng cảng Việt Nam, trong vài tháng Đây là thời kỳ quan

hệ giao tiếp giữa ngời Nhật và ngời Việt Nam đợc đẩy mạnh Nhiều ngờiNhật đ ở lại Việt Nam lập nghiệp lấy vợ Việt Nam Sự giàu có và phátã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

đạt của ngời Nhật ở Hội An không gây bất bình trong dân chúng địa

ph-ơng Ngời Nhật ở Việt Nam vẫn giữ đợc sự mến mộ quý trọng của ngờiViệt Những bức th, những mộ chí trải qua hơn ba thế kỷ vẫn đợc giữnguyên vẹn là những bằng chứng cho những tình cảm đó

Ngoài việc buôn bán, các thơng gia Nhật Bản còn giữ đợc vai tròquan trọng trong việc phát triển quan hệ giữa Mạc Phủ với chúa Nguyễn

và chúa Trịnh Họ còn góp phần kích thích đô thị hoá ở Việt Nam vìnhững nơi họ đến đều là thị trờng, chợ búa sầm uất Đặc biệt tại Hội An,

đến năm 1618 ngời Nhật đ đến cã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời trú khá đông, hình thành “Phố Nhật

Bản ” và “Cầu Nhật Bản” với những ngôi nhà có kiểu kiến trúc nh ở

Nagasaki

Từ năm 1639 – 1854 trong hơn hai thế kỷ Mạc Phủ ToKugawa thựchiện quốc sách biệt lập đóng cửa với thế giới bên ngoài, trong khi đó tạiViệt Nam chế độ phong kiến triều Lê bắt đầu suy vong, chiến tranh vànội chiến liên miên Trong hoàn cảnh nh vậy quan hệ giao lu giữa hai n-

ớc bị ngừng trệ

Trong giai đoạn Pháp đô hộ Việt Nam, quan hệ Việt- Nhật khôngcòn là mối quan hệ giữa Nhật Bản với Pháp cai trị ở Việt Nam Vì vậy,nội dung và tính chất của mối quan hệ Việt- Nhật đ biến đổi.ã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

Năm 1905, Nhật Bản đ đánh thắng Nga, chiếm lại Triều Tiên vàã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

mở rộng thế lực ở M n Châu Các nã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời ớc phơng Tây chiếm hầu hết các nớcnhỏ yếu ở châu á làm thuộc địa nhng lại phải dừng lại ngoài cửa ngõ

Trang 7

Nhật Bản Nhật Bản cũng đ trải qua giai đoạn phát triển tã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời bản,trở thành một cờng quốc Những sự kiện này đ dội vào các nã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời ớc nhỏ yếu

ở châu á trong đó có Việt Nam Nớc Nhật trở thành lý tởng, một tấm

g-ơng cho các sỹ phu yêu nớc Việt Nam Từ đó xuất hiện phong trào Đông

Du (5–1904) do Phan Bội Châu đề xớng (và sau đó duy tân hội đợc thànhlập) Du học sinh Việt Nam đợc vào học tại Đông á đồng văn th viện của

Đông á đồng văn hội Tuy nhiên do quan tâm đến việc duy trì quan hệtốt với Pháp để đổi lấy những lợi ích Pháp dành cho năm 1907 Nhật Bản

đ giải tán Đông ã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời á đồng văn và trục xuất du học sinh Việt Nam

1.2- Giao lu văn hóa Việt- Nhật:

Văn hóa Việt Nam - Nhật Bản có bao nét tơng đồng; tâm hồn ngờiViệt Nam, ngời Nhật Bản có bao kênh đồng điệu; có bao điều làm họ dễgần, dễ mến nhau, mà khó giải thích rõ ràng

RyoKan là một c sĩ thiền Nhật Bản (1758 – 1831) ông có nhiều nétgiống Tuệ Trung thợng sỹ – Trần Tung (1230 – 1291) của Việt Nam Cảhai nhân vật này đều thông tuệ hơn đời, hơn ngời Họ mang trong ngờidòng máu dân tộc: yêu thiên nhiên, cây cỏ, con ngời, ghét tham lam, ích

kỷ Trớc khi chết, RyoKan viết bài thơ từ gi cuộc đời, nhã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời một chúc th gửilại: Tài sản của ta để lại trên đời

Hoa và mùa xuânSen và mùa hạCùng rừng cây đỏ thắm mùa thu

Ngời Nhật yêu ông, ngỡng mộ ông, đ từng đánh giá về ông “ã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời Hãy viết về một RyoKan sẽ hiểu đợc một trăm RyoKan trong trái tim ngời Nhật

Yêu hoa, ngời Nhật Bản có nghệ thuật cắm hoa Ngời Việt Nam cócách yêu hoa thiên nhiên cây cảnh, ngời Việt Nam đ biến một vùng đất,ã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

một tập thể c dân thành nông dân trồng hoa, thành làng hoa, cả làng

chăm chút hoa làm cho no đủ, đẹp làng Ngời Nhật có “trà đạo” thấm

đ-ợm cốt cách Nhật Bản, tinh khiết thiên nhiên Ngời Việt Nam có trà ớphoa sen, uống trong sơng sớm, thởng thức hơng nớc tinh khiết của thiênnhiên để thanh tâm

Phải chăng ngời Việt Nam và ngời Nhật Bản gặp nhau ở chén tràtrong bản chất truy cầu sự hài hoà với thiên nhiên Cái nghĩa văn hoáqua chén trà nh thấm đợm tinh tuý á Đông, tinh tuý Nhật Bản, ViệtNam Ngời Nhật Bản có những ý tởng cao siêu, minh triết mang tínhtruyền thống Ngời Việt Nam cũng có cách nghĩ thanh thản, nhàn thoátgiữa đạo đức và mục đích, giữa khát vọng và ứng xử

Một cách nghĩ về phơng pháp nghiên cứu giao lu văn hoá qua con

đờng tiếp cận khác, con đờng tâm hồn, t tởng, ý niệm, tâm linh đ nảyã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

Trang 8

sinh Từ hiện tợng trên, tôi cũng liên tởng tới hiện tợng phim Oshinnhiều tập của Nhật Bản chiếu trên vô tuyến truyền hình Nhật Bản lạilàm cho nhiều khán giả Việt Nam say mê, bàn tán thích thú? Những ng-

ời Việt Nam yêu Oshin, trớc hết họ nh thấy thấp thoáng có cái gì đó gầngủi với Việt Nam trong cuộc sống tâm linh, nghĩa tình, chịu đựng và âmthầm đấu tranh của ngời Nhật Bản

Chúng ta đều nhận biết Nhật Bản có nét riêng, tinh tuý, tạo nêncốt cách Nhật Bản, Việt Nam cũng vậy, có cái riêng của Việt Nam Nhngchúng ta còn nh cảm nhận một mối liên hệ nào đấy, một cung bậc nào

đấy đ làm cho hai dân tộc này có nhiều điểm đồng điệu Tiền đề cơ sởã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

lịch sử, dân tộc, ngôn ngữ, màu da, tình cảm có bao điều thuận lợi choviệc phát triển văn hoá

Cách nghĩ của nhân dân Nhật gần giống chúng ta Đó là cách tự ờng dân tộc, khát vọng hoà bình Đây cũng chính là mặt hấp dẫn của ng-

c-ời Nhật và làm cho phong trào Đông Du sôi nổi vào đầu thế kỷ XX ở ViệtNam Và ngời Nhật Bản tiến hành cuộc chiến ở Đông Nam á cũng cónhiều điểm ta cần quan tâm, họ nhanh chóng đánh bại các nớc đế quốcthực dân Âu Mỹ nhờ có vũ lực mạnh, chiến thuật, chiến lợc có hiệu quả

Có một vấn đề cần phải nói rõ là trách nhiệm tội ác của cuộc chiếntranh châu á - Thái Bình Dơng không thuộc nhân dân Nhật Bản Vàtính dân tộc Nhật đ đã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời ợc khích lệ đến cao độ khi lửa chiến tranh đ cháy ã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

loang trên đất Nhật Ngời Việt Nam lại có thể cảm thông nổi đau của

ng-ời dân Nhật trong chiến tranh khi bom đạn Mỹ hàng ngày gầm rú trênbầu trời Tôkyô và ném hai quả bom nguyên tử xuống Hirôsima vàNagasaki

Ngời dân Nhật bản cũng nh nhân dân lao động trong các quốc giatrên thế giới, họ vộ tôi, họ mong muốn một cuộc sống thanh bình, họmuốn ngăn chặn một cuộc chiến huỷ diệt Họ muốn và thực ra họ cóquyền đấu tranh bảo vệ cho một cuộc sống hoà bình, hạnh phúc

Nhân dân Nhật Bản và nhân dân Việt Nam chắc chắn có sự đồngcảm về nỗi khổ của chiến tranh, có chung khát vọng giao lu phát triển

Ngày nay, công cuộc giới thiệu Nhật Bản có khuynh hớng nghiêngnhiều về thành tựu kinh tế, giới thiệu những kinh nghiệm thành côngcủa Nhật Bản Điều đó thật cần thiết

Nghiên cứu về giao lu văn hoá, chúng ta cũng đang chú trọngnhiều về văn hoá vật chất Điều đó cần, song cha đủ Và có lẽ còn mộtmảng thuộc tinh thần, tâm linh ta còn cha chú ý

Để đầu t, khai thác giúp Việt Nam phát triển kinh tế xây dựng cóhiệu quả, nghiên cứu giao lu văn hoá Việt- Nhật còn cần nghiên cứu môi

Trang 9

trờng tinh thần và sự giao lu tinh thần Sự thông cảm lớn sẽ giúp chocông cuộc đầu t hợp tác phát triển vì lợi ích của hai quốc gia hai dân tộc.

1.3- Quan hệ thơng mại Việt - Nhật.

Vào thời điểm mà ngời Nhật Bản đợc phép tự do mang hàng hoácủa nớc mình đến các nớc khác, thì nền thơng mại ở Đàng Trong phồn

thịnh hơn hiện nay rất nhiều Việc ngời Nhật Bản "mở phố xã buôn bán hoá vật" ở x Phục Lễ và triều đình cử quan lại cắt cử nhau lo mở phố xáã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

để tiện việc buôn bán đợc đề cập trong th của chúa Nguyễn ở QuangNam, việt năm 1782 cho Tứ Lang Thứ Lang Theo GS Momokihiro, quan

hệ buôn bán ở Việt Nam và Nhật Bản có thế chiếm vị trí hàng đầu từ

đầu đến giữa thế kỷ XVIII Hàng hoá chủ yếu là tơ lụa, Tàu Nhật đến

Đàng Ngoài (47 tàu), ít hớn Đàng Trong (73 tàu)

Lúc bấy giờ nhân dân ta đ có câu: "ã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời thứ nhất Kinh Kỳ thứ nhì Phố Hiến".

Điều này phản ánh thực tế là nhờ chính sách ngoại thơng củachính quyền Đàng Ngoài cũng là một nhân tố ảnh hởng trực tiếp đếnviệc quan hệ buôn bán giữa 2 nớc Việt nam - Nhật Bản Phố Hiến trởthành trung tâm ngoại thơng lớn nhất và ngời Nhật Bản đ đóng vai tròã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

quan trọng trong hoạt động kinh tế của Phố Hiến trong giai đoạn đầuthế kỷ XVIII

Những thơng nhân ngời Nhật Bản có mối quan hệ mật thiết đối vớiViệt Nam lúc bấy giờ có Arakishotara và Kadoya Shichorobai Một tàiliệu cũ đ viết về mối quan hệ hôn nhân của Arakishotara nhã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời sau:Arakishotara (Hoàng Mộc Tôn Thái Lang) tới buôn bán ở Việt Nam, năm

1720 đợc chúa Nguyễn vì tình âu yếm ngời xa lạ đ gả con gái là côngã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

chúa Ngọc Khoa và cho Arakishotara đợc mang họ của chúa Công chúaNgọc Khoa đ theo chồng về Nhật Bản và mất ở đấy vào năm 1745 Mộã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

của công chúa Ngọc Khoa hiện nay ở Nagaraki và gia đình Arakishotaravẫn còn giữ tấm gơng roi của cô con dâu đem về từ Việt Nam Có lẽ côngchúa Việt Nam thời chúa Nguyễn là ngời đầu tiên xuất giá tòng phu xa

nh vậy Còn về Kadoya Shichorobai rời Nhật Bản đến Việt Nam vào năm

1731 và lập một h ng buôn tại Hội An, lấy vợ Việt Nam và mất tại đây.ã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

ở Đàng Trong, vào thế kỷ XVII - XVIII tại Hội An ngời Nhật Bản

đến c ngụ và buôn bán rất đông khoảng 1.000 ngời

Trang 10

Theo SaLê thì quá trình này chấm dứt vào năm 1736, vì Mạc Phủcấm không chó xuất dơng và những ngời Nhật Bản đ ra khỏi nã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời ớc không

đợc hồi hơng Ngày nay ở Hội An còn 3 ngôi mộ ngời Nhật là Gasuko,Bagiro, Hirato-Ya-Rirobei Đó là một trong những chứng tích đích thựccủa ngời Nhật Bản ở Hội An

Mặc dù đ có lệnh cấm xuất dã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời ơng của Mạc Phủ, nhng trong bia phổ

Đà Sơn Linh Trung Phật ở động Hoa Nghiêm (trong lòng Ngũ Hành Sơn

- cách Hội An khoảng 20 km) còn ghi tên những ngời Nhật và gia đình

họ xây chùa vào năm 1740

1 Hêgiaburôô cùng Nguyễn Thị Chức ở Dinh Nhật Bản cúng tiềnxây dựng chùa 500 quan

2 Xôgôrô ở Dinh Nhật Bản cúng tiền 100 quan

3 SungMông cùng Đỗ Thị Mợn ở Dinh Nhật Bản cúng tiền 40quan

4 Achikô cùng Đỗ Thị Chủng ở Dinh Nhật Bản cúng tiền 20 quan

5 Chayatakisima, Khaoa Khamikhe, axamiyaxuki ở Dinh NhậtBản cúng 570 cân đồng

6 Sichirôbai cùng Nguyễn Thị Nụ ở Dinh Nhật Bản cúng tiền 21quan

7 Akiu ở Dinh Nhật Bản cúng bạc nén 15 lạng

8 Hegiamôn cùng vợ là Nguyễn Thị Nở cúng tiền 15 quan

Theo bản dịch của Đặng Chí Huyên, tài liệu Đại học S phạm I thìmối quan hệ Việt Nam và Nhật Bản vẫn tiến triển tốt đẹp, vợt quannhững cản trở của triều đình Mạc Phủ

Và một sự kiện rất lý thú là việc 9 ngời Việt Nam ở Hội An đi làmphụ dịch ở gia đình, đi thuyền lớn bị gặp b o và trôi dạt sang Nhật Bản,ã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

đợc ngời Nhật Bản ở Đảo Địa Ngung Châu - ốc Cửu, chăm sóc và gửiqua tàu Trung Quốc trả về nớc

Sự kiện này đợc xác nhận qua th của quốc vơng An Nam gửi cảm

ơn quan Trấn Thủ Trờng Kỳ (năm 1765) sau đây:

Quốc vơng An Nam th đa cho quý quốc Nhật Bản Trờng Kỳ TrầnThủ Vơng các hạ:

Trộm nghe: Giao lân cốt tín, là lời dạy của thánh kinh, yêu ngời bởi

ân, là bản tâm của nhân gỉa

Trang 11

Trớc kia dân nớc An Nam trôi dạt đến quý quốc nhờ gặp có thuyềnchủ nhà Lý Đại Ninh là Lý Tài Quan đi qua quý quốc, nghe biết dân AnNam ở đó, nhận đem 9 ngời về bản quốc, ân đó khôn xiết kể, biết lấy gìbáo đáp Nay có lẽ mọn thổ sản là một cân thợng phẩm hơng kỳ nam giaocho thuyền chỉ Lý Tài Quan kinh đem làm lễ tạ, nếu còn nghĩ tình xinnhận cho, để kết hai nớc thông thơng buôn bán ngày càng ân ái, muônnăm nghĩa trọng bằng núi non (1795 Nguyên Lục Thứ 8 Nhật Bản).

Hiện nay dòng họ Chaya ở Nagoya còn giữ đợc hai báu vật:

Bức tranh của một hoạ sỹ, hoạ sỹ đời Minh về Phật Bà Quan Âmngồi trên tảng đá bốn bề sóng vỗ đợc chúa Nguyễn tặng cho dòng họChaya theo truyền lại trên đờng về Nhật, họ gặp b o lớn, song nhờ cóã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

bức tranh nên biển lặng sóng, gió nhẹ dần, ngời chủ đợc bình yên

Bức tranh Giao Chỉ quốc mậu dịch hải đồ, mô tả con đờng hàng hải

từ Nhật đến Việt Nam và nhiều phong cảnh ở Việt Nam, nhất là từ khiphố Nhật ở Quảng Nam - Đà Nẵng Theo mô tả của Ôgurasađao và quatài liệu thực địa, chúng ta xác định có một địa điểm Vọng Ngang Đài ởNgũ Hành Sơn

Trong 19 địa điểm ngời Nhật đến buôn bán thì Việt Nam có 6 địa

điểm, Việt Nam là một trong 4 nớc (3 nớc kia là Philíppin, Thái Lan,Cămpuchia) mà ngời Nhật dựng lên những khu phố Nhật, dấu tích ngờiNhật còn lu giữ đợc và ngời Việt Nam trân trọng bảo tồn điều này đ đã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời ợc

minh chứng rõ ràng và đầy đủ nhất

Từ cuối thế kỷ XVIII, do chế độ phong kiến ở Việt Nam bắt đầu ruyvong chiến tranh và nội chiến liên miên, nên quan hệ giao lu giữa hai n-

ớc Việt Nam - Nhật Bản bị ngng trệ

Đặc biệt, từ sau khi thực dân Pháp xâm lợc và đô hộ Việt Nam,quan hệ Việt Nam - Nhật Bản không cònh là mối quan hệ giữa hai quốcgia độc lập, mà thực chất là quan hệ giữa Nhật Bản và thực dân Phápcai trị Việt Nam Vì vậy, nội dung và tính chất của quan hệ Việt Nam -Nhật Bản đ biến đổiã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

Ch ơng 2:

Phong trào dân tộc Việt Nam và quan hệ

của nó với Nhật Bản.

Trang 12

-2.1- Phong trào Đông Du - đờng lối đấu tranh vũ trang và mối quan hệ với Nhật Bản.

Cuối thế kỷ XIX, sang đầu thế kỷ XX thực dân Pháp đ đặt xongã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

cách đô hộ ở Việt Nam (Cămpuchia, Lào) Phong trào Cần Vơng thất bại.Thực dân Pháp thi hành chính sách này, x hội phong kiến Việt Nam cổã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

truyền dần bị phá vỡ, chuyển thành x hội thuộc địa nửa phong kiến.ã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

Chủ nghĩa t bản thực dân trùm lên và chi phối tất cả đời sống chính trị,kinh tế, văn hoá

Năm 1905 chiến tranh Nhật – Nga kết thúc với thắng lợi thuộc vềNhật Bản Những ngời yêu nớc Việt Nam thuộc thế hệ Phan Bội Châucoi đó là thắng lợi của một dân tộc da vàng đối với một cờng quốc datrắng giúp cho nhiều ngời Châu á xoá đi “Mặc cảm da vàng”, thắp lên tia

hy vọng học tập gơng duy tân và nhờ Nhật Bản giúp đỡ

Đầu năm 1905, Phan Bội Châu cùng hai đồng chí khác bí mật xuấtdơng sang Nhật Bản Tại sao ông lại quyết định sang nớc Nhật? BởiPhan Bội Châu phủ nhận hoàn toàn tính chính thống ách thống trị của

thực dân Pháp Do đó con đờng “Cứu vãn” Việt Nam không thể nào khác

là tìm con đờng đấu tranh vũ trang nhằm đập tan thể chế thống trị thựcdân Để chống lại thể chế đó và đánh đổ ánh thống trị thực dân củaPháp, không thể không gây dựng cuộc đấu tranh vũ trang có thể đối chọihữu hiệu với bộ máy bạo lực của chúng, trong đó vũ khí hiện đại, là cáikhông thể thiếu nhng lại bị chúng độc quyền quản lý, không thể có đợc ởtrong nớc Do đó, cần xuất dơng cầu viện nớc ngoài để có đợc vũ khí

Đối với ngời Việt Nam, một nớc ngoài gần nhất về mặt lịch sử làTrung Quốc, giáp giới phía Bắc Điều này không chỉ có nghĩa là sự gầngũi về khoảng cách địa lý Trong quan hệ chính trị, văn hoá đợc định h-ớng về mặt lịch sử, Trung Quốc cũng thực sự là ngời láng giềng khổng lồ.Việt Nam đ một nghìn năm bị đã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời a vào bản đồ của đế quốc Trung Hoa vàsau khi độc lập ở thế kỷ X cũng nhiều lần bị các vơng triều Trung Hoaxâm lợc và can thiệp Thế nhng đồng thời với điều đó, Việt Nam đ tiếpã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

nhận từ Trung Quốc về mặt thiết chế Nhà nớc, văn tự và tôn giáo Điều

đó không chỉ cần thiết để đối kháng với Trung Hoa, duy trì quốc gia độclập, mà còn vì đó là mô hình duy nhất đợc đa ra cho các nhà thống trịViệt Nam để họ cấu trúc thể chế chính trị trong nớc

Trang 13

Cuối thế kỷ XIX, khi Pháp chính thức xâm lợc Việt Nam ngời ViệtNam – dới thể chế Triều Nguyễn, cũng trông mong sự trợ lực của Trung

Quốc Ngay từ những năm 1870, “Phỉ tặc” ngời Trung Quốc vợt biên giới

Việt Nam đ đóng vai trò quan trọng nhã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời một lực lợng vũ trang kiềm chếquân Pháp tiến công xâm lợc Bắc Kỳ Tiếp đó, bớc vào những năm 80

không chỉ có “Phỉ tặc” mà quân đội triều Thanh cũng đối chọi với ngời

Pháp xâm lợc Việt Nam, cuối cùng dẫn đến bùng nổ chiến tranh Thanh –Pháp Rồi từ năm 1885, khi bùng nổ ra cuộc khởi nghĩa của vua HàmNghi, không ít ngời Việt Nam đ vã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời ợt biên giới sang Trung Quốc, cố gắng

yêu cầu Triều Thanh viện trợ Nhng từ sau chiến tranh Thanh – Pháp,bản thân Trung Quốc cũng phải đơng đầu với sự đe doạ của các cờngquốc Tây Âu, không thoả m n đã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời ợc yêu cầu của những ngời Việt Namnày Rút cuộc, những ngời vợt biên giới tìm kiếm viện trợ cũng chỉ đànhlấy đó làm đất lu vong để bảo toàn lấy bản thân mình mà thôi

Đối với thế hệ Phan Bội Châu, khi nghĩ đến khả năng xuất dơngcầu viện, trớc hết suy nghĩ trong đầu là Trung Quốc Nhng theo hồi kýcủa Phan, trong giai đoạn trớc khi xuất dơng ông đ nhận ra rằng,ã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

không thể lấy Trung Quốc làm chỗ dựa Ngục trung th đ ghi lại phánã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

đoán của ông về tình hình lúc bấy giờ nh sau: “Vấn đề quân giới nếu không có nớc ngoài giúp cho mình thì không xong” Lấy chỗ quan hệ về

lịch sử, địa d, nòi giống mà nói, có thể giúp ta đợc không ai khác hơn làTrung Quốc Nhng rồi từ trận ở Lạng Sơn hồi năm Giáp thân (năm 1884)trở đi, Trung Quốc ký điều ớc Thiên Tân năm 1885, đ phải đem cái chủã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

quyền phiên thuộc nớc Nam mà nhờng cho Pháp rồi Đến việc Hàm Nghixuất bôn, trong khoảng mấy năm Dậu Tuất (năm 1885-1886) thiếu gìcác cụ nhà ta chạy sang Trung Quốc cầu viện, nhng đều bặt mất tin tức.Gơng trớc mới đó không xa Nớc Tàu chẳng giúp gì cho ta đợc đâu mà

mong vô ích [3; 173] Niêu biểu cũng hồi tởng nh sau: “Tôi tởng tình thế liệt cờng bây giờ nếu không phải là nớc đồng chủng, đồng văn tất không

ai chịu giúp ta Nớc Tàu đã chịu nhợng Việt Nam cho Pháp, lại thêm hiện nay quốc thế suy hèn, cứu mình không xong mà cứu đợc ai” [6; 76-

77]

Nh vậy, lúc bấy giờ ông đ phán đoán rằng, không thể lấy Trungã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

Quốc làm chỗ dựa Vậy thì phải lấy nớc nào làm đối tợng xuất dơng cầu

viện đây? Niên biểu viết: “Duy nớc Nhật Bản là một nớc tiên tiến ở trong nòi giống da vàng, mới đánh thắng Nga, dã tâm đang hăng lắm Qua

Trang 14

tới nó, đem hết lợi hại tỏ với nó tất nó ứng viện cho ta Dù không cử binh lính thì Nhật Bản sẽ sẵn sàng giúp ta về việc mua hay mợn vũ khí” [3; 77] Tơng tự, trong Ngục trung th cũng ghi nh sau: “Chỉ có cầu viện Nhật Bản Lúc ấy Nhật Bản mới phát lên hùng cờng mà họ cũng là một dân tộc da vàng ở Châu nh ta, lại vừa mới đánh thắng Nga xong Không chừng họ có ý muốn bá chủ Châu á , vậy thì họ giúp ta để tớc bớt khí lực của Châu Âu đi, cũng có điều lợi cho họ vậy Nếu ta sang kêu ca thống thiết với họ, tởng gì chớ món quân giới hoặc cho ta mợn, hoặc giúp ta mua, không khó khăn chi” [3; 173].

Từ trớc đó, sự gia tăng quan tâm tới Nhật Bản ở tầng lớp trí thứcTrung Quốc sau thất bại trong chiến tranh Nhật –Thanh đ cùng vớiã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

những thông tin rời rạc về Nhật Bản thông qua Tân th từ Trung Quốctruyền tới, cũng đợc lu truyền trong một bộ phận trí thức Việt Nam Sựquan tâm mạnh mẽ tới Nhật Bản, một cờng quốc ở Đông á đ dànhã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

thắng lợi trong chiến tranh với triều Thanh, ký kết hiệp ớc liên minh vớiAnh, đang trỗi dậy nh một lực lợng đối kháng với các cờng quốc Âu - Mỹ,cũng đợc thể hiện rõ ràng trong Lu cầu huyết lệ Tân th của Phan BộiChâu Ông viết tác phẩm này, theo niên biểu là vào nửa đầu năm 1903,theo Ngục trung th là vào khoảng tháng 3 năm 1904 [36-39; 32-35]

Nhng có thể nghĩ, mối quan tâm đó đối với Nhật đợc kích thíchthêm và sự tồn tại của Nhật Bản đợc nghĩ đến nhiều hơn nh một đối tợng

cụ thể của việc xuất dơng cầu viện là từ khi chiến tranh Nga – Nhậtbùng nổ đợc truyền tới Việt Nam Bởi vì, khác với Trung Quốc triềuThanh, Nga là một thành viên của các cờng quốc Âu – Mỹ, là nớc đồngminh của nớc tông chủ của Việt Nam, tức là Pháp

Cách nhận thức tình hình gắn chiến tranh Nhật – Nga với sự tồntại của đồng minh Nga – Pháp đ đã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời ợc thể hiện với sự tồn tại của đồngminh Nga - Pháp đ đã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời ợc thể hiện ngay sau khi Phan Bội Châu xuất d-

ơng năm 1905 trong bức th gửi Tổng đốc Quảng Đông Sầm Xuân Huyên

đợc viết tại Hơng Cảng trên đờng sang Nhật “Tình hình gần đây của Pháp là bên ngoài thì có mối đe doạ, lòng ngời thì ngày càng phân rã ở phía Bắc thì kết đồ Đảng với Nga để đơng đầu với cục diện khó khăn Vì

ở phía Đông (Nga) đang tiến hành chiến tranh với Nhật Bản Và ở phía Tây đang đối lập với Đức xung quanh Marốc”.

Thế hèn kém của chúng tuy cha biểu hiện rõ ràng nhng trạng tháinguy cơ thì đ xuất hiện Bức thã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời này đợc viết sau khi Phan diện đàm với

Trang 15

nhà báo Phùng Tự Do thuộc phái cách mạng Trung Quốc tại Hơng Cảng,

do đó không thể hoàn toàn phủ nhận khả năng là cách nhìn nhận tìnhhình quốc tế nh vậy Phan Bội Châu mới học đợc từ ông ta Nhng chiếntranh Nhật – Nga bùng nổ là sự kiện tác động tới ngời Pháp

Không chỉ ở bản quốc mà ở cả thuộc địa Đông Dơng, sự dao độngcủa họ tất nhiên ngời Việt Nam phải biết đợc, do đó chẳng có gì không tựnhiên khi nghĩ rằng trớc khi xuất dơng Phan Bội Châu đ có cách nhìnã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

tình hình quốc tế nh vậy

Dù sao, khi quyết định xuất dơng, Phan Bội Châu đ có sự cânã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

nhắc giữa Trung Quốc và Nhật Bản và sau cùng đ chọn Nhật Bản Tiêuã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

chuẩn để phán đoán lúc này là nào có ý chí và năng lực đối kháng vớiPháp Đó chính là suy tởng về quan hệ quốc tế ở Đông á theo cái sơ đồ

đối lập trong nớc ách thống trị thực dân Pháp với lại cách mạng vũtrang Việt Nam rồi định vị các quan hệ quốc tế trong văn cảnh ấy

Nhng đến khi Phan thực tế đặt chân lên đất Nhật Bản, tiếp xúc vớiLơng Khải Siêu và các chính khách ngời Nhật Bản thì cách nhận thứctình hình quốc tế nh vậy đ đã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời ợc sửa chữa.

2.2- Cách nhìn nhận của Phan Bội Châu đối với Nhật Bản :

“Đồng văn, đồng chủng, đồng châu”.

Phan Bội Châu là một trong những l nh tụ tiêu biểu của phongã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

trào cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam đầu thế kỷ XX ở nớc ngoàitên tuổi của ông đợc biết nhiều hơn với t cách là l nh tụ của phong tràoã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

nổi tiếng – phong trào Đông Du (1905-1909)

Chúng ta biết rằng, khi quyết định tìm nớc để cầu viện, khuôn khổ

lựa chọn của Phan Bội Châu đợc giới hạn trớc ở các nớc “đồng văn, đồng chủng” Cụ thể, hai nớc Đông á là Trung Quốc triều Thanh và Nhật Bảncủa Minh Trị đ trở thành đối tã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời ợng xem xét so sánh, ngoài đó ra, các nớckhác (nh Thái Lan, Đức) đợc gạt ra từ đầu

Khi so sánh giữa Trung Quốc với Nhật Bản, tiêu chuẩn phán đoáncủa ông là tơng quan lực lợng với các thế lực Âu – Mỹ Tức là ông phán

đoán rằng, Trung Quốc Triều Thanh đang lâm vào tình trạng đến cả “Tự cứu mình” cũng không nổi trái lại Nhật Bản có ý đồ và năng lực đối

kháng với các thế lực Âu – Mỹ do đó chắc chắn sẽ chìa bàn tay viện trợcho phong trào chống Pháp của ngời Việt Nam Phan Bội Châu coi Trung

Quốc, Nhật Bản là “Nớc đồng văn, đồng chủng”, còn gọi Nhật Bản là

“Chủng tộc da vàng ở Châu á giống nh chúng ta”, là “Nớc tân tiến thuộc

Trang 16

ngời da vàng” T tởng đó thể hiện rõ không chỉ trong hồi ký về sau, mà cả

trong văn chơng thời kỳ trớc sau khi sang Nhật

Một trong số đó là bức th gửi tổng đốc Lỡng Qu ng – Sầm Xuânã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

Huyên, viết năm 1905, sau khi xuất dơng, tại Hơng Cảng (Trong đó), saukhi ca ngợi thanh danh và uy đức của Tổng đốc Sầm, Phan Bội Châu viết

nh sau: “Các bậc trởng giả và tất cả đồng bào ở tệ ấp tôi đều bảo là những tỉnh ở biên giới của Thiên triều với nớc Việt Nam tôi có cái hình răng môi liền nhau chứ không phải ở cái thế roi dài không với tới Sân ngõ của Việt Nam tức là phên dậu của Thơng Quốc Nếu nh nớc Việt Nam bị mất vĩnh viễn cũng không phải là cái lợi cho các tỉnh biên cơng của quý quốc, huống nữa bọn Pháp kia lòng tham không đáy, đang nh tằm ăn dâu vậy” [2; 15].

Đặc trng thứ nhất nổi rõ qua đoạn văn trích dẫn trên đây là nhấnmạnh rằng giữa Việt Nam và Trung Quốc có mối quan hệ mật thiết vềvăn hoá (đồng văn), địa lý (môi răng), lịch sử (phên thuộc) Điều nàycũng tơng ứng với việc Phan Bội Châu nhấn mạnh trong Ngục trung thrằng, giữa Trung Quốc và Việt Nam có mối quan hệ đặc biệt về các mặt

“Lịch sử, địa lý, nhân chủng” Và tức “Môi răng” cũng thấy có trong ghi

chép của Niên biểu Tức là khi Phan viết th gửi Tổng đốc Sầm, ông đ đã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

-ợc Phùng Tự Do góp ý, khi đó Phùng chỉ ra cho Phan rằng Qu ng Đôngã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

có mối quan hệ môi răng với Việt Nam, Tổng đốc Sầm là ngời Hán ở

Qu ng ã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời Tây và gợi ý là nếu cầu niệm ở “Một ngời trong chính phủ Mãn” có

mối quan hệ cũ giữa nớc Tông chủ và nớc phiên thuộc thì hẳn là không vôích

Đặc trng thứ hai là để luận chứng cho tính mật thiết của mối quan

hệ Trung – Việt, đ chú ý đến sự tồn tại của một kẻ thù chung là Pháp.ã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

Tức là Việt Nam và Hoa Nam cùng chung số phận ở chỗ cùng phải giápmặt với sự đe doạ của Pháp Và điều đó cũng có nghĩa là Trung – Việtcùng có lợi ích chung Bởi vì, nếu Việt Nam nằm dới ách thống trị củaPháp thì các tỉnh Hoa Nam tiếp giáp với nó cũng bị phơi mặt trớc mối đedoạ xâm lợc của Pháp

Nh vậy, trong bức th gửi Tổng đốc Sầm, một mặt, Phan nhấn mạnhtính mật thiết của mối quan hệ địa lý, lịch sử, văn hoá giữa Trung Quốc

và Việt Nam, mặt khác chỉ ra tính giống nhau về lập trờng và lợi íchgiữa hai nớc trong các quan hệ quốc tế mới nhất Điều cần chú ý ở đây làkhi bàn về mối quan hệ Trung – Việt, ông không chỉ nhấn mạnh mối liên

Trang 17

kết đặc biệt giữa hai nớc, mà còn vận dụng quan điểm khác, tức là luận

điểm chỉ ra sự tồn tại của một kẻ thù chung bên ngoài

T tởng này cũng thể hiện rõ qua những điều Pháp nói về mối quan

hệ Việt- Nhật Hồi ký Ngục trung th của ông đ viết nhã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời sau về chiếntranh Nhật – Nga: Hai năm Giáp Thìn, ất Tỵ, cuộc cạnh tranh phấn đấugiữa ngời Âu ngời á, da trắng, da vàng, làm cho chúng tôi phải giật mìnhtỉnh ngủ [3; 172] Tức là Phan Bội Châu coi cuộc chiến tranh Nhật - Nga

nh là biểu hiện của cuộc “Chiến tranh” giữa Âu – Mỹ và châu á , cuộc

đấu tranh giữa giống ngời da vàng và giống ngời da trắng, coi nó nganghàng với sự đối lập không thể hoà giải thờ ơ ngồi nhìn các nớc ĐôngNam nh Miến Điện, Việt Nam bị Pháp tuỳ ý xâm đoạt đợc Ông còn viết

nh sau: Việt Nam không phải là Việt Nam của châu âu, mà là Việt Namcủa châu á Việt Nam là nớc “Đồng chủng”, là nớc “Đồng văn”, “đồng châu” với quý đế quốc, nhng ngời Pháp kia dám đến Việt Nam, gây ra

độc hại mà không hề biết sợ Trong con mắt của ngời Pháp không có nớc

Nhật Bản “cờng quốc” ở châu á. “Uy phong” của Nhật Bản đ mở rộngã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

đến Tây Bắc, mở rộng tới nhà Thanh, tới Nga Thế mà trong khi nớc Việt

Nam “Đồng văn, đồng chủng, đồng châu” bị Pháp chà đạp, làm sao Nhật

Bản lại có thể không đi cứu nớc đợc?

Tiếp đó, về mặt “Lợi hại”, Phan Bội Châu làm nh sau: Nếu nh “Đế quốc Nhật Bản” lấy việc “Bảo toàn Đông á” làm “nghĩa vụ thứ nhất” của mình thì nớc Nga đang “dòm ngó Bắc Trung Quốc” và nớc Pháp đang

“nhăm nhe Nam Trung Quốc” không thể không đánh nhau với Nhật

Bản Pháp đ lấy Đông Dã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời ơng làm cứ điểm, đang chuẩn bị đầy đủ để dòmngó cơ hội tiến vào Vân Nam Nga tuy thất bại trong chiến tranh nhngvẫn còn lực lợng Nếu qua mấy năm Nga phá bỏ cam kết đối địch vớiNhật Bản thì Pháp sẽ liên kết với Nga Và nếu vậy thì mối đe doạ củaPháp chắc chắn cũng sẽ đụng chạm đến Lu Cầu và Đài Loan

Tổng kết những điều trên, Phan Bội Châu viết tiếp nh sau: Nói về

mặt “nghĩa lý” Việt Nam là nớc “đồng chủng” quý đế quốc cần thể hiện tình yêu và “bảo toàn” nó Nói về mặt “lợi hại”, Việt Nam là nớc “đồng châu”, quý quốc cần giúp đỡ, cứu viện nó.

Điểm thứ nhất thể hiện rõ qua những trích dẫn trên đây là: các lậpluận đ đã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời ợc triển khai trên cơ sở tiền đề là giữa Nhật Bản và Việt Nam

vẫn có mối quan hệ mật thiết “đồng văn, đồng chủng, đồng châu” Và nếu Nhật Bản có “tình yêu” đối với châu á “đồng văn, đồng chủng, đồng

Trang 18

châu” thì ngăn chặn Pháp xâm lợc châu á, viện trợ cho Việt Nam là việc

Nhật Bản cần làm để bảo toàn trách nhiệm đạo lý, tức là “nghĩa lý” của

mình

Điểm thứ hai nhấn mạnh rằng, lợi ích của hai nớc da trắng Nga vàPháp là nhất trí, và lợi ích của Nhật Bản và Việt Nam cũng nhất trí.Viện trợ cuộc đấu tranh chống Pháp của ngời Việt Nam, đối với Nhật

Bản đang mong muốn “bảo toàn Đông á”, là có ích cho việc kiềm chế sự

bành trớng của nớc Nga thù địch và đồng minh của nó là nớc Pháp Nh

vậy, “nghĩa lý” đối với Nhật Bản là phù hợp với lợi ích hiện thực, tức là

lợi ích về mặt quốc sách của nó

Điểm thứ 3 trong lập luận của Phan Bội Châu là tìm sự giúp sứccủa Nhật Bản hoàn toàn không phải là để xin xỏ hay để đợc Nhật Bảnthơng xót Ông theo đuổi và đề xuất với Ôkuma một đạo lý rằng: NhậtBản đ tự nhận mình là minh chủ “ã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời Đồng văn, đồng chủng, đồng châu”, chủ trơng “Bảo toàn Đông á “ thì đứng trên lập trờng của ngời Nhật Bản,

kết cục logíc của điều đó sẽ phải là nh vậy Theo ý nghĩa đó, có thể nóibức th này là một văn bản ngoại giao khôn khéo đ đã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời ợc đắn đo suy tính

khá kỹ và thái độ của Phan Bội Châu đối với Ôkuma thực sự đờnghoàng, không hề tỏ ra khúm mún và hạ mình

Nh vậy, trong thuyết “đồng văn, đồng chủng, đồng châu” của Phan

Bội Châu có một sự nhận thức tỉnh táo nào đó về tình hình Tức là ôngphán đoán rằng, để thuyết phục ngời Nhật Bản, chỉ kêu gọi tình nghĩathôi thì không đủ mà còn cần làm cho họ nghĩ đến lợi ích hiện thực Điều

này thể hiện rõ qua thực tế là, khi bàn về lợi ích của Nhật Bản, ông đã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

nghĩ đến thậm chí là tham vọng của nó bành trớng thế lực ra châu á

Trong bức th nói trên có đoạn nh sau: “hiện nay, hoà nghị” (với Nga) đã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

thành, trong nớc vô sự, bậc hùng bá, mu lợc xa, nên khuyếch trơng kịp

thời, sớm bàn cái kế lo xa, khâu viền cả miền Đông Nam Nh thế thì đã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

vặt đợc lông cánh ngời Nga, lại có thể giữ đợc hoà bình ở châu á, khiếncho ngời châu Âu không dám coi châu á là đất thực dân của họ nữa Nh

vậy thì “danh dự của Đế quốc Đại Nhật Bản sẽ chiếm địa vị u đẳng trong cả năm châu” [3; 64].

Ngoài hồi ký về sau của Phan Bội Châu, còn có th từ ông gửi choviên Tổng đốc ngời Trung Quốc và chính khách ngời Nhật Bản Đây làmột thứ văn bản ngoại giao, do đó có thể có ý kiến cho rằng ngôn từ thểhiện ở đây chỉ đợc sử dụng nhằm thuyết phục ngời Trung Quốc và h yã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

Trang 19

xem xét bài thơ tiếng Việt bài ca á tế á phổ biến ở Việt Nam vào khoảngnăm 1905-1906.

Nội dung thơ ca ngợi đất nớc, nhân dân Nhật Bản giàu mạnh vàmiêu tả tình cảnh lầm than rên xiết của Việt Nam dới ách thống trị củaPháp Trong đó có đoạn:

Cờ tự lập đứng đầu phấp phớiNhật Bản kia vốn nớc đồng vănThái Đông nổi hiệu duy tânNhật Hoàng là đấng minh quân ai bì…

… Nhật là họ, Pháp là thù

Mu cao phải học, thù sâu phải đền

Có ngời nói tác giả là Phan, nhng cũng có ngời cho rằng cha rõ tácgiả Nhng có một bài thơ giống nh vậy, mang tựa đề Đề tỉnh quốc dân(đánh thức quốc dân), thờng đợc các sách nghiên cứu của ngời Việt Namdẫn ra Về mặt này, kiến giải của giới sử học Hà Nội nhất trí cho rằngnguyên tác của Phan Bội Châu Điều cần lu ý ở đây là độc giả mà bài thơnày lấy làm đối tợng là ngời Việt Nam Tức là bức thông điệp về một

Nhật Bản nh là một “gia tộc”, một nớc “đồng văn” Hơn nữa, khi gọi Nhật Bản là “gia tộc” của Việt Nam thì đồng thời cũng khơi lên sự tồn tại của

“kẻ thù” Pháp, nớc đối lập với nó.

Trần Văn Giàu, Giáo s sử học nổi tiếng đ chỉ ra rằng có thể nhậnã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

thấy rõ “t tởng chủng tộc” qua chủ trơng của Phan Thực tế, Việt Nam

vong quốc sử viết năm 1905 đ coi sự đối lập giữa Pháp và Việt Nam làã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

sự đối lập giữa “giống ngời da trắng râu rậm mắt xám” và “giống ngời da vàng”, còn Hoà lệ cống ngôn viết năm 1907 lại miêu tả nó nh là sự đối lập giữa “bọn giặc dị chủng” và “đồng bào”.

Việc nhìn nhận sự đối lập giữa Pháp và Việt Nam trong khuôn khổ

của “t tởng chủng tộc” còn đợc mở rộng ra thế giới bên ngoài, gắn với

quan điểm nắm mối quan hệ quốc tế ở Đông á theo công thức đối lậpgiữa Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản và Tây Âu (giữa da vàng và datrắng, giữa á và Âu) Việc mở rộng “t tởng chủng tộc” nh vậy cũng đ đã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời ợc

thể hiện trong th gửi Tổng đốc Sầm viết trên đờng sang Nhật và th gửi

Ôkuma viết ngay sau khi sang Nhật T tởng chủng tộc này là cơ sở củacách suy nghĩ của Phan Bội Châu, cách suy nghĩ coi mối quan hệ giữaPháp và Việt Nam là mối quan hệ đối lập không thể hoà giải Trong Việt

Trang 20

Nam quốc sử khảo Phan Bội Châu đ viết nhã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời sau: “Sách Tây chia nhânchủng ra làm 5 loại là da vàng, da trắng, da đen, da đỏ, da nâu”

Một nguồn gốc khác của “t tởng chủng tộc” ở Phan là khái niệm văn hoá mà một ngời Nho học truyền thống nh ông mang theo Nói là “Đồng văn, đồng chủng, đồng châu” thì ở trờng hợp ông, trong ngôn từ, điều

đặc biết nổi bật vẫn là sự nghiêng về khía cạnh văn hoá

Chẳng hạn Ai việt điếu điền viết năm 1907 đ nêu ra các vùng tiếpã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

giáp với Việt Nam nh Chân Lạp ở phía Nam, Xiêm ở phía Tây, Lỡng Việt(Qu ng Đông, Qu ng Tây) ở phía Bắc, Điền (Vân Nam) ở phía Tây Bắcã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời ã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

và viết rằng, trong đó nớc Xiêm là nớc ở phía Tây sông Mê Công, nhng

với Việt Nam “giới hạn tự nhiên hai bên tách biệt nhau rõ ràng, ngôn ngữ văn tự đều khác nhau, quân sự, kinh tế cũng hoàn toàn khác nhau”,

mặt khác, Chân Lạp thì đ chìm đắm bởi Pháp, giống nòi đ tuyệt,ã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời ã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

không đáng gọi là nớc láng giềng nữa Do vậy “Từ đảo Côn Lôn trở lên Bắc, Ma Thiên Lĩnh trở xuống phía Nam nếu bỏ Lỡng Việt - Điền đi, thì không còn ai là láng giềng của chúng tôi nữa” [2; 44].

Cần chú ý là ở đây đ viết rằng, Xiêm (Thái Lan) hoàn toàn khácã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

với Việt Nam về “ngôn ngữ, văn tự”, về “quân sự, kinh tế”, không thuộc

về một thế giới chung Tức là có thể nói, đối với Phan, khi bàn về “đồng văn, đồng chủng, đồng châu”, khái niệm văn hoá đ nổi bật lên Hay làã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

có thể nói, trong lập luận của ông có khuynh hớng nắm khái niệm “nhân chủng” trớc hết nh là khái niệm văn hoá (Chứ không phải là nhân học tự

nhiên)

Trái lại, Việt Nam quốc sử khảo xuất bản năm 1908 rõ ràng đợc

viết cho độc giả ngời Việt Nam Trong một tiết của sách có viết “Nớc ta cùng với Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Mông Cổ đều là giống ngời

da vàng” Nếu nghĩ rằng Mông Cổ trong trờng hợp này là nói đến triều

Nguyên đ thống trị Trung Quốc và đ Hán hoá về mặt văn hóa thì điềuã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời ã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

đặc trng ở đây là, các nớc hay chủng tộc đợc nêu ra với tính cách là

“giống da vàng” đều là những nớc hoặc chủng tộc chịu ảnh hởng mạnh

mẽ của văn hoá chữ Hán Trái lại, các nớc nằm ngoài cái gọi là vùng vănhoá chữ Hán đều không có mặt ở đây Và nếu xem xét năm tháng viếtcác tác phẩm này, sẽ thấy không chỉ trong thời kỳ đầu sang Nhật, màngay cả giữa và sau thời kỳ ở Nhật Phan vẫn kiên trì bám lấy nhận thức

“đồng văn, đồng chủng”.

Trang 21

Tại sao ông lại nhấn mạnh yếu tố văn hoá? Chắc chắn trớc hết đó

là do nhận thức về thế giới của ông với t cách một nhà Nho học truyền

thống “Đồng văn”, vốn có nghĩa là các quốc gia, dân tộc sử dụng cùng

một thứ văn tự Đối với ông, điều này có nghĩa là cùng có văn hoá chữ

Hán Do vậy, khi bàn đến “đồng văn, đồng chủng, đồng châu”, trớc hết,

ông nghĩ đến Trung Quốc triều Thanh và Nhật Bản Minh Trị Hơn nữa,

nh thể hiện rõ qua Ai Việt điếu Điền đ trình bày ở trên, trong tã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời tởng suynghĩ của Phan Bội Châu thậm chí còn có cả d âm của t tởng Hoa – Ditruyền thống

ý thức “đồng văn” này đ đã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời ợc tăng cờng hơn nữa bằng thể nghiệm

thực tế của Phan sau khi xuất dơng Bớc chân lên đất lạ, hằng ngày buộcphải tiếp xúc với ngời Trung Quốc và ngời Nhật Bản, đối với Phan Bội Châu(trong thời gian đầu cha thông thạo về hội thoại tiếng Nhật Bản và tiếng

Trung Quốc) “đồng văn” thực sự là chỗ dựa duy nhất để đảm bảo phơng tiện

giao tiếp của đất ấy, để nắm đợc ý nhau, ông đ dựa vào bút đàm.ã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

Cái Phan Bội Châu có thể vận dụng đợc khi ở Trung Quốc và NhậtBản không chỉ là tri thức chữ Hán Tức là vấn đề không phải chỉ hiệuquả thực tiễn của việc biết chữ Hán với tính cách một phơng tiện truyền

đạt ý nghĩa và thông tin Điều quan trọng là khi tiếp xúc với các chínhkhách Nhật Bản và Trung Quốc, ông đ có sự giáo dã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời ỡng cần thiết để làm

họ cảm phục đầy đủ Vốn dĩ trong thế giới văn hoá chứ Hán truyềnthống, thứ văn chơng mà ngời có giáo dỡng cần viết phải có yếu tố trithức văn học – lịch sử, hơn thế còn phải có kèm theo cả yếu tố thẩm mỹthể hiện ra qua bút tích Tức là phải hiểu biết, giàu năng lực thông hiểucác tác phẩm cổ điển và các sự tích lịch sử Trung Quốc, phát huy vốn trithức uyên bác đó

Phan Bội Châu là ngời có giáo dỡng xuất sắc trong thế giới văn hoáchữ Hán truyền thống Về điều này, Niên biểu đ kể lại với đôi chút tựã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

hào rằng, khi diện đàn với Inukai và Okuma, theo yêu cầu của bà Inukaicùng có mặt, Phan Bội Châu đ đề vào quạt của bà 8 chữ rút từ một bàiã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời

trong Kinh thi; rằng Lơng Khải Siêu cùng dự đ viết khen ông “ã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời Ngời này rất đáng kính”, rằng Kashimabara Buntato cùng dự, xem những tờ giấy

bút đàm của họ, đ cảm kích viết rằng “ã có quá trình lịch sử phát triển khá lâu đời Thật tuyệt vời nh là đọc truyện hào kiệt xa trong tiểu thuyết vậy” [50-51; 57].

ở đây có thể nghĩ, sở dĩ Phan Bội Châu tạo đợc sự cảm phục ởnhững ngời cùng dự cuộc họp mặt rõ ràng một phần là nhờ học vấn sâu

Ngày đăng: 19/12/2013, 14:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w