1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan hệ kinh tế trung quốc asean từ 1991 đến nay

60 542 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan hệ kinh tế Trung Quốc - ASEAN từ 1991 đến nay
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 490 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong xu hớng liên kết, hợp tác của quốc tế trên cơ sở ổn định, hoà bình, hữu nghị và cùng phát triển, cả Trung Quốc - ASEAN đềumuốn tăng cờng sức mạnh của mình, vì vậy giữa hai bên đã c

Trang 1

Hiện nay, ASEAN nói chung và Trung Quốc nói riêng đang đứng trớcnhững thời cơ mới, vận hội mới và thử thách mới Vậy đứng trớc những cơ hội

và thách thức đó đòi hỏi các quốc gia phải làm gì để đa đất nớc mình thoátkhỏi nghèo nàn lạc hậu, bớc vào cuộc sống giàu có, văn minh Đó là một câuhỏi lớn đợc đặt ra Trong xu hớng liên kết, hợp tác của quốc tế trên cơ sở ổn

định, hoà bình, hữu nghị và cùng phát triển, cả Trung Quốc - ASEAN đềumuốn tăng cờng sức mạnh của mình, vì vậy giữa hai bên đã có quan hệ hợptác trên mọi phơng diện, đặc biệt là trên lĩnh vực kinh tế Sau khi chiến tranhlạnh kết thúc, quan hệ hợp tác kinh tế Trung Quốc - ASEAN đã bớc sang thời

kỳ mới và ngày càng hứa hẹn nhiều triển vọng tốt đẹp Tuy nhiên trong quátrình hợp tác cũng đặt ra cho hai bên những khó khăn, thử thách mới cần đợcgiải quyết trong vấn đề hợp tác kinh tế Do đó, có nhiều vấn đề đợc đặt ra đốivới nền kinh tế của Trung Quốc - ASEAN

Đứng trớc vấn đề đó, việc nghiên cứu mối quan hệ hợp tác giữa TrungQuốc - ASEAN trong lĩnh vực kinh tế là một nhu cầu, một công việc khôngcòn mới mẻ nhng rất cần thiết để chúng ta có một sự hiểu biết nhất định, đểxác định đợc vai trò và vị thế của Trung Quốc cũng nh ASEAN trong khu vực

và cộng đồng quốc tế

Nghiên cứu quá trình hợp tác kinh tế giữa Trung Quốc - ASEAN nhằm

đánh giá những mặt đã làm đợc và tìm ra những hạn chế Đồng thời tìm cáchphát huy những mặt mạnh và khắc phục những mặt hạn chế của nền kinh tếhai bên, hơn nữa trên cơ sở những đánh giá đó để định hớng cho sự hợp tácsắp tới của Trung Quốc - ASEAN

Với t cách là sinh viên khoa Lịch Sử, học tập và nghiên cứu Lịch sử nóichung, chuyên nghành Lịch sử thế giới nói riêng, chúng tôi muốn thông quaviệc tìm hiểu sâu thêm về tổ chức ASEAN cũng nh quan hệ kinh tế giữa TrungQuốc và ASEAN để hiểu thêm đợc mối quan hệ kinh tế này từ sau chiến tranh

Trang 2

lạnh đến nay Mặt khác, Trung Quốc là một nớc có vị trí địa lý gần kề với khuvực Đông Nam á, sự phát triển trong quá khứ và tơng lai đều có mối quan hệnhất định

Với những lý do trên, tôi quyết định chọn vấn đề "Tìm hiểu quan hệ hợp tác kinh tế Trung Quốc và ASEAN từ 1991 đến nay" làm đề tài cho

khoá luận tốt nghiệp của mình

2 Lịch sử vấn đề

Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu mối quan hệ hợp tác TrungQuốc - ASEAN không chỉ đợc các nhà khoa học của hai bên quan tâm mà cònthu hút sự quan tâm của học giả nhiều nớc trên thế giới Tuy nhiên vấn đề hợptác kinh tế Trung Quốc - ASEAN từ 1991 trở về trớc còn rất ít sách đề cập tới

Từ năm 1991 đến nay khi quan hệ hợp tác kinh tế Trung Quốc - ASEAN ngàycàng đợc đẩy mạnh và tăng cờng thì vấn đề này đã đợc nhiều nhà nghiên cứuquan tâm đến Trên cơ sở nội dung vấn đề nghiên cứu, hiện nay có một sốcuốn sách, tạp chí cơ bản viết về vấn đề đó nh sau:

Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Viện Kinh tế thếgiới đã cho ra đời cuốn sách : "35 năm ASEAN hợp tác và phát triển" của TS.Nguyễn Trần Quế chủ biên NXB Khoa học xã hội (Hà Nội - 2003) Cuốnsách đề cập đến quan hệ hợp tác giữa các nớc trong khu vực ASEAN và giữaASEAN và các nớc, các tổ chức ở khu vực và trên thế giới

Hiện nay, trên các tài liệu đặc biệt phục vụ nghiên cứu đã có những bàiviết nh: "Sự tiến triển trong quan hệ hợp tác Trung Quốc - ASEAN” của TrầnKhánh; "Tầm quan trọng của quan hệ Trung Quốc - ASEAN thời kỳ hậu chiếntranh lạnh” của Thái Văn Long; “Trung Quốc - ASEAN trong hội nhập, thửthách mới cơ hôị mới” của Trần Quốc Hùng; “Khu vực thơng mại tự do TrungQuốc - ASEAN (CAFTA) và triển vọng hợp tác ASEAN - Trung Quốc” củaNguyễn Xuân Thắng; "Quan hệ Trung Quốc - ASEAN năm 2000" củaNguyễn Phơng Hoa; "Ngoại giao láng giềng của Trung Quốc sau chiến tranhlạnh" của Lê Văn Mỹ Các công trình này đã khái quát đợc quan hệ kinh tếgiữa Trung Quốc - ASEAN từ sau chiến tranh lạnh đến nay

Thông tấn xã Việt Nam, Viện Nghiên cứu Trung Quốc, Viện Nghiêncứu Đông Nam á, Viện Kinh tế thế giới đã có nhiều bài viết về quan hệ kinh

tế Trung Quốc - ASEAN, đó là Nguyễn Minh Hằng với "Quan hệ kinh tế đốingoại của Trung Quốc thời mở cửa" Lê Hồng Phục - Đỗ Đức Thịnh "Một sốvấn đề kinh tế đối ngoại của các nớc đang phát triển ở châu á" Các bài viết

Trang 3

đó đã khái quát đợc quan hệ đối ngoại của Trung Quốc hiện nay đối với các

n-ớc về kinh tế, trong đó đề cập đến quan hệ kinh tế Trung Quốc - ASEAN, tuynhiên đây cũng chỉ mới là hệ thống dữ liệu khái quát

Nhìn chung, vấn đề quan hệ hợp tác kinh tế giữc Trung Quốc –-ASEAN vẫn

đang đợc giới nghiên cứu quan tâm Song, đó cũng mới chỉ là những bài viếtngắn đăng rải rác trên các tạp chí hay ở những cuốn sách nó cũng chỉ mangtính chất tập hợp những bài viết của nhiều tác giả nên vấn đề quan hệ kinh tếTrung Quốc - ASEAN từ 1991 đến nay nó vẫn cha đợc hoàn chỉnh nh một tàiliệu có hệ thống

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi quyết chọn cho mình đề tài khoá luậntốt nghiệp là “Quan hệ kinh tế Trung Quốc - ASEAN từ 1991 đến nay" Tuynhiên, khi tiến hành nghiên cứu về đề tài do có nhiều hạn chế về mặt t liệu.Bên cạnh đó, bản thân ngời nghiên cứu, trình độ và kinh nghiệm nghiên cứukhoa học còn thiếu, chắc chắn còn mắc nhiều khiếm khuyết Rất mong sự chỉbảo, góp ý của thầy hớng dẫn cũng nh các độc giả quan tâm

3 Đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.

- Đối tợng nghiên cứu của đề tài

Với nguồn t liệu cha có nhiều và việc tìm kiếm tài liệu cũng gặp một sốkhó khăn nhất định, trình độ nghiên cứu còn hạn chế nên không thể trong mộtthời gian hạn hẹp có thể nắm đợc các nguồn thông tin cần thiết Vì vậy khinghiên cứu đề tài này ngời nghiên cứu chỉ nêu ra một cách khái quát quá trìnhhợp tác kinh tế giữa Trung Quốc - ASEAN từ 1991 đến nay Trong đó chủ yếu

đề cập đến những thành tựu của quá trình hợp tác giữa hai bên trong nhữngnăm gần đây Đồng thời đề tài này cũng nêu ra những khó khăn mà hai bênmắc phải trong quá trình hợp tác và nêu ra những giải pháp khắc phục Đề tàicòn thực hiện một nhiệm vụ là nêu ra triển vọng của sự hợp tác kinh tế giữahai bên trong thời gian tới

- Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:

Về nội dung: Đề tài nghiên cứu quan hệ kinh tế của Trung Quốc vớiASEAN từ 1991 đến nay trên lĩnh vực kinh tế Để phục vụ cho nghiên cứu nộidung chính đó, đề tài đi vào nghiên cứu các vấn đề nh:

+ Những nhân tố tác động đến quan hệ kinh tế Trung Quốc - ASEAN

từ 1991 đến nay

+ Quan hệ Trung Quốc - ASEAN từ 1991 đến nay

Trang 4

Bên cạnh đó có cái nhìn tổng thể sâu sắc về quan hệ kinh tế giữa TrungQuốc - ASEAN từ 1991 đến nay Qua cái nhìn tổng thể, toàn diện đó đề tài sẽrút ra đợc nội dung và thực chất quan hệ kinh tế Trung Quốc - ASEAN mộtcách chính xác và khoa học hơn.

Về thời gian: Trên cơ sở tìm hiểu quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc ASEAN từ trớc những năm 1991 Đề tài dành trọng tâm nghiên cứu phạm vithời gian từ 1991 đến nay

-4 Phơng pháp nghiên cứu.

Đây là đề tài mang tính thời sự và nghiên cứu vào thời điểm gần đây.Trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Khoáluận sử dụng phơng pháp truyền thống trong nghiên cứu lịch sử : Phơng pháplịch sử và lôgíc, ngoài ra còn sử dụng phơng pháp thống kê, phơng pháp sosánh với mục đích khái quát những thành tựu hợp tác và phát triển TrungQuốc - ASEAN Mặt khác, với những phơng pháp nghiên cứu này có thể hìnhthành một cách hệ thống vấn đề nghiên cứu để thấy đợc sự phát triển của vấn

đề một cách đầy đủ nhất

5 Cấu trúc.

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Nội dung của đề tài tập gồm 3 chơng:

Chơng 1: Những nhân tố tác động đến quan hệ kinh tế Trung Quốc ASEAN từ 1991 đến nay

-Chơng 2: Quan hệ kinh tế Trung Quốc - ASEAN từ 1991 đến nay Chơng 3: Đánh giá chung về quan hệ kinh tế Trung Quốc - ASEAN trong thời gian từ 1991 đến nay.

Trang 5

NộI DUNG

Chơng 1 Những nhân tố tác động đến quan hệ kinh tế Trung Quốc - ASEAN từ 1991 đến nay

1.1 Sự hình thành Hiệp hội các nớc Đông Nam á (ASEAN) và những nhân tố tác động đến quan hệ kinh tế Trung Quốc - ASEAN

1.1.1 Sự hình thành Hiệp hội các nớc Đông Nam á (ASEAN)

Từ sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, chủ nghĩa khu vực đã đợchình thành và phát triển nhanh chóng Nhiều tổ chức đã xuất hiện nh: Liên

đoàn ả Rập (1945); Tổ chức các nớc Trung - Mỹ (1951); Thị trờng chungchâu Âu (1957); Tổ chức đoàn kết châu Phi (1963)

Tình hình đó đã tác động đến Đông Nam á Ngày 8 - 8 - 1967 Hiệp hộicác nớc Đông Nam á đã đợc thành lập tại Băng Cốc (Thái Lan)

Đến 1965, trừ Brunây còn lại hầu hết các nớc Đông Nam á đã giành đợc

độc lập Các nớc này sau khi giành đợc độc lập rất chú trọng phát triển kinh tếbớc đầu đạt những kết quả khả quan Tuy nhiên, nhìn chung các nớc này đều

đứng trớc những thử thách về kinh tế - chính trị trong nớc và những thử tháchlớn cho nền độc lập của mình Vì vậy, nhu cầu tập hợp nhau dới hình thức một

tổ chức để đối phó với các thách thức trên càng trở nên cấp bách

Cuối 1966, Ngoại trởng Thái Lan đã gửi đến các ngoại trởng Inđônêxia,Malaixia, Philippin và Singapo bản dự thảo về việc tổ chức “Hội các quốc gia

Đông Nam á về hợp tác khu vực’’

Sau nhiều cuộc thảo luận tháng 8 - 1967 ngoại trởng 5 nớc Thái Lan,Inđônêxia, Malaixia, Philippin và Singapo đã họp tại Băng Cốc (Thái Lan) vàngày 8 - 8 - 1967 đã tuyên bố về việc thành lập Hiệp hội các nớc Đông Nam á(ASEAN) Lúc đầu thành lập ASEAN mới chỉ có 5 nớc Đến ngày 7 - 1 - 1984tại một nghi lễ trọng thể ở Giacacta (Inđônêxia) Brunây chính thức là thànhviên thứ 6 của ASEAN Ngày 28 - 7 - 1995 Hội nghị Ngoại trởng các nớcASEAN lần thứ 28 tại Brunây đã chính thức kết nạp Việt Nam là thành viênthứ 7 của ASEAN Tháng 7 - 1997 Lào và Mianma trở thành thành viên thứ 8

và thứ 9 của ASEAN Ngày 30 - 4 - 1999 Campuchia đợc kết nạp và trở thànhthành viên thứ 10 của ASEAN

Nh vậy, từ chỗ chỉ có 5 thành viên đến tháng 4 - 1999 ASEAN đã làmột tổ chức với đầy đủ các thành viên trong khu vực tham gia Nó mở ra thời

Trang 6

kỳ mới, thời kỳ mở rộng quan hệ hợp tác với các nớc trong khu vực cũng nhtrên thế giới.

1.1.2 Các yếu tố chi phối quan hệ kinh tế Trung Quốc - ASEAN.

Gần 40 năm hoạt động tổ chức ASEAN đã đạt đợc nhiều thành tựu đáng

kể Ngoài sự hợp tác tất cả mọi mặt giữa các nớc thành viên với nhau, tổ chứcASEAN còn đẩy mạnh quan hệ hợp tác với các tổ chức, các nớc lớn trong khuvực châu á và trên thế giới, trong đó có Trung Quốc

Khác với mối quan hệ song phơng khác, quan hệ giao bang giữa TrungQuốc và ASEAN luôn là vấn đề nhạy cảm, mang tính đặc thù và bị chi phốisâu sắc bởi di sản lịch sử, yếu tố địa - chính trị, môi trờng kinh doanh trong n-

Sa Sự hiện diện của cộng đồng ngời Hoa (khoảng trên 30 triệu ngời ở ĐôngNam á) với khả năng kinh tế hùng hậu lại có quan hệ mật thiết với thực thểngời Hoa ở Hồng Kông, Macao, Đài Loan và ngày càng tiếp xúc chặt chẽ hơnvới Trung Quốc lục địa càng làm tăng thêm các mối quan hệ giữa Đông Nam

á và Trung Quốc

Tiếp theo, yếu tố địa - chính trị cũng ảnh hởng không nhỏ đến quan hệTrung Quốc - ASEAN Bởi nằm trên vị trí địa lý trọng yếu, trên con đ ờnggiao lu bằng đờng biển giữa Thái Bình Dơng - ấn Độ Dơng, giữa châu Đại D-

ơng và khu vực Đông á, là nơi giàu có về tài nguyên thiên nhiên, nên từ lâu

Đông Nam á trở thành địa bàn tranh chấp ảnh hởng giữa các nớc lớn trên thếgiới Do sự tranh đua của hai siêu cờng Xô - Mỹ và mẫu thuẫn của trục tamgiác chiến lợc Xô - Mỹ - Trung chi phối, Đông Nam á trong chiến tranh lạnh

bị phân chia thành 2 trận tuyến đối lập nhau về ý thức hệ chính trị - t tởng vàquân sự Một bên là ba nớc Đông Dơng (Việt Nam - Lào - Campuchia) và bênkia là các thành viên ASEAN cũ Sự phức tạp này ảnh hởng không nhỏ đến

đoàn kết nội bộ ASEAN và đến quan hệ của từng nớc thành viên ASEAN vớiTrung Quốc

Thành tựu tăng trởng kinh tế cao và liên tục của các nớc ASEAN làmtăng thêm tiềm năng và ý chí mở của hội nhập của ASEAN, tạo thêm động lực

Trang 7

thúc đẩy liên kết khu vực và hợp tác quốc tế của ASEAN trong có quan hệTrung Quốc - ASEAN.

Hiện nay, Đông Nam á là khu vực đợc coi là thị trờng đầu t của các

n-ớc do sự ổn định và phát triển của nó, nguồn đầu t từ bên ngoài vào khu vựcngày càng tăng đã có tác động lớn đối với sự phát triển của Đông Nam á cả

về giao lu kinh tế và khoa học - kỹ thuật

Sự phát triển của các nớc Đông Nam á hiện nay đợc đánh giá rất cao cả

về quy mô và thực lực, nó có vai trò độc đáo với châu á - Thái Bình Dơng, ýthức độc lập tự chủ và cùng chung tiếng nói đã ngày càng nâng cao uy tín và

ảnh hởng quan trọng của Đông Nam á, đặc biệt là Đông Nam á ngày càngtạo nên sức hấp dẫn đối với thế giới

Về phía Trung Quốc, sự kết hợp sức mạnh vật chất nh thị trờng tiêu thụtrong nớc khổng lồ, hàng hoá sản xuất có giá rẻ, chất lợng tơng đối tốt, vốn dựtrữ ngoại tệ khổng lồ (đứng thứ 2 thế giới, sau Nhật Bản) đợc sự hởng ứng tíchcực hiệu quả của mạng lới kinh doanh ngời Hoa Với uy tín cao về chính trịcho phép quốc gia này tăng nhanh hơn ảnh hởng vào tiềm lực của mình trêntrờng quốc tế mà trớc hết là trong khu vực ASEAN

Bối cảnh quốc tế gần đây cũng tác động không nhỏ đến quan hệ giaobang trên thế giới nói chung và Trung Quốc - ASEAN nói riêng Trong khi

Mỹ bận rộn với mục tiêu “Dân chủ hoá toàn cầu” làm "Cảnh sát" thế giới thìphần lớn các nớc ASEAN lại giành mục tiêu phục hồi, phát triển kinh tế.Không ít các nớc này tỏ ra bối rối hay ít nhiệt tình trong việc hợp tác với Mỹchống khủng bố, trong khi đó Trung Quốc trở nên hùng mạnh, chủ động mởrộng hợp tác song phơng cũng nh đa phơng với các nớc và với tổ chứcASEAN nhờ vậy uy tín của Trung Quốc tăng nhanh Nhiều nớc ASEAN, trong

đó có cả những ngời Hồi giáo trớc đây rất cảnh giác với Trung Quốc giờ cũngtrở nên quan hệ mật thiết với nớc láng giềng đang trỗi dậy này

Ngoài những yếu tố trên, sự giống nhau tơng đối về trình độ phát triển,chính sách kinh tế, cơ cấu ngành, các mặt hàng, đối tác xuất nhập khẩu và đầu

t về tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực cũng tác động đến quan hệ kinh tếTrung Quốc - ASEAN

Cả 2 thực thể này có nguồn lao động dồi dào, rẻ, nguồn tài nguyênthiên nhiên tơng đối phong phú và đều hớng sản phẩm của mình sang thị trờngTây Âu và Bắc Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và luôn tìm cách thu hút đầu t từ nớcngoài, do đó làm tăng tính năng cạnh tranh giữa họ với nhau Tuy vậy, họ luôn

có nhu cầu trao đổi hàng hoá, đầu t, du lịch không chỉ nhằm đa dạng hoá, khai

Trang 8

thác các cơ hội làm ăn mà còn củng cố quan hệ láng giềng thân thiện, hợp táccùng phát triển.

1.2 Khái quát quan hệ hợp tác kinh tế Trung Quốc - ASEAN từ những năm trớc 1991

Do nền tảng t tởng của ASEAN lúc mới ra đời (1967) thiên về chốngcộng sản nên Trung Quốc giống nh hầu hết các nớc chủ nghĩa xã hội khác coiASEAN nh một tổ chức quân sự trá hình, lập ra để thay thế SEATO do Mỹdựng nên từ những năm 50 của thế kỷ XX Lúc đó t tởng chống chủ nghĩaMao trở thành một trong những u tiên hàng đầu trong chính sách ngoại giaocủa ASEAN

Nhng sau sự kiện Mao Trạch Đông gặp Nicxơn (1972) tại Thợng Hải,

đặc biệt sau thắng lợi của cách mạng Việt Nam 1975 Trung Quốc bắt đầunhìn nhận vấn đề khác đi về vai trò và mục tiêu của ASEAN dẫn đến hởng ứngnhiều sáng kiến mà tổ chức này đề ra, đặc biệt trong các vấn đề an ninh khuvực và quốc tế Biểu hiện rõ nhất về sự dịch chuyển này là Thái Lan vàPhilippin, hai nớc hàng đầu của ASEAN vào năm 1975 thiết lập quan hệ ngoạigiao chính thức với Trung Quốc

Những biến động mang tính khủng hoảng ở Đông Dơng liên quan đếnnạn kiều và “Vấn đề Campuchia" cuối những năm 70 của thế kỷ XX làm choquan hệ Trung Quốc - ASEAN trở nên cải thiện nhanh Nếu nh trớc nhữngnăm 1978 các nớc ASEAN cả Cộng hoà nhân dân Trung Hoa trong đó có cảcác phần tử du kích quân mao - ít tại Đông Nam á là mối đe doạ nguy hiểmnhất đối với hoà bình, ổn định của ASEAN thì sau đó “Mối de doạ từ Liên xô -Việt Nam nhiều hơn, trực tiếp hơn” thời gian này ASEAN đã công khai lập tr-ờng của Trung Quốc chống Việt Nam trên mọi phơng diện Cụ thể, cuối 1978trở đi, các nhân vật cấp cao Trung Quốc, trong đó có Đặng Tiểu Bình, LýBằng lần lợt đi thăm chính thức nhiều nớc thành viên ASEAN, nh Thái Lan,Singapo, thời gian này quan hệ thơng mại Trung Quốc - ASEAN có dấu hiệukhởi sắc

Những năm trớc 1978, những ngời lãnh đạo Trung Quốc đã nóng vộimuốn đa đất nớc phát triển nhanh chóng, đồng thời đuổi kịp và vợt các nớckhác, từ đó lên chủ nghĩa xã hội, nhng dới sự chỉ đạo sai lầm đó đã làm chonền kinh tế Trung Quốc bị rối loạn và sa sút nặng nề, việc thực hiện “Ba ngọn

cờ hồng” và “Cách mạng văn hoá” cùng với những vấn đề phức tạp về chính trịTrung Quốc dẫn đến sự cản trở vô cùng lớn đối với sự phát triển kinh tế Trung

Trang 9

Quốc Thực tế đó đã trở thành mối lo ngại, sự thách thức với Trung Quốc khi

họ đối mặt với tình hình thế giới, do vậy đòi hỏi cấp bách đối với Trung Quốclúc này là phải tiến hành cải cách Từ sau 1978 với việc thực hiện chính sách

mở cửa của Trung Quốc đạt tốc độ tăng trởng kinh tế mạnh mẽ cha từng có,

mở ra thời kỳ huy hoàng và thịnh vợng trong lịch sử, đa Trung Quốc hoà nhậpvới thế giới hiện đại

Đến thập kỷ 80 của thế kỷ XX, do việc thực hiện chính sách cải cách

mở cửa, Trung Quốc rất cần thu hút vốn, kỹ thuật kinh nghiệm quản lý Đóchính là động cơ để Trung Quốc hớng tới tăng cờng cải thiện quan hệ hợp tácvới các nớc ASEAN coi đây là hớng mở quan trọng của Trung Quốc ở châu á

- Thái Bình Dơng Tuy vậy, trong thời kỳ này, quan hệ Trung Quốc - ASEANvẫn mới chỉ là bớc đầu, rất dè dặt và mang tính chất quan hệ kinh tế đơn thuần

do đó chính sách của Trung Quốc với các nớc Đông Nam á trong những nămtrớc 1989 là phụ thuộc hoàn toàn vào mục tiêu chiến lợc của Trung Quốc,thực hiện t tởng chủ nghĩa nớc lớn, bành trớng bá quyền bằng mọi hình thức,chính vì vậy mà chính sách cũng nh những nớc cờ lắt léo đầy quanh co phứctạp, điều chỉnh theo những biến đổi của tình hình quốc tế và sự tác động của

nó về mục tiêu chiến lợc của Trung Quốc, sự xoay vần cũng đã tạo nên nhữngbiến động bất thờng trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc đối vớiASEAN

1.3 Sự điều chỉnh chính sách của Trung Quốc với ASEAN sau chiến tranh lạnh

Cục diện thế giới sau chiến tranh lạnh cũng có nhiều thay đổi nhanhchóng Xu thế đối đầu về chính trị quân sự trên phạm vi toàn cầu tạm thời dịu

đi, thay vào đó là chiến lợc đối thoại củng cố hoà bình, phát triển kinh tếkhẳng định mình Đặc biệt là thành quả của các cuộc cách mạng khoa học -

kỹ thuật mở ra một cuộc chạy đua toàn cầu về kinh tế và việc áp dụng khoa

Trang 10

học - kỹ thuật vào phát triển kinh tế Trong điều kiện đó không có nớc nào cóthể tự vận động phát triển mà không có sự giao lu, liên minh, liên kết với thếgiới bên ngoài Nhu cầu đó tạo nên xu hớng quốc tế hoá, toàn cầu hoá và pháttriển các tổ chức liên minh hợp tác quốc tế về tất cả mọi mặt nh: Khối thị tr-ờng chung châu Âu; Khối ASEAN; Khối Liên minh kinh tế Mỹ - Canađa.

Tình hình và xu thế mới của thế giới nh vậy đã buộc các nớc muốn tồntại, phát triển và khẳng định mình thì tất yếu phải có sự điều chỉnh hợp lýchính sách đối ngoại cũng nh chiến lợc phát triển kinh tế, đặt sự phát triểnkinh tế lên mục tiêu hàng đầu, cấp thiết nhất trong đó đối thoại hợp tác là mộtmục tiêu là điều kiện quan trọng nhất

Xu thế toàn cầu hoá kinh tế là xu thế mạnh nhất, toàn cầu hoá là kếtquả tất yếu và yêu cầu khách quan của việc phát triển lực lợng sản xuất nh:Vốn, kỹ thuật, tri thức trên phạm vi toàn thế giới Toàn cầu hoá kinh tế đem

đến một điều kiện vật chất thuận lợi cha từng có cho sự phát triển kinh tế toàncầu Trong đó các nớc đều đợc bình đẳng cùng có lợi, cùng tồn tại Vì vậy cácquốc gia đang thúc đẩy kinh tế toàn cầu phát triển có lợi cho sự phát triểnchung, tranh thủ cơ hội, loại bỏ rủi ro khiến cho các nớc đặc biệt là những nớc

đang phát triển cũng sẽ thu đợc những lợi ích Mặt khác trong xu thế toàn cầuhoá nền kinh tế thế giới các quốc gia càng lệ thuộc vào nhau nhiều hơn, anninh của mỗi nớc nằm trong nền an ninh chung mà an ninh có ổn định thì kinh

tế mới phát triển lên đợc Do vậy, càng phải duy trì và tăng cờng quan hệ lánggiềng hữu hảo

Đầu những năm 90 của thế kỷ XX sự đối đầu hai cực Xô - Mỹ khôngcòn tồn tại, thế giới phát triển theo hớng đa cực, chủ nghĩa bá quyền và chínhtrị cờng quyền trong quan hệ kinh tế - chính trị thế giới ngày càng bị nhân dânphản đối quyết liệt Nhng Mỹ với t cách là siêu cờng duy nhất thế giới, xuấtphát từ lợi ích của mình đã âm mu ngăn chặn sự ra đời của trật tự thế giới mớinhằm mục đích xng bá thiên hạ, tình hình đó cần phải xác định một trật tự thếgiới công bằng hợp lý hơn Về kinh tế, các quốc gia nên mở rộng giao l u hợptác trên các lĩnh vực khoa học, kinh tế, tiền tệ, mậu dịch thúc đẩy lẫn nhaucùng phát triển, không tạo thêm khoảng cách giữa giàu nghèo

Trên thế giới có hơn 250 quốc gia, hơn 2500 dân tộc và khoảng 6,1 tỷngời Quan niệm giá trị truyền thống lịch sử tôn giáo tín ngỡng và nền tảngvăn hoá giữa các nớc tồn tại sự khác biệt lớn, nhng nó đều là kết tinh của trithức nhân loại Vì thế mà văn hoá các quốc gia nên học hỏi lẫn nhau, cùngnhau phát triển chứ không nên bài xích nền văn hoá của các dân tộc khác

Trang 11

1.3.2 Nhu cầu hợp tác của hai bên.

1.3.2.1 Trung Quốc.

Là một quốc gia có lãnh thổ rộng lớn, có đờng biên giới rất dài, xungquanh Trung Quốc liền kề với 15 nớc láng giềng trên đất liền và 8 quốc gialáng giềng trên biển, với khoảng 2 tỷ dân chiếm chừng 40% dân số toàn cầu[12] Quan niệm an ninh của Trung Quốc cho rằng sự thay đổi của tình hìnhcác nớc xung quanh cũng nh quan hệ tốt xấu giữa Trung Quốc với các nớcxung quanh sẽ ảnh hởng trực tiếp đến an ninh quốc gia phát triển kinh tế và ổn

định xã hội của Trung Quốc

Mặt khác, nớc này đang xây dựng một quốc gia có tầm cỡ thế giới vì

họ là thành viên của câu lạc bộ hạt nhân toàn cầu, là uỷ viên thờng trực củaHội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, có vai trò quan trọng trong lĩnh vực đầu t,thơng mại thế giới, có công việc to lớn đối với quốc tế cũng nh khu vực Đồngthời Trung Quốc là nớc xã hội chủ nghĩa, nớc đang phát triển lớn nhất Mặc

dù thu nhập bình quân đầu ngời còn thấp nhng không vì thế mà Trung Quốcthua kém các nớc, nhất là các nớc trong khu vực Trung Quốc chỉ là nớc đúngsau Mỹ - Nga trong lĩnh vực chinh phục vũ trụ, là nớc lớn về khai thác biển,

đang tiến nhanh sang lĩnh vực năng lợng nguyên tử, khai thác tài nguyên NamCực, có trọng trách trong an ninh toàn cầu Chính vì thế để tăng cờng ảnh h-ởng, quyền phát ngôn của mình Trung Quốc quan tâm xây dựng mối quan hệhợp tác với các nớc láng giềng và các nớc khác trên thế giới

Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ 14 của Đảng Cộng SảnTrung Quốc năm 1992 trong phần nói về quan hệ với các nớc láng giềng,Trung Quốc đã đánh giá “Quan hệ láng giềng hữu nghị thân thiện với các nớcxung quanh ta ở vào thời kỳ tốt nhất từ khi thành lập cho đến nay” [12]

Báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ 15 của Đảng Cộng Sản TrungQuốc 1997 nhấn mạnh “Cần phải kiên trì quan hệ hữu nghị láng giềng thânthiện Đây là chủ trơng nhất quán của nớc ta, quyết không thay đổi Đối vớinhững vấn đề tranh chấp giữa nớc ta với các nớc láng giềng cần phải xuất phát

từ đại cực giữ gìn hoà bình và ổn định thông qua hiệp thơng và đàm phán hữunghị để giải quyết Nếu ngay một lúc không thể giải quyết đợc có thể tạm gác,cầu đồng tồn dị" [12]

Báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ 16 của Đảng Cộng Sản TrungQuốc năm 2002 cũng chỉ rõ “Hoà bình phát triển vẫn là chủ đề hiện nay.Chúng ta tiếp tục tăng cờng quan hệ giao hữu láng giềng, kiên trì thân thiện

Trang 12

với các nớc láng giềng làm đối tác quan trọng, tăng cờng hợp tác khu vực đaquan hệ giao lu hợp tác với các nớc xung quanh cùng phát triển" [12].

Qua ba Đại hội ta thấy rằng chính sách ngoại giao láng giềng của TrungQuốc mang tính liên tục, có bớc phát triển ngày càng cụ thể và đợc tiến hànhlần lợt, từng bớc vào thời cơ thích hợp với các nớc láng giềng

Sau khi giải quyết cơ bản mối quan hệ với các nớc láng giềng ở phíaBắc, Đông - Tây Nam thì Đông Nam á trở thành hớng đột phá tiếp sau để mở

đờng cho Trung Quốc đi vào khu vực và đi ra thế giới Vì vậy sự lựa chọnASEAN là hợp lý nhất, thiết yếu nhất

Mặt khác, từ sau 1978 với việc thực hiện chính sách mở cửa, hiện đạihoá đất nớc Trung Quốc đã từng bớc đa nền kinh tế của mình biến đổi về chất.Công cuộc cải cách mở cửa đã đem đến tốc độ tăng trởng kinh tế mạnh mẽ ch-

a từng có mở ra thời kỳ huy hoàng, thịnh vợng nhất trong lịch sử Trung Quốc

để cùng hoà nhập với thế giới hiện đại Thành tựu phát triển kinh tế đợc biểuhiện một cách toàn diện trên các lĩnh vực công - nông nghiệp cùng với việc ápdụng khoa học - kỹ thuật tiên tiến, công nghệ hiện đại Đặc biệt chính sách

mở cửa của Trung Quốc đã thúc đẩy nhanh hơn quá trình phát triển giao lukinh tế, đối ngoại Năm 1990 so với năm 1980 kinh tế tăng 17,5% Thực tế thuhút đầu t trực tiếp ngoại thơng là 18,98 tỷ USD Bên cạnh đó việc thu hút mộtloạt kỹ thuật tiên tiến của nớc ngoài đã thúc đẩy sự nâng cao của trình độ sảnxuất trong nớc

Sự phát triển của Trung Quốc đã nâng thực lực đất nớc lên một cách

rõ rệt Tổng giá trị sản xuất quốc dân từ 447 tỷ Nhân Dân Tệ năm 1980 lên

1740 tỷ Nhân Dân Tệ năm 1990 Năm 1990 thu nhập quốc dân từ 368,8 tỷNhân Dân Tệ lên 447 tỷ Nhân Dân Tệ/ năm, bình quân mỗi năm tăng 8,7%.Tổng giá trị sản xuất quốc dân năm 1991 đạt 1958 tỷ Nhân Dân Tệ, đứng thứ

ba thế giới Sức mạnh tổng hợp của Trung Quốc đã bớc lên hàng thứ 6 của thếgiới

Nổi lên trong sự phát triển của Trung Quốc là những trung tâm kinh tếmới do chính sách năng động và phát triển kinh tế khu vực, mở cửa kinh tếven biển của nớc mình Những trung tâm kinh tế nh: Thẩm Quyến, vùng kinh

tế Miền Đông, Miền Tây, Miền Trung đang đổi mới mạnh mẽ với nhữngchính sách mở cửa Đây là yếu tố quan trọng để Trung Quốc điều chỉnh chínhsách của mình nói chung và với khu vực Đông Nam á nói riêng nhằm giao lukinh tế khoa học - kỹ thuật, phạm vi ảnh hởng để khẳng định vị trí và vai tròcủa mình ở khu vực cũng nh trên thế giới

Trang 13

1.3.2.2 Phía ASEAN

ASEAN là một liên minh mang tầm quốc tế Lúc đầu là 5 nớc (1967)

đến năm 1999 đã hội tụ đầy đủ 10 thành viên trong khu vực Đông Nam á, vớihơn 500 triệu dân, tài nguyên thiên nhiên phong phú, GDP toàn khu vực đạtkhoảng 800 tỷ USD (2002) Đông Nam á là nơi trung tâm của các tuyến đờnghuyết mạch và là con đờng nhập khẩu hàng hoá nguyên liệu chiến lợc của Mỹ,Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Ôxtrâylia, và nhiều nớc khác

Đông Nam á nằm ở vị trí chiến lợc quốc tế, trong con đờng hàng hải vàhàng không quốc tế Trong thời kỳ chiến tranh lạnh đây là nơi đụng đầu lịch

sử giữa các lực lợng chính trị, quân sự thế giới

Đông Nam á là khu vực giàu tài nguyên nền kinh tế đang phát triển vớinguồn tài nguyên chiến luợc quan trọng Đông Nam á là khu vực có tầm quantrọng đặc biệt về địa - chiến lợc và địa - kinh tế, khu vực này nắm dữ nguồntài nguyên dồi dào nh: dầu mỏ, khoáng sản, thuỷ sản, khí ga tiềm năng kinh

tế mặt đất, trong lòng biển của khu vực mới chỉ bắt đầu đợc khai thác, vì vậy

Đông Nam á là nơi cung cấp nguyên liệu quan trọng cho thế giới

Do có vị trí chiến lợc nên Đông Nam á sớm chịu sức ép bên ngoài, nằmtrong sự chi phối chung của tình hình thế giới Đông Nam á sau chiến tranhlạnh đã có sự chuyển mình về mọi mặt Sự ổn định của chiến trờng đã loại trừcăng thẳng đối kháng trong khu vực, tạo điều khiện cho Đông Nam á đẩymạnh sự tăng cờng hợp tác và phát triển trong khối ASEAN ngày càng đem lạitriển vọng, nhất là về tốc độ tăng trởng kinh tế

Sau chiến tranh lạnh, Đông Nam á đợc đánh giá là khu vực có tốc độtăng trởng đứng đầu thế giới Sự mở rộng liên kết của khu vực, mở rộng quan

hệ đối ngoại thu hút đầu t, tích cực phát triển kinh tế công nghiệp đã tạo điềukiện cho Đông Nam á phát triển kinh tế một cách nhanh chóng Trong đóThái Lan, Malaixia, Inđônêxia là ba nớc có tốc độ tăng trởng kinh tế caonhất, đợc Ngân hàng thế giới xếp vào hạng các nớc công nghiệp hoá trỗi dậy

Trên bán đảo Đông Dơng trong bối cảnh hoà bình, kinh tế đã phát triểnnhanh chóng Việt Nam sau khi tiến hành mở cửa và đổi mới cơ chế, kinh tếliên tục tăng với tốc độ cao, đầu t nớc ngoài liên tiếp hớng vào Việt Nam nhmột thị trờng hấp dẫn Lào cũng bắt đầu tiến hành mở cửa, nền kinh tế củaLào tăng trởng tơng đối nhanh Campuchia cũng bắt đầu xây dựng lại đất nớccùng với sự trợ giúp của cộng đồng quốc tế đa nền kinh tế từng bớc phát triển

Trang 14

Mianma là nớc từng bế quan toả cảng và bị cô lập song do sự tác độngmạnh mẽ của trào lu mở cửa ở Đông Nam á, Mianma cũng bắt đầu mở cửahoà nhập với khu vực

Sự phát triển nhanh của nền kinh tế Đông Nam á càng thúc đẩy quátrình hợp tác kinh tế, hợp tác chính trị khu vực ASEAN mở rộng từ ASEAN -

6 lên ASEAN - 10 đã tăng cờng thực lực cho Đông Nam á trong các lĩnh vực,

đặc biệt là địa vị chính trị, kinh tế của khu vực Đông Nam á tại châu á - TháiBình Dơng Quá trình liên kết có tính khu vực toàn Đông Nam á đã đợcASEAN quyết định tại Hội nghị cấp cao ASEAN tổ chức lần thứ t ở Singapo,bằng cách Hội nghị này đã xây dựng thị trờng thống nhất phi thuế quan: Khumậu dịch tự do ASEAN (AFTA:ASEAN Free Trade Area) làm tăng tính hấpdẫn mạnh mẽ của khu vực

Hiện nay, Đông Nam á là khu vực đợc coi là thị trờng đầu t của các

n-ớc do sự ổn định và hấp dẫn của nó Nguồn đầu t từ bên ngoài vào khu vựcngày càng tăng đã có tác động lớn đối với sự phát triển của Đông Nam á cả

về kinh tế và giao lu khoa học - kỹ thuật

Sự phát triển kinh tế của các nớc Đông Nam á hiện nay đợc đánh giárất cao cả về quy mô và thực lực Vai trò độc đáo của khu vực châu á - TháiBình Dơng, ý thức độc lập tự chủ và cùng chung tiếng nói đã ngày càng nângcao uy tín và ảnh hởng quốc tế của Đông Nam á, đặc biệt là Đông Nam ángày càng tạo nên sức hấp dẫn với thế giới

Tất cả những điều đó đã tác động không nhỏ đến chính sách của TrungQuốc sau chiến tranh lạnh Trung Quốc với t cách là một nớc lớn đã hởng ứng

1.4.1 Tính cấp thiết

Do nhu cầu của mỗi nớc thành viên ASEAN cũng nh Trung Quốc trongquá trình hội nhập mở cửa khu vực và thế giới Trung Quốc - ASEAN đều cónguyện vọng hoà bình ổn định để phát triển đất nớc, lấy phát triển kinh tế làm

Trang 15

mục tiêu hàng đầu góp phần ổn định khu vực Đông Nam á, châu á - TháiBình Dơng

Các nớc ASEAN đã đẩy nhanh quá trình nhất thể hoá khu vực (ASEAN+10) xoá bỏ tình trạng đối đầu giữa ASEAN và Đông Dơng trong chiến tranhlạnh, sự thống nhất cùng một tổ chức giúp các nớc thành viên ASEAN cónhiều cơ hội phát triển, hỗ trợ lẫn nhau về kinh tế, lẫn an ninh quốc phòng,giúp cho các nớc thành viên nâng cao vị thế trong cạnh tranh giao lu quốc tế.ASEAN mở rộng quan hệ hợp tác với Trung Quốc nhiều mặt, tạo nên sự cânbằng trong mối quan hệ với các nớc lớn tại khu vực, mở đầu tiến trình đi vàothị trờng láng giềng có tiềm năng to lớn vào bậc nhất thế giới, tạo tiền đề chophát triển và đa nền kinh tế từng quốc gia thành viên hội nhập với quốc tế

Đối với Trung Quốc sự phát triển của ASEAN đặc biệt là xu thế đoànkết, hợp tác thể hiện trong việc mở rộng ASEAN ra toàn Đông Nam á, vì vậythúc đẩy xu thế đối thoại hợp tác giữa Trung Quốc với tổ chức này Hợp tácphát triển là một nhu cầu thiết thực của Trung Quốc vì trên thực tế các nớc lớn

đều chú trọng và phát huy vai trò, chỗ dựa chiến lợc của các nớc láng giềng,

họ luôn coi đây là điểm khởi đầu trong chính sách nớc lớn của mình Vì vậyASEAN trở nên rất quan trọng đối với Trung Quốc trong quá trình phát triển Sức ép của quá trình khu vực hoá, toàn cầu hoá đối với các quốc gia đangphát triển, cụ thể nh: sự ra đời của Tổ chức thơng mại thế giới (WTO), sự pháttriển của các thị trờng lớn nh EU, NAFTA, Nhật Bản, Trung Quốc đã tạo rasức ép lớn buộc ASEAN cũng nh Trung Quốc phải đẩy nhanh quá trình tự dohoá thơng mại và hội nhập, nếu không thì những lợi thế của họ sẽ ngày cànggiảm thiểu so với các thị trờng lớn Hiện nay ASEAN vẫn là một tổ chức củacác quốc gia đang phát triển, do vậy tiềm lực và trình độ phát triển kinh tế, kỹthuật đều thua kém các trung tâm kinh tế khác Sức hút kinh tế, kỹ thuật củacác trung tâm kinh tế khác đối với các thành viên ASEAN đều lớn hơn sức hútcủa chính ASEAN Hiện nay mức buôn bán giữa ASEAN với nhau nhỏ hơnnhiều lần so với của ASEAN với các trung tâm kinh tế khác

Mặt khác, tốc độ tăng trởng nhanh của Trung Quốc đòi hỏi nớc nàyphải mở rộng hơn nữa địa bàn tiêu thụ sản phẩm mở rộng thị trờng nguyênnhiên liệu về mặt hàng này ASEAN là địa chỉ đáp ứng nhu cầu của TrungQuốc một cách nhanh chóng nhất, hiệu quả nhất

Đòi hỏi của môi trờng hoà bình, an ninh chung trong khu vực tạo điềukiện cho các nớc ASEAN cũng nh Trung Quốc cùng phát triển

Trang 16

Tóm lại, sự gia tăng các quá trình hợp tác Trung Quốc - ASEAN sauchiến tranh lạnh là một nhu cầu cấp thiết của mỗi thành viên ASEAN cũng

nh Trung Quốc, các bớc hợp tác là những bớc giải toả của sức ép khu vực hoá,toàn cầu hoá lên từng quốc gia

1.4.2 Tầm quan trọng quan hệ hợp tác kinh tế Trung Quốc ASEAN

Trong lịch sử, quan hệ giữa các nớc đợc duy trì và phát triển dựa trênlợi ích thực tế mà mỗi nớc thu nhận đợc từ những mối quan hệ ấy Trung Quốc

- ASEAN cũng không nằm ngoài nguyên tắc này Mặt khác, quan hệ TrungQuốc - ASEAN có tầm quan trọng đặc biệt trong sự phát triển của mỗi nớc

Quan hệ Trung Quốc - ASEAN tạo tiền đề cho sự phát triển nhanh vềkinh tế, chính trị, văn hoá, khoa học - công nghệ cho cả Trung Quốc -ASEAN

Về kinh tế: Có sự bổ sung cho nhau rất lớn giữa Trung Quốc - ASEAN.Tuy Trung Quốc tơng đối đầy đủ chủng loại tài nguyên nh: một số loại than,kim loại màu nhng mức bình quân theo đầu ngời chỉ bằng 1/2 thế giới Vềdầu mỏ trong thập niên 90 của thế kỷ XX Trung Quốc mới tạm thoả mãn nhucầu trong nớc Trung Quốc đã và sẽ phải nhận nhiều hơn dầu mỏ từ các nớcASEAN Trung Quốc từ nay về sau vẫn sẽ là thị trờng lớn nhập khẩu các mặthàng (cao su, cọ dầu, gỗ, hàng gia công, nguyên liệu ) của ASEAN

Trình độ kinh tế cơ cấu ngành ở phía Đông, Tây của Trung Quốc có sự chênhlệch lớn Các nớc ASEAN cũng có sự chênh lệch lớn về kinh tế và cơ cấungành (Tầng 1: Singapo, Brunây; Tầng 2: Malaixia, Thái Lan; Tầng 3: ViệtNam, Mianma, Campuchia, Lào)

Cơ cấu ngành nghề ở các vùng của Trung Quốc có thể bổ sung cho cácnấc tầng của ASEAN Cơ cấu hàng xuất khẩu của Trung Quốc là hàng hoáthành phẩm Còn của ASEAN trừ (Singapo, Thái Lan, Malaixia, Philippin) thìchủ yếu là xuất khẩu hàng hoá sơ chế

Hiện nay, điện cơ chiếm 24% hàng xuất khẩu của Trung Quốc trong khi

đó đa số các nớc ASEAN lại có nhu cầu nhập khẩu lớn về mặt hàng này, nên

đây là sự bổ sung cho nhau hiệu quả trong hợp tác phát triển giữa Trung Quốc

- ASEAN

Trình độ kỹ thuật công nghệ: Trung Quốc tuy lạc hậu hơn một số nớcASEAN về trình độ hiện đại hoá trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ sản xuấtnhng cũng có một số công nghệ, ngành kỹ thuật mũi nhọn nh: Hàng không,

vũ trụ, nguyên tử (Inđônêxia đã thuê tên lửa đẩy của Trung Quốc để phóng vệ

Trang 17

tinh nhân tạo) có thể xuất khẩu hoặc làm dịch vụ cho các nớc ASEAN Mặtkhác, Trung Quốc hiện nay đang có một đội ngũ đông đảo cán bộ chuyênmôn, kỹ thuật có tay nghề cao đợc đào tạo cơ bản nhng thu nhập còn thấp.Trong khi ASEAN lại thiếu lực lợng nhân viên kỹ thuật có tay nghề nên có thể

bổ sung cho nhau Cả Trung Quốc - ASEAN đều là những thị trờng có tiềmnăng lớn lại gần nhau nên bổ sung hỗ trợ thẩm thấu vào nhau là rất thuận lợi

Đáp ứng nhu cầu nhanh của mỗi bên Trung Quốc - ASEAN có một số lĩnhvực có thể đầu t lẫn nhau tiềm năng này đợc khai thác và sẽ tạo tiền đề chohợp tác phát triển hơn nữa của mỗi nớc trong thời gian tới

ở góc độ khác, các tỉnh, khu tự trị: Quảng Đông, Quảng Tây, HảiNam không chỉ là láng giềng của ASEAN mà trong lịch sử còn có những đợt

di c xuống Đông Nam á Hoa Kiều chiếm 95% thế giới định c ở Đông Nam

á, họ là những ngời làm ăn giỏi, nhiều vốn, có mạng lới kinh doanh rộng khắpthế giới, là cầu nối trong kinh tế hợp tác Trung Quốc - ASEAN

Cả Trung Quốc - ASEAN đều có chính sách đối nội, đối ngoại gầngiống nhau Quan hệ kinh tế đối ngoại đều chú trọng xây dựng các đặc khukinh tế, phát triển những khu vực u đãi thuế quan và tiến tới xây dựng Khumậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN (CAFTA) Trung Quốc và ASEAN

đều là những thành viên của các tổ chức quốc tế, khu vực quan trọng

Nhiều vấn đề trọng đại về quan hệ song phơng, quan hệ khu vực châu

á - Thái Bình Dơng và các vấn đề quốc tế Trung Quốc - ASEAN đều có nhiều

đặc điểm chung nh đều ủng hộ hoà bình ổn định khu vực, thế giới, tập trung

nỗ lực cho phát triển kinh tế, coi đây là mục tiêu trọng tâm, cùng nhau hợp tácbình đẳng cùng có lợi, tuân thủ nguyên tắc hoà bình, hữu nghị

Xây dựng quan hệ láng giềng hữu nghị là chính sách đối ngoại quantrọng của Trung Quốc - ASEAN Xây dựng mối quan hệ láng sẽ tạo nên cảmgiác an toàn, tin tởng lẫn nhau, ngày càng sâu đậm và tốt đẹp hơn với nỗ lựccủa hai bên, quan hệ Trung Quốc - ASEAN ngày càng phát triển nhanh, niềmtin chính trị song phơng đợc nâng lên rõ rệt, giao lu kinh tế ngày càng tăng,các lĩnh vực hợp tác không ngừng mở rộng

Trang 19

Trớc những năm 90 của thế kỷ XX, mặc dù cha có quan hệ chính thứcnhng từ cuối 1978 trở đi các nhân vật cấp cao Trung Quốc lần lợt thăm chínhthức nhiều nớc thành viên ASEAN, đặc biệt là Thái Lan, Singapo Cũng trongthời gian này quan hệ thơng mại Trung Quốc - ASEAN có dấu hiệu khởi sắc.Tháng 8 - 1991 Trung Quốc lần đầu tiên đợc mời tham dự Hội nghị Bộ trởngngoại giao ASEAN Tiếp đó năm 1992 ASEAN tiếp tục nhận Trung Quốc lànớc tham vấn của ASEAN Năm 1992 Trung Quốc tăng cờng quan hệ với cácnớc ASEAN nh: Thái Lan, Malaixia, Inđônêxia, Singapo, Brunây, Philippin.Năm 1993 đợc coi là năm “Các nớc Đông Nam á trong chính sách đối ngoạicủa Trung Quốc” Ngày 20 - 7 - 1993 Kiều Thạch, Chủ tịch Uỷ ban thờng vụQuốc hội Trung Quốc tới Đông Nam á và nó cũng phản ánh tầm quan trọng

mà Trung Quốc đặt ra trong quan hệ với Đông Nam á Ngày 21 - 7 - 1993,

ông Tiền Kỳ Tham phó thủ tớng kiêm Bộ trởng ngoại giao Trung Quốc cũngbay sang thăm Singapo và dự hội nghị hàng năm của bộ trởng ngoại giao cácnớc Đông Nam á Đây là lần thứ ba Trung Quốc có mặt tại một Hội nghị nhvậy Đầu 1993 ông Gok Chok Mahamad, Thủ tớng Malaixia sang thăm BắcKinh Bộ trởng ngoại giao Philippin, Thái Lan, Brunây, cũng sang thăm TrungQuốc năm 1993 Ông Lý Quang Diệu Bộ trởng cấp cao của Singapo đã sangthăm Trung Quốc cách nhau vài tháng Lần đầu tiên vua s của Thái LanSomđet Pramahathiracaya cũng sang thăm Trung Quốc Mức độ nhộn nhịpcủa những cuộc tiếp xúc cấp cao cho thấy một động lực phát triển mạnh mẽtrong quan hệ Trung Quốc - ASEAN

Trái với những dự đoán cho rằng quan hệ Trung Quốc - ASEAN sẽ yếu

đi sau khi dàn xếp vấn đề Campuchia Mối quan hệ này ngày càng trở nên gắn

bó hơn trong đó sự phát triển mối quan hệ này đợc đặc trng bằng mối quantâm kinh tế - thơng mại

Những chuyến thăm Trung Quốc thời gian qua của các nhà lãnh đạocác nớc Đông Nam á đã mang theo một đội quân đông đảo các doanh nghiệp

Trang 20

mang màu sắc kinh tế đậm nét và họ đã ký kết các văn bản hợp tác thúc đẩy

cụ thể hơn nữa những mối quan hệ song phơng của họ, nh: Tổng thống Ramoschứng kiến lễ ký 9 hiệp định thơng mại giữa Philippin và Trung Quốc Từ đầutháng 7 - 1993 các thơng gia đi cùng với ông Lý Quang Diệu trong chuyếnkhảo sát tỉnh Duyên Hải Sơn Đông đã ký hơn 100 bản thoả thuận về hợp táckinh tế trong vòng 6 ngày

Các nớc ASEAN, những bạn hàng thuyền thống của Trung Quốc là mộtkhu vực quan trọng trong chính sách đa dạng hoá hoạt động thơng mại củaTrung Quốc

Từ đầu năm 1993 quan hệ thơng mại Trung Quốc - ASEAN đợc tăng ởng một cách đáng kể Trong 4 tháng đầu năm ghi nhận một khối lợng buônbán trị giá 2,35 tỷ USD, tăng hơn so với thời gian cùng kỳ năm 1992

tr-Trung Quốc luôn ủng hộ những đề nghị hợp tình hợp lý của ASEAN.Năm 1993 Trung Quốc hậu thuẫn những đề nghị của Malaixia trong việcthành lập Khối thị trờng kinh tế Đông á (EAEC) Để thúc đẩy hơn nữa quan

hệ hợp tác thơng mại phát triển, năm 1994 hai bên đã thành lập nên "Uỷ banliên hợp kinh tế, thơng mại, khoa học - kỹ thuật” đến năm 1997 đổi tên thành

“Uỷ ban hợp tác liên hợp” Tại hội nghị cấp cao không chính thức tổ chức tạiCuala Lumpur (Malaixia) tháng 12 - 1997 Trung Quốc - ASEAN đã thông quaviệc “Quan hệ láng giềng thân thiện hớng tới thế kỷ 21” Tiếp đến năm 2000Trung Quốc đề nghị ASEAN xem xét thành lập “Khu vực mậu dịch tự doTrung Quốc - ASEAN” và đến năm 2001 “Hội đồng thơng mại Trung Quốc -ASEAN” ra đời Đây là những tiền đề về cơ chế pháp lý dọn đờng cho sự kýkết “Hiệp định hợp tác kinh tế toàn diện Trung Quốc - ASEAN’’ vào tháng 11

- 2002

Những chuyển dịch mang tích đột phá về cơ chế cũng nh sự gia tăng ýchí hội nhập giữa Trung Quốc - ASEAN đã thúc đẩy nhanh chóng quan hệkinh tế song phơng, nhất là thơng mại Nếu nh kim ngạch xuất - nhập khẩuTrung Quốc - ASEAN năm 1978 chỉ mới đạt con số khiêm tốn là 0,86 tỷ USDthì đến năm 1991 con số đó tăng lên 8,3 tỷ USD và tăng lên 15,6 tỷ USD vàonăm 1996; Năm 2000 là 39,4 tỷ USD, năm 2001 con số đó đã tăng lên 41, 6 tỷUSD Tỷ lệ này đạt đợc trong bối cảnh nền kinh tế hai bên đang phát triển trìtrệ Năm 1997 ASEAN là đối tác lớn thứ 5 của Trung Quốc sau Mỹ, Nhật,

EU, Hồng Kông Trung Quốc là đối tác lớn thứ 6 của ASEAN

Trang 21

Sau khi Trung Quốc chính thức gia nhập WTO buôn bán hai chiều giữaTrung Quốc và ASEAN vào năm 2002 tăng vọt lên 54,8 tỷ USD Trong tháng

1 - 2003 con số đạt trên 62,6 tỷ USD Bình quân trong khoảng gần một thậpniên qua thơng mại hai chiều giữa hai thực thể này tăng lên 15% Từ chỗ làbạn hàng lớn thứ 6 của Trung Quốc sang đầu thế kỷ 21 ASEAN vơn lên vị tríthứ t

Quan hệ thơng mại giữa Trung Quốc với từng nớc ASEAN cũng có

b-ớc phát triển mới, các nb-ớc này, đặc biệt là Mianma và Campuchia nhận đợcnhiều tín dụng u đãi và viện trợ không hoàn lại của Trung Quốc

Buôn bán giữa Trung Quốc - Thái Lan; Trung Quốc - Malaixia cũng cóbuớc phát triển

Năm 2000 Trung Quốc - Thái Lan đã thoả thuận về giảm thuế quan,trong đó Trung Quốc sẽ giảm thuế nhập khẩu cho 136 mặt hàng của Thái Lanmức thuế là 37,6% Trung Quốc điều chỉnh thuế nhập gạo đờng, mở cửa thị tr-ờng trong lĩnh vực kinh doanh nhà hàng, khách sạn Đây là cơ hội để Thái Langiảm giá và tăng khả năng cạnh tranh trên thị trờng Trung Quốc Đồng thờinâng cao kim ngạch xuất khẩu của 136 mặt hàng này, vợt 362 triệu USD củanăm 1999 Vào thời điểm này, Trung Quốc là bạn hàng lớn thứ 4 của TháiLan, trong 6 tháng đầu năm 2000 kim ngạch của Thái Lan xuất sang TrungQuốc tăng 6% so với cùng kỳ năm trớc, đạt 41 tỷ Bạt Hiện nay Thái Lan đangvợt qua Inđônêxia và trở thành bạn hàng lớn thứ 3 của Trung Quốc trongASEAN

Trung Quốc - Malaixia: Malaixia là nớc có mức ngoại thơng với TrungQuốc đạt gần 8 tỷ USD Ngân hàng nhà nớc Trung Quốc bắt đầu trở lại hoạt

động tại Malaixia sau 42 năm và sẽ mở đại diện tại Manila Năm 2001 TrungQuốc trở thành khách hàng thứ 6, tiến thêm đợc bốn bậc và là nớc cung cấphàng lớn thứ năm cho nớc này với số hàng bán lớn hơn 17,3% Kể từ tháng 3 -

2002 Malaixia đã đuổi kịp Singapovà trở thành đối tác mậu dịch lớn thứ nhấtcủa Trung Quốc

Tính đến tháng 6 - 2002 Trung Quốc xuất khẩu sang Malaixia tăng72%, nhập khẩu tăng 40%, tỷ trọng mậu dịch giữa Trung Quốc - Malaixiachiếm tới 26,1% trọng tỷ trọng mậu dịch giữa Trung Quốc - ASEAN Nhữnghàng hoá Malaixia xuất khẩu sang Trung Quốc gồm hàng công nghiệp, hàngnguyên liệu, cao su, mỡ động vật Hiện nay hai bên đều là bạn hàng quantrọng của nhau và hiện còn rất nhiều không gian cho sự phát triển thơng mại

Trang 22

Trung Quốc - Inđônêxia là đối tác của nhau Năm 2000 Trung Quốc trở

thành nớc cung cấp hàng hoá lớn thứ 5 của Inđônêxia, với giá thị hàng hoá

xuất khẩu từ Trung Quốc lên 1,7 tỷ USD trong khi năm 1999 chỉ đứng thứ 7

với tổng giá thị hàng hoá đạt 1,24 tỷ USD Cho đến đầu năm 2000 Trung

Quốc vẫn là thị trờng xuất khẩu lớn thứ 6 của Inđônêxia với kim ngạch xuất

khẩu đạt 866,7 triệu USD

Trung Quốc - Lào đã cùng hội đàm về việc tăng cờng hợp tác kinh tế

trong đó chính phủ Trung Quốc sẽ hỗ trợ cho Lào phát triển các dự án kinh tế

mà chính phủ Lào u tiên nh: Phát triển lơng thực, chế biến lâm sản, giao

thông vận tải Chính phủ Giang Trạch Dân khi đến thăm Lào cũng nhấn mạnh

đến sự cần thiết phải tăng cờng quan hệ về thơng mại và hợp tác kinh tế

Trung Quốc - Campuchia: Trung Quốc bắt đầu trở lại quan tâm phát

triển mối quan hệ kinh tế với Campuchia Đặc biệt là từ sau chuyến thăm

Campuchia vào tháng 11 năm 2000 của chủ tịch Giang Trạch Dân, mối quan

hệ kinh tế giữa Trung Quốc và Campuchia có bớc phát triển mới, trao đổi

th-ơng mại giữa Trung Quốc - Campuchia đạt 160 triệu USD

Trung Quốc - Việt Nam: Việt Nam cũng trở thành bạn hàng xuất khẩu

hấp dẫn của Trung Quốc với kim ngạch xuất khẩu tăng từ 30 triệu USD năm

1991 lên 1150 triệu USD năm 1996, lên 4,6 tỷ USD năm 2003 Nếu nh thơng

mại giữa những năm 90 của thế kỷ XX đạt mức trên dới 1 tỷ USD thì con số

đó tăng lên xấp xỉ 2,5 tỷ USD và đạt gần 4,9 tỷ USD năm 2003 Tuy mức nhập

siêu của Việt Nam có giảm hơn những năm 90 của thế kỷ XX nhng vẫn ở mức

cao Năm 2003 tỷ lệ khoảng 40/60, xuất là 1,74 tỷ USD, nhập là 3,15 tỷ USD

Điều này ngợc lại với 6 nớc ASEAN ban đầu Việt Nam chủ yếu xuất khẩu

các mặt hàng nguyên, nhiên liệu, nông nghiệp sơ chế Nhập khẩu nguyên liệu

phục vụ cho sản xuất máy móc, thiết bị hiện nay không chỉ các sản phẩm công

nghiệp nhẹ của Trung Quốc chiếm thị phần lớn tại Việt Nam mà cả những mặt

hàng có hàm lợng kỹ thuật cao nh cơ khí điện tử, cũng đang phát triển

Trung Quốc - Singapo: Thơng mại hai chiều giữa Trung Quốc - Singaponăm 1990 mới chỉ đạt 2,86 tỷ USD thì đến năm 1999 con số này tăng lên 8,56

tỷ USD và năm 2002 tăng vọt lên 14,91 tỷ USD

Trung Quốc - Brunây, Philippin, Mianma: Kim ngạch mậu dịch giữa

Trung Quốc và 3 nớc này tăng từ 20 - 30%, Trung Quốc nhập khẩu từ các nớc

này chủ yếu là hàng sơ chế nh: nông nghiệp, ng nghiệp, lâm nghiệp, dầu thô

Trung Quốc xuất khẩu có tới 70 - 90% là các thành phẩm công nghiệp

Trang 23

Hợp tác kinh tế thơng mại trở thành con đờng thuận lợi để cả hai phía

đạt đợc ý định của mình Cứ 3 năm mậu dịch lại tăng gấp đôi chỉ riêng xuấtkhẩu của Trung Quốc sang ASEAN năm 2002 (23,57 tỷ USD) đã tơng đơngvới tổng kim ngạch mậu dịch song phơng năm 1998 (26,3 tỷ USD) Tổng kimngạch mậu dịch 2002 giữa Trung Quốc - ASEAN tăng 2 lần tổng kim ngạchsong phơng 1999 (27,3 tỷ USD)

Về phơng diện cơ cấu hàng hoá: Cục diện mậu dịch hàng hoá sơ cấpgiảm, mậu dịch hàng chế tạo nh thiết bị, cơ điện tăng làm cơ sở cho mậu dịchsong phơng

Trong xu thế hiện nay của ASEAN, Trung Quốc đang nổi lên là mộtbên đối tác quan trọng Trong khi mậu dịch song phơng của ASEAN với cácnớc lớn nh: Mỹ, Nhật Bản, EU giảm mạnh ở những năm cuối thập kỷ 90 củathế kỷ XX thì quan hệ thơng mại giữa Trung Quốc - ASEAN lại tăng đều đặn

và ổn định Mậu dịch Trung Quốc - ASEAN tăng từ 3,35 tỷ USD năm 1986lên 45,56 tỷ USD năm 1998 Mậu dịch song phơng giai đoạn 1993 - 1998 giữaASEAN - Mỹ tăng 54%; ASEAN - EU tăng 28%; ASEAN - Nhật Bản giảm2,7% trong khi đó Trung Quốc - ASEAN tăng 137%, nếu tính cả Hồng Kông

Năm 2000 kim ngạch thơng mại giữa Trung Quốc - ASEAN đạt 39,5 tỷUSD, so với 7,9 tỷ USD của năm 1991 Tăng bình quân là 20,4%/ năm

Thị phần của ASEAN trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của TrungQuốc tăng từ 5,7% (1991) lên 6,9% (2000) đối với xuất khẩu Từ 6% (1991)lên 9,9% (2000) đối với nhập khẩu

Có ý kiến cho rằng việc Trung Quốc gia nhập WTO đã thách thức đốivới ngành mậu dịch các nớc ASEAN nh Trung Quốc - ASEAN có nhiều điểmgiống nhau về cơ cấu mậu dịch nhiều chủng loại trùng hợp hoặc có tính cạnhtranh lớn, với nhiều mặt hàng xuất khẩu của các nớc ASEAN do đó tạo nhiều

va đập lớn đối với nhiều mặt hàng cùng chủng loại

Trang 24

Tuy nhiên, ta thấy rằng nó không hoàn toàn giống nhau mà có thể hỗtrợ cho nhau Trung Quốc có lao động dồi dào nhng lại thiếu tài nguyên vốn Còn ASEAN ngoài mặt hàng tập trung sức lao động còn có các mặt hàng tậptrung nguyên nhiên liệu nh: Singapo có u thế xuất khẩu các mặt hàng tậptrung vốn, kỹ thuật cao Ngoài ra còn có sự khác biệt về tài nguyên, trình độphát triển

Về nông sản, ASEAN có u thế về sản phẩm nhiệt đới, Trung Quốc có uthế về sản phẩm hàn đới, ôn đới Trung Quốc nhập khẩu sản phẩm nhiệt đới vàcác tài nguyên của ASEAN có xu hớng tăng lên sau khi Trung Quốc gia nhậpWTO

Về thị trờng xuất khẩu cả Trung Quốc - ASEAN đều dựa vào các nớcphát triển nh Mỹ Vì có sự khác biệt về cơ cấu mặt hàng xuất khẩu, do vậy

Đông Nam á không phải là đối thủ của Trung Quốc trên thị trờng Mỹ và cácnớc khác, không gian mậu dịch còn mở rộng dù là song phơng hay đối tác thứ

ba Đồng thời, để thích ứng với những biến đổi sau khi gia nhập WTO, TrungQuốc sẽ có một số điều chỉnh trong chính sách mậu dịch xuất khẩu, phơng h-ớng cơ cấu mậu dịch có tác động quyết định đến biến đổi của cơ cấu mậudịch

Do điều chỉnh cơ cấu ngành nghề nên hàng hoá xuất khẩu của TrungQuốc sẽ chuyển từ các sản phẩm sơ chế sang thành phẩm Ngoài ra TrungQuốc sẽ hợp tác với ASEAN vì mục tiêu phát triển kinh tế, mậu dịch, điều đó

sẽ mở ra nhiều cơ hội làm ăn cho cả hai bên

Tại Hội nghị ASEAN 10 + 3 ((ASEAN) + Trung Quốc, Nhật Bản, HànQuốc) năm 2000, thủ tớng Chu Dung Cơ đã nói: “Trung Quốc đang thực hiệnchiến lợc tiến ra bên ngoài, khuyến khích các doanh nghiệp có khả năng cạnhtranh tìm hớng đầu t ra nớc ngoài và vì thế các nớc ASEAN sẽ là một trọng

điểm để tiến ra bên ngoài của Trung Quốc” [8]

Về lâu dài, Trung Quốc và ASEAN vẫn có thể bàn bạc thảo luận về vấn

đề thiết lập quan hệ mậu dịch tự do, trong khi Trung Quốc gia nhập WTO thìkhu mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) cũng sẽ bớc đầu thực hiện vào năm 2002

đó là cơ hội hết sức thuận lợi để phát triển quan hệ hợp tác song phơng

Nh vậy, có thể thấy việc gia nhập WTO không những đem lại choTrung Quốc có những biến đổi mới mà còn có ý nghĩa sâu sắc đối với các nớc

đang phát triển Đặc biệt là các nớc trong khối ASEAN nh: Việt Nam, Lào,Campuchia, Mianma

Trang 25

Cùng với việc gia nhập WTO, tham gia ký Hiệp định hợp tác thơng mạiCAFTA nền kinh tế của ASEAN sẽ có nhiều thuận lợi để khẳng định vị trí củamình ở khu vực và trên thế giới Nó tạo điều kiện cho những nớc ASEAN

đang phát triển Tuy nhiên bên cạnh đó thì các nớc ASEAN cũng cần phải cónhững biện pháp hợp lý để nhằm nâng cao hiệu quả của việc hợp tác thơngmại Trung Quốc - ASEAN

2.1.1.2 Khủng hoảng tài chính - tiền tệ tác động đến quan hệ thơng mại Trung Quốc - ASEAN

Tháng 7 - 1997 hầu hết các nền kinh tế Đông Nam á đều bị chao đảobởi cuộc khủng hoảng, kể từ khi đồng Bạt của Thái Lan bị phá giá Cuộckhủng hoảng tài chính - tiền tệ của Đông Nam á kéo dài trong suốt từ năm

1997 đến hết năm 1998 đã làm cho hàng hoá xuất khẩu của Trung Quốc trởnên đắt đỏ hơn nhiều so với các nớc láng giềng khác trong khu vực

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan Trung Quốc, kim ngạchxuất khẩu từ Trung Quốc sang các nớc Đông Nam á giảm dần hàng tháng vàoquý cuối năm 1997, từ 30,7% vào tháng 9 xuống 6,84% vào tháng 12 - 1997.Bớc sang năm 1998 thơng mại giữa hai chiều vẫn tiếp tục xấu đi, riêng hàngxuất khẩu của Trung Quốc sang thị trờng ASEAN giảm 13,6% so với năm

1997 Do khủng hoảng tài chính - tiền tệ, nhiều bạn hàng của Trung Quốc cắtgiảm hoặc huỷ bỏ đầu t, hợp đồng buôn bán Chỉ riêng công nghiệp thép, điện

tử của Trung Quốc năm 1998 bị mất 28% thị phần buôn bán với Đông Nam

đỏ hơn Trong một số ngành sản xuất của Trung Quốc nh may mặc, dệt, điện

tử, thép đặc biệt là xi măng buộc phải giảm công suất, thậm chí một số nhàmáy phải ngừng sản xuất nh nhà máy sản xuất thép, xi măng ở Quảng Đônghoặc An Huy

Các nhà đầu t nớc ngoài lúc đó cho rằng Trung Quốc là thị trờng đầu thấp dẫn và ổn định Song do cuộc khủng hoảng khu vực kéo dài Trung Quốccũng không tránh khỏi nỗi nghi ngờ về độ rủi ro đầu t Trớc năm 1997 cácdòng vốn trực tiếp của Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc và các nớc Đông

Trang 26

Nam á chiếm 61% tổng số vốn đầu t nớc ngoài trực tiếp vào Trung Quốc

Nh-ng hầu hết các đối tác này đều là nạn nhân của cuộc khủNh-ng hoảNh-ng, vì vậy buộcphải cắt giảm đầu t trực tiếp Điều này ảnh hởng lớn và làm giảm tốc độ tăngtrởng kinh tế của Trung Quốc

Nh vậy, trái với một số ý kiến cho rằng Trung Quốc không bị chịu tác

động của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ mà có thể nói cuộc khủnghoảng đã không loại trừ Trung Quốc có điều so với các nớc Đông Nam á tác

động của cuộc khủng hoảng đối với nền kinh tế Trung Quốc diễn ra ở mức độthấp hơn và thời gian muộn hơn Đến năm 1998 khi đồng Yên của Nhật giảmnhanh chóng, đồng Đô la Hồng Kông và thị trờng chứng khoán Hồng Kôngrung chuyển, các đồng tiền khu vực giảm thảm hại và tác động không nhỏ đến

đồng Nhân Dân Tệ của Trung Quốc Tuy nhiên Trung Quốc có vai trò rất lớn

đối với khủng hoảng kinh tế ở Đông Nam á Về phơng diện lịch sử thì TrungQuốc - ASEAN trải qua những bớc thăng trầm qua từng giai đoạn nhng kể từkhi Trung Quốc thực hiện chính sách mở cửa vào cuối những năm 70 của thế

kỷ XX quan hệ hai bên ngày càng đợc cải thiện Từ năm 1989 Trung Quốc lầnlợt bình thờng hoá quan hệ với Lào, Inđônêxia, Việt Nam và thiết lập quan hệhợp tác với Singapo, Brunây và tăng quan hệ mậu dịch giữa Trung Quốc -ASEAN Nếu nh năm 1978 kim ngạch xuất - nhập khẩu giữa Trung Quốc vàASEAN chỉ mới đạt 0,86 tỷ USD thì đến năm 1996 lên 20,4 tỷ USD nhng vàocuối năm 1997 do cuộc khủng hoảng kéo dài làm giảm giá trị buôn bán giữahai bên xuống mức thấp nhất còn khoảng 10 tỷ USD Mặc dù vậy nhng với vaitrò tích cực của Trung Quốc đã làm ổn định tình hình kinh tế khu vực

Trung Quốc đã có chính sách nh ổn định đồng Nhân Dân Tệ do đó đãgiảm bớt khả năng bất ổn của đồng tiền khu vực Trong suốt năm 1998 đồngNhân Dân Tệ đã luôn ổn định ở mức 8,27 Nhân Dân Tệ/ USD nên đã giảm bớttổn thất cho nền kinh tế Trung Quốc và ổn định cho thị trờng Đông Nam á

Đồng Nhân Dân Tệ của Trung Quốc ổn định là lực cân bằng cho các đồng tiềnkhu vực, giảm bớt những thiệt hại trong mậu dịch, đầu t Nếu Trung Quốc phágiá đồng Nhân Dân Tệ khả năng toàn bộ đồng tiền của ASEAN giảm một lầnnữa sẽ xảy ra và dẫn đến việc làm cho hàng hoá Trung Quốc giảm hơn nhiềulần so với các sản phẩm cùng loại của ASEAN và nh vậy thì mức thâm hụt cáncân thơng mại của ASEAN rất lớn, hàng hoá Trung Quốc sẽ tràn ngập và nhấnchìm hàng hoá của ASEAN không những ở thị trờng khu vực mà cả ở trên thịtrờng thế giới Đồng Nhân Dân Tệ ổn định, chính phủ Trung Quốc không

Trang 27

dùng biện pháp phá giá hàng xuất khẩu để đối phó với thị trờng thơng mại khuvực mà Trung Quốc vẫn duy trì chính sách nhập khẩu của ASEAN.

Trung Quốc đã tích cực tham gia trong chơng trình hỗ trợ cho tổ chứccác nớc trong khu vực, trong khi các nớc trong khu vực đang rơi vào vòngxoáy của cuộc khủng hoảng Trung Quốc cùng một số nớc đã tiến hành việntrợ khẩn cấp, tập trung giúp đỡ tài chính cho Thái Lan, Inđônêxia

Có thể nói cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực đã ảnh hởng lớn

đến mối quan hệ Trung Quốc - ASEAN, nhng với mối quan hệ hữu nghị đoànkết Trung Quốc đã tỏ thái độ thân thiện, giúp ASEAN vợt qua cơn đại nạnnày

2.1.1.3 Đánh giá những kết quả đạt đợc và triển vọng hợp tác thơng mại trong thời gian tới

Có thể nói trớc những năm 90 của thế kỷ XX Trung Quốc - ASEANcũng có quan hệ buôn bán với nhau nhng rất ít, dè dặt Nhng từ sau 1991 đặcbiệt là từ khi Việt Nam gia nhập ASEAN thì thơng mại Trung Quốc - ASEANngày càng trở nên mở rộng và phát triển mạnh mẽ, có nhiều nớc thành viênASEAN đã trở thành bạn hàng lớn của Trung Quốc nh: Thái Lan, Singapo,Inđônêxia

Từ năm 1996 Trung Quốc trở thành đối tác hợp tác toàn diện vớiASEAN trên mọi lĩnh vực thì quan hệ Trung Quốc - ASEAN cũng càng đợc

mở rộng hơn, bất chấp tác động của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ khuvực

Khi các nớc Đông Nam á rơi vào khủng hoảng thì Trung Quốc đã tỏthái độ thân thiện nh cho Thái Lan vay vốn 1 tỷ USD và vận động Quỹ tiền tệquốc tế cho nớc này vay thêm 4 tỷ USD nữa trong những năm 1997 - 2000.Tăng cờng cơ chế đối thoại, mối quan hệ kinh tế, an ninh với các nớc trongkhu vực

Các mối giao lu kinh tế đã đợc hai bên thể chế hoá từ năm 1991 trở lại

đây thông qua các tổ chức nh: Uỷ ban hợp tác hỗn hợp Trung Quốc - ASEAN(ACJCC), Hội đồng kinh doanh ASEAN - Trung Quốc (ACBC), Hội đồngphát triển thơng mại quốc tế Trung Quốc - ASEAN, Hội đồng phát triển th-

ơng mại quốc tế ASEAN - Trung Quốc (CCPT) Các tổ chức này không chỉthúc đẩy quan hệ kinh tế giữa các nớc mà còn có tác dụng hớng dẫn các hìnhthức giao lu vốn giữa ASEAN - Trung Quốc đặc biệt là buôn bán giữa hai bên

Có thể nói quan hệ thơng mại Trung Quốc - ASEAN từ 1991 đến 2000ngày càng phát triển, đặc biệt sau cơn đại nạn Trung Quốc đã đóng góp quan

Trang 28

trọng cho sự ổn định kinh tế châu á Giúp các nớc ASEAN nhận thức rằng sựphát triển của Trung Quốc không những không phải là sự uy hiếp đến ĐôngNam á mà còn là sự đóng góp quan trọng cho việc ổn định khu vực đồng thời

sự phát triển của Trung Quốc mang đến động lực cho sự phát triển củaASEAN

Tuy nhiên, ngoài một số nớc ASEAN cũ còn các thành viên mới nh:Việt Nam, Lào, Campuchia, Mianma cũng có một số đặc điểm giống TrungQuốc nh đều là các quốc gia lạc hậu hoặc mới chuyển sang kinh tế thị trờng,

đòi hỏi phải có điều chỉnh lớn về quan niệm và thể chế để thực hiện Có nhiềunét giống nhau về cơ cấu ngành nghề: Hàng xuất khẩu chủ yếu là sản phẩm sơchế và nguyên liệu thô, tỷ trọng ngành dịch vụ nhỏ do đó các nớc phải lựachọn cho mình một hớng đi thích hợp Cần phải hợp tác để phát triển các thếmạnh chung, tạo ra một thị trờng Trung Quốc - ASEAN ổn định, phát triển

Mặc dù đã đạt đợc những kết quả khả quan nhng có thể nói quan hệkinh tế Trung Quốc - ASEAN xét về lĩnh vực thơng mại quan hệ hai bên cònthấp kém Quan hệ mậu dịch không diễn ra liên tục, và thờng bị gián đoạn,luôn diễn ra các cuộc cạnh tranh với các nền kinh tế của ASEAN Nớc buônbán nhiều nhất với Trung Quốc là Singapo cũng mới chỉ đạt giá trị thơng mạivào khoảng 7 tỷ USD sau đó là Việt Nam giá trị xuất khẩu cũng chỉ đạt 1,44

tỷ USD chiếm 0,4% tổng kim ngạch ngoại thơng của Trung Quốc Trong khi

đó bằng nhiều con đờng hạn ngạch và tiểu ngạch hàng Trung Quốc đã trànvào thị trờng Đông Nam á với giá hạ đã góp phần làm giảm khả năng sảnxuất cũng nh tiêu thụ ở thị trờng này Trong khi đó Trung Quốc cha có kếhoạch cụ thể để nâng cao tỷ lệ buôn bán với các nớc trong khu vực, điều nàyhạn chế đến tỷ lệ trao đổi mậu dịch hai bên

Vì vậy, bên cạnh những yếu tố tích cực, quan hệ thơng mại cũng còntiềm ẩn những nhân tố không ổn định, cản trở đến tiến trình đẩy mạnh quan hệhợp tác kinh tế giữa hai bên Trung Quốc một thị trờng khổng lồ là mục tiêuxâm nhập các nớc ASEAN, chính vì vậy trong những năm qua ASEAN luôn

cố gắng để tăng cờng sự phát triển hợp tác song phơng với Trung Quốc Mộtthị trờng rộng lớn với nền kinh tế ổn định sẽ là cơ sở để có thể khẳng địnhquan hệ Trung Quốc - ASEAN có một triển vọng tốt Hơn nữa trong thời gianqua Trung Quốc - ASEAN đã nỗ lực để tạo nên mối quan hệ chính trị ổn định,

định ra những nguyên tắc, khuôn khổ cho sự hợp tác lâu dài về thơng mại

2.1.2 Đầu t

2.1.2.1 Quá trình hợp tác

Trang 29

Cùng với lĩnh vực hợp tác thơng mại thì việc hợp tác trong lĩnh vực đầu

t cũng là một trong những nội dung quan trọng trong quá trình hợp tác kinh tếTrung Quốc - ASEAN Những chuyển dịch mang tính đột phá về cơ chế cũng

nh sự gia tăng ý chí hội nhập giữa Trung Quốc - ASEAN đã thúc đẩy nhanhchóng mối quan hệ kinh tế song phơng này

Về hợp tác đầu t Tuy diễn ra cuộc cạnh tranh mạnh mẽ vì nguồn FDInhng vốn đầu t hai chiều giữa Trung Quốc - ASEAN vẫn không ngừng tănglên, vốn của 5 nớc thành viên ASEAN ban đầu đa vào Trung Quốc tăng từ2,4% năm 1992 lên 9,2% năm 1998 và giảm xuống còn khoảng trên dới 7%trong những năm 2001 - 2002

Theo Hội đồng kinh doanh Mỹ - ASEAN, đầu t trực tiếp của nớc ngoàivào Trung Quốc năm 1999 đạt khoảng 40 tỷ USD hay 42% tổng số vốn đầu tvào châu á FDI vào khu vực ASEAN chỉ mới đạt 16 tỷ USD hay 17% tổng sốvốn đầu t vào khu vực châu á Đây là mức thấp nhất vào ASEAN kể từ đầunhững năm 90 của thế kỷ XX

Trung Quốc là đối tác đầu t quan trọng của ASEAN Năm 1997 đầu tcủa ASEAN vào Trung Quốc đã đạt 40 tỷ USD theo giá trị hợp đồng, đứng thứ

3 sau Hồng Kông, Bắc Mỹ Tính đến năm 2001 vốn cam kết của ASEAN đầu

t vào Trung Quốc với con số là 53,468 tỷ USD, trong đó vốn đã thực hiện làhơn 1/2 Cũng trong năm 2001 ASEAN đã đầu t vào Trung Quốc với 17.972

dự án chiếm 7,2% vốn đầu t nớc ngoài tại Trung Quốc Ngợc lại đầu t củaTrung Quốc vào ASEAN có chiều hớng tăng nhanh trong những năm gần đây,

đặc biệt là 4 nớc thành viên mới trong đó có Việt Nam Trung Quốc đã đầu tvào ASEAN 740 dự án với số vốn 1091 tỷ USD Từ năm 1996 đến nay TrungQuốc đã có những thái độ tích cực trong việc phối hợp với các nớc ASEANtriển khai dự án sông Mê Kông, Trung Quốc là thợng nguồn có vai trò quantrọng trong việc điều tiết lu lợng nớc của con sông này, ảnh hởng rất lớn đếncác nớc ở vùng hạ nguồn thông qua hệ thống đập nớc mà Trung Quốc đã xâydựng ở tỉnh Vân Nam

Với sự hợp tác của Trung Quốc, Hội nghị hợp tác phát triển tiểu vùngsông Mê Kông đợc tiến hành, xác định những lĩnh vực có thể hợp tác và pháttriển nh giao thông vận tải, năng lợng, nông nghiệp, du lịch, bu chính TrungQuốc đã cùng các bên thông qua chơng trình chung, phối hợp với các tổ chứcquốc tế thành lập cơ chế tài chính để nghiên cứu triển khai dự án Trớc mắtthông qua dự án sông Mê Kông, các bên hữu quan sẽ thiết lập hệ thống đờngsắt liên á, và một loạt đờng nhánh, tổng số vốn đầu t cho dự án này khoảng 40

Trang 30

tỷ USD Hiện tại Ngân hàng phát triển châu á (ADB) và Ngân hàng thế giới(WB) đã nhận cho vay vốn trong đó Trung Quốc hứa sẽ đóng góp tài chínhcùng với các nớc tham gia dự án này

Nhiều dự án xây dựng và phát triển kinh tế đang đợc đôi bên nghiêncứu và bớc đầu triển khai Việc ký thoả thuận thành lập Uỷ ban hợp tác chungTrung Quốc - ASEAN đã thúc đẩy nghiên cứu đi vào chiều sâu Năm 1997các nớc ASEAN đã đầu t ở Trung Quốc với vốn pháp định lên 10 tỷ USD.Trung Quốc - ASEAN có nhiều tổ chức hoạt động phối hợp trong các tổ chứckhu vực và quốc tế nh: Diễn đàn kinh tế châu á - Thái Bình Dơng (APEC),Diễn đàn an ninh khu vực (ARF)

Trớc đây, chủ yếu là các nớc Đông Nam á đến Trung Quốc đầu t Đếncuối 2001 hạng mục đầu t của ASEAN tại Trung Quốc lên 16690 tổng giá trị

đầu t lên đến 50,06 tỷ USD, đầu t thực tế là 23,12 tỷ USD, chiếm 6,6% đầu tnớc ngoài tại Trung Quốc Hiện nay, cùng với việc đẩy mạnh cải cách mở cửa,nâng cao trình độ phát triển kinh tế, ngày càng có nhiều doanh nghiệp TrungQuốc đi ra nớc ngoài đầu t và không ngừng đầu t tại khu vực Đông Nam á

Đến cuối năm 2000 doanh nghiệp Trung Quốc đã tiến hành đầu t 642 hạngmục tại ASEAN, tổng số vốn đầu t lên đến 893 triệu USD, các nhà phân tíchcho rằng đầu t của Trung Quốc vào Đông Nam á đặc biệt là vào Việt Nam vàcác nớc láng giềng nhỏ hơn tăng rất nhanh và ngày càng hoà hợp Sáng kiếnbuôn bán tự do đã đợc đa ra trong bối cảnh các nớc ASEAN lo ngại về đầu t

đang hớng về Trung Quốc Vì các công ty đa quốc gia đang tìm cách khai tháctiềm năng của nớc này

Trung Quốc hiện có 267 dự án đầu t vào Việt Nam với số vốn hơn 545triệu USD, năm 2003 Trung Quốc tăng thêm 61 dự án đầu t vào Việt Nam vớitrị giá hơn 147 triệu USD, đứng hàng thứ 5 trong số các nhà đầu t nớc ngoàivào Việt Nam

Trung Quốc bắt đầu trở lại quan tâm đến phát triển mối quan hệ kinh

tế với Campuchia, đặc biệt từ sau chuyến thăm Campuchia vào tháng 11

-2000 chủ tịch Giang Trạch Dân, quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc vàCampuchia có bớc phát triển mới Từ năm 1991 – 1999, các dự án kinhdoanh của Trung Quốc đợc hội đồng phát triển Campuchia thông qua với tổng

số vốn là 213,4 triệu USD Trung Quốc viện trợ nhiều khoản tiền choCampuhia để giúp Campuchia nâng cấp cơ sở hạ tầng Tháng 7-2000, TrungQuốc cho Campuchia vay 11 triệu USD và theo thoả thuận mới thì TrungQuốc sẽ viện trợ cho Campuchia vay thêm 12 triệu USD để thực hiện mục tiêu

Ngày đăng: 19/12/2013, 14:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Ba kiến nghị của thủ tớng Chu Dung Cơ về tăng cờng quan hệ Trung Quèc - ASEAN (2002), Kinh tÕ quèc tÕ, Sè 5 2002, tr 6- 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ba kiến nghị của thủ tớng Chu Dung Cơ về tăng cờng quan hệ TrungQuèc - ASEAN (2002)
Tác giả: Ba kiến nghị của thủ tớng Chu Dung Cơ về tăng cờng quan hệ Trung Quèc - ASEAN
Năm: 2002
[2]. Phan Ngọc Bảo (2002), Viễn cảnh mở rộng của quan hệ hợp tác kinh tế Trung Quốc - ASEAN, TTXVN, Số ra ngày 10 - 5- 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Viễn cảnh mở rộng của quan hệ hợp tác kinh tếTrung Quốc - ASEAN
Tác giả: Phan Ngọc Bảo
Năm: 2002
[3]. Phạm Bình (2002), FTA Trung Quốc - ASEAN. Những trở ngại và thuận lợi, TTXVN, Số ra ngày 1 - 11 - 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: FTA Trung Quốc - ASEAN. Những trở ngại vàthuận lợi
Tác giả: Phạm Bình
Năm: 2002
[4]. Hồ Châu (2003), Ngoại dao đa phơng của Trung Quốc, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, Số 5 (51) 2003, tr 29 - 34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngoại dao đa phơng của Trung Quốc
Tác giả: Hồ Châu
Năm: 2003
[5]. Nguyễn Phơng Hoa (2001), Quan hệ Trung Quốc - ASEAN năm 2000, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, Số 3 (37) 2001, tr 42 - 50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Trung Quốc - ASEAN năm 2000
Tác giả: Nguyễn Phơng Hoa
Năm: 2001
[6]. Lý Hồng, Mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN tăng trởng mạnh mẽ, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, Số 5 (51) 2003, tr 35 - 39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN tăng trởng mạnh mẽ
[7]. Trần Quốc Hùng (2003), Trung Quốc - ASEAN trong hội nhập. Thử thách mới, cơ hội mới, Nhà xuất bản trẻ, Thời báo kinh tế Sài Gòn, Trung tâm kinh tế châu á - Thái Bình Dơng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc - ASEAN trong hội nhập. Thửthách mới, cơ hội mới
Tác giả: Trần Quốc Hùng
Nhà XB: Nhà xuất bản trẻ
Năm: 2003
[8]. Trần Khánh (2004), Sự tiến triển trong quan hệ Trung Quốc - ASEAN, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam á, Số 2 (65) 2004, tr 29 - 33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự tiến triển trong quan hệ Trung Quốc - ASEAN
Tác giả: Trần Khánh
Năm: 2004
[9]. Trần Khánh (2005), Tác động của sự gia tăng hợp tác ASEAN - Trung Quốc đến quan hệ Việt - Trung (Thời kỳ hậu chiến tranh lạnh), Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam á, Số 1 (70) 2005, tr 3 - 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của sự gia tăng hợp tác ASEAN - TrungQuốc đến quan hệ Việt - Trung
Tác giả: Trần Khánh
Năm: 2005
[10]. Nguyễn Văn Lịch (2000), Toàn cầu hoá và hợp tác ASEAN đầu thế kỷ 21, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam á, Số 1 (52) 2000, tr 4- 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cầu hoá và hợp tác ASEAN đầu thếkỷ 21
Tác giả: Nguyễn Văn Lịch
Năm: 2000
[11]. Thái Văn Long (2003), Tầm quan trọng của ASEAN - Trung Quốc thời kỳ sau chiến tranh lạnh, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, Số 3(58) 2003, tr 31-39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tầm quan trọng của ASEAN - Trung Quốcthời kỳ sau chiến tranh lạnh
Tác giả: Thái Văn Long
Năm: 2003
[12]. Lê Văn Mỹ (2005), Bớc đầu tìm hiểu về quan hệ ngoại dao láng giềng của Trung Quốc từ sau chiến tranh lạnh, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quèc, Sè 3 (61) 2005, tr 40 - 45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bớc đầu tìm hiểu về quan hệ ngoại dao lánggiềng của Trung Quốc từ sau chiến tranh lạnh
Tác giả: Lê Văn Mỹ
Năm: 2005
[21]. TTXVN (1997), Trung Quốc - ASEAN cùng hớng tới tơng lai, Báo Hà nội mới, Số ra ngày 10 - 1 - 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc - ASEAN cùng hớng tới tơng lai
Tác giả: TTXVN
Năm: 1997
[22]. TTXVN (1998), Trung Quốc - ASEAN tăng cờng quan hệ, Số ra ngày 28 - 7- 1998, tr 14 - 18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc - ASEAN tăng cờng quan hệ
Tác giả: TTXVN
Năm: 1998
[23]. TTXVN (2005), Khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN bớcđầu khởi động, Số ra ngày 9 - 9- 2005, tr 1-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN bớc"đầu khởi động
Tác giả: TTXVN
Năm: 2005
[24]. TTXVN (2002), Viễn cảnh mở rộng của quan hệ hợp tác kinh tế Trung Quốc - ASEAN, Số ra ngày 10 - 5- 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viễn cảnh mở rộng của quan hệ hợp tác kinh tếTrung Quốc - ASEAN
Tác giả: TTXVN
Năm: 2002
[25]. Cổ Tiểu Tùng (2003), Trung Quốc: Chính sách ngoại dao hoà bìnhđộc lập tự chủ coi trọng phát triển mối quan hệ láng giềng hữu nghị vớiĐông Nam á, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, Số 2 (48) 2003, tr 49 - 53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc: Chính sách ngoại dao hoà bình"độc lập tự chủ coi trọng phát triển mối quan hệ láng giềng hữu nghị với"Đông Nam á
Tác giả: Cổ Tiểu Tùng
Năm: 2003
[26]. Phạm Quốc Trụ (2004), Một vài suy nghĩ về tiến trình liên kết kinh tế kinh tế ASEAN, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, Số 54 - 2004, tr 48 - 54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài suy nghĩ về tiến trình liên kết kinh tếkinh tế ASEAN
Tác giả: Phạm Quốc Trụ
Năm: 2004
[27]. Hoa Hữu Lân - Đỗ Thị Vân (1999), Vai trò của Trung Quốc trong khủng hoảng kinh tế Đông Nam á, Những vấn đền kinh tế thế giới, Số 6 (62) 1999, tr 50 - 60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của Trung Quốc trongkhủng hoảng kinh tế Đông Nam á
Tác giả: Hoa Hữu Lân - Đỗ Thị Vân
Năm: 1999

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2:  Tác động của CAFTA tới GDP thực của Trung Quốc - ASEAN. - Quan hệ kinh tế trung quốc   asean từ 1991 đến nay
Bảng 2 Tác động của CAFTA tới GDP thực của Trung Quốc - ASEAN (Trang 54)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w