1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan hệ kinh tế nhật bản ASEAN từ 1991 đến 2009

82 609 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan hệ kinh tế Nhật Bản - ASEAN từ 1991 đến 2009
Trường học Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn Hà Nội
Chuyên ngành Kinh tế quốc tế
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 441,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việt Nam là một thành viên của ASEAN, từ lâu đã xây dựng được mối quan hệ tốt đẹp với Nhật Bản, đặc biệt mối quan hệ đó đang phát triển thuận lợi trong những năm gần đây, chủ yếu là trên

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài.

Đã gần hai thập niên trôi qua kể từ sau cái bắt tay của hai nhà lãnh đạo

Xô – Mỹ trên đảo Manta rồi sự sụp đổ của bức tường Beclin và đặc biệt là sự sụp đổ của hệ thống các nước Xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu năm 1991 đã đánh dấu sự chấm hết cho cuộc Chiến tranh lạnh kéo dài suốt gần nửa thế kỷ trên cục diện toàn thế giới Sự chấm dứt Chiến tranh lạnh cũng là mốc mở đầu cho những mối quan hệ song phương và đa phương mới trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trên lĩnh vực kinh tế Mối quan hệ về kinh tế giữa Nhật Bản và ASEAN cũng không nằm ngoài quy luật đó

Có thể nói, sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, thế giới từ chỗ đối đầu về quân sự chuyển sang cạnh tranh về kinh tế là chính, quyền lực về kinh tế dường như là thước đo cho bất kì sự phát triển nào của mỗi quốc gia Đồng thời, bối cảnh khu vực hóa, toàn cầu hóa cũng đã thúc đẩy các nước nhanh chóng tìm một chỗ đứng cho mình trong một trật tự thế giới mới và mỗi quốc gia đã cố gắng tìm cho mình một đường lối phù hợp “mở cửa” ra bên ngoài Cùng với sự kết thúc của Chiến tranh lạnh, khu vực Châu Á – Thái Bình Dương nói chung, khu vực ASEAN nói riêng đã có những chuyển biến căn bản trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, an ninh trong đó ASEAN vừa nổi lên như một trung tâm kinh tế phát triển sôi động không những ở Châu Á mà còn

ở thế giới Nơi đây không chỉ tập trung nhiều bạn hàng buôn bán đầu tư, có khả năng tạo ra nguồn thu lợi ích kinh tế chủ yếu, mà còn chứa đựng nhiều tiềm năng phát triển, giàu khoáng sản, nguồn lao động dồi dào mà giá rẻ Không những thế, ASEAN còn là khu vực rất quan trọng về địa lý, chính trị

Có thể nói rằng bất kỳ sự tác động nào của khu vực đều ảnh hưởng trực tiếp

và sâu xa đến lợi ích an ninh, chính trị và ngoại giao trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương

Là một cường quốc kinh tế trong khu vực, lại có những mối quan hệ về kinh tế, lịch sử, văn hóa lâu đời với Đông Nam Á (ngày nay là ASEAN), Nhật

Trang 2

Bản luôn coi đây là khu vực thân thiết gắn bó với sự sống còn và phát triển của mình Tuy nhiên, mức độ ưu tiên của yếu tố này trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản còn được điều chỉnh theo từng thời kỳ, dựa trên lợi ích thực tế mà Nhật Bản theo đuổi Có thể nói, sau Chiến tranh lạnh xu hướng khu vực hóa đã thúc đẩy để tạo nên một cộng đồng ASEAN thịnh vượng và phát triển đã buộc Nhật Bản phải lựa chọn đối tác để có thể phát triển nền kinh tế của mình hơn nữa, đồng thời có được ảnh hưởng chính trị ở các nước này.

Việt Nam là một thành viên của ASEAN, từ lâu đã xây dựng được mối quan hệ tốt đẹp với Nhật Bản, đặc biệt mối quan hệ đó đang phát triển thuận lợi trong những năm gần đây, chủ yếu là trên lĩnh vực kinh tế Do đó, việc nghiên cứu quan hệ kinh tế giữa Nhật Bản với ASEAN sau thời kỳ Chiến tranh lạnh trong thời điểm hợp tác khu vực đang gia tăng là một yêu cầu cấp thiết đối với Việt Nam và các nước trong khu vực Nó vừa đảm bảo được mối quan hệ giữa ba bên Việt Nam – Nhật Bản – ASEAN trong bối cảnh mới ở khu vực và trên thế giới Đồng thời việc nghiên cứu giúp người đọc có một cách đánh giá khách quan về những ưu nhược điểm mà quan hệ kinh tế trong thời gian qua, mặt khác phát huy mặt tích cực, khắc phục những hạn chế để định hướng cho sự hợp tác sắp tới

Xuất phát từ những lí do trên, tôi quyết định chọn đề tài “Quan hệ kinh tế giữa Nhật Bản và ASEAN từ 1991 đến 2009” làm đề cho khóa luận tốt nghiệp của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề.

Trong những năm gần đây, do sự phát triển trong quan hệ hợp tác giữa Nhật Bản và ASEAN ngày một tốt đẹp hơn, đặc biệt là trên lĩnh vực kinh tế Chính vì vậy, nghiên cứu quan hệ kinh tế giữa Nhật Bản với các nước trong khu vực Đông Nam Á sau Chiến tranh lạnh đã được các nhà nghiên cứu quan tâm:

Trang 3

Cuốn “Quan hệ Nhật Bản – ASEAN, chính sách tài trợ ODA”, xuất bản năm 1999 của tác giả Ngô Xuân Bình, Nxb KHXH, trong đó có việc nghiên cứu chính sách ODA của Nhật Bản đối với các nước ASEAN Tác phẩm đã phân tích thực trạng và dự báo triển vọng của tài trợ ODA của Nhật Bản cho ASEAN trong những năm gần đây, đặc điểm chủ yếu của quá trình hoạch định chính sách tài trợ ODA cũng như diễn biến của quá trình tài trợ này

Cuốn “Chính sách đối ngoại của Nhật Bản sau Chiến tranh lạnh”, xuất bản năm 2000, do Ngô Xuân Bình chủ biên Tác phẩm chủ yếu trình bày chính sách đối ngoại chung của Nhật Bản thời kỳ sau Chiến tranh lạnh và quan hệ giữa Nhật Bản với các nước bên ngoài trong đó có chính sách đối với Đông Nam Á cũng được trình bày trên nhiều khía cạnh, trong đó có chính sách kinh tế

Tác phẩm “ Đông Á và Đông Nam Á những vấn đề lịch sử và hiện đại”, NXB Thế giới, Hà Nội, 2004 trong đó những vấn đề khoa học được trình bày tương đối rộng : một vùng không gian từ Đông Bắc Á đến Đông Nam Á đồng thời trải dài suốt một khoảng thời gian từ quá khứ đến hiện tại Vấn đề chính sách của Nhật Bản đối với Đông Nam Á từ thập niên 50 của thế kỷ XX đến nay được trình bày trên nhiều góc độ, trong đó góc độ kinh tế cũng chiếm một phần rất quan trọng trong nội dung của tác phẩm

Ngoài ra, trên Tạp chí nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á có các bài viết: “Chính sách đối ngoại Đông Nam Á của Nhật Bản và ảnh hưởng của nó đối với ba nước Đông Dương giai đoạn sau Chiến tranh lạnh” của tác giả Hoàng Thị Minh Hoa (2008); “Quan hệ thương mại Việt Nam – Nhật Bản : thành tựu và triển vọng” của tác giả Trần Quang Minh (2008)

Trên Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á có các bài viết : “Chính sách của Nhật Bản đối với Đông Nam Á ở thời kỳ hậu Chiến tranh lạnh” và “Nhật Bản : vai trò và những đóng góp đối với tiến trình hợp tác ASEAN +3” của cùng tác giả Nguyễn Thu Mỹ (2003); “Nhật Bản và Đông Nam Á” của Phạm Đức Thành (2003)

Trang 4

Trên Tạp chí nghiên cứu kinh tế có các bài viết “Đầu tư trực tiếp nước ngoài Nhật Bản ở các nước ASEAN” của Nguyễn Xuân Thiên (2003), hay bài

“Tác động của thương mại Việt Nam – Nhật Bản đối với hoạt động ngoại thương của nước ta những năm 1990” của Trần Anh Phương

Tuy nhiên, tất cả những tài liệu và đề tài nghiên cứu đề cập trực tiếp đến

“ Quan hệ kinh tế Nhật Bản – ASEAN từ 1991 đến 2009” lại rất hạn chế, chủ yếu các tác phẩm nghiên cứu nội dung chính sách đối ngoại của Nhật Bản từ sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, nội dung kinh tế chỉ được đề cập trên khía cạnh nhỏ Vì vậy, nghiên cứu đề tài này chúng tôi hi vọng hiểu rõ hơn về lĩnh vực quan hệ kinh tế giữa Nhật Bản đối với khu vực Đông Nam Á nói chung

và quan hệ kinh tế giữa Nhật Bản với các nước trong khu vực nói riêng, đặc biệt là quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Nhật Bản

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài “Quan hệ kinh tế Nhật Bản – ASEAN

từ 1991 đến 2009” nhằm tìm hiểu cụ thể nội dung quan hệ kinh tế giữa Nhật Bản và ASEAN trong bối cảnh mới khi Chiến tranh lạnh kết thúc

- Phạm vi nghiên cứu :

Phạm vi nội dung : trọng tâm nghiên cứu là mối quan hệ về kinh tế giữa Nhật Bản và ASEAN Ngoài ra, để có những đánh giá khách quan đề tài có đề cập đến một số vấn đề liên quan như: các nhân tố tác động đến quan hệ kinh

tế Nhật Bản – ASEAN, quan hệ kinh tế giữa Nhật Bản với một số quốc gia Đông Nam Á, đặc biệt là đối với Việt Nam

Phạm vi thời gian: đề tài tập trung nghiên cứu về quan hệ kinh tế giữa Nhật Bản và ASEAN từ 1991 đến 2009 Tuy nhiên, trong khi tiếp cận vấn đề chúng tôi cũng đã đề cập đến khoảng thời gian trước Chiến tranh lạnh để có một cái nhìn toàn diện hơn vấn đề mình đề cập

4 Phương pháp nghiên cứu

Trang 5

Trên cơ sở những nguồn tài liệu thu thập được, chúng tôi sử dụng các phương pháp như phương pháp lịch sử, phương pháp logic, phương pháp lịch

sử kết hợp với phương pháp logic Ngoài ra, còn sử dụng các phương pháp: tổng hợp, so sánh, phân tích, thống kê các vấn đề mà khóa luận đặt ra

5 Bố cục khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của khóa luận được trình bày làm ba chương:

Chương 1: Các nhân tố tác động đến quan hệ kinh tế Nhật Bản – ASEAN

từ 1991 đến 2009

Chương 2: Quan hệ kinh tế Nhật Bản – ASEAN từ 1991đến 2009

Chương 3: Một số đánh giá về quan hệ kinh tế Nhật Bản – ASEAN từ

1991 đến 2009

Trang 6

NỘI DUNG CHƯƠNG 1:

CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ KINH TẾ

NHẬT BẢN – ASEAN

1.1 Nhân tố quốc tế

Sự tan rã của Liên Xô và các nước XHCN đã đem lại sự kết thúc nhanh chóng bất ngờ của cuộc Chiến tranh lạnh vào thập niên 90, cục diện thế giới

đã bắt đầu có những biến đổi căn bản

Bức tranh chính trị thế giới vẫn đang trong thời kì chuyển tiếp, trật tự thế giới vẫn chưa hình thành trong khi trật tự hai cực Ianta đã tan rã, đánh dấu bằng sự sụp đổ của Liên Xô, Mỹ muốn trở thành cực duy nhất Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc là Mỹ sẽ nắm vai trò lãnh đạo thế giới trong trật tự một cực Bởi lúc này, sự phát triển của Tây Âu, Nhật Bản, sự vươn lên của Trung Quốc cũng tạo ra những thách thức không nhỏ đối với Mỹ

Trong quan hệ quốc tế cũng có những thay đổi to lớn Sự đối đầu gay gắt giữa hai ý thức hệ được thay bằng xu thế hòa bình, ổn định, hợp tác, cùng phát triển và càng trở thành đòi hỏi của các quốc gia trên thế giới Sự xung đột cũng như bất đồng đã được giải quyết bằng giải pháp chính trị Mặt khác,

ý thức độc lập tự cường, dân chủ hóa của các nước ngày một tăng lên, không chấp nhận việc các nước lớn áp đặt ý chí của họ Những biểu hiện trên cho thấy thế giới đang dần hình thành trật tự đa cực

Chiến tranh lạnh kết thúc làm cho tính đối kháng và đối đầu trên thế giới nhường chỗ cho sự cạnh tranh và hợp tác kinh tế Vấn đề kinh tế trở thành ưu tiên hàng đầu của mọi quốc gia, là nhân tố quyết định sự hưng vong của mỗi quốc gia, dân tộc, có ý nghĩa quan trọng nhất đối với việc tăng cường sức mạnh tổng hợp của mỗi quốc gia Chính vì vậy, các nước đều giành ưu tiên cho phát triển kinh tế và hơn nữa kinh tế thế giới đang bước vào một thời kì

Trang 7

mới với chất xúc tác là công nghệ, khoa học kĩ thuật, đặc biệt là sự bùng nổ của công nghệ thông tin Nền kinh tế thế giới đang bước vào thời kì hậu công nghiệp phát triển mạnh mẽ Toàn thế giới trở thành một thị trường chung thống nhất, gồm các quốc gia có trình độ phát triển cũng như chế độ chính trị khác nhau.

Xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa cũng như ưu tiên cho phát triển kinh

tế trong chính sách của các nước lớn cũng đang ngày một rộng khắp Thế giới cũng trở nên phụ thuộc lẫn nhau, mối quan hệ giữa các quốc gia đã trở nên đa dạng và phức tạp hơn bao giờ hết, quyền lực kinh tế dường như quan trọng hơn quyền lực quân sự Một nền kinh tế toàn cầu hóa và một nền kinh tế mang tính khu vực, thậm chí tiểu khu vực cũng đã bắt đầu hình thành và tồn tại song song

Điểm nổi bật trong thương mại quốc tế những năm sau Chiến tranh lạnh

là sự chuyển dịch của bảo hộ mậu dịch sang tự do hóa thương mại và sự cố kết của các khối liên kết theo khu vực Những thay đổi của môi trường quốc

tế sau Chiến tranh lạnh, đặc biệt là sự chuyển đổi quan trọng về quyền lực quân sự sang quyền lực “mềm” đã tạo cơ hội cho Nhật Bản vốn là nền kinh tế thứ hai thế giới tiếp tục thực hiện chính sách theo đuổi các mục tiêu kinh tế và những mục tiêu chính trị Nhật đang cố gắng thoát khỏi cái “ô” của Mỹ, muốn tìm một vị trí xứng đáng trong thế giới cho phù hợp với tiềm lực kinh tế của mình và chỉ có trong lúc này bằng kinh tế mới gây ảnh hưởng đến chính trị

Và ASEAN là môi trường thuận lợi nhất để Nhật Bản có thể thể nghiệm vai trò của mình

Mặt khác, sau Chiến tranh lạnh, Châu Á-Thái Bình Dương là một trong những khu vực có sự chuyển biến mạnh mẽ nhất

Về kinh tế, Châu Á trở thành một trung tâm của nền kinh tế thế giới, một trong những đặc điểm chủ đạo của thời kì này là kinh tế thị trường đang bao trùm toàn khu vực Hơn thế nữa, được giải phóng khỏi những nhân tố cản trở

về ý thức hệ thời kỳ Chiến tranh lạnh, kinh tế thị trường đã bắt đầu phát huy

Trang 8

được thế mạnh của mình Hầu hết các nền kinh tế trong khu vực như : ASEAN, NIEs, Trung Quốc đều đang có tốc độ tăng trưởng và phát triển rất nhanh Bức tranh toàn cảnh khu vực trong thời kì này là đầy sức sống và nhiều triển vọng.

Bước sang đầu thập kỉ 90, trong khi tình hình thế giới “đang bước những bước thăng trầm” thì Châu Á - Thái Bình Dương đã chứng tỏ sự vượt trội của mình dẫn đầu thế giới về tốc độ tăng trưởng, thậm chí vược xa tốc độ tăng trưởng kinh tế của phương Tây Tạp chí Happy của Mỹ tháng 11-1993 nhận xét: “nếu chỉ ba thập kỉ trước kinh tế Châu Á –Thái Bình Dương mới chỉ chiếm 4% thì đến thời kì này, kinh tế toàn khu vực đã lên tới 25% và trở thành trung tâm quan trọng của kinh tế thế giới” Theo nhiều dự báo cho rằng, thế kỉ XXI sẽ trở thành “kỉ nguyên của Châu Á –Thái Bình Dương” Bởi thế

mà các cường quốc đang đua nhau chuyển hướng sang khu vực này

Riêng đối với khu vực Đông Nam Á, chiến tranh lạnh kết thúc cũng chính là việc mở ra một mối quan hệ mới trong khu vực sau khi sự đối đầu về

hệ tư tưởng không mang ý nghĩa chi phối tình hình trong khu vực nữa, (đầu những năm 90, các nước ASEAN có thêm Việt Nam là quốc gia đang phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN)

Sự lớn mạnh về kinh tế, cũng thể hiện ở việc dự trữ ngoại tệ và vàng của các nước này tăng lên Tính đến năm 1997, dự trữ ngoại tệ (không kể vàng) của Singapore là 77,2 tỷ USD (thứ 5 thế giới), Thái Lan là 33,3 tỷ (thứ 12), Brunây là 30 tỷ Điều đặc biệt nhất cho đến hiện nay là Singapore vẫn là một trong hai trung tâm giao dịch tài chính lớn của khu vực và thế giới

Cùng với sự lớn mạnh về kinh tế thì trong đời sống chính trị thế giới, Đông Nam Á ngày càng có vị trí quan trọng Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc , thỏa thuận Pari cho xung đột Campuchia được ký kết - chất keo tạo nên sự

cố kết ASEAN từ cuối những năm 70 và việc tất cả các nước Đông Nam Á gia nhập ASEAN vào cuối thế kỷ XX đã khiến cho khu vực trở thành một tổ

Trang 9

chức có tiếng nói thuyết phục cao, rất được coi trọng trên các diễn đàn chính trị quốc tế, khu vực Châu Á -Thái Bình Dương

Rõ ràng, hiện tại cũng như tương lai dự báo cho thấy đây cũng là một trong những trung tâm kinh tế, chính trị sôi động nhất đầu thế kỷ Tất cả những điều đó khiến cho Nhật Bản đặc biệt chú ý đến việc điều chỉnh chính sách đối ngoại của mình với ASEAN, đặc biệt là chính sách kinh tế

Sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, nền chính trị của Nhật Bản luôn bị xáo trộn, uy tín của Đảng Dân Chủ tự do sau gần 40 năm cầm quyền đang mâu thuẫn nội bộ sâu sắc Đồng thời, chủ nghĩa dân tộc ở Nhật cũng đang có

xu hướng mạnh lên, phản ánh rõ trong sự kiện tranh chấp đảo Điếu Ngư với Trung Quốc và muốn chủ động hơn trong các hoạt động đối nội và đối ngoại của mình, muốn thoát khỏi ảnh hưởng của “vua đại bàng” Mỹ

Về kinh tế, bước sang những năm 90 kinh tế Nhật Bản đang đứng trước thời kỳ có những thay đổi về cơ cấu Sau một thời gian dài thành công rực rỡ

từ năm 1950 cho đến thập kỷ 80, nhưng từ những năm 90 trở lại đây cùng với

sự phát triển mới trong nền kinh tế thế giới mà Nhật Bản không lường trước được đã tạo nên một cuộc khủng hoảng trì trệ, sâu rộng nhất trong lịch sử kinh tế của Nhật Bản Đó là sự đổ vỡ của “nền kinh tế bong bóng” khiến cho nền kinh tế Nhật Bản đột ngột chuyển hướng, tốc độ tăng trưởng liên tục rơi vào tình trạng số âm (1997 là âm 0,5%) Điều này cho thấy rõ ràng sự “thần

kỳ Nhật Bản” không còn được các nền kinh tế ở Châu Á – Thái Bình Dương ngưỡng mộ như trước nữa Tuy gặp nhiều khó khăn, song Nhật vẫn là nước cung cấp viện trợ ODA lớn nhất thế giới và FDI cũng là một trong những

“con bài kinh tế” để Nhật Bản bảo vệ lợi ích và tăng cường ảnh hưởng của mình trên trường quốc tế Đông Á nói chung, Đông Nam Á nói riêng vẫn là địa bàn nhận được lượng vốn ODA, FDI cũng như kim ngạch thương mại lớn nhất của Nhật

Là một khu vực phát triển kinh tế năng động ASEAN chứ không phải khu vực nào khác sẽ là điểm xuất phát để Nhật Bản khẳng định mình dần

Trang 10

thoát khỏi hình ảnh “người khổng lồ” về kinh tế và “chú lùn” về chính trị của chính mình.

Thực tế cho thấy, quan hệ kinh tế Nhật Bản và ASEAN trở nên gắn bó

và phụ thuộc lẫn nhau một cách chặt chẽ Nhật Bản muốn vươn lên về chính trị, muốn phát triển hơn nữa nền kinh tế của mình, còn ASEAN lại cần những khoản viện trợ, đầu tư, những loại máy móc, công nghệ hiện đại để phát triển nền kinh tế của mình, để tránh bị Mỹ, Trung Quốc gây ảnh hưởng quá lớn đến mình Chính những điều đó đã thúc đẩy quan hệ kinh tế giữa hai bên phát triển hơn

1.2 Nhân tố quốc gia

1.2.1 Chính sách đối ngoại của Nhật Bản đối với ASEAN từ sau Chiến tranh lạnh đến nay.

Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai bị kiệt quệ nhưng chỉ sau vài thập kỷ đã vùng lớn dậy, trở thành một “người khổng lồ” về kinh tế, là siêu cường tài chính số một và là siêu cường kinh tế thứ hai thế giới cho đến hiện nay, nhưng Nhật Bản vẫn bị coi là “người lùn” về chính trị Với một vị trí mới sau Chiến tranh lạnh, chính giới Nhật đang tìm cách xác lập vị thế quốc tế của mình tương ứng với tiềm lực kinh tế của họ

Trong ngoại giao, mục đích bảo vệ an ninh chính trị cũng là nội dung quan trọng Cho đến nay việc đảm bảo an ninh cũng như đối tác ngoại giao chính của họ là Mỹ, sau đó mới đến Liên Hợp Quốc Nhưng khi Chiến tranh lạnh kết thúc, tuy Mỹ vẫn nắm được quyền lực, vai trò Liên Hợp Quốc được nâng cao và phát huy nhiều thì chính sách đối ngoại của Nhật đã thay đổi ít nhiều Nhật Bản cho rằng, thời kỳ hậu Chiến tranh lạnh là thời kỳ hoạt động của Liên Hợp Quốc nên một mặt vừa gắn với Mỹ làm lá chắn cho an ninh của mình như trong tinh thần hiệp ước an ninh Nhật - Mỹ, mặt khác mạnh dạn tham gia các hoạt động của Liên Hợp Quốc như PKO Nhật đang cố vận động việc mở rộng ủy viên thường trực Hội đồng bảo an của Liên Hợp Quốc và hy vọng đại diện khu vực giành một vị trí trong đó

Trang 11

Thực tế cho thấy, Nhật đang từng bước chuyển hướng chính sách đối ngoại tập trung vào Mỹ, lấy trụ cột chính là an ninh Mỹ - Nhật sang chính sách “ngoại giao toàn phương vị”, tức là tham gia tích cực vào các hoạt động của Liên Hợp Quốc, thúc đẩy quan hệ với các nước Châu Á và duy trì quan hệ đồng minh với

kỳ này Nhật rất coi trọng Hiệp ước an ninh Nhật - Mỹ, coi đó là hòn đá tảng trong chính sách ngoại giao của mình Tuy nhiên, trong bối cảnh tình hình thế giới cũng như khu vực có nhiều thay đổi, tính chất liên minh cũng có nhiều thay đổi mạnh mẽ, chuyển từ ngăn chặn sự lớn mạnh của Liên Xô và chủ nghĩa Cộng sản sang chia sẻ vai trò lãnh đạo toàn cầu trên cơ sở ngày một bình đẳng hơn, từ việc chú trọng bó hẹp trong khuôn khổ lợi ích hai nước sang phạm vi hợp tác mở rộng ra “những khu vực xung quanh Nhật Bản”

- Tăng cường hoạt động trong khuôn khổ của Liên Hợp Quốc Việc Nhật tham gia vào Liên Hợp Quốc cũng được thể hiện thông qua hoạt động giữ gìn hòa bình (PKO) dưới sự bảo trợ của Liên Hợp Quốc tại Campuchia, Modambich Tháng 6-1992, Quốc hội Nhật đã thông qua một đạo luật cho phép lực lượng phòng vệ Nhật Bản tham gia vào các hoạt động của PKO Điều này đã tạo cơ sở pháp lý và chính trị ở ngoài nước để binh lính Nhật có thể phục vụ ở nước ngoài dưới sự bảo trợ của Liên Hợp Quốc

- Thúc đẩy quan hệ với các nước Châu Á Trước sự tiến triển của thế giới cũng như khu vực sau Chiến tranh lạnh, Nhật Bản đang có chủ trương “thoát

Á nhập Âu” sang “phục quy Châu Á” Trên bình diện quốc tế, mục tiêu của Nhật Bản là nỗ lực xác định vai trò chính trị, vị thế quốc tế, thu hẹp khoảng

Trang 12

cách chênh lệch giữa sức mạnh kinh tế và chính trị của mình, tạo cân bằng sức mạnh với Mỹ, nắm vai trò lãnh đạo thế giới

Còn tại Châu Á – Thái Bình Dương, đến cuối những năm 80, đầu 90 Nhật đã có sự hiện diện kinh tế áp đảo Trong khi vai trò chính trị của Nhật còn hạn chế và thường phụ thuộc vào Mỹ, Nhật vẫn bị coi là “chú lùn” về chính trị Vì thế mục tiêu chiến lược của Nhật là nâng cao vị thế chính trị trong khu vực, giành vai trò chủ đạo của mình ở Châu Á trên cơ sở liên minh

và hợp tác với Mỹ, vừa phát triển quan hệ ổn định, vừa cạnh tranh chiến lược khôn khéo, vừa kín đáo tập hợp lực lượng kiềm chế Trung Quốc, vừa thúc đẩy quan hệ bình thường hóa với Nga

Riêng đối với khu vực Đông Nam Á, chính sách của Nhật Bản lại được thể hiện được sự rõ nét Một trong những hướng điều chỉnh của Nhật Bản với Đông Nam Á là tăng cường và nâng cao vai trò trên lĩnh vực an ninh, chính trị cho tương xứng với tiềm lực kinh tế của mình Khi không còn bị uy hiếp bởi

“mối đe dọa Xô Viết” và nguy cơ chiến tranh hủy diệt, Nhật Bản đã tìm cho mình cơ chế tác động thích hợp đến đời sống kinh tế chính trị Đông Nam Á Trên cơ sở đó, Nhật Bản có thể chuyển “sức mạnh khổng lồ về kinh tế” thành

“sức mạnh chính trị và ngoại giao” Đồng thời cải thiện lại tình trạng lệ thuộc nặng nề vào Mỹ trên lĩnh vực an ninh như trong suốt thời kì Chiến tranh lạnh trước đây Giờ đây, với tiềm lực kinh tế của mình Nhật Bản muốn đương đầu với những trách nhiệm quốc tế tương đồng với địa vị kinh tế của họ Vì thế, vai trò của Nhật mới được phát huy mạnh mẽ tại Châu Á-Thái Bình Dương nói chung, Đông Nam Á nói riêng

Trên lĩnh vực an ninh chính trị, chính sách chung của một quốc gia là nhằm phục vụ lợi ích quốc gia trong một giai đoạn nhất định Tất cả những thay đổi của tình hình quốc tế, khu vực và nội bộ Nhật Bản đầu thập kỉ 90 một mặt đòi hỏi nước này phải có những điều chỉnh trong chính sách đối ngoại, mặt khác đặt Nhật Bản vào một vị trí thuận lợi để thực hiện những điều

đó Chính sách tách các vấn đề chính trị ra khỏi các vấn đề hay đặt các vấn đề

Trang 13

kinh tế lên vấn đề chính trị mà Nhật Bản theo đuổi trong suốt thời kì Chiến tranh lạnh này đã trở nên lỗi thời trong giai đoạn sau Chiến tranh lạnh này Vì vậy, trong thời kì mới với tham vọng tìm kiếm một vai trò lớn trong nền chính trị thế giới, việc đẩy mạnh quan hệ với các nước Đông Nam Á cũng góp phần nâng cao vị trí của Nhật Bản trên trường quốc tế trong quan hệ với các cường quốc khác là Mỹ, Trung Quốc, Nga và EU Mặt khác, để có được vai trò chủ đạo trong khu vực Châu Á –Thái Bình Dương hay chiếc ghế thường trực trong Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc – một trong ba trụ cột của chính sách đối ngoại mà Nhật Bản đề ra, Nhật rất cần sự ủng hộ của các nước Đông Nam Á.

Sau Chiến tranh lạnh, Nhật Bản đã đi những bước lớn về chính trị, ngoại giao ở khu vực Đông Nam Á

Thứ nhất, Nhật đã tích cực tham gia và giải quyết các vấn đề an ninh khu vực, đặc biệt là vấn đề Campuchia, nhằm nâng cao tiếng nói của mình trên thế giới nói chung, Châu Á và Đông Nam Á nói riêng Với sự giúp đỡ của ASEAN, năm 1990 Nhật Bản đã đứng ra đăng cai Hội nghị của các phái đoàn chính trị Campuchia, nhằm thúc đẩy tiến trình hòa bình ở nước này bằng sự đóng góp tài chính đáng kể Nhật Bản còn giữ chức chủ tịch UNTAC theo Hiệp định hòa bình về Campuchia (1991) Sau khi Nhật Bản chính thức thông qua luật về các hoạt động giữ gìn hòa bình lần đầu tiên kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, chính phủ Nhật Bản đã gửi 700 quân của lực lượng giữ gìn hòa bình của Liên Hợp Quốc tại Campuchia Hành động này thể hiện một thay đổi có tính lịch sử trong an ninh đối ngoại bởi các nhân viên quân sự của Nhật Bản đã tham gia vào việc giữ gìn hòa bình ở Châu Á Do đó, đây có thể coi là một bước tiến mới của Nhật Bản

Thứ hai, sự kiện nổi bật những năm 90 là chuyến thăm các nước Đông Nam Á của hai vị thủ tướng Miyazawa và Hashimoto đã vạch ra chính sách đối ngoại của mình đối với Đông Nam Á Đây là một chuyến thăm có ý nghĩa đối với cả hai bên

Trang 14

Cùng với những chính sách về an ninh, chính trị thì Nhật Bản cũng điều chỉnh chính sách kinh tế Đây có thể coi là nội dung quan trọng nhất, trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản đối với Đông Nam Á và ngược lại, nó chiếm phần lớn các kế hoạch, các chương trình hành động từ cả hai phía Kể

từ đầu thập niên 90 của thế kỉ XX, Nhật Bản đã chuyển trọng tâm các quan hệ hợp tác kinh tế từ Châu Âu sang Châu Á với ý tưởng xây dựng khu vực Châu

Á thành một trung tâm kinh tế lớn của thế giới do Nhật giữ vai trò chủ đạo Các quan hệ kinh tế giữa Nhật Bản với ASEAN ngày càng phát triển mạnh

mẽ cả bề rộng lẫn chiều sâu Chính điều đó đã mang lại lợi ích to lớn cho cả hai phía Tuy nhiên, trong một vài thập kỉ tới mà thế giới trải qua nhiều sự biến đổi thì nền kinh tế Nhật Bản lại rơi vào suy thoái liên tục và kéo dài Điều đó có nghĩa là bước vào thế kỉ XXI, Nhật Bản đang đứng trước những yêu cầu mới về điều chỉnh chiến lược hợp tác kinh tế toàn cầu nói chung cũng như các quan hệ hợp tác kinh tế với các nước Châu Á nói riêng

1.2.2 Chính sách đối ngoại của ASEAN đối với Nhật Bản.

“Các nước ASEAN trước khi đi vào công nghiệp hóa đều có xuất phát

điểm là các nền kinh tế lạc hậu, chậm phát triển và đa phần vừa mới thoát khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân (Anh , Pháp, Nhật Bản ), nên suốt những năm 50-60 đều chủ trương phát triển kinh tế tự lực tự cường, khép kín bằng chiến lược công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu ( ngoại trừ Hồng Kông

và Singapore tuy diện tích lãnh thổ nhỏ bé nhưng lại có lợi thế cảng biển và vị trí địa lý thông thương nên về cơ bản đã thực hiện ngay từ đầu việc thực hiện chiến lược công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu)”[3;254] Vì thế, tuy trình tự thời gian cụ thể đối với từng nước khác nhau, song nếu lấy mốc tương đối chung cho các nước ASEAN 5 là từ thập niên 80, các nhóm này đều đã chuyển mạnh sang chiến lược công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu, đi theo

“mô hình đàn sếu bay” mà trước đó Nhật Bản đã thực hiện thành công ở những năm 50 - 60

Trang 15

Chính trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu, các nền kinh tế Đông Nam Á đều có nhu cầu về vốn đầu tư và kĩ thuật, công nghệ từ các trung tâm tư bản, trong đó Nhật Bản là trung tâm tư bản vừa gần

về vị trí địa lí, vừa có nhiều điểm tương đồng về văn hóa – xã hội, dễ hợp tác cùng nhau phát triển Vì vậy ngay từ thập niên 60 (đối với NIEs) và thập niên

70 ( đối với ASEAN 5) các quan hệ kinh tế đối ngoại, đặc biệt là thương mại

và đầu tư giữa Nhật Bản và các nước Đông Nam Á đã được tiến hành và ngày càng mở rộng đa dạng hóa dưới nhiều hình thức Năm 1976, với sự kiện Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ nhất, Hiệp ước Bali ra đời đã khẳng định chính sách đối ngoại của ASEAN là cùng với các nước khác ở Châu Á, đặc biệt là với các nước trong cùng khu vực Đông Á thực hiện tốt quan hệ hợp tác cùng nhau phát triển kinh tế, bảo đảm an ninh chính trị, hòa bình khu vực Hưởng ứng lại bản Hiệp ước này, ngay sau đó năm 1977, Nhật Bản đã đưa ra học thuyết Fukuda mà nội dung của nó phản ánh một chính sách đối ngoại đã có sự chuyển hướng đặc biệt chú trọng tới các nước trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương nói chung và Đông Á nói riêng

Đối với các nước ASEAN, học thuyết này cũng đã thể hiện nhận thức mới của Nhật Bản, đó là từ chỗ trước đây chỉ coi trọng quan hệ với từng nước thì từ thời điểm này trở đi, Nhật Bản đã xem ASEAN là một hệ thống tổ chức mới có tác dụng đảm bảo an ninh, khu vực Đông Nam Á, ngăn không cho Chủ nghĩa cộng sản Liên Xô, Trung Quốc thông qua Việt Nam lan rộng xuống sẽ có thể đe dọa đến lợi ích kinh tế và cả an ninh, chính trị đối với Nhật Bản và tiếp sau đó luôn là những chính sách hợp tác kinh tế giữa Nhật Bản với ASEAN, nhất là từ sau khi Chiến tranh lạnh đến nay

Sau Chiến tranh lạnh đến nay, không chỉ riêng có Nhật Bản đặc biệt tăng cường hợp tác với các nước ASEAN mà ngay cả chính nội bộ các nước trong khu vực cũng tăng cường quan hệ hợp tác với Nhật Bản Điều đó xuất phát từ chính nhu cầu lợi ích không chỉ riêng Nhật Bản mà còn có cả nội bộ các nước ASEAN ASEAN tìm thấy ở Nhật Bản về mặt kinh tế nói riêng một

Trang 16

nguồn lực đầu tư quan trọng, một bạn hàng truyền thống và đầy tiềm năng nhất

Từ sau Chiến tranh lạnh đến nay, giữa Nhật Bản và ASEAN đã liên tục

có các sáng kiến hợp tác kinh tế Không phải ngẫu nhiên mà các nước ASEAN đã ủng hộ và tham gia sáng kiến thành lập cơ chế ASEAN + 1, cơ chế này xác định được mối quan hệ giữa ASEAN với riêng Nhật Bản Hướng hợp tác không chỉ tự do hóa hoạt động thương mại nội bộ ASEAN mà còn Nhật Bản Ngay từ cuộc họp thượng đỉnh lần thứ III (năm 1987), lần thứ IV (1992), nhiều sáng kiến về hợp tác khu vực đã được các nước ASEAN đề xuất Hai văn kiện quan trọng được đưa ra tại Hội nghị thượng đỉnh năm 1992: Hiệp định khung về tăng cường hợp tác kinh tế ASEAN và Hiệp định

về chương trình ưu đãi thuế quan và các biện pháp tiến tới hình thành khu vực mậu dịch tự do ASEAN Tiếp đó, tầm nhìn 2020 được đưa ra 1997 đã khẳng định sự liên kết mạnh mẽ hơn trong khối và trở thành cộng đồng mở nhằm hội nhập sâu rộng hơn trong khu vực và có thể đóng vai trò trục quay cho liên kết Đông Á và Thái Bình Dương Đặc biệt, chủ trương thành lập khu vực tự do mậu dịch với Nhật Bản và Trung Quốc được các nước trong khối ASEAN ủng hộ và tích cực xúc tiến để nhanh chóng trở thành hiện thực trong thời gian gần nhất

Từ hình thức hợp tác ASEAN + 1 với các nước trong khu vực Châu Á đã tiến tới mô hình ASEAN + 3 (Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc ) Tuyên bố chung hội nghị cấp cao ASEAN + 3 năm 1999, sáng kiến Chiềng Mai của Hội nghị Bộ trưởng tài chính 10 + 3, Hội nghị Bộ trưởng kinh tế ASEAN + 3 tháng 5/2000 Và lời kêu gọi của thủ tướng Malaixia về việc thành lập nhóm kinh tế Đông Á đã thể hiện mong muốn nhanh chóng tăng cường hợp tác liên kết và hình thành khu vực thương mại tự do với Trung Quốc, Hàn Quốc, đặc biệt là với Nhật Bản

Với việc ký kết nhiều văn kiện quan trọng, đặc biệt là cơ chế hợp tác ASEAN +1, ASEAN +3 đã góp phần quan trọng thúc đẩy quan hệ kinh tế vốn

Trang 17

đã có từ trước lại càng có điều kiện phát triển mạnh mẽ hơn trong thời gian tới.

1.3 Nhân tố lịch sử

1.3.1 Quan hệ kinh tế Nhật Bản – ASEAN trước và trong thời kì Chiến tranh lạnh

1.3.1.1 Quan hệ kinh tế Nhật Bản – ASEAN trước khiASEAN thành lập

Có thể nói, các nước Đông Nam Á và Nhật Bản từ lâu trong lịch sử đã có mối liên hệ mật thiết với nhau bởi sự gần gũi về địa lý, về văn hóa Mối liên

hệ ấy trên nhiều phương diện nhưng quan trọng nhất vẫn là trên lĩnh vực kinh

tế Trải qua thời gian cùng với những biến động trong lịch sử của mỗi quốc gia thì mối liên hệ về kinh tế ấy cũng có nhứng bước thăng trầm khác nhau phụ thuộc vào sự thay đổi của lịch sử

Từ trong lịch sử, các nước Đông Nam Á có mối quan hệ kinh tế với Nhật Bản từ rất sớm Mối quan hệ này chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau Trong chiến tranh thế giới thứ hai, phát xít Nhật đã chiếm đóng hầu hết các quốc gia Đông Nam Á Tàn dư chiến tranh đã để lại ấn tượng xấu về Nhật Bản ở mảnh đất này Sau chiến tranh, các nước trong khu vực đều kiệt quệ, cần nhiều nguồn lực để khôi phục và phát triển kinh tế Bởi thế, đòi hỏi đầu tiên của các nước bị chiếm đóng và bị tàn phá trong chiến tranh là nhận được bồi thường chiến tranh của Nhật Bản Để có thể thực hiện việc bồi thường chiến tranh, Nhật bản đưa ra bốn nguyên tắc bồi thường Tuy nhiên, bốn nguyên tắc đó lại chỉ thể hiện mục tiêu chính của việc bồi thường chiến tranh

là xuất phát từ quyền lợi của phía Nhật Bản chứ không phải lợi ích từ cả hai phía Những nguyên tắc đó đặt Trung Quốc đại lục và các nước Đông Nam Á khác ra ngoài những quy luật bồi thường

Trong khi các nước Đông Nam Á đòi hỏi Nhật Bản phải bồi thường chiến tranh cho họ một cách nhanh chóng và với giá phải trả rất cao thì Nhật Bản lại chần chừ tính toán Mặt khác, Nhật Bản muốn gắn bồi thường chiến

Trang 18

tranh và thiết lập quan hệ thương mại và liên kết kinh tế với các nước trong khu vực.

Sau một năm chần chừ tính toán, tháng 12-1952 lần đầu tiên Chính phủ Nhật Bản chính thức tuyên bố chính sách của họ đối với Đông Nam Á “nhằm thúc đẩy mậu dịch, Chính phủ sẽ thực hiện chính sách ngoại giao kinh tế tiến hành kí kết các Hiệp định thương mại mở rộng và phát triển các cơ hội buôn bán, củng cố các ngành xuất khẩu để làm được điều đó chúng ta đặc biệt phát triển các liên hệ kinh tế các nước Đông Nam Á [28;3-9] Đường lối này của Nhật Bản là nhằm vào thị trường nguyên liệu và tiêu thụ của các nước Đông Nam Á, bởi lẽ bồi thường chiến tranh thông qua các hình thức trả bằng hiện vật chiếm một phần lớn trong toàn bộ các khoản bồi thường Việc tiêu thụ các loại hàng hóa thông qua các khoản viện trợ sẽ đáp ứng nhu cầu hàng hóa sau chiến tranh ở các nước trong khu vực Nhìn xa hơn thế, bồi thường chiến tranh thông qua các hình thức hàng hóa mang tính hai mặt: trước hết làm cho người tiêu dùng Đông Nam Á quen dần với hàng hóa của Nhật Bản, mặt khác cùng với thời gian hàng hóa Nhật Bản sẽ chiếm lĩnh thị trường Đông Nam Á

Xuất phát từ những lý do đó, Nhật Bản từng bước thương lượng thực hiện bồi thường từng bước cho các nước Đông Nam Á

Với Mynama, ngày 5 - 12 - 1952 Hiệp định về bồi thường chiến tranh cho Mynama được ký chính thức giữa hai nước Nhật Bản cam kết chi trả 200 triệu USD (hàng hóa và dịch vụ được trả trong 20 năm) cộng với 50 triệu USD đầu tư thông qua hình thức liên doanh (trong vòng 10 năm)

Với Philippin, tháng 4 – 1957 Nhật Bản và Philippin đã đạt được một Hiệp định bồi thường chiến tranh 500 triệu USD (được chi trả trong vòng 20 năm)

Với Indonexia, tháng 11 – 1957 Nhật Bản và Indonexia đã ký Hiệp định bồi thường chiến tranh 230 triệu USD và 400 triệu USD tín dụng

Trang 19

Đối với các nước bị Nhật Bản chiếm đóng, bên cạnh việc bồi thường chiến tranh, Nhật Bản con thiết lập “quỹ phát triển Châu Á” với tổng số tiền

là 700 triệu USD trong đó phần lớn quỹ dành cho vay dài hạn lãi suất ưu đãi với 500 triệu USD, 100 triệu USD cho việc thúc đẩy xuất khẩu máy móc thiết

bị và 100 triệu USD hỗ trợ cho việc bình ổn giá cả hàng hóa nông sản phẩm Thành lập “quỹ phát triển Châu Á” chính phủ Nhật Bản muốn tạo ra một chiến lược phát triển lâu dài tại các khu vực này và là chất xúc tác quan trọng cho các quan hệ song phương

Cùng với chính sách ngoại giao trên, do nhu cầu thị trường, vốn, lao động và tài nguyên đã thúc đẩy tư bản Nhật nhanh chóng thâm nhập vào các nước trong khu vực Sau sự mở đường của ODA, cùng với sự nâng cao cơ sở

hạ tầng, làn sóng đầu tư hàng loạt trên nhiều lĩnh vực đã góp phần không nhỏ cho việc hình thành các nước công nghiệp mới tại đây và đồng thời tăng nhanh gánh nặng nợ nần của các nước đối với Nhật Bản

Năm 1996, Hội nghị cấp bộ trưởng lần đầu tiên bàn về phát triển kinh tế của khu vực Đông Nam Á đã được triệu tập tại Tokyo với sự tham gia của tất

cả các nước trong khu vực (trừ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa) Có thể nói, đây là quá trình phát triển mới trong quá trình triển khai chính sách “ngoại giao kinh tế” của Nhật Bản và tăng cường quan tâm tới vùng Đông Nam Á một cách tích cực hơn nữa Chính nhờ điều đó mà đến những năm 60, Nhật Bản đã trở thành bạn hàng lớn của hầu hết các nước trong khu vực Đông Nam Á

1.3.1.2 Quan hệ kinh tế Nhật Bản – ASEAN từ khi ASEAN thành lập đến khi chiến tranh lạnh kết thúc (1967 – 1991)

Sau khi giành được độc lập, các nước Đông Nam Á có dự định thành lập một tổ chức khu vực nhằm tạo điều kiện cho sự hợp tác phát triển trên các lĩnh vực kinh tế, khoa học kỹ thuật và văn hóa Đồng thời, hạn chế ảnh hưởng của các nước lớn đang tìm cách để biến Đông Nam Á thành “sân sau” của họ

Trang 20

Cuối năm 1966, ngoại trưởng Thái Lan gửi đến ngoại trưởng Indonexia, Malaixia, Philippin và Singapore dự thảo về việc tổ chức “hội các quốc gia Đông Nam Á về hợp tác khu vực” Sau nhiều cuộc thảo luận, tháng 8 – 1967 ngoại trưởng 5 nước : Thái Lan, Indonexia, Malaixia, Philippin và Singapore

đã họp ở Bangkok và ngày 8 – 8 – 1967 đã ra tuyên bố về việc thành lập Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) Sau đó, 1984 có Brunây, 1995 có Việt Nam, 1997 có Lào cùng Miama và năm 1999 Campuchia đều đã được kết nạp

là thành viên chính thức của ASEAN

Việc thành lập một tổ chức khu vực (ASEAN) thống nhất không chỉ riêng ý nghĩa về mặt chính trị, mà trên lĩnh vực kinh tế ASEAN đã tạo cơ sở cho việc hình thành một tổ chức kinh tế năng động mà trước hết là việc tạo lập và củng cố các mối quan hệ kinh tế đa phương theo chiều sâu trong đó có Nhật Bản

Sau khi ASEAN thành lập giữa Nhật Bản với ASEAN

đã liên tục có những chính sách hợp tác làm cơ sở cho những mối quan hệ hợp tác kinh tế thực tế

Đối với Nhật Bản, có ý nghĩa quan trọng cho sự phát triển quan hệ giữa Nhật Bản và ASEAN là chuyến viếng thăm của thủ tướng Nhật Bản Fukuda tháng 8 – 1977 đến tất cả các nước ASEAN Ông đã tham gia Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ hai từ 4 đến 5 – 8 – 1977 tại Kualalampur Đây là cuộc viếng thăm của vị thủ tướng mà mang theo những ưu đãi cho các nước ASEAN Cụ thể : người Nhật Bản sẽ bỏ ra 1 tỷ USD dưới hình thức tín dụng với lãi suất ưu đãi để xây dựng cho một số nước ASEAN một công trình công nghiệp quan trọng

Fukuda còn tuyên bố tăng gấp đôi trong năm tới viện trợ chính thức cho các nước ASEAN, cung cấp cho họ những khoản tín dụng với lãi suất ưu đãi, viện trợ kỹ thuật, giảm hàng rào thuế quan để tăng lượng hàng xuất khẩu

từ ASEAN vào thị trường Nhật Bản Đáp ứng yêu cầu thiết lập một quỹ đặc biệt để ổn định khoản thu nhập từ các mặt hàng nông nghiệp xuất khẩu của

Trang 21

các nước ASEAN, thủ tướng Nhật Bản tuyên bố sẵn sàng bỏ ra 400 triệu USD

để giải quyết tốt vấn đề này

Đặc biệt tại Hội nghị các bộ trưởng ngoại giao ASEAN tháng 8 – 1977

tổ chức ở Manila, thủ tướng Fukuda đã trình bày những nguyên tắc cơ bản cho việc hoạch định đường lối đối ngoại trong tương lai Các nguyên tắc này gọi là “học thuyết Phukuda” Nội dung cơ bản của học thuyết này như sau:

- Nhật sẽ không cố gắng trở thành cường quốc quân sự và quyết tâm góp phần vào sự nghiệp hòa bình và thịnh vượng của các nước Đông Nam Á

- Nhật Bản sẽ dồn mọi nỗ lực vào sự thiết lập quan hệ tin cậy lẫn nhau với các nước Đông Nam Á và phát triển đầy đủ các mối quan hệ trong mọi lĩnh vực kể cả chính trị, kinh tế và văn hóa

- Với tư cách là một người bạn đồng hành bình đẳng, Nhật sẽ hợp tác với các nước thành viên ASEAN và ủng hộ những cố gắng của họ hướng vào việc tăng cường hợp tác lẫn nhau

Được coi là học thuyết đối ngoại đầu tiên của Nhật Bản kể từ sau khi chiến tranh Thái Bình Dương, học thuyết Fukuda cho thấy người Nhật muốn đóng một vai trò to lớn hơn trong vùng Châu Á – Thái Bình Dương và Đông Nam Á bằng cách dựa vào sức mạnh kinh tế - tài chính

Đến năm 1981, Thủ tướng D.Suzuki trong chuyến công du đầu tiên đã tuyên bố mục đích chính là chứng tỏ cho ASEAN thấy Nhật là “người bạn đáng tin cậy” Luận điểm này được ông củng cố bằng những tuyên bố về một

sự giúp đỡ tài chính và kinh tế hậu hĩnh Chỉ tính riêng trong năm 1981 các thành viên ASEAN được thủ tướng Nhật hứa sẽ cung cấp trên 1 tỷ USD, tức tăng 69% so với năm 1980

Thừa hưởng từ những người tiền nhiệm, thủ tướng Nakasone trong chuyến thăm ASEAN đã xác định mục đích chuyến thăm là nhằm trao đổi ý kiến về các quan hệ quốc tế trong khu vực Thái Bình Dương cũng như mối quan hệ kinh tế thương mại giữa Nhật Bản và các nước ASEAN

Trang 22

Tháng 12 - 1987, tại hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ ba ở Manila, tân thủ tướng Nhật Bản Takesita đã thông báo cho các nhà lãnh đạo ASEAN biết rằng : Nhật dự định dành 2 tỷ USD để thành lập “quỹ phát triển Châu Á” nhằm tài trợ cho khu vực tư nhân các nước ASEAN trong khoảng thời gian 3 năm.

Tháng 5-1991, thủ tướng Nhật Kaiphu đã đi thăm chính thức các nước ASEAN Tại Singapore, ông đã đọc phát biểu quan trọng về chính sách khu vực của Nhật Bản, trong đó đề cập đến nhiều vấn đề về việc tăng cường hợp tác khu vực thông qua đầu tư chuyển giao công nghệ và đóng vai trò thúc đẩy hợp tác để các nước ASEAN và Đông Dương cùng phát triển và trở thành bạn hàng tốt của nhau

Những tuyên bố, chính sách của các thủ tướng Nhật Bản là những tiền

đề hết sức quan trọng để thúc đẩy quan hệ song phương giữa Nhật Bản và ASEAN trên mọi phương diện đặc biệt là quan hệ kinh tế

Đối với ASEAN, trong năm 1976, Tokyo đã lần lượt mời tổng thống Philipin, bộ trưởng ngoại giao Indonexia và thủ tướng Singapore sang thăm Một năm sau đó, nhằm mục đích xác lập phương hướng công tác chính hoạch định các biện pháp mở rộng quan hệ cộng tác và kiểm tra, Diễn đàn đối thoại ASEAN – Nhật được thành lập

Tháng 7 - 1977, phái đoàn thương mại kinh tế ASEAN đã đến thăm Tokyo, nêu ra vấn đề năng lượng hàng xuất khẩu từ các nước Hiệp hội sang Nhật thiết lập quan hệ cộng tác trong lĩnh vực công nghiệp

Nhờ những chính sách mà hai bên đã đưa ra, đã tạo điều kiện tốt cho các mối quan hệ kinh tế giữa hai bên trong khoảng thời gian này và đã đạt được những thành tựu hết sức to lớn

Năm 1973, diễn đàn cao su tổng hợp Nhật – ASEAN được thành lập Đây

là diễn đàn mang tính chất kinh tế đầu tiên giữa ASEAN và Nhật Bản Nhờ có diễn đàn này mà quan hệ giữa hai bên về một lĩnh vực cụ thể là cao su đã được thúc đẩy mạnh mẽ hơn bao giờ hết

Trang 23

Sau chuyến thăm của Thủ tướng Nhật sang các nước ASEAN (đặc biệt là chuyến thăm của thủ tướng Phukada), với những hứa hẹn về tài chính thì “làn sóng đầu tư thứ nhất” của Nhật vào ASAEN đã hình thành Tổng số vốn đầu

tư của Nhật vào ASEAN tăng lên không ngừng: 5,5 tỷ (1979), 11,6 tỷ (1983), 13,4 tỷ (1985), chiếm 13,5% tổng số vốn đầu tư của Nhật trên thế giới và đến 70% của nước này ở Châu Á Đây cũng chính là nỗ lực để điều chỉnh cơ cấu công nghiệp nhằm thoát khỏi cuộc khủng hoảng nguyên nhiên liệu bùng nổ từ giữa thập niên 70 mà tất cả các nước có nền kinh tế phát triển như : Hoa Kì, Tây Âu và Nhật Bản đều sa vào

Sau làn sóng đầu tư thứ nhất của Nhật Bản vào ASEAN và cùng với những lời hứa hẹn của Nakasone sau khi thăm Malaixia thì đến năm 1987 giá trị hàng xuất khẩu của Nhật sang ASEAN là 12 tỷ, còn vốn đầu tư trực tiếp là

13 tỷ USD (chiếm 20% tổng vốn đầu tư của Nhật Bản ở nước ngoài)

Với sự tham gia của tân thủ tướng Nhật Takesita, trong Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ ba với dự định dành 2 tỷ USD để thành lập “quỹ phát triển ASEAN” thì một làn sóng đầu tư mới lại xuất hiện giữa Nhật Bản và ASEAN Trong vài năm sau đó, Nhật trở thành nước đầu tư lớn nhất ở Indonexia và Thái Lan Năm 1989, Nhật thay Hoa Kì để trở thành nước đầu

tư nhiều nhất ở Philipin So với Hoa Kì - nước sau nhiều thập niên chiến tranh luôn giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế các nước ASEAN thì vào cuối những năm 80 đã có sự thay đổi, các dự án đầu tư của Nhật ở Thái Lan gấp 8

- 10 lần, còn ở Indonêxia gấp 6 lần

Các nước ASEAN còn là nơi tiếp nhận nguồn viện trợ phát triển chính thức (ODA) rất lớn Trong giai đoạn này, trong 5 nước nhận ODA Nhật Bản nhiều nhất thì các nước ASEAN đã góp ba: Indonexia lớn nhất rồi đến Thái Lan và cuối cùng là Philppin ODA dành cho ASEAN : 703 triệu USD 1980 lên 2.131 triệu năm 1989

Cùng với việc đầu tư và nhận viện trợ, giữa ASEAN và Nhật Bản thời gian này còn diễn ra hoạt động ngoại thương sôi nổi Mậu dịch hai chiều giữa

Trang 24

hai bên tăng lên đều đặn hàng năm Năm 1987, giá trị hàng xuất khẩu của Nhật sang ASEAN là 12 tỷ USD, Nhật trở thành bạn hàng lớn nhất của ASEAN trong đó tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Thái Lan và Indonexia vào Nhật là lớn nhất.

Hàng xuất khẩu của ASEAN thời kì này cũng chủ yếu là các loại nguyên nhiên liệu như dầu mỏ ( sau khủng hoảng dầu mỏ, Nhật tìm thêm nguyên liệu mới ở ASEAN), thiếc, nông sản còn sản phẩm nhập từ Nhật Bản chủ yếu là các loại máy móc công nghệ cao, hóa chất, hàng tiêu dùng Mặc dù hiện nay, Nhật Bản đã bắt đầu xem ASEAN là thị trường tiếp nhận hàng hóa thay thế

do sự tăng trưởng kinh tế nên tăng cường đầu tư và chuyển giao công nghệ cao sang các nước ASEAN

Như vậy là, xuất phát từ nhu cầu của Nhật Bản nhằm phát triển và tăng cường các mối liên kết kinh tế, còn ASEAN nhằm tiếp nhận vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý của các nước phát triển Đông Á nên đã gặt hái được những thành công trong chiến lược công nghiệp của mình hướng ra xuất khẩu Chính điều đó

đã tạo lập được sự liên kết kinh tế và góp phần tạo ra sự “thần kì Châu Á”

Trang 25

CHƯƠNG 2 QUAN HỆ KINH TẾ NHẬT BẢN – ASEAN TỪ 1991 đến 2009

2.1 Chính sách hợp tác kinh tế.

Chiến tranh lạnh kết thúc cũng là mốc mở đầu cho những mối quan hệ đơn phương và song phương, những mối quan hệ quốc tế và khu vực mới Mối quan hệ kinh tế giữa Nhật Bản và ASEAN cũng không nằm ngoài quy luật đó, một trang mới trong lịch sử quan hệ kinh tế đã được mở ra Đối thoại

về kinh tế giữa ASEAN và Nhật Bản đã có bước phát triển có tính chất chiến lược

Trong chuyến thăm các nước ASEAN tháng 4 - 1991, thủ tướng Kaifu tại Singapore đã phát biểu “cam kết không trở thành cường quốc quân sự, Nhật Bản

sẽ đóng góp tích cực hơn trong các vấn đề chính trị Châu Á - Thái Bình Dương tăng cường sự hợp tác khu vực thông qua đầu tư, chuyển giao công nghệ, chương trình viện trợ chính thức ODA đóng vai trò thúc đẩy hợp tác để các nước ASEAN

và Đông Dương cùng phát triển và trở thành bạn hàng tốt của nhau” [26]

Thủ tướng Kichi Miyazawa cũng tiếp tục phát triển hơn nữa đường lối đối ngoại chú trọng đến Đông Dương và cũng khẳng định “Nhật Bản sẽ triển khai chính sách ngoại giao kinh tế với các nước Châu Á và đặt trọng tâm vào Châu Á - Thái Bình Dương, coi Đông Nam Á có vị trí đặc biệt ”

Thực hiện chủ trương trên, Chính phủ Nhật Bản đã quyết định kéo dài chương trình hữu nghị ASEAN - Nhật Bản vốn hết hạn vào năm 1994 thêm 5 năm nữa Theo chương trình này, đến quý I năm 1994 Nhật cũng chi thêm 2 triệu USD cho quỹ học bổng Thanh niên ASEAN - Nhật Bản

Đối thoại về kinh tế giữa ASEAN và Nhật Bản đã có bước phát triển chiến lược trong năm 1993 Tại Hội nghị giữa các bộ trưởng kinh tế ASEAN với Bộ công nghiệp và thương mại Nhật Bản (MITI) lần thứ hai họp vào tháng 10 - 1993, các bộ trưởng đã trao đổi một số vấn đề then chốt như phát triển kinh tế, buôn bán, tiếp cận thị trường đầu tư, hợp tác công nghiệp và hợp

Trang 26

tác phát triển Đông Dương Nhật Bản đã gia hạn thêm cho ASEAN trong 4 chương trình liên quan tới phát triển công nghiệp như hỗ trợ tài sản trí tuệ, chất lượng và tiêu chuẩn công nghiệp, nghiên cứu công nghệ.

Đối với các nước Đông Dương, chính sách của Nhật cũng có sự thay đổi Nhằm giúp các nước này khôi phục, phát triển kinh tế, tháng 1 - 1993, thủ tướng Nhật Kichi Miyazawa đưa ra sáng kiến tổ chức Diễn đàn phát triển toàn diện Đông Dương Thực hiện sáng kiến trên tháng 2 - 1995, Hội nghị bộ trưởng Diễn đàn đã được khai mạc tại Tokyo dưới sự chủ trì của Nhật Bản Tham gia Diễn đàn có 25 quốc gia, trong đó có: Lào, Việt Nam, Campuchia,

6 nước ASEAN, 8 tổ chức quốc tế và một số nước khác Mục đích của Hội nghị là nhằm phát triển các nước Đông Dương dựa trên triển vọng của khu vực, hợp tác quốc tế thông qua điều phối tự nguyện các hỗ trợ dựa trên sự trao đổi thông tin giữa các quốc gia và các tổ chức, đồng thời thúc đẩy kinh tế thị trường ở các nước Đông Dương Sau khi kết thúc, hội nghị đã thỏa thuận thành lập Ủy ban công tác về phát triển cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực Nhật Bản được Ủy ban bầu là Chủ tịch Ủy ban phát triển nguồn nhân lực

Ngoài ra, Chính phủ Nhật còn hỗ trợ cho chương trình phát triển lưu vực sông Mêkông Tháng 3 - 1996, Nhật đã thành lập nhóm đặc nhiệm về chiến lược phát triển lưu vực sông Mêkông Năm 1997, thủ tướng Hashimoto cho rằng “cần mở rộng mối quan hệ bạn hàng hợp tác bình đẳng hiện nay giữa Nhật Bản và ASEAN thành sự hợp tác sâu rộng hơn cho kỷ nguyên mới” Chính sách mới của Nhật Bản đối với Đông Nam Á đã nhận được sự phản ứng tích cực của các nước trong khu vực Đối với ASEAN, một quan hệ hợp tác kinh tế chặt chẽ hơn với Nhật sẽ giúp họ sớm hiện thực hóa được mong muốn biến đất nước thành những “con rồng” ở Châu Á

Sự trùng hợp quan điểm về nhiều vấn đề quốc tế và khu vực cũng như những lợi ích mà các bên đều chờ đợi trong việc “cải tổ mối quan hệ” mà lâu nay đặt trọng tâm lớn vào lĩnh vực kinh tế làm cho mối quan hệ sâu rộng hơn phù hợp với kỷ nguyên mới đã khiến các nước ASEAN tán thành gợi ý của

Trang 27

Nhật về việc triệu tập Hội nghị thượng đỉnh ASEAN – Nhật Bản Mục đích chính của Hội nghị là nhằm giải quyết các vấn đề song phương và cả những vấn đề an ninh và tương lai của Châu Á - Thái Bình Dương Tuy nhiên, để cân bằng quan hệ ASEAN - Nhật Bản với quan hệ ASEAN - Trung Quốc, ASEAN - Hàn Quốc, các nước ASEAN đã quyết định mở các cuộc họp thượng đỉnh với nước này Cơ chế ASEAN + 1 đã ra đời.

Triển khai ý tưởng trên, Hội nghị thượng đỉnh đầu tiên giữa Nhật Bản

và ASEAN đã được tiến hành tại Hội nghị thượng đỉnh không chính thức ASEAN lần thứ hai được tổ chức ở Kualalambo nhân kỉ niệm 30 năm ngày thành lập ASEAN Hội nghị diễn ra trong bối cảnh khủng hoảng tài chính tiền

tệ nổ ra ở Đông Nam Á và lan sang các nước khác Ngày 16 - 3 - 1997, thủ tướng Nhật kêu gọi hợp tác kĩ thuật trong lĩnh vực tiền tệ, định kì hóa các cuộc họp bộ trưởng tài chính Nhật Bản - ASEAN và đưa ra các dự án hợp tác với ASEAN trong ba lĩnh vực : kinh tế, đối thoại song phương và các vấn đề chung của cộng đồng quốc tế Cũng tại hội nghị, Nhật Bản tuyên bố sẽ tiếp nhận 20.000 nghiên cứu sinh kĩ thuật từ các nước ASEAN trong thời hạn 5 năm và lập khuôn khổ bảo hiểm mậu dịch 18 tỷ USD để thúc đẩy các công ty Nhật tăng cường đầu tư vào khu vực ASEAN

Những sáng kiến của Thủ tướng Nhật đã được các nước ASEAN hoan nghênh và ghi nhận trong Tuyên bố chung Nhật Bản – ASEAN Trong bản tuyên bố này, Nhật Bản và ASEAN đã nhất trí về 7 điểm sau :

- Chú trọng các cuộc đối thoại cấp cao, tăng cường các cuộc hội đàm cấp cao trong phạm vi có thể

- Tăng cường đối thoại, giao lưu chính trị và đảm bảo an ninh

- Ổn định kinh tế vĩ mô và thị trường tiền tệ khu vực ASEAN, thúc đẩy chuyển giao công nghệ cao

- Thúc đẩy buôn bán

- Hành động để cải tổ Liên Hợp Quốc

Trang 28

- Tiếp tục chi viện Tổ chức phát triển năng lượng bán đảo Triều Tiên (KEDO).

- Tăng thêm hiểu biết lẫn nhau thông qua giao lưu và hợp tác

Tuyên bố chung của Hội nghị thượng đỉnh Nhật Bản - ASEAN đã tạo cơ

sở pháp lý vững chắc cho quan hệ giữa hai bên trong thế kỷ XXI.[20;21]

Ngày 6 - 5 - 2000, tại cuộc họp hằng năm của Ngân hàng phát triển Châu

Á (ADB) ở Chiềng Mai, Nhật Bản đã đưa ra sáng kiến xây dựng cơ cấu trao đổi tiền tệ với các nước ASEAN để đề phòng các cuộc khủng hoảng tài chính trong tương lai

Về phần mình, các nước ASEAN đã có nhiều cố gắng trong việc thu hút FDI của Nhật AFTA là cố gắng lớn nhất của ASEAN để đạt tới mục tiêu chung Ngoài ra, ngày từ 1992, các bộ trưởng ASEAN đã soạn thảo kế hoạch 4 điểm để thúc đẩy hợp tác kinh tế với Nhật Bản, đặc biệt là hợp tác đầu tư với các nội dung:

- Xem xét thành lập Quỹ phát triển ASEAN – Nhật Bản

- Tăng cường bảo vệ tài sản trí tuệ

- Thiết lập chương trình phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ tại các nước trong khu vực

Tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN tổ chức tại Campuchia tháng 11 –

2002, Thủ tướng Nhật Kozumi đã đưa ra sáng kiến xây dựng quan hệ đối tác kinh tế toàn diện giữa Nhật Bản – ASEAN Sáng kiến đó đã được các nước ASEAN hoan nghênh Tuyên bố chung của các nhà lãnh đạo ASEAN – Nhật Bản nhân hội nghị thượng đỉnh Phnompenh đã chỉ rõ mục đích của quan hệ đối tác kinh tế toàn diện giữa ASEAN và Nhật Bản là “cung cấp thị trường lớn hơn cho các nền kinh tế của họ thông qua việc tạo ra những thị trường lớn

và mới; cho phép các nền công nghiệp thụ hưởng các nền kinh tế lớn hơn về tầm cỡ ”

Để thực hiện hóa quan hệ đối tác kinh tế toàn diện trên, ASEAN và Nhật Bản đã quyết định xúc tiến xây dựng “một khuôn khổ để cung cấp cơ sở cho

Trang 29

các kế hoạch cụ thể, các yếu tố việc hiện thực hóa quan hệ đối tác kinh tế toàn diện ASEAN – Nhật Bản Bản tuyên bố cũng trù liệu xây dựng một khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Nhật Bản, coi đó là một trong những biện pháp để thực hiện hóa quan hệ đối tác kinh tế toàn diện Những biện pháp này có thể hoàn thành càng sớm càng tốt, có tính tới trình độ phát triển các khu vực nhạy cảm trong mỗi nước”[20;25] Trong khi chưa thể lập ngay một khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Nhật Bản (AJCEP) “sẽ bắt đầu trên lĩnh vực nơi mà việc thực hiện là khả thi ” Những lĩnh vực đó là:

- Giúp đỡ về kĩ thuật, xây dựng khả năng cho ASEAN, đặc biệt cho các thành viên mới, để cải thiện khả năng cạnh tranh của họ, tham gia một cách có ý nghĩa vào quan hệ đối tác này

- Xúc tiến mậu dịch và đầu tư và các biện pháp tạo thuận lợi

- Đối thoại về chính sách mậu dịch

- Tạo thuận lợi cho việc di chuyển các doanh nhân

- Bất kì biện pháp nào khác có thể đưa tới những lợi ích chung trước mắt

Để xây dựng quan hệ đối tác kinh tế toàn diện ASEAN - Nhật Bản (AJCEP), hai bên áp dụng cách tiếp cận hai tốc độ:

Xây dựng các FTA song phương với các nước thành viên ASEAN trước, đồng thời xúc tiến đàm phán để xây dựng AJCEP với ASEAN - với tư cách một tổng thể Để thực hiện điều này, Nhật và Singapore năm 2004 đã kí kết AFTA Sau đó, năm 2004 Nhật cũng đã xúc tiến thương lượng và cuối cùng

đã kí kết FTA song phương với Philipin, Malaixia và Thái Lan trong năm

2006 và Indonexia năm 2007

Để xúc tiến xây dựng AJCEP, trong những năm qua hai bên đã bắt đầu triển khai kế hoạch xây dựng AJCEP trên cả hai cấp độ song phương và đa phương Cho tới nay, Nhật Bản đã kí quan hệ đối tác kinh tế toàn diện với một số các nước thành viên như : Singapore, Malaixia Các cuộc thương thảo

về CEP với Indonexia, Philipin và Thái Lan đang được xúc tiến

Trang 30

Mặt khác, việc kí kết Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Nhật Bản trong năm 2008 tiếp tục được bàn luận Đây là một khía cạnh trước khi đi tới Hiệp định liên kết kinh tế toàn diện Theo Hiệp định, Nhật Bản sẽ lập tức bãi

bỏ thuế quan đánh vào 90% hàng hóa nhập khẩu từ các nước ASEAN Còn 6 nước ASEAN bao gồm : Brunây, Inđônexia, Malaixia, Philipin, Singapore và Thái Lan sẽ dỡ bỏ thuế quan đánh vào 90% lượng hàng Nhật Bản tính theo cả giá trị kim ngạch với số lượng danh mục hàng hóa trong vòng 10 năm Một thời gian biểu dỡ bỏ thuế quan có lộ trình chậm hơn cũng được vạch ra cho các nước ASEAN với nền kinh tế còn khó khăn hơn là Việt Nam, Lào, Cămpuchia và Minama

Cho tới năm 2006, đã có 5 vòng đàm phán về AJCEP được Ủy ban chung ASEAN - Nhật Bản về quan hệ đối tác kinh tế toàn diện tiến hành Dự kiến đến năm 2012, Nhật Bản và ASEAN sẽ cụ thể hóa ý tưởng bằng việc ký Hiệp định liên kết (JACEP), sự liên kết này có phạm vi tương đối rộng từ trao đổi hàng hóa, dịch vụ đến hợp tác đầu tư tài chính, tiền tệ, năng lượng

Việc Nhật Bản quyết định xây dựng quan hệ kinh tế đối tác toàn diện với ASEAN cho thấy, trong quan hệ với các nước Đông Nam Á trong hai thập niên đầu thế kỷ XIX, Nhật vẫn đặt trọng tâm vào hợp tác kinh tế, mặc dù các lĩnh vực khác đã được Tokyo coi trọng hơn Mục tiêu cụ thể được theo đuổi trong quan hệ đối tác kinh tế là vào năm 2002, giá trị xuất nhập khẩu từ ASEAN sang Nhật Bản sẽ tăng 20,63 tỷ USD tương đương giá trị nhập khẩu 44,2% của ASEAN năm 1997, giá trị xuất nhập khẩu từ Nhật sang ASEAN tăng 20,022 tỷ USD, tương đương 27,5% tổng giá trị nhập khẩu của ASEAN trong năm 1997

Chính nhờ những chính sách về hợp tác kinh tế giữa hai bên mà Nhật Bản và các nước ASEAN qua hai thập niên gần đây đã có những mối quan hệ kinh tế rất phát triển Đặc biệt trên lĩnh vực đầu tư – một lĩnh vực thu hút sự quan tâm đặc biệt từ cả hai phía - đã đạt được những kết quả hết sức to lớn Lĩnh vực đầu tư có hai hình thức :

Trang 31

Đầu tư trực tiếp (FDI)

Các công ty Nhật Bản đã thực hiện đầu tư lớn vào các nước ASEAN Trong số 600 công ty Nhật Bản hoạt động ở Đông Á thì phần lớn trong số đó

là ở ASEAN Trong giai đoạn 1985-1992, đầu tư trực tiếp của Nhật Bản ở ASEAN tăng 313% Năm 1993, đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào các nước ASEAN là 5,3 tỷ yên Năm 1995, FDI của Nhật Bản đạt được 4 tỷ yên Nếu như trước đây, đầu tư của Nhật Bản vào ASEAN năm 1989 là 7% thì đến năm

1997, tỷ lệ này đạt 14,5% Các nước ASEAN luôn đứng đầu trong danh sách nước nhận đầu tư của Nhật Bản Năm 1997, đầu tư của Nhật Bản vào các nước ASEAN tăng 87,1% so với năm 1996 Sở dĩ có sự tăng này là do các công ty lớn của Nhật Bản củng cố thêm vốn và có nhiều chi nhánh nhỏ Sự tăng lên đầu tư trực tiếp nước ngoài phản ánh tầm quan trọng của ASEAN đối với các công ty Nhật Bản

Nếu xét một cách tổng thể thì Indonexia luôn là địa chỉ hàng đầu thu hút FDI của Nhật Bản, thứ tiếp là Singapore, Thái Lan, Malaixia, Philipin và Việt Nam

Càng về sau, Nhật càng tăng cường đầu tư vào Thái Lan Theo Ủy ban đầu tư của Thái Lan, 86 công ty của Nhật Bản chiếm hơn 60 % của các nước ngoài vào Thái Lan từ tháng 1 - 1997 đến 8 - 1998 Dòng vốn FDI của Nhật Bản đổ vào ASEAN tăng vào năm 1996 đạt 719 tỷ Yên, tăng 35% so với năm

1995 và đạt tới đỉnh cao vào năm 1997 Sở dĩ có sự gia tăng này là do sự lên giá của đồng Yên, năm 1990 tỷ giá đồng Yên/USD là 144,9 Yên / 1 USD, đến năm 1995 là 93,9 Yên/1 USD, tăng giá 54% Tuy nhiên, năm 1998 cho thấy sự sụt giảm đáng kể, dòng vốn FDI của Nhật Bản đổ vào khu vực xuống còn 515,6 tỷ Yên, giảm 46% Nguyên nhân trực tiếp của vấn đề này chính là ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1997 Tuy vậy, tính tổng FDI của Nhật Bản vào ASEAN trong giai đoạn 1990-1998 lên tới 52.177 tỷ Yên, chiếm 11% tổng đầu tư của Nhật Bản ra nước ngoài

Trang 32

Thập kỷ 90, Nhật Bản chủ yếu tập trung vào các hoạt động có qui mô vừa và nhỏ, năng động trong kinh doanh, thu hồi vốn nhanh và chuyển hướng sản xuất kịp thời theo sự thay đổi của thị trường Điểm nổi bật trong thập kỷ

90 là sự gia tăng đầu tư vào các ngành chế tạo máy móc, tỉ trọng các ngành công nghiệp tiên tiến hơn về kĩ thuật tăng đáng kể Nếu như trong thập kỷ 60,

70, mục đích của Nhật Bản là lợi dụng so sánh về nguồn tài nguyên thiên nhiên, thì ở đầu thập kỷ 90 do các nước ASEAN có tốc độ tăng trưởng nhanh dựa vào các ngành công nghiệp hướng vào xuất khẩu và cũng do nền kinh tế Nhật Bản đang trong bước chuyển dịch cơ cấu, cần chuyển các cơ sở công nghệ đòi hỏi nhiều nguyên liệu ra nước ngoài cho nên đầu tư của Nhật Bản vào các ngành chế tạo tăng mạnh Mặt khác, thay chỉ vì phục vụ cho các thị trường ở các nước nhận đầu tư như trước đây, FDI của Nhật Bản ở ASEAN ngày càng có khuynh hướng thiên về xuất khẩu Đồng yên lên giá và giá nhân công đắt ở Nhật Bản cùng với những chính sách khuyến khích xuất khẩu ở các nước ASEAN đã thúc đẩy các công ty Nhật Bản phải bố trí các hoạt động sản xuất chế tạo của nước mình ở nước ngoài Một mặt thay thế cho hàng xuất khẩu của Nhật Bản, mặt khác để cung cấp cho các sản phẩm rẻ hơn phục vụ thị trường Nhật Bản Chẳng hạn, theo một điều tra hằng năm của Bộ công thương (MITI) Nhật Bản, gần đây các công ty Nhật Bản ở Đông Nam Á xuất khẩu chừng 45% sản phẩm của mình so với 60% ở Bắc Mỹ và 4% ở Châu

Âu Trong đó theo phòng thương mại và công nghiệp Nhật Bản, năm 1992 tỷ

lệ xuất khẩu sang Nhật Bản so với tổng doanh số bán ra của các công ty chế tạo Nhật Bản ở Châu Á là 118,3%, ở NIEs là 21% và ở ASEAN là 13% Theo những số liệu của MITI, mục đích của các dự án đầu tư trực tiếp được các ngành công nghiệp điện và điện tử Nhật Bản thực hiện gần đây ở các nước NIEs và ASEAN xuất khẩu khoảng 18% sản lượng trở lại Nhật Bản, 41% sang các nước thứ ba và chỉ có 41% được bán ở các thị trường địa phương Điều đáng chú ý hơn nữa là phần lớn hàng nhập khẩu của Nhật Bản từ các công ty con ở nước ngoài là nhập khẩu nội bộ công ty Chẳng hạn, đầu

Trang 33

những năm 90, tỷ lệ nhập khẩu nội bộ công ty chiếm tới gần 60% tổng kim ngạch nhập khẩu của Nhật Bản từ các công ty con ở Châu Á, 56% từ các công

ty con của NIEs và gần 70% từ các công ty con ở ASEAN Không những thế, giao dịch nội bộ công ty cũng chiếm phần lớn buôn bán của các công ty Nhật Bản tại Châu Á và kim ngạch xuất khẩu của các nước sang các thị trường thứ

ba

Về viện trợ phát triển chính thức ( ODA ).

Xuất phát từ lợi ích mà Đông Nam Á đem lại, Nhật Bản đã quan tâm nhiều hơn đến khu vực từ sau chiến tranh lạnh Trong đó, đặc biệt là lợi ích kinh tế luôn gắn với chính sách và khối lượng ODA của Nhật Bản cung cấp cho các nước ASEAN ODA đã mở đường cho các nhà kinh doanh, đầu tư Nhật Bản thâm nhập vào khu vực là một phương tiện quan trọng thúc đẩy buôn bán với các nước Đông Nam Á

Nhật Bản bắt đầu thực hiện chương trình viện trợ phát triển chính thức ODA đối với ASEAN sau khi tham gia kế hoạch Clombo (1954) Sau hơn bốn thập kỉ thực hiện chương trình ODA với Đông Nam Á, Nhật Bản luôn coi ODA là một công cụ hữu hiệu để thực hiện “ngoại giao kinh tế” nhằm mục đích thể hiện vai trò chủ đạo ở khu vực này và thực tế cho thấy Nhật Bản đã khá thành công khi sử dụng chính sách này

Giai đoạn tiếp theo, chính sách ODA của Nhật Bản tiếp tục phát triển lên một bước mới, nó thực sự trở thành một công cụ để thâm nhập kinh tế Kết quả là Nhật Bản trở thành một nước cung cấp ODA chủ chốt cho nhiều nước Đông Nam Á Chính ODA là nhân tố quan trọng trong quan hệ kinh tế của Nhật Bản với khu vực Trong thập kỉ 90, Nhật đã tăng nhanh ODA cho ASEAN lên tới 6 tỷ USD, gấp 2,5 lần so với giai đoạn trước

Nét mới trong chính sách ODA của Nhật Bản ở thời kì này là sự mở rộng ODA sang các nước khu vực bán đảo Đông Dương và Minama Sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, các quốc gia tại khu vực bán đảo này như Việt Nam, Lào đã thi hành chính sách mở cửa, cải cách kinh tế, chuyển dịch sang

Trang 34

kinh tế thị trường với nhiều thành phần Nhật Bản nhận thấy chính sách ODA cũng là một phương tiện thúc đẩy quá trình đó để duy trì môi trường ổn định

ở khu vực Đông Nam Á cũng như Châu Á – Thái Bình Dương

ODA cũng đóng vai trò quan trọng việc giải quyết vấn đề Campuchia Chính vấn đề Campuchia đã tạo cho Nhật Bản một cơ hội tuyệt vời để phát huy ưu thế chính trị thông qua viện trợ kinh tế Đặc biệt, Nhật Bản đã hướng ODA vào việc phục hồi và tái thiết các nước Đông Dương bị chiến tranh tàn phá Nhật Bản đưa ra sáng kiến đề nghị thành lập tổ chức “diễn đàn phát triển toàn diện Đông Dương” nhằm tạo điều kiện để Nhật Bản thâm nhập kinh tế vào khu vực trước đây có quan hệ mật thiết với Liên Xô và Đông Âu

Từ 1989-1993, tổng ODA cho Campuchia là 111 triệu USD Với Lào, phần viện trợ không hoàn lại trong thời kì này là 235 triệu USD Riêng với Việt Nam, sau khi hoãn cung cấp ODA (12-1978) cho tới năm 1992, Nhật Bản đã là quốc gia cung cấp ODA lớn nhất Từ 1992-1997, ODA của Nhật Bản đã cho Việt Nam là 4 tỉ USD, trong đó 500 triệu USD là viện trợ không hoàn lại

Tính chung cho cả khu vực ASEAN khi Chiến tranh lạnh kết thúc, Nhật Bản trở thành nước cung cấp viện trợ ODA lớn nhất – nhà tài trợ số một của ASEAN Đầu những năm 90, Nhật Bản và Mỹ đều có số lượng viện trợ phát triển chính thức ODA như nhau, song chỉ có 15% ODA của Mỹ dành cho Châu Á, so với 60% của Nhật Bản Cho dù gặp nhiều khó khăn, song ODA của Nhật Bản dành cho ASEAN vẫn lên tới 6 tỷ; năm 1997 là 9,5 tỷ USD, năm 1998 là 10,69 tỷ và 10,5 tỷ năm 1999, chiếm gần 50% tổng lượng ODA mà Nhật Bản viện trợ cho các nước, năm 2001 Nhật Bản đã dành 2,1 tỷ USD cho ASEAN Trong những năm gần đây, lượng ODA của Nhật Bản vào ASEAN vẫn là hàng đầu

Khối lượng viện trợ chính thức ODA của Nhật Bản từ sau Chiến tranh lạnh tăng lên mạnh mẽ Tuy nhiên, tùy theo khả năng kinh tế của từng nước

mà viện trợ cho từng nước khác nhau Sigapore và Brunây là hai nước có thu

Trang 35

nhập bình quân đầu người cao thì viện trợ chủ yếu là hợp tác kỹ thuật Trong

số các nước nhận viện trợ ODA của Nhật Bản, trước hết phải kể đến Indonêxia, Philipin, Thái Lan, đặc biệt từ năm 1992 trở đi Việt Nam là một trong số các nước tiếp nhận ODA nhiều nhất Mặt khác, nét mới trong chính sách ODA của Nhật Bản thời kỳ này là tập trung tăng dần tỷ lệ ODA cho các nhu cầu cơ bản về y tế, giáo dục và giải quyết vấn đề nghèo đói

Quan hệ kinh tế giữa Nhật Bản – ASEAN phát triển không chỉ trên lĩnh vực đầu tư trực tiếp (FDI) và viện trợ phát triển chính thức (ODA) mà còn cả trên lĩnh vực thương mại – Nhật Bản là bạn hàng lớn của ASEAN

Thực tế cho thấy, Nhật Bản là bạn hàng lớn của ASEAN từ lâu và mối quan hệ ấy được phát triển mạnh mẽ từ sau Chiến tranh lạnh đến nay Nhật Bản dần trở thành thị trường tiêu thụ hàng hóa chủ yếu của các nước ASEAN Không những thế, các nước ASEAN đã và đang nổi lên như là một thị trường tiêu thụ quan trọng nhiều lọai hàng hóa của khu vực, trong đó chủ yếu là hàng Nhật Bản, hàng Trung Quốc Ngược lại, trên thị trường Nhật Bản trong những năm 90 trở lại đây, đồng yên tăng giá do áp lực của nhu cầu tiêu dùng trong nước đối với những loại hàng hóa ngày càng đa dạng hơn về chủng loại, chất lượng, giá cả và cũng do áp lực của làn sóng tự do hóa thương mại toàn cầu nên buộc Nhật Bản phải mở rộng cánh cửa thị trường để cho hàng hóa nước ngoài tràn vào Do đó, thị trường Nhật Bản hiện nay xuất hiện nhiều loại hàng hóa của các nước ASEAN, Trung Quốc

Năm 1990, tình trạng nhập khẩu của Nhật Bản và các nước ASEAN đạt 11,49%, tổng giá trị nhập khẩu tương đương 33,66% giá trị xuất khẩu vào các nước Châu Á, năm 1994, đạt 15,26%, trong năm tài chính 1995 – 1996 xuất khẩu của Nhật Bản sang Trung Quốc, Thái Lan lên tới 192,79 tỷ USD Xuất khẩu của Nhật Bản tới các nước ASEAN (Brunay, Indonêxia, Philipin, Thái Lan) trung bình 30% trong giai đoạn 1990 – 1997

Trong năm 2002, Nhật Bản là đối tác thương mại thứ hai của ASEAN sau Mỹ Hiện nay, Nhật Bản là đối tác thương mại lớn thứ ba của ASEAN với

Trang 36

kim ngạch gần 200 tỷ USD Với việc ký kết Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Nhật Bản cùng những cam kết dỡ bỏ hàng rào thuế quan từ cả hai bên thì điều này sẽ tạo điều kiện cho xuất khẩu hàng hóa vào Nhật Bản thuận lợi hơn nhưng đồng thời giúp Nhật Bản cân bằng thâm hụt thương mại với ASEAN Bình quân tăng trưởng xuất khẩu của ASEAN vào Nhật Bản trong vòng 10 năm 1996 – 2006 tăng 88,38%, còn nhập khẩu của ASEAN từ Nhật Bản tăng 9,8%.

2.2 Quan hệ kinh tế Nhật Bản đối với một số quốc gia tiêu biểu của ASEAN ( từ 1991 – 2009)

2.2.1 Quan hệ kinh tế giữa Nhật Bản và Việt Nam.

2.2.1.1 Hợp tác thương mại

Đã nhiều năm liền trong hai thập niên qua, Nhật Bản luôn là bạn hàng, thị trường lớn nhất của Việt Nam Chỉ đến những năm gần đây, do tương quan cạnh tranh giữa các đối tác thay đổi nên buộc Nhật Bản phải đứng sau Trung Quốc (2005) và sau Mỹ (2006)

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng năm giữa hai nước trong 5 năm gần đây luôn ở mức từ 5 - 9 tỷ USD, chiếm tỉ trọng khoảng 14 - 16% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam với tất cả các nước trên thế giới Đáng lưu ý là, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản đã luôn tăng trưởng với tốc độ cao, trung bình từ 15 - 20% và từ nhiều năm qua luôn là nước xuất siêu sang Nhật Bản Cho đến năm 2007, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước đã tăng vượt bậc, đạt tới 12,5 tỷ USD, tăng 26,1% so với năm 2006 Trong đó, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản đạt khoảng 6,5 tỷ USD tăng 16,7% so với năm 2006 Tuy nhiên, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam từ Nhật Bản tăng mạnh đạt khoảng 6 tỷ USD tăng 38,2% Năm 2008, 6 tháng đầu năm đạt 8,41 tỷ USD Trong quan hệ thương mại với Nhật Bản năm 2007, Việt Nam vẫn đạt thặng dư thương mại với hơn 500 triệu USD, Việt Nam có khả năng xuất khẩu nhiều mặt hàng như dầu thô, nông sản, thủy sản, đồ gỗ may mặc

Trang 37

ngược lại, Nhật Bản cung cấp cho Việt Nam máy móc thiết bị điện, sản phẩm công nghệ cao, sắt, thép phục vụ cho các kế hoạch công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ta

Các hoạt động xuất nhập khẩu đã đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế, xã hội của hai nước đặc biệt với Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên, so vơi nhu cầu và tiềm năng phát triển quan hệ thương mại giữa hai nước vẫn chưa được khai thác triệt để Trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Nhật Bản, cho đến nay hàng hóa Việt Nam vẫn chiếm tỉ trọng nhỏ bé: khoảng 0,6%, trong khi tỉ trọng của Trung Quốc là 12,4%, Thái Lan là 2,6% Cơ cấu hàng hóa xuất của Việt Nam sang Nhật Bản còn đơn điệu, chủ yếu là nguyên liệu thô và sản phẩm mới qua sơ chế (trên 50%) Nhật Bản đã dành cho Việt Nam chế độ ưu đãi thuế quan (GSP) Tuy nhiên, hàng hóa Việt Nam vào thị trường Nhật Bản vẫn hay gặp phải khó khăn là hệ thống kiểm tra phi thuế quan chặt chẽ, đặc biệt là các qui định khắt khe về tiêu chuẩn chất lượng và vệ sinh kiểm dịch Trong quan hệ song phương hai nước đã dành cho nhau ưu đãi MFN về thuế Song khó khăn lớn nhất hiện nay đối với Việt Nam là phía Nhật Bản vẫn chưa đồng ý kí kết Hiệp định thương mại tự do Tuy nhiên, khó khăn này đang được hai bên nỗ lực giải quyết

Hiện nay, Việt Nam với tư cách là thành viên của tổ chức Thương mại thế giới (WTO) chắc chắn mở ra một thế kỷ mới, tạo cơ hội và động lực cho

sự phát triển quan hệ hợp tác kinh tế toàn diện giữa hai nước, trong đó hợp tác thương mại chắc chắn sẽ tiếp tục phát triển sôi động Và do đó, mục tiêu phấn đấu đạt 15 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam như các nhà hoạch định chính sách và giải pháp phát triển thương mại của cả hai nước đã đề ra cho năm 2010

2.2.1.2 Đầu tư.

Mối quan hệ kinh tế giữa Nhật Bản và Việt Nam không chỉ trên lĩnh vực thương mại mà còn cả trên lĩnh vực đầu tư

Trang 38

Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản (FDI) đã vào Việt Nam kể từ năm 1993 khi các tổ chức quốc tế nối lại viện trợ cung cấp viện trợ phát triển (ODA) cho Việt Nam (với nguồn cung cấp ODA lớn nhất từ Nhật).

Tính đến cuối tháng 5-2002, Nhật Bản là nước đứng thứ ba trong số các nước và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư vào Việt Nam với tổng số 386 dự án được cấp giấy phép, vốn đăng kí đạt 4,3 tỷ USD Đầu tư của Nhật Bản ngay

từ năm 1995 đã đạt đến đỉnh cao với vốn đăng ký đạt 1,22 tỷ USD, đầu tư của Nhật Bản trong những năm 1996 - 1997 đã giảm khoảng 40% so với năm

1995 và đến năm 1999 chỉ có 14 dự án với số vốn đăng ký 61 triệu USD Nguyên nhân chủ yếu của sự suy giảm này là do cuộc khủng hoảng kinh tế

1997 - 1998 và trực tiếp là nền kinh tế Nhật Bản cũng đang bị chìm sâu trong khủng hoảng kinh tế Đông Á kéo dài cả thập niên 90 Nhưng chỉ đến 6 tháng đầu năm 2002, Nhật Bản đã vượt lên đứng thứ ba trong số các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Tuy nhiên, cần lưu ý rằng mặc dù Nhật Bản đứng thứ ba ( sau Đài Loan và Sigapore) về vốn đăng ký tại Việt Nam nhưng lại đứng đầu về vốn thực hiện (đạt 3,04 tỷ USD ) Do đó, xét thực chất đầu tư của Nhật Bản ngay từ năm 2002 đã là vị trí số một tại Việt Nam Và do đó, đã có nhiều đóng góp trực tiếp cho sự phát triển kinh tế, xã hội của hai nước, đặc biệt với Việt Nam

Tuy nhiên, cũng như các hoạt động thương mại, so với các nước Châu Á khác, đầu tư trực tiếp của Nhật Bản tại Việt Nam vẫn chưa tương xứng với khả năng và nhu cầu của cả hai bên Ngoài ra, đầu tư mới của Nhật Bản vào Việt Nam đang gặp phải những khó khăn do sự cạnh tranh mạnh mẽ từ phía Trung Quốc và các nước trong khu vực

Chính vì thế, để đẩy mạnh hơn nữa dòng vốn đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam, đòi hỏi cả hai bên đều phải nỗ lực giải quyết khó khăn, ách tắc còn tồn đọng trong cơ chế, chính sách đầu tư hợp tác Vấn đề này đã được đề cập

ở chương trình nghị sự của Chính phủ hai nước trong chuyến đi thăm và làm việc tại Nhật Bản của Thủ tướng Việt Nam Phan Văn Khải vào tháng 4-2003

Trang 39

Với sự kiện diễn ra vào ngày 7 – 4 - 2003, hai bên đã quyết định cùng thống nhất và cùng quyết tâm thực hiện một chương trình hành động mang tên

“sáng kiến chung Nhật Bản – Việt Nam nhằm cải thiện môi trường đầu tư và tăng cường sức cạnh tranh của Việt Nam” gọi tắt là “sáng kiến chung Nhật Bản –Việt Nam”

Tiếp theo đó, ngày 14-11-2003, tại Tokyo, đại diện của chính phủ hai nước đã kí kết Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư Với sự kiện quan trọng này, nó đã mở ra triển vọng to lớn cho hợp tác đầu tư Nhật - Việt

Theo số liệu thống kê của cơ quan Xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO) nếu như năm 2000, Việt Nam chỉ đứng thứ 8 trong danh sách nhận đầu tư ra nước ngoài của Nhật Bản thì đến năm 2005, Việt Nam đã lên vị trí thứ 4 (sau Trung Quốc, Ấn Độ và Thái Lan) và đứng thứ 2 trong những điểm đến của các công ty vừa và nhỏ Nhật Bản khi đầu tư ra nước ngoài ( sau Trung Quốc) Đó là chưa kể, Nhật Bản đã là nước thực hiện cam kết đầu tư cao nhất tại Việt Nam

Theo Bộ kế hoạch và đầu tư Việt Nam, nếu chỉ tính riêng các dự án còn hiệu lực cho đến ngày 31-12-2007, Nhật Bản đã đầu tư vào Việt Nam 928 dự

án với tổng số vốn đầu tư lên tới 9,03 tỷ USD, chiếm 10,8% tổng số vốn FDI của tất cả các đối tác đầu tư vào Việt Nam, đứng thứ 4 trong số các nước và vùng lãnh thổ có vốn đầu tư vào Việt Nam, nhưng lại là nước đứng đầu về số vốn đầu tư đã thực hiện với gần 5 tỷ USD

Thực tiễn cho thấy, làn sóng đầu tư Nhật Bản vào Việt Nam đã “nóng lên” hơn bao giờ hết vào thời điểm khi mà Việt Nam gia nhập WTO (2007)

và đồng thời cũng là nước chủ nhà Hội nghị APEC đã diễn ra vào tháng

11-2006 Tổ chức xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO) khi đó cũng đã nhận định “trong vòng 5 - 10 năm tới, làn sóng đầu tư Nhật Bản sẽ có thể chuyển dịch mạnh từ Trung Quốc sang Việt Nam Lí do cơ bản khiến cho nhiều nhà đầu tư Nhật Bản chọn Việt Nam làm địa điểm đầu tư là vì Việt Nam có thể chế chính trị, xã hội ổn định, nhịp độ tăng trưởng và phát triển kinh tế cao, lao

Trang 40

động dồi dào, giá rẻ, Việt Nam và Nhật Bản có nhiều điểm tương đồng về văn hóa lại có quan hệ hợp tác phát triển từ nhiều năm qua chính vì thế, sau khi Luật doanh nghiệp và đầu tư mới ban hành của Việt Nam có hiệu lực thực thi

kể từ ngày 1 - 7 - 2006 đồng thời với việc Chính phủ hai nước tiếp tục thực hiện giai đoạn hai của “sáng kiến chung Việt Nam – Nhật Bản” đã khiến cho làn sóng đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam ngày càng sôi động hơn”[24;9]

Đó cũng là lí do khiến cho năm 2006 là năm đột phá, đánh dấu bước chuyển biến lớn về đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam, đã có tới 160 dự án, với số vốn đầu tư đăng kí lên tới 1,5 tỷ Hiện đã có tới 30 tập đoàn lớn của Nhật Bản nằm trong tổng số khoảng 500 doanh giới đang đầu tư vào Việt Nam Như vậy tính trong 2 năm 2006 - 2007 vốn FDI từ Nhật Bản của cả 5 năm trước đó

và Nhật Bản vẫn giữ nguyên vị trí là nhà đầu tư hàng đầu vào Việt Nam Theo điều tra hằng năm vừa công bố gần đây của JETRO đã tiến hành trên 1745 doanh nghiệp Nhật Bản đang hoạt động tại Châu Á, Việt Nam được đánh giá rất cao về triển vọng đầu tư cả trung và dài hạn Về trung hạn, có 92,6% doanh nghiệp sản xuất và 88% doanh nghiệp dịch vụ dự định mở rộng kinh doanh tại Việt Nam trong 1 - 2 năm tới Về dài hạn, trong vòng 5 - 10 năm tới, Việt Nam được các nhà đầu tư Nhật Bản đánh giá là địa điểm đầu tư tốt nhất ở Châu Á

Có được điều đó là do môi trường đầu tư ở Việt Nam thuận lợi, chi phí lao động thấp, ổn định chính trị Đây là những điều quan trọng đối với doanh nghiệp Nhật Bản Các nhà đầu tư Nhật Bản sẽ đến Việt Nam trong thời gian tới

Tuy nhiên, vẫn có một số vướng mắc khó giải quyết đó là “cơ sở hạ tầng của các địa phương còn yếu kém thủ tục hành chính còn cồng kềnh, địa bàn đầu tư quá yếu kém, trong khi đó giá cả thuế đất, văn phòng, nhà xưởng, một

số dịch vụ kèm theo cần thiết khác lại quá đắt so với tương quan chung khu vực”[24;10] những băn khoăn này phản ánh một thực trạng còn yếu kém của môi trường đầu tư Việt Nam đã có từ nhiều năm nhưng vẫn chưa thể khắc

Ngày đăng: 19/12/2013, 14:07

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

MỘT SỐ BẢNG BIỂU THỂ HIỆN MỐI QUAN HỆ KINH TẾ GIỮA                                          ASEAN – NHẬT BẢN - Quan hệ kinh tế nhật bản   ASEAN từ 1991 đến 2009
MỘT SỐ BẢNG BIỂU THỂ HIỆN MỐI QUAN HỆ KINH TẾ GIỮA ASEAN – NHẬT BẢN (Trang 76)
Bảng 3: - Quan hệ kinh tế nhật bản   ASEAN từ 1991 đến 2009
Bảng 3 (Trang 77)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w