Tháng 8 –1953, chính phủ Hátta bị lật đổ, chính phủ của Quốc dân đợcthành lập, tổng thống Xucácnô đợc đông đảo quần chúng ủng hộ, đã thi hànhnhiều chính sách tiến bộ nhằm khôi phục và củ
Trang 1Lời cảm ơn
Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo GVC -ThS Lê Tiến Giáp đã tận tình hớng dẫn, giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình chọn và thực hiện đề tài này.
Trong quá trình tiến hành đề tài, còn đợc sự hớng dẫn, góp ý của quý thầy cô giáo trong khoa cùng các bạn đồng nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Sinh viên Nguyễn Thị Bắc
K40 E2 - Khoa Lịch sử
Trang 2đến giữa những năm 60 của thế kỷ XX.
1.1 Vài nét về lịch sử Inđônêxia từ sau ngày giành độc lập đến giữa những
1 2 Chính sách đối ngoại của Inđônêxia từ khi trở thành một quốc gia độc
lập thống nhất đến giữa những năm 60 của thế kỷ XX 10
Chơng 2: quan hệ đối ngoại của Inđônêxia với một số cờng quốc
Chơng 3: Quan hệ Inđônêxia - Việt Nam
3.1 Vài nét về mối quan hệ giữa Inđônêxia với Việt Nam trớc những năm 1960 48
3.2 Quan hệ Inđônêxia - Việt Nam từ giữa những năm 60 của thế kỷ XX đến nay 543.3 Triển vọng quan hệ giữa Inđônêxia với Việt Nam 69
Trang 3Những chữ viết tắt
ASEAN Association of South East Asian Nations
(Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á)AFTA ASEAN Free Trade Area (Khu vực mậu dịch tự do ASEAN)APEC Asia Pacific Econonmic Cooperation
(Diễn đàn hợp tác kinh tế châu á - Thái Bình Dơng)ARF ASEAN Regonal Forum (Diễn đàn khu vực ASEAN)
CEPT Common Effective Preferential Tarriffs
(Chơng trình thuế quan u đãi có hiệu lực chung)
EC European Communiti (Cộng đồng châu Âu)
EU European Union (Liên minh châu Âu)
FPI Foreign Direct Investment (Đầu t trực tiếp của nớc ngoài)
IMF International Monetary Fourd (Quỹ tiền tệ quốc tế)
IMC Informal Ministerial Conforence
(Hội nghị bộ trởng không chính thức)JIM Jakatar Informal Meeting
ODA Offical Development Assistance (Viện trợ phát triển chính thức)
OLDEFOS Old Established Emerging Forces
(Các lực lợng đã đợc thiết lập trớc đây)
WB World Bank (Ngân hàng thế giới)
WTO Word Direct Investment (Tổ chức thơng mại thế giới)
Trang 4A phần mở đầu.
1 Lý do chọn đề tài
Trong sự phát triển của thế giới ngày nay, không còn có một quốc gianào lại có thể tồn tại và phát triển một cách bình thờng mà không có quan hệvới thế giới bên ngoài Mỗi quốc gia theo nh cách nói của Lê Nin: “không phải làhòn đảo cô lập mà là thành viên của cộng đồng các quốc gia", cho nên việc thiếtlập mối quan hệ với các nớc thành viên khác của cộng đồng là điều không thểtránh khỏi Mục tiêu này, đợc thực hiện thông qua Chính sách đối ngoại
Có thể nói, trong lịch sử phát triển của lịch sử loài ngời, quan hệ quốc tế
đóng vai trò cực kỳ quan trọng và cho đến nay quan hệ đó càng ngày càng đợc
mở rộng và quan trọng hơn nữa trong quan hệ đối ngoại của mỗi nớc Do đó,hoạch định chính sách đối ngoại của mỗi quốc gia là sự nghiên cứu tổng hợpcủa các nhân tố bên trong và bên ngoài Xác định mục tiêu ngoại giao của quốcgia và những biện pháp tối u nhằm thực hiện các mục tiêu đó Kinh nghiệm pháttriển của nhiều nớc cho thấy một quyết định sai hay đúng trong chính sách đốingoại có ảnh hởng to lớn đến tình hình an ninh và phát triển trong nớc cũng nh
uy tín và địa vị của nớc đó trên trờng quốc tế
Chính vì thế, mục đích của bản luận văn này là su tầm tài liệu và nghiên cứu
có hệ thống lịch sử "Quan hệ đối ngoại của Inđônêxia từ giữa những năm 60 của thế kỷ XX đến nay"
Trải qua 350 năm dới ách đô hộ của chủ nghĩa thực dân phơng Tây,Inđônêxia luôn luôn thể hiện tinh thần đấu tranh mạnh mẽ chống chủ nghĩathực dân và chủ nghĩa đế quốc Ngày nay, Inđônêxia nêu cao học thuyết tự cờngquốc gia, tự cờng khu vực và đa dạng hoá quan hệ, chính sách đối ngoại của
Inđônêxia là “độc lập và tích cực”, nói cách khác là thi hành chính sách hoà
bình, trung lập, không liên kết, ủng hộ mạnh mẽ việc thiết lập trật tự kinh tế thếgiới mới
Trang 5Nh chúng ta đã biết, đối ngoại là một trong hai chức năng cơ bản của bất
kỳ Nhà nớc nào trong lịch sử Xác định và thực hiện các chính sách đối ngoạiluôn luôn phải xuất phát từ các chính sách đối nội và chính sách đối ngoại lạiphải có tác động trở lại to lớn đối với chính sách đối nội
Vì vậy, tìm hiểu quan hệ đối ngoại của Inđônêxia trong giai đoạn hiệnnay là rất cần thiết và có ý nghĩa lịch sử to lớn: Thứ nhất: rút ra những bài họckinh nghiệm Thứ hai: định hớng cho quan hệ đối ngoại trong tơng lai Là một
sinh viên năm thứ 5 khoa lịch sử việc nghiên cứu đề tài: “Quan hệ đối ngoại của Inđônêxia từ giữa những năm 60 của thế kỷ XX đến nay” mang ý nghĩa lịch sử,
khoa học, kinh tế và chính trị song đối với chúng tôi trình độ còn nhiều hạn chế.Cho nên, chỉ có khả năng giải quyết đến một chừng mực nhất định nào đó, rất kínhmong thầy cô và các bạn góp ý giúp đỡ
2 Lịch sử vấn đề.
Quan hệ đối ngoại của Inđônêxia là một vấn đề tơng đối lớn và khó Dovậy, từ trớc đến nay đã đợc giới nghiên cứu trong và ngoài nớc quan tâm Tuynhiên, cho đến nay ở Việt Nam còn ít các công trình nghiên cứu hay bài viếtchuyên sâu về vấn đề này một cách cụ thể và có hệ thống Đến nay chúng tôimới chỉ tiếp cận đợc chủ yếu các bài viết, các công trình nghiên cứu của các tácgiả trong nớc Nguồn t liệu mà chúng tôi tiếp cận đợc là các chuyên khảo đăngtrên các báo, tạp chí ( nghiên cứu Đông Nam á, nghiên cứu quốc tế, báo Nhândân ), t liệu Thông tấn xã Việt Nam song các nguồn tài liệu này rất ít Tácgiả luận văn không sử dụng đợc các tài liệu viết bằng tiếng Anh, Pháp nênkhông tránh khỏi những điều hạn chế trong khi khai thác và sử dụng tài liệu
Dới đây là một số t liệu nghiên cứu về Quan hệ đối ngoại của Inđônêxia
mà tôi tiếp cận đợc nh:
-“Quan hệ đối ngoại của các nớc ASEAN” và tác phẩm “Chính sách đối ngoại của các nớc ASEAN”, do tác giả Nguyễn Xuân Sơn và Thái Văn Long
Trang 6(đồng chủ biên); “Lợc sử Inđônêxia” của tác giả Võ Văn Nhung; “Inđônêxia những chặng đờng lịch sử” của Ngô Văn Doanh ; “Trên đất nớc những đảo dừa” của Nguyên Đình Lễ và Nghiêm Đình Vỳ (chủ biên); “Các nớc Đông Nam á lịch sử và hiện tại” của nhà xuất bản Sự thật; "Một số vấn đề về kinh tế
đối ngoại của các nớc đang phát triển Châu á" của Lê Hồng Phục và Đỗ Đức
Định biên soạn, các công trình nghiên cứu chung về lịch sử Đông Nam á, lịch
sử của các nhà nớc ASEAN, hay các công trình nghiên cứu về thể chế chính trị,tôn giáo của các nớc Đông Nam á cũng là những nguồn t liệu rất cần thiếtgiúp đề tài có một cách nhìn tổng thể và sâu sắc hơn đến vấn đề mà đề tài đặtra
Những kết quả nghiên cứu trên đợc chúng tôi tham khảo, tiếp thu có chọnlọc và kế thừa khi thực hiện luận văn này Từ góc độ lịch sử, tác giả luận văn tập
trung trình bày một cách có hệ thống “Quan hệ đối ngoại của Inđônêxia từ giữa những năm 60 của thế kỷ XX đến nay ”
3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài.
Đối tợng nghiên cứu của đề tài là những bớc chuyển biến trong quan hệ
đối ngoại của Inđônêxia trong khoảng thời gian từ giữa những năm 1960 củathế kỷ XX đến nay
Quan hệ đối ngoại của Inđônêxia diễn ra trên nhiều mặt, nhng bản luận văn chỉ
đề cập chủ yếu đến mối quan hệ về chính trị, kinh tế, an ninh quốc phòng
Hiện nay, Inđônêxia có quan hệ với rất nhiều nớc trên thế giới, nhng đây là một
đề tài rất rộng so với yêu cầu của một luận văn và do trình độ, nguồn tài liệu có hạncho nên giới hạn của luận văn chỉ dừng lại ở quan hệ của Inđônêxia với các cờngquốc lớn nh Mỹ, Nhật, EU và các nớc trong khu vực ASEAN
4 Phơng pháp nghiên cứu.
Trang 7Trên cơ sở nguồn tài liệu su tầm đợc, khoá luận tốt nghiệp cố gắng trìnhbày theo phơng pháp lôgíc kết hợp với phơng pháp lịch sử, phơng pháp so sánhkết hợp với phơng pháp phân tích tổng hợp , để khôi phục lại một cách chânthực khách quan bức tranh tổng thể về quan hệ đối ngoại của Inđônêxia từ giữanhững năm 60 (XX) đến nay.
5 Bố cục của đề tài .
Giới hạn của luận văn là từ giữa những năm 60 (XX) đến nay, nhng để có
sự nhìn nhận một cách nối tiếp có hệ thống, do vậy luận văn đã giành một
ch-ơng để điểm lại quá trình lịch sử của Inđônêxia sau chiến tranh thế giới thứ II vàChính sách đối ngoại của Inđônêxia sau chiến tranh thế giới thứ II đến giữanhững năm 1960 Ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận và Tài liệu tham khảo,Luận văn bao gồm các chơng sau:
Chơng I: Khái quát về chính sách đối ngoại của Inđônêxia từ năm
Trang 8Khái quát về chính sách đối ngoại của Inđônêxia
Tháng 8/1945, phát xít Nhật bị thua trận, thế chiến II kết thúc Nắm thời cơ
đó, một cao trào giải phóng dân tộc của Inđônêxia nổi lên mạnh mẽ.Trên cơ sở đóngày 17- 8-1945, thủ lĩnh của phong trào giải phóng dân tộc Ông Xucácnô đã đọcbản tuyên ngôn độc lập lịch sử “ Chúng tôi, dân tộc Inđônêxia chính thức tuyên bốnền độc lập của Inđônêxia ” và ngày 4-9-1945, chính phủ quốc gia đầu tiên ởInđônêxia đợc thành lập, đứng đầu là tổng thống Xucácnô
Nh vậy, sau nhiều thế kỷ đấu tranh kiên cờng và bất khuất, đất nớc Inđônêxia
đã giành đợc tự do, độc lập Thế nhng, nhân dân Inđônêxia còn phải tiếp tục cuộc
đấu tranh bảo vệ nền độc lập trớc sự quay trở lại của thực dân phơng Tây
Ngay sau khi nhân dân Inđônêxia giành đợc chính quyền trong tay NhậtBản và tuyên bố độc lập thì bọn thực dân Hà Lan lại núp sau lng quân đội Anhquay trở lại hòng lập lại ách thống trị của chúng ở Inđônêxia
Lợi dụng chính quyền cách mạng còn non trẻ, thực dân Hà Lan cùng với lựclợng phản động trong nớc đã gây ra vụ thảm sát ở Madium, vào giữa tháng 9 vàtháng 11 năm 1948 giết hại nhiều lãnh tụ Đảng Cộng Sản những ngời đã từng giữvai trò quan trọng trong cuộc kháng chiến của Inđônêxia ép chính phủ liên hợp doXariphudin (lãnh tụ của Đảng cộng sản) đứng đầu phải tổ chức và đa Hátta (lãnh
Trang 9tụ Đảng Matsumi) làm thủ tớng Sau đó, chúng đã đem quân tấn công GiôGiacácta (thủ đô nớc Cộng hoà Inđônêxia lúc bấy giờ), bắt tổng thống Xucácnô
và nhiều nhà lãnh đạo khác đày ra đảo Băngca Bọn thực dân Hà Lan tởng làm nhvậy là có thể buộc chính phủ Inđônêxia phải đầu hàng Nhng trái lại, cuộc khángchiến anh dũng của Inđônêxia càng lan mạnh Cuộc kháng chiến của nhân dânInđônêxia đợc các nớc trên thế giới ủng hộ và tìm mọi cách buộc Hà Lan phảichấm dứt chiến tranh xâm lợc Inđônêxia
Trớc tình hình đó, Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc thông qua nghị quyết
về ngừng bắn ở Inđônêxia và phải trả lại tự do cho tổng thống Xucácnô vànhững nhà lãnh đạo khác của Inđônêxia và triệu tập Hội nghị bàn tròn ở La Hay(23-8 đến 2-11-1949) Bọn thực dân Hà Lan phải thừa nhận chủ quyền củaInđônêxia (trừ miền tây Irian ), nhng Hiệp định hội nghị bàn tròn lại do Hátta
đứng ra ký với Hà Lan cho nên có những điều của hiệp định xâm phạm nghiêmtrọng đến chủ quyền của Inđônêxia trên các lĩnh vực ngoại giao, quân sự, kinh
tế, tài chính và buộc Inđônêxia phải nằm trong cái gọi là khối “Liên hiệpInđônêxia – Hà Lan" Nh vậy, từ một nớc độc lập, Inđônêxia rơi vào một nớcnửa thuộc địa
Tuy nhiên, nhân dân Inđônêxia không thể thừa nhận hiệp định nhục nhã
đó, cuộc đấu tranh của nhân dân Inđônêxia lại tiếp tục Và ngày 17-8 –1950,tổng thống Xucácnô đã chính thức tuyên bố thủ tiêu chế độ Liên bang do bọnthực dân Hà Lan tạo ra, thành lập nớc Cộng hoà Inđônêxia thống nhất Tuynhiên, cuộc đấu tranh nhằm xoá bỏ những ảnh hởng của nhân dân Hà Lan vẫn
đợc tiếp tục trong những năm sau đó
Trang 10Tháng 8 –1953, chính phủ Hátta bị lật đổ, chính phủ của Quốc dân đợcthành lập, tổng thống Xucácnô đợc đông đảo quần chúng ủng hộ, đã thi hànhnhiều chính sách tiến bộ nhằm khôi phục và củng cố nền độc lập ở trong nớc.
Vào những năm 1960, nền độc lập của Inđônêxia đợc củng cố và địa vịcủa nớc Cộng hoà Inđônêxia không ngừng đợc nâng cao trên trờng quốc tế.Tuynhiên, Inđônêxia cũng bắt đầu bớc vào một thập niên đầy biến động Sự “tiếpthu một cách không phê phán nền dân chủ tự do của phơng Tây” đã đa đến sựbất ổn định về chính trị ở Inđônêxia suốt từ năm1950 đến 1956 Ngày 21-2-
1957, tổng thống Xucácnô đa ra hệ thống “ nền dân chủ có chỉ đạo” cải tổ hệthống nhà nớc để giữ vững sự thống nhất dân tộc Thực chất, nền dân chủ có chỉ
đạo là thể chế cộng đồng gia tởng truyền thống tiêu biểu của Inđônêxia :Gotong- Roiong (sự hợp tác tơng hỗ giữa các nhóm ) và Mufakat (sự nhất trícủa các phía dựa trên cơ sở cùng thảo luận ) và thành lập một “chính phủ hợptác tơng hỗ” trực thuộc quyền hành của tổng thống T tởng của Xucácnô đợc sựủng hộ tích cực của các đảng phái đặc biệt là tớng A Nasution – tham mu tr-ởng bộ binh Nh vậy, từ năm 1957, "Xucácnô và Nasution trở thành hai kiếntrúc s chính của nền dân chủ có chỉ đạo" [ 8,184 ]
Ngày 15-2-1958, những thế lực chống đối chính quyền cách mạng trung
ơng ở Xumatra tuyên bố thành lập “ Chính phủ cách mạng của nớc Cộng hoàInđônêxia” (PRRI) đã liên minh với lực lợng nổi dậy ở Permesta và ở Xulavexi.Trớc tình hình đó, chính phủ và quân đội buộc phải hành động cơng quyết Saukhi dẹp song cuộc nổi loạn của PRRI, uy lực của quân đội trong chính phủ cũng
nh ở các cơ quan chính quyền địa phơng tăng lên rõ rệt Hơn thế nữa, ngay saungày 13-12-1957, khi tớng Nasution cùng quân đội của mình tiếp quản cáccông ty của Hà Lan ở Inđônêxia, thì lực lợng quân sự đã trở thành một thế lựcmạnh mẽ cả trong lĩnh vực chính trị lẫn kinh tế Do đó, trong thực tế suốt từnăm 1959 đến năm 1965, ở Inđônêxia đã tồn tại một kiểu chính quyền khá đặc
Trang 11biệt: lực lợng của Tổng thống và lực lợng của quân đội tuy về danh nghĩa là hợptác, nhng giữa tổng thống và quân đội vẫn luôn có sự bất đồng về mọi vấn đề,vì không có một “đội quân chính trị” riêng, tổng thống Xucácnô đã liên minhcùng Đảng cộng sản để tạo thế lực.
Tháng 8/1959, Xucácnô tuyên bố Tuyên ngôn chính trị mang tính cơnglĩnh (Manipol) thể hiện t tởng “ nền dân chủ có chỉ đạo” của mình và ra sắclệnh trở về với Hiến pháp cách mạng năm 1945 Ngày 15tháng 8 năm1960 lập
ra cơ quan quyền lực cao nhất theo Hiến pháp năm 1945: Quốc hội Hiệp thơngnhân dân Việc thành lập Quốc hội là thắng lợi của Xucácnô
Thất bại trong việc chiếm ghế Quốc hội ( Quốc hội hiệp thơng nhân dân)tớng Nasution cũng cố địa vị của mình bằng cách thanh lọc những phần tử thâncộng sản và Xucácnô ra khỏi quân đội và tìm cách liên minh với các Đảng phái
đội mới có thế lực mạnh nhất
Trong khi đó, tình trạng tham nhũng, sự thiếu hiệu quả của bộ máy hànhchính, ngân sách quốc phòng quá lớn đã đẩy nền kinh tế của Inđônêxia tới bờvực sụp đổ Kế hoạch tám năm phát triển (1961- 1969) đợc đa ra vội vã, thiếuhẳn căn cứ và những luận chứng khoa học nên nhanh chóng bị phá sản Năm
1965, tốc độ lạm phát của Inđônêxia đạt tới mức 650% /1 năm Các đảng pháicánh tả và lực lợng quân sự phối hợp với nhau chuẩn bị đảo chính lật đổXucácnô Mu đồ đó bị nhóm “những sĩ quan tiến bộ” (bao gồm những lực lợng
ủng hộ Xucácnô ) xoá bỏ vào đêm 30/9 và sáng 1/10/1965 sáu trong bảy vị ớng bộ binh bị giết trừ Nasution chạy thoát
Trang 12t-Sự kiện 30/9 và sáng 1/10, đã tạo cơ hội cho lực lợng quân đội phản cônglại những ngời ủng hộ Xucácnô Chỉ trong vòng 2 năm 1965-1966 gần một triệu
Đảng viên ĐCS và những ngời dân tộc cánh hữu bị giết, 600000 ngời bị tù đày
Từ cuối tháng 10 –1965, Đảng cộng sản trên thực tế đã bị đặt ra ngoài vòngpháp luật
Trớc tình hình đó, tổng thống Xucácnô cố lấy lại vị trtí của mình, nhngmọi cố gắng của ông đều vô vọng Dới áp lực của quân đội, ngày 11-3-1966,
Tổng thống Xucácnô đã ký sắc lệnh trao cho tớng Suháctô "tiến hành tất cả
những biện pháp cần thiết để lập lại trật tự" Điều này có nghĩa là, toàn bộquyền hành pháp đã đợc chuyển giao cho Suháctô
Trong tháng 6 và tháng 7 /1966, diễn ra kỳ họp của Quốc hội Inđônêxia.Tại kỳ họp này, đã thông qua một số quyết định quan trọng xoá bỏ danh hiệuTổng thống suốt đời của Xucácnô, chuyển sắc lệnh mà Tổng thống Xucácnô kývào ngày 11/3, trao toàn bộ quyền hành pháp cho tớng Suháctô, thành quyết
định chính thức của Quốc hội Trong chính phủ mới của Suháctô, tớng lĩnhquân đội chiếm 12 trong toàn bộ 24 chức vụ then chốt, mọi quyết định quantrọng phải thông qua chủ tịch của đoàn nội các do Suháctô đứng đầu
Dới sức ép mạnh mẽ của các lực lợng chống đối, ngày 20 - 2 - 1967Xucácnô đã chuyển giao toàn bộ quyền lực điều hành Quốc hội và tháng 3-
1967 đã hợp thức hoá nhợng bộ trên của Tổng thống Xucácnô và trao quyềnTổng thống cho Suháctô Cuộc đấu tranh giành quyền kiểm soát nhà nớc củacác tớng lĩnh, các lực lợng bộ binh kéo dài một năm rỡi đã hoàn thành Từ đâyInđônêxia mới thật sự bớc vào một thời kỳ ổn định và phát triển –thời kỳ “ trật
tự mới” của Tổng thống Suháctô
1 2 Chính sách đối ngoại của Inđônêxia từ khi trở thành một quốc gia độc lập thống nhất đến giữa những năm 60 của thế kỷ XX.
Trải qua hơn 350 năm dới ách thống trị của chủ nghĩa thực dân phơngTây, Indônêxia luôn luôn thể hiện mình là một nớc yêu chuộng nền độc lập dân
Trang 13tộc Khi giành đợc độc lập, khát vọng của nớc Cộng hoà Indônêxia non trẻmuốn đợc sống trong hoà bình và hữu nghị với tất cả các nớc và muốn có nhữngnguyên tắc đối ngoại vừa đáp ứng quyền lợi dân tộc vừa đảm bảo cho Indônêxiatham gia một cách bình đẳng vào các công việc mang tính quốc tế Với phơngchâm: “Độc lập tích cực trong đối ngoại” [23,18] Do vậy, Indônêxia đã thihành chính sách đối ngoại hoà bình, không liên kết, ủng hộ mạnh mẽ sự thamgia của dân tộc Indônêxia vào việc tạo ra một trật tự thế giới mới dựa trên chínhsách độc lập bền vững và công bằng xã hội Những chính sách đối ngoại đóthay đổi qua từng thời kỳ.
Trong thời kỳ 1945-1967, dới thời Xucácnô làm Tổng thống Inđônêxia
đã thi hành nhiều chính sách đối ngoại tiến bộ từng bớc “ Thể hiện và tiếp cậnvới bên ngoài” [23,19] khôn khéo giữ thế trung lập khi một bên là các nớcXHCN với một bên là đế quốc phơng Tây, Inđônêxia không tham gia vào bất kỳmột hiệp ớc quân sự nào, không tán thành việc cho nớc ngoài lập căn cứ quân
sự trong khu vực Đông Nam á Từ năm 1960, Indônêxia đã công khai nghiêng
về phe XHCN, ủng hộ tích cực các ĐCS, thi hành chính sách chống đế quốc,giảm mối quan hệ với phơng Tây, nhận sự giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc
Đây là thời kỳ Indônêxia phát huy đợc vai trò và tiếng nói của mình đối với cácnớc đang phát triển, tích cực tham gia nhóm nớc không liên kết (Sau nàyIndônêxia trở thành thành viên sáng lập phong trào không liên kết năm 1961)
Tuy nhiên, vấn đề quan trọng nhất trong chính sách đối ngoại củaInđônêxia lúc này là vào tháng 8 –1945, Inđônêxia tuyên bố độc lập, thành lậpCộng hoà do Xucácnô làm Tổng thống, nhng trên thực tế, nhân dân Inđônêxia
đã phải tiến hành một cuộc đấu tranh gian khổ với thực dân Hà Lan vì độc lậpchủ quyền Kết quả của cuộc đấu tranh kiên trì, bền bỉ ấy là việc Hà Lan phảitrao trả chủ quyền dân tộc cho Inđônêxia vào tháng 12-1949 Năm 1950,Inđônêxia trở thành một nớc Cộng hoà độc lập, thống nhất và có chủ quyền
Trang 14Song Hiệp định bàn tròn năm 1949 đã để lại những hậu quả nhức nhốicho nớc cộng hoà Đó là vấn đề Liên Hiệp Hà Lan – Inđônêxia và vấn đề TâyIrian Nhân đân Inđônêxia bớc vào một giai đoạn đấu tranh mới chống CNĐQthực dân ở trên đất nớc Inđônêxia và trên thế giới Trong cuộc đấu tranh này về
đối ngoại, Inđônêxia theo đuổi đờng lối độc lập và tích cực vì quyền lợi dân tộc
và hoà bình thế giới
Trong bài diễn văn đọc tại Hội đồng Liên Hợp Quốc ngày 24
tháng10-1951, Tổng thống Xucácnô đã khẳng định : “ chúng tôi yêu chuộng hoàbình và không muốn ai can thiệp đến Vì vậy chính sách ngoại giao của chúngtôi là chính sách ngoại giao độc lập nhằm mục đích xúc tiến hữu nghị và hoàbình trên toàn thế giới chúng tôi không thiên về khối này hay khối nọ, cũngkhông gia nhập phe này hay phe khác vì chúng tôi nhận định rằng đó khôngphải là con đờng đi đến hoà bình thế giới ”[ 30, 16-17]
Theo tinh thần ấy, Inđônêxia cơng quyết tham gia cái gọi là ”Khối liênminh kinh tế và văn hoá của các nớc Đông Nam á” một tổ chức trá hình củakhối quân sự xâm lợc Đông Nam á do Mỹ giật dây cho Philippin và Mã lai đa
ra, Inđônêxia còn cự tuyệt không nhận vũ khí tên lửa và vũ khí nguyên tử mà
Mỹ muốn đa sang Inđônêxia Chính vì vậy, Đế quốc Mỹ đã thốt ra sự thất vọngcủa chúng trong âm mu biến Inđônêxia thành căn cứ quân sự của chúng nh sau:
“ Việc Inđônêxia cự tuyệt sự điều khiển của Mỹ, không chịu tiếp thu ý kiến của
Mỹ đã khiến cho bất cứ một hệ thống phòng thủ nào do các nhà quân sự Mỹthành lập đều bị cắt ngay ở khúc giữa mất một quảng dài 4.500 cây số “[ 21,133]
Đối với nớc Cộng hoà Inđônêxia, cuộc đấu tranh chống CNTD đợc cụ thểhoá là cuộc đấu tranh xoá bỏ Liên hiệp Hà Lan - Inđônêxia và giành lại chủquyền vùng đất Tây Inđônêxia đang bị Hà Lan kiểm soát
Hiệp định bàn tròn quy định Liên bang Inđônêxia, lúc này là nớc Cộnghoà Inđônêxia thống nhất gia nhập vào Liên hiệp Hà Lan – Inđônêxia do Nữ
Trang 15hoàng Hà Lan đứng đầu Nằm trong Liên hiệp này, Inđônêxia không đợc tựmình quyết định tất cả các vấn đề kinh tế, ngoại giao, quốc phòng Đó là
điều bất bình đẳng đối với một quốc gia có chủ quyền nh Inđônêxia Vì vậy cácnhà lãnh đạo Inđônêxia đã coi Liên hiệp này là “ tàn tích của sự thống trị thựcdân” vì thế nó phải đợc xoá bỏ Khẳng định thêm cho quan điểm này, ngày 24-10-1951, trong diễn văn đọc tại Liên Hợp Quốc, tổng thống Xucácnô đã nói :
“ CNTD chỉ mang lại nghèo khổ, nhục nhã và những điều bất chính bấtluận trong Liên Hợp Quốc hay ngoài Liên Hợp Quốc, Inđônêxia đều phải tiếptục nổ lực quét sạch sành sanh những tàn d của CNTD trên quả địa cầu ”[ 30,19] Từ đây, ông nêu rõ mục đích của Inđônêxia là duy trì và bảo vệ địa vịcủa dân tộc mình nh “ gìn giữ sinh mạng của mình”
Từ năm1951, Inđônêxia đã tiến hành cuộc đấu tranh về ngoại giao đòi HàLan huỷ bỏ Liên Hiệp bất bình đẳng này Nhiều cuộc đàm phán, thơng lợnggiữa hai nớc đã diễn ra nhng không đạt kết quả Phía Hà Lan luôn tìm cách lẩntránh những đề nghị của Inđônêxia hoặc đa ra những điều kiện không có lợi choInđônêxia Rõ ràng, Hà Lan không muốn bị mất ảnh hởng cũng nh quyền lợicủa họ ở Inđônêxia Trớc tình hình đó, ngày 2-4 –1956 Quốc hội Inđônêxia đãtán thành biện pháp xoá bỏ tất cả các điều khoản bất bình đẳng của Hiệp ớc bàntròn, coi quan hệ giữa Hà Lan và Inđônêxia từ đây là “quan hệ giữa hại nhà nớc
có đầy đủ chủ quyền trên cơ sở của luật pháp quốc tế” và “ tất cả những đặcquyền của nhân dân Hà Lan ở Inđônêxia đều bị bãi bỏ, trừ những điều thoảthuận trong hoạt động kinh doanh không xung đột với những quyền lợi củaInđônêxia”
Trớc việc làm kiên quyết của Inđônêxia, Hà Lan đã cực lực phản đối
nh-ng khônh-ng làm gì đợc hơn là tuyên bố chính thức chuyển cơ quan Cao uỷ của HàLan ở Giacácta, thủ đô Cộng hoà Inđônêxia thành sứ quán cuả Hà Lan tại đây.Với việc làm này, Hà Lan đã chính thức công nhận Cộng hoà Inđônêxia là mộtquốc gia độc lập có chủ quyền
Trang 16Song song với việc đấu tranh xoá bỏ Liên Hiệp Hà Lan – Inđônêxia,ngay từ đầu năm 1950, Inđônêxia đã đề nghị đàm phán về vấn đề Tây Irian với
Hà Lan Hiệp định bàn tròn năm 1949 quy định Hà Lan tạm thời kiểm soátvùng Tây Irian trong vòng một năm để chờ các cuộc đàm phán tiếp theo nhằmtìm kiếm một giải pháp hoà bình cho vấn đề này
Đối với Hà Lan, Tây Irian là một “ viên ngọc quý”còn lại trong cả “chuỗingọc” là quần đảo Inđônêxia đã bị mất, vì thế họ quyết tâm chiếm giữ vùngnày
Tiếp tục cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, chính phủ Inđônêxia
đã bày tỏ quan điểm rằng Inđônêxia không thể tham gia vào “ mối liên hệ thuộc
địa này “ với Hà Lan trong vấn đề Tây Irian cũng không thể chấp nhận sự thốngtrị của nớc ngoài trên bất cứ nơi nào của đất nớc mình Tây Irian là một phầnlãnh thổ không thể chia cắt của Inđônêxia
Cả hai nớc cùng kiên quyết bảo vệ các quan điểm của mình nên các vòng
đàm phán giữa Inđônêxia và Hà Lan đã không đạt đợc kết quả Suốt từ tháng 8-1954
đến năm 1957, Inđônêxia đã kiên trì đa vấn đề Tây Irian ra xem xét tại LHQ và đã
đợc các nớc xã hội chủ nghĩa và những nớc tiến bộ trên thế giới đồng tình ủng hộ.Nhng do sự chống đối của các nớc đế quốc LHQ đã không thể thông qua đợc nghịquyết đa vấn đề Tây Irian vào chơng trình nghị sự của khoá họp Mỹ bề ngoài tỏ ratrung lập với vấn đề Tây Irian nhng thực tế đã giúp Hà Lan biến Tây Irian thành lậpmột căn cứ quân sự, phục vụ cho chiến lợc toàn cầu của Mỹ ở khu vực ĐNá Các n-
ớc trong khối NATO cũng giúp đỡ Hà Lan để cũng cố pháo đài Tây Irian và từ chốibán vũ khí cho Inđônêxia
Nhận thấy vấn đề Tây Irian không thể giải quyết bằng con đờng hoàbình, Inđônêxia quyết định áp dụng biện pháp cứng rắn nh đánh vào quyền lợikinh tế to lớn của Hà Lan ở Inđônêxia, cắt đứt quan hệ ngoại giao với Hà Lan(tháng 8 /1959) thành lập các đội quân chiến đấu để giải phóng Tây Irian và tìmkiếm sự ủng hộ của các nớc xã hội chủ nghĩa và các nớc á - phi trong phong
Trang 17trào không liên kết Trên thực tế Inđônêxia đã dựa vào sự ủng hộ của các nớcnày cả về tinh thần lẫn vật chất.
Trớc tình thế không thuận lợi cả ở trong nớc và ngoài nớc, Hà Lan phảichấp nhận đàm phán với Inđônêxia và buộc phải ký vào Hiệp ớc New york (15-8-1962) trao trả lãnh thổ Tây Irian cho Cộng hoà Inđônêxia Phát biểu về thắnglợi to lớn này Tổng thống Xucácnô coi đó là bớc tiến tới việc “quét sạch chủnghĩa thực dân trên trái đất”
Nh vậy, trong quá trình đấu tranh giành lại chủ quyền vùng đất Tây Irian,Inđônêxia dựa hẳn vào sự ủng hộ mọi mặt của các nớc XHCN và các nớc trongPhong trào không liên kết Từ giữa năm 1950 trở đi đã làm cho chính sáchngoại giao độc lập của Inđônêxia đợc tuyên bố năm1950 có phần thay đổi Điều
đó có thể thấy trong bản Thông cáo chung giữa Liên Xô và Inđônêxia nhâncuộc đi thăm Liên Xô của tổng thống Xucácnô vào tháng 9-1956 Bản thôngcáo chung đã đề cập đến việc thiết lập các quan hệ hợp tác hữu nghị giữa hai n-
ớc trên nhiều lĩnh vực, đề cập đến việc chống chủ nghĩa đế quốc thực dân, giảitrừ quân trù bị, cấm sử dụng và thử vũ khí hạt nhân hai nớc nhất trí theo tinhthần và nguyên tắc của hội nghị
Đồng thời quan hệ giữa Cộng hoà Inđônêxia và các nớc xã hội chủ nghĩacũng diễn ra hết sức tốt đẹp qua các chuyến đi thăm Liên Xô và các nớc dânchủ nhân dân của đoàn đại biểu Inđônêxia do Tổng thống Xucácnô dẫn đầucàng tăng thêm sự hiểu biết và lòng tin cậy của Nam Dơng với các nớc đó.Trong cuộc mít tinh của sinh viên Inđônêxia tại thủ đô Giacácta tháng 4- 1958,Tổng thống Xucácnô đã nói “ trong tình hình hiện nay, tất cả các nớc phải đitheo con đờng hợp tác và chung sống hoà bình” Với những mục tiêu tự do,bình
đẳng, hữu nghị và tiến bộ xã hội Vì vậy, quan hệ hợp tác giữa Inđônêxia và cácnớc trong phe xã hội chủ nghĩa không ngừng cũng cố và phát triển
Đối với Liên Xô, nớc đứng đầu phe XHCN, nhân dân Inđônêxia có cảmtình đặc biệt, không những vì cuộc Cách mạng tháng Mời đã cổ vũ phong trào
Trang 18giải phóng dân tộc ở các nớc phơng đông trong đó có Inđônêxia, không nhữngvì chiến thắng vẻ vang của Liên Xô trong cuộc Chiến tranh thế giới thứ II đã tạo
điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của Inđônêxia thành công,
mà còn vì Liên Xô luôn luôn tỏ ra là ngời bạn chân thành của nhân dânInđônêxia cũng nh tất cả các dân tộc bị áp bức và các dân tộc đã giành độc lập
Từ khi Liên Xô công nhận nớc Cộng hoà Inđônêxia (tháng 1- 1950),nhất là từ khi hai nớc thiết lập quan hệ ngoại giao với nhau, thì quan hệ hợp táchữu nghị giữa hai nớc ngày càng phát triển Tình hữu nghị giữa Liên Xô vàInđônêxia đã đợc biểu hiện một cách rực rỡ trong những cuộc đi thăm Liên Xôtrong năm 1956, do Tổng thống Xucácnô dẫn đầu và cuộc đi thăm Inđônêxiacủa nguyên soái Vô-rô-si-lốp, chủ tịch đoàn Xô Viết tối cao Liên Xô (tháng5 -1957)
Đối với Trung Quốc, Inđônêxia đã có quan hệ từ lâu, nhân dân Inđônêxia
và nhân dân Trung Quốc đã trải qua những ngày chiến đấu gian khổ vì tự do
độc lập dân tộc nên rất thông cảm với nhau.Trong cuộc đi thăm Trung Quốc
đầu tháng 10 –1956, Tổng thống Xucácnô đã nói rõ: chính phủ Nam Dơngủng hộ việc khôi phục lại địa vị pháp lý của nớc Cộng hoà Nhân dân Trung Hoatại LHQ và Tổng thống có ý tin rằng: “ sự hợp tác hữu nghị giữa nhân dânTrung Quốc và nhân dân Inđônêxia có thể thực hiện đợc vì lý tởng của nhân dânhai nớc có những điểm giống nhau Chúng ta hãy cùng tiến bớc để thực hiện
độc lập hoàn toàn vì sự phồn vinh của hai nớc chúng ta, thực hiện một nền hoàbình lâu dài trên thế giới” [ 2 ,3]
Những cuộc đi thăm nhau giữa Inđônêxia và các nớc trong phe XHCNcũng đã tăng cờng sự hiểu biết lẫn nhau và quan hệ hợp tác hữu nghị giữaInđônêxia và các nớc trong phe XHCN
Quan hệ hợp tác hữu nghị giữa Inđônêxia và các nớc trong phe XHCNbiểu hiện rõ trên lĩnh vực kinh tế và văn hoá Liên Xô và các nớc trong pheXHCN rất đồng tình với cuộc đấu tranh của nhân dân Inđônêxia nhằm khôi
Trang 19phục tình trạng kinh tế chậm tiến, xoá bỏ ảnh hởng của CNTD trong nền kinh tếquốc dân và xây dựng một nền kinh tế tự chủ phồn vinh Năm 1956, Liên Xô vàInđônêxia đã ký Hiệp định hợp tác kinh tế và kỹ thuật Theo Hiệp định này,Liên Xô đã cho Inđônêxia vay 100 triệu đô la trong thời hạn 12 năm Năm
1957, Liên Xô lại cho Inđônêxia kéo dài nợ thêm 6 năm Ngoài ra, Liên Xô lạicòn giúp Inđônêxia thăm dò các mỏ than, mỏ kim loại không có chất sắt, cungcấp thiết bị máy móc, giúp xây dựng xí nghiệp công nghiệp than, công nghiệpluyện kim màu, nhà máy vật liệu kiến trúc
Trong năm 1953-1954, Trung Quốc và Inđônêxia đã ký Hiệp định mậudịch và Hiệp định thanh toán Tháng 5 –1956 Inđônêxia đã tuyên bố huỷ bỏviệc cấm vận với Trung Quốc về cao su, Inđônêxia cũng đã ký Hiệp định thơngmại với Ba lan, Hunggari, Rumani, Tiệp Khắc, Việt Nam Nớc cộng hoà dânchủ Đức đã gửi máy móc và chuyên gia sang giúp Inđônêxia làm nhà máy đờngmía ở Giô Giacácta Rumani đã giúp Inđônêxia xây dựng nhà máy xi măng Sựhợp tác tơng trợ giữa các nớc trong phe XHCN và Inđônêxia đợc xây dựng trêncơ sở bình đẳng, hai bên cùng có lợi và không kèm theo một điều kiện chính trịnào
Trong thời gian nhân dân và chính phủ Cộng hoà Inđônêxia chống phiếnloạn ở trung bộ Xumatra, ở Bắc Bộ Xulavêxi và chống sự can thiệp của bọn đếquốc, thì Liên Xô, Trung Quốc và tất cả các nớc XHCN khác đều đồng tình ủng
hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa đó Chính phủ Liên Xô và Trung Quốc đã ratuyên bố cảnh cáo và kiên quyết lên án sự can thiệp của nớc ngoài vào côngviệc nội bộ của Inđônêxia
Sự phát triển hợp tác hữu nghị giữa Inđônêxia với các nớc XHCN là mộtnhân tố quan trọng chẳng những giúp Inđônêxia có điều kiện thuận lợi trongcuộc đấu tranh gìn giữ và củng cố độc lập, xây dựng kinh tế tự chủ, mà còn gópphần vào sự nghiệp chung của nhân dân thế giới trong cuộc đấu tranh vì hoàbình và sự hợp tác hữu nghị giữa các dân tộc
Trang 20Bớc vào thập kỷ 60, phong trào giải phóng dân tộc chống chủ nghĩa đếquốc trên thế giới dâng cao Lúc này, Tổng thống Xucácnô đợc sự ủng hộ tíchcực của ĐCS (thân Trung Quốc) đã thi hành một chính sách đối ngoại theo xuhớng chống chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc,giảm các mối quan hệ vớiphơng Tây và công khai xích lại gần các nớc XHCN, nhận sự giúp đỡ của LiênXô và Trung Quốc Đây là thời kỳ uy tín của Inđônêxia đợc nâng cao trên diễn
đàn quốc tế Đồng thời chính sách đối ngoại độc lập và tích cực của Inđônêxia
đã có sự thay đổi so với thời kỳ ban đầu Trong bài phát biểu tại cuộc gặp gỡcấp cao của các nớc không liên kết tháng 9 – 1961, Tổng thống Xucácnô đãnói : “ tính độc lập trong đối ngoại không có nghĩa là đờng lối đứng về bênnào trong cuộc chiến tranh lạnh mà là lựa chọn một cách chắc chắn đứng vềphía các lực lợng tích cực, chống CNĐQ, thực dân và CNTD mới ” với chínhsách nh vậy, trong thời kỳ này Inđônêxia đã trở thành một trong những nớc tíchcực đấu tranh chống CNĐQTD của phong trào không liên kết Tổng thốngXucácnô đã kêu gọi các nớc á - phi hãy đứng lên chống CNĐQTD, ông nói:
“ không có một thế lực nào trên thế giới có thể ngăn cản dân tộc á - phi Mỹ latinh tự giải phóng lấy mình chúng ta hãy xây dựng một thế giới không có ápbức bóc lột dân tộc, không có ngời bóc lột ngời không có chủ nghĩa đế quốc,chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa thực dân mới”
Chính sách chống CNĐQ, CNTD mới của chính phủ Xucácnô đợc thểhiện ở một số vấn đề sau: Trong nớc, từ năm 1957, Tổng thống Xucácnô tuyên
bố rằng kiểu dân chủ phơng Tây không còn thích hợp với Inđônêxia, thay vào
đó Xucácnô đa ra kế hoạch thực hiện chế độ "dân chủ có chỉ đạo” Kế hoạchnày bao gồm việc thành lập nội các mới gồm đại diện của tất cả các đảng pháichính trị, kể cả ĐCS và thành lập hội đồng t vấn dân tộc bao gồm tất cả các tầnglớp trong xã hội ĐCS Inđônêxia (PKI) đã ủng hộ mạnh mẽ cho kế hoạch nàycủa Tổng thống Xucácnô
Trang 21Luận thuyết của Xucácnô về cuộc xung đột giữa các lực lợng mới trỗidậy (New Emerging Forces : NEFOS) và các lực lợng đã đợc thiết lập trớc đây(Old-Established Fores: OLDEFOS) là một trong những biểu hiện chống chủnghĩa ĐQTD của chính phủ Xucácnô Theo Xucácnô, NEFOS tức là các lực l-ợng vì tự do, công lý,chống CNTD, CNĐQ và chống lại sự bóc lột của chủnghĩa t bản, Xucácnô coi NEFOS là lực lợng chống lại sự bóc lột và ngã vềNEFOS không phải là vi phạm chính sách độc lập mà đó là cách duy nhất để có
độc lập thực sự và nếu Inđônêxia đứng trung lập trong cuộc đấu tranh giữa NEFOS
và OLDEFOS có nghĩa là chấp nhận tính nguyên trạng của sự bóc lột Năm 1963,Inđônêxia đã tổ chức thế vận hội của các nớc thuộc NEFOS để chống lại chính trịhoá thể thao của Liên đoàn Olympic quốc tế Tiếp đó, Xucácnô đã tổ chức hộinghị của NEFOS ở Giacácta với thành phần tham dự linh hoạt hơn thành phần dựcủa Hội nghị á - Phi hay Hội nghị không liên kết
Luận thuyết về cuộc xung đột giữa NEFOS và OLDEFOS còn đợc tiếptục phản ánh trong cuộc đối đầu với Malaixia khi liên bang này đợc thành lậpvào tháng 9 / 1963, vì Inđônêxia cho rằng đó là một biểu hiện của CNTD mớicủa thực dân Anh, nhằm bảo vệ và duy trì những quyền lợi về kinh tế, quânsự,chính trị của Anh ở ĐNá và nhằm cớp đi những quyền lợi của những ngờitrong liên bang này Hơn nữa, việc làm này cũng tác hại tới tiến trình cáchmạng đang đợc thực hiện ở Inđônêxia là chống chủ nghĩa đế quốc thực dân, tiếntới tiêu diệt hoàn toàn sự thống trị của nó
Mức độ đối đầu của Inđônêxia với Liên bang Malaixia cứ tăng dần từtháng 9/1963 đến tháng 1/1965, khi tổ chức này trở thành thành viên chính thứccủa Hội đồng bảo an LHQ Inđônêxia đã tuyên bố rút ra khỏi LHQ để phản đối
vị trí thành viên của Malaixia trong tổ chức này Hơn nữa, Inđônêxia cho rằng
các nớc thuộc OLDEFOS đã gây áp lực với LHQ để đa ra những sự áp đặt đối
với các nớc thuộc NEFOS và Tổng thống Xucácnô cũng không dấu ý định khixây dựng một trụ sở mới cho NEFOS ở Giacácta giống nh trụ sở của LHQ
Trang 22Không dừng ở đó, chính phủ Xucácnô đã cấm các hoạt động của cơ quan đạidiện của LHQ ở Inđônêxia Những việc làm trên đã ảnh hởng không nhỏ tới uytín chính trị của Inđônêxia trên trờng quốc tế.
Nh vậy, chính sách chống chủ nghĩa ĐQTD của nớc Cộng hoà Inđônêxia
đã góp phần vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của các dân tộc thuộc
địa, góp phần cũng cố hoà bình thế giới và khu vực Tuy nhiên, những hành
động cực đoan của chính phủ Xucácnô đã có tác dụng tiêu cực tới đờng lối đốingoại tích cực này Một trang sử mới lại bắt đầu với đân tộc Inđônêxia, đợc
đánh dấu bằng việc Xucácnô chuyển giao quyền lực điều hành đất nớc cho ớng Suháctô (tháng 2-1967) Inđônêxia bớc vào thời kỳ “ Trật tự mới”
Trang 23T-Chơng 2 quan hệ đối ngoại của Inđônêxia với một số
cờng quốc và các nớc trong tổ chức ASEAN
2.1 Quan hệ Inđônêxia với Mỹ.
Với sự kiện 30/9/1965, chính quyền Xucácnô buộc phải chuyển giaoquyền lực điều hành đất nớc cho Suháctô vào tháng 2 – 1967 Từ đây,Inđônêxia bớc vào thời kỳ “ trật tự mới” Sau khi lên cầm quyền, để phát triểnkinh tế, chính quyền “ trật tự mới” đã thi hành đờng lối đối ngoại đa cực và mởcửa cho t bản nớc ngoài tham gia vào các ngành kinh tế của đất nớc mình.Inđônêxia đã quay sang thận thiện với các nớc phơng Tây, tăng cờng sự hợp tácvới Mỹ để tìm kiếm các khoản đầu t, viện trợ cho sự phát triển kinh tế.Inđônêxia coi Mỹ là “nhân tố quan trọng đảm bảo cân bằng chiến lợc trong khuvực” [ 23 ,24] Đặc biệt quan hệ Inđônêxia – Mỹ gắn bó khi Nixơn chính thứcsang thăm Inđônêxia vào tháng 7-1969
Đối với Mỹ: Các nớc Đông Nam á nói chung, Inđônêxia nói riêng có vịtrí chiến lợc quan trọng Inđônêxia không những có vị trí địa lý chiến lợc quantrọng mà nơi đây còn có một nguồn nhân lực dồi dào, tài nguyên thiên nhiênphong phú đặc biệt là dầu lửa Cho nên các tập đoàn đa quốc gia của Mỹ đã cómặt ở đây từ thời Inđônêxia còn là thuộc địa của Hà Lan Tập đoàn GoodyearTire và Rubber đã có mặt ở Inđônêxia từ năm 1935 Đặc biệt ngày 17/4/1947,Hoa kỳ đã công nhận quyền lực pháp lý trên thực tế của nớc Cộng hoàInđônêxia ở Giava, Mađura,Xumatra và cho phép các nhà ngoại giao Mỹ quan
hệ với chính phủ của nớc Cộng hoà Inđônêxia, trên cơ sở sự cộng nhận củachính phủ Hoa kỳ
Vào thời điểm thành lập ASEAN (tháng 8/1967) các nớc thành viênASEAN nói chung, Inđônêxia nói riêng đang còn yếu kém về kinh tế Cho nên
để phát triển nền kinh tế, Inđônêxia đã đẩy mạnh phát triển kinh tế đối ngoại
Trang 24mà chủ yếu là tranh thủ sự viện trợ và đầu t của các t bản nớc ngoài và với chínhsách đó đã mở đờng cho sự xâm nhập kinh tế ngày càng mạnh mẽ của t bản nớcngoài vào Inđônêxia Trong đó, Mỹ đứng đầu danh sách viện trợ cho Inđônêxia.Viện trợ của Mỹ từ 353 triệu đô la năm 1966-1968 tăng lên 1.029 triệu trongnhững năm 1968-1974 Viện trợ đó đã giúp cho t bản độc quyền Mỹ quay trởlại kiểm soát và mở rộng khai thác dầu lửa ở Inđônêxia Cho tới nay, phần lớnvai trò của Mỹ cho Inđônêxia là viện trợ quân sự và lợng thực chiếm 75% trongtổng số viện trợ [20,107]
ở Inđônêxia, đầu t nớc ngoài đợc coi là yếu tố dẫn đầu trong quá trìnhphát triển kinh tế, từ sự thay đổi chính quyền vào năm 1965, với chính sách mởcửa kinh tế, công bố luật đầu t nớc ngoài năm 1967 và luật đầu t trong nớc năm
1968 Theo luật này các nhà đầu t đợc miễn thuế nhập khẩu máy móc, thiết bị
và nguyên liệu, miễn thuế thu nhập cho các xí nghiệp của t bản nớc ngoài trong
5 năm đầu giảm và miễn thuế tiêu thụ trong nớc hoặc xuất khẩu sản phẩm, cho
tự do chuyển vốn và lãi về nớc Đầu t nớc ngoài của Inđônêxia tăng lên rấtnhanh trong thời kỳ1967- 1971 t bản nớc ngoài tràn vào trong đó Mỹ là nớc cókhối lợng đầu t vào Inđônêxia lớn nhất Hoạt động đầu t trực tiếp ở Inđônêxiacủa Mỹ vai trò của Nhà nớc Mỹ lại rất hạn chế chỉ chiếm cha đầy 10% trongtổng số vốn đầu t của Mỹ Trong số vốn đầu t của Mỹ ở Inđônêxia thì ngànhdầu khí chiếm 80% Hai công ty độc quyền Cantếc và Xtanvác đã kiểm soát60% khối lợng dầu mỏ khai thác ở Inđônêxia Dựa vào vốn, kỹ thuật, hai công
ty này đã chi phối mạnh mẽ các hoạt động của công ty dầu mỏ Pectamina củaInđônêxia Nguồn dầu mỏ ở Inđônêxia hàng năm đã đem lại cho t bản Mỹ hàng
Trang 25Vào năm 1977, đầu t trực tiếp của Mỹ vào các nớc ASEAN đợc thể hiệnqua bảng sau:
Bảng 1: Đầu t trực tiếp của Mỹ vào các nớc ASEAN
Nớc Tổng giá trị
tài sản
Đầu t trực tiếp của Mỹ
Thu nhập đầu t trực tiếp
Nguồn: Cục kế hoạch kinh tế Nhật Bản (1997) [20,179]
Trong quan hệ ngoại thơng của Inđônêxia, Mỹ là khách hàng quan trọngthứ hai, trong vòng 10 năm (1966-1977) hàng xuất khẩu của Inđônêxia sang Mỹchiếm 28% tổng kim ngạch xuất khẩu Inđônêxia là nớc xuất khẩu lớn thứ hai sang
Mỹ trong các nớc ASEAN sau Philippin, kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ chỉ bằng50% kim ngạch xuất khẩu của Inđônêxia sang Nhật Inđônêxia là nớc có khối lợngnhập khẩu từ Mỹ thấp nhất trong các nớc ASEAN
Tuy nhiên, trong cơ cấu ngoại thơng giữa Inđônêxia với Mỹ, thì Mỹ là
n-ớc nhập khẩu hàng chiến lợc quan trọng nhất ở Inđônêxia nh dầu mỏ, bôxít Về nhập khẩu, Inđônêxia phụ thuộc chặt chẽ vào nguồn lơng thực của Mỹ.Ngoài ra Inđônêxia nhập từ Mỹ các trang thiết bị thăm dò và khai thác dầu mỏ,các tàu chở dầu lớn Đó là các mặt hàng chiến lợc sống còn đối với sự tăng tr-ởng kinh tế của Inđônêxia
Về quân sự, Inđônêxia sau khi giành độc lập đã thi hành đờng lối đốingoại hoà bình, trung lập, không liên kết Do vậy, Mỹ cũng tìm cách lôi kéoInđônêxia tham gia vào các Hiệp ớc quân sự của Mỹ ở khu vực ĐNá, nhngInđônêxia đã tham gia
Trang 26Inđônêxia có một vị trí chiến lợc rất quan trọng, cho nên là một đối tợngquan tâm của Mỹ trong chính sách đối với ASEAN Oasintơn hy vọng rằng:Nếu lôi kéo đợc Inđônêxia vào quỹ đạo ảnh hởng của mình, thì Mỹ sẽ dễ dàngchi phối và lôi kéo đợc ASEAN, cho nên một mặt viện trợ và cung cấp vũ khícho Inđônêxia Mặt khác, giới cầm quyền Mỹ đã tìm cách thắt chặt quan hệ tay
đôi với các nớc trong ASEAN
Cuối năm 1989, cuộc “Chiến tranh lạnh” kéo dài trên 40 năm đợc kếtthúc cùng với những chuyển biến khác đã làm cho cục diện chính trị thế giới vàquan hệ quốc tế có nhiều thay đổi Quan hệ Xô - Mỹ từ đối đầu căng thẳngchuyển sang thời kỳ hợp tác cùng tồn tại và hoà bình, quan hệ Xô - Trung sau
30 năm căng thẳng cũng đã trở lại bình thờng và quan hệ Mỹ – Trung đang códấu hiệu tiến bộ Điều này buộc tất cả các nớc trên thế giới phải điều chỉnhchính sách đối nội, đối ngoại của mình cho phù hợp với tình hình mới
Inđônêxia đã nhanh chóng điều chỉnh lại đờng lối đối ngoại của mình, đaphơng hoá quan hệ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế của mình,nhanh chống trở thành nớc công nghiệp mới phát triển mạnh ở Châu á và làtrung tâm của Đông Nam á Vì thế, trong quan hệ ngoại thơng Inđônêxiakhông chỉ bó hẹp với Mỹ, Nhật Bản nh trớc đây mà mở rộng sang các thị EEC,Trung Đông, Nam Mỹ, các nớc công nghiệp mới (NICS) Trong quan hệ thơngmại giữa Inđônêxia với Mỹ trong thời kỳ này cũng phát triển Vào năm 1990,tổng giá trị xuất khẩu của Inđônêxia sang Mỹ đạt 3.623 triệu đô la Mỹ chiếm0.7% kim ngạch xuất khẩu của Mỹ và trở thành bạn hàng thứ 24 của Mỹ, Mỹ làthị trờng nhập khẩu lớn thứ hai của Inđônêxia, sau Nhật Cũng trong năm 1990,xuất khẩu của Mỹ sang Inđônêxia là 1.897 triệu USD tổng giá trị nhập khẩu củaInđônêxia, có 0.5% kim ngạch xuất khẩu của Inđônêxia và trở thành bạn hàngthứ 32 của Mỹ Với số dân hơn 200 triệu ngời, Inđônêxia thực sự là một thị tr-ờng đầy hấp dẫn Hơn nữa, chính phủ của Inđônêxia thực hiện chính sách mở
Trang 27cửa, kêu gọi đầu t của nớc ngoài và cho họ đợc hởng những điều kiện hết sứcthuận lợi
Sau Chiến tranh lạnh, về cơ bản quan hệ giữa Inđônêxia với Mỹ vẫn diễn
ra tốt đẹp kể từ khi Tổng thống Mỹ B Clintơn sang thăm Inđônêxia vào tháng11/1994 Hai bên tiếp tục khẳng định các cam kết đã đạt đợc, tăng cờng cácquan hệ hợp tác kinh tế hơn nữa.Về mặt thơng mại năm 1996, Inđônêxia xuấtkhẩu sang Mỹ 5,6 tỷ USD, nhập khẩu từ Mỹ 4,6 USD Năm 1996, Mỹ đầu t vàoInđônêxia 2,7 tỷ USD [36,24] Trong giai đoạn từ 1987 – 1997, xuất khẩu của
Mỹ sang Inđônêxia tăng gấp 4 lần, đạt xấp sỉ 5 tỷ USD và cung cấp việc làmcho hơn 60.000 ngời Mỹ Nhìn chung cho đến nay, hầu hết nguồn vốn đầu t thuhút đợc từ Mỹ đều đợc Inđônêxia dùng vào việc khai thác và chế biến dầu mỏ,các ngành chế biến hiện đại nh cơ khí, điện tử
Năm 1997, khủng hoảng kinh tế tiền tệ châu á nổ ra đã ảnh hởng đếnInđônêxia hết sức nặng nề, song về kinh tế đối với Mỹ tác động của cuộc khủnghoảng ở Inđônêxia không đóng vai trò lớn Điều đáng nói là Inđônêxia lại làcon át chủ bài trong trò chơi an ninh của Mỹ ở Đông Nam á Inđônêxia sụp đổ
có thể làm phá sản toàn bộ chiến lợc an ninh của Mỹ ở khu vực này Mỹ lo ngạirằng những căng thẳng ở châu á nói chung và sự bất ổn ở Inđônêxia nó cũng cóthể phá hoại sự hợp tác an ninh mà Mỹ dày công xây dựng tại châu á [40, 292-293]
Sự kiện tấn công vào nớc Mỹ ngày 11/9/2001 kích động thế giới nh làmột cuộc “thử vàng” tiếp theo cho mối quan hệ của hai nớc Thái độ chính phủInđônêxia đối với sự kiện đó nh thế nào là vấn đề có tầm quan trọng quyết địnhtrong quan hệ giữa hai nớc
Trang 282.2 Quan hệ Inđônêxia - Nhật Bản:
Nh chúng ta đã biết, trong Chiến tranh thế giới thứ II, Inđônêxia bị Nhậtchiếm đóng, qua một quá trình đấu tranh của nhân dân Inđônêxia ngày17/8/1945, Inđônêxia tuyên bố độc lập, Nhật Bản buộc phải rút khỏi khu vựcnày Để thâm nhập quay trở lại, Nhật đã tiến hành dới hình thức bồi thờng chiếntranh và coi đó nh là một công cụ kinh tế có hiệu quả để Nhật Bản quay trở lạikhu vực Đông Nam á nói chung, Inđônêxia nói riêng
Với Inđônêxia, tháng 11/1957 Nhật Bản và Inđônêxia đã ký Hiệp địnhbồi thờng 230 triệu đô la và 400 triệu đô la tín dụng, năm 1968 là 110 triệuUSD, từ năm 1973 –1974 là 226,2 triệu USD [20,107] Tuy nhiên, quan hệ củaInđônêxia với Nhật bản trong thời kỳ Xucácnô làm Tổng thống cha có gì nổibật, vì lúc này Inđônêxia đã thi hành chính sách đối ngoại theo xu hớng chốngchủ nghĩa thực dân đế quốc, tích cực quan hệ với các nớc trong phe xã hội chủnghĩa, giảm các mối quan hệ với các nớc phơng Tây trong đó có Nhật Bản Chỉsau khi Suháctô làm Tổng thống Inđônêxia vào tháng 2- 1967, chính quyềnInđônêxia đã thi hành chủ trơng một đờng lối đối ngoại mở cửa, nới lỏng quan
hệ với các nớc xã hội chủ nghĩa, tăng cờng quan hệ với các nớc phơng Tây với
Mỹ, Nhật nhằm thu hút những khoản viện trợ
Quan hệ giữa Inđônêxia và Nhật bản chủ yếu diễn ra trên lĩnh vực kinh
tế, ít dính dáng đến chính trị
Lịch sử đầu t của t bản t nhân Nhật Bản ở nớc ngoài đợc bắt đầu từ năm
1951 trong quá trình tìm kiếm thị trờng đầu t ở ngoại quốc, các công ty t nhânNhật bản đã chú ý tới Inđônêxia.Sở dĩ có điều đó là do: Inđônêxia và Nhật Bản
có mối quan hệ lịch sử láng giềng lâu dài, có tầm quan trọng rất lớn đối vớiNhật Bản cả về kinh tế lẫn chính trị và là đối tác lớn của nhau trong các quan hệmậu dịch và đầu t Mặt khác, Inđônêxia và Nhật Bản có sự gần gủi về địa lý,
đây là nhân tố mà cả Nhật Bản và Inđônêxia có thể chia sẻ lợi ích, nhất là trong
Trang 29giao thông hàng hải Chúng ta biết rằng sự trao đổi hàng hoá giữa Nhật Bản vớicác quốc gia giàu dầu mỏ ở Trung Đông đợc thực hiện qua vận chuyển đờngbiển từ Nhật Bản qua eo biển Malacca và Lombok của Inđônêxia Có thể nói
đây là con đờng huyết mạch trong vận tải hàng hải để nuôi sống nền côngnghiệp Nhật Bản Bên cạnh đó, Inđônêxia là một quốc gia rất giàu tài nguyênthiên nhiên nhất là dầu mỏ và khí đốt Hàng năm, Nhật Bản nhập khẩu một sốlợng dầu mỏ rất lớn từ nớc này ảnh hởng quốc tế và khu vực của Inđônêxiacàng đợc đánh giá cao Nớc này là một trong những thành viên chính của Hiệphội ASEAN và là một trong những quốc gia tham gia sáng lập phong tràokhông liên kết và diễn đàn hợp tác kinh tế châu á - Thái Bình Dơng (APEC).Inđônêxia là nớc có số dân lớn nhất khu vực Đông Nam á với hơn 200 triệudân tài nguyên thiên nhiên phong phú, có tiềm năng kinh tế thực sự to lớn Bởivậy, thúc đẩy hợp tác kinh tế với Inđônêxia không chỉ góp phần củng cố sứcmạnh mà còn tạo ra những điều kiện cần thiết cho sự ổn định chính trị và pháttriển kinh tế Sau khi Suháctô lên làm Tổng thống, chính phủ Inđônêxia đã mởcửa cho t bản nớc ngoài đầu t vào nhiều ngành kinh tế của nớc mình Chính phủInđônêxia đặc biệt chú trọng tới việc tạo điều kiện cho các công ty nớc ngoài dễdàng hoạt động Vì vậy mà các nhà t bản phơng Tây đều gọi đất nớc Inđônêxia
là “thiên đờng”cho những hoạt động của mình trong đó có Nhật Bản
Tuy nhiên, đối với t bản Nhật khác với Mỹ ở chỗ, nếu nh ở Mỹ hoạt động
đầu t của t bản t nhân vai trò của Nhà nớc hạn chế thì hoạt động đầu t của t bản
t nhân Nhật có sự hộ trợ tài chính to lớn của t bản Nhà nớc, Nhà nớc cho t nhânNhật vay từ 50% - 60% vốn đầu t ở Inđônêxia Hoạt động của Ngân hàng Châu
á cũng hộ trở tích cực cho t bản t nhân Nhật đầu t vào Inđônêxia và các nớc
Đông Nam á khác
Trớc những năm 1970, phần lớn đầu t của Nhật tập trung vào công nghiệpchế biến, gia công lắp ráp chiếm khoảng 70% tổng số vốn đầu t của Nhật ở đây Từ
Trang 30những năm 1970 trở lại đây, cơ cấu đầu t của Nhật ở Inđônêxia có sự thay đổi, tỷ lệ
đầu t của Nhật vào các ngành công nghiệp mới nh hoá dầu, hoá chất, công nghiệp
điện tử ngày càng tăng lên Tuy nhiên công nghiệp chế biến vẫn chiếm phần quantrọng trong đầu t trực tiếp của t bản t nhân Nhật Trong tổng số đầu t của Nhật ởInđônêxia năm 1977, thì công nghiệp khai thác quặng (kể cả dầu mỏ) chiếm 66,7%,công nghiệp chế biến là 24,1%, dệt 9,1%, điện 0,6% Trong thời gian này, Inđônêxia
đã trở thành địa bàn đầu t lớn nhất của Nhật ở Đông Nam á Nếu tính từ năm 1977,toàn bộ vốn đầu t trực tiếp của t bản Nhật ở Inđônêxia là 682 triệu USD thì đến năm
1983 đã tăng lên 2001triệu đô la Mỹ, chiếm 49% tổng số vốn đầu t của Nhật ởInđônêxia Đặc biệt, những năm gần đây vốn đầu t trực tiếp của Nhật Bản ởInđônêxia tăng nhanh từ 519 triệu đôla năm 1987 lên 920 triệu đôla năm 1989 và
840 triệu trong 2 tháng đầu năm 1990 Inđônêxia nhận đợc đầu t trực tiếp của các
n-ớc ngoài dới nhiều hình thức khác nhau, song đầu t liên doanh chiếm vị trí quantrọng và phổ biến ở Inđônêxia Trong đó phải kể đến Nhật Bản: khu liên doanhAsakhan, khu luyện nhôm lớn nhất Đông Nam á, trong đó 80% vốn đầu t của Nhật,20% vốn đầu t của t bản địa phơng Tổ hợp luyện thép Kravatan với vốn đầu t của tbản Nhật là 75% và 25% của t bản Inđônêxia [27,143 -144]
Vào giữa những năm 1980, chiến lợc công nghiệp hoá hớng ra xuất khẩu đợctriển khai Những ngành kinh tế thu hút đợc nhiều vốn đầu t của Nhật là nôngnghiệp chiếm 2,3%, công nghiệp khai thác 66,5%, chế tạo 27,2%,hoá chất 1,5%,kim loại có sắt và không có sắt 14% trong tổng số 8763 triệu USD
Nhìn chung, từ thập kỷ 80(XX) trở lại đây, đầu t trực tiếp của Nhật Bản ởInđônêxia chiếm vị trí số một và Inđônêxia thờng là thị trờng đầu t quan trọngcủa Nhật Bản ở khu vực Đông Nam á Theo số liệu báo cáo của Bộ tài chínhNhật năm 1985 cho thấy, tỷ lệ đầu t của Nhật ở Inđônêxia chiếm vị trí số một
và chiếm 38% tổng số đầu t trực tiếp của Nhật Bản trong 5 nớc ASEAN[27,147]
Bảng 2 Đầu t trực tiếp của các nớc t bản phát triển ở Inđônêxia
Trang 31Nguồn: Fareastem Ecônmic Review 7 Febuary 1991[27,148].
Khoản đầu t trực tiếp của Nhật vào Đông Nam á ngày càng lớn, nhất làsau khi chiến tranh lạnh chấm dứt, xu thế đối đầu giữa hai cực không còn nữa,
xu thế hoà bình, ổn định hợp tác và phát triển đợc đẩy mạnh ở các nớcASEAN Trong đó, FDI của Nhật Bản vào Inđônêxia đứng vị trí hàng đầu, sau
đó đến Thái Lan và Xingapo
Bảng 3 FDI của Nhật Bản vào các nớc thành viên ASEAN trong nửa đầu
Nguồn: "Báo cáo về đầu t trực tiếp nớc ngoài" Bộ tài chính Nhật Bản [13, 72].
Quan hệ ngoại thơng của Inđônêxia từ sau cuộc đảo chính cho đến nay,chủ yếu là quan hệ với thị trờng các nớc t bản chủ nghĩa trong đó quan hệ mậudịch Inđônêxia – Nhật – Mỹ chiếm vị trí chủ chốt Hiện nay, quan hệ ngoạithơng của Inđônêxia với các nớc t bản đã chiếm 90% tổng kim ngạch ngoại thơngcủa Inđônêxia Trong đó, Nhật là khách hàng số một của Inđônêxia kể từ năm 70trở lại đây Nhật đã chiếm 40% hàng xuất khẩu của Inđônêxia Inđônêxia là nớcdẫn đầu các nớc ASEAN có khối lợng hàng xuất khẩu nhiều nhất sang Nhật.Ngợc lại, trong 10 năm qua Inđônêxia cũng là nớc nhập khẩu quan trọng hàng
Trang 32hoá Nhật chiếm 30% tổng kim ngạch nhập khẩu của Inđônêxia, xếp thứ 2 trongcác nớc ASEAN sau Thái Lan (32%).
Hàng xuất khẩu của Inđônêxia sang Nhật chủ yếu là thiếc, nông sản, gỗ.Những năm 70, dầu mỏ và khí thiên nhiên cũng trở thành hàng xuất khẩu chiếnlợc của Inđônêxia sang Nhật, trong vòng 10 năm (1967-1977), giá trị dầu mỏtrung bình của Inđônêxia là 6.7 tỷ đô la trong đó phần xuất sang nhật chiếm35% [20,139]
Một số sản phẩm quan trọng của Inđônêxia nh gỗ chiếm 70%, ngô 90%,thiếc 65%, dầu chiếm 80% tổng số sản lợng xuất khẩu vẫn đợc xuất khẩu sangNhật
Trong cơ cấu nhập khẩu của Inđônêxia, Nhật xuất khẩu sang Inđônêxiathiết bị, máy móc, hoá chất hàng tiêu dùng , đặc biệt ngành dệt của Inđônêxiaphụ thuộc vào máy móc và nguyên liệu của Nhật
Inđônêxia là một đất nớc có sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với Nhật, sức hấpdẫn đó trớc hết tập trung vào dầu lửa Nhật Bản đã mua một lợng dầu thô khálớn của Inđônêxia và phần lớn số dầu nhập ở Trung Đông đều phải qua hải phậncủa Inđônêxia
Trong quá trình quan hệ thơng mại với Nhật, Inđônêxia mong muốn ởNhật một thứ khác hơn là vốn, đó là quản lý xuất nhập khẩu và việc ứng dụnggiao thông công nghệ tinh xảo Một vấn đề chung quan trọng liên quan đến hainớc là an ninh khu vực và bảo vệ tuyến đờng hàng hải chiến lợc
Năm 1989, Inđônêxia bán hàng hoá cho Nhật tổng cộng là 11tỷ USD,chiếm 1/2 tổng kim ngạch xuất khẩu Hơn 60%là dầu thô và khí đốt, 20%là sảnphảm công nghệ Trong đó, nhập khẩu từ Nhật về là 3,3 tỷ USD Inđônêxia đạtthặng d mậu dịch là 7,7% tỷ USD Điều này không làm cho Nhật lo âu Năm
1991, Inđônêxia đã duyệt 3,8 tỷ USD tổng giá trị công trình đầu t nớc ngoài củaInđônêxia Hiện nay, trong số 41 tỷ USD mà Inđônêxia nợ nớc ngoài, thì 26%thuộc các tổ chức hoặc của chính phủ Nhật số viện trợ của Nhật cho Inđônêxia
Trang 33năm 1990 là 1,140 tỷ USD, năm 1991 là 1,310 tỷ USD năm 1992 là 1,320 tỷUSD[22,136].
Trong những năm từ 1987 – 1989 viện trợ phát triển chính thức ( Official Development Assistance) của Nhật Bản vào ASEAN thì Inđônêxia là nớcnhận đợc cao nhất (so với các nớc ASEAN và châu á) Năm 1988 là 989,91 triệuUSD trong đó Thái Lan chỉ nhận 360,2 triệu USD, Philippin là 534,72 triệu USD.Vào năm 1989, trong số 5 nớc châu á nhận ODA Nhật Bản với tỷ lệ cao thì có 3 n-
ODA-ớc nằm trong ASEAN đó là Inđônêxia, Thái Lan và Philippin
Bớc vào thập niên 90 của thế kỷ XX, Inđônêxia luôn là nớc đợc u tiênhàng đầu trong chơng trình viện trợ phát triển chính thức của Nhật Bản,Inđônêxia là nớc nhận đợc hợp tác kỹ thuật lớn nhất [11,3] Năm 1993,Inđônêxia đợc nhận 235,46 triệu USD chiếm 15% ODA đứng vị trí số 2 sauThái Lan 298,12 triệu USD chiếm 15,8% ODA Năm 1995 viện trợ ODA củanhật vào Inđônêxia là 892 triệu USD, vào Philippin là 416 triệu USD
Bảng 4: Tỷ lệ tăng trởng của 4 thành viên ASEAN tới năm1996.
Thập kỷ Inđônêxia Philippin Thái Lan Malaisia
Nguồn: Cục kế hoạch kinh tế Nhật Bản (1997) [20 ,298-299]
Bảng trên, cho thấy mức độ tăng trởng của 4 nớc thành viên ASEAN trớccuộc khủng hoảng tài chính châu á Từ bảng này cho thấy chỉ có Philippinkhông đạt mức tăng trởng cao.Tháng 1 –1997, Thủ tớng Nhật Bản thămInđônêxia đã khẳng định, tiếp tục coi trọng quan hệ với Inđônêxia vì đây là mộtnớc lớn trong ASEAN Nhật đã cung cấp cho Inđônêxia 330 triệu USD để pháttriển các dự án về môi trờng [23,25]
Trang 34Năm 1997, cuộc khủng hoảng kinh tế tiền tệ châu á đã nổ ra, Inđônêxia lànớc chịu ảnh hởng nặng nề nhất.Có thể nói ngay rằng, nếu Inđônêxia sụp đổ vềkinh tế, xã hội hỗn loạn thì ảnh hởng của nó đối với Nhật không lờng hết đợc vìInđônêxia chiếm một vị trí rất quan trọng đối với Nhật Bản Vì vậy với Nhật Bảngiúp Inđônêxia là “tự cứu mình”, cho nên thơng mại lớn của Nhật Bản đã choInđônêxia vay vốn gần 11 tỷ USD [20,287]
Nhìn chung, từ khi chính quyền “trật tự mới” ra đời đến nay, hợp tác kinh
tế là “gam” chính trong bản nhạc quan hệ đối ngoại của Inđônêxia – phát triểnquan hệ với Nhật Bản Một khi Đông Nam á trở thành khu vực hoà bình, hợptác, hữu nghị và phát triển thì sự tăng trởng kinh tế ở mức độ cao của Inđônêxianói riêng, Đông Nam á nói chung đều cần Nhật Bản và ngợc lại Quan hệInđônêxia - Nhật Bản lại là quan hệ có tính nền tảng cho nên an ninh, ổn định ở
“thoát” dần ra khỏi Mỹ Do vậy, tổ chức này ngay từ đầu đã không “đợc lòng”
Mỹ Trong bối cảnh đó, một quan hệ chính thức với EEC–một tổ chức khu vựcbao gồm các nớc hùng mạnh ở Châu Âu đã trở nên quan trọng hơn bao giờ hết
Trang 35Mối quan hệ Inđônêxia với EEC vào thời điểm những năm 70 của thế kỷ
XX cha đợc thực sự quan tâm nhiều, bởi lẽ lúc này Inđônêxia là một nớc nhỏ dovậy cha thực sự thu hút đợc sự chú ý của EEC Hơn nữa, mối quan tâm lớn lúcnày của EEC là những nớc lớn nh : Nhật Bản, Mỹ và các nớc thuộc “ sân sau”của EEC nh: Trung Cận Đông, Châu Phi, miền Trung Mỹ, Caribê- nơi có quan
hệ rất lớn với Tây Âu Năm 1972, quan hệ ASEAN - EEC đợc chính thức thiếtlập
Từ cuối những năm 70 của thế kỷ XX, cả Inđônêxia và EEC đều nổ lựctìm kiếm những khả năng đẩy mạnh quan hệ giữa hai bên Vào thời điểm nàynền kinh tế Inđônêxia đạt đợc thành tựu đáng kể, còn EEC cũng đạt đợc nhữngthành tựu rất quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế và xây dựng thị tr-ờng chung Từ chỗ có 9 nớc thành viên trong những năm 1970 và đến năm 1995tăng lên 15 thành viên Nh vậy, nền kinh tế có khuynh hớng xuất khẩu củaInđônêxia đã tìm thấy một thị trờng tiêu thụ mạnh, đầy sức hấp dẫn Inđônêxiamuốn thông qua mối quan hệ với EEC để tăng cờng hợp tác với các nớc lớnnhằm nâng cao vị thế của mình trên trờng quốc tế và mong muốn nhận đợc sựủng hộ của thế giới
Thông qua hoạt động của các nhóm nghiên cứu hỗn hợp lần họp ởBrucxen năm 1975, Manila năm 1976, Brucxen năm 1977 và Băng Cốc năm
1978, ASEAN- EEC đã tổ chức cuộc gặp gở cấp Bộ trởng làn thứ nhất vàotháng 11năm 1978 tại Brucxen (EAMM) Điều quan trọng là cuộc gặp gỡ này
đã đa ra một tuyên bố chung gồm 43 điều trong đó hai phía xác nhận lại mộtlần nữa mong muốn mở rộng quy mô hợp tác trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫnnhau và cùng có lợi Tại cuộc gặp gỡ này, Ông Mốcta Kusumatja, bộ trởngngoại giao Inđônêxia, chủ tịch uỷ ban thờng trực ASEAN nêu rõ lý do vì saoviệc tăng cờng các quan hệ hiện có giữa ASEAN với EEC là vì lợi ích chungcủa hai bên Theo Ông, ASEAN có thể cung cấp nhiều cơ hội cho châu Âu Mặtkhác, châu Âu là một đối tác thơng mại và hợp tác quan trọng của ASEAN Sau
Trang 36khi đề cập tới tiềm năng của các nớc ASEAN và những lợi ích mà EEC có thểrút ra từ sự hợp tác chặt chẽ với ASEAN, Ông Mốc kết luận rằng đẩy mạnh hợptác với nhau sẽ là lợi ích chung của hai nhóm nớc Sau đó, các cuộc gặp gỡ cấp
Bộ trởng cũng diễn ra khá đều đặn 18 tháng một lần tại thành phố các nớcASEAN và EEC Nh vậy, quan hệ Inđônêxia – EEC đã tiến thêm bớc tiến mớiquan trọng
Trong những năm 1980, quan hệ giữa ASEAN và các nớc thành viênEEC ngày càng đợc mở rộng Do ý thức đợc rằng, nếu hợp tác chặt chẽ với nhauthì cả hai bên đều có lợi nên cả Inđônêxia và EEC đều thực sự tăng cờng mốiquan hệ với nhau Đối với những nớc vốn có mối quan hệ lâu đời với Inđônêxia
nh Anh, Hà Lan, Cộng hoà Liên Bang Đức, cũng tích cực thúc đẩy mối quan hệphát triển hơn nữa
Đầu năm 1980, quan hệ buôn bán của Inđônêxia với các nớc EEC cóchiều hớng tăng chiếm từ 12% đến15% tổng kim ngạch ngoại thơng Trong cácnớc ỏ Tây Âu thì quan hệ buôn bán giữa Inđônêxia với Hà Lan đã đợc cải thiện
tỉ trọng xuất khẩu từ Inđônêxia sang Hà Lan tăng chiếm 40% khối lợng hàngxuất khẩu của Inđônêxia tới các nớc Tây Âu Sau Hà Lan là Pháp và Tây
Đức những nớc này bắt đầu coi trọng quan hệ buôn bán với Inđônêxia trên một
số mặt hàng nhất định nh dầu mỏ,khí thiên nhiên, gỗ
Bớc vào nửa sau thập kỷ 80 của thế kỷ XX, tình hình trên thế giới cũng nhkhu vực Đông Nam á đã có nhiều thay đổi Đó là sự hoà dịu trớc việc bình th-ờng hoá quan hệ giữa hai nớc Xô - Mỹ vốn đã rất căng thẳng trong thời kỳchiến tranh lạnh Quan hệ Xô -Trung sau 30 năm căng thẳng đã bình thờng hoáhoàn toàn Quan hệ Trung – Mỹ đã dần dần trở lại theo chiều hớng tốt đẹp.Một số điểm nóng trong khu vực đang đi vào tiến trình giải quyết qua đàm phánhoà bình bằng biện pháp chính trị Điều này, đã tạo cơ hội mới cho sự pháttriển quan hệ quốc tế trên phạm vi toàn cầu nói chung, ở khu vực Đông Nam ánói riêng.
Trang 37Từ năm 1989, Inđônêxia thực hiện kế hoạch phát triển- kinh tế xã hội lần thứV(1989-1994) nhằm đặt cơ sở cho Inđônêxia trở thành một nớc phát triển mạnh
ở Đông Nam - châu á Do vậy, quan hệ kinh tế với các nớc đợc xác đinh là
"chuyển quan hệ kinh tế đối ngoại theo hớng nền kinh tế mở đa phơng hoá quan
hệ và đa dạng hoá các hình thức hoạt động" Với chính sách đó đã tạo điều kiệnthuận lợi để Inđônêxia nối lại quan hệ hợp tác kinh tế với các nớc Qua mấynăm thực hiện kế hoạch kinh tế -xã hội lần thứ V, Inđônêxia đã đạt đợc một sốthành tựu quan trọng, quan hệ hợp tác giữa Inđônêxia với các nớc trên thế giới
Cũng sau thời kỳ Chiến tranh lạnh, quá trình toàn cầu hoá đã có những
b-ớc phát triển mới, nhiều nb-ớc đã chuyển sang nền kinh tế thị trờng, nhiều nb-ớc trởthành viên mới của các tổ chức tài chính và thơng mại thế giới nh WTO, IMF,
WB, APEC, APTA
Trong giai đoạn Chiến tranh lạnh, do đặt vị trí của đất nớc trong cuộc đối
đầu Đông - Tây cho nên các nớc t bản đặc biệt là Mỹ, Nhật và Liên minh châu
Âu đã giành cho hàng hoá của ASEAN rất nhiều u đãi tại thị trờng các nớc này
về hệ thống u đãi thuế quan chung của các nớc chủ nhà Nhờ đó, quan hệ buônbán giữa các nớc ASEAN với các cờng quốc trên đà phát triển khá thuận lợi vàtăng lên nhanh chóng Hoa Kỳ là thị trờng lớn nhất cho hàng hoá xuất khẩu củaInđônêxia và Thái Lan, còn Nhật Bản là thị trờng lớn thứ hai của Inđônêxia vàPhilippin Vào cuối năm 1993, EU chiếm vị trí hàng đầu trong các nhà đầu t n-
ớc ngoài vào Inđônêxia Vào năm đó, tổng số vốn đầu t đợc phê chuẩn của EU
ở Inđônêxia là 905,5 USD triệu, so với 836,1 triệu USD của Nhật và 444,5 triệu
Trang 38USD của Mỹ Trong số các nhà đầu t châu Âu có mặt trong các nền kinh tếASEAN thì ở Inđônêxia, Hà Lan đứng thứ nhất với tổng số vốn đựơc phê chuẩnvào năm 1993 là 311,9 triệu USD, còn đối với Pháp, Tây Đức thì Inđônêxia làmột thị trờng mới và hấp dẫn [19,74]
Đỉnh cao của mối quan hệ hợp tác Inđônêxia, với EU là hội nghị thợng
đỉnh (ASEAN) đợc tổ chức tại Băng Cốc của Thái Lan vào năm 1996, chínhcuộc gặp gỡ thợng đỉnh này đã đáp ứng kịp thời sự mong muốn tăng cờng hơnnữa trong quan hệ hai chiều giữa hai châu lục á -âu, đánh dấu một giai đoạnmới đợc nâng cấp trong quan hệ giữa ASEAN - EU nói chung và Inđônêxia-EU nói riêng Hội nghị thợng đỉnh (ASEAN) đã thành công rực rỡ, có đợcthành công đó là nhờ những nổ lực không nhỏ của Inđônêxia và các nớc thànhviên ASEAN - EU đánh giá rất cao sự phát triển của khu vực này, do vậy, đãkhẩn trơng tiến hành các hoạt động quan hệ với Inđônêxia Các chuyến viếngthăm của các quan chức cấp cao của các nớc EU tới Inđônêxia ngày càng diễn
ra dồn dập, đó là Pháp, Anh, Đức, Hà Lan, Bỉ và uỷ viên phụ trách đối ngoạicủa uỷ ban châu Âu
Về phía Inđônêxia, nhiều vị lãnh đạo cấp cao đã đi thăm một số nớcthành viên EU nh Pháp, Đức, Anh, Bỉ, Phần Lan, Đan Mạch đó là nhữngchuyến viếng thăm cực kỳ quan trọng Những chuyến viếng thăm qua lại củacác quan chức cấp cao là sự biểu hiện chính sách đa phơng hoá, đa dạng hoá,coi kinh tế đối ngoại là sự u tiên hàng đầu của Inđônêxia
Nửa sau thập kỷ 90 của thế kỷ XX, quan hệ buôn bán hai chiều ASEAN
và EU nói chung và giữa Inđônêxia với EU nói riêng không ngừng phát triển
Bảng 5: Xuất khẩu hàng hoá của ASEAN vào thị trờng EU
(Triệu USD)
Inđônêxia 6760,27 10335,91 7825,39 7765,17 7082,26 8665,57 7735,05
Philipin 9602,24 3594,87 4359,41 5992,86 6777,18 6822,82 6194,81
Trang 39Nguồn: Wabsite: w w w.ASEANsec.org [19, 112]
Nh vậy, quan hệ thơng mại của Inđônêxia với EU, một mặt đây là quan
hệ giữa Inđônêxia và cả khối EU với t cách là một tổ chức liên kết khu vựcthống nhất chặt chẽ nh một siêu quốc gia và điều này đã đợc thể hiện rõ ngay từkhi mới thành lập Cộng đồng kinh tế châu Âu ( EEC) đã nêu ra nguyên tắc làcác quốc gia đều phải chấp nhận và tuân thủ theo nguyên tắc la một cơ quanquyền lực siêu quốc gia, nhằm tiến đến một Hợp chủng quốc châu Âu Mặtkhác, quan hệ giữa Inđônêxia với các nớc thành viên EU với t cách là một quốcgia độc lập có chủ quyền riêng Bởi vậy, quan hệ giữa Inđônêxia và EU đã baotrùm cả cái chung lẫn cái riêng Quan hệ với từng nớc thành viên EU, Inđônêxiakhông chỉ nhận đựơc sự hỗ trợ hợp tác của riêng các nớc này mà còn đợc sự ủng
hộ của những nớc thành viên khác Việc thiết lập quan hệ ngoại giao với EEC( 10-7-1967 ), đặc biệt sau khi ký Hiệp ớc toàn diện giữa Inđônêxia với EEC vàquá trình quan hệ thực tế giữa hai bên đã chứng tỏ quan hệ Inđônêxia với EEC
đã bớc sang giai đoạn mới, giai đoạn hiểu biết lẫn nhau, hợp tác bình đẳng haibên cùng có lợi Từ năm 1994 trở đi quan hệ Inđônêxia với EU đã nâng cao đợc
uy tín chính trị, tạo ra đợc vị thế tốt hơn cho mình trong sự đàm phán đa phơng
Trang 40và hệ quả của quan hệ này đã đa Inđônêxia hoà nhập với cộng đồng quốc tế, đểInđônêxia trở thành một thành viên của tổ chức APEC và tiến tới WTO quan
hệ quốc tế của Inđônêxia không ngừng đợc mở rộng Hợp tác với EU, Inđônêxia
có cơ hội kiến tạo đợc một vị trí thuận lợi trong quá trình phân công lao độngquốc tế Các doanh nghiệp Inđônêxia có cơ hội tiếp cận đợc với thị trờng lớn
EU
2.4 Quan hệ của Inđônêxia với các nớc trong tổ chức ASEAN.
Trong phần này luận văn chỉ giới hạn mối quan hệ giữa Inđônêxia với cácnớc thành viên ban đầu có công sáng lập ra tổ chức ASEAN đó là Philíppin,Xingapo, Malaixia,Thái Lan
Trong chính sách đối ngoại trớc kia cũng nh hiện nay, dù là siêu cờnghay là quốc gia nhỏ, tầm quan trọng của quốc gia láng giềng luôn luôn là yếu tố
đợc đa lên hàng đầu và giành đợc sự quan tâm nhiều nhất
Nh chúng ta đã biết, từ khi tổ chức ASEAN đợc thành lập cho đến nay,mối quan hệ giữa Inđônêxia và các quốc gia láng giềng có những bớc phát triểntốt đẹp, ngày càng gần gũi hơn Inđônêxia coi quan hệ với ASEAN là “hòn đátảng trong chính sách đối ngoại của mình”[23,22]
Nói đến ASEAN chúng ta thờng nói tới tinh thần Hiệp ớc Pali (có 5
ch-ơng cơ bản, còn gọi là Hiệp ớc thân thiện và hợp tác) Dựa trên tinh thần vànguyên tắc của Hiến chơng Liên Hợp Quốc, 10 nguyên tắc của hội nghị Băng
Đung năm 1955 và tuyên bố của Hội nghị thành lập ASEAN tại Băng Cốc
1967, là sự thể hiện mong muốn thành lập khu vực hòa bình, tự do, trung lập ở
Đông Nam á ( ZOPFAN) Trên tinh thần đó, Inđônêxia đề cao tinh thần đoànkết hữu nghị và hợp tác giữa các nớc ASEAN, tích cực củng cố, xây dựng để tổchức này ngày càng lớn mạnh Đồng thời, Inđônêxia cũng mong muốn thông