Với những lí do đó, chúng tôi chọn Quan điểm của Phan khôi về một số vấn đề tiếng Việt trong Việt ngữ nghiên cứu làm đề tài nghiên cứu với hi vọng góp thêm tiếng nói khẳng định vị trí, đ
Trang 1Trờng đại học vinh Khoa ngữ văn -
đoàn thị mai
Quan điểm của phan khôi
Về một số vấn đề tiếng việt
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Vinh - 2011
Trờng đại học vinh Khoa ngữ văn -
Quan điểm của phan khôi
Về một số vấn đề tiếng việt
Khoá luận tốt nghiệp đại học Chuyên ngành: ngôn ngữ học
Trang 2
Ngêi híng dÉn: TS §Æng Lu Sinh viªn thùc hiÖn: §oµn ThÞ Mai Líp: 48A - Ng÷ V¨n
Vinh - 2011 MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU………
1 Lý do chọn đề tài………
1 1 2 Lịch sử vấn đề……… 2
3 Đối tượng nghiên cứu và giới hạn của đề tài……… 5
4 Mục đích nghiên cứu……… 5
5 Phương pháp nghiên cứu……… 5
6 Cấu trúc của khoá luận……… 5
Chương 1 PHAN KHÔI VÀ CUỐN VIỆT NGỮ NGHIÊN CỨU……
1.1 Vài nét về con người và sự nghiệp của Phan Khôi………
1.1.1 Con người, tư tưởng Phan Khôi………
6 6 6 1.1.2 Sự nghiệp trước tác của Phan Khôi……… 9
1.2 Nhìn chung về cuốn Việt ngữ nghiên cứu của Phan Khôi…………
1.2.1 Bối cảnh, mục đích biên soạn………
11 11 1.2.2 Những nội dung cơ bản của Việt ngữ nghiên cứu……… 15
Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ TIẾNG VIỆT TRONG VIỆT NGỮ NGHIÊN CỨU CỦA PHAN KHÔI……….
2.1 Những nhận xét chung về tiếng Việt………
2.1.1 Những đặc điểm riêng của tiếng Việt
2.1.2 Vai trò của tiếng đệm
2.1.3 Sự vận động, biến hoá của tiếng Việt theo thời gian
23 23 23 24 25 2.2 Tìm hiển về âm vị tiếng Việt trong Việt ngữ nghiên cứu………… 25
Trang 32.2.1 Khái niệm âm vị……… 25
2.2.2 Quan điểm của Phan Khôi về âm vị tiếng Việt 26
2.3 Tìm hiểu về từ ngữ tiếng Việt trong Việt ngữ nghiên cứu
2.3.1 Đặc điểm của từ trong tiếng Việt………
27 27 2.3.2 Cấu tạo từ tiếng Việt……… 27
2.3.3 Tìm hiểu của Phan Khôi về từ ngữ tiếng Việt……… 28
2.4 Tìm hiểu về ngữ pháp tiếng Việt trong Việt ngữ nghiên cứu
2.4.1 Khái niệm ngữ pháp
32 32 2.4.2 Vấn đề ngữ pháp tiếng Việt trong Việt ngữ nghiên cứu 32
2.5 Tiếng Việt trong tác phẩm văn học……… 36
Chương 3 THUẬT NGỮ KHOA HỌC TRONG VIỆT NGỮ NGHIÊN CỨU
3.1 Thuật ngữ khoa học
43 43 3.2 Tình hình sử dụng thuật ngữ khoa học 45
3.3 Cách sử dụng thuật ngữ trong Việt ngữ nghiên cứu 47
KẾT LUẬN 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Trong sự sôi động của đời sống báo chí, văn hoá, tư tưởng nhữngnăm đầu thế kỷ XX, Phan Khôi nổi bật lên như một tên tuổi sáng chói bêncạnh nhiều tên tuổi khác như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Huỳnh ThúcKháng… Phan Khôi được biết đến với tư cách một nhà báo, chân dung vănhoá của ông chủ yếu được biểu hiện qua những gì ông viết, đăng lên báo chí.Qua hoạt động báo chí, Phan Khôi chứng tỏ mình là một học giả, một nhà tưtưởng, một nhà văn có đóng góp quan trọng vào sự phát triển tư tưởng, vănhọc và văn hoá Việt Nam đầu thế kỷ XX
1.2 Với hàng ngàn bài viết sắc sảo, sâu sắc về nhiều lĩnh vực của đờisống, Phan Khôi được mệnh danh là “người đi tiên phong”, “người đi trướcthời đại” (Vương Trí Nhàn) Tuy nhiên, địa vị văn hoá văn học của Phan Khôivẫn chưa được minh định một cách thoả đáng Trên thực tế việc tìm hiểu PhanKhôi chỉ bắt đầu trong thời gian gần đây Người khởi xướng công việc đókhông ai khác chính là nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân - người có công biênkhảo sưu tầm tài liệu, lập hồ sơ cá nhân của nhiều tác giả quá khứ LạiNguyên Ân đã sưu tầm và biên soạn gần như toàn bộ sự nghiệp văn chương
và hoạt động báo chí của Phan Khôi những năm đầu thế kỉ XX Bằng cách đó,ông đã tái dựng lại quá trình hoạt động báo chí của Phan khôi Hơn 20 năm kể
từ ngày Phan Khôi tạ thế, địa vị của ông trên trường văn hoá nói chung, trênvăn đàn và báo giới nói riêng đã được tái hiện trở lại Đó là tiền đề quan trọng
để hậu thế đánh giá xác đáng đóng góp, vị trí của Phan Khôi
1.3 Việt ngữ nghiên cứu là tác phẩm có vị trí quan trọng trong sự
nghiệp trước tác của Phan Khôi Như trên đã nói, mối quan tâm và tầm ảnhhưởng của học giả, nhà văn hoá Phan Khôi trải rộng trên nhiều lĩnh vực củađời sống chính trị, văn hoá xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XX Song với chủ
Trang 5trương làm cho tiếng Việt nước ta tiến dần đến bậc hoàn mỹ, bằng cả tâmhuyết, trách nhiệm, trí tuệ Phan Khôi có mối quan tâm đặc biệt đến quá trình
bảo vệ và phát triển ngôn ngữ quốc gia tiếng Việt Cuốn Việt ngữ nghiên cứu
tập hợp những công trình nghiên cứu về tiếng Việt trong 2 năm 1949 - 1950
là minh chứng rõ ràng nhất cho sự quan tâm đặc biệt ấy Ở đó, từ tầm cao vàgóc nhìn của một nhà văn hoá lớn, một nhà Việt ngữ học Phan Khôi đã cóphát hiện và luận giải nhiều vấn đề quan trọng có ý nghĩa với việc bảo vệ vàphát triển ngôn ngữ dân tộc Việt
Với những lí do đó, chúng tôi chọn Quan điểm của Phan khôi về một
số vấn đề tiếng Việt trong Việt ngữ nghiên cứu làm đề tài nghiên cứu với hi
vọng góp thêm tiếng nói khẳng định vị trí, đóng góp của Phan Khôi đối vớinền ngôn ngữ dân tộc
trong chuyên luận Một thời đại trong thi ca mở đầu Thi nhân Việt Nam đã
sớm xác định: “Ông Phan Khôi, người đã đề xướng ra Thơ mới” Từ sự ghicông của Hoài Thanh, Hoài Chân vị trí của Phan Khôi với phong trào thơ mớihiển nhiên được thừa nhận
Sau 1945, Phan Khôi tản cư lên Việt Bắc, tiếp tục làm công tác nghiêncứu và dịch thuật trong cơ quan của Hội văn nghệ Đóng góp của ông đượcghi nhận ở những tìm tòi nghiên cứu về ngôn ngữ học và tiếng Việt; công tácdịch thuật, đặc biệt là dịch thuật và giới thiệu Lỗ Tấn Những năm cuối đời,
Trang 6ông sống ở Hà Nội Tên tuổi Phan Khôi bị chìm lấp sau vụ án Nhân văn Giaiphẩm Cũng vì vậy, những thông tin về ông quá ít ỏi Ông chỉ được nhắc đếnnhư người mở đầu phong trào Thơ mới
Ở miền Nam, trong phạm vi bao quát tư liệu của chúng tôi, từ năm
1954 đến 1975 có ít nhất hai nhà nghiên cứu có chú ý đến Phan Khôi Một là
nhà giáo Phạm Thế Ngữ, trong cuốn Việt Nam văn học sử giản ước tân biên
đã đánh giá những đóng góp của Phan Khôi trong giai đoạn 1930 về mặt phêbình văn học và cũng có nhắc đến một số tác phẩm của ông đăng trên báo chínhững năm 1930 Người thứ hai là nhà nghiên cứu, nhà giáo Thanh Lãng
Trong công trình Bảng lược đồ văn học sử, đặc biệt là công trình 13 năm
tranh luận văn nghệ được xuất bản năm 1995, sau khi ông mất, đã có sử biên
một số lượng đáng kể những tác phẩm của Phan Khôi in trên tờ Phụ nữ tân
văn Có lẽ, đó là tất cả những gì vào lúc đó người ta biết về Phan Khôi.
Sau Đại hội VI của Đảng, trong không khí dân chủ, cởi mở nhiều hiệntượng văn hoá, văn học đã được đánh giá lại Tên tuổi Phan Khôi đã đượcnhắc đến nhiều hơn trong các công trình văn học sử Song phải đợi đến 15năm trở lại đây, công tác nghiên cứu về Phan Khôi và sự nghiệp trước tác củaông mới thật sự được quan tâm Năm 1996, Nhà xuất bản Đà Nẵng đã cho tái
bản hai tác phẩm quan trọng của ông là Chương Dân thi thoại và Việt ngữ
nghiên cứu Động thái này đã giúp độc giả biết đến Phan Khôi nhiều hơn.
Bước đột khởi thật sự trong công tác nghiên cứu về Phan Khôi chính làviệc nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân cùng các cộng sự của mình tập hợp, sưutầm và cho xuất bản tác phẩm đăng báo của Phan Khôi trong những năm
1928, 1929, 1930, 1931, 1932… vào các năm 2005, 2006, 2007 Lại Nguyên
Ân cũng tập hợp và cho xuất bản cuốn Phan Khôi - viết và dịch Lỗ Tấn, giới
thiệu với độc giả những thành tựu dịch thuật của ông
Trang 7Không chỉ là người có công sưu tầm, Lại Nguyên Ân cũng đã bước đầu
có những nghiên cứu về Phan Khôi với nhiều bài báo đã được công bố, trong
đó ông đã tái hiện chân dung văn hoá Phan Khôi qua sự nghiệp báo chí
Năm 2003, cuốn Phan Khôi - tiếng Việt, báo chí và thơ mới của tác giả
Vu Gia được xuất bản Đây là công trình đầu tiên đi sâu đánh giá vai trò củaPhan Khôi với Việt ngữ, báo chí và thơ mới
Sự quan tâm đến Phan Khôi ngày càng rộng rãi Năm 2007, nhân kỉ
niệm 120 năm ngày sinh Phan Khôi, Tạp chí Xưa và Nay đã tổ chức hội thảo
về Phan Khôi với sự tham gia của nhiều nhà sử học, nhà văn hoá có uy tín.Hội thảo đã ghi nhận Phan Khôi như một học giả, nhà văn hoá uyên thâm, cónhiều đóng góp quan trọng với văn hoá xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XX
Tóm lại, sau một thời gian dài bị lãng quên, sự nghiệp và chân dungvăn hoá Phan Khôi đang dần dần được tái hiện trở lại Tuy vậy, sự nghiên cứuPhan Khôi mới chỉ chủ yếu tập trung trên lĩnh vực báo chí, tư tưởng PhanKhôi với tư cách một nhà nghiên cứu tiếng Việt vẫn chưa được quan tâmnhiều
2.2 Sự tìm hiểu, đánh giá cuốn Việt ngữ nghiên cứu
Cho đến này Việt ngữ nghiên cứu mới chỉ được chú ý nghiên cứu một phần qua cuốn Phan Khôi - tiếng Việt, báo chí và thơ mới của tác giả Vu Gia
được xuất bản năm 2003 Bên cạnh công việc đánh giá vai trò của Phan Khôivới báo chí và Thơ mới thì vai trò của Phan Khôi với Việt ngữ cũng đượcnhấn mạnh
Nguyễn Văn Khang trong bài viết Học giả Phan Khôi với Việt ngữ
nghiên cứu trên Tạp chí Xưa và Nay, số 292 IX - 2007 cũng đã khẳng định
đóng góp của Phan Khôi đối với quá trình bảo vệ và phát triển ngôn ngữ quốcgia tiếng Việt “làm cho tiếng Việt nước ta tiến dần đến bậc hoàn mỹ”
Như vậy Việt ngữ nghiên cứu của Phan Khôi mới chỉ được nhắc đến
qua những bài báo tản mạn và một phần nhỏ trong cuốn sách của tác giả Vu
Trang 8Gia mà chưa có một công trình thực sự khoa học nào để tâm nghiên cứu Việc
tìm hiểu Việt ngữ nghiên cứu của Phan Khôi cần được tiếp tục triển khai trên
một cái nhìn hệ thống và sâu sắc hơn
3 Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề về tiếng Việt (ở các cấp độ) được Phan Khôi đề cập đến
trong cuốn Việt ngữ nghiên cứu, Nxb Đà Nẵng, 1997.
4 Mục đích nghiên cứu
4.1 Đi sâu khảo sát, tìm hiểu, phân tích, luận giải một số vấn đề về
tiếng Việt trong Việt ngữ nghiên cứu trên các phương diện: âm vị tiếng Việt;
từ ngữ tiếng Việt; ngữ pháp tiếng Việt, tiếng Việt trong tác phẩm Văn học
4.2 Khảo sát, phân tích cách sử dụng thuật ngữ khoa học trong Việt
ngữ nghiên cứu: vấn đề sử dụng thuật ngữ trong nghiên cứu ngôn ngữ; cách
sử dụng thuật ngữ trong Việt ngữ nghiên cứu; cách giải thích thuật ngữ ngôn ngữ trong Việt ngữ nghiên cứu.
4.3 Cuối cùng rút ra một số về ưu điểm cũng như hạn chế và những
đóng góp của Phan Khôi cho ngôn ngữ tiếng Việt
5 Phương pháp nghiên cứu
Khoá luận vận dụng nhiều phương pháp, trong đó có những phươngpháp chính: Phương pháp thống kê - phân loại, phương pháp phân tích tổnghợp, phương pháp lịch sử, phương pháp so sánh đối chiếu, phương pháp hệthống
6 Cấu trúc của khoá luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung của khoá
luận gồm có 3 chương:
Chương 1: Phan Khôi và cuốn Việt ngữ nghiên cứu.
Chương 2: Một số vấn đề về tiếng Việt trong Việt ngữ nghiên cứu Chương 3: Thuật ngữ khoa học trong Việt ngữ nghiên cứu.
Trang 9Chương 1
PHAN KHÔI VÀ CUỐN VIỆT NGỮ NGHIÊN CỨU
1.1 Vài nét về con người và sự nghiệp của Phan Khôi
1.1.1 Con người, tư tưởng Phan Khôi
Phan Khôi (1887 - 1959) xuất thân trong một gia đình khoa bảng, nềnếp Bên nội cũng như bên ngoại đều có truyền thống yêu nước và hiếu học.Thân sinh của ông là cụ Phan Trân (1862 - 1935) đỗ phó bảng vào năm 1891,làm tri phủ ở Diên Khánh, tỉnh Khánh Hoà Thân mẫu của Phan Khôi là congái của Tổng đốc Hoàng Diệu Ngay từ nhỏ, Phan Khôi đã nổi tiếng là ngườithông minh, học giỏi và hay lí sự… Từ thuở thiếu thời, Phan Khôi đã đượchọc chữ Hán với nhiều nhà Nho uyên bác, trong đó, để lại dấu ấn đậm nhất là
cụ tú Trần Quý Cáp Phan Khôi không chỉ được học hỏi ở vốn tri thức thâmhậu mà còn chịu ảnh hưởng từ tư tưởng yêu nước, tiến bộ của thầy Được cụTrần hết lòng dạy dỗ trong một thời gian khá dài, Phan Khôi tiến bộ rõ rệt.Đến năm 15, 16 tuổi, khi chuyển qua các trường Huấn, trường Đội, kỳ sáthạch nào ông cũng chiếm được đầu bảng, được tiếng là sĩ tử thông minh củađất Gò Nổi Theo truyền tụng, Phan Châu Trinh lúc bấy giờ đã dự đoán:
“Phan Khôi và Mai Dị là hai tiến sĩ trong tương lai của Quảng Nam” Năm
1906, ông đỗ tú tài trong cuộc thi Hương ở kinh đô Nhờ bản chất thông minh
và quá trình tự học, Phan Khôi đã bồi đắp cho mình một vốn nho học uyên
thâm Trên báo Thần Chung, bắt đầu từ ngày 13/10 đến 18/11/1929, Phan
Khôi viết liền một lúc 21 bài nói về “Cái ảnh hưởng của Khổng giáo ở nước
ta” Ông còn viết bài phê bình cuốn Nho giáo của Trần Trọng Kim Qua
Trang 10những bài viết đó, dễ dàng nhận thấy Phan Khôi là người am hiểu Nho giáođến từng chân tơ kẽ tóc Xuất thân từ Khổng và Trình, với vốn Nho học uyênthâm, Phan Khôi được đánh giá là một đại diện xuất sắc của nền cựu học Vànếu xã hội vẫn êm đềm trong chế độ phong kiến và nền giáo dục khoa cử thìchúng ta có nhiều cơ sở để tin rằng Phan Khôi sẽ trở thành một nhà Nho uyênbác.
Thế nhưng, tuổi trẻ của Phan Khôi lại là một thời bi kịch của đất nước.Chủ quyền dân tộc đã mất dần! Chế độ thống trị của kẻ xâm lược coi như đã
an bài Nhưng bi kịch không chỉ về chính trị mà còn văn hoá Dân trí còn quáthấp! Người Pháp lớn tiếng rằng sứ mạng cao cả của họ là khai hoá An Nam
Ở châu Á, châu Phi ở đâu họ cũng tuyên bố như vậy trên cái thế mạnh vănminh của họ Chính sách của họ là dân bản xứ thuộc địa phải Pháp hoá Dân
An Nam thì trước hết phải phi Hán hoá
Giới trí thức Nho học đông đảo của nước ta đứng vào thế bị động củamột sự lựa chọn hết sức khó khăn Rời bỏ văn hoá Hán, tiếng Hán? Đó là giátrị không còn ngoại lai mà đã trở thành cổ truyền của dân mình rồi Chấpnhận văn hoá Pháp? Đó đích thực là giá trị ngoại lai, là vô đạo trước đạo lýtruyền thống! Chấp nhận tiếng Pháp, tiếng Tây? Nó xa lạ kỳ dị!
Trong điều kiện xã hội như thế, Phan Khôi đã làm một sự lựa chọn choriêng mình Ông vốn xuất thân Hán học nhưng vẫn đi vào Pháp học, vẫn họctiếng Pháp tới trình độ cao Như thế chẳng phải vì lẽ sống, vì vinh thân như
ai, cũng chẳng phải như ai tán thành đường lối “hiệp tác”, “đề huề” với Pháp,Phan Khôi có ý thức sâu sắc là ở nước Nam ta sự mở mang dân trí phải là sự
mở rộng không gian văn hoá Cái không gian văn hoá xã hội của người Việt
đã thành quá ư chật hẹp, lại khép kín sau cả mấy ngàn năm tiếp xúc chỉ vớiTrung Hoa
Trang 11Khác với nhiều nho sĩ, Phan Khôi không đồng tình với cách nghĩ choQuốc học phải tiếp tục là Hán học Theo ông, xưa nay nước ta chẳng có gì làQuốc học cả Toàn những vay mượn đó thôi, của ta chỉ có văn học với nhữngsáng tác văn chương nghệ thuật Những tác phẩm văn học đó, dù xuất sắc như
Truyện Kiều, chưa thể coi là Quốc học được Quốc học theo ông phải là học
vấn, triết học, tư tưởng do chính ta xây dựng nên trong tiếng ta, quốc ngữ củadân tộc ta Về điểm này, Phan Khôi gần gũi với Phạm Quỳnh tuy hai học giảnày khác xa nhau về quan điểm chính trị, về quan hệ với chính quyền Pháp
Quyết tâm từ bỏ nền cựu học đã lỗi thời, cùng với quyết tâm học tiếngPháp, ông đã xông vào nghề báo tự do Chính nghề nghiệp này đã tạo điềukiện cho ông đi nhiều, tìm hiểu nhiều và viết nhiều Hầu như không có lĩnhvực nào bị ông bỏ qua, không có vấn đề lớn nhỏ nào mà ông không quan tâm,
từ các vấn đề xã hội đến các vấn đề học thuật Qua đó, ta nhận thấy ông tiếpthu tư tưởng dân chủ, đề cao chủ nghĩa cá nhân, tôn thờ duy tân, cải cách.Chính ông đã khởi xướng đối thoại Đông Tây về mặt tư tưởng trên một tầmcao về văn hoá Phan Khôi không chỉ tiếp thu văn hoá Tây phương mà cònmuốn truy tìm bản chất, cội nguồn của nền văn hoá ấy, điều đó giải thích vì
sao ông trở thành người đầu tiên dịch Kinh Thánh ra tiếng Việt Có thể, một là
ông dịch để học, hai là và điều này còn quan trọng hơn, ông hiểu rất sâu rằng
đó là một tác phẩm lớn, là cội nguồn của văn hoá Tây phương Ông muốn tìmđến văn hoá Tây phương ở cội nguồn của nó
Đến đây, có thể kết luận Phan Khôi thuộc về thế hệ những người đavăn hoá Ông xuất thân từ cựu học nhưng lại là người nhạy cảm với cái mới,tích cực ủng hộ cuộc vận động duy tân Từ một nền Hán học uyên thâm, bằngtrí tuệ và ý chí độc lập hết sức mạnh mẽ, ông đã dám và biết cách từ bỏ thầy,
từ bỏ sách, đạp đổ cái cũ chống lại chính cái đã học, đi trên cái mới, tự giảiphóng cho trí tuệ của mình Ông gặp được một chuyển đổi thời đại hết sức
Trang 12quan trọng: khi Việt Nam và cả phương Đông đối mặt với phương Tây, khidiễn ra sự gặp gỡ và va chạm quyết định giữa hai nền văn hoá văn minh lớncủa nhân loại Ông cũng như bộ phận sáng suốt nhất trong giới Hán học đãchuyển sang Tây học, dũng cảm, quyết liệt Thái độ của ông, khiến ngườiđương thời như Trần Trọng Kim cũng thấy… nóng mặt và nói kháy một cáchchung chung : thậm chí những nhà dòng dõi, thi lễ, trước còn không chịu theotân học, nay lại tự mình bài bác cái học cũ kịch liệt hơn người thường Saunày, Phạm Thế Ngũ cũng cho rằng, Phan Khôi vì tự phụ tự cường song khôngkhỏi tự nhận thấy mình bơ vơ lỡ thời bởi ngay cái học của mình Nhìn vàolàng khoa cử cũ thì bị cái danh lớn của các ông Nghè, ông Bảng đè bẹp Quaysang lớp tân học thì mình chỉ mang tiếng là anh học lõm, chưa dễ đặt chânvào chiếc chiếu của họ Thật ra không phải như vậy, Phan Khôi là một nhàTây học rất sâu Có lẽ bởi ông xuất phát từ một nền Hán học cũng rất sâu.Đây là sự gặp gỡ giữa hai đỉnh cao, từ đỉnh cao này ông có điều kiện để nhìnngắm đỉnh cao kia, từ đỉnh cao này ông đến với đỉnh cao kia Trong ông là sựkết nối hai nền văn hoá lớn nhất của nhân loại, giữa những khó khăn, tháchthức ông đã cố gắng đưa ra những lời giải cho sự kết nối đó.
Phan Khôi là nhà văn hoá rất quý trọng tiếng Việt, quyết tâm bảo vệngôn ngữ dân tộc Ông theo đuổi sự nghiệp này, khi hoạt động ở Sài Gòn,Huế, Hà Hội, rồi khi theo cách mạng giải phóng dân tộc, hoạt động cho tớicuối đời Và Phan Khôi có kiến thức của một nhà Việt ngữ học Kiến thức ấyhình thành từ một văn hoá mở rộng, với những hiểu biết không chỉ về tiếng
Việt, tiếng Hán mà còn về tiếng Pháp, tiếng Anh Trong Việt ngữ nghiên cứu,
trí tuệ của một nhà Việt ngữ học cũng như tâm huyết của Phan Khôi giànhcho ngôn ngữ tiếng Việt được thể hiện khá rõ
1.1.2 Sự nghiệp trước tác của Phan Khôi
Trang 13Hẳn không phải là ngẫu nhiên mà những trí thức quan trọng của đấtnước nửa đầu thế kỷ từ Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh,Hải Triều, Trần Huy Liệu… trong đời đều có làm báo và lấy báo làm nơi thểnghiệm những điều suy nghĩ cũng là những lời đề nghị của mình trước quốcdân đồng bào Đứng về phương diện tiến hoá của xã hội mà xét, loại phươngtiện thông tin đại chúng mới được du nhập này quả là một công cụ hữu hiệu,
nó giúp ích cho sự tiến bộ của xã hội Phan Khôi đã lựa chọn báo chí như một
lẽ tự nhiên Trong suốt 40 năm hoạt động báo chí từ 1918 đến 1959, PhanKhôi đã cộng tác và gây náo loạn báo giới suốt trong Nam ngoài Bắc Những
tờ báo ông đã từng cộng tác là Nam Phong, Lục tỉnh tân văn, Thực nghiệp
dân báo, Hữu thanh tạp chí, Đông pháp thời báo, Thần chung, Phụ nữ tân văn, Trung lập, Sông Hương, Tràng An… Trong đó, từ 1828 đến 1932 là
khoảng thời gian mà ngòi bút của ông sung sức nhất, xông xáo nhất Nhữngtác phẩm thời kỳ này đã làm nên Phan Khôi “Ngự sử văn đàn” Lại Nguyên
Ân và những cộng sự của mình đã dày công sưu tầm và biên soạn hầu nhưtoàn bộ sự nghiệp báo chí của Phan Khôi trong thời gian đó và xuất bản thành
5 tập sách dày dặn: Phan Khôi - tác phẩm đăng báo, 1928, Nxb Đà Nẵng, (2003); Phan Khôi - tác phẩm đăng báo, 1929, Nxb Đà Nẵng, (2005); Phan
Khôi - tác phẩm đăng báo, 1930, Nxb Đà Nẵng, (2006); Phan Khôi - tác phẩm đăng báo, 1931, (2007) Qua đó, Phan Khôi thể hiện mình không phải
là nhà báo lấy tin, phản ánh sự việc theo nghĩa đen của hai chữ ký giả mà ông
là loại nhà báo chuyên thăm dò vào những vấn đề vừa nảy sinh trong xã hội
để bình luận Sự nghiệp báo chí của ông đa dạng trên nhiều thể loại, trải rộngtrên mọi lĩnh vực của đời sống văn hoá xã hội Thành công nhất phải kể đếnnhững tác phẩm khảo cứu triết học, khảo luận lịch sử, nghị luận xã hội,nghiên cứu văn học, thể hài đàm mà ông là người mở đầu ở Việt Nam và cảsáng tác văn học…
Trang 14Ngoài những gì đã được in trên báo chí, sự nghiệp sáng tác của Phan
Khôi gồm một vài cuốn sách đã được xuất bản như Chương Dân thi thoại,
Trở vỏ lửa ra, Việt ngữ nghiên cứu…
Xét riêng về hoạt động nghiên cứu ngôn ngữ của Phan Khôi, chúng ta
thấy ông góp mặt với nhiều bài báo có giá trị Trong bài báo trên Đông Pháp
thời báo, số 717 ngày 8/5/1928 là bài viết đầu tiên của Phan Khôi chê bai
nhóm biên tập Hán Việt từ điển của triều đình Huế lẫn lộn cách dùng chữ.
Trước việc sách, báo in thường thấy ở miền Nam những năm đầu thế kỷ XX
với cách viết “loạn xị”, trên Phụ nữ tân văn số 28 (ngày 7/11/1929), ông đã
nêu việc người miền Nam Trung Kỳ và Nam Kỳ, bắt đầu từ tỉnh Quảng Namtrở vào “phát âm không đủ giọng” Bài viết ấy sau khi đăng báo đã lôi cuốnvào cuộc nhiều ý kiến tán thành và cổ động việc thống nhất chữ viết ở cả bamiền Sau đó đã có lời đề nghị của toà soạn: “Ta nên nhóm toàn quốc đại hộinghị” về vấn đề hiệp nhất và chấn chỉnh lại tiếng mẹ đẻ ngay bây giờ
Từ năm 1948, ông đã công bố nhiều tài liệu nghiên cứu tiếng Việt vớicái nhìn văn hoá mở rộng, đa chiều, cùng với trí tuệ tinh thông, kiến thứcvững vàng và những hiểu biết sâu nhiều ngôn ngữ (tiếng Hán, tiếng Pháp,tiếng Anh… và cả chữ Nôm) Ông đã phân tích Việt ngữ trong mối quan hệvới các ngôn ngữ khác và nhận thấy giữa các ngôn ngữ khác nhau vẫn tồn tạinhững cái giống nhau mà ông gọi là “đại đồng”, và đồng thời mỗi ngôn ngữđều có đặc điểm riêng mà ông gọi là “tiểu dị” Đặc biệt hơn, trong quá trìnhnghiên cứu, ông luôn luôn kiểm nghiệm lại những gì mình viết, tự đính chínhnhững lời mình đã viết hôm trước là không đúng, nhiều lúc tự mình phản biện
lý lẽ của chính mình bằng những lời viết thêm về sau… Việt ngữ nghiên cứu
(1955) chính là cuốn sách tập hợp những công trình nghiên cứu tiếng Việttrong một thời gian gần hai năm (1949 - 1950) của Phan Khôi, là minh chứng
Trang 15cho tâm huyết và trí tuệ của nhà ngôn ngữ muốn làm cho tiếng nước ta tiếndần lên đến bậc hoàn mỹ.
1.2 Nhìn chung về cuốn Việt ngữ nghiên cứu của Phan Khôi
1.2.1 Bối cảnh, mục đích biên soạn
Việt ngữ hay tiếng Việt là ngôn ngữ của người Việt (người Kinh) và làngôn ngữ chính thức tại Việt Nam Tiếng Việt còn là ngôn ngữ thứ hai củacác dân tộc thiểu số tại Việt Nam Mặc dù tiếng Việt có một số từ vựng vaymượn từ tiếng Hán và trước đây dùng chữ Hán để viết sau đó được cải biếnthành chữ Nôm, tiếng Việt được coi là một trong số các ngôn ngữ thuộc họngôn ngữ Nam Á có số người nói nhiều nhất Ngày nay, tiếng Việt dùng bảngchữ cái La tinh gọi là chữ quốc ngữ cùng các dấu thanh để viết
Cùng với sự ra đời của tiếng Việt, hoạt động nghiên cứu tiếng Việtcũng được tiến hành qua các thời kỳ (cổ trung đaị, cận đại, hiện đại) Nếu lấynăm 1945 làm mốc lịch sử đánh dấu giai đoạn tiếng Việt hiện đại để so sánhđối chiếu với thời kỳ cận đại trước đó, sẽ thấy được một phần bức tranh củahoạt động nghiên cứu tiếng Việt Trước cách mạng tháng Tám, người nghiêncứu tiếng Việt chủ yếu là người nước ngoài và chủ yếu là người Pháp Họnghiên cứu tiếng Việt phục vụ cho việc học tiếng của họ ở Việt Nam, đồngthời cũng là để góp phần xây dựng và củng cố sự thống trị của họ Bên cạnh
đó, cũng dần xuất hiện những tên tuổi người Việt quan tâm tìm hiểu, nghiêncứu tiếng mẹ đẻ Đó là Trương Vĩnh Kí, Trương Vĩnh Tống, Huỳnh TịnhCủa, Lê Thước, Lê Văn Hoè, Trần Trọng Kim, Bùi Kỉ, Phạm Duy Khiêm…Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu tiếng Việt của người Việt Nam còn
hiếm hoi Tiêu biểu có Việt Nam văn phạm (1940) của Trần Trọng Kim, Bùi
Kỉ, Phạm Duy Khiêm Đây là cuốn sách đã được sử dụng rộng rãi như mộtcuốn sách giáo khoa trong các trường học ở Việt Nam lúc đó, và đã có một sốảnh hưởng nhất định đến các công trình ngữ pháp tiếng Việt về sau Những
Trang 16công trình: Phân tích từ loại và phân tích mệnh đề của Phạm Tất Đắc (Sài Gòn, 1950); Văn phạm Việt Nam của Thanh Ba Bùi Đức Tịnh (Sài Gòn, 1952); Văn phạm mới của Nguyễn Trúc Thanh (Sài Gòn, 1956), mặc dù xuất hiện sau năm 1943, nhưng về cơ bản, vẫn theo đường hướng Việt Nam văn
phạm của Trần Trọng Kim Nhìn chung, những công trình nghiên cứu về
tiếng Việt thời thuộc Pháp được viết trên cơ sở lí luận của truyền thống ngônngữ học châu Âu, vì thế không tránh khỏi hiện tượng nhìn tiếng Việt qua lăngkính của các tiếng châu Âu, cụ thể là tiếng Pháp mà sau này có học giả phêphán là có tính mô phỏng, bị chi phối bởi tư tưởng "dĩ Âu vi trung"
Sau cách mạng tháng Tám 1945, nước Việt Nam giành được độc lập,tiếng Việt trở thành ngôn ngữ chính thức của dân tộc Trong sự chuyển mìnhcủa đất nước trên mọi phương diện, hoạt động nghiên cứu tiếng Việt cũng cóbước tiến mới Lực lượng nghiên cứu tiếng Việt chủ yếu là người Việt Cácbình diện nghiên cứu tiếng Việt được mở rộng và đi sâu, cho nên, trong thựctiễn, đã hình thành một số chuyên gia về các lĩnh vực: ngữ âm học, từ vựng –ngữ nghĩa, từ điển học, phong cách học tiếng Việt, ngữ pháp tiếng Việt…Mặc dù thời gian này, các công trình lí luận ngôn ngữ học của thế giới chưađược dịch xuất bản tại Việt Nam, nhưng bằng trí tuệ và tâm hồn yêu tiếngViệt, các nhà nghiên cứu cũng lần lượt cho ra đời các công trình nghiên cứu
ngữ pháp tiếng Việt Tiêu biểu trong số đó có Việt ngữ nghiên cứu (Phan Khôi, 1955), Ngữ pháp tiếng Việt (Nguyễn Lân, Hà Nội, 1956)… Việt ngữ
nghiên cứu là một trong những công trình nghiên cứu có giá trị về ngữ pháp
tiếng Việt, là đứa con tinh thần được Phan Khôi thai nghén ấp ủ trong mộtthời gian khá dài Chính ông đã bộc bạch: “Năm 1948, ở trong đoàn văn hoá
kháng chiến Xuân Ang, Phú Thọ tôi nhân đọc cuốn Tân quốc văn ngữ pháp
của Lê Cẩm Hy, toan dựa theo viết một cuốn ngữ pháp tiếng Việt, mà cứ lúng
Trang 17túng mãi, không xử lý được nhiều trường hợp rắc rối trong ngôn ngữ, nênchưa viết được.
Tuy vậy, cái đại cương của ngữ pháp thì tôi thấy như mình đã nắmđược, nhân tháng bảy năm ấy có Hội nghị văn hoá toàn quốc ở Đông Lĩnh, tôi
có bài thuyết trình Một phương pháp dạy văn pháp tiếng ta.
Có lẽ cũng vì cái thuyết trình ấy, sau đó không lâu, Hội văn hoá ViệtNam thành lập, tôi được cử vào làm việc trong Ban Ngôn ngữ văn tự của Hội
Muốn cho công việc của mình sớm có thành quả cụ thể, từ đó qua đầumùa xuân 1949, tôi viết ba bài nghiên cứu được in ly-tô phát hành, tức là
Phân tích vần Quốc ngữ, Một vài nhận xét trong tiếng ta theo chữ Nôm và Tiếng đệm đặt ở đầu sách này.
Bấy giờ tôi lại muốn trở lại viết cuốn ngữ pháp, nhưng vẫn lúng túngkhông viết được, không làm sao xử lý được những vấn đề mình đã cho là rắcrối Tôi bèn tỉnh ngộ, thấy ra cái chỗ tại làm sao mà mình bị bí ấy
Một thứ tiếng mới thành lập như tiếng ta, mà muốn viết một sách ngữpháp đâu ra đó, làm một việc tổng hợp, thì rất khó Bí là tại đó - phải làm việcphân tích trước, phân tích tỉ mỉ kẽ còi rồi, bấy giờ làm việc tổng hợp thì có lẽ
dễ hơn
Vì nghĩ thế, tôi bỏ cái dã tâm viết sách ngữ pháp mà đi làm cái việcphân tích, tức là tám bài sau trong sách này, năm 1950 đã do Hội xuất bản
bằng ty-pô, đề nhan sách là Tìm tòi trong tiếng Việt.
Từ 1951 về sau, tôi không còn làm việc ngôn ngữ văn tự nữa, việcnghiên cứu bỏ dở
Nay nhân thắng lợi hoà bình, trở về thủ đô Hà Nội, bèn góp lại nhữngcông trình nghiên cứu trong hai năm in thành một cuốn sách, phụ lục cái
thuyết trình về ngữ pháp ra sau cùng, đổi tên mới là Việt ngữ nghiên cứu.
Trang 18Trước kia, sau khi in ly-tô hay ty-pô xong, tôi thấy trong bài mình viếtcòn có chỗ nào sai sót thì điền bổ thêm vào; và hiện nay, trước khi ra cuốnsách này, tôi còn thấy cái gì đáng nói nữa cũng có nói thêm Cả hai sự bổ túc
ấy thuộc về bài nào thì để sau bài ấy chung dưới một cái đầu đề nhỏ là “Viếtthêm về sau” Những mẫu viết thêm ấy hoặc có ghi đủ địa điểm và ngày thánghoặc chỉ ghi năm mà thôi, là tuỳ lúc bấy giờ có ý cẩn thận hay cẩu thả nhưngđều để nghiệm thấy tư tưởng của mình tiến hay thoái, và cũng để đánh dấumình tuy không làm việc ngữ ngôn văn tự cũng để ý tới nó luôn luôn, mộtcách dùng mà tự yên ủi lấy mình” [12, tr.5-6]
Nghiên cứu tiếng Việt là không dễ, người nghiên cứu phải có tâm hồn.Chính trong tâm hồn dân tộc, mà trước Phan Khôi, không ít nhà văn hoá đãviết về ngữ pháp tiếng Việt Nhưng người nghiên cứu tiếng Việt còn phải cótri thức, tri thức về ngôn ngữ, về tiếng Việt Phan Khôi có trí tuệ của một nhà
Việt ngữ học và ông viết Việt ngữ nghiên cứu với mục đích rất đáng trân
trọng để các nhà giáo, các nhà văn chúng ta có cái trách nhiệm phải làm cho
“tiếng nước ta tiến dần lên đến bậc hoàn mỹ” [12, tr.6] Bởi ông ý thức “tiếngnói có hoàn mỹ thì mới đẩy văn học, khoa học tiến lên được, mới phục vụđược cho nhân dân, cho quốc gia, dân tộc đi nhanh trên con đường tiến hoácủa hiện đại Tiếng Việt Nam nếu còn cứ ở cái trình độ cũ thì dân tộc ViệtNam có tiến đi nữa cũng chậm lắm” [12, tr.6] Cuốn sách chính là lời cổ độngngười Việt Nam tích cực nghiên cứu và viết sách ngữ pháp cho tiếng nói dântộc Việt của Phan Khôi Theo ông “công việc này là công việc làm vĩnh viễn,không phải chỉ làm mười năm hay một trăm năm, hễ thời đại tiến hoá thì ngữngôn phải tiến hoá, ngữ ngôn tiến hoá tức là dân tộc tiến hoá” [12, tr.6] Đó làcái nhìn thấu suốt của một nhà văn hoá, tư tưởng lớn…
1.2.2 Những nội dung cơ bản của Việt ngữ nghiên cứu
Trang 19Phan Khôi khẳng định địa vị và tên tuổi của mình trước hết trên lĩnhvực báo chí Người ta chủ yếu biết đến ông qua những gì ông viết và in trêncác báo Nhưng qua tư cách nhà báo, ông thể hiện mình còn là một nhà vănhoá, nhà tư tưởng, nhà ngôn ngữ, nhà văn, nhà phê bình có nội lực thâm hậu.Điều đó lí giải tại sao tìm đến với Phan Khôi, người ta trước hết tìm đến với
sự nghiệp báo chí của ông Đúng như Thanh Lãng từng nói “Sự nghiệp củaPhan Khôi nằm rải rác trên các mặt báo” Và chúng ta biết rằng, những bài
viết trong Việt ngữ nghiên cứu (1955) của ông trước khi xuất bản thành sách
cũng là những bài nghiên cứu in ly-tô phát hành Nếu sự nghiệp báo chí giúpchúng ta nhận ra chân dung nhà văn hoá, học giả Phan Khôi với cái nhìn tổng
quan, thì qua Việt ngữ nghiên cứu, chúng ta có điều kiện soi ngắm ông ở một
góc nhìn hẹp hơn: Phan Khôi trong tư cách một nhà nghiên cứu ngôn ngữ
Ngoài phần Tựa và bài viết Tâm hồn và trí tuệ Phan Khôi trong Việt
ngữ nghiên cứu của Hoàng Tuệ ở đầu sách, phần phụ lục: Một phương pháp
dạy văn pháp tiếng ta ở cuối sách còn lại là 11 bài viết xoay quanh nhiều vấn
đề của tiếng Việt về: âm vị tiếng Việt, từ ngữ tiếng Việt, ngữ pháp tiếng Việt,
tiếng Việt trong tác phẩm văn học… Có thể liệt kê ra: Phân tích vần quốc
ngữ; Một vài nhận xét tiếng ta theo chữ Nôm; Tiếng đệm; Cây, con, cục, cái; Tiền danh tự và mạo tự; Thời gian và không gian trong ngữ pháp; Trên, dưới, trong, ngoài, lên, xuống, vào, ra; Kiểm thảo về đại danh từ; Mấy đặc điểm trong tiếng Việt; Hư tự trong Truyện Kiều I; Đề nghị về danh từ ngữ pháp I.
Ngay ở bài viết đầu tiên Phân tích vần quốc ngữ Phan Khôi đã có một
cái nhìn hệ thống khi phân biệt nguyên âm, nguyên âm ghép, nguyên phụ âm,phụ âm Theo ông, nguyên âm đôi hay ba “là những nguyên âm do nguyên
âm đơn sinh ra để cho đủ dùng trong tiếng nói đó thôi Công dụng của nócũng như nguyên đơn” [12, tr.15] Ông cũng đã đúc kết việc phát âm củangười Việt mình có những âm cùng chiều trong cấu trúc nguyên phụ âm, ví
Trang 20dụ: Ng với C, Nh với Ch, M với P, N với T Bài viết còn đề cập đến một số
phạm trù khác như: âm giai, âm hệ, thứ tự và sự phối hợp năm dấu với bốnthanh, vận và hệ vận…
Ở bài Một vài nhận xét trong tiếng ta theo chữ Nôm, Phan Khôi muốn
dựa vào việc nghiên cứu chữ Nôm của người miền Bắc nước ta đời xưa đểthấy việc phát âm của người Việt có sự vận động và tiến hoá Ngày nay, có
nhiều vùng miền, người dân phát âm không chuẩn các phụ âm đầu: giữa ch và
tr, d và gi, s và x, dấu hỏi và dấu ngã…
Tiếng đệm là bài viết khá công phu, tâm huyết của Phan khôi về từ ngữ
tiếng Việt Xuất phát từ đặc điểm của tiếng Việt là ngôn ngữ đơn âm tiết,không biến hình nên việc xuất hiện tiếng đệm là điều tất yếu Nó làm cho
“tiếng nói của ta nảy nở thêm nhiều, là cái làm cho một thứ ngôn ngữ văn tựlên đến bậc minh xác và tinh tế” [12, tr.63] Phan Khôi đã giải trình các kháiniệm “thành từ”, “tiếng đệm” rồi công dụng của tiếng đệm, cấu tạo của tiếngđệm, tiếng đệm với từ căn, tiếng đệm với song âm mẫu
Hầu hết các bài viết trong Việt ngữ nghiên cứu đều ít nhiều xoay quanh
vấn đề ngữ pháp tiếng Việt Nhà nghiên cứu ngôn ngữ Phan Khôi đã có cáinhìn mở rộng đa chiều khi so sánh một số vấn đề ngữ pháp giữa tiếng Việtvới tiếng Pháp và tiếng Hán để thấy điểm chung và điểm đặc trưng của ngônngữ dân tộc Trước đây, nhiều học giả khi biên soạn văn phạm Việt Namthường quen dùng mạo từ tiếng Pháp là để phân biệt giống đực/giống cái, sốmột/số nhiều, rồi tưởng những tiếng đứng trên danh từ của tiếng ta cũng như
thế Còn theo ông, hoàn toàn không như thế Trong bài viết Con, cây, cục,
cái, ông đã chứng minh bốn chữ trên trong tiếng Việt là để đặt trên những
danh từ chỉ vật theo từng loại “Con, đặt trên danh từ chỉ động vật, là vật có hoạt động, không loại trừ con người; Cây, đặt trên danh từ chỉ thực vật, là vật không hoạt động; Cục, đặt trên danh từ chỉ khoáng vật, là vật không hoạt
Trang 21động; Cái, đặt trên danh từ chỉ vật nào do người ta làm nên, không phải vật tự
nhiên như 3 loại trên, mà cũng là vật không hoạt động” [12, tr.91-92] Đặt vấn
đề như trên, ông đã khẳng định con, cái trong tiếng ta không như le, la trong tiếng Pháp để chia ra giống đực/giống cái! Có những trường hợp: cái thuyền,
cái tàu, cái dao, cái quay, cái roi… cũng được gọi là con thuyền, con tàu, con dao… vì thuyền thì chạy, dao thì cắt… đều có vẻ động; cùng là chỗ nước mà
hồ, ao, đầm gọi là cái, còn sông, suối thì gọi là con vì nơi đây nước thường
chảy, có vẻ động; tương tự mặt, mũi, tay, chân… gọi là cái, chỉ có mắt, tim mới gọi là con vì mắt mấp máy, tim thì đập! Và lại có những trường hợp mà
có hình dạng giống cây thì cũng gọi là cây như: cây bút, cây phướn, cây
nêu… Theo Phan Khôi, ngoài chữ “cái” thì các chữ: con, cục, cây… được
gọi bằng cái tên “tiền danh tự”
Liên quan đến bài Cây, con, cục, cái tác giả có bài viết tiếp theo về
Tiền danh tự và mạo tự Phan Khôi đưa ra những lí lẽ, dẫn chứng để phân biệt
tiền danh tự và mạo tự Tiền danh tự là để làm nổi bật lên cái tính chất cá biệtcủa danh tự nào có cái tính chất ấy Tiền danh tự chỉ đứng trước danh tự cáthể (trừ khi người ta chỉ cần nói đến cái chất của sự vật chứ không cần chỉ rõcái cá thể của nó, thì không dùng tiền danh tự đặt trên nó) Những danh tự cá
thể, theo trường hợp phải có tiền danh tự đứng trên nó Ví dụ: một hòn núi,
một con gà, một sợi tơ, một hột gạo…Mà khi muốn biến nó thành ra tập thể,
cũng lại phải đặt trên nó một tiền danh tự Ví dụ: một dãy núi, một bầy gà,
một chẽ tơ, một bao gạo… Căn cứ vào tính chất của tiền danh tự có thể chia
ra tiền danh tự phổ thông (cây, con, cục, cái, bầy, đàn, chẽ, bao…) và tiền danh tự số lượng (mẫu, sào, thùng, đấu, tạ, cân…)
Cần chú ý phân biệt chữ “cái” với tư cách là mạo tự với tiền danh tự Chỉ khi nào chữ “cái” đặt trên tiền danh tự mới xem là mạo tự: cái con
người, cái cục đá, cái hoa sen… Còn những “cái” khác như: cái nhà, cái
Trang 22đầu, cái hoa, cái đạo,… đều là tiền danh tự cả Bên cạnh chữ “cái” thì
“những”, “các” cũng là mạo từ chỉ số nhiều và đều đặt trên danh tự, lại đặt được cả trên tiền danh tự, chẳng hạn: những người, những vật, những hòn
núi, những con sông, các lẽ, các vị tân khách, các ngôi sao… Nhưng cũng
cần phải phân biệt giữa chữ “những” và chữ “các” Chữ “những” dùng chỉ
số nhiều mình không thấy, không đếm được, số nhiều vô định Chữ “các”
dùng chỉ số nhiều có trước mặt mình, số nhiều hữu định
Trong bài Thời gian và không gian trong ngữ pháp, qua khảo sát nhiều
ngôn ngữ trên thế giới, Phan Khôi nhận thấy trong ngữ pháp của bất luậntiếng nói nào, thời gian cũng được coi là quan trọng hơn không gian bội phần.Tiếng Việt cũng coi trọng thời gian hơn không gian Mặc dù trong tiếng Việtđều có những từ chỉ không gian, thời gian nhưng điểm khác biệt là: về động
từ, tiếng ta không chia thì như tiếng Pháp thì lại ngắt vụn thời gian ra bằngmột các khác: bằng cách dùng một số phó từ khác đi với động từ để phân tích
ra cho thấy sự sai biệt về những cái quãng của nó Ấy là những chữ như: đà,
đã, đã rồi, đang, hiện đang, đang còn, sẽ, rồi, cho đến như: từng, vốn, vẫn, vừa mới, bưa, vừa, sắp, rắp, chưa, còn chưa, để rồi… là những chữ mà trong
loại phó từ chỉ không gian không hề có những chữ tương đương Qua việc
phản đối chủ trương của Trần Trọng Kim trong sách Việt Nam văn phạm ở
cuối chương IX, nói về động từ, tác giả một lần nữa chỉ ra và khắc sâu những
phó từ đặc biệt “đã, đang, sẽ” đi với động từ để chia thì của nó…
Ở bài Trên, dưới, trong, ngoài, lên, xuống, vào, ra, Phan Khôi đã có sự
cắt nghĩa rõ ràng về một số chữ mà việc dùng nó khá rắc rối, bất nhất Theo
ông, bốn chữ “trên, dưới, trong, ngoài” không cứ nó thuộc về từ loại nào,
nghĩa nó thế này: từ chỗ thấp chỉ chỗ cao là trên, từ chỗ cao chỉ chỗ thấp làdưới, từ chỗ quang chỉ chỗ kín là trong, từ chỗ kín chỉ chỗ quang là ngoài
Bốn chữ “lên, xuống, vào, ra” thường là động từ, nghĩa nó thế này: từ chỗ
Trang 23thấp đến chỗ cao là lên, từ chỗ cao đến chỗ thấp là xuống, từ chỗ quang đến
chỗ kín là vào, từ chỗ kín đến chỗ quang là ra Việc dùng bốn chữ “lên,
xuống, vào, ra” của ta đều lấy xuất phát điểm làm căn cứ, không như người
Pháp, người Tàu xem trọng ở mục đích điểm là chỗ hoạt động Từ đó tác giảlập ra quy tắc chung cho sử dụng các chữ ấy nhưng theo thói quen người Việt
Nam vẫn hay dùng lầm và liên quan đến các chữ “lên, xuống, vào, ra” còn
nhiều rắc rối lôi thôi khác nữa
Một bài viết khác, bài Kiểm thảo về đại danh từ, Phan Khôi phát hiện
ra một điều: tiếng nói hiện hành của ta không có thứ đại danh từ trung lập nhưcủa tiếng Pháp, tiếng Tàu có thể dùng một cách phổ thông, không có sự phânbiệt khinh, trọng Sau cuộc truy nguyên lịch sử, ông đi đến kết luận: có thểđời Hồng Bàng của dân tộc Việt cũng có đại danh từ trung lập nhưng do sựphát triển tiến hoá của xã hội mà tiếng nói cũng thay đổi trở nên văn minh,lịch sự hơn Người Việt Nam có xu hướng dùng những từ xưng hô trong thântộc làm đại danh từ xưng hô ngoài xã hội
Sau một loạt bài viết nghiên cứu tiếng Việt ở các khía cạnh khác nhau,
Phan Khôi đi đến một vài kết kuận trong bài Mấy đặc điểm tiếng Việt Tiếng
Việt trong tương quan với các ngôn ngữ khác trên thế giới đều có cái gọi là
“đại đồng” và “tiểu dị” Ngoài những điểm cộng thông như: có thể chia từloại thành danh từ, động từ,… một mệnh đề có đủ 3 phần là chủ từ, danh từ,túc từ… tiếng Việt còn có những đặc điểm riêng biệt: đặc điểm thứ nhất “theothứ tự của thời gian”, đặc điểm thứ hai “theo yêu ghét chủ quan”, đặc điểmthứ ba “chủ từ tổng hợp”
Cũng từ những đặc điểm tiêu biểu của tiếng Việt, nhà nghiên cứu PhanKhôi đi vào nghiên cứu tiếng Việt trong một tác phẩm văn học cụ thể với bài
viết Hư tự trong Truyện Kiều I Tác giả dẫn theo sách ngữ pháp Trung Hoa để
chia từ loại ra làm 2 loại lớn: một là thực tự, một là hư tự Thực tự là những
Trang 24chữ thuộc về các loại như danh từ, động từ, hình dung từ, những chữ có hìnhthể thực tại hay là không có hình thể thực tại mà ta có thể ngẫm thấy cái đốitượng của nó Còn hư tự là những chữ không cứ thuộc về từ loại nào mà đãkhông có hình thể lại không có đối tượng… trong đầu ta không thể tìm cái gì
để hình dung ra nó được cả Với tiếng ta, khi nói thành lời, viết thành văn,
những hư từ choán một phần công dụng lớn Theo tác giả, Truyện Kiều của
Nguyễn Du dùng hư tự đúng hơn hết, ta nên lấy đó làm gương mẫu Ông đãđọc, thống kê và chỉ ra những câu thơ có dùng một số hư tự với mật độ dày
đặc rồi phân tích khả năng biểu thị ý nghĩa của chúng Đó là các hư từ: “bao,
bây, bấy, đâu, dầu, dẫu, mặc dầu”.
Sau một thời gian làm việc ngôn ngữ văn tự, Phan Khôi rất có ý thức
trong việc sử dụng các thuật ngữ ngôn ngữ Ông viết trong bài Đề nghị về
danh từ ngữ pháp I: đối với danh từ hiện hành, cái nào hợp lí thì ông theo,
còn cái nào thấy chưa hợp lý thì ông muốn đưa ra thảo luận rồi sửa đổi Ví dụ
như nên dùng chữ “văn pháp” hay “ngữ pháp”? Ông đề nghị đổi chữ “tự” trong những cái danh từ: tự loại, danh tự, động tự, mạo tự… làm chữ “từ” và
cho thế mới đúng Hay đổi ngôn ngữ làm ngữ ngôn…
Có thể nói, Phan Khôi là nhà văn hoá rất quý trọng tiếng Việt và là mộtnhà Việt ngữ học trí tuệ Các bài viết về ngôn ngữ tiếng Việt của ông đề cậpđến nhiều khía cạnh với cái nhìn thấu đáo Ông cũng nhận thấy viết sách ngữpháp không thể tránh khỏi những thiếu sót, sai lầm nên mong nhận đượcnhiều lời phê bình, bổ cứu để công việc nghiên cứu dần hoàn thiện hơn
Trang 25Thứ nhất, Phan Khôi là một nhà văn hoá, nhà tư tưởng, nhà báo, nhàngôn ngữ học tiêu biểu của thế kỷ XX, con người ông là kết tinh của sự giaothoa hai nền văn hoá lớn (Hán, Pháp).
Thứ hai, xét riêng về hoạt động nghiên cứu ngôn ngữ, nghiên cứu tiếngViệt, ông đã dành khá nhiều tâm huyết, đi vào tìm hiểu cặn kẽ thực tế hànhchức của tiếng Việt (trong đời sống và trong văn học) để rút ra những nhận
xét khoa học Việt ngữ nghiên cứu là cuốn sách tập hợp các bài báo của Phan Khôi về lĩnh sau này Đây là một trong những công trình nghiên cứu ngữ
pháp tiếng Việt có giá trị giai đoạn đầu của tiếng Việt hiện đại Nó góp mộtcái nhìn hệ thống, đa chiều về ngôn ngữ tiếng Việt trong sự đối chiếu với cácngôn ngữ khác
Trang 26Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ TIẾNG VIỆT
TRONG VIỆT NGỮ NGHIÊN CỨU CỦA PHAN KHÔI
2.1 Những nhận xét chung về tiếng Việt
Qua những bài viết về tiếng Việt trong Việt ngữ nghiên cứu, tác giả
Phan Khôi đã có những khái quát chung về tiếng Việt
2.1.1 Những đặc điểm riêng của tiếng Việt
tiếng Việt trong tương quan với các ngôn ngữ khác trên thế giới vừa có điểmgiống mà ông gọi là “đại đồng”, đồng thời lại có những đặc điểm riêng biệt
mà ông gọi là “tiểu dị”
Những điểm giống: từ loại tiếng Việt cũng chia làm danh từ, động từ,tính từ, trạng từ,…Một mệnh đề cũng phải có đủ ba phần là chủ từ, danh từ,túc từ,…
Bên cạnh đó, tiếng Việt có những đặc điểm riêng Đặc điểm thứ nhất:theo thứ tự của thời gian Đặc điểm thứ hai: theo yêu ghét của chủ quan Đặcđiểm thứ ba: chủ từ tổng hợp
“Theo thứ tự thời gian” là đặc điểm tiêu biểu nhất của tiếng Việt Sosánh với tiếng Pháp sẽ thấy đặc điểm này thể hiện rõ nét, trước hết trong câu
tự sự Nếu như trong câu tự sự của tiếng Pháp, lấy việc chính làm trọng thì
Trang 27tiếng Việt lấy thứ tự thời gian làm trọng (việc xảy ra trước kể trước, việc xảy
ra sau kể sau) Ví dụ cùng thuật lại hành động trở về của ngưòi thợ săn, tiếng
Pháp dùng câu: Tôi trở về từ sự đi săn còn tiếng Việt lại nói: Tôi đi săn về.
Câu tiếng Pháp nhấn mạnh cái động tác đang xảy ra “trở về” rồi mới nhắc đếnviệc trước đó “đi săn” Còn câu tiếng Việt lại nói theo trình tự thời gian, việc
“đi săn” xảy ra trước nên nói trước, đi săn xong rồi mới trở về nên hành động
“về” nhắc đến sau Trong câu mệnh lệnh, câu giả thiết tiếng ta cũng theo thứ
tự thời gian Và “có người cho rằng tiếng ta theo thứ tự thời gian tức là sắpđặt cái thứ tự phát sinh của sự vật theo khách quan, một phương thức đúngđấy” [12, tr.146]
“Theo yêu ghét chủ quan” là đặc điểm đặc biệt, dễ thường chỉ trongtiếng nói Việt Nam mới có “Trong khi làm một động từ thành ra hình thức bịđộng, tiếng ta dùng hai phó từ khác nhau để chỉ hai ý khác nhau Các điều
mình nhận lấy mà lấy làm thích, mình yêu nó, thì dùng chữ được, như được
thưởng, được khen, được thăng chức; các điều bị nhận lấy mà lấy làm khôngthích, mình ghét nó thì dùng chữ bị, như bị phạt, bị quở, bị cách chức”
[12, tr.146] Để chỉ nghĩa tích cực, tiêu cực, có một ví dụ là đặt chữ ra hay chữ đi sau một hình dung từ dùng như động từ Hễ cái gì mình lấy làm không thích, mình ghét nó mang nghĩa tiêu cực thì nói đi (gầy đi, đen đi, dốt đi, héo
đi…) Hễ cái gì người ta thích, người ta yêu nó mang nghĩa tích cực thì nói ra
(trắng ra, khôn ra, tươi ra, giàu ra, giỏi ra…).
Đặc điểm thứ ba, chủ từ tổng hợp trong tiếng Việt cũng được coi làthông dụng như các thứ tiếng ngoại quốc: “khi lấy một ngữ làm chủ từ thì coi
cả ngữ ấy như một danh từ gọi là danh từ ngữ; khi lấy một câu làm chủ từ thìcoi cả câu ấy như một danh từ gọi là danh từ cú” [12, tr.149] Điều đáng nói làtiếng ta có nhiều khi không cần dùng danh từ cú làm chủ từ mà cũng cứ dùng
Trang 28“Ấy là do tình trạng nghèo nàn trong tiếng ta, vì tiếng ta không có đủ danh từ
để chỉ các sự hay các việc…” [12, tr.151]
Mấy đặc điểm như trên được Phan Khôi luận giải trong bài viết có nhan
đề Mấy đặc điểm trong tiếng Việt được xem là nhận xét chung nhất về tiếng
Việt và có hạt nhân hợp lí của nó
2.1.2 Vai trò của tiếng đệm
Vì tiếng Việt là ngôn ngữ đơn âm tiết, không biến đổi hình thái, chữnào chết nghĩa chữ ấy, không chắp đầu hay chắp đuôi để biến thành chữ khác,nghĩa khác như các thứ tiếng châu Âu được nên xuất hiện tiếng đệm và nó giữvai trò quan trọng trong việc làm phong phú ngôn từ tiếng Việt, đưa tiếngViệt đạt đến độ minh xác, tinh tế
2.1.3 Sự vận động, biến hóa của tiếng Việt theo thời gian
Thứ ba, qua việc nghiên cứu chữ Nôm của người miền Bắc Việt Namxưa để xem người Việt thời đó có sự phân biệt các phụ âm đầu (d - gi; ch - tr)
và nghiên cứu chữ quốc ngữ, Phan Khôi nhận thấy ngôn ngữ tiếng Việt vậnđộng, biến hoá theo thời gian Tiếng Việt hiện hành không dùng đại danh từtrung lập như các ngôn ngữ khác (tiếng Pháp, tiếng Tàu), nhưng nó có thểđược dùng từ thời Hồng Bàng Cùng với sự phát triển của lịch sử xã hội, tiếngnói ngày càng văn minh, lịch sự ra, người Việt Nam còn lấy những tiếng xưng
hô trong thân tộc làm đại danh từ xưng hô ngoài xã hội
Trên đây là những nhận xét khái quát về tiếng Việt từ góc nhìn củaPhan Khôi qua những bài viết cụ thể, riêng lẻ Nó góp phần định hướng chongười đọc khi tìm hiểu về những vấn đề cơ bản của tiếng Việt
2.2 Tìm hiểu về âm vị tiếng Việt trong Việt ngữ nghiên cứu
2.2.1 Khái niệm âm vị
Trang 29Khái niệm âm vị (Phoneme) - vấn đề trung tâm của các lí thuyết âm vịhọc được các nhà ngữ học xác lập bằng nhiều cách hiểu, cách định nghĩa khácnhau.
Ở đây, âm vị được hiểu là đơn vị tối thiểu của hệ thống ngữ âm của mộtngôn ngữ dùng để cấu tạo và phân biệt vỏ âm thanh của các đơn vị có nghĩacủa ngôn ngữ
Cần phân biệt giữa hai khái niệm gần nhau “âm tố” với “âm vị” Âm vị
là đơn vị trừu tượng còn âm tố là một đơn vị cụ thể Âm vị được thể hiện rabằng âm tố và âm tố là sự thể hiện của âm vị
Kí hiệu miêu tả âm vị dùng hai vạch nghiêng // hai bên kí hiệu phiên
âm âm vị học, chẳng hạn: /b/, /d/, /u/, /a/,…
2.2.2 Quan điểm của Phan Khôi về âm vị tiếng Việt
Ngay ở bài viết đầu tiên trong Việt ngữ nghiên cứu, Phân tích vần quốc
ngữ Phan Khôi có đề cập đến âm vị tiếng Việt hay nói đúng hơn là mặt thể
hiện của âm vị chính là âm tố Ông chưa đi sâu vào phân tích âm vị theo hệthống khoa học gồm: hệ thống âm đầu, hệ thống âm đệm, hệ thống âm chính,
hệ thống âm cuối, hệ thống thanh điệu,… như các nhà nghiên cứu ngôn ngữhọc sau này Đây mới chỉ là cái nhìn sơ lược có đụng chạm đến vấn đề “âmvị” mà thôi
Phan Khôi có sự phân biệt giữa hai loại âm tố cơ bản trong ngôn ngữ:
nguyên âm và phụ âm “Nguyên âm có 12 chữ: a, ă, â, e, ê, i, y, o, ô, ơ, u, ư Trong 12 chữ ấy ă, â sinh ra bởi a; ê bởi e; ô, ơ bởi o; ư bởi u” [12, tr.15].
“Hai hay ba nguyên âm đi với nhau làm một gọi là nguyên âm ghép
như: ai, âu, eo, êu, oa oeo, ui, uôi” [12, tr.15] Ông giải thích nguyên âm đôi
hay ba do nguyên âm đơn sinh ra để cho đủ dùng trong tiếng nói đó thôi.Công dụng của nó cũng như nguyên âm đơn