1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan điểm của nguyễn công hoan về một số vấn đề văn học luận văn thạc sỹ ngữ văn

118 1,6K 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan Niệm Của Nguyễn Công Hoan Về Một Số Vấn Đề Văn Học
Tác giả Đỗ Thị Huyền
Người hướng dẫn TS. Phạm Tuấn Vũ
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận Văn
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 880 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số tác phẩm thể hiện trực tiếp và tập trung quan niệm văn chương Nguyễn Công Hoan như: Đời viết văn của tôi, Nxb Văn học, 1971, Hỏi chuyện các nhà văn, Nxb Thanh niên, 1977, Với nghề

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

ĐỖ THỊ HUYỀN

QUAN NIỆM CỦA NGUYỄN CÔNG HOAN

VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ VĂN HỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VĂN HỌC

MÃ SỐ: 60.22.32

Người hướng dẫn khoa học: TS PHẠM TUẤN VŨ

VINH - 2011

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Nói tới trào lưu văn học hiện thực phê phán 1930 - 1945 khôngthể không nói tới Nguyễn Công Hoan Nguyễn Công Hoan là nhà văn hiệnthực xuất sắc, là người chiếm vị trí quan trọng trong nền văn học hiện thựcViệt Nam Ngay từ những sáng tác đầu tiên, Nguyễn Công Hoan đã thực sựchinh phục độc giả khắp nơi trong cả nước và gây được sự chú ý của giớiphê bình văn học Nhắc tới Nguyễn Công Hoan là nhắc đến “một sức sángtạo mãnh liệt”, “một đời văn lực lưỡng” Trong cuộc đời viết văn của mình,Nguyễn Công Hoan đã để lại một sự nghiệp văn chương lớn với hơn 200truyện ngắn, 30 truyện vừa, hàng chục tiểu thuyết và nhiều công trình nghiêncứu, phê bình văn học Di sản đó là kết quả của tài năng lớn cùng với quanniệm đúng đắn, sâu sắc về các vấn đề cơ bản của văn chương Với nhữngthành công trong sáng tác và nghiên cứu phê bình, Nguyễn Công Hoan đãđóng góp to lớn vào nguồn mạch của văn học dân tộc, thúc đẩy mạnh mẽ sựphát triển của văn xuôi hiện đại đương thời Quan niệm văn chương củaNguyễn Công Hoan rất đáng nghiên cứu

1.2 Tài năng và quan niệm văn chương của Nguyễn Công Hoanđược hiện thực hoá bằng các tác phẩm Người đọc tìm thấy trong các tácphẩm của Nguyễn Công Hoan một sự lao động nghệ thuật tài năng, côngphu và nghiêm túc Vì thế mà nhiều nhà văn trẻ đã học hỏi được nhiều từ

sự sáng tạo của ông Không những thế, tài năng và quan niệm văn chươngcủa Nguyễn Công Hoan còn được biểu lộ qua nhiều văn bản có tính chấtnghiên cứu, lý luận phê bình Trong đời văn của mình Nguyễn Công Hoanrất có ý thức đúc rút, tổng kết kinh nghiệm sáng tác để truyền lại cho các thế

hệ nhà văn lớp sau Một số tác phẩm thể hiện trực tiếp và tập trung quan

niệm văn chương Nguyễn Công Hoan như: Đời viết văn của tôi, Nxb Văn học, 1971, Hỏi chuyện các nhà văn, Nxb Thanh niên, 1977, Với nghề văn,

Trang 3

Nxb Thanh niên, 2003, Đây là những tác phẩm có giá trị lý luận, trình bày

quan niệm của tác giả về văn học và nghề văn Hơn nữa đây là lý luận củangười sáng tác nên có nhiều điểm rất đáng để nghiên cứu Nguyễn Công Hoanvới tư cách là một nhà văn, ông đưa ra những cách hiểu, những ý kiến về nhữngthể tài mà ông vận dụng trong sáng tác văn chương được đúc rút từ chính đờiviết văn của mình Vì thế, dù là bàn về một vấn đề lý luận mà không khô khan,rất thiết thực với những người đồng nghiệp, những thế hệ viết văn trẻ

1.3 Nguyễn Công Hoan là một nhà văn lão thành Nhiều vấn đề lýluận mà ông đặt ra có ý nghĩa sâu sắc đối với người học tập và nghiên cứu.Những tổng kết và đánh giá của Nguyễn Công Hoan về nghề rất giản dị,gần gũi, chân thực và khách quan Những quan niệm về bản chất của sángtạo văn chương, về truyện ngắn và tiểu thuyết, về ngôn ngữ văn học, đều có

ý nghĩa đối với những người học tập, nghiên cứu và sáng tác Quan niệmvăn học của Nguyễn Công Hoan không chỉ biểu lộ nhận thức, tài năng vàbản lĩnh nghệ thuật của một cá nhân mà còn phản ánh quan niệm củađương thời Bởi vậy, nghiên cứu di sản của ông góp phần nhận thức tìnhhình lý luận phê bình văn học của nước ta nửa sau thế kỷ XX

1.4 Đã không ít các công trình nghiên cứu nhằm giới thiệu, và khẳngđịnh tài năng của Nguyễn Công Hoan ở lĩnh vực tác phẩm trên nhiều bìnhdiện như nghệ thuật xây dựng nhân vật, phong cách trần thuật, đặc điểmngôn ngữ, lời văn nghệ thuật, ngôn ngữ trào phúng, nghệ thuật truyện ngắncủa Nguyễn Công Hoan trước cách mạng, tính kịch trong truyện ngắnNguyễn Công Hoan Riêng vấn đề quan niệm của Nguyễn Công Hoan vềmột số vấn đề văn học thì mới chỉ được đề cập đến một vài khía cạnh nhỏ,

mà chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến một cách đầy đủ, toàndiện và có hệ thống Chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu này nhằm góp phầnđánh giá tài năng, phong cách và bản lĩnh văn chương của Nguyễn CôngHoan, góp phần nhận thức sự đóng góp của nhà văn lớn này cho lý luậnphê bình văn học Việt Nam thế kỷ XX

Trang 4

2 Lịch sử vấn đề

Nguyễn Công Hoan là một nhà văn lớn Sự nghiệp văn học của ôngngày càng thu hút được sự quan tâm của giới nghiên cứu Ở đây chúng tôichỉ đề cập đến những công trình nghiên cứu có đề cập đến quan đến quanniệm của Nguyễn Công Hoan về các vấn đề văn học

Sinh thời, có một đôi lần được trò truyện với tác giả Bước đường

cùng, Nguyễn Minh Châu đã có cái nhìn đầy tôn kính và sợ sệt như trước

một con khủng long đã sống từ thời cổ đại Nhà văn lão thành, con ngườitầm cỡ ấy luôn luôn có những lời khuyên hết sức chí tình và chân thành:

“Đừng bao giờ lười biếng nằm ườn ra trên một cách viết như một sự tựkhuôn định, và cũng đừng bao giờ để cho văn chương trở nên xa lạ với đờisống dân tộc của mình” [18, 205] Nguyễn Minh Châu nhắc lại lời khuyêncủa Nguyễn Công Hoan với những người viết văn: “Kinh nghiệm viết vănthì vô vàn, kể hàng ngày chưa hết Mỗi tác phẩm đều cho ta được một sốkinh nghiệm khác nhau Nghề viết văn không phải do đọc lắm kinh nghiệm

và lý luận mà thành thạo được Muốn thành thạo, trước hết ta phải làm, vàlàm nhiều Anh muốn bơi thì anh phải nhảy xuống nước mà tập Chỉ đứngtrên cạn mà hỏi cách, thì thiên vạn cổ anh chẳng biết bơi” [18, 207] NguyễnMinh Châu còn nhận thấy ở Nguyễn Công Hoan “Một nhà văn mà sở trường

là đả kích, tố cáo chế độ cũ, khi gia nhập hàng ngũ cách mạng, nghĩa là bâygiờ những lý tưởng của chế độ cũng là lý tưởng của nhà văn, nhà văn vàchế độ đã là một, thì sự rèn luyện để làm biến đổi thói quen ngòi bút phải

tự đặt ra thật nghiêm khắc” [18, 208]

Trong cuốn Nguyễn Công Hoan về tác giả - tác phẩm do Lê Thị Đức

Hạnh tuyển chọn (Nxb Giáo dục, 2003), giáo sư Phan Cự Đệ tìm hiểu quanniệm về văn học của Nguyễn Công Hoan và nhận thấy những người viếtvăn cùng thời Nguyễn Công Hoan, như Hồ Biểu Chánh, Nguyễn TrọngThuật, Vũ Đình Long vẫn còn mang nặng quan niệm văn chương để chởđạo đức, hay để dạy luân lý cho đời, nhưng Nguyễn Công Hoan đã vượt

Trang 5

qua được khuôn khổ của chủ nghĩa giáo huấn và chủ nghĩa quy phạm, tuântheo chủ nghĩa khách quan lịch sử trong khi phản ánh và bình giá hiện thực.Tuy nhiên một số truyện ngắn, truyện dài của ông vẫn có khuynh hướngchứng minh cho những luận đề đạo đức Nhà nghiên cứu nhận xét: “Có lúcNguyễn Công Hoan đã hiểu một cách đơn giản quan niệm văn học phục vụchính trị”, “nghệ thuật là phương tiện vận tải nội dung chính trị Khi ngồivào bàn viết nhà nghệ thuật chỉ còn phải nghĩ việc dùng nghệ thuật chokhéo léo để cái đề tài có tính chất chính trị ấy cho nó mềm mại, hấp dẫn màthôi” “Nghệ thuật là hình thức, chính trị là nội dung” [18, 186] Nghệ thuậtnào cũng có tính khuynh hướng, nhưng nội dung tác phẩm nghệ thuậtkhông phải chỉ là những vấn đề chính trị Nhà văn phản ánh cuộc sốngthông qua lăng kính chủ quan của mình, đó là cuộc sống sinh động muônmàu, muôn vẻ trong tính toàn vẹn và phức phức tạp của nó, chứ không phảichỉ minh họa chính trị Do quan niệm có phần còn phiến diện và đơn giảnnên đôi khi Nguyễn Công Hoan có khuynh hướng mượn nhân vật phát

ngôn cho những vấn đề đạo đức (Cô giáo Minh), hoặc chính trị (Tranh tối

tranh sáng, Hỗn canh hỗn cư), nhân vật thường bị hiện đại hoá, không có

đời sống riêng và ngôn ngữ được cá thể hoá

Vương Trí Nhàn trong bài Nguyễn Công Hoan và thể tiểu thuyết đánh

giá: “Khi kể về cuộc đời của mình, nhà văn Nguyễn Công Hoan không cólối mơn man gượng nhẹ Ông gây ấn tượng bằng cách làm ra vẻ nói tuột hếtmọi điều cả điều xấu lẫn điều tốt Thậm chí, vượt lên thói thường ông cònbất chấp dư luận, sẵn sàng đến mức trâng tráo kể lể tỉ mỉ mọi điều xấu sẵn

có ở mình Con người ông trong Đời viết văn của tôi hiện ra với hai đặc

điểm:

Thứ nhất, là thói lê la chơi bời từ đó biết nhiều biết rộng, biết từ việc

trong nhà cho đến việc kín đáo chốn quan trường, rồi việc làng quê, việcchợ búa học hành thi cử Hãy nhớ lại đoạn Nguyễn Công Hoan kể rằngmình bỏ học xuống ngồi gác đùi gác vế nói chuyện với những người lính

Trang 6

trong huyện đường Những lần tiếp xúc này để lại trong ông ấn tượngkhông bao giờ quên nổi; nếu có thể nói đến một thứ vốn sống thì ở NguyễnCông Hoan, cái vốn ấy đa tạp, vượt ra ngoài cái khả năng mà một ngườibình thường có thể có.

Thứ hai, là cái xu hướng nhìn đời theo lối khinh thế ngạo vật Ông

không coi cái gì là quan trọng, không thích tin ở những lời giáo huấn Ông

xa lạ với cách nhìn thiêng liêng theo kiểu lý tưởng hóa Ông muốn nhìngần, nhìn thẳng, nhìn tận tim đen mọi người, mọi chuyện

Cái vốn sống ấy, lối nhìn đời ấy quả thật là sự chuẩn bị tốt nhất đểông trở thành người viết tiểu thuyết Tại sao? Bởi có một đặc điểm của tiểuthuyết vốn gắn với thể tài này từ thuở ra đời, đấy là tính chất bình dân vàkhả năng sống lam lũ giữa đám chúng sinh Như các nhà nghiên cứu lịch sửtiểu thuyết đã khẳng định, thể tài vốn bắt đầu từ những câu chuyện linhtinh người ta kể với nhau ngoài đường phố Nó dông dài, nó ba vạ, nó cókhả năng chứa chấp cả cái bi lẫn cái hài, cái cao cả lẫn cái thấp hèn Vớitạng Nguyễn Công Hoan, sự đa tạp đó rất thích hợp (Đôi lúc NguyễnCông Hoan được miêu tả như là ngòi bút chỉ quen viết về những ngườicùng khổ, những phần tử thuộc loại dưới đáy trong xã hội Thật ra thì nhàvăn này đã viết đủ thứ: về người giàu và người nghèo, về cùng đinh vàquan lại, về những mối tình cành vàng lá ngọc, và những pha ghẹo gái thô

lỗ của mấy anh lính lệ phố phủ Hầu như động vào đâu, ông cũng có kinhnghiệm)” [46]

Trong Nguyễn Công Hoan và lý luận, nhân đọc hỏi chuyện các nhà văn, in trong cuốn Nguyễn Công Hoan tác giả - tác phẩm, Vương Trí Nhàn

viết: “Sinh thời, nhà văn Nguyễn Công Hoan thường công nhiên nói rằngmình không thích lý luận, không đọc và không tin lý luận lắm Có ai ngờkhông kể những tác phẩm chưa in, thì quyển sách cuối cùng được xuấtbản khi ông còn sống và cuốn sách đầu tiên in sau khi ông mất, đều thuộcloại lý luận” [18, 317] Và kết luận, ông khẳng định một điều rằng: “Các

Trang 7

nhà văn rất nên tham gia lý luận, nhất là lý luận dưới dạng kinh nghiệm”[18, 317] Theo Vương Trí Nhàn viết: “Từ mấy năm trước, Nguyễn CôngHoan đã có dịp phô diễn cách hiểu của ông về nghề nghiệp qua một tập

sách nửa tự truyện, nửa trình bày kinh nghiệm Đó là cuốn Đời viết văn của

tôi Ông nói gì ở tập sách đó? Rằng trời phú cho ông thói quen thích quan

sát và khéo kể chuyện thì ông viết Rằng viết tức là chắp nối những chuyệnmình đã biết cho sát tâm lý người đọc, khiến cho họ cầm quyển sách trêntay khỏi bỏ xuống Và hãy yên tâm, cốt sao giữ lấy cốt cách của mình, còn

ra văn chương là chuyện rất công bằng, viết hay tự nhiên có người đọc,không việc gì phải quan trọng hóa vấn đề cho thêm rắc rối Nghiêm khắc

mà nói, đó là một quan niệm còn quá hồn nhiên, và có thể nói là tự nhiênnữa Nhưng phải công nhận Nguyễn Công Hoan đã thành thật với mình

Mà đằng sau ông đã có một khối lượng sáng tác khổng lồ bảo đảm chonhững điều ông nói” [18, 370-371]

Lê Thị Đức Hạnh là nhà nghiên cứu dành nhiều tâm huyết nhấttrong việc tìm hiểu và nghiên cứu truyện ngắn và quan niệm văn học củaNguyễn Công Hoan đã nhận định: “Từ một thái độ sống dứt khoát, từmột động cơ viết rõ ràng, Nguyễn Công Hoan thường lập ý cho truyệncủa ông có tư tưởng, chủ đề cụ thể, rõ ràng, khiến người đọc dễ nhậnthấy” [18, 391] Nhà nghiên cứu còn cho biết, làm nên sức mạnh củatruyện ngắn Nguyễn Công Hoan chủ yếu là nó dễ hiểu, vì nó thực

Trong bài Nguyễn Công Hoan nhà văn hiện thực lớn Lê Thị Đức

Hạnh khái quát: “Quả là từ cái tình đối với cuộc sống nên ngay từ hồi còn ởtuổi thanh niên, giữa lúc xã hội đang còn những biến động phức tạp, tuổitrẻ rất dễ mất phương hướng, thế mà Nguyễn Công Hoan đã có một quanniệm sống đúng đắn, lành mạnh, nên khi viết văn, ông đã có quan niệmvừa giản dị vừa thiết thực: Văn chương không phải là một thứ để giải trí

Nó phải thêm một nhiệm vụ là có ích” [18, 19] Tác giả Lê Thị Đức Hạnh

Trang 8

cũng đề cập tới quan niệm của Nguyễn Công Hoan về văn chương, tuynhiên chưa thật có hệ thống

Trong công trình Nguyễn Công Hoan (1903- 1977), Nxb Khoa học xã

hội, Hà Nội, tác giả Lê Thị Đức Hạnh cũng dành một số trang bàn về quanniệm của Nguyễn Công Hoan về truyện ngắn, tiểu thuyết Nhưng phầnnhiều đi vào các thời kì sáng tác, nghệ thuật truyện ngắn và tiểu thuyết,ngôn ngữ trong tác phẩm, còn khía cạnh quan niệm của Nguyễn CôngHoan cũng chỉ đề cập trên một số phương diện nhỏ

Như vậy, có thể thấy, quan niệm về một số vấn đề văn học củaNguyễn Công Hoan là một vấn đề còn ít người bàn Bàn về tác phẩm, vềtruyện ngắn, về tiểu thuyết, về phẩm chất con người, về các thời kỳ hoạtđộng, sáng tác,… của Nguyễn Công Hoan nhiều, nhưng về vấn đề quanniệm mang tính chất lý luận của nhà văn thì rất ít người đề cập, và mới chỉ

đề cập đến ở một số khía cạnh nhỏ

Qua quá trình tìm hiểu lịch sử vấn đề, tác giả đề tài nhận thấy,nghiên cứu quan niệm của Nguyễn Công Hoan về văn học, chưa có mộtcông trình nào toàn diện, đầy đủ và sâu sắc Những nhận xét, những ý kiếnđưa ra chỉ dừng lại ở một số vấn đề về quan niệm nhỏ, và những đánh giá

sơ bộ Chúng tôi mạnh dạn đi sâu vào việc tìm hiểu quan niệm của NguyễnCông Hoan về các vấn đề văn học, trong đó tập trung vào một số vấn đềnhư: quan niệm của Nguyễn Công Hoan về bản chất của sáng tạo vănchương, về truyện ngắn và tiểu thuyết, về ngôn ngữ văn chương Việcnghiên cứu những đóng góp của Nguyễn Công Hoan trên phương diện lýluận là vấn đề thiết thực và hữu ích Nó không chỉ giúp cho người nghiêncứu sáng tỏ hơn về nhiều vấn đề lý luận và phê bình văn học ở Việt Namthế kỷ XX mà còn là chìa khóa để góp phần giải mã những ẩn số trongsáng tác của ông Giúp cho độc giả hiểu hơn những quan niệm củaNguyễn Công Hoan về văn chương và có một cái nhìn toàn diện hơn vềvấn đề này Đa số những ý kiến của Nguyễn Công Hoan về lý luận và

Trang 9

phê bình văn chương đều giản dị, chân thực, dễ hiểu, dễ đi vào lòngngười nhưng có giá trị cao.

3 Mục đích nghiên cứu

3.1 Luận văn khái quát quan niệm của Nguyễn Công Hoan về vấn

đề bản chất của sáng tạo văn chương, về truyện ngắn và tiểu thuyết, vềngôn ngữ văn chương

3.2 Lý giải những nội dung trên từ đặc điểm tác giả, một người trựctiếp sáng tác, một tài năng văn học và là người có bản lĩnh nghệ thuật lớn,

và từ lý luận phê bình, từ đời sống văn học đương thời

3.3 Đánh giá những quan niệm đó và chỉ ra những đóng góp củachúng cho lý luận phê bình và sáng tác

4 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu quan niệm văn học của Nguyễn Công Hoan được trìnhbày trong các công trình:

1 Nguyễn Công Hoan, Đời Viết văn của tôi, Nxb Văn học, 1971.

2 Nguyễn Công Hoan, Hỏi chuyện các nhà văn, Nxb Tác phẩm

mới, 1997

3 Nguyễn Công Hoan, Với nghề văn, Nxb Thanh niên, 2003.

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu văn học: thống kê,phân loại, tổng hợp, phân tích

Luận văn chú trọng phương pháp đối sánh: Đối sánh quan niệm củaNguyễn Công Hoan qua các thời kỳ, đối sánh quan niệm của NguyễnCông Hoan trong văn bản lý luận phê bình và trong sáng tác của cùng tácgiả, đối sánh quan niệm của Nguyễn Công Hoan với quan niệm của mộtvài tác giả khác

6 Đóng góp của luận văn

Trên cơ sở khảo sát những công trình có tính chất lý luận, tự thuật vềđời viết văn tiêu biểu của Nguyễn Công Hoan, luận văn tiến hành nghiên

Trang 10

cứu quan niệm của Nguyễn Công Hoan về một số vấn đề văn học Luận văn

đi vào phân tích, tổng hợp, đối sánh quan niệm của Nguyễn Công Hoan quatác phẩm của ông, nhằm khẳng định vị trí của nhà văn trong tiến trình lịch sửvăn học Việt Nam hiện đại Đồng thời, đánh giá thỏa đáng hơn những đónggóp của nhà văn đối với mảng truyện ngắn, tiểu thuyết và với sự phát triểncủa ngôn ngữ văn học dân tộc Mặt khác, nghiên cứu quan niệm của NguyễnCông Hoan trong mối liên hệ mật thiết với tư tưởng và phong cách nghệthuật của nhà văn để làm nổi bật được cá tính sáng tạo và những nét độc đáoriêng biệt của nhà văn so với các nhà văn khác

Nguyễn Công Hoan là một tác giả quan trọng, hiện nay, tác phẩmcủa ông đã được đưa vào trong chương trình dạy học Luận văn cung cấpthêm một tài liệu học tập, nghiên cứu thiết thực về quan niệm văn chươngNguyễn Công Hoan, giúp học sinh, sinh viên có thêm điều kiện tiếp cậnmột cách khoa học và trân trọng những trang viết của nhà văn

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài Mở đầu và Kết luận, nội dung luận văn được trình bày trong

ba chương:

Chương 1: Quan niệm của Nguyễn Công Hoan về bản chất của sáng

tạo văn chương

Chương 2: Quan niệm của Nguyễn Công Hoan về truyện ngắn vàtiểu thuyết

Chương 3: Quan niệm của Nguyễn Công Hoan về ngôn ngữ văn chương

Sau cùng Tài liệu tham khảo

Trang 11

Chương 1 QUAN NIỆM CỦA NGUYỄN CÔNG HOAN

VỀ BẢN CHẤT CỦA SÁNG TẠO VĂN CHƯƠNG

1.1 Vai trò và bản chất của hư cấu trong sáng tạo văn chương

1.1.1 Vai trò của hư cấu

Hư cấu là phương thức xây dựng hình tượng điển hình qua việc sángtạo ra những giá trị mới, những yếu tố mới như sự kiện, cảnh vật, nhân vậttrong một tác phẩm theo sự tưởng tượng của tác giả Đây là một yếu tốkhông thể thiếu của sáng tác văn học nghệ thuật Văn học nghệ thuật bắtnguồn từ cuộc sống nhưng không sao chép nó Từ những chất liệu thực tế,nghệ sĩ tổ chức, nhào nặn, sáng tạo ra những hình tượng nghệ thuật sinhđộng, rõ nét và điển hình hơn, tạo nên chủ đề tác phẩm

Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Hư cấu là vận dụng trí tưởng

tượng để sáng tạo nên những nhân vật, câu chuyện, những tác phẩm, nhằmphản ánh cuộc sống và thực hiện những mục đích nghệ thuật nhất định.Qua hoạt động hư cấu, nghệ sĩ nhào nặn, tổ chức chất liệu được rút ra từcuộc sống để tạo ra những tính cách, những số phận, những hiện tượngmới, những sinh mệnh mới có ý nghĩa điển hình vừa biểu hiện tập trungchân lý cuộc sống, vừa biểu hiện cá tính sáng tạo, phong cách độc đáo và ýtưởng thẩm mĩ của mình” [11, 129] Hư cấu là một trong những hoạt động

cơ bản của tư duy nghệ thuật, là một trong những khâu có ý nghĩa quyếtđịnh của quá trình sáng tạo nghệ thuật M.Gorki cho rằng, đối với nhà văn,quan sát, nghiên cứu và hiểu biết vẫn chưa đủ, còn cần phải “bịa đặt”, sángtạo ra nữa, cho nên không có hư cấu thì không thể và không tồn tại đượctính nghệ thuật Như vậy, có thể hiểu, hư cấu là một hoạt động cơ bản, tấtyếu của sáng tạo nghệ thuật Hư cấu đóng một vai trò quan trọng trongsáng tạo các giá trị văn học

Trang 12

Hư cấu nghệ thuật là một thao tác nghệ thuật không thể thiếu trongsáng tạo của tiểu thuyết Hư cấu nghệ thuật chính là quá trình tập hợp, lựachọn, sắp xếp tài liệu từ nhiều hiện tượng khác nhau, trên cơ sở đó thôngqua trí tưởng tượng nhà văn sáng tạo ra một hiện tượng cá biệt mới, hiệntượng này thể hiện được bản chất đời sống một cách sinh động, trong sáng

và tập trung Có thể gọi quá trình xây dựng một tác phẩm văn chương làquá trình hư cấu nghệ thuật Điều này càng khẳng định thêm rằng, tác phẩmnghệ thuật không phải là sự đơn thuần chụp ảnh máy móc cuộc sống, haykiểu “thấy gì ghi nấy” tùy tiện được Từ đó đặt ra một vấn đề, một yêu cầuquan trọng không thể thiếu được, đồng thời, đó là yêu cầu thể hiện tài năng,trí tưởng tượng - sáng tạo của nhà văn

Hư cấu nghệ thuật không hề mâu thuẫn với hiện thực, trái lại, nó làmcho nghệ thuật gần cuộc sống hơn, chân thực hơn, phong phú hơn Bởi, hưcấu không gì khác hơn là sự chắt lọc tính chất cuộc sống, sắp xếp chúng lạitrong một cơ cấu nhất định, dưới ánh sáng của một lí tưởng nhất định Hưcấu như là một ống kính kỳ diệu soi cho thấy bản chất của đời sống, gạt rangoài những gì là ngẫu nhiên, đang che lấp cái bản chất, chỉ ra lối đi lêncủa cuộc sống mà chính nó đang manh nha ở ngoài đời M.Gorki từng nói

về vai trò của cảm xúc và tưởng tượng cá nhân trong sáng tạo nghệ thuậtmột cách hóm hỉnh, đại ý rằng: Nếu một bài thơ viết về chiếc bánh mỳ màkhông có gì khác chiếc bánh mỳ thì người ta sẽ chọn chiếc bánh mỳ chứkhông ai chọn bài thơ cả

Người nghệ sỹ có quyền hư cấu dựa trên cảm xúc tưởng tượng vànhững kinh nghiệm chủ quan của mình Nói một cách chính xác hơn, anh tahoàn toàn có quyền tái hiện cuộc sống theo cách riêng của mình Điều quantrọng chỉ còn là mức độ và giới hạn cho phép người nghệ sỹ hư cấu khisáng tạo các sự kiện, hình tượng nhân vật trong tác phẩm văn học nghệthuật để làm sao cho công chúng có thể tiếp nhận Điều đó hoàn toàn phụthuộc vào tài năng sáng tạo của người nghệ sỹ

Trang 13

Mỗi nhà văn đứng trước các vấn đề xã hội có cách nhìn, cách nghĩkhác nhau, nhất là cách khai thác và cách thể hiện thành tác phẩm thìkhông ai giống ai Là người sáng tác, Nguyễn Công Hoan có một cái nhìnrất giản dị nhưng lại bao quát sâu sắc về vai trò của hư cấu trong sáng tạovăn chương Ý thức được vai trò của hư cấu là bản chất của sáng tạo nghệthuật nên Nguyễn Công Hoan cũng giống như các tác giả khác rất coi trọng

sự khổ công sáng tạo, tìm tòi của người nghệ sĩ trong sáng tác

Nguyễn Công Hoan nhấn mạnh vai trò của hư cấu Ông cho rằng:

“Hư cấu là nguyên lý cơ bản của văn học, nhưng mức độ pha chế có khácnhau trong từng thể loại Hư cấu làm cho sự thật cô đọng hơn, tập trunghơn, thật hơn sự thật Cho nên, trong một bút ký hay một truyện ngắn, nếutập trung được cho sự việc tốt đẹp hơn, cho nhân vật có tâm hồn cao hơn,thì tác động mới mạnh mẽ đến người đọc” [21, 78] Từ những chi tiết cóthật nhà văn sáng tạo, chắt chiu, gạn lọc lấy những nét độc đáo, gây được

ấn tượng sâu ở người đọc

Trong quan niệm văn chương, Nguyễn Công Hoan bao giờ cũng xem

hư cấu có vai trò và ý nghĩa quan trọng Hư cấu không chỉ giúp cho nhàvăn sáng tạo nghệ thuật mà còn là cơ sở để xây dựng cốt truyện, khám phánhững vấn đề của cuộc sống Với sở trường nhanh nhạy, biết nắm bắt, sànglọc những vấn đề của cuộc sống, nên khi va chạm với thực tế cuộc sống,Nguyễn Công Hoan luôn luôn có ý thức tìm ra vấn đề để xây dựng cốttruyện Sẵn có trong mình con mắt nhìn cuộc đời và xã hội hài hước, kếthợp với thái độ bi quan nên ông luôn nhận thấy trong xã hội: “Cái gì cũnggiả dối, đáng khôi hài Thế mà, thằng làm trò khôi hài là thằng thực dân lạilàm ra mặt nghiêm chỉnh Thật là buồn cười” [28, 367] Quan niệm đó giúpông rất nhạy bén trong việc tìm ra những thói hư tật xấu, mang đậm chấthài, giàu kịch tính

Nguyễn Công Hoan rất đề cao vai trò của hư cấu Nhờ hư cấu, ông

đã giới thiệu với bạn đọc nhiều bức tranh về những người, những việc,

Trang 14

những hình ảnh đầy đủ hơn, bao quát hơn, tập trung hơn cuộc sống do đó

mà tiêu biểu hơn cho thực tế, sinh động hơn, hấp dẫn hơn

Nguyễn Công Hoan cho rằng hư cấu, tưởng tượng nhằm đem đếncho người đọc những cảm xúc chân thực, nóng hổi tính thời sự Sáng tạonghệ thuật, người làm nghệ thuật phải có cái tâm Dù tài năng trong sángtạo nhưng thiếu cái tình đối với cuộc sống thì cũng không đem lại hiệu quả.Bởi vậy, theo ông, chỉ khi nào tác giả thực sự xúc động thì mới truyền được

xúc động cho người đọc Ông cho biết khi viết truyện Tắt lửa lòng: “Nhiều

đoạn tôi thấy lòng dào dạt, muốn chảy nước mắt, vợ tôi biết truyện tôi bịa

mà khi đọc cũng giàn giụa nước mắt” [28, 164]

Về điểm này, có thể thấy giữa Nguyễn Công Hoan và Bùi Hiển có sựgặp gỡ Nhà văn Bùi Hiển cho rằng: “Viết đến đoạn nào mà tác giả cảmxúc mới làm cho độc giả cảm xúc, mới tìm được chữ đúng, mới đặt đượccâu xứng đáng, để đưa cái hơi văn đến vừa chỗ làm người đọc dạt dào, naolòng Cũng như khi anh tả một việc ngộ nghĩnh, chính anh cũng phải buồncười trước” [21, 76] Bản thân nhà văn này cũng từng suýt chảy nước mắttrước những đoạn cảm động dù do chính mình hư cấu ra: “Tôi xúc độngngay với cái truyện mà chính mình bịa ra Có được trường hợp ấy tôi thấysảng khoái lắm Cho nên viết bằng thái độ, cho chữ có hồn là việc mà tôihết sức cố gắng” [21, 76]

Trong sáng tạo các tác giả đều quan tâm đến vai trò của hư cấu, xem

hư cấu như là một nguyên lý cơ bản của sáng tác văn chương TheoNguyễn Công Hoan hư cấu giúp cho nhà văn mài giũa được tài năng củamình, thể hiện được vốn sống, vốn văn hóa và nâng cao nghệ thuật viếtvăn, giúp cho nhà văn thể hiện được cuộc sống đa dạng và phong phú, vàphản ánh cuộc sống một cách sáng tạo, không giản đơn máy móc

Trong hư cấu, tác giả có thể sử dụng các biện pháp cường điệu, khoatrương, phóng đại, nhân hóa,… để đạt được hiệu quả nghệ thuật cao nhất,thể hiện được ý đồ nghệ thuật của mình Hoạt động hư cấu đưa lại những

Trang 15

hình tượng nghệ thuật hấp dẫn Vì vậy, giá trị của hư cấu nằm ở tính tưtưởng, chủ đề tác phẩm và tài năng khái quát hiện thực của nhà văn.

Tóm lại, hư cấu, tức là sự bịa đặt, tưởng tượng đóng một vai trò hếtsức quan trọng trong sáng tạo văn chương Những vấn đề về hư cấu tuy nhàvăn Nguyễn Công Hoan không viết thành mục, thành chương cụ thể nhưngqua những vấn đề mà nhà văn đề cập tới ta thấy Nguyễn Công Hoan coitrọng sự khổ công sáng tạo, tác giả nhận thấy, dù vất vả, khổ sở, song lạicũng rất sung sướng Sung sướng không chỉ vì được tận hưởng cái thú làmviệc mà còn vì nhà văn được sống với nhiều cuộc đời, nhiều số phận vàđược trải nghiệm ở nhiều tính cách khác nhau

1.1.2 Bản chất của hư cấu

Cuộc sống là cội nguồn phát sinh và mang lại sức sống cho vănchương Văn chương nảy sinh trong lòng đời sống xã hội, là sản phẩm của

xã hội Bởi vậy, phải tìm bản chất của văn chương ở trong đời sống xã hội.Các nhà lý luận đặc biệt quan tâm đến vấn đề này Nguyễn Công Hoan làngười sáng tạo văn chương đồng thời là người viết lí luận bàn về bản chấtcủa sáng tạo văn chương Ngoài những điểm gặp gỡ với các nhà văn khác,quan niệm của ông có những điểm riêng, độc đáo, khác biệt

Qua hồi ký kể về những kinh nghiệm viết văn của mình, có thể thấy,quan niệm của Nguyễn Công Hoan về bản chất của sáng tạo văn chươngchân thành và nghiêm túc: “Viết bằng sự thật, trung thành với sự thật màkhông sợ áp lực của bọn cường quyền” [28, 132] Những tài liệu sáng tácđều được lấy từ trong đời sống thực tế Theo ông: “Những tài liệu ấy do tatrải qua, hoặc mắt ta nhìn thấy, hoặc tai ta nghe thấy đều là những việc thật.Theo tôi nghĩ nôm na thì tiểu thuyết là một truyện bịa y như thật Nhà tiểuthuyết là người biết bịa truyện Bịa hay đặt, cũng đều là do lao động sángtạo Mà sáng tạo cũng không thể ngoài thực tiễn của lao động” [28, 146]

Hoàng Trung Thông khuyên: “Đừng ai hiểu nhầm câu nói của anh

“tiểu thuyết là bịa mà y như thật” Đó là anh không thích dùng chữ hư cấu

Trang 16

đó thôi Anh không bịa chút nào Anh rất thời sự Anh chỉ viết những điềumắt thấy tai nghe, viết những điều có thực trong cuộc đời, với sự sáng tạocủa riêng anh và mọi người đều nhận thấy đó là sự thật” [18, 211] Sự thật

đã được Nguyễn Công Hoan nhào nặn theo cách riêng của mình Nó tạothành một dấu ấn riêng mang phong cách Nguyễn Công Hoan

Quan niệm của Nguyễn Công Hoan về bản chất của sáng tạo rất độcđáo: “Bịa, tức là hư cấu, nghĩa là sáng tạo ra những nội dung không để sựviệc như nguyên nó Phải làm cho nó bổ ích, đó là lao động bằng trí óc.Còn “y như thật” là đúng như mọi người thường thấy, nghĩa là “đúng ở chitiết, đúng ở toàn thể các sự việc Nó đòi hỏi sự sống, hoàn cảnh sống vànếp sống Sự sống bảo ta viết thế nào (tài liệu) Hoàn cảnh sống bảo ta viếtcho ai (nghệ thuật viết hợp với đối tượng) Nếp sống bảo ta viết cái gì, phục

vụ thế nào (nội dung, lập trường, thái độ)” [28, 146] Tóm lại, theo quanniệm của nhà văn, bản chất của hư cấu, là bịa như thực

Có khi ông nhấn mạnh: “Những sự thực xảy ra ở đời nếu chỉ trần lần

sự thực thì nó tầm thường, chẳng có gì là lạ, là hay, là đáng để viết tiểuthuyết Cho nên nếu muốn viết tiểu thuyết thế nào cũng phải bịa Bịa, nghĩa

là chắp vá từng mảnh nhặt ở chỗ này, chỗ khác cho hợp lý để nó thành tất

cả, hoặc trong cái tất cả sẵn có thêm bớt từng mảnh cho hợp lý để nó khôngtầm thường Hợp lý cũng có nghĩa là thực Nếu câu chuyện ví như cái áobằng vải to, thì những mảnh chắp vá hoặc thêm bớt không nên là gấm làlen Gấm, len có đẹp hơn, bền hơn vải to, nhưng để vào đó không đúngchỗ, hóa ra vô lý, chướng mắt Ai cũng biết rằng anh mặc vải to, không cógấm và len để vá Sở dĩ anh có là do anh đã đi xin” [28, 146]

Cách trình bày quan niệm của Nguyễn Công Hoan rõ ràng, chân thực

và đơn giản Có khi ông cho rằng: “Dù là bịa bằng cách chắp vá nhữngmảnh truyện cho nó thành một truyện, hay bằng cách thêm bớt những mảnhtruyện ở trong một câu chuyện, thì cũng phải bịa bằng sự thực, mới đúng

Trang 17

và mới hợp với tâm lý, với ngữ ngôn, với sinh hoạt, với hoàn cảnh nhân vậttrong truyện và tình tiết của truyện” [28, 146]

Quan niệm về bản chất hư cấu trong sáng tạo văn chương củaNguyễn Công Hoan rất chân thành, giản dị và mộc mạc Vì vậy, những câyviết trẻ đến ông học tập được nhiều từ những điều tưởng như đơn giản ấy

Trong các truyện cổ như thần thoại, cổ tích, tác giả dân gian cũng hưcấu tưởng tượng bằng tinh thần say mê lí giải về hiện thực hết sức hồnnhiên và ấu trĩ, thì các nhà văn hiện đại tưởng tượng, hư cấu trên cơ sở củahiện thực, bằng tinh thần lí giải, phân tích hiện thực trên cơ sở của lí trí vàkhoa học Mỗi nhà văn có cách phân tích và lí giải hiện thực khác nhau.Với Nam Cao, sự lí giải ấy hoàn toàn tỉnh táo, khách quan, còn vớiNguyễn Công Hoan, sự lí giải ấy đôi khi có phần chủ quan, tình cảm củaông dành và nghiêng nhiều về phía những người nghèo khổ, thấp cổ béhọng trong xã hội

Quan niệm như vậy nên Nguyễn Công Hoan viết truyện bằng sựthực, viết với tất cả tấm lòng, với tất cả tình thương những người nghèokhổ, những người bị áp bức, bị chà đạp Tính xã hội kết hợp với tinh thầnnhân đạo quyện chặt trong sáng tác của ông tạo ra nét độc đáo riêng biệt.Những vấn đề ông quan tâm và khêu gợi được nguồn hứng của ông trongcác truyện là sự xung đột giàu nghèo trong xã hội đương thời Đây là chủ

đề phổ biến trong hầu khắp các tác phẩm của ông từ truyện ngắn đến truyệndài Ngòi bút của ông bao giờ cũng nghiêng về phía người nghèo và dànhcho họ sự cảm thông sâu sắc

Chẳng hạn, truyện Thằng ăn cắp là một truyện linh hoạt và bình dị

vô cùng Dưới ngòi bút của nhà văn, tưởng chừng như đó là sự thực chẳngchút hư cấu nào, người đọc tưởng như thấy ngay trước mắt cảnh tả trêntrang giấy

Đây là một thằng nửa ăn mày, nửa ăn cắp “ra trò” giữa đám hàng rong:

“Một hôm nó vơ vẩn giữa đám hàng rong

Trang 18

Thấy nó, bà hàng rau đứng dậy, quẩy gánh lên vai, đi chỗ khác Bàhàng thịt sờ lại ruột tượng Bà hàng bún nắn lại túi tiền Bà hàng lê bấm côhàng bánh đúc Chị bán bánh rán đưa mắt cho bác bán khoai.

Họ thì thào:

- Thằng ăn cắp!” [29, 129]

Ấy là khi nó mới sán lại gần mà đã gây ra một loạt hoạt động, và sựliên kết sinh động của những người bán hàng

Dẫu nhà văn miêu tả thằng ăn cắp, nhưng cả một cảnh sống thực bày

ra trước mắt chúng ta Lối tả tỉ mỉ các chi tiết là một đặc điểm của phươngpháp sáng tác hiện thực Nguyễn Công Hoan Câu chuyện kết thúc một cáchrất đột ngột Hai xu bún riêu, một trận đòn nhừ tử Người đọc cảm giác xót

xa, thương cảm nhưng cũng đầy căm phẫn chế độ xã hội coi nhẹ giá trị conngười, coi mạng người như cỏ rác

Như vậy, theo quan niệm của Nguyễn Công Hoan: “Một việc có thậttrên đời nếu chỉ trần lần sự thật, thì nó ngay đuồn đuỗn, mộc mạc, không có

gì là hay Anh nào dại mà lại dùng nguyên để viết nó thành truyện ấy sẽhoặc sơ lược, hoặc công thức, hoặc tầm thường, nhạt hoét Giá anh ấy bịmắng cũng không oan! Ai bảo anh cho người ta ăn thịt sống? Anh phải nấunướng, thêm mắm muối, hành mỡ cho ngon lành chứ?” [27, 11-12] Quatác phẩm của ông người đọc thấy, bản chất của hư cấu là sự thực đượcthêm thắt, tô vẽ, chỉnh sửa Theo cách nói của Nguyễn Công Hoan là phảicho thêm “mắm muối, hành mỡ” thì nó mới trở thành văn chương một cáchsáng tạo Sáng tác của Nguyễn Công Hoan đem đến cho người đọc nhữngcảm xúc chân thực, nóng hổi tính thời sự qua những cảnh, những người,những việc tập trung tiêu biểu cho thực tế cuộc sống, hoàn toàn không phảinhững sao chép cuộc sống một cách tầm thường

Quan niệm về hư cấu của Nguyễn Công Hoan cũng rất gần gũi vớiquan niệm về hư cấu của các tác giả văn học hiện đại Nhà phê bình ĐỗNgọc Thạch nhấn mạnh rằng: Chức năng cơ bản của tiểu thuyết hiện đại

Trang 19

không phải là “minh họa” bằng một câu chuyện, một quan niệm về thế giớihay về lịch sử đã được xác lập, mà là làm phát lộ, bằng những con đườngđặc trưng của nó, “cái mà chỉ có tiểu thuyết mới nói được”; vấn đề là làmcho bật ra cái không được nói bởi chính sử, các vùng trải nghiệm của conngười mà các nhà sử học đã bỏ qua; là phá vỡ những điều đã được coi làniềm tin chắc chắn, các tính chính thống, các quan niệm về thế giới đãđược thiết lập; là thám hiểm mặt lật ngược hay mặt trái của cái hình ảnh mà

xã hội chúng ta đã tự xây dựng về chính mình, vì đó mới thật là chứcnăng riêng của tiểu thuyết, vì ngoài tiểu thuyết ra không có bất cứ loại diễn

từ nào khác còn có thể làm được

Nhà văn Trần Hoài Dương cho rằng: Nhà văn hoàn toàn có quyền hưcấu, tưởng tượng, nhưng cái cốt lõi là bản chất của nhân vật lịch sử, sự kiệnlịch sử phải được tôn trọng Mọi hư cấu, tưởng tượng của nhà văn rốt cuộccũng chỉ để đạt được yêu cầu tối thượng sao cho nhân vật lịch sử ấy, sựkiện lịch sử ấy bộc lộ đúng nhất bản chất cốt lõi của mình

Từ quan niệm đó, ta thấy có sự gặp gỡ giữa Nguyễn Công Hoan vàcác tác giả khác Đề tài nhà văn khai thác không phải nảy sinh từ cảm xúcbâng khuâng, trước trăng, gió, mây, nước, mà bắt nguồn trực tiếp từ nhữngđiều ngang trái, bất công xảy ra trong xã hội, từ những nhân vật, nhiều khi

có tên tuổi, đang sống sờ sờ trước mắt mọi người Dù là sự thật hay hư cấutưởng tượng thì cũng nhằm mục đích đem lại cho người đọc bức tranh chânthực về cuộc sống Chính vì vậy, nghệ thuật hiện thực của truyện NguyễnCông Hoan xuất phát từ sự chân thành trong tư tưởng, tình cảm và thái độsống của nhà văn Ông cũng đã từng nói về động cơ sáng tác của mình:

“Ngoài tất cả, còn lại một động cơ quan trọng hơn hết, nó đến với tôi lúcnào không biết, nó đến rất tự nhiên, rất kín đáo, trở thành động cơ chỉ đạo.Tức là lòng muốn viết những cái mà mình thấy cần viết Không viết, không

an tâm Không viết thì bứt rứt, hậm hực, thấy canh cánh bên lòng, thiếunhiệm vụ của người cầm bút” [28, 300] Ông nhấn mạnh: “Không viết còn

Trang 20

là che giấu cho đối phương một tội lỗi mà chỉ mình mình biết, mình thấy.Viết được ra thì lòng nhẹ nhàng, thanh thoát, sung sướng, kiêu hãnh Bởi vìmình vừa trút được ra giấy trắng, mực đen, để truyền tới độc giả, cái tâm

sự, cái tình cảm, cái ý kiến, cái thái độ của mình đối với một nhân vật, một

sự việc mà mình xúc động” [28, 300]

Nhìn chung, về cơ bản, quan niệm của Nguyễn Công Hoan về bảnchất của hư cấu trong sáng tạo văn chương có những điểm gần gũi với quanniệm của các nhà văn hiện đại, dẫn tới những thành công trong sáng tác củaông Tuy nhiên, bên cạnh những thành công thì vẫn còn bộc lộ những hạnchế nhất định: trong khi lựa chọn các chi tiết chân thực, cụ thể, thì ngòi bútNguyễn Công Hoan đôi lúc không tránh khỏi những chi tiết thiếu chọn lọc,làm hạn chế giá trị, ý nghĩa của truyện

Từ việc tìm hiểu quan niệm của Nguyễn Công Hoan về vai trò vàbản chất của hư cấu, có cơ sở đi sâu hơn trong việc khám phá bản chất củasáng tạo văn chương, tìm ra liên hệ giữa cái thực của cuộc sống và cái thựctrong văn chương

1.2 Cái thực của cuộc sống và cái thực trong văn chương

1.2.1 Sự tương đồng giữa cái thực trong cuộc sống và cái thực trong văn chương

Mác cho rằng: “Vận động của tư duy chỉ là sự phản ánh của vậnđộng hiện thực được di chuyển vào và được sự cải tạo trong đầu óc của conngười” [42, 70] Kế thừa quan điểm đó, Lênin viết: “Kết luận duy nhất củamọi người rút ra trong đời sống thực tiễn, kết luận mà chủ nghĩa duy vậtlấy làm cơ sở cho nhận thức luận của mình một cách tự giác là: có nhữngđối tượng, vật thể, tồn tại ở ngoài chúng ta, không lệ thuộc vào chúng ta, vàcảm giác của chúng ta đều là hình ảnh của thế giới bên ngoài” [42, 71].Như thế có nghĩa hiện thực là nguồn gốc của nhận thức, của ý thức Mà vănchương là một hình thái của ý thức, một hình thức của nhận thức, do đó,đời sống là mảnh đất màu mỡ nuôi dưỡng nghệ thuật Cho nên, xét đến

Trang 21

cùng, bất kì nền văn nghệ nào cũng hình thành trên cơ sở của hiện thựcnhất định Bất kì một nghệ sĩ nào cũng thoát thai từ một môi trường sốngnào đó Bất kì tác phẩm nào cũng là sự khúc xạ những vấn đề trong cuộcsống Do đó, sự tương đồng giữa cái thực trong cuộc sống và cái thực trongvăn chương là một thuộc tính tất yếu của văn nghệ, một quy luật bắt nguồn

từ hiện thực khách quan

Xã hội Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 đầy biến động phức tạp Saukhi thực dân Pháp đặt ách cai trị và tiến hành các cuộc khai thác thuộc địathì cơ cấu xã hội thay đổi Một số giai tầng xã hội mới xuất hiện (côngnhân, trí thức, tiểu tư sản, tư sản,…) làm thay đổi kết cấu xã hội Đặc biệt,

để dễ dàng áp đặt chính sách cai trị, thực dân Pháp đã tạo ra các phong trào

xã hội nhằm ru ngủ nhân dân, đánh lạc hướng tinh thần đấu tranh của quầnchúng Sự ảnh hưởng mạnh mẽ của văn hóa phương Tây đặc biệt là vănhóa Pháp đã tạo nên sự lai căng, tính chất “Âu hóa” làm xã hội xô bồ, gấpgáp Các phong trào “Âu hóa” vui vẻ trẻ trung, các hội mang tính chất cảilương như hội “ánh sáng”, “hướng đạo” được lập ra Các phong trào đókhông ngừng cổ súy cho quan điểm canh tân giả tạo mà chủ yếu là học đòibắt chước văn hóa phương Tây vào xã hội Việt Nam Tất nhiên, những yếu

tố ngoại lai đó khi du nhập vào xã hội Việt Nam sẽ gây ra những hiệntượng kệch cỡm, trái với thuần phong mỹ tục mấy ngàn năm phong kiếncủa người Việt Lối sống lai căng được lớp trẻ hưởng ứng, học đòi nhiềulúc trở nên không thể chấp nhận được đối với những ai yêu văn hóa truyềnthống

Chẳng hạn, tầng lớp thanh niên mới, những cậu ấm, cô chiêu đượcmớm cho một ít tinh thần tự do hôn nhân, tự do tình ái liền lao vào thực hànhngay với thứ tình yêu chỉ cần xác thịt bất chấp sự phản đối của đông đảo dưluận trong xã hội Những hiện tượng suy đồi đạo đức ngày càng diễn ra côngkhai, trở thành những điều chướng tai gai mắt hàng ngày Tầng lớp quan lạimới làm tay sai cho chính phủ thực dân vốn rất thạo đời trong việc bòn rút,

Trang 22

đục khoét, nhũng nhiễu nhân dân nay lại được bổ sung thêm những tư tưởngmới: thực dụng, học đòi làm sang, khoe mẽ,… cũng góp phần làm cho bứctranh xã hội thêm phần nhố nhăng, kệch cỡm Bọn tư sản mới phất lên chạytheo đồng tiền mà bỏ quên mọi giá trị đạo đức Với chúng, tất cả đều đượcquy thành giá tiền Bên cạnh đó, một tầng lớp trí thức tiểu tư sản được nhồinhét thứ văn hóa phương Tây đồi trụy cũng không ngừng hò hét cổ súy cholối sống mới, làm cho xã hội càng trở nên hỗn loạn, đảo điên Trước sự thayđổi quay cuồng đó, một số bộ phận thanh niên không còn khả năng nhậnthức về chân giá trị của cuộc sống, ngày càng sa ngã vào thế giới tối tăm,trụy lạc

Bên cạnh đó, thời kì này, các khái niệm mới như “nhà thổ”, “mọcsừng”, “bàn đèn”, “sòng bạc”,… đã không còn xa lạ Chúng trở thànhnhững hiện tượng phổ biến, đặc biệt là ở các đô thị lớn Còn ở nông thôn,người nông dân ngày càng bị bần cùng hóa, u mê dưới sự cai trị và bóc lộtcủa thực dân, phong kiến Khung cảnh làng quê trở nên tiêu điều, xơ xác.Tình cảnh “bán vợ đợ con” trong mùa sưu cao thuế nặng diễn ra phổ biến.Bọn cường hào, địa chủ dùng mọi thủ đoạn, ra sức bòn rút, bóc lột ngườinông dân để làm giàu cho mình Thực tế ấy ngày càng trở nên phổ biến vàtrầm trọng Xã hội Việt Nam biến thành một mớ hỗn độn, nhếch nhác bởi

sự đảo lộn của các chuẩn mực cuộc sống Thực trạng này trở thành vấn đềnhức nhối đối với những ai còn có lương tri, danh dự và tinh thần dân tộc

Hiện thực xã hội đó đã làm nảy sinh nhiều các trào lưu văn học,trong đó văn học hiện thực phê phán là một trong những trào lưu tiêu biểucủa văn học Việt Nam thời kỳ 1930 - 1945

Bối cảnh lịch sử xã hội thực dân phong kiến hầu như đã chi phối tất

cả quan niệm, cách nhìn, cách cảm nhận, suy nghĩ của một thế hệ các nhàvăn trước Cách mạng Trong thời kỳ này, văn học Việt Nam đã có nhữngchuyển biến, tìm tòi bước đầu tự điều chỉnh, đổi mới cho phù hợp với nhucầu thực tế về tư tưởng và tình cảm của xã hội Nhiều khuynh hướng văn

Trang 23

học đã xuất hiện Bên cạch đó là sự nở rộ của các tài năng văn học, bằngcác sáng tác của mình đã kịp thời phản ánh những mâu thuẫn gai góc nhấttrong đời sống xã hội Từ đó bày tỏ quan niệm của mình về những vấn đềmang tính chất lí luận của văn chương.

Nguyễn Công Hoan là nhà văn thuộc lớp kỳ cựu, cầm bút từ trước

1930, có vốn sống phong phú và sức viết dồi dào Ông đã đến với chủnghĩa hiện thực Những truyện ngắn và tiểu thuyết của ông phản ánh và tốcáo hiện thực xã hội xấu xa, suy đồi Qua đó, nhà văn thể hiện một hệthống quan niệm của mình về những vấn đề đúc rút từ thực tiễn, kinhnghiệm của người sáng tác Theo ông, truyện muốn hay thì trước hết phảithực Viết truyện, dù bịa bằng cách chắp vá hay thêm bớt thì cũng phải bịatrên cơ sở sự thực, thì mới hợp với tâm lý, với ngữ ngôn, với sinh hoạt, củanhân vật trong truyện và tình tiết của truyện

Nguyễn Công Hoan cũng như các nhà văn hiện thực khác luôn nhậnthấy mối quan hệ tương đồng giữa cái thực của cuộc sống và cái thực trongvăn chương Về vấn đề này, quan niệm của Nguyễn Công Hoan khá gầngũi với quan niệm của Nam Cao, Thạch Lam Trong số những nhà văn hiệnthực trước Cách mạng tháng Tám 1945, Nam Cao là người rất có tráchnhiệm với ngòi bút của mình Trong suốt cuộc đời lao động văn chương,nhà văn luôn suy nghĩ “sống và viết”, Nam Cao sớm nhận biết tính chất giảdối, phù phiếm của thứ văn chương “thơm tho”, chỉ gợi những cảm giác rấtnông và nhạt Bởi vậy, Nam Cao đã kiên quyết đoạn tuyệt với nó và đếnvới chủ nghĩa hiện thực Với Nam Cao, từ bỏ chủ nghĩa lãng mạn tức là từ

bỏ con đường thoát li, hưởng lạc ích kỷ, phản bội nhân dân lao động; lựachọn chủ nghĩa hiện thực, có nghĩa là trở về chỗ đứng của mình với những

con người nghèo khổ mà nhà văn xem như ruột thịt Trong Trăng sáng,

Nam Cao xem nghệ thuật phải là “tiếng đau khổ kia thoát ra từ kiếp sống

lầm than”, chứ không phải là “món giải trí của những người đàn bà nhàn nhã ngã mình trên những chiếc ghế xích đu nhún nhảy” (Trăng sáng) Là

Trang 24

một nhà văn chân chính, Nam Cao bao giờ cũng đặt cuộc sống lên trênnghệ thuật Nam Cao tự nhủ phải sống cho đúng thì viết mới đúng Khithực dân Pháp trở lại xâm lược đất nước ta, Nam Cao muốn “vứt cả bút đi

để cầm súng”, nhà văn cảm thấy “Nếu như chưa cầm súng một phen thì cầm bút cũng vụng về” (Bút ký Đường vô nam -1946)

Một trong những phẩm chất cơ bản của văn chương chân chính là

sự gần gũi với cuộc sống Có thể xem đây là một trong những đặc trưngchủ yếu của văn chương nghệ thuật Bởi, trong văn chương, cuộc sốngđược thể hiện một cách toàn vẹn, với tất cả tính chất sinh động, phức tạp,nhiều màu, nhiều vẻ của nó Thạch Lam khẳng định: “Cái khuynh hướngcủa tiểu thuyết bây giờ là hết sức gần sự sống để linh hoạt và thật nhưcuộc đời” [9, 507]

Cũng giống như Nam Cao, Thạch Lam, Nguyễn Công Hoan quanniệm, phải sáng tạo cái mới và đạt tới mức sâu sắc Cái mới tuyệt nhiênkhông phải là cái lạ lẫm, cái lập dị, tồn tại thuần túy tự thân; mà phải vì conngười, vì sự thật, vì thiên chức cao quý của nghệ thuật Về cơ bản, quanniệm văn chương của Nam Cao cũng giống như quan niệm của NguyễnCông Hoan, có sự tương đồng giữa cái thực trong cuộc sống và cái thựctrong văn chương Dường như các nhà văn đều có điểm tương đồng trongquan niệm sáng tạo văn chương, văn chương đều phải xuất phát trên cơ sởcủa hiện thực Vì vậy, đọc văn Nam Cao ta kinh ngạc về tính chân thực,điều đó khiến cho tác phẩm của nhà văn có sức thuyết phục mạnh mẽ Nhàvăn Thạch Lam quan niệm: “Đọc một truyện, một tờ báo, đầy những lờidạy bảo về tam cương ngũ thường thì đọc ngay một cuốn luân lý cho xong,người ta đã chán chường những văn chương như thế, người ta chỉ ham mênhững truyện chỉ cốt tả sự thật, không giảng luân lý, không dạy ai gì hết.Một quyển truyện, một tờ báo muốn người ta ham đọc cần phải làm chongười ta vui hoặc người ta cảm động, mà muốn làm cho người ta cảm độngthì cần phải đúng sự thật” [50, 24]

Trang 25

Nhà văn Nguyễn Công Hoan phát biểu: “Nhà văn có nhiệt tình thì mớiviết được, nhưng muốn viết cho đúng, nghĩa là đừng sai sự thực” [28, 300] Ýkiến này khẳng định vai trò của hiện thực trong sáng tác văn chương.Truyện của Nguyễn Công Hoan lấy đề tài chủ yếu từ cuộc sống hiệnthực đông đặc trước mắt Ông viết: “Đề tài truyện ngắn của tôi là nhữngviệc, những cảnh xảy ra trước mắt Thường là một câu nói, một hình ảnh,một chi tiết, một tấm ảnh, một câu thì thào từ miệng nọ sang miệng kia”

[28, 335] Ông cho biết mình viết truyện Sáu mạng người do một tên

quan hỏi thẻ sáu người đi bán chè sớm Họ không có thẻ, sợ quá, bỏchạy Hắn sai lính bắn chết Thế mà không hiểu, trình báo lếu láo thế nào,

ít lâu sau hắn được thăng án sát Đến truyện, Chương trình năm năm là do

ông thấy tên tổng đốc họ Hoàng ở Hà Đông, vẽ vời cải cách, bắt các lànglập ấu trĩ viên, nhưng thực ra chỉ là trò chơi ai cũng khó chịu Rồi nhiềutruyện ngắn khác nữa Trong truyện dài của ông cũng có nhiều hiện tượng

tương tự Ví dụ như truyện Nợ nần là chuyện dựa vào cuộc đời thực của bà

dì ruột Hay như truyện Một công trình vĩ đại, được lấy từ việc làm của

Vĩnh Cẩn (em ruột Bảo Đại), âm mưu cướp vợ người ta, nhưng không

được và còn bị nhục Rồi truyện Lá ngọc cành vàng có nhiều sự việc có

thật, ông lấy trong cuộc sống thực của họ hàng bên ngoại

Cũng giống nhiều tác giả nổi tiếng như Sêkhốp, G.Maupasant…Nguyễn Công Hoan quan niệm: truyện phải viết trên cơ sở một mẫu người,một câu chuyện có thật Tất nhiên như thế không có nghĩa là bản thân tàiliệu quyết định mà vấn đề là ở chỗ cách sử dụng tài liệu của nhà văn nhưthế nào Nguyễn Công Hoan với khả năng quan sát hiện thực nhanh nhạy,lại nhờ mối thiện cảm, ác cảm khá đúng đắn, nên nhiều truyện của NguyễnCông Hoan đã trở thành bức tranh sinh động về xã hội đương thời Baonhiêu cái xấu xa, tàn nhẫn, mục nát, rởm hợm cùng những điều thươngtâm, ai oán dưới chế độ thực dân phong kiến cứ hiện ra tự nhiên, phong phúdưới ngòi bút tài tình của nhà văn

Trang 26

Để những sáng tạo của mình đến và đọng trong lòng công chúng,nhà văn phải có một vốn sống đa dạng, dồi dào Về vốn sống, nhà vănNguyễn Công Hoan cũng từng có quan niệm: “Vốn sống không phải cókhoe thì người ngoài mới biết Khoe thì chỉ lòi ra anh là một người khoekhoang mà lại khoe khoang cái nghèo nàn của anh Với người viết vớinhau, anh khoe vốn sống chưa chắc đã được ai phục Còn với người đọccần thưởng thức truyện, thưởng thức văn, thì câu chuyện của anh kể bịloãng ra, không còn sức hấp dẫn nữa” [21, 16] Nhà văn Bùi Hiển có ý kiếntương tự: “Tôi cho là dù tài hoa đến mấy, thì cái chính của người viết vănvẫn là chất sống Ta thường gọi là vốn sống Nhưng tôi gọi là chất sống Vìtôi muốn nói đến cái độ mà lượng sống biến thành chất Nó quyện chặt vàocon người của nhà văn Theo kinh nghiệm riêng thì chất sống quyết địnhhết cả Dù anh viết truyện, làm thơ, viết bút ký, phóng sự, viết kịch, viếtphê bình hay lý luận, anh cũng không thiếu được chất sống” [27, 95]

Nguyễn Công Hoan từng khẳng định rằng, văn chương của ôngđúng như sự thực hoặc tương đồng, gần gũi với sự thực: “chính là tôi đãnhờ hoàn toàn vào sự sống” Nhà văn nhấn mạnh: “Sống ở đây không cónghĩa là mở mắt xuông và thở xuông Nếu sống chỉ là ngủ kỹ, ăn nhiều

để nói khỏe thì ở đời này có vô khối anh ăn tục, nói phét, suốt đời chẳnglàm nên nghề ngỗng gì Có chăng là nghề bịp bợm Nhưng sống là nhìn

kỹ, nghe nhiều, có suy nghĩ, và tốt hơn là đừng nói, chỉ viết” [28, 300].Nhà văn đã lấy chính sự trải nghiệm của mình để viết Ông kể rằng,mình đã đi gần khắp cả nước, tiếp xúc với gần đủ các hạng người, cũng

đã trải qua hai chế độ, với những ngày bi thảm hoặc oanh liệt của dântộc, rồi quãng đời làm chồng, làm cha, làm ông, với bao nỗi lo âu,… Thếnên, nhà văn đã suy nghĩ tích cực, sống để làm việc, không làm khôngthấy việc Việc tức là chuyện Bởi vậy, nhà văn đã đem tình cảm, thái độ,của chính mình vào giải quyết công việc để tạo hiệu quả chân thực vàlàm nên nhiều thành công cho ông

Trang 27

Nguyễn Công Hoan quan niệm: “Tích lũy sự hiểu biết về cuộc sống,

là tích lũy vốn sống Tôi lại nhớ dai, nhớ tất cả những điều không đángnhớ Tôi ghi những cái mắt thấy, tai nghe vào đầu óc bằng một tình cảm,bằng một thái độ riêng của tôi đã thành nếp, để tình cảm ấy, thái độ ấy,hướng dẫn lý trí của tôi trong cách nhìn và cách nghe Đời sống thực tế làmột miếng đất tốt cho tôi bắt rễ vào một cơ sở Đó là cơ sở tư tưởng củatôi” [28, 301] Nhà văn chỉ có thể viết tốt những gì mình đã trải qua, suynghĩ, ghi nhớ, đi sâu vào trong tiềm thức của mình, còn những gì ông chưasống, hay không hợp với khả năng (như cuộc đời người thợ trong nhà máy,làm thơ lãng mạn…) thì ông thất bại một cách thảm hại

Nhà văn Tô Hoài từng kể rằng, khi nhà văn Nam Cao viết xong tiểu

thuyết Sống mòn (ban đầu có tên gọi Chết mòn), có than thở với Tô Hoài:

Bao giờ những người trong tiểu thuyết này chết đi, mình mới đem in đượcsách In bây giờ thì không dám nhìn mặt ai nữa Nhà văn Đào Vũ, khi in

xong tiểu thuyết Cái sân gạch cũng không dám tặng sách cho nguyên mẫu

“Lão Am” của mình (một trong những nhân vật chính của cuốn tiểu thuyết,tên ngoài đời là Mạc Văn Tự) Lý do - như cách nói vui của con trai lãoAm: Ăn ở nhà cụ mà viết xấu về cụ, cụ chẳng chửi cho chết cha Kể nếu

mà đọc, chắc cụ cũng bực mình, vì sách viết không đúng về cụ Nhưng bọntôi, lúc ấy tuy còn trẻ song rất hiểu là nhà văn khi sáng tác cũng cần phải

hư cấu Kể ra vậy để thấy, dựa trên những nguyên mẫu trong đời thực rồithêm thắt để sáng tạo nên các nhân vật văn học là một đặc điểm sáng tạocủa nhà văn Vấn đề là sự thành công đến đâu mà thôi

Qua đó, ta thấy đối với nhà văn, việc tích lũy vốn sống và va vấpthực tế cuộc sống là một trong những điều kiện cần thiết để nhà văn sángtạo tác phẩm văn chương Không có kinh nghiệm, không có vốn sống thìanh chỉ viết một cách hời hợt, không tiếp cận được cái bản chất của đờisống, dễ khiến tác phẩm nhạt nhẽo, gượng gạo

Trang 28

Theo Nguyễn Công Hoan, thói quen viết truyện của ông là làm saocho sát, cho đúng với sự thật Nghĩ thế nào, nói thế nào thì viết ra như thế.Mọi cố gắng nỗ lực của ông làm sao cho những truyện của mình tự nhiên,giản dị như chính hơi thở của cuộc sống Những cảnh khiến nhà văn xúcđộng là những tấn bi kịch, hài kịch diễn ra ở cửa quyền Từ nhỏ, nhà văn đãvốn thích quan sát và để ý những cảnh thối tha, nhơ nhuốc, những thủ đoạnmưu mô làm tội ác trong giới những người có thế lực, có địa vị Nhữngngười đó, trừ thực dân, còn lại ông gọi chúng là bọn nhà giàu (quan lại,tổng lý, địa chủ, tư sản,…), để ông phân biệt với người nghèo Trong hồi

ký Đời viết văn của tôi ông kể lại: “Tất cả những nhân vật giàu - nghèo này

không phải tôi chỉ nhìn thấy một lần, mà nhìn thấy nhiều lần Những cửchỉ, những lời ăn tiếng nói của họ, mặt mũi, chân tay, lối ăn mặc, lối sinhhoạt trong đời công, đời tư của họ,… Tôi nhớ như chôn vào ruột Tôi hiểu

họ đến nỗi khi thấy họ nói một câu, làm một cử chỉ, tôi cũng đoán ra được

là họ có ý định gì Vì về căn bản họ đều giống nhau Hình như họ được đúctheo một khuôn bất di bất dịch về hình thức, cũng như về tinh thần, cáikhuôn được tạo nên bằng hàng nghìn năm của chế độ phong kiến, và bằngngót trăm năm của chế độ thực dân Họ đã thành điển hình” [28, 302] Chonên thoạt nhìn, nhà văn có thể đoán định họ là ai, tâm địa họ thế nào Bởivậy, những truyện ngắn của ông, mỗi khi nhân vật xuất hiện với hình dángnhư thế nào thì người ta hình dung ngay ra cái kiểu, cái tạng của những conngười ấy Tả một nhân vật mà độc giả cũng thường nhìn thấy nhiều lần nhưthế thì là tả đúng Bằng kinh nghiệm của mình ông đưa ra “công thức”miêu tả như sau: “Tả một tên tri huyện tân học thì phải là béo phị, lưng gù,đội khăn nhỏ nếp và đặt trên gáy Cứ nói từng ấy nét điển hình thì ngườiđọc cũng đã nhận ngay ra đó là quan Bởi vì, tiếng quan là tiếng đồng nghĩavới tiếng nịnh hót, gian ác và ăn tiền, ta cứ tha hồ trút vào bức minh họamột tên quan, ta không sợ mang tiếng là vu oan cho một điển hình quanlại” [27, 43]

Trang 29

Nguyễn Công Hoan quan niệm, người viết văn chịu ảnh hưởng vềmặt nào nhiều nhất, thì có khả năng sáng tác về mặt ấy nhiều nhất Trong

Đời viết văn của tôi, ông đã ghi lại rất rõ hoàn cảnh xuất thân của mình:

“Tôi sinh trưởng trong một gia đình phong kiến suy tàn vì chế độ đổi thay,nên bị lép vế Do đó, tôi đã chịu sự giáo dục hằn học với bọn quan lại ômchân đế quốc, để mưu phú quý trên lưng những người dân nghèo hèn.Những câu chuyện kể tội ác của bọn quyền quý tạo cho tôi tính tò mò, thíchnhìn, thích nghe những loại chuyện ấy” [28, 318] Sự nhận thức ấy đã tácđộng lớn đối với cách nhìn nhận, nó chi phối toàn bộ quá trình sáng tác củaNguyễn Công Hoan, cả tiểu thuyết và truyện ngắn

Từ nhỏ, trong những buổi tối cùng gia đình, Nguyễn Công Hoanđược nghe kể rất nhiều chuyện đáng khinh, đáng cười, đáng chửi về tầnglớp quan lại Những truyện này đã tạo nên trong lòng nhà văn sự căm ghétsâu cay bọn có tiền và có quyền thế Ông đã nhiều lần chứng kiến cảnh xunịnh ton hót của chúng đối với quan Tây cai trị, những thủ đoạn ăn hối lộtrắng trợn, tàn nhẫn, gian ác, cảnh sinh hoạt xa hoa, dâm loạn ngay tronggia đình giữa anh, em, bố, con, trái luân thường đạo lý Không chỉ đượcnghe kể, mà ông còn được tận mục sở thị hàng ngày “từ cổng chòi đến sâncông đường” quan lại đáng sợ, đáng kinh tởm như giống vắt, giống đỉa,động thấy hơi người là bâu lại xoay sở đủ kiểu, đủ cách để hút sạch máungười dân đen vô phúc có việc phải đến cửa quan Hiện thực cuộc sống ấy

đã hình thành khiến ông tập trung phản ánh loại đối tượng này một cáchđậm nét, sinh động

Tất cả những điều Nguyễn Công Hoan đã nghe, đã thấy mang lại chonhà văn một vốn sống phong phú, vô cùng quý giá để phơi bày những sự thựcđen tối, tàn khốc của xã hội thực dân nửa phong kiến Bởi vậy, toàn bộ truyệnngắn và tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan đều thấy có sự tương đồng vớibức tranh hiện thực đời sống Ông thể hiện sâu sắc con người và cuộc sốngvới tất cả những gì quan sát được, nghe thấy được một cách cụ thể sinh động

Trang 30

Chẳng hạn, trong Ngựa người và người ngựa, ta thấy cảnh khốn nạn

của vài hạng người khốn nạn: anh phu xe ế khách bị thiệt lây bởi cảnh khốnnạn của cô gái giang hồ Nỗi đau của nhà văn trước một cảnh thê thảm củacuộc đời như thấm sâu trong từng câu, từng chữ và gợi được ở người đọcmột sự thương cảm dạt dào về số phận của con người trong truyện Hay

như trong truyện dài Ông chủ, Bước đường cùng, Cô làm công,… ta bắt gặp

những cuộc đời đói nghèo, khổ đau, thậm chí tan nát, chết chóc, hoặc u uấttriền miên, không có lối thoát như vợ chồng anh đĩ Nuôi, vợ chồng anhPha, cô làm công,… Mỗi người, mỗi cảnh đều là những thực trạng trong xãhội đầy bất công, ngang trái

Nguyễn Công Hoan quan niệm văn chương là câu chuyện cuộc đời,tác phẩm văn học là bức tranh của đời sống, nên hiện thực trong tác phẩmcủa ông được tạo nên từ từng chuỗi chi tiết, chân thực, cụ thể, tỉ mỉ, sinhđộng mà nhà văn đã chắt lọc từ trong cuộc sống Đọc truyện của ông nhiềukhi người đọc như thấy các sự vật hiện ra tới mức sờ được, thấy được.Chẳng hạn, hình ảnh những củ khoai trước mắt thằng bé đang đói: “Nóchòng chọc nhìn những củ to, béo nung núc, tròn trĩnh, nằm cong queo,ngổn ngang trên mẹt” [29, 130] Hoặc, hiện thực thật đến nỗi người đọcnhư trông thấy, nghe thấy những sự vật, âm thanh diễn ra trong sự ăn uốngthô lỗ của một tên lính lệ đem trát quan về nhà anh Pha

Trong văn chương, Nguyễn Công Hoan rất chú ý lựa chọn các chitiết cụ thể, chân thực Ông không tìm chi tiết, vì chi tiết mà bằng sự quansát tinh tế, nắm bắt những chi tiết phản ảnh được chiều sâu bản chất của sựvật Ông không bị chìm ngập vào chi tiết như những nhà văn tự nhiên chủnghĩa Bởi ông quan niệm, chi tiết phải nhằm phục vụ cho chủ đề, miêu tảnhân vật, nói lên tâm trạng, ý nghĩ của tác giả

Sau Cách mạng tháng Tám, thế giới quan của nhà văn được rènluyện trong môi trường hiện thực Cách mạng Quan niệm và cách viếttruyện của nhà văn cũng mang đậm thế giới quan, nhân sinh quan cách

Trang 31

mạng Nhà văn có cái nhìn mới về hiện thực, về con người và cuộc sống.

Chẳng hạn, truyện Người cặp rằng xây hầm lúa ở ngục Côn Lôn năm 1930

là truyện có thực về Bác Tôn, do có người kể lại, và nguyễn Công Hoan đãnghiên cứu kỹ các tài liệu về Côn Đảo, đặc biệt về hầm xay lúa rồi mô tảcuộc sống và ý chí đấu tranh trong ngục của Bác Tôn một cách hấp dẫn,xúc động, làm nổi bật được tính chất rất cao đẹp của người cộng sản anhhùng

Tóm lại, tuy còn một số hạn chế trong cách nhìn và đánh giá theochủ quan, song nhìn chung, quan niệm của Nguyễn Công Hoan thể hiệnmột cách sâu sắc về hiện thực xã hội đương thời qua một con mắt sắc sảo

và ngòi bút tinh tế Bằng tài năng và tâm huyết cả cuộc đời hoạt động laotâm khổ tứ, nhà văn đã nhìn thấu bản chất của cuộc đời và sáng tạo nghệthuật, tìm ra mối liên hệ giữa chúng, đó là sự tương đồng giữa cái thựctrong cuộc sống và cái thực trong văn chương

1.2.2 Sự khác biệt giữa cái thực trong cuộc sống và cái thực trong văn chương

Nhà văn vốn được xem là “người thư ký trung thành của thời đại”nhưng không có nghĩa là người bê nguyên xi những bộn bề, phức tạp củacuộc sống vào văn chương một cách không chọn lọc Trái lại, những chấtliệu, tài liệu của cuộc sống khi nhà văn đưa vào trong tác phẩm đều đượcthẩm thấu qua lăng kính thẩm mỹ của nhà văn Hơn ai hết, là người tâmhuyết với nghề văn, Nguyễn Công Hoan ý thức rất sâu sắc về những vấn đềcủa cuộc sống khi đưa vào tác phẩm văn chương Bởi vậy, trong sáng tác

và đặc biệt là khi viết lý luận, Nguyễn Công Hoan là người đã dành nhiềutâm huyết để thể hiện những quan niệm của mình về vấn đề này

Đương thời, nhà văn Vũ Trọng Phụng từng nhấn mạnh đến chứcnăng cơ bản của tiểu thuyết chan chứa một cái nhìn vị nhân sinh: “Cácông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết còn tôi và những nhà văn cùng chíhướng với tôi muốn tiểu thuyết là sự thực ở đời” Trên cơ sở sự thực đó,

Trang 32

nhà văn Nguyễn Công Hoan có những ý tưởng sáng tạo, ông cho rằng:

“Tiểu thuyết là một truyện bịa y như thật, nhà tiểu thuyết là người biết bịatruyện” [28, 146] Ông nhấn mạnh, “bịa” là sáng tạo ra nội dung không để

sự việc như nguyên nó Phải làm cho nó bổ ích Đó là do lao động bằng trí

óc Còn “y như thật” là đúng như mọi người nhìn thấy, đúng ở chi tiết,đúng ở toàn thể các sự việc Tức là, nhà văn đã có sự quan sát cuộc sống đểlựa chọn những cái gì đáng chú ý, nhào nặn những cái đó, xây dựng thànhnội dung cụ thể để tái hiện cuộc sống

Quan niệm của Nguyễn Công Hoan đã có sự gặp gỡ với một số tác

giả khác, đặc biệt là Nguyễn Đình Thi Trong cuốn Công việc của người

viết tiểu thuyết, nhà văn Nguyễn Đình Thi quan niệm: “Tiểu thuyết, đó là

một trong những sáng tạo kỳ diệu của con người, đó là một đồ dùng, một

vũ khí của con người để tìm hiểu, chinh phục dần thế giới và để tìm hiểunhau và sống với nhau” Ông nhấn mạnh: “Viết tiểu thuyết là sáng tạo lạicuộc sống, nhưng mục đích của việc sáng tạo ấy lại là để truyền đạt tìnhcảm, truyền đạt những sự nhận xét và đánh giá về cuộc sống, truyền đạtkinh nghiệm sống” [57, 113]

Hai nhà văn, thuộc hai thế hệ, có phong cách nghệ thuật khác nhaunhưng giữa họ có sự gặp gỡ nhau trong quan niệm: Tiểu thuyết là một sựsáng tạo kỳ diệu của nhà văn trên tinh thần, ý thức sự tôn trọng sự thậtkhách quan của đời sống Cả hai tác giả, hai nhà văn lớn ấy càng có ý thứctrong công việc sáng tác văn học và đều cho thấy rõ mối liên hệ giữa vănchương và hiện thực cuộc sống trên cơ sở những khác biệt giữa chúng Dùkhông tự nhận là “người thư ký trung thành của thời đại” nhưng các nhàvăn đều ý thức rất rõ vai trò, thiên chức của mình trong sáng tạo nghệ thuật

Theo Nguyễn Công Hoan: “Một hình ảnh, hoặc gọi là một cảnh, mộtviệc thật, thể hiện được ra bằng lời nói hay bằng chữ viết là trải qua ít nhiềusáng tạo, do mình cảm xúc Họ đi từ chỗ không có hồn đến chỗ có hồn, từ chỗkhông có nội dung đến chỗ có nội dung” [27, 26] Và: “Nếu nhà văn không

Trang 33

sáng tạo mà bê nguyên si hiện thực chẳng khác nào cho người ta ăn thịt sống”.Trên cơ sở đó, ông nhấn mạnh vai trò của nhà văn trong quá trình sáng tạonghệ thuật: “Là người viết truyện, chúng ta đừng cho độc giả của chúng ta ănthịt sống Chúng ta không nên viết truyện đặt Từ một việc thật đến mộttruyện đặt, cảm xúc làm chúng ta phải lao động mà sáng tạo” [27, 26]

Nhà văn Nguyễn Công Hoan từng kể câu chuyện: Có một lần đi dạophố với bạn Đến một chỗ thấy có đám đánh nhau, người đứng xúm xítxem rất đông Người ngoài xông vào can ngăn Hai người không đánh nhaunhưng đều kể tội và đổ trách nhiệm cho đối phương, tỏ rằng mình vẫn làngười tốt Người nghe cố ý giảng giải, hai người thôi không cãi nhau, vàcũng thôi không phân trần phải trái để tranh thủ sự đồng tình của số đôngnữa Đám người giải tán Sự việc cả hai người đều trông thấy cuộc ẩu đả đãdiễn biến và kết thúc như thế nào Riêng với tác giả sự việc này cũng bìnhthường, không có gì đáng phải bận tâm nên sự việc bị ông nhanh chóngquên đi Nhưng có lẽ do anh bạn cảm xúc, về đến nhà anh ta thuật lại đámđánh nhau cho mọi người nghe Thì chính tác giả cũng cảm thấy lạ quá Dù

đã nghe, đã nhìn thấy cảnh đó rồi nhưng khi nghe bạn kể lại tác giả thấynhư một việc mới lạ

Thì ra, do anh bạn cảm xúc, óc anh ta làm việc Anh ta biết cái nàonên nói trước, cái nào nên nói sau, cái nào thừa không cần nói thì bỏ đi, cáinào thiếu không có trong đám đánh nhau đó thì anh ấy linh động sáng tạothêm vào, và nhấn mạnh bằng giọng nói, bằng nét mặt, những cái cần làmngười nghe phải chú ý Chính cảm xúc và sự sáng tạo đã khiến cho cáikhông có hồn trở nên có hồn, không có nội dung trở nên có nội dung Vớicách diễn đạt giản dị, mộc mạc, và dễ hiểu Nguyễn Công Hoan đã trình bàymột hệ thống các bước của quá trình sáng tạo văn chương

Trước hết, ta nhận thấy những đề tài trong tác phẩm mà NguyễnCông Hoan khai thác khá dồi dào, phong phú Nhưng cái thực tế muôn hìnhmuôn vẻ của cuộc sống trở thành tác phẩm văn chương như thế nào? Ông

Trang 34

sử dụng nhiều cách Chúng ta có thể nhận thấy: Bước đầu tiên và quantrọng trong quá trình sáng tạo để những vấn đề của cuộc sống trở thành vấn

đề của tác phẩm văn chương là tìm ra được ý của truyện Nguyễn CôngHoan quan niệm: “Trước khi cầm bút viết một câu truyện, điều cần thiết làtác giả phải có ý định là viết truyện này để làm gì Theo ý tôi quan niệm, nó

là mục đích, yêu cầu của truyện, là tinh thần của truyện Tôi gọi việc tác giảphải định cho một truyện ấy, là việc lập ý” [27, 27] Trong bước này,Nguyễn Công Hoan cho rằng có nhiều cách:

Cách thứ nhất: Từ một chuyện thật mà ta biết, không có nội dung, ta

làm sao cho nó có nội dung Ví dụ, truyện Người vợ lẽ bạn tôi, một người

thời Pháp thuộc đi làm ông phán để vợ cả ở quê, sinh ra chơi bời nên cónhân tình với cô đầu rồi có con với cô đầu, vợ cả, vợ lẽ ghen nhau sinh ralục đục Đối với Nguyễn Công Hoan đó là truyện ngoài đời, là lẽ tất nhiênkhông có gì đáng để viết thành truyện Vậy, để thành truyện, thành tácphẩm văn chương, nhà văn phải biến nó từ chỗ không có chuyện thành cóchuyện bằng cách kể lại rằng: “Tôi có anh bạn như vậy và đã đến thăm anh

ta nhiều lần Lần nào cũng thấy ở người vợ lẽ sự đổi khác, từ len lén,ngượng nghịu, sợ sệt tất cả mọi người, như một kẻ ăn gửi nằm nhờ trongnhững ngày mới về, đến bây giờ nghiễm nhiên trở thành bà chủ nhà Mắng

mỏ kẻ ăn, người ở, đánh đập con chồng, đuổi người giúp việc thân tín củachồng để đem tay chân thay vào Đưa mẹ đẻ đến ở, nắm tay hòm chìa khóatrong nhà, ngăn cản không cho chồng đi chơi với bạn bè thân cũ Tóm lại,anh chồng mất hết quyền làm chủ nhân ông” [27, 28] Để truyện mang tầmkhái quát nhà văn còn lồng vào truyện một nội dung bằng một câu kết luận:

“Thì ra ở đời, mỗi khi nước nọ xâm chiếm nước kia, cuộc chinh phục vềmặt kinh tế, về mặt chính trị, cũng đi dần dần từng bước nguy hiểm nhưvậy” [27, 29]

Cách thứ hai: Truyện đã có sẵn một ý, một truyện có thật, một ý trào

phúng, nhà văn chỉ còn việc tìm chi tiết hài hước để minh họa sao cho xứng

Trang 35

đáng với nội dung hài hước của truyện Như truyện Thày cáu, một ông giáo

đi đường vô ý dẫm phải cứt, khi vào lớp ông thấy thối, ông ngờ cho họcsinh rồi điều tra, khám xét ráo riết Sau cùng, một học sinh khám phá ra ởgiày thày có cứt Truyện này, bản thân nó đã có cái ý trào phúng: anh thối

mà không biết, còn dùng quyền lực đổ cho người khác là thối

Cách thứ ba: Truyện do hoàn toàn tưởng tượng, dựng lên cũng thành

truyện Nhưng để thành truyện phải trên cơ sở thực tế khách quan đượcphản ánh vào đầu óc nhà văn qua những dạng phức tạp hoặc lẻ tẻ, rồi đượchội tụ lại hoặc sàng lọc qua lăng kính của người viết Chẳng hạn, khi

Nguyễn Công Hoan viết Chiếc quan tài ông kể lại: “Một năm lụt, tôi đọc

báo hàng ngày, thấy in tấm ảnh chụp chiếc quan tài đặt trên chiếc bè chuối.Tôi mới tự hỏi chỗ nước lụt, thì người ta chôn người chết thế nào? Tôitưởng tượng ra một cảnh là chiếc quan tài này được đưa đến một cái vườncủa làng mới bị nước láng vào Vì huyệt đào đã đầy nước nên người ta phảihết sức ấn quan tài xuống, mới có thể lấp đất lên được Nhưng rồi, nấm mồmới đắp bị sóng vỗ vào, làm lở dần đất Rồi chiếc quan tài nổi bềnh lên Nótheo chiều gió, nó đi, sau hết, nó lọt qua kẻ hở của lũy tre làng, nó lao rangoài theo luồng nước chảy của cái lạch để đi mất” [27, 29-30]

Dẫu chưa thống kê được số lượng những truyện như vậy có baonhiêu phần trăm là truyện có thật, bao nhiêu phần trăm là truyện nửa thật,

nửa hư cấu, nhưng nhà văn khẳng định những truyện tương tự như Chiếc

quan tài chiếm số lượng không nhỏ Trên cơ sở đó, Nguyễn Công Hoan

nhấn mạnh: “Đối với truyện tưởng tượng, thì chỉ cần tưởng tượng ra cáicốt, cái chủ đề, chứ còn chi tiết, cảnh để minh họa truyện, thì phải là chitiết, cảnh tôi đã biết, hoặc trông thấy” [27, 30]

Cách thứ tư: khi thấy một hiện tượng gì, thì tùy theo ý đối lập mà sử

dụng nó Nếu nó có thể làm thân truyện thì tôi thêm vào nó cái kết truyện.Nếu nó có thể làm kết truyện, thì tôi thêm vào nó cái thân truyện Truyện

Hai thằng khốn nạn là do Nguyễn Công Hoan trông thấy một người gánh

Trang 36

con đi bán trong năm đói, ông liền lấy đó làm thân truyện, thêm vào cái cốttruyện (sự khốn nạn của thằng nhà giàu) Hoặc ngược lại, có thể lấy mộthiện tượng nào đó làm kết truyện, rồi thêm vào đó cái thân truyện, như

trường hợp truyện Báo hiếu: trả nghĩa cha, do tác giả nhìn thấy một đám

ma mà trong linh sa có ảnh người quá cố, áo gấm, hột vàng và có mộtngười chống gậy đi sau, khiến ông mường tượng đến tên tri huyện Thanh

Hà, tên là Nguyễn Ngọc Chung, là chúa bất hiếu với mẹ Tác giả lấy ý đólàm kết truyện, rồi thêm vào thân truyện Nguyễn Công Hoan từng nghe kể

về hắn, ngày giỗ cha, nó làm một chuyến buôn thịt lợn để lấy lãi Mổ mộtcon lợn to, mời thân hào trong hạt đến ăn, ai đến cũng phải sắm lễ, trihuyện thu được lãi kếch xù Nhưng có một sự việc trớ trêu đã bộc lộ bảnchất đê hèn, bất hiếu của hắn Hôm đó trời mưa, đường trơn, mẹ nó ở nhàquê, lần mò đến nơi, bà cụ ăn mặc quê mùa, rách rưới, nên nó xấu hổ, quátmắng, đuổi mẹ về, vứt cho hai hào nhưng ra lệnh cấm xe ở phố không aiđược kéo bà cụ Nó phạt bà cụ phải đi bộ cho nhớ, để lần sau chừa, đừngbén mảng đến chỗ nó làm quan

Sự việc thật trần trụi như thế, nhà văn có thể viết thành truyện, kể lạimẩu truyện về tri huyện Chung lợi dụng ngày giỗ bố để buôn thịt và đối xử

tệ bạc với mẹ ra sao, kết hợp với đám ma linh đình Rồi bịa ra về mẹ nó, vìuất ức với đứa con bất hiếu nên bà cụ tự tử, rồi nó làm ma to để che mắt thếgian, thì truyện cũng được Nhưng nó sẽ dài Vì ba ý lồng vào một truyện.Thế nào cũng có hai ý khá nổi bật

Vì vậy, nhà văn đã không sử dụng hết các chi tiết khi xây dựngtruyện Ông đã “bớt cái thừa, thêm cái thiếu”, tức là bỏ chi tiết việc buônthịt của huyện Chung Chỉ tập trung xoay quanh việc thằng con xử với mẹ

là đủ Và ông đã tách ra thành hai truyện

Truyện thứ nhất, ông tả một nhà giàu đương có khách khứa quantrọng đến ăn giỗ bố Nhưng ông không lấy vai bất hiếu là một tri huyện mà

là một tên nhà giàu, chủ hãng ô-tô Rồi ông tả cảnh mẹ nó ở quê lần ra nhà

Trang 37

nó Nhưng cửa đóng bằng khóa tây, bà cụ không biết mở, mới ngồi chờ ởbực hè Bỗng anh người nhà ra, vì tối không trông rõ, tưởng là ăn mày, mớimắng là lại đằng cổng sau mà xin Bà cụ đến cửa sau, thằng con được báo

là có mẹ đến, nó ra gặp Thấy mẹ nó làm nó xấu mặt, nó tức giận, hầm hầmmắng nhiếc, rồi quẳng cho hai hào và đuổi đi Truyện viết đến đây thôi đã

đủ gợi được tình cảm người đọc Nhưng để ý nghĩa chua chát hơn nhà văn

đã đặt câu truyện là Báo hiếu: trả nghĩa cha.

Truyện thứ hai, ông kể nốt về “lòng hiếu thảo” của thằng con quý tử

Vì bà cụ không về, nên thằng con bất hiếu bắt mẹ ở dưới bếp với đầy tớ.Không chịu nổi đứa con bạc bẽo, bênh vợ khinh mẹ, bà cụ thắt cổ tự tử.Thế là thằng khốn nạn làm ma rất linh đình Để tả đám ma này, nhà văn đãphải huy động vốn sống của mình để viết Ông lấy những đám ma thật to

mà ông đã trông thấy ở Hà Nội để tả đám ma ấy Cờ quạt, câu đối, tamsinh, kiệu bát âm, vân vân, rất dài Riêng cái táng kết toàn hoa sen, tốn đếnhàng trăm bạc Mụ con dâu, thỉnh thoảng theo tục lệ, lại lăn ềnh ra để tỏrằng mình thương mẹ Còn thằng con trai thì áo xô, mũ nùn rơm, lưng thắtdây chuối, tay chống gậy, đi lòng còng như người thương mẹ đến hết cảsức lực Với truyện thứ hai này, nhà văn chỉ lấy lại những tiếng chua chát

của truyện trên để đề tên, chỉ thay có một chữ, là: Báo hiếu: trả nghĩa mẹ.

Như vậy, từ những câu chuyện ngoài đời có thật đã được nhà vănthổi vào đó một cái hồn, một cảm xúc chân thành, khiến nó trở nên hết sứcsinh động và có sức lôi cuốn Nhà văn đã dẫn giải sự hư cấu nghệ thuật từnhững trường hợp cụ thể của chính mình

Sở dĩ Nguyễn Công Hoan có một sức sáng tạo mãnh liệt là bởi ông

có bí quyết của riêng mình, đó là ông “biết ăn dè, biết để dành đề tài”

“Mỗi truyện của tôi chỉ có thể thâu tóm bằng một câu, nêu lên một ý Nhiềutruyện không thể tóm tắt được Phải đọc toàn bài mới thấy đậm đà Vìtruyện ngắn của tôi chỉ là sự chắp nhặt những chi tiết để mô tả một việc,một cảnh, một nỗi lòng” [27, 34] Kinh nghiệm ăn dè, để dành đã giúp cho

Trang 38

nhà văn viết được rất nhiều truyện, từ sự thật trong cuộc sống nhà văn đãsáng tạo những truyện trong văn chương, thật đến mức sinh động như ngoàicuộc đời Nhà văn quan niệm: “những truyện mà cứ cứng đờ, thẳng thừngnhư sự thật, thì nó là sự thật, không là tiểu thuyết, có gì là hay, là thú vị Nó

sẽ nhạt như nước ốc, đề tài mà viết nhạt, thì phí cả đề tài” [27, 36] Chonên, bao giờ cũng vậy, ông luôn chờ thời, đến khi gặp cảnh, gặp việc đểgiáng cho chúng một đòn thật trúng và thật đau

Chẳng hạn, từ chuyện có thật trong lịch sử chế độ phong kiến, năm

1932, bọn thực dân đưa Bảo Đại đương học dở dang ở bên Pháp về nướclàm việc chấp chính Để nhân dân ta phục cái tài đào tạo vua của chúng,chúng quảng cáo, tuyên truyền đề cao ầm ĩ ông vua bù nhìn Để nhân dân tatin rằng nước ta sẽ đổi mới vì có ông vua tân tiến chúng đã thành lập nội cácmới nhưng lại toàn tuần phủ, tổng đốc cũ mà đứng đầu là tên bán nước PhạmQuỳnh, đang được đề cao là tiến bộ Nguyễn Công Hoan muốn đả kích việclàm gian dối này đã viết thành truyện cùng với sự góp nhặt được một vàinhân vật của triều đình Huế vào truyện Bởi vậy, khi gặp thời cơ, đúng cảnh,đúng người cần miêu tả nhà văn đã thêm thắt vào hay nói cách khác là sángtạo, để giáng cho chúng một đòn thật trúng và thật đau Truyện đó có tên là

vì sao người chồng đánh vợ khiếp thế Để đến cuối cùng, chỉ một câu củangười chồng, độc giả mới hiểu tội của người vợ là một tên đầy tớ được bốn

Trang 39

chữ trong luân lý cũ là: Xuất giá tòng phu” [27, 39] Như vậy, từ những sự

việc trong cuộc sống, tác giả đã dùng nhiều hình thức xây dựng và kết cấutruyện sao cho thích hợp với ngòi bút trào phúng của mình, đồng thời có ýnghĩa phê phán sâu cay với xã hội đương thời

Tóm lại, từ một thái độ sống dứt khoát, từ một động cơ viết rõ ràng,Nguyễn Công Hoan thường lập ý cho truyện của ông có tư tưởng, chủ đề

cụ thể, rõ ràng, khiến người đọc dễ nhận thấy Như ông từng viết: “Đọcmột truyện hay lần nào tôi cũng thấy một điểm chung mà tôi cho là cănbản, là nó dễ hiểu Hiểu tác giả định nói cái gì”, và “Dễ hiểu vì nó thực”[28, 123]

Một điều nữa, chúng ta nhận thấy, bằng sự tận tâm và cặn kẽ của mộtnhà văn chân chính, Nguyễn Công Hoan luôn chỉ ra một cách tỉ mỉ nhữngvấn đề lý luận của người viết khá rõ ràng và cẩn thận Lý luận ấy khôngcao siêu nhưng đem đến cho người nghe một sự minh bạch và sáng sủa

Ví dụ, một việc xảy ra trên đời, đến lúc nào thì nó thành chuyện?

“Một là, khi việc bình thường sinh ra hậu quả bất thường

Tôi có tiền (việc bình thường): Chưa thành chuyện Tôi có tiền (việcbình thường), mới đi mua cái lọ cắm hoa (hậu quả bình thường): Cũngchưa thành chuyện

Tôi có tiền mới đi mua cái lọ cắm hoa (việc bình thường) nhưng lại

vớ phải cái lọ thủng (việc bình thường), tôi mới dùng nó để cắm bút (hậuquả bình thường): Chưa thành chuyện

Tôi có tiền, đi mua cái lọ cắm hoa, nhưng lại vớ phải cái lọ thủng.Tôi mới dùng nó để cắm bút (việc bình thường) Tôi chẳng tiếc tí tiền nào(hậu quả bình thường): Cũng chưa thành chuyện

Tôi có tiền đi mua cái lọ cắm hoa, nhưng lại vớ phải cái lọ thủng, tôimới dùng nó để cắm bút (việc bình thường) Nhưng vợ tôi thấy thế mới rầy

la tôi om sòm (hậu quả bình thường): Vẫn chưa có chuyện

Trang 40

Tôi có tiền đi mua cái lọ cắm hoa, nhưng lại vớ phải cái lọ thủng, tôimới dùng nó để cắm bút Tôi chẳng tiếc tí tiền nào Vợ tôi thấy thế mới rầy

la tôi om sòm (việc bình thường) Tôi nhận khuyết điểm, chỉ cười trừ (hậuquả bình thường) Nhưng vợ tôi vẫn bực, cứ rầy la mãi, thế là có chuyện

Thí dụ này cứ kéo dài mãi, đoạn trên là sự việc bình thường, đoạndưới là hậu quả bất thường sinh ra từ sự việc bình thường ấy

Hai là, sự việc bất thường sinh ra hậu quả bình thường

Ba là, khi sự việc bất thường sinh ra hậu quả bất bình thường

Vậy tóm lại, việc bình thường không cho ta chuyện, vì ta không tìmđến cái lúc nó sinh ra hậu quả bất thường, hoặc vì ta không định được cáilúc ấy Nhưng nếu việc thật xảy ra nó diễn biến bình thường quá, đến nỗikhông có lúc nào sinh ra hậu quả bất thường, thì chính người viết truyệnphải tạo ra cái lúc ấy bằng óc tưởng tượng của mình Người viết truyệnphải giàu tưởng tượng, tưởng tượng để việc gặp hậu quả trở nên bất thườngđúng lúc, nghĩa là hợp với hoàn cảnh, với lý, với tình của vấn đề được đặt

ra Việc này đòi hỏi vốn sống và kỹ thuật” [27, 39-40]

Một bước cũng hết sức quan trọng, bên cạnh bước tìm ý là quan niệm

về việc tìm chi tiết, chọn lọc chi tiết để xây dựng truyện thật thành truyện

bịa Đó chính là quá trình, “bớt cái thừa, thêm cái thiếu, nhấn mạnh cái cần

ở trong sự việc có thật” Nhưng nhiều khi ta có thể thay đổi hoàn toàn cả sựviệc lẫn nhân vật của câu chuyện thật khác, miễn là ta vẫn theo đúng cái ý

mà ta đã lập Có trường hợp này là khi ta thấy những chi tiết trong truyệnthật khác ấy được ta quen thuộc hơn

Theo Nguyễn Công Hoan, khi viết truyện ngắn, ông chỉ mượn hiệntượng làm ý chính, còn cấu tạo nên truyện là do những chi tiết nhặt nhạnh ở

đó đây, dàn dựng sao cho chặt chẽ và gọn ghẽ, để làm nổi bật được ý chính

“Tiểu thuyết là bộ máy chạy bằng chi tiết, biết chắp nối hợp lý và hợp tình.Tôi chỉ sử dụng thực tế chứ không sao chép nguyên thực tế” [27, 41] Cũngtheo nhà văn, “xây dựng truyện mà không có chi tiết, thì nó không có

Ngày đăng: 19/12/2013, 14:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoài Anh (2001), Chân dung văn học, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chân dung văn học
Tác giả: Hoài Anh
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2001
2. Lại Nguyên Ân (2004), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học quốc giaHà Nội
Năm: 2004
3. Bakhtin. M (1992), Lý luận thi pháp tiểu thuyết, Nxb Trường Viết văn Nguyễn Du, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: Bakhtin. M
Nhà XB: Nxb Trường Viết vănNguyễn Du
Năm: 1992
4. Bakhtin. M (1993), Những vấn đề thi pháp Đôxtôepxki, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp Đôxtôepxki
Tác giả: Bakhtin. M
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1993
5. Nam Cao (2002), Tuyển tập, tập 1, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập
Tác giả: Nam Cao
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2002
6. Nam Cao (2002), Tuyển tập, tập 2, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập
Tác giả: Nam Cao
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2002
7. Nguyễn Minh Châu (2002), Trang giấy trước đèn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang giấy trước đèn
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: Nxb Khoa học xãhội
Năm: 2002
8. Hồng Chương (1962), Phương pháp sáng tác văn học, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp sáng tác văn học
Tác giả: Hồng Chương
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1962
9. Phan Cự Đệ (1999), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
10.Hà Minh Đức (chủ biên, 2003), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
11. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2004), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữvăn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
12. Lê Thị Đức Hạnh (1971), “Sáng tác của Nguyễn Công Hoan sau cách mạng”, Tạp chí Văn học, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáng tác của Nguyễn Công Hoan sau cáchmạng”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Lê Thị Đức Hạnh
Năm: 1971
13. Lê Thị Đức Hạnh (1975), “Nghệ thuật trào phúng trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan”, Tạp chí Văn học, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật trào phúng trong truyện ngắnNguyễn Công Hoan”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Lê Thị Đức Hạnh
Năm: 1975
14. Lê Thị Đức Hạnh (1979), Tìm hiểu truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
Tác giả: Lê Thị Đức Hạnh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1979
15. Lê Thị Đức Hạnh (1981), “Đôi nét hồi ức về một nhà văn lão thành” , Tạp chí Văn học, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đôi nét hồi ức về một nhà văn lão thành”",Tạp chí Văn học
Tác giả: Lê Thị Đức Hạnh
Năm: 1981
16. Lê Thị Đức Hạnh (1990), “Truyện ngắn Kép Tư Bền của Nguyễn Công Hoan”, Tạp chí Văn học, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn Kép Tư Bền của Nguyễn CôngHoan”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Lê Thị Đức Hạnh
Năm: 1990
17.Lê Thị Đức Hạnh (1991), Nguyễn Công Hoan (1903- 1977), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Công Hoan (1903- 1977
Tác giả: Lê Thị Đức Hạnh
Nhà XB: Nxb Khoahọc xã hội
Năm: 1991
18.Lê Thị Đức Hạnh (giới thiệu và tuyển chọn, 2000), Nguyễn Công Hoan về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Công Hoanvề tác gia và tác phẩm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
19.Nguyễn Công Hoan (1956), Tranh tối tranh sáng, Nxb Văn nghệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tranh tối tranh sáng
Tác giả: Nguyễn Công Hoan
Nhà XB: Nxb Văn nghệ
Năm: 1956
20.Nguyễn Công Hoan (1961), Hỗn canh hỗn cư, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỗn canh hỗn cư
Tác giả: Nguyễn Công Hoan
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1961

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w