Sự chuyển biến đó đã đặt ra yêu cầu là xuất khẩu t bản do đó đã "thúc đẩy sự xâm chiếm thuộc địa, vì trên thị trờng thuộc địa mới dễ dàng loại trừ đ-ợc một kẻ cạnh tranh, bằng những thủ
Trang 1Trờng đại học vinh khoa lịch sử
-Chuyên ngành: lịch sử thế giới
bản Tóm tắt Khoá luận tốt nghiệp đại học
"Quá trình xâu xé trung quốc của các nớc đế quốc
và sự chuyển biến về kinh tế - xã hội của trung quốc
cuối thế kỷ xix đầu thế kỷ xx"
Giáo viên hớng dẫn: Bùi Văn Hào
Sinh viên thực hiện : Phạm Thị Minh Khuê
Chơng 1: Bối cảnh quốc tế và Trung Quốc
cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX 51.1 Bối cảnh quốc tế cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX 51.1.1 Quá trình chuyển biến của CNTB từ giai đoạn tự do cạnh tranh
Trang 2sang giai đoạn độc quyền nhà nớc 51.1.2 Quá trình xâm lợc thuộc địa của các nớc đế quốc 91.2 Khái quát tình hình Trung Quốc cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX 14
Chơng 2 : Quá trình xâu xé Trung Quốc của các nớc
đế quốc cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX 232.1 Khái quát quá trình xâm nhập của các nớc đế quốc vào Trung Quốc (trớc Chiến tranh thuốc phiện lần thứ I (1840-1842)) 232.2 Quá trình xâu xé Trung Quốc của các nớc đế quốc
2.2.1 Cuộc Chiến tranh thuốc phiện lần thứ I (1840 - 1842)
và cuộc Chiến tranh thuốc phiện lần thứ II (1856 - 1860) 262.2.2 Chiến tranh Trung – Pháp (1883-1885): 352.2.3 Chiến tranh Trung-Nhật từ 25/7/1894 – 3/1895: 402.2.4 Quá trình xâm nhập Trung Quốc của các nớc đế quốc khác 45
Chơng 3 Sự chuyển biến về kinh tế - xã hội của TRung Quốc cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX 52
3.2 Sự chuyển biến về chính trị- xã hội 56
3.4 Sự xuất hiện xu hớng trong phong trào giải phóng dân tộc ở
Trung Quốc cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX 60
Trang 3Danh môc viÕt t¾t
TT VHTT: Trung t©m v¨n ho¸ th«ng tin
NXB GD: Nhµ xuÊt b¶n gi¸o dôc
TTKH XH: Trung t©m khoa häc x· héi
TTNC TQ: Trung t©m nghiªn cøu Trung QuècNXB CTQG: Nhµ xuÊt b¶n chÝnh trÞ quèc gia
Trang 4B.Nội dung
Nội dung của luận văn đớc cấu tạo thành ba chơng:
Chơng 1: Bối cảnh quốc tế và Trung Quốc cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷXX
Trong chơng này chúng tôi tập trung trình bày khái quát bối cảnh quốc tế
và Trung Quốc cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Về bối cảnh quốc tế: thời kỳ này có hai vấn đề nổi bật: Thứ nhất đó làquá trình chuyển biến của CNTB từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạnCNĐQ Sự chuyển biến đó đã đặt ra yêu cầu là xuất khẩu t bản do đó đã "thúc
đẩy sự xâm chiếm thuộc địa, vì trên thị trờng thuộc địa mới dễ dàng loại trừ
đ-ợc một kẻ cạnh tranh, bằng những thủ đoạn độc quyền, mới nắm chắc đđ-ợcnhững món đặt hàng, củng cố đợc những mối liên hệ cần thiết" [24,265].Thứ hai, các nớc đế quốc đã tăng cờng xâm lợc châu á,châu Phi, châu
Mỹ la tinh, nh Anh độc chiếm ấn Độ, Mianma, bán đảo Mãlai; Pháp độcchiếm Đông Dơng; Hà Lan chiếm phần lớn quần đảo Inđônêxia; đặc biệt làhầu hết các nớc đế quốc đều tham gia xâu xé Trung Quốc
Trang 5Về tình hình Trung Quốc cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX chúng tôi tậptrung đi sâu phân tích tình hình kinh tế, chính trị, xã hội,văn hoá, t tởng.
Về kinh tế: giai đoạn này nền kinh tế nông nghiệp mang tính chất tựnhiên, tự cung tự cấp đang đứng trớc sự khủng hoảng trong khi đó mầm mốngkinh tế TBCN đã xuất hiện nhng không có điều kiện phát triển
Về chính trị, xã hội: Sau hơn hai nghìn năm tồn tại, chế độ phong kiếnTrung Quốc đang đứng trớc sự khủng hoảng trầm trọng Mâu thuẫn giai cấp,mâu thuẫn dân tộc đan xen lẫn nhau, ngày càng trở nên sâu sắc, dẫn đến nhiềucuốc đấu tranh của nhân dân đã nổ ra
Về văn hoá_ t tởng: Vào giai đoạn này t tỏng Nho giáo đang đứng trớc
sự thử thách to lớn Nó đã trở thành rào cản, cản trở sự phát triển của TrungQuốc nhng bọn phong kiến thống trị không muốn thay đổi chúng do đó sựkhủng hoảng của chế độ phong kiến Mãn Thanh ngày thêm trầm trọng
Chính trong bối cảnh đó, các nớc đế quốc đua nhau tìm cách " mở toangcánh cửa Trung Quốc"
Chơng 2: Quá trình xâu xé Trung Quốc của các nớc đế quốc cuối thế kỷXIX đầu thế kỷ XX
Đây là một trong hai chơng quan trọng của đề tài Trong chơng nàychúng tôi tập trung đi sâu vào phân tích hai vấn đề cơ bản sau: Thứ nhất làkhái quát quá trình xâm nhập Trung Quốc của các nớc đế quốc9 trớc Chiếntranh thuốc phiện lần thứ nhất (1840_1842)).Trong mục này,cũng nh các nớc
ở châu á, châu Phi, châu Mỹ la tinh, mở đầu quá trình xâm nhập vào TrungQuốc là các nhà buôn, nhà truyền đạo Từ thế kỷ XVI, đã xuất hiện hàng loạt
đại diện của các nớc phơng Tây ở Trung Quốc Bên cạnh các cố đạo, các nhàbuôn ngời Bồ, ngời Tây Ban Nha là ngời Anh, ngời Pháp, ngời Nauy, Thuỵ
Điển, Đan Mạch, Hà Lan, Nga, Nhật, Mỹ,v.v Các nớc đế quốc tìm mọi cách
để có thể xâm nhập và xâm lợc quốc gia đất rộng ngời đông này; Hai là quátrình xâu xé Trung Quốc của các nớc đế quốc cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷXX.Trong mục này, chúng tôi đi sâu phân tích nguyên nhân, diễn biến, tínhchất cũng nh hậu quả của các cuộc chiến tranh từ Chiến tranh thuốc phiện lầnmột, lần hai; Chiến trang Trung Pháp; Chiến tranh Trung_ Nhật; Cho đến sựbành trớng, can thiệp của các nớc đế quốc khác vào Trung Quốc.Hậu quả màcác cuộc chiến tranh này đa lại là một loạt các hiệp ớc, điều ớc bất bình đẳng
nh Điều ớc Nam Kinh(29/8/1842);Hoà ớc Trung_Pháp (9/5/1885); Hiệp ớc
Trang 6Mã Quan(17/4/1895); hiệp ớc Tân Sửu(7/9/1901),v.v Với những hiệp ớc,
điều ớc mà triều đình Mãn Thanh phải chấp nhận kí với các nớc đế quốc đãlàm cho chủ quyền của Trung Quốc ngày càng bị suy giảm và lệ thuộc chặtchẽ vào nớc ngoài Để từ đó, từ một quốc gia phong kiến có chủ quyền, TrungQuốc đã bị biến thành một nớc nửa thuộc địa, nửa phong kiến
Chơng 3: Sự chuyển biến kinh tế_ xã hội của Trung Quốc cuối thế kỷXIX đầu thế kỷ XX
Đây cũng là một trong hai chơng trọng tâm của đề tài, chúng tôi tậpphân tích sự chuyển biến về kinh tế, chính trị, xã hội cũng nh về văn hoá và ttởng.Sự chuyển biến ấy đã dẫn đến sự xuất hiện những xu hớng khác nhautrong phong trài đấu tranh chống phong kiến, chống đế quốc
Về kinh tế: Với sự xâm nhập của CNTB nớc ngoài kinh tế TBCN trongnền kinh tế Trung Quốc đã từng bớc phát triển Nó đã làm thay đổi nền kinh tếtruyền thống của Trung Quốc từ nền kinh tế nông nghiệp mang tính chất tựcung tự cấp sang nền kinh tế hàng hoá theo hớng kinh tế thị trờng
Về chính trị, xã hội: Sự xâm nhập của CNTB vào Trung Quốc, đồng thờivới việc làm biến đổi nền kinh tế Trung Quốc thì nó cũng làm cho tình hìnhchính trị, xã hội Trung Quốc cũng có nhiều thay đổi.Nếu nh trớc đây chủ yếu
là mâu thuẫn giai cấp: giữa giai cấp nông dân với giai cấp địa chủ, quan lại thì
đến lúc này mâu thuẫn giai cấp lại còn đan xen với mâu thuẫn dân tộc, từ đólàm cho tình hình chính trị, xã hội Trung Quốc luôn luôn nằm trong tình trạngbất ổn định Với sự xâu xé của các nớc đế quốc, Trung Quốc từ một nớcphong kiến độc lập, thống nhất đã trở thành một nớc nửa thuộc địa, nửa phongkiến
Về t tởng: đến lúc này t tởng quân chủ trở nên lỗi thời, lạc hậu, Nho họckhông đáp ứng đợc yêu cầu lịch sử dẫn đến xuất hiện một trào lu t tởng, tiếpthu khoa học phơng Tây để làm cho " phú quốc cờng vinh", một luồng giómới đã thổi vào Trung Quốc, đó là t tởng dân chủ t sản
Từ những biến đổi trên, Trung Quốc thời kỳ này đã xuất hiện nhiềuphong trào đấu tranh chống phong kiến, chông đế quốc khác nhau.Trong đótiêu biểu nhất là phong trào Thái Bình Thiên Quốc; phong trào Dơng Vụ;Nghĩa Hoà đoàn; phong trào Duy Tân Mậu Tuất; cách mạng Tân Hợi
Những cuộc cách mạng cũ ở Trung Quốc đã không đáp ứng đợc yêu cầucủa lịch sử Vì vậy, đầu thế kỷ XX, từ cách mạng dân chủ cũ, Trung Quốc đã
Trang 7chuyển sang cách mạng dân chủ mới với sự ra đời của Đảng Cộng Sản TrungQuốc ( năm 1921).
1 Lý do chọn đề tài
Trung Quốc là một quốc gia có nền văn minh phát triển sớm, nó nh mộtdòng chảy liên tục từ thời cổ đại, trung đại, cận đại, hiện đại Trong dòng chảychung ấy cũng nh các quốc gia văn minh khác, Trung Quốc có lúc thăng cólúc trầm và thực sự đã để lại nhiều dấu ấn Có những lúc văn minh TrungQuốc phát triển rực rỡ đạt đến đỉnh cao của văn minh nhân loại Nhng cũng cónhững thời kỳ Trung Quốc lại rơi vào tình trạng loạn lạc, rối ren, khủng hoảngtrầm trọng Đến giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là một trong nhữngmốc đáng nhớ trong dòng chảy đó
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX trong lúc các nớc phơng Tây bớc sanggiai đoạn ĐQCN cũng là khi các quốc gia phơng Đông trở thành đối tợng xâmlợc của CNTD Nhng điều đặc biệt, nếu nh các quốc gia phơng Đông khác hầuhết cuối cùng bị một tên đế quốc độc chiếm thì Trung Quốc một đất nớc đấtrộng ngời đông lại bị bọn đế quốc đua nhau xâu xé
Cũng trong thời kỳ lịch sử ấy, lịch sử cận đại phong kiến Trung Quốc sauhơn hai nghìn năm tồn tại đã bớc vào giai đoạn suy tàn và khủng hoảng trầmtrọng, đó cũng là lúc Trung Quốc xuất hiện một số yếu tố TBCN, tuy nhiêncha có điều kiện để phát triển mạnh mẽ Chính quá trình xâm lợc, khai thác,bóc lột thuộc địa của bọn ĐQTD, bên cạnh những ảnh hởng có tính chất tiêucực thì cũng đã có những tác động nhất định làm biến đổi tình hình kinh tế, xãhội Trung Quốc mà điểm nổi bật là sự ra đời và phát triển của nền sản xuấtTBCN
Quá trình xâu xé Trung Quốc của các nớc đế quốc cũng nh sự biến đổicủa Trung Quốc dới tác động của CNTD là những vấn đề đã đợc một số tàiliệu đề cập đến Tuy nhiên cũng phải đợc tiếp tục tìm hiểu Mặt khác tìm hiểunhững vấn đề này giúp chúng ta có những nhận thức sâu sắc hơn, đúng đắnhơn về một trong những bớc thăng trầm của lịch sử Trung Quốc Chính từ sựthăng trầm đó Trung Quốc đi vào quỹ đạo phát triển mới
Trang 82 Lịch sử vấn đề:
Liên quan đến nội dung của đề tài đã có khá nhiều công trình nghiên cứucủa các học giả Trung Quốc, Việt Nam cũng nh phơng Tây Vì điều kiện cònhạn chế về mặt ngoại ngữ, chúng tôi cha có dịp tiếp cận đến tất cả các t liệuliên quan đến đề tài Thông qua các công trình nghiên cứu đã đợc dịch thuật
và các công trình nghiên cứu của các tác giả Việt Nam, chúng tôi huy độngnhững t liệu có giá trị nhất để giải quyết những vấn đề mà đề tài đặt ra
Dới góc độ nghiên cứu của các nhà nghiên cứu Trung Quốc, đáng chú ý
có các công trình nghiên cứu nh Đinh Hiểu Kiên "Lịch sử cận đại TrungQuốc", quyển 2 [10]; Hà Cán Chi "Lịch sử cách mạng hiện đại Trung Quốc",tập 1 [3]; Hồ Hoa "Lịch sử cách mạng dân chủ ở Trung Quốc" [4]; Hồ Thằng
"Một số vấn đề về nghiên cứu lịch sử cận đại Trung Quốc" [5] Thông qua cáccông trình nghiên cứu này, các tác giả đã làm sáng rõ tiến trình lịch sử cận đạiTrung Quốc và đã ít nhiều đề cập đến quá trình xâu xé cũng nh sự biến đổicủa Trung Quốc về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, văn hoá t tởng Ví dụ
nh các công trình nghiên cứu của Đinh Hữu Tiên, tác giả đã đề cập khá kỹ quátrình xâm nhập của CNTD vào Trung Quốc; nguyên nhân dẫn đến Chiến tranhthuốc phiện lần thứ I (1840 - 1842); nội dung của các hiệp ớc, điều ớc bất bình
đẳng mà triều đình Mãn Thanh đã phải ký với các nớc phơng Tây "nh điều ớcNam Kinh (29/8/1842); điều ớc Thiên Tân; Hoà ớc Trung - Pháp (9/5/1895);hiệp ớc Mã Quan (17/4/1895); v.v ); cũng nh sự biến đổi về các mặt kinh tếxã hội Trung Quốc cuối thế kỷ XIX
Còn ở Việt Nam đáng chú ý có các công trình nghiên cứu của NguyễnHuy Quý "Lịch sử cận đại Trung Quốc" [16]; Nguyễn Gia Phu, Nguyễn HuyQuý "Lịch sử cận đại Trung Quốc" [17]; Nguyễn Anh Thái (cb), Đặng ThanhTịnh, Ngô Phơng Bá "Lịch sử Trung Quốc" [18]; Nguyễn Hiến Lê "Lịch sửTrung Quốc" [13]; Nguyễn Thị Hơng "Sự chuyển biến của kinh tế xã hộiTrung Quốc cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX dới tác động của CNTD" [14] -
LV Thạc sĩ và một số công trình khác Trong số các công trình nghiên cứutrên đề cập đến tiến trình lịch sử cận đại Trung Quốc tơng đối rõ là cuốn "Lịch
sử cận đại Trung Quốc" của Nguyễn Huy Quý Trong công trình này, tác giả
đã phân tích bối cảnh quốc tế và Trung Quốc cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX,trong đó nhấn mạnh đến sự khủng hoảng trầm trọng của chế độ phong kiếnMãn Thanh và sự đan xen giữa mâu thuẫn giai cấp với mâu thuẫn dân tộc dẫn
Trang 9đến các cuộc đấu tranh quyết liệt nh Thái Bình Thiên Quốc, Nghĩa Hoà Đoàn,phong trào Duy Tân và đỉnh cao là cách mạng Tân Hợi - 1911.
Các nhà nghiên cứu Liên Xô trớc đây (Nga hiện nay) cũng đã có nhiềucông trình nghiên cứu về Trung Quốc trong thời kỳ cận đại, trong đó có một
số công trình tiêu biểu nh: V.R Ghenbrắc "Kết cấu giai cấp xã hội TrungQuốc trớc cách mạng" [26]; "Lịch sử cận đại Trung Quốc" (NXB Khoa họcMatxcơva); A Rephnhicốp "Lê-nin bàn về phong trào giải phóng dân tộc vàphong trào cộng sản phơng Đông" [1]
Đặc biệt TTKH XH, TTNC Trung Quốc đã có những đề tài chuyên sâunh: "Cách mạng Tân Hợi, 90 năm sau nhìn lại" [21]; "Phong trào Thái BìnhThiên Quốc, 100 năm sau nhìn lại" [22] v.v… Thông qua những chuyên đề Thông qua những chuyên đềnày một số vấn đề mà đề tài đặt ra cũng đã ít nhiều đợc đề cập đến
Từ những công trình nghiên cứu mà chúng tôi đã có dịp tiếp cận, chúngtôi nhận thấy rằng vấn đề về quá trình xâu xé Trung Quốc của các nớc đếquốc cũng nh quá trình biến đổi về kinh tế, xã hội của Trung Quốc cuối thế kỷXIX đầu thế kỷ XX là một trong những vấn đề trọng tâm của lịch sử TrungQuốc trong một giai đoạn nhất định Vấn đề đó ít nhiều đã đ ợc đề cập đếntrong các công trình nghiên cứu nhng cha có một công trình nào trình bày,
phân tích có hệ thống Chình vì vậy mà chúng tôi chọn đề tài: " Quá trình
xâu xé Trung Quốc của các nớc đế quốc và sự chuyển biến về kinh tế xã hội của Trung Quốc cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX" làm đề tài luận
-văn tốt nghiệp
3 Giới hạn đề tài:
- Về mặt thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu quá trình xâu xé TrungQuốc của các nớc đế quốc và sự chuyển biến về kinh tế - xã hội của TrungQuốc cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX (cụ thể từ Chiến tranh thuốc phiện lầnthứ I (1840 - 1842) cho đến Cách mạng Tân Hợi (1911))
- Về nội dung: Đề tài tập trung hai nội dung chính là quá trình xâu xéTrung Quốc của các nớc đế quốc và sự chuyển biến về kinh tế - xã hội củaTrung Quốc cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX dới tác động của CNTD
4 Phơng pháp nghiên cứu: Để giải quyết những vấn đề do đề tài đặt ra
và với đặc trng của khoa học lịch sử chúng tôi chủ yếu sử dụng hai phơngpháp: Phơng pháp lịch sử và phơng pháp lôgíc Ngoài ra một số phơng pháp
Trang 10khác nh đối chiếu, thống kê cũng đợc sử dụng để bổ trợ cho các phơng pháptrên.
5 Bố cục đề tài: Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, mục
lục luận văn gồm có ba chơng:
Chơng 1: Bối cảnh quốc tế và Trung Quốc cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.Chơng 2: Quá trình xâu xé Trung Quốc của các nớc đế quốc cuối thế kỷXIX đầu thế kỷ XX
Chơng 3: Sự chuyển biến về kinh tế - xã hội của Trung Quốc cuối thế kỷXIX đầu thế kỷ XX
B NộI DUNG
Chơng 1: Bối cảnh quốc tế và Trung Quốc
cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
1.1 Bối cảnh quốc tế cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
1.1.1 Quá trình chuyển biến của CNTB từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền nhà nớc.
Theo lí luận Mác, xã hội loài ngời đã, đang và sẽ trãi qua 5 hình thái kinhtế-xã hội đó là : cộng sản nguyên thuỷ, xã hội chiếm hữu nô lệ, xã hội phongkiến, xã hội TBCN và xã hội CNCS Cuối thế kỷ XIX, CNĐQ đã xuất hiện nh
là sự phát triển và sự kế tục trực tiếp những đặc tính cơ bản của CNTB nóichung, Nh vậy ta có thể nói CNĐQ là một giai đoạn phát triển cao của CNTB
“ Nhng CNTB chỉ trở thành CNĐQ khi nó đã đạt tới một giai đoạn phát triểnnhất định, rất cao, khi một số những đặc tính cơ bản của CNTB đã bắt đầubiến thành những cái đối lập lại với chúng, khi những đặc điểm của một thời
kỳ quá độ từ CNTB sang một hình thái kinh tế-xã hội cao hơn, đã hình thành
và bộc lộ ra về mọi mặt" 24,tr269 Trong thời gian này, những công ty độcquyền TBCN đã thay thế cho cạnh tranh tự do TBCN, Cạnh tranh tự do là đặctính cơ bản của CNTB và của nền sản xuất hàng hoá nói chung; độc quyền làcái đối lập hẳn với cạnh tranh tự do; nhng chúng ta đã thấy cạnh tranh tự dongày càng biến thành cạnh tranh độc quyền, tạo ra nền sản xuất lớn hơn, loại
Trang 11bỏ nền sản xuất nhỏ, thay thế nền sản xuất lớn bằng một nền sản xuất lớnhơn nữa, thúc đẩy sự tập trung sản xuất và t bản đến một trình độ mà sự tậptrung này đã và đang làm cho các tổ chức độc quyền xuất hiện nh : cácten,xanhđica, tơrơt.
Cácten là tổ chức hợp nhất nhằm phân chia thị trờng tiêu thụ, xác địnhquy mô sản xuất và giá cả
Xanhđica là tổ chức hợp nhất để bán hàng chung cho các xởng
Tơrơt là hợp nhất hoàn toàn quyền sở hữu xí nghiệp nhằm thống nhất trêncơ sở tài chính chung phụ thuộc vào một nhóm lũng đoạn
Nhng công ty độc quyền không thủ tiêu cạnh tranh tự do là cái đã sinh ra
nó mà nó tồn tại ở trên sự cạnh tranh tự do và cùng với sự cạnh tranh tự do, do
đó mà gây ra những mâu thuẫn, những sự va chạm và xung đột đặc biệt sâusắc và kịch liệt.Nó không còn là sự tranh chấp giữa các công ty t nhân mà làgiữa các tập đoàn lũng đoạn lớn của nhà nớc Để tạm thời hoà hoãn mâuthuẫn, các liên minh độc quyền phải thơng lợng với nhau để lập nên cáctenquốc tế với mục đích phân chia thị trờng đầu t Đến cuối thế kỷ XIX các tổchức độc quyền đã thực hiện chính sách lũng đoạn quốc tế của mình để thaythế cho các hình thức cạnh tranh tự do, đơn giãn trớc đây “Độc quyền là bớcquá độ từ CNTB lên một chế độ cao hơn “ (24,tr 269 )
Cùng lúc này sự tập trung cũng diễn ra trong ngành ngân hàng và cónhững nơi nhanh hơn tập trung công nghiệp Những nhà ngân hàng lớn thu húthoặc khống chế các ngân hàng nhỏ Phần lớn tài chính ở Đức tập trung trongtay 6 ngân hàng, ở Pháp có 3-4 ngân hàng; ở Mỹ có 2 ngân hàng Sử dụngnguồn t bản to lớn của mình, chủ ngân hàng gây áp lực đối với các ngành sảnxuất để thiết lập quyền kiểm soát trong công nghiệp, thơng nghiệp, vận tảiv.v
Từ đó đại diện của ngân hàng thờng tham gia các ban quản trị, có khi nắm cácchức vụ giám đốc của xí nghiệp, hội buôn, công ty vận tải, bảo hiểmv.v Sựhình thành t bản tài chính với số vốn kếch xù, quyền lực vô hạn đã tạo nênmột bọn trùm t bản khống chế các mặt sinh hoạt kinh tếvà chính trị của nhànớc
Nh vậy, đặc điểm của CNĐQ tuyệt nhiên không phải là t bản côngnghiệp, mà là t bản tài chính Không phải ngẫu nhiên mà ở Pháp sự phát triển
đăc biệt nhanh chóng của t bản tài chính ăn khớp với tình trạng suy yếu của tbản công nghiệp, đã làm cho ngay từ những năm 1880 đến 1890, chính sách
Trang 12đạn trong những cuộc chiến tranh ăn cớp Mặt khác, “ việc xuất khẩu t bảncũng thúc đẩy sự xâm chiếm thuộc địa, vì trên thị trờng thuộc địa mới dễ dàngloại trừ đợc một kẻ cạnh tranh, bằng những thủ đoạn độc quyền, mới nắmchắc đợc những món đặt hàng, củng cố đợc những mối “ liên hệ “ cần thiết “[24, tr265 ] Bởi vậy dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt giữa các t bản già và t bảntrẻ Các nớc đế quốc vẫn ráo riết đi tìm thuộc địa ở những vùng đất còn “ bỏtrống".Các đế quốc "già" thì không chỉ muốn duy trì thuộc địa cũ mà cònmuốn mở rộng thêm đất đai Các đế quốc “ trẻ” thì đòi hỏi một “ chỗ đứng dới
ánh mặt trời" không chỉ muốn chiếm vùng đất còn “ trống” mà còn lăm legiành giật thuộc địa của kẻ khác Điều đó cũng dễ hiểu vì “ CNTB phát triểncàng cao nguyên liệu càng thiếu thốn, cạnh tranh càng gay go và việc tìmkiếm các nguồn nguyên liệu trên thế giới càng ráo riết, thì cuộc đấu tranh đểchiếm thuộc địa càng quyết liệt hơn" [24, tr263] Nhất là đến đầu thế kỷ XX,việc phân chia thế giới hầu nh đã “ hoàn thành" thì các lãnh thổ chỉ có thể
đem chia lại mà thôi
Đồng thời trong thời kỳ ĐQCN nền sản xuất đợc xã hội hoá ở mức độcao và trên thế giới đã hình thành 5 khu vực kinh tế chủ yếu “ Trong đó 3 khuvực, trong đó CNTB đã phát triển cao ( đờng giao thông, thơng nghiệp vàcông nghiệp đều phát triển ) là khu vực Trung Âu, khu vực Anh và khu vực
Mỹ Trong các khu vực đó có 3 nớc thống trị thế giới: Đức , Anh, Mỹ" [24,tr274] Trong các khu vực đó sự cạnh tranh ĐQCN và cuộc đấu tranh giữa cácnớc đó thì vô cùng kịch liệt Sự đấu tranh đó không nằm ngoài mục đích là mởrộng lãnh thổ và chiếm thêm nhiều thuộc địa
Từ sự phân tích một cách khoa học giai đoạn phát triển mới của CNTBnêu lên bản chất và địa vị lịch sử của nó Lênin vạch ra 5 đăc trng cơ bản củaCNĐQ là:
Trang 131 Sỳ tập trung sản xuất vẾ t bản phÌt triển cao tợi mực tỈo ra nhứng tỗchực Ẽờc quyền cọ mờt vai trò quyết ẼÞnh trong sinh hoỈt kinh tế.
2 Sỳ tập hùp t bản ngẪn hẾng vợi t bản cẬng nghiệp vẾ tràn cÈ sỡ “ t bảntẾi chÝnh" Ẽọ, xuất hiện mờt bồn Ẽầu sõ tẾi chÝnh
3 Việc xuất khẩu t bản, khÌc vợi xuất khẩu hẾng hoÌ Ẽ· cọ mờt ý nghịaquan trồng Ẽặc biệt
4 Sỳ hỨnh thẾnh nhứng khội liàn minh thế giợi cũa bồn t bản Ẽờc quyềnchia nhau thế giợi
5 Việc cÌc cởng quộc t bản lợn nhất Ẽ· chia nhau xong Ẽất Ẽai tràn thếgiợi
Qua Ẽọ ta thấy “CNưQ lẾ CNTB ẼỈt Ẽến mờt giai ẼoỈn phÌt triển trong
Ẽọ sỳ thộng trÞ cũa cÌc tỗ chực Ẽờc quyền vẾ cũa t bản tẾi chÝnh Ẽ· Ẽùc xÌclập, việc xuất khẩu t bản Ẽ· cọ mờt tầm quan trồng bậc nhất, sỳ phẪn chia thếgiợi Ẽ· b¾t Ẽầu tiến hẾnh giứa cÌc tÈrÈt quộc tế, vẾ sỳ phẪn chia toẾn bờ Ẽất
Ẽai tràn thế giợi giứa cÌc nợc t bản lợn nhất Ẽ· lẾm xong " [24, tr269]
Nh vậy, Ẽến cuội thế kỹ XIX Ẽầu thế kỹ XX , CNTB Ẽ· phÌt triển Ẽến
Ẽình cao, kinh tế phÌt triển mỈnh Ẽòi hõi phải mỡ rờng thÞ trởng bÍng cÌchchiếm cÌc thuờc ẼÞa, khẬng chì lẾ nhứng nợc nẬng nghiệp mẾ còn cả nhứng n-
ợc cẬng nghiệp phÌt triển ưặc biệt lẾ nhứng nợc cọ dẪn sộ ẼẬng, giẾu tẾinguyàn thiàn nhiàn vẾ cọ vÞ trÝ chiến lùc quan trồng, dẫn Ẽến cuờc chiến tranhthế giợi thự nhất giứa cÌc nợc Ẽế quộc Qua Ẽọ ta thấy cuội thế kỹ XIX Ẽầuthế kỹ XX CNTB Ẽ· biến thẾnh CNưQ hay cỈnh trỈnh Ẽờc quyền Ẽ· thay thếcho cỈnh tranh tỳ do
1.1.2 QuÌ trỨnh xẪm lùc thuờc ẼÞa cũa cÌc nợc Ẽế quộc.
Tử CNTB sang CNưQ, thỨ nhứng cuờc xẪm chiếm thuờc ẼÞa b¾t Ẽầu “phÌt triển" phi thởng vẾ cuờc Ẽấu tranh Ẽể phẪn chia l·nh thỗ tràn thế giợi trỡnàn vẬ củng gay g¾t vỨ nh Lànin Ẽ· nọi “ưiều quan trồng lẾ CNTB khẬng thểtổn tỈi vẾ phÌt triển, nếu khẬng thởng xuyàn mỡ rờng phỈm vi ảnh hỡng cũanọ" [18, tr15]
Cọ thởi – cuội thế kỹ XVIII- nhiều nợc Ẽ· chÌn thuờc ẼÞa ChỊng hỈnPhÌp xung Ẽờt vợi Anh, mất ấnườ vẾ Phi Luật TẪn sinh nản chÝ, TẪy Ban Nha,
Bổ ưẾo Nha vẾ HẾ Lan Ẽ· cọ nhiều thuờc ẼÞa quÌ, giứ gỨn khẬng xuể, cúngkhẬng muộn kiếm thàm, chÝnh Anh cúng ngở rÍng thuờc ẼÞa khẬng cọ lùi khithấy kết quả nhứng phong trẾo cÌch mỈng ỡ B¾c Mý vẾ Nam Mý Nh vậy,
Trang 14những cuộc xung đột giữa các nớc đế quốc và những cuộc nổi dậy của nhândân thuộc địa gây ra nhiều thiệt hại cho các nớc đế quốc làm cho họ “ chánthuộc địa"- nhng từ 1870 do sự biến đổi về chính trị và phát triển về kinh tếphong trào đế quốc hng khởi mạnh mẽ vô cùng khiến cho tham vọng của họlại nổi dậy.
Đó là Đức và ý sau khi đã thống nhất, muốn kiếm thêm đất đai, Pháp sauchiến tranh với Phổ, phải cắt nhợng cho Phổ 2 tỉnh Alsace, Lorraine cũng cố ýchiếm thuộc địa để bù lại Anh với lòng tham vô biên, nhất định không chịucho nớc nào hơn mình, hăng hái vợt Pháp trong chính sách đế quốc
Nhng quan trọng hơn Do cuộc cách mạng kỹ nghệ và “ trong thời kỳthống trị của mình, CNTB cũng đã tạo ra một sức sản xuất khổng lồ bằng tấtcả các thế hệ loài ngời trớc đó tạo ra" Hoá phẩm ở nớc Anh, Pháp, Đức sảnxuất quá d, bản lẫn cho nhau không đợc bao nhiều phải bán ra ngoài châu Âu,nghĩa là phải chiếm thuộc địa Lại thêm kỹ nghệ mới cần nhiều nguyên liệu
nh đồng, sắt, chì v.v càng trở nên cấp bách Và cùng với sự tăng dân số ở vàinớc ( Đức, Nhật ) tăng lên mau quá, phải có đất mới để di dân “Thành thửthuộc địa không phải chỉ là một thị trờng mà là một đất thực dân và chính sáchxâm lăng, bóc lột các dân bản xứ đợc thi hành một cách triệt để " [15, tr 93].Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX các cờng quốc châu Âu với chủ trơng, quan
điểm của mình về thuộc địa đã tiến hành chinh phục khắp thế giới từ châu á,châu Phi đến châu Mỹ la tinh
Châu á là vùng đông dân c nhất thế giới, bao gồm những nớc có lãnh thổrộng lớn với nguồn tài nguyên thiên nhiên hết sức phong phú – từ cuối thế kỷXIX các nớc châu á đã trở thành những nớc thuộc địa, nửa thuộc địa và là thịtrờng chủ yếu của các nớc đế quốc: Anh, Pháp, Mỹ, Nhật Bản, Hà Lan v.v Trong đó Trung Quốc là mảnh đất đợc các nớc đế quốc chú ý nhiều nhất
Mở đầu là nớc Anh Lịch sử 30 năm cuối thế kỷ XIX của nớc Anh gắnliền với những cuộc chiến tranh xâm lợc thuộc địa
Thực dân Anh tăng cờng bóc lột ấn Độ, biến nơi đó thành căn cứ hảiquân ở vùng Đông Nam á Anh cũng giành đợc từ tay ngời Hà Lan bán đảoMalắcca và âm mu chiếm toàn bộ Mã Lai Trong những năm 70-80 Anh tiếnhành xâm lợc các cờng quốc miền Tây Mã Lai và đến năm 90 thì biến Mã Laithành thuộc địa dới hình thức “ liên bang các vơng quốc Mã Lai".Cùng thờigian này Anh nhiều lần tấn công Miến Điện Cuộc chiến tranh xâm lợc Miến
Trang 15lần thứ 3 (1885) đã chấm dứt nền độc lập của Miến và biến nớc này thành mộttỉnh của ấn Độ thuộc Anh.
Năm 1878 các nớc Apganistan, Bắc Calimantan và phần đông nam TânGhinê lần lợt bị Anh chiếm đóng và thuộc sự bảo hộ của Anh
Từ giữa thế kỷ XIX Anh cùng vói các đế quốc khác tiến hành các cuộcchiến tranh xâm lợc Trung Quốc, để đợc chia phần ở mảnh đất béo bở này.Cùng với Anh, nớc Pháp cũng tiến hành chiến tranh xâm lợc các nớcchâu á Các cuộc chiến tranh xâm lợc thuộc địa đợc tiến hành ở châu á, châuPhi đã trở thành một vấn đề quan trọng trong chính sách đối ngoại của Pháp.Năm 1858, Pháp mở cuộc chiến tranh xâm lợc Việt Nam đến năm 1884thì hoàn thành việc thôn tính Cùng thời gian này, thực dân Pháp ráo riết tiếnhành xâm lớc Lào, Cămpuchia biến những nơi đó thành thuộc địa
Cũng nh Anh và các nớc đế quốc khác, Pháp tham gia xâu xé TrungQuốc biến một số vùng giàu có của nớc này thành khu vực thuộc ảnh hởngcủa mình và Pháp có nhiều quyền lợi ở trên đó Nh sau này AllbertSaraut đãnói : “ là nhân tố thắng lợi của ngày hôm qua, lĩnh vức thuộc địa ngày nay cóthể trở thành một trong những nhân tố chủ yếu của sự khôi phục kinh tế và tàichính của chúng ta" Nh vậy thuộc địa không chỉ là nơi có thể phục vụ chocuộc chiến tranh của các nớc đế quốc mà còn là nhân tố để các nớc đế quốckhôi phục kinh tế và tài chính của chúng sau chiến tranh Dù trong hoàn cảnhnào thuộc địa đều có thể phục vụ lợi ích cho bọn đế quốc Nên bất kỳ một nớc
đế quốc nào cũng tìm cách chiếm thuộc địa và mở rộng thuộc địa
Đức là một nớc đế quốc trẻ, mới phát triển sau các nớc Anh, Pháp,Mỹnhng với quan niệm “ chỉ có máu mới giải quyết đợc những vấn đề lớn, những
t tởng vĩ đại đòi hỏi phải có máu và chiến tranh là hình thức tồn tại của conngời thởng đẳng"[23,tr252] và với tinh thần “ nớc Đức là trên hết "giới cầmquyền hiếu chiến Đức nh thủ tớng Phônbulôp đề ra kế hoạch xâm chiếm hoàncầu nhằm chiếm tất cả thuộc địa của Anh,Pháp,Bỉ,Bồ Đào Nha Và tất nhiênchâu á là mảnh đất mà nớc Đức đế quốc không thể bỏ qua Cũng nh các nớc
đế quốc khác, Đức không thể bỏ qua Trung Quốc và đã cùng các nớc đế quốckhác xâu xé Trung Quốc
Cùng với các nớc đế quốc châu Âu, đế quốc Mỹ- một siêu cờng thế giớicũng thực hiện chính sách bành trớng của mình ở châu á, Mỹ tiến hành
Trang 16nhiều cuộc đột nhập vàoTriều Tiên, muốn chiếm nớc này để làm bàn đạp, phơngtiện đến “ bữa tiệc" Trung Quốc, nơi mà các nớc đế quốc đang chia nhau.
Nh vậy, sau khi các nớc đế quốc ra đời đều muốn tìm kiếm những vùng
đất ngoài lãnh thổ của mình để phục vụ cho sự phát triển kinh tế cũng nh lĩnhvực chính trị của mình Và nơi các nớc đế quốc hớng sự quan tâm của mình,tìm mọi cách để xâm nhập vào là khu vực châu á, đặc biệt là Trung quốc.Cùng với quá trình xâm lợc châu á, các nớc đế quốc cũng tìm cách đểxâm lợc các nớc ở châu Phi Cũng nh các nớc ở châu á, các nớc châu Phi lầnlợt rơi vào ách thống trị của các nớc đế quốc Anh, Pháp, Đức, Tây Ban Nha,
Bồ Đào Nha, Bỉ
Châu Phi là một vùng đất rộng lớn với hơn 30 triệu km2,là lục địa lớn thứ
2 thế giới, có nguồn tài nguyên, khoáng sản phong phú, đa dạng và kích thíchtham vọng của các nớc đế quốc, thêm vào đó là trình độ phát triển xã hội thấp,lạc hậu nên các nớc phơng Tây dễ dàng chinh phục châu Phi
Các nớc phơng Tây đã gõ cửa khu vực châu Phi từ cuôi thế kỷ XV nhng
họ cha chú ý khai thác châu Phi Họ chủ yếu lập các điểm buôn bán ở những
vị trí thuận lợi để trao đổi hàng hoá thu mua nguồn nguyên liệu rẻ mạt Đến
đầu thế kỷ XIX, châu Phi mới thực sự trở thành miếng mồi xâu xé của các n
-ớc đế quốc.Đến đầu thế kỷ XX, 90,4% diện tích đất đai châu Phi đã trở thànhthuộc địa của phơng Tây Cụ thể là :
Ai Cập, Đông Xu Đăng, Tây Nigiê ria, Bờ biển Vàng, Gămbia, Cáp… trởthành thuộc địa của Anh
Tây Phi, Cônggô thuộc Pháp, Angiê ri, Tuynidi, Tây Xu Đăng, Xênêgan,Mađaga xca trở thành thuộc địa của Pháp
Còn Tây Nam Phi, Cama run, Tôgô thuộc Đức
Môdămpich, Ănggôla, Ghinê thuộc Bồ Đào Nha
Có nhiều nớc, nhiều khu vực chịu ảnh hởng của nhiều đế quốc nh ĐôngPhi vừa thuộc Đức vùa thuộc Anh, Xômani thuộc Anh lẫn thuộc Pháp, Ghinêthuộc Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha
Châu Mỹ la tinh là một bộ phận lãnh thổ rộng lớn của châu Mỹ, dài hơn
12 nghìn km, suôt từ Mêhicô đến tận phía Nam châu Mỹ la tinh nằm giữa 2
đại dơng là Đại Tây Dơng và Thái Bình Dong, với diện tích khoảng 21 triệu
km2 là một lãnh thổ đợc thiên nhiên hậu đãi, rất phì nhiêu cây cối tốt tơi, tàinguyên vô cùng phong phú, tập trung nhiều kim loại quý nh vàng, bạc, kim c-
Trang 17ơng bạch kim, có nhiều dầu lửa Và các mỏ quặng, mỏ kim loại cũng dồi dào
và dễ khai thác v.v Những thứ đó làm cho các nớc đế quốc thèm muốn vàcũng muốn bành trớng xuống khu vực này nhng đều gặp phải sự ngăn cản của
đế quốc Mỹ Ngay từ đầu thế kỷ XIX tổng thống Mỹ Mônrơn đã tuyên bố :"lục địa châu Mỹ đã chọn và duy trì đợc độc lập, tơng lai của nó không thể bịmột cờng quốc chau Âu nào đô hộ nữa"[23, tr554 ] Và với khẩu hiệu “ châu
Mỹ của ngơi châu Mỹ", Mỹ đã gạt dần hoặc đẩy xuống hàng thứ yếu ảnh ởng của các nớc t bản châu Âu ở Mỹ la tinh
h-Với những chính sách đó của Mỹ, các nớc châu Mỹ la tinh tuy có chịu
ảnh hởng của các nớc t bản đế quốc châu Âu nhng không đang kể mà chủ yếu
là chịu ảnh hởng của Mỹ, Mỹ hầu nh độc chiếm khu vực này và nâng cao vaitrò của Mỹ trên trờng quốc tế
Nh vậy sau khi thoát khỏi ách thống trị của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha,
về hình thức các nớc Mỹ la tinh đã trở thành các quốc gia độc lập nhng trênthực tế, phụ thuộc vào Hoa Kỳ với mức độ khác nhau
Qua đó ta thấy dù với đặc điểm, tính chất nào là “ CNĐQ thực dân “( CNĐQ Anh) hay “ CNĐQ chuyên cho vay nặng lãi" ( CNĐQ Pháp ).v.v Thìcác nớc đế quốc đều tiến hành xâm lợc thuộc địa để phục vụ cho sự phát triểncủa mình Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ,nớc Anh là nớc có nhiều thuộc địanhất với diện tích 33 triệu km2 ,dân số 370 triệu dân , đứng thứ hai sau Anh làPháp với diện tích là 3,7 triệu dặm vuông và 56,1 triệu dân
Nh vậy , đối với các nớc t bản đế quốc , thuộc địa là nguồn cung cấpnguyên liệu, nhân công và lơng thực rẻ mạt cuả chính quốc, là thị trờng tiêuthụ sản phẩm công nghiệp của chính quốc một cách chắc chắn và thu lợinhuận cao , là căn cứ quân sự làm bàn đạp xâm chiếm các nớc khácvà là nơixuất khẩu t bản thu nhiều lợi nhuận nhất Nên trong giai đoạn này ,các nớc tbản , đặc biệt là các nớc lớn ,đang chuyển dần từ giai đoan tự do cạnh tranhlên gai đoạn CNĐQ Cùng với việc hoàn thành xâm chiếm thuộc địa , các nớcthực dân cũng bắt đầu nảy sinh việc tranh giành thuộc địa và đấu tranh để chialại thuộc địa với các cờng quốc t bản đế quốc Tuỳ tính chất của mỗi nớc t bản
mà chính sách khai thác thuộc địa của chúng khác nhau, song về căn bảnchúng đều tìm cách chia rẽ , mua chuộc giai cấp thống trị bản xứ , bóc lộtnhân dân thuộc địa , vơ vét tài nguyên , thực hiẹn viẹc buôn bán không bình
đẳng để phục vụ lợi ích , quyền lợi của mình
Trang 181.2 Khái quát tình hình Trung Quốc cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Vào giữa thế kỷ XIX khi các nớc đế quốc thực dân Âu – Mĩ lớn mạnh ,tăng cờng hoạt động xâm lợc các nớc Đông á, cũng là lúc triều đình phongkiến Mãn Thanh lún sâu vào cuộc khủng hoảng trên tất cả các lĩnh vực kinh tếchính trị , văn hoá, xã hội v.v
1.2.1 Tình hình chính trị:
Lịch sử trung đại Trung Quốc cũng nh các nớc khác ở khu vực phơng
Đông đó là lịch sử của các triều đại phong kiến Trớc thế kỷ XIX Trung Quốc
là một quốc gia phong kiến thống nhất và độc lập dới sự thống trị của vơngtriều Mãn Thanh (1644- 1912 ) Đây là nền chuyên chính liên hợp của giai cấp
địa chủ Mãn, Hán, trong đó quý tộc Mãn ở địa vị thống trị Cũng nh các triều
đại trớc đó, họ thiết lập chế độ chuyên chế quân chủ tập quyền cao độ, hoàng
đế Mãn Thanh là ngời có quyền lực cao nhất và luôn luôn dùng quân đội đểlàm phơng tiện thống trị Và triều đình đó cũng không thoát khỏi sự thịnh suy
có tính chu kỳ của xã hội phong kiến “Các ông vua đầu đời Thanh đều muốn
“ dốc sức mu việc thịnh trị" nên tình hình nói chung ổn định và có bớc pháttriển" [14, tr7] nhng càng về sau triều đình phong kiến Mãn Thanh càng lúnsâu vào khủng hoảng Từ giữa thế kỷ XIX, nền thống trị phong kiến đã mụcnát, suy đồi từ trên xuống dới Trong triều đình, bọn tham quan ô lại chỉ lo vơvét của cải, tranh đoạt chức quyền, chẳng đoái hoài gì tới quốc kế dân sinh “Một tên quyền thần khi có tội bị phát giác tài sản tịch thu trị giá 800 triệu lạngbạc, tơng đơng với số thu nhập của nhà nớc trong khoảng 20 năm" [19,tr270-271] Nạn hối lộ cũng diễn ra một cách lỗ liễu “ chỉ riêng Hoà Thân đã dùngcác thủ đoạn phi pháp vơ vét đợc 400 triệu lạng bạc trong tổng thu nhập tàichính của triều đình Mãn Thanh mỗi năm chỉ khoảng 40 triệu lạng" [16, tr10]
Đồng thời trong triều đình thờng xuyên diễn ra các vụ tranh giành quyền lực.Triều đình tuyên truyền là Mãn, Hán bất phân nhng thực tế mâu thuẫn giữadân tộc Hán với dân tộc mãn Thanh hết sức sâu sắc : “ ngời Hán tuy cũng đợclàm quan nhng mọi quyền hành đều do quan ngời Mãn nắm giữ, nếu chức vụngang nhau thì phẩm hàm của ngời Mãn cũng cao hơn, có một số chức nh chỉhuy quân đội đóng ở các tỉnh thì chỉ ngời Mãn mới đợc đảm nhiẹm" [17, tr169- 170]
Trang 19Bọn vua quan đua nhau tiêu phung phí, nên tài chính nhà nớc bị thiếu hụtnhiều, của cải trong kho mỗi ngày một cạn, mà chi phí cho quân đội để đàn ápnhân dân mỗi ngày một tăng.
Triều đình không lo củng cố quân đội sức chiến đấu của quân lính ngàymột giảm sút Trang bị huấn luyện quân đội cũng kém trớc rất nhiều : “ khígiới phần lớn là đao, thơng, gậy gộc, kiếm, chuỳ Súng hoả mai có rất ít còn
đại bác thì bắn bằng đá, hoặc phải nhét thuốc nổ vào đầu nòng súng, rồi đốt ởphía sau, rất khó nhọc" [19,tr271]
Với nền chính trị thối nát, hủ bại đó, triều đình Mãn Thanh không đủ sứclực và can đảm để bảo vệ dất nớc khi thực dân phơng Tây tấn công xâm lợc
1.2.2 Tình hình kinh tế:
Do sự chi phối bởi các quan điểm chính trị và t tởng của Nho giáo vốntồn tại lâu đời ở đây nh t tởng “ trọng nông ức thơng" và muốn duy trì nhữngcái có sẵn không muốn để những yếu tố mới xuất hiện đe doạ đến sự thốngtrị của mình, nên triều đình phong kiến Mãn Thanh đã thi hành những biệnpháp, chính sách để kìm hãm, cản trở sự phát triển của kinh tế Trung Quốcnửa sau thế kỷ XIX
Về nông nghiệp : Sự suy yếu của chế độ phong kiến thể hiện tập trungnhất ở sự giảm sút của sức sản xuất Cũng nh các triều đại phong kiến với chủtrơng “ trọng nông ức thơng" nền kinh tế nông nghiệp của Trung Quốc lúc này
đợc chú trọng và giữ vị trí chủ đạo trong toàn bộ nền kinh tế Nông dân khôngnhững sản xuất ra sản phẩm nông nghiệp nuôi sống mình mà còn làm ra phầnlớn hàng thủ công nghiệp đáp ứng nhu cầu của bản thân Tuy vậy nền kinh tế
tự nhiên lúc này không còn thuần túy và bền vững nh thời kỳ đầu của chế độphong kiến
Cho đến giữa thế kỷ XIX, nông nghiệp vẫn đợc coi là “ thân cây" là đốitợng thu thuế chủ yếu của nhà nớc Nhng từ cuối thời Càn Long trở đi, kinh tếnông nghiệp ngày càng suy sụp Nạn kiêm tính ruộng đất trở nên phổ biếntrong cả nớc.ở tất cả các địa phơng đều xuất hiện những quan lại, địa chủchiếm hữu ruộng đất với quy mô lớn “ Theo thống kê năm 1812, ruộng đấttrực tiếp hoặc gián tiếp nằm trong tay hoàng đế có tới 830 ngàn khoảnh ( 1khoảnh= 100 mẫu Trung Quốc = 6,66 ha ) Sủng thần của vua Càn Long làHoà Thân có 8 ngàn khoảnh, nông dân chiếm tren 80% số dân cả nớc nhngchỉ có khoảng 10% ruộng đất" [16,tr10] Lực lợng sản xuất chính của xã hội là
Trang 20nông dân bị áp bức, bóc lột nặng nề Họ không có ruộng hoặc có rất ít Phầnlớn ruộng đất tập trung trong tay bọn địa chủ quan lại Mãn tộc và Hán tộc Họphải gánh vác tô thuế nặng nề Thờng thờng địa chủ thu 50-80% thu hoạch.Thơng nhân cho vay nặng lãi cũng lợi dụng những lúc nông dân gặp khó khăn
nh thiên tai, su thuế cao để bóc lột Ngoài ra nông dân còn phải chịu su cao,thuế nặng, đủ các loại phục dịch làm cho đời sống của họ thêm điêu đứng.Chính vì vậy phong trào nông dân nổi dậy liên tục khắp nơi
Về công nghiệp, những nghề thủ công nghiệp nh làm đồ sứ, làm giấy,dệt ,tơ lụa.v.v khá phát triển Trong ngành công nghiệp của Trung Quốc đãxuất hiện hiện tợng làm thuê, những hình thức sản xuất t nhân đã xuất hiện.Công trờng thủ công tập trung và phân tán đã mọc lên ở nhiều nơi Quy môsản xuất lớn hơn và kỹ thuật sản xuất cũng khá hơn.Nhng do sự bảo thủ, lạchậu của nhà nớc chuyên chế muốn “ duy trì hiện trạng hiện có một cách tiêucực, bảo thủ, có tính chất phòng ngự, phản đối tiến bộ, đến nổi đem toàn lựcngăn cản mọi xu thế mới có thể làm lung lay đợc chế độ phong kiến" [14,tr9]Nên sản xuất thủ công nghiệp của Trung Quốc chỉ dừng lại ở trình độ thủcông và tổ chức sản xuất nhỏ, không tiến lên đợc kỹ thuật sản xuất bằng máymóc Đồng thời nhà nớc còn duy trì, lũng đoạn chế độ phờng hội các phátminh khoa học thì phần nhiều chỉ nằm trên giấy tờ.Các công trờng thủ côngcũng bị đánh thuế nặng, hạn chế thuê công nhân, và không đợc mở rộng kinhdoanh sản xuất ngoài phạm vi đã quy định.v.v Chính những điều đó đã cảntrở sự phát triển kinh tế Trung Quốc trong giai đoạn đó
Cùng với công nghiệp, những trung tâm buôn bán đã hình thành và pháttriển Trong các sách lúc bấy giờ còn ghi lại tình hình buôn bán sầm uất củacác thị trấn, thành phố lớn nh :Trấn Phật Sơn, Quảng Đông, Hán Khẩu, HàngChâu.v.v.nó đợc phản ánh trong các câu ca nh "sắt thép Phật Sơn bán buônkhắp chốn”, “buôn bán sầm uất thứ nhất Tô Châu" ,"lụa Hàn Châu, sứ màuGiang Tây.v.v."
Đồng thời Trung Quốc đã buôn bán với các nớc phong Tây, đặc biệt làAnh Trong các mối quan hệ đó, Trung Quốc thờng ở vị trí xuất siêu Trongquan hệ buôn bán với Anh, “ từ năm 1781-1790 trong số hàng hoá TrungQuốc xuất sang Anh chỉ riêng chè đã đạt đến hơn 96 triệu đồng bạc trắng.Năm 1781-1793 toàn bộ hàng công nghệ phẩm của Anh nhập vào Trung Quốcchỉ vẻn vẹn đơc 16 triệu đồng, bằng 1/6 của riêng giá trị chè mà Trung Quốc
Trang 21nhập vào Anh" [14, tr10] Đặc biệt hoạt động buôn bán giữa Trung Quốc vàcác nớc Đông Nam á đã diễn ra sôi nổi và tấp nập “ Năm 1820 thuyền buôncủa Trung Quốc tới các nớc Đông Nam á có tới 295 chiếc, trọng tải 85.200tấn" [14, tr10].
Nhng do chính sách “ trọng nông ức thơng" nên thơng nghiệp TrungQuốc lúc này còn gặp nhiều khó khăn, cản trở lớn do sự kiểm soát chặt chẽcủa chính quyền phong kiến.Hàng hoá của thơng nhân phải chịu nhiều thứthuế, thậm chí là bị đánh thuế nặng, bị tớc đoạt sản phẩm, cấm kinh doanhmột số mặt hàng.v.v ngoại thơng thì thực hiện “ bế quan toả cảng" hạn chếbuôn bán với nớc ngoài Từ chỗ mở 4 cửa biển trớc năm 1757 thì sau năm
1757 chỉ còn mở một cửa biển Quảng Châu, với những quy chế buôn bán hếtsức ngặt nghèo và khắt khe Ngoài ra, nhà nớc còn ban bố “ quy định đềphòng ngời nớc ngoài" và “ biện pháp đề phòng ngời nớc ngoài" để quản límối quan hệ giữa ngời nớc ngoài với ngời Hoa.v.v Tuy vậy việc buôn bántrong nớc và với nớc ngoài vẫn tiếp tục phát triển Chính những nhân tố kinhdoanh TBCN đã làm cho sản xuất phát triển, đồng thời bản thân thơng nghiệpcũng phát triển một cách tự nhiên Điều đó thể hiện sự vận động, phát triểntheo quy luật lịch sử Đến giai đoạn này triều đình Mãn Thanh đã tỏ ra bất lựctrớc sự phát triển của các ngành kinh tế
Qua đó ta thấy, sự kìm hãm của chế độ phong kiến là nguyên nhân cơbản khiến nền kinh tế Trung Quốc phát triển chậm chạp và không thể pháttriển đợc đến lúc này chế độ sở hữu phong kiến, không còn phù hợp với lực l -ợng sản xuất đã phát triển và chính những hình thức sản xuất, trao đổi, sự tổchức nông nghiệp và công nghiệp theo lối phong kiến đã cản trở sản xuất chứkhông làm cho sản xuất tiến triển lên Và với chính sách “ bế quan toả cảng"cho rằng đất nớc Trung Quốc “ không thiếu gì hết" đã kích thích các nớc đếquốc thực dân phải tìm cách và có sức biến tham vọng và âm mu của mìnhthành hiện thực là phải xâm lợc cho bằng đợc Trung Quốc
1.2.3 Tình hình xã hội:
Từ sự khủng hoảng về kinh tế, chính trị, nó kéo theo sự khủng hoảng vềxã hội Tình hình xã hội Trung Quốc lúc này trở nên rối rắm Sự khủng hoảngsâu sắc của chế độ phong kiến đã suy yếu trở thành bảo thủ, phản động Nóchỉ còn là công cụ phục vụ giai cấp phonh kiến duy trì quyền lực của chúng,
Trang 22đàn áp, nô dich nhân dân bằng mọi hình thức : đàn áp vũ trang, mê hoặc bằngtôn giáo, thi hành chính sách ngu dân
Trớc sự bóc lột tàn tệ, đàn áp dã man của giai cấp phong kiến, mâu thuẫngiai cấp giữa phong kiến địa chủ và nông dân diễn ra gay gắt những cuộc đấutranh của nhân dân chống tô thuế, su dịch, chống đàn áp về chính trị, văn hoávới câu nói “ đầu có thể đứt, tóc không thể cạo" hộ chống lại lối thi bát cổ.v.v.Bùng nổ khắp nơi, liên tục, đợc đông đảo quần chúng tham gia Họ đã tập hợpnhau lại trong các hội kín chủ yếu khoác dới áo tôn giáo Vào cuối thế kỷXVIII bắt đầu hoạt động tích cực mạnh mẽ cho những cuộc đấu tranh mới
Đầu tiên là cuộc đấu tranh của Bạch liên giáo lãnh đạo nổ ra ở Sơn Đông, sau
đó lan ra nhiều tỉnh khác Năm 1813 lại nổ ra cuộc đấu tranh của Thiên lýgiáo.v.v nông dân nổi dậy ở ngoại thành Bắc Kinh đã có lúc tiến đánh hoàngcung Ngoài ra nông dân các dân tộc thiểu số cũng liên tiếp vùng dậy chốngtriều đình Mãn Thanh
Cùng với sự nổi dậy của nông dân, tầng lớp công thơng cũng đấu tranhchống lại những chính sách để lấn át, bóc lột, hạn chế sự phát triển của haitầng lớp này nh chính sách trọng nông, xếp tầng lớp này vào loại cuối cùngtrong thứ dân “ sĩ, nông , công, thơng”.Vì vậy thợ thủ công nghèo cũng thamgia vào các hội đảng bí mật chống phong kiến Cha có thời đại nào mà các hội
đảng bí mật của nông dân và thợ thủ công lại nhiều đến thế Nó phản ánh sựthối nát bất lực của triều đình mãn Thanh
Triều đình dùng nhiều biện pháp đàn áp để chống lại các hội kín songkhông một thủ đoạn nào có thể ngăn cản đuợc sự hoạt động và phát triển củacác hội kín
Đồng thời với phong trào đấu tranh của nhân dân Trung Quốcchống sựthống trị của triều đình Mãn Thanh là cuộc kháng chiến chống bọn xâm lợcMãn Thanh của các nớc láng giềng nh Miến Điện, Nêpan, đặc biệt là ViệtNam.Những cuộc chiến tranh xâm lựoc này càng làm cho Mãn Thanh chóngsuy yếu
Những cuộc kháng chiến thắng lợi của nhân dân Miến Điện, Việt Nam,Nêpan làm cho triều đình Mãn Thanh vốn suy yếu vì các cuộc khởi nghĩa củanhân dân trong nớc càng thêm suy yếu và khách quan thúc đẩy phong trào đấutranh của nhân dân Trung Quốc chống sự thống trị của triều đình Mãn Thanhvào khoảng cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, nhất là nửa sau thế kỷ XIX
Trang 23xa đến nay, không những thống nhất về lãnh thổ và về chính trị mà còn phảithống nhất về t tởng" [17, tr200], nhà Thanh đã bắt nhân dân Trung quốc phảitheo một số phong tục tập quán của ngời Mãn Thanh mà trớc hết là bắt phảicạo tóc theo kiểu ngời Mãn Nhân dân Trung Quốc phản đối thì quân Thanh
ra lệnh : “ Muốn để đầu thì đừng để tóc, muốn để tóc thì đừng để đầu" [17,tr169]
Nh vậy là nhà Thanh muốn xây dựng một xã hội mà chỉ có văn hoá củangời Mãn, bắt các dân tộc khác ở Trung Quốc nh Hán,Mông,Tạng,Hồi,Mèo.v.v phải theo phong tục tập quán của mình Chỉ lo củng cố bộ máychuyên chế phong kiến của mình mà không lo đến đời sống của nhân dân, đếnvận mệnh của đất nớc Điều đó làm cho sự khủng hoảng của chế độ phongkiến Mãn Thanh ngày càng thêm trầm trọng
Tóm lại: Cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, nhất là từ nửa sau thế kỷ
XIX nềm kinh tế, chính trị Trung Quốc có nhiều biến đổi : cùng với sự xuấthiện của nhiều ngành nghề kinh tế, các công trờng thủ công, đặc biệt là cáchoạt động công thơng nghiệp phát triển, mầm mống của kinh tế TBCN đã ra
đời Đòi hỏi triều đình Mãn Thanh phải có những thay đổi cho phù hợp vớitính chất và trình độ của lực lợng sản xuất Triều đình Mãn Thanh khôngnhững không đáp ứng đòi hỏi đó mà lại ra sức đàn áp, hạn chế các yếu tố mới
đó, cố sức “duy trì tình trạng hiện có", “ đến nổi đem cả toàn lực ngăn cảnmọi xu thế mới có thể làm lung lay đợc chế độ phong kiến" Chính nhữngchính sách đó đã hạn chế sự phát triển của nền kinh tế Trung Quốc Đặc biệtchính sự hủ bại, thối nát của triều đình Mãn Thanh đó đã làm cho mâu thuẫnxã hội gay gắt Các cuộc đấu tranh của giai cấp nông dân chống lại địa chủphong kiến và các cuộc đấu tranh của tầng lớp công thơng gia cũng nổ ra liêntục và khắp nơi trên đất nớc Trung Quốc Bên cạnh đó chính phủ Thanh áp
Trang 24bức nhân dân các dân tộc đã làm cho nhân dân các dân tộc đứng dậy đấu tranhkhông ngừng Ngoài dân tộc Hán, còn có cá dân tộc Mông, Tạng, Hồi, Mèo vàDuy Ngô Nhĩ.v.v Cũng thờng xuyên đứng lên chống lại triều đình MãnThanh.
Những cuộc nổi dậy của nhân dân làm cho triều đình vốn suy yếu càngsuy yếu hơn, “ làm cho chế độ phong kiến chóng tan rã" [19,tr294] và không
đủ sức lực để đối phó lại với những khó khăn bên ngoài đang đe doạ đến nền
độc lập, thống nhất của nhà nớc phong kiến Trung Quốc Nh chúng ta đã biếtlúc đế quốc phong kiến Trung Hoa đang suy cũng là lúc các nớc đế quốc tbản Âu- Mỹ không ngừng lớn mạnh và “ phơng Đông" trong đó có TrungQuốc trở thành nơi hấp dẫn CNTD Tình trạng suy yếu về mọi mặt của TrungQuỗc trong thời kỳ này là điều kiện thuận lợi cho bọn thực dân dân phơng Tâybành trớng thuộc địa, bởi vì lực lợng kháng chiến của nhân dân không có lãnh
đạo, không đợc tổ chức để chống ngoại xâm thêm vào đó bọn phong kiến bản
địa dễ dàng và sẵn sàng phản lại Trung Quốc, đầu hàng bọn t bản để giữquyền lợi riêng của chúng Cộng với sự giàu có về tài nguyên thiên nhiên, sựrộng lớn về lãnh thổ, Trun Quốc đã trở thành “ miếng mồi ngon" cho các thếlực thực dân đang ra sức giành giật thị trờng thế giới, nhằm mở rộng phạm vithế lực của mình Đó là điều kiện và nguyên nhân của những cuộc chiến tranhxâm lợc Trung Quốc của thực dân sau này, mở đầu là cuộc chiến tranh xâm l-
ợc của thực dân Anh mà lịch sử gọi là cuộc chiến tranh Nha phiến hay chiếntranh thuốc phiện lần thứ nhất (1840-1842 )
Trang 25Chơng 2 : Quá trình xâu xé Trung Quốc của các
n-ớc đế quốc cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
2.1 Khái quát quá trình xâm nhập của các nớc đế quốc vào Trung Quốc (trớc Chiến tranh thuốc phiện lần thứ I (1840-1842)).
Vào buổi đầu của thời cân đại, thuộc địa của các nớc châu Âu ở châu á
và châu Phi cha nhiều Thuộc địa lớn nhất của các nớc t bản châu Âu ở châu ávào thời cận đại là Philippin và Inđônêxia
Từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX, nhất là từ nửa sau thế kỷ XIX,các nớc t bản phơng Tây đẩy mạnh hơn nữa việc xâm lợc thuộc địa ở các nớcchâu á, châu Phi Khi CNTB chuyển sang giai đoạn độc quyền, các nớc đếquốc đua nhau chia xẻ thuộc địa ở hầu khắp nơi trên thế giới ở châu á, đếquốc Anh chiếm ấn Độ, Mãlai, Miến Điện; Pháp chiếm Việt Nam, LàoCămpuchia; Xiêm (nay là Thái Lan) do vị trí nớc “đệm” giữa các vùng thuộcAnh và Pháp và sự duy tân đất nớc dới triều đại của các vua Rama IV vàRama V vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, nên giữ đợc độc lập về chính trịsong không tránh khỏi chịu ảnh hởng và phụ thuộc vào các đế quốc, trớc hết
là Anh
Trung Quốc là một nớc lớn, dân đông giàu tài nguyên, nên trở thành đốitợng xâm lợc của các nớc đế quốc, song không một đế quốc nào đủ sức mộtmình chiếm giữ Trung Quốc nên phải cùng nhau xâu xé.Việc xâm lợc Trungquốc của các nớc đế quốc đợc tiến hành theo hai hớng : xâm nhập về kinh tế
và xâm chiếm đất đai để làm nhợng địa hay khu vực ảnh hởng
Ngay từ xa xa giữa Trung Quốc và các nớc phát triển đã có mối quan
hệ buôn bán với quy mô nhất định bằng đờng biển và đờng bộ Đặc biệt “ con
đờng tơ lụa” đã trở thành một huyền thoại trong lịch sử Trung Quốc- đó làmột trong những con đờng nổi tiếng trong hoạt động buôn bán giữa TrungQuốc và các nớc phát triển
Nớc châu Âu đầu tiên đến Trung Quốc là Bồ Đào Nha, đã đặt cơ sở buônbán ở áo Môn ( tức Ma Cao ) từ thế kỷ XVI Vùng đất này trở thành thuộc địacủa Bồ Đào Nha Tiếp đó là ngời Tây Ban Nha ( họ cũng đã đến buôn bán ở
Đàm Châu – Trung Quốc ) rồi ngời Hà Lan Sang đầu thế kỷ XVII ngời HàLan chiếm Đài Loan, Bành Hồ Nhng năm 1659 bị Trịnh Thành Công đánh
Trang 26bại phải rút chạy Sau Hà Lan, bọn thực dân nớc Anh, Pháp, Nga, Mỹ.v.v lầnlợt có mặt ở Trung Quốc.
Ngay từ lúc mới thành lập, triều đình Mãn Thanh đã có quan hệ với nớcNga, với nhiều nớc ở Đông Nam á và với một số nớc ở châu Âu Nhng nóichung từ nửa sau thế kỷ XVIII trở đi, chính phủ Mãn Thanh kiên quyết thựchiện chính sách “đóng cửa" vì cho rằng trong nớc đủ sản phẩm tiêu dùng,không cần buôn bán với nớc ngoài; hơn nữa sự xâm nhập của nớc ngoài có thể
uy hiếp nền thống trị của chúng" [19, tr276] Có một lí do quan trọng hơn đểchính phủ Mãn Thanh thực hiện "đóng cửa" cấm thông thơng đó là lo ngạinhân dân giao thiệp với nớc ngoài nhiều sẽ nổi dậy chống lại chính quyềnphong kiến, đặc biệt ở vùng Hạ Môn và Đài Loan, là hai căn cứ kháng chiếnmạnh của nhân dân
Chính sách đó của triều đình Mãn Thanh không làm cho t bản Âu- Mỹ( chủ yếu là Anh,Pháp,Mỹ ) bó tay Vì chúng đang cần thị trờng rộng lớn nhTrung Quốc cho công nghiệp đang phát triển của mình
Anh chiếm u thế về việc sản xuất hàng hoá và buôn bán với Trung Quốc,nên cơng quyết “ mở cửa" Trung Quốc kể cả việc dùng vũ lực Lúc đầu họ
đang dùng chính sách kinh tế để xâm nhập vào Trung Quốc Năm 1637, tàuthuyền Anh đến cửa biển Trung Quốc và nêu ra yêu cầu thông thơng Không
đạt đợc mục đích họ bèn pháo kích pháo đài Hổ Môn ít lâu sau ngời Anhcũng tìm đợc cách để thông thơng ở Đài Loan và Hạ Môn, rồi đến thông thơngbuôn bán với Quảng Châu Năm 1793 và năm 1816, chính phủ Anh hai lần cử
sứ giả đến triều đình trung Quốc đề xuất vấn đề thông thơng với những yêucầu ít nhiều xâm phạm chủ quyền Trung Quốc, nhng đều không thành công
Từ đó tàu thuyền Anh nhiều lần đến quấy phá vùng ven biển đông nam TrungQuốc Đồng thời, Anh đã dùng mặt hàng đặc biệt là thuốc phiện để tăng cờngxâm nhập thị trờng Trung Quốc Năm 1830, đại sứ Anh yêu cầu cho phépnhập khẩu thuốc phiện vào Trung Quốc, nhng bị triều đình Mãn Thanh bácbỏ
Pháp không có nhiều hàng hoá để buôn bán với Trung Quốc nh Anh( đặc biệt là thuốc phiện ), nên dùng đạo Thiên chúa làm công cụ xâm lợc chủyếu Truyền đạo và giới thiệu khoa học phơng tây là thứ yếu thì công việcchủ yếu của họ là làm gián điệp vì thế, đến đầu thế kỷ XVIII, nhà Thanh ralệnh cấm việc truyền đạo Còn Mỹ không muốn Pháp, nhất là Anh, nhng Mỹ
Trang 27vẫn cố sức len vào buôn bán với Trung Quốc Năm 1784, tàu Mỹ bắt đầu xuấthiện ở miền duyên hải Trung Quốc Đầu thế kỷ XIX Mỹ đứng hàng thứ 2 saiAnh về buôn bán thuốc phiện ở Trung Quốc với khối lợng bằng 10-20% khốilợng của Anh Tuy vậy 3 nớc này đều thống nhất trong âm mu xâm chiếmTrung Quốc, và không một nớc nào một mình đủ sức đánh chiếm, nên phảiliên kết với nhau Trong khi các nớc đế quốc xâm nhập Trung Quốc bằng đ-ờng biển thì Nga lợi dụng điều kiện địa lí, nớc Nga sa hoàng từng bớc xâmnhập trên bộ Vào giữa thế kỷ XVII, Nga tiến vào lu vực Hắc Long Giang, nh-
ng bị Trung Quốc chặn lại Năm 1689 và 1727 qua đàm phán, Trung-Nga đã
kí 2 hiệp ớc xác lập đờng biên giới chung của 2 nớc
Trớc áp lực của ngoại quốc và sau khi dẹp xong phong trào đấu tranh củanhân dân ở Đài Loan ( 1683), năm 1685 nhà Thanh tuyên bố mở 4 cửa biểncho các nớc vào thông thơng Nhng đến 1757 chính phủ Mãn Thanh thấy rằngthơng nhân ngoại quốc vào ra buôn bán tự do là điều nguy hiểm, nên ra lệnh
đóng 3 cửa biển đã mở : Ninh Ba, Định Hải, Hạ Môn chỉ còn mở cửa QuảngChâu cho nớc ngoài vào buôn bán
Bọn t bản phơng Tây không thoả mãn và đều tìm cách để “ mở cửa"Trung Quốc
Nh vậy cho đến giữa thế kỷ XIX “ không chỉ có Trung Quốc tất cả các
n-ớc đang ở giai đoạn tiền TBCN đều đã và đang đứng trn-ớc nguy cơ bị CNTDxâm nhập" [14,tr14] Đứng trớc tình cảnh đó, những nớc này hoặc là khéo léochấp nhận sự hội nhập vào quỹ đạo của CNTB thế giới để tồn tại và phát triểnhoặc là chống lại sự hội nhập nh Trun Quốc
Tình trạng chế độ phong kiến Mãn Thanh suy yếu, âm mu xâm lợc TrungQuốc của các nớc đế quốc t bản phơng Tây, là điều kiện và nguyên nhân củanhững cuộc xâm lợc Trung Quốc sau này Mở đầu là chiến tranh Trung –Anh bùng nổ từ tháng 6-1840, lịch sử thơng gọi là "chiến tranh thuốc phiện",
đã mở đầu cho quá trình xâm lợc của các đế quốc t bản đối với Trung Quốc,từng bớc biến Trung Quốc từ một quốc gia phong kiến đế quốc thành một nớcnủa phong kiến nửa thuộc địa
2.2 Quá trình xâu xé Trung Quốc của các nớc đế quốc cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
2.2.1 Cuộc Chiến tranh thuốc phiện lần thứ I (1840 - 1842) và cuộc Chiến tranh thuốc phiện lần thứ II (1856 - 1860)
Trang 28Từ thế kỷ XVII nhất là từ thế kỷ XVIII, XIX các nớc thực dân phơng Tây
ra sức chiếm đoạt thị trờng thế giới ở châu á, các nớc ấn Độ , Inđônêxia, MãLai, Miến Điện v.v đã bị các nớc đế quốc giành nhau thôn tính
ở châu á nhiều nớc phong kiến thi hành chính sách đóng cửa tuyệt giao
để tự vệ Đó là biện pháp tự vệ thụ động mang tính chất lạc hậu, không tạo
đ-ợc thực lực để chống xâm lđ-ợc
Chính quyền Mãn Thanh ra lệnh phong toả các miền duyên hải, cấmbuôn bán với ngoại quốc Năm 1685 còn mở cửa biển thông thơng với nớcngoài nhng đến năm 1757 chỉ còn mở cửa biển Quảng Châu với nhiều quy chếkhắt khe Nhng thực dân phơng Tây khao khát thị trờng rộng lớn để tiêu thụhàng hoá, vơ vét của cải, hàng hoá tăng thêm lợi nhuận Ba nớc t bản có nhiềutham vọng nhất trong cuộc xâm chiếm Trung Quốc là:Anh , Pháp, Mỹ
Nớc Anh nhiều lần phái sứ thần đến Trung Quốc yêu cầu mở rộng cửabuôn bán nhng đều bị triều đình Mãn Thanh cự tuyệt v.v khi triều đình MãnThanh từ chối, phía Anh quốc đã đa ra những lời đe doạ, thậm chí công khaituyên bố sẽ dùng vũ lực tấn công Trung Quốc Bọn chúng chỉ chờ lúc chuẩn bịxong và tìm đợc cớ là tuyên chiến Đó là nguyên nhân sâu xa của chiến tranhthuốc phiện ( 1840-1842 ) Mở đầu quá trình xâm lợc của các nớc ĐQTD đốivới Trung Quốc
Vào thời điểm này, nhân dân Trung Quốc đã sản xuất đợc nhiều thứ hàngcần thiết cho đời sống hàng ngày Ngời Trung Quốc dùng quen vải vóc, lụatrong khi các sản phẩm của Trung Quốc nh chè, tơ lụa, đợc ngời Anh achuộng Về sau ngời Anh phát hiện thấy một số quan lại Mãn Thanh biết hútthuốc phiện và đang bao che cho bọn con buôn đa thuốc phiện vào TrungQuốc Đây là một điều mà Anh trông chờ Do đó họ quyết định bán thuốcphiện vào Trung Quốc để cứu vãn tình hình xuất nhập chênh lệch
Năm 1757 công ty Đông ấn Độ Anh chiếm đợc tỉnh Bănggan là nơitrồng thuốc phiện nổi tiếng của ấn Độ Chúng thu mua với giá rẻ rồi đa sangTrung Quốc bán Lợng thuốc phiện của thơng gia Anh từ các thuộc địa arập,
ấn Độ và các nớc khác ở Đông Nam á đa vào bán trên thị trờng Trung Quốcngày càng nhiều Với tốc độ nhanh chóng Giữa thế kỷ XVIII mỗi nămkhoảng 1000 thùng, đến năm 1839 đã lên tới 35.500 thùng Việc nhập thuốcphiện đã làm cho Trung Quốc rơi vào tình trạng “ chảy máu trắng" nghiêmtrọng, từ năm 1821-1840 trung bình mỗi năm mất khoảng 5 triệu lạng bạc (t-
Trang 29ơng đơng 1/10 tổng thu ngân sách của triều đình Mãn Thanh) Thuốc phiện đãlàm hủ bại bọ máy quan liêu của triều đình Mãn thanh “dần dà không chỉ cóquan lại, địa chủ mà cả những ngời thuộc các giai tầng khác cũng hút thuốcphiện Nhiều ngời Trung Quốc trở thành nghiện ngập ảnh hởng sức khoẻ mắt
mờ , vai xo, rã rời chí khí" [18, 105]
Nó đã làm bại hoại thể xác và tâm hồn ngời dân Trung Hoa “ Theo điềutra, năm 1835 ở Trung Quốc có tới 2 triệu ngời nghiện thuốc phiện, không chỉ
có quan lại; dân thờng, mà ngay cả tu sĩ, thái giám cũng hút thuốc phiện." [16,tr13]
Trớc tình hình thuốc phiện lan tràn, triều đình Mãn Thanh trong một thờigian dài không có chủ trơng dứt khoát, lúc cấm, lúc không Các đời vua CànLong, Gia Khánh, Đạo Quang mấy lần ra lệnh cấm thuốc phiện, nhng trênthực tế không có kết quả
Thuốc phiện đã làm bại hoại con ngời trong xã hội Trung Quốc Tìnhtrạng này hết sức nguy ngập, dân tình lo lắng và làm cho sự bất đồng trongtriều đình ngày càng gay gắt Một bộ phận quan lại phong kiến nhận thức đợcnguy cơ thuốc phiện sẽ mang lại thảm hoạ cho đất nớc nên chủ trơng kiênquyết cấm thuốc phiện Ngời tiêu biểu cho bộ phận này là Lâm Tắc Từ ( 1785-
1850 ), một viên quan đợc dân ca ngợi là thanh liêm, công trực Ông dângmột bức th lên Hoàng đế nh sau : “ Nếu không mau cấm thuốc phiện thì quốcgia ngày càng cùng khốn, sức khoẻ nhân dân ngày càng suy yếu thì, chỉ cầnsau mấy chục năm nữa sẽ không thu nổi thuế bằng bạc mà cũng chẳng trngdụng đợc binh lính" [18,105-106]
Đó là những lời của Lâm Tắc Từ đã nêu lên những tác hại trớc mắt cũng
nh lâu dài của thuốc phiện đối với xã hội , đất nớc Trung Quốc
Đúng vậy không tiền, không lính thì làm sao thống trị đợc nhân dân Cảmkích trớc lời nói chân tình đó, vua Đạo Quang đã lập tức phái Lâm Tắc Từ làmkhâm sai đại thần xuống Quảng Châu nơi hang ổ buôn bán thuốc phiện thựchiện lệnh cấm vào năm 1839
Sau khi tới Quảng Châu, Lâm Tắc Từ kiên quyết chỉ huy chiến dịch cấmthuốc phiện
Ông đã thề rằng “cha triệt đợc thuốc phiện, bản quan quyết cha về triều".Thái độ kiên quyết của Lâm Tắc Từ đã đợc đông đảo quần chúng hởng ứng
Trang 30nhiệt liệt Một phong trào cấm buôn bán thuốc phiện , tịch thu tiêu huỷ thuốcphiện đã diễn ra rầm rộ ở Quảng Châu.
Lâm Tắc Từ xuống Quảng Châu, trớc tiên chém đầu mấy tên thơng nhânngời Trung Quốc cấu kết với ngời nớc ngoài buôn lậu thuốc phiện Sau đólệnh cho thơng nhân Anh và thơng nhân các nớc khác phải giao nộp hêt sốthuốc phiện trong 3 ngày “Lâm Tắc Từ đã thu đợc hơn 2 vạn hòm, đem tậptrung đốt tại cửa biển Hổ Môn trong 22 ngày đêm mới cháy hết" [18,tr106]
Để cấm hẳn việc tiếp tục đa thuốc phiện vào Trung Quốc, Lâm Tắc Từ ratiếp một bố cáo nữa : “ những thuyền cập bến phải qua cam kết, nếu thuyềnnào mang thuốc phiện, thuyền sẽ bị tịch thu, ngời sẽ bị chặt đầu" Tất cả cácthơng thuyền nớc ngoài sợ hãi đều đồng ý cam kết Riêng có lãnh sự AnhEnliôt; là cố tình phản đối Y báo cáo sự việc về nớc và thỉnh cầu chính phủAnh tăng thêm quân lính
Phong trào chống thuốc phiện ở Quãng Châu đã trở thành cái cớ để chínhphủ Anh phát đông chiến tranh xâm lợc Trung Quốc
Khi đợc tin về phong trào cấm thuốc phiện ở Trung Quốc, nhiều nhân vậttrong giới công thơng Anh quốc đã đề nghị chính phủ “ dùng vũ lực để mởtoang cánh cửa Trung Quốc!" Cuối tháng 9-1839, đại thần trong ngoại giaoAnh cùng nhiều nhân vật trong giới công thơng Anh từ Trung Quốc về bànbạc và đi đến quyết định mở cuộc tấn công Trung Quốc Chính phủ Anh đã có
cớ gây chiến nên đã phê duyệt kế hoạch đó Tháng 2- 1840, chính phủ Anh cửGeorgeElliôt làm trởng đoàn đại biểu đàm phán với triều đình Mãn Thanh ,
đồng thời làm tổng t lệnh “ đội quân viễn chinh phơng Đông" chuẩn bị tấncông xâm lợc Trung Quốc
Trớc sự xâm lợc của thực dân Anh, triều đình Mãn Thanh đã chống cựmột cách yếu ớt dẫn đến thất bại ở Nam Kinh và kí điều ớc Nam Kinh, chấpnhận toàn bộ những yêu sách của Anh quốc
Theo kế hoạch, tháng 6- 1840 chính phủ Anh phái quân hạm tấn côngQuảng Châu nhng Lâm Tắc Từ đã sớm biết không thể tránh khỏi cuộc chiếntranh với thực dân Anh nên ông đã mua thêm pháo, tuyển dụng thêm ngời, tổchức bố phòng ở cửa biển Quảng Châu rất nghiêm ngặt Khi thuyền Anh đếnQuảng Châu thấy thế trận đớc phòng thủ kiên cố, nên chuyển sang đánh HạMôn Chúng bị thủ quân Hạ Môn đánh lui Rồi lại chuyển sang đánh ĐịnhHải Quân dân Định Hải đã chống lại anh dũng, nhng vì không có công sự
Trang 31phòng ngự và triều đình không có những hoạt động tác chiến tích cực, thiếu
sự thống nhất trong hoạt động chống thực dân anh giữa triều đinh Mãn Thanh
và nhân dân, nên sau rốt Định Hải đã thất thủ
Tin thất thủ truyền đến Bắc Kinh, một số quan lại liền thừa dịp đó côngkích Lâm Tắc Từ và “ đổ lỗi cho lâm Tắc Từ là hoạt động quá khích nênmang lại tai hoạ" [18, tr106] Vua Đạo Quang ở Bắc Kinh thì chỉ mong saobinh thuyền của Anh mau mau rời khỏi vùng phụ cận Thiên Tân nên vội vãcách chức Lâm Tắc Từ và cử Kỳ Thiện đến thay và chủ trơng thoả hiệp vớiAnh “ Cuối cùng, họ đã kí hoà ớc Quảng Châu, quy định trong vòng 6 ngàyquân Thanh phải rút ra ngoài Quảng Châu 60 dặm Anh, trong 1 tuần phải bồithờng cho quân Anh 6 triệu đồng ( bạc ) và bồi thờng cho các hãng buôn anh
30 vạn đồng" [17,23] Hành động đầu hàng của tớng lĩnh triều đình đã gâynên làn sóng phẫn nổ trong giai cấp nông dân Nhiều nơi quần chúng đã tự nổidậy phản kháng quân Anh , nhng đều bị trấn áp
Trớc sức tấn công của quân Anh, vua Đạo Quang hoảng sợ lúc chủ chiến,lúc chủ hoà Do đó năm 1842 chính phủ Anh lại phái Pottinhgơ mang thêmbinh thuyền sang tấn công Trung Quốc Quân Anh tiến đánh các thành phố vàthị trấn ven biển phía Nam từ Hạ Môn, Định Hải, Ninh Ba, Thợng Hải, TrấnGiang và tiến thẳng tới Nam Kinh Lần này vua Đao Quang quá khiếp sợ vộivàng phái Kỳ Anh đến Nam Kinh chấp nhận nhữngđiều kiện do pottinhgơ đara
Ngày 29-8-1842 trên chiến hạm Anh Coruwealls, Điều ớc Nam Kinh đã
đợc kí kết giữa đại diện triều đình Mãn Thanh là Kỳ anh, Đoàn Lí Bố và đạidiện chính phủ Anh quốc là Henripottinhgơr Điều ớc gồm 13 khoản Năm
1843 Anh quốc còn buộc triều đình Mãn Thanh kí các điều ớc bổ sung và cácvăn bản phụ lục
Điều ớc Nam Kinh và các điều khoản bổ sung quy định :
1.Trung Quốc cắt thơng cảng ( Hồng Công ) cho Anh
2 Trung Quốc bồi thờng chiến phí cho Anh quốc 21 triệu bảng, trongthời hạnh 4 năm phải trả hết
3 Trung Quốc phải mở 5 cửa khẩu : Quảng Châu, Hạ Môn, Phúc Châu,Ninh Ba, THợng Hải cho Anh quốc thông thơng- ngời Anh có quyền c trú, đặtlãnh sự quán tại 5 thành phố đó
Trang 324 Bãi bỏ chế độ "công hành" ,tức là chế độ kiểm soát hải quan của phíaTrung Quốc, ngời Anh có quyền tự do giao dịch buôn bán tại 5 cửa khẩu nóitrên.
5 Về hiệp định thuế quan : khoản thuế ngời Anh nộp khi xuất nhập khẩuhàng hoá phía Trung Quốc phải bàn bạc và đớc sự chấp nhận của phía Anh
6 Về quyền lãnh sự tài phán : khi ngời Anh có tranh chấp, xung đột vớingời Trung Quốc, thì việc xử lí ngời Anh do nhà đơng cục Anh quyết địnhtheo luật pháp của Anh quốc
7 Anh quốc đợc hởng quyền “ tối huệ quốc" ở Trung Quốc
Điều ớc Nam Kinh là hiệp ớc bất bình đẳng đầu tiên mà đế quốc thực dânAnh đã buộc triều đình phong kiến Mãn Thanh phải kí kết, mở đầu cho quátrình nô dịch của CNĐQ đối với nhân dân Trung Quốc
Điều ớc Nam Kinh là Hiệp ớc đầu hàng của Trung Quốc, là xiềng xích
đầu tiên của bọn đế quốc tròng vào cổ của nhân dân Trung Quốc Với việc mở
5 cảng khẩu quan trọng Trung Quốc đã phải mở cửa đất nớc Chính sách bếquan toả cảng của triều đình Mãn Thanh bị phá sản Trung Quốc bị cuốn vàothị trờng t bản thế giới Đó cũng chính là màn đầu của quá trình biến TrungQuốc từ một nớc phong kiến độc lập trở thành một nớc nửa thuộc địa, nửaphong kiến
Sau khi Anh khuất phục đợc triều đình Mãn thanh, các đế quốc khác nh
Mỹ, Pháp cũng nhân cơ hội đó đục nớc béo cò, dùng vũ lực doạ dẫm, kết quảtriều đình Mãn Thanh phải kí với Mỹ hiệp ớc Vọng Hạ vào tháng 7-1844, kívới Pháp hiệp ớc Hoàng Phố vào tháng 10-1844 Các hiệp ớc đó cho phép ngời
Mỹ và Pháp đợc hởng quyền lợi nh ngời anh ở Trung Quốc “ Ngoài ra ngời
Mỹ còn đợc thêm một số quyền lợi khác nh xây dựng nhà thờ, bệnh viện ởvùng thông thơng, đợc mang binh thuyền đến vùng thông thơng để kiểm traviệc buôn bán" [18, tr107] Đặc phái viên Mỹ Cốt-xinh sau khi kí xong hiệp -
ớc Vọng Hạ đã vui mừng báo cáo về chính phủ Mỹ nh sau : “ nớc Mỹ và cácnớc khác cần cảm ơn nớc Anh vì với hiệp ứơc Nam Kinh họ đã mở toang đợccánh cửa Trung Quốc, bây giờ đến lợt nớc Anh và các nớc khác phải cảm ơnnớc Mỹ vì nớc Mỹ đã có công mở rộng thêm cánh cửa ấy" [18, tr10]
Sau Mỹ, Pháp là Bỉ, NaUy, Thụy Điển cũng yêu cầu kí hiệp ớc, và triều
đình Mãn Thanh đều chấp nhận với nguyên tắc “ đối xử bình đẳng với tất cả các
Trang 33nớc" Cùng lúc đó Bồ Đào Nha thừa cơ giành quyền cai quản Ma Cao, còn nớcNga sa hoàng thì lấn chiếm nhiều vùng lãnh thổ Trung Quốc ở Đông Bắc.
Qua chiến tranh thuốc phiện đã bộc lộ chân tớng, tinh thần bạc nhợc củatriều đinh Mãn Thanh Chính thái độ nhu nhợc không kiiên quyết chống xâmlợc của triều đình mãn Thanh đã làm cho Trung Quốc không còn là một nớc độlập nữa mà bắt đầu rơi dần vào con đờng nửa thuộc địa nửa phong kiến
Sau khi chiến tranh thuốc phiện lần thứ nhất kết thúc, thực dân Anh cũng
nh các nớc đế quốc phơng Tây khác cha thoả mãn với những điều mình đạt
đ-ợc Đồng thời sau cuộc chiến tranh thuốc phiện lần thứ nhất phong trào đấutranh của quần chúng nhân dân chống lại sự thống trị của phơng Tây, chốnglại triều đình Mãn Thanh nổi lên mạnh mẽ tiêu biêu là TBTQ.Thực dân Anh
và các nớc đế quốc khác đã cấu kết với nhau tiến hành cuộc chiến tranh thuốcphiện lần thứ 2 nhằm mở rộng thêm quyền lợi của các nớc đế quốc ở TrungHoa, đồng thời nhằm uy hiếp phong trào nông dân, cấu kết với nhà Thanh tiêudiệt Thái Bình Thiên Quốc
Đây là sự tiếp tục và mở rộng cuộc chiến tranh thuốc phiện lần thứ nhấtnên trong lịch sử thờng gọi là "Chiến tranh thuốc phiện lần thứ 2", với quy môlớn hơn, lực lợng mạnh hơn không chỉ có nớc Anh mà cả đế quốc Pháp đợc sựgiúp đỡ của Nga và Mỹ
Anh, pháp, Mỹ sau nhiều lần đòi chính phủ Mãn Thanh phải sửa đổi điều
ớc đã kí và mở rộng thêm một số điều khoản nhng không có kết quả Vì thế
mà đã quyết định dùng vũ lực bắt buộc chính phủ Thanh phải khuất phục
Để thực hiện đợc âm mu đó,Anh đã dựng lên sự kiện “ tháng 10-1856,thuỷ quân Trung Quốc ở Quảng Châu khám xét một chiếc tàu Trung quốcbuôn thuốc phiện và bắt cả thuỷ thủ trên tàu Sau khi vụ đó xảy ra, lãnh sựAnh bèn kháng nghị với tổng đốc Lỡng Quảng là Diệp Đanh Sâm, nói dựng
đứng rằng chiếc tàu đó là của ngời Anh, trên tàu treo cờ Anh, đòi phải thảthuỷ thủ, và bắt chính phủ Thanh xin lỗi" [8, tr246].Rõ ràng đó là một sự bịa
đặt nên Diệp Đanh Sâm đã bác bỏ kháng nghị đó Chính phủ Anh liền phảiquân hạm đến sông Chu, bắn đại bác vào Quảng Châu
Còn Pháp thì lấy cớ một cố đạo bị ám sát ở Quảng Tây đa pháo binh đếntham chiến Chiến tranh lần 2 bùng nổ
Một năm sau, ngày 26-12-1857 liên quân Anh- Pháp đã tấn công vàchiếm đóng Quảng Châu Trớc sự nhu nhợc yếu hèn của triều đình Mãn