1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quá trình tranh chấp giữa xiêm anh ở bán đảo mã lai và xiêm pháp ở bán đảo đông dương từ thế kỷ XVI đến cuối thế ký XIX luận văn tốt nghiệp đại học

67 419 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quá trình tranh chấp giữa xiêm – anh ở bán đảo mã lai và xiêm – pháp ở bán đảo đông dương từ thế kỷ xvi đến cuối thế kỷ xix
Tác giả Nguyễn Thị Quỳnh
Người hướng dẫn Th.S. Bùi Văn Hào
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lịch Sử Thế Giới
Thể loại Khóa luận
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 509 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trongquá trình xâm lược ấy, có một điều nhận thấy rõ rằng, chúng không nhữngphải đối chọi lại với các cuộc vũ trang bạo động, với các cuộc đấu tranh giảiphóng dân tộc của những nơi mà ch

Trang 1

- -NGUYỄN THỊ QUỲNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

QUÁ TRÌNH TRANH CHẤP GIỮA XIÊM – ANH

Ở BÁN ĐẢO MÃ LAI VÀ XIÊM – PHÁP Ở BÁN ĐẢO ĐÔNG DƯƠNG TỪ THẾ KỈ XVI ĐẾN CUỐI THẾ KỈ XIX

CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ THẾ GIỚI

VINH, NĂM 2011

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA LỊCH SỬ - -

Trang 2

QUÁ TRÌNH TRANH CHẤP GIỮA XIÊM – ANH

Ở BÁN ĐẢO MÃ LAI VÀ XIÊM – PHÁP Ở BÁN ĐẢO ĐÔNG DƯƠNG TỪ THẾ KỈ XVI ĐẾN CUỐI THẾ KỈ XIX

Giáo viên hướng dẫn: Ths Bùi Văn Hào

Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Quỳnh

Lớp : 48 A - Lịch sử

VINH, NĂM 2011

LỜI CẢM ƠN!

Trang 3

tâm giúp đỡ của các thầy cô trong khoa lịch sử, nhất là các thầy cô thuộc tổ lịch sử thế giới Đặc biệt tôi đã nhận được sự chỉ bảo, hướng dẫn tận tình, chu đáo, đầy trách nhiệm của thầy giáo hướng dẫn là Th.S Bùi Văn Hào Nhân dịp này cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới các thầy cô trong khoa.

Ngoài ra tôi cũng muốn bày tỏ sự biết ơn đối với bố mẹ, gia đình, bạn

bè đã giành cho tôi những sự quan tâm, ưu ái để tôi hoàn thành công trình.

Xin chân thành cảm ơn !

Tác giả Nguyễn Thị Quỳnh.

BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT TBCN : Tư bản chủ nghĩa

Trang 4

CMTS : Cách mạng tư sản

CMCN : Cách mạng công nghiệp ĐQCN : Đế quốc chủ nghĩa ĐNA : Đông Nam Á

NXB : Nhà xuất bản

Trang 5

LỜI CẢM ƠN! 3

BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT 4

A.PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

3 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Cấu trúc của khoá luận 4

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH BÁN ĐẢO MÃ LAI,ĐÔNG DƯƠNG TRƯỚC KHI THỰC DÂN PHƯƠNG TÂY XÂM LƯỢC 5

1.1 Khái quát chung 5

1.2 Tình hình bán đảo Mã Lai 8

1.3 Tình hình Đông Dương 10

1.4 Âm mưu của Anh – Pháp - Xiêm 13

CHƯƠNG 2 QÚA TRÌNH TRANH CHẤP GIỮA XIÊM - ANH Ở 15

2.1 Qúa trình bành trướng ra bên ngoài của Xiêm 15

2.2 Qúa trình xâm lược của thực dân phương Tây ở bán đảo Mã Lai 16

2.3 Qúa trình tranh chấp giữa Xiêm- Anh ở bán đảo Mã Lai 21

CHƯƠNG 3 QÚA TRÌNH TRANH CHẤP GIỮA PHÁP – XIÊM Ở 33

3.1 Ảnh hưởng của Xiêm ở bán đảo Đông dương trước khi Pháp xâm lược 33 3.2 Qúa trình xâm lược của thực dân Phương Tây ở Đông Dương trước khi nổ ra tranh chấp Pháp – Xiêm 37

3.3 Qúa trình tranh chấp giữa Xiêm – Pháp ở bán đảo Đông Dương 40

C KẾT LUẬN 58

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 62

Trang 6

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài.

Vào cuối thế kỉ XV đầu thế kỉ XVI, các cuộc phát kiến địa lí đã tạođiều kiện cho CNTB ở Tây Âu phát triển mạnh mẽ, dẫn đến sự bùng nổ vàthắng lợi của các cuộc cách mạng tư sản và chủ nghĩa tư bản trở thành hệthống thế giới Kể từ đó trở đi các nước phương Tây liên tục đẩy mạnh việcbuôn bán, cướp bóc và cuối cùng dùng vũ lực để xâm lược thuộc địa Trongquá trình xâm lược ấy, có một điều nhận thấy rõ rằng, chúng không nhữngphải đối chọi lại với các cuộc vũ trang bạo động, với các cuộc đấu tranh giảiphóng dân tộc của những nơi mà chúng đặt chân đến mà chúng còn phải đốimặt với sự cạnh tranh quyết liệt giữa những kẻ cùng đi xâm lược Sự tranhchấp thuộc địa diễn ra liên tục và hầu khắp các khu vực trên thế giới, trong đólịch sử đã từng chứng kiến cuộc tranh chấp khá quyết liệt giữa một bên là mộtquốc gia phong kiến (Xiêm) với hai đối thủ mạnh hơn đó là tư bản phươngTây (Anh, Pháp) ở bán đảo Mã Lai và Đông Dương trong suốt một khoảngthời gian dài từ đầu thế kỉ XVI đến cuối thế kỉ XIX

Vị trí quan trọng và tài nguyên thiên nhiên phong phú của khu vựcĐông Nam Á nói chung, Mã Lai, Đông Dương nói riêng đã thu hút sự chú ýkhông những của các nước lân bang trong khu vực mà còn thu hút sự chú ýcủa các nước phương Tây, từ Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha cho đến Hà Lan,Anh, Pháp, Mĩ Vì thế trong suốt thời gian từ thế kỉ XVI đến cuối thế kỉ XIX,khu vực này đã trở thành những nơi diễn ra cuộc tranh chấp quyết liệt giữacác nước đến từ mọi miền Có những cuộc tranh chấp giải quyết bằng thươnglượng, đổi chác, cũng có những cuộc tranh chấp phải giải quyết bằng vũ lực,thậm chí phải thông qua các cuộc chiến tranh Nhưng cũng có thể là giảiquyết bằng cách từ những cuộc chiến tranh đi đến thương lượng

Trang 7

Đi sâu tìm hiểu quá trình tranh chấp giữa phong kiến Xiêm với tư bảnthực dân Anh, Pháp có ý nghĩa quyết định Thông qua việc tìm hiểu quá trìnhtranh chấp này giúp chúng ta hiểu rõ hơn về vương triều phong kiến Xiêm,cũng như hiểu rõ hơn bản chất của chủ nghĩa đế quốc, các nước luôn cạnhtranh và mâu thuẫn với nhau gây nên các cuộc xung đột và đỉnh cao là chiếntranh thế giới lần thứ nhất.

Trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay vấn đề hội nhập trở nên hết sức cầnthiết với mỗi quốc gia, bắt buộc các nước phải mở cửa hội nhập để phát triển.Trong quá trình hội nhập không thể không cạnh tranh để khẳng định chỗđứng, vấn đề đặt ra là làm thế nào để vừa hội nhập có kết quả vừa không ảnhhưởng gì đến quan hệ giữa các nước

Vì những ý nghĩa trên mà tôi quyết định chọn đề tài “Quá trình tranh chấp giữa Xiêm – Anh ở bán đảo Mã Lai và Xiêm – Pháp ở bán đảo Đông Dương từ thế kỉ XVI đến cuối thế kỉ XIX” làm khoá luận tốt nghiệp của minh.

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu.

Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến quá trìnhxâm lược của thực dân phương Tây ở Đông Nam Á nhưng sự tranh chấp giữacác nước phương Tây lớn mạnh với một đối thủ tương đối nhỏ bé hơn ở nội

bộ khu vực Đông Nam Á thì có lẽ chưa có hoặc có rất ít công trình nghiêncứu riêng biệt

Vì điều kiện thời gian cũng như năng lực ngoại ngữ còn hạn chế nêntrong quá trình giả quyết vấn đề mà đề tài đặt ra chúng tôi chủ yếu mới tiếpcận với các công trình của người Việt Nam và một số công trình nghiên cứucủa các tacs giả nước ngoài đã được biên dịch

Trong công trình nghiên cứu của D.Hall Lịch sử Đông Nam Á, xuấtbản năm 1997, tác giả đã trình bày một cách khá đầy đủ sự phát triển của cácquốc gia trong khu vực Đông Nam Á (Mã Lai, Đông Dương) và đã ít nhiều đềcập đến sự tranh giành giữa Xiêm – Anh ở Mã Lai và Xiêm – Pháp ở ĐôngDương (Lào, Campuchia)

Trang 8

Tác phẩm Lược sử Đông Nam Á do Phan Ngọc Liên chủ biên đã đề cậpđến sự ảnh hưởng của Xiêm ở Campuchia cũng như quá trình xâm lược củathực dân phương Tây ở khu vực này.

Cuốn Lịch sử Lào do Lương Ninh chủ biên xuất bản năm 1991 là cuốnlịch sử chuyên khảo tìm hiểu về tiến trình lịch sử của nước Lào trong đó cóliên quan đến mâu thuẫn Pháp – Xiêm và sự tranh chấp của 2 nước này ở Lào Cuốn Lịch sử Campuchia do Phạm Việt Trung chủ biên, xuất bản năm

1982, là cuốn lịch sử chuyên khảo tìm hiểu về tiến trình lịch sử củaCampuchia có liên quan đến tranh chấp Pháp – Xiêm

Cuốn Lịch sử thế giới cận đại do Vũ Dương Ninh chủ biên đã đề cậpđến tình hình Mã Lai trước khi thực dân Phương Tây xâm lược và quá trìnhtranh chấp Xiêm – Anh, Xiêm – Pháp

Từ tình hình nghiên cứu trên, chúng tôi đi sâu tìm hiểu quá trình tranhchấp giữa Xiêm – Anh ở Mã Lai, Xiêm – Pháp ở Đông Dương nhằm hệ thốnghoá và làm rõ hơn quá trình tranh chấp của các nước ở hai khu vực này từ thế

kỉ XVI đến cuối thế kỉ XIX

3 Phạm vi nghiên cứu.

Nội dung: Khoá luận tập trung tìm hiểu quá trình tranh chấp giữaXiêm – Anh ở bán đảo Mã Lai và Xiêm – Pháp ở bán đảo Đông Dương ( Tuyvậy ở Đông Dương vì thời gian không cho phép và sự hạn chế của bản thânnên chúng tôi chỉ tìm hiểu quá trình tranh chấp ở Lào, Campuchia mà không

đề cập tới Việt Nam)

Thời gian: Khoá luận tập trung tìm hiểu quá trình tranh chấp giữa Xiêm –Anh ở Mã Lai và Xiêm – Pháp ở Đông Dương từ thế kỉ XVI đến cuối thế kỉXIX

Không gian: Khoá luận tập trung tìm hiểu quá trình tranh chấp giữaXiêm – Anh ở Mã Lai và Xiêm – Pháp ở Đông Dương từ thế kỉ XVI đến cuốithế kỉ XIX Nhưng do nguồn tài liệu có hạn nên chúng tôi chỉ tìm hiểu cuộctranh chấp ở một số vương quốc Mã Lai tiêu biểu và ở Lào, Campuchia

Trang 9

4 Phương pháp nghiên cứu.

Đây là đề tài nghiên cứu lịch sử nên trong khoá luận của mình chúngtôi sử dụng các phương pháp: phương pháp lịch sử, phương pháp logíc,phương pháp liên ngành

5 Cấu trúc của khoá luận.

Ngoài mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo nội dung của khoá luậnđược trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Khái quát tình hình bán đảo Mã Lai, Đông Dương trước khi thựcdân phương Tây xâm lược

Chương 2: Qúa trình tranh chấp giữa Xiêm – Anh ở bán đảo Mã Lai từ thế kỉXVI đến cuối thế kỉ XIX

Chương 3: Qúa trình tranh chấp giữa Xiêm – Pháp ở bán đảo Đông Dương từthế kỉ XVI đến cuối thế kỉ XIX

Trang 10

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH BÁN ĐẢO MÃ LAI,ĐÔNG DƯƠNG TRƯỚC KHI THỰC DÂN PHƯƠNG TÂY XÂM LƯỢC

1.1 Khái quát chung

Đông Nam Á là một khu vực khá rộng, diện tích khoảng trên 4 triệukm2, trải ra trên một phần trái đất, từ khoảng 92 độ đến 104 độ kinh đông vàkhoảng 28độ vĩ Bắc, chạy qua xích đạo đến 15 độ vĩ Nam.Về mặt địa li hànhchính, Đông Nam Á hiện nay gồm có 10 nước: Việt Nam, Lào, Campuchia,Thái Lan, Mianma, Malaixia, Xingapo, Inđônêxia, Philippin, Brunây với dân

số trên 478 triệu người với nhiều sự khác biệt về diện tích,dân số,mức sống.[4, 5]

Đông Nam Á từ lâu vẫn được coi là khu vực có ý nghĩa quan trọng trongtoàn bộ lịch sử thế giới, từ những bước đi đầu tiên của loài người và trongtừng chặng đường lịch sử Song trước đây người ta thường hiểu tầm quantrọng lịch sử của Đông Nam Á chủ yếu ở vị trí địa lí của Khu vực này từ xaxưa vẫn được coi là “ngã tư đường”, là hành lang, cầu nối giữa thế giới TrungQuốc, Nhật Bản với khu vực Tây Á và Địa Trung Hải Vì thế không phảingẫu nhiên mà mối liên hệ của khu vực này với thế giới đã được xác lập ngay

từ thời cổ đại, cũng không phải ngẫu nhiên mà ở đây đã có mặt những nhà địahay du lịch, nhà truyền giáo hay ngoại giao của cả Phương Đông và PhươngTây trong suốt chiều dài lịch sử như Ptôlêmê, Khang Thái, Nghĩa Tĩnh, PhápHiển, Trịnh Hoài, Marcô Pôlô, Chu Đạt Quan, Inbatutah… Họ đã đến đâyxem xét, ghi chép và để lại những tài liệu quý giá cho đời sau

Lich sử đã xác nhận một chuẩn xác rằng, nhân dân Đông Nam Á trướckhi bị bọn thực dân phương Tây nổ súng xâm lược, đã có một nền văn minh,văn hoá lâu đời, phát triển cao về mặt vật chất cũng như tinh thần Dĩ nhiên,

do sự phát triển không đồng đều, trình độ các nước Đông Nam Á cũng có sựchênh lệch

Trang 11

Tuy vậy trước khi thực dân phuương Tây xâm nhập và xâm lược, cácnước Đông Nam Á không phải đều là những nước lạc hậu, dã man, bị ngưngtrệ trong sự phát triển và trông chờ sự can thiệp của các nước tư bản phươngTây đến khai hoá Mặc dù vậy, sau một thời gian dài phát triển thịnh đạt (thế

kỷ X - XV) thì Đông Nam Á bước vào giai đoạn suy thoái, khủng hoảng Sựsuy thoái, khủng hoảng này nó diễn ra không đồng đều giữa các nước, cácquốc gia về mặt thời gian Ở Campuchia quá trình này bắt đầu từ thế kỷ XIII,Chămpa thế kỷ XV, Đại Việt, Miến Điện lại muộn hơn Trong khi đó vươngquốc Xiêm và Lạn Xạng lại bước vào giai đoạn hưng thịnh của chế độ phongkiến [4, 42 – 43]

Nhưng nhìn chung cũng từ giai đoạn này, sự suy thoái, khủng hoảngdiễn ra trên nhiều mặt

Về kinh tế, trước khi chủ nghĩa thực dân phương Tây xâm nhập và xâmlược, Đông Nan Á duy trì nền kinh tế nông nghiệp mang tính tự cấp, tự túcvới hơn 90% dân số tham gia vào hoạt động này Sản xuất nông nghiệp phổbiến vẫn là “du canh và định canh” Đối với nhữnh tộc người đã sớm định cư

ở châu thổ các con sông lấy kinh tế nông nghiệp làm kinh tế chính Bởi vìnông nghiệp trồng lúa nước gắn liền với công tác thuỷ lợi Còn đối với nhữngtộc người lấy đồi núi trung du làm địa bàn sinh sống thì họ thường gắn liềnvới kinh tế nương rẫy Ở các khu vực này trước khi chủ nghĩa thực dânphương Tây xâm nhập và xâm lược vẫn sử dụng hình thức du canh là phổbiến So với các trung tâm văn minh khác thì kinh tế nông nghiệp ở ĐôngNam Á hết sức thô sơ và lạc hậu

Về chế độ ruộng đất vẫn nằm trong tay các nhà vua phong kiến trên danhnghĩa vì ở đây vẫn duy trì sự tồn tại chế độ quân chủ chuyên chế Nhưngtrong thực tế thì một bộ phận trở thành ruộng đất tư nhân của quý tộc,địachủ,phong kiến, một bộ phận là ruộng đất công làng xã Đối với ruộng đấtcông do quý tộc, địa chủ quản lý, khai thác và bóc lột nông dân bằng phátcanh thu tô

Trang 12

Đối với ruộng đất công làng xã thì được phân phối cho các gia đình canhtác Điều này chứng tỏ Đông Nam Á thời kì này còn duy trì và tồn tại nềnkinh tế tiểu nông.Nền kinh tế tự cấp tự túc ở các làng, bản, buôn, sóc… hầunhư phổ biến ở các quốc gia Đông Nam Á Ở đây hoạt động nông nghiệp vàhoạt động thủ công nghiệp gắn bó chặt chẽ với nhau Chính sự tồn tại củahình thức này làm cản trở rất lớn đến nền kinh tế hàng hoá Việc giao lưubuôn bán rất hạn chế, có chăng cũng chỉ thông qua các phiên chợ.Tuy nhiên,Đông Nam Á cũng thu hút nhưng thương nhân nước ngoài như Trung Quốc,

Ấn Độ đến hoạt động buôn bán, trao đổi Họ cũng thành lập cộng đồng nhữngngười nước ngoài, với tổ chức chặt chẽ nên nhanh chóng nắm bắt và thao túngnền kinh tế các quốc gia ở đây

Về chính trị xã hội,trước khi chủ nghĩa thực dân đến, Đông Nam Á vẫnduy trì chế độ quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền, tuy nhiên nó đãđến lúc suy tàn và khủng hoảng, vì thế mâu thuẫn xã hội trở nên gay gắt Biểuhiện là các cuộc khởi nghĩa nông dân bùng nổ và nổi dậy ở khắp mọi nơi.Mâu thuẫn cơ bản trong xã hội lá mâu thuẫn giữa địa chủ phong kiến vớinông dân đã đến lúc không điều hoà được nữa Khi chế độ phong kiến đã trởnên suy tàn, thì giữa cac quốc gia trong khu vực vẫn diễn ra những cuộc tranhchấp, thôn tính lẫn nhau, kết quả kẻ thắng, lẫn người thất bại đều đi đến suythoái về kinh tế, bất ổn về chính trị và phân tán về lãnh thổ

Khi mâu thuẫn trở nên gay gắn, nền kinh tế chững lại, nhà nước quân chủchuyên chế không còn đủ sức thực hiện những đòi hỏi về kinh tế, xã hội…Tất cả những nguyên nhân bên trong lẫn bên ngoài đã làm cho Đông Nam Átrở nên suy kiệt, trong khi chủ nghĩa tư bản đã thắng thế và được xác lập ởnhiều lục địa Trong bối cảnh ấy, sự xâm nhập và xâm lược của thực dânPhương Tây vào Đông Nam Á là một nhân tố không thể tránh khỏi

Tóm lại, tình hình Đông Nam Á trước khi thực dân Phương Tây xâmnhập và xâm lược thì nền kinh tế xã hội đang ở vào giai đoạn khủng hoảng,suy yếu, đó là những mâu thuẫn trong xã hội đã đến mức gay gắt, nền kinh tế

Trang 13

không còn đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội, nền chính trị cũng trở nênsuy đốn, lãnh thổ quốc gia phân tán.

Mã Lai, Đông Dương là những bộ phận trong lãnh thổ Đông Nam Á.Cũng như những nét chung trong tình hình Đông Nam Á Mã Lai, ĐôngDương trong bối cảnh lịch sử ấy cũng không tránh khỏi mũi tấn công từ cácnước phương Tây [9, 87 - 92]

Các vùng nước ven biển (tính theo chiều kim đồng hồ từ phía ĐôngBắc là vịnh Thái Lan, biển Đông (đối diện với Borneo), eo biển Johor (đốidiện với Singapo), eo biển Malắcca (đối diện với Sumatra) và biển Adaman

Về mặt chính trị, bán đảo Mã Lai được chia cho ba quốc gia:

*Phần Tây Bắc bán đảolà lãnh thô cực nam của Myanma

*Phần trung tâm và Đông Bắc thuộc miền Nam Thái Lan

*Phần phía Nam thuộc Malaysia được gọi là Malaysia bán đảohoặc Tây Malaysia

Bờ biển phía tây của bán đảo đối diện với bán đảo Sumatra, là khu vựctiếp nhận nhiều nhóm di dân như người Bugic, người Hán và người Ấn, vìđây là điểm dừng chân trên chặng hải hành giữa Ấn Độ Dương và Thái BìnhDương (nguồn thông tin từ Internet)

Án ngữ cửa ngõ của con đường qua lại giữa nhiều Đai Dương, bán đảo

Mã Lai chiếm một vị trí địa lý lịch sửđặc biệt Nơi đây từng chứng kiến sựgặp gỡ nhưng trào lưu văn minh phương Đông Nền văn minh Ấn Độ, TrungHoa đã để lại nơi đây nhiều dấu ấn Vào thơi cận đại, eo biển Mã Lai trở

Trang 14

thành nơi thông thương quan trọng giữa châu Á phì nhiêu và châu Âu tư bảnđang khao khát thị trường, vì thế Mã Lai trở thành miếng mồi tranh chấp giữacác nước tư bản.

Về mặt chính trị, Mã Lai là một bán đảo gồm nhiều vương quốc, tronglịch sử hầu như chưa bao giờ thống nhất Những vương quốc này cô lâp vớinhau, tự làm yếu mình đi rất nhiều nên thường bị thế lực bên ngoài xâu xé

Mã Lai bị kẹt lại giữa hai thế lực phong kiến tương đối mạnh là Xiêm vàInđônêxia Xiêm từ phương Bắc xuống và Inđô từ Xumatơra, Giava lên Sựphân cắt phong kiến trên bán đảo đã tạo nên tình hình là một số vương quốclớn mạnh hơn luôn dùng quân sự bắt một số vương quốc nhỏ bé thuần phục.Vương quốc Giôho đã từng khống chế một vùng rộng lớn phía Nam bán đảo

và cả một phần đất đai của Xumatơra

Ảnh hưởng của đạo Ixtlam ở vùng này rất mạnh Vào thế kỷ XIV - XV,đạo Ixtlam đã giành được địa vị thống trị.Các quốc vương mang danh hiệuSuntan đươc tôn là người thay chúa Ala trị vì vương quốc Suntan có quyềnhành tuyệt đối, thống trị cả phần hồn và phần xác của thần dân Những chúaphong kiến ở đây tìm thấy trong đạo Ixtlam các giáo lý vững mạnh để cũng cốquyền lực phong kiến của mình Đạo Ấn Độ bị thay thế

Trước khi bị thực dân phương Tây xâm chiếm, quan hệ phong kiến vàchế độ kinh tế tư nhiên chiếm đại vị thống trị Đại đa số cư dân trong nước lànông dân bị cột chặt vào đất đai bởi quan hệ ruộng đất phong kiến và sự phụthuộc về thân phận Chúa phong kiến dùng tôn giáo khẳng định quyền lũngđoạn ruộng dất và quyền bóc lột “thiêng liêng” của mình

Nền kinh tế tự nhiên lạc hậu,tính chất đóng kín và phân tán của công xãnông thôn, ảnh hưởng của tăng lữ đạo Ixtlam, sự bóc lột nặng nề của địa chủ,tất cả đã gây tác hại lớn cho việc phòng thủ đất nước sau này

Dân số Mã Lai vào thế kỷ XVII - XVIII không quá 25 vạn người, đại

đa số làm nghề nông, nghề cá Họ tụ tập hai bên triền sông, ven biển và nhữngnơi đất đai phì nhiêu như Pahang, Pếrăc, Kêlântn, Mua, Pênam, Tơrenganu và

Trang 15

những vùng ven biển phía Tây, phía Đông giàu có, đặc biệt những cánh đồngphía Bắc phì nhiêu Nhưng cho đến thời kì cận đại, đời sống của nhân dân MãLai còn thấp, kinh tế ít phát triển, trừ những cửa khẩu buôn bán sầm uất nhưMalăcca Nền kinh tế phong kiến tự nhiên vẫn thống trị trong toàn xã hội.

Ngoài việc trông lúa ra từ thời trung thế kỉ, người Mã Lai đã biết trồngcác loại cây hương liệu để bán cho thương nhân nước ngoài Nhưng qui môbuôn bán không lớn, chỉ là nguồn thu nhập phụ của nông nhân

Thủ công nhgiệp của Mã Lai tương đối phát triển, chủ yếu phục vụ đờisống xa hoa của vua chúa, cho những buổi lễ hội cung đình Nghề kim hoàn

và các kĩ thuật chạm trổ tinh vi đạt đến trình độ điêu luyện Những người thợthủ công của Mã Lai nổi tiếng trên thế giới về kĩ xảo làm đồ trang sức bằngvàng, ngọc, châu… Tuy vậy sản xuất thủ công nghiệp của Mã Lai trong giaiđoạn này không đóng vai trò gì lớn trong nền kinh tế xã hội

Nông dân và thợ thủ công Mã Lai hoàn toàn không có quyền lợi chínhtrị Họ là người sản xuất của cải cho xã hội và là tầng lớp bị áp bức, bóc lộttàn tệ Thuế khoá nặng nề và những quan hệ ràng buộc phức tạp của phongkiến làm cho đời sống của họ rất nghèo khổ Đồng thời nỗi khổ đau do chiếntranh liên miên giữa các vương quốc gây ra và mọi gánh nặng phí tổn đều đổlên dầu nông dân phương tây đến xâm lược Mã Lai, đời sống nhân dân càngthêm điêu đứng [6, 401 – 404]

1.3 Tình hình Đông Dương.

Tên gọi Đông Dương lần đầu tiên xuất hiện bởi Brunn trong bộ sách

“Địa lí toán học chính trị các nước trên thế giới” năm 1804

Đông Dương là một bán đảo ở Đông Nam Á, giáp Ân Độ về phía Tây vàbiển Đông về phía Đông Là khu vực nằm giữa Ân Độ và Trung Quốc

Theo nghĩa hẹp, bán đảo Đông Dương bao gồm ba nước Đông Dươngtừng là thuộc địa của Pháp (kể từ hiệp ước Patơnốt hay còn gọi là hiệp ướcGiáp Thân 6/ 6/ 1884) đất Nam Kì do bộ Hải Quân Pháp nắm còn Bộ Ngoại

Trang 16

Giao Pháp phụ trách Bắc Kì và Trung Kì Song tình trạng thiếu thống nhấttrong khâu quản lý đã gây cho thực dân Pháp nhiều khó khăn.

Trước tình hình đó, ngày 17/ 10/ 1887, Tổng thống Pháp ra sắc lệnhthành lập “Liên bang Đông Dương” (Union Inđôchinoise) Lúc đầu khi mớithành lập mới chỉ có Việt Nam và Cao Miên Mãi tới năm 1899 Lào mới sápnhập vào Liên bang Đông Dương

Theo qui định của thực dân Pháp,Việt Nam bị chia thành ba khu vựcgọi là ba kì, trong đó gồm Annam (Trung Kì) là đất bảo hộ - Protectorat; Nam

Kì là đất thuộc địa – Cochinchine; Bắc Kì là đất nửa bảo hộ - Tóckin(Semiprotectorat) Với chính sách “chia để trị” này tên nước Việt Nam cũng nhưLào, Cao Miên đã biến mất trên bản đồ thế giới, mà thay thế vào đó là sự rađời của Liên Bang Đông Dương Từ năm 1894, ba nước Đông Dương do Bộthuộc địa Pháp trực tiếp quản lý [2, 11- 12]

Theo nghĩa rộng, với tên bán đảo Trung Ấn, thì bán đảo Đông Dươnggồm ba nước trên cùng với :

 Malaysia bán đảo (phần phía Nam của Bán đảo Mã Lai, khôngtính quần đảo Mã Lai)

 Mianma (tức Miến Điện cũ) và một phần của Ấn Độ thuộc Anhtrước năm 1947

 Thái Lan (nước Xiêm trước đây)

Theo nghĩa rộng, thì Đông Dương cũng được gọi là Đông Nam A lụcđịa

Trước khi thực dân Pháp xâm lược, ở Đông Dương (Lào, Campuchia)tình hình cũng có nhiều nét đáng chú ý

Vào thế kỷ XIV, nước Lào đã đựơc thống nhất Pha Ngừm là người có côngthống nhất đất nước, lập nên một chính quyền từ trung ương đến địa phương.Cũng giống như các nhà nước chuyên chế phương Đông, vua là người chủ tốicao tất cả đất đai trong nước, đồng thời là người nắm quyền lực tuyệt đối vềchính trị Vương quốc Lạn Xạng chia ra làm nhiều châu, mường, đứng đầu mỗi

Trang 17

mường là một thủ lĩnh do nhà vua chỉ định Hàng tháng các thủ lĩnh gửi tấu cáo

về triều đình vài ba năm một lần, đích thân đem thuế về đóng và trình diện vớinhà vua ở kinh đô để bỉêu lộ lòng trung thành Quý tộc và các sư sãi đều đượcnhà vua ban cho đất đai và số cư dân nhất định sống trong vùng cư trú Nôngdân thường sống trong các làng bản dưới hình thức các công xã nông thôn.Người nông dân gánh vác nghĩa vụ của nhà nước, đồng thời chịu sự bóc lộtnặng nề của chúa phong kiến Ở Lào lúc nay vẫn tồn tại chế độ nô lệ khôngphát triển Nô lệ là những người cùng khổ nhất trong xã hội, không có quyền tự

do, bị đem làm vật đổi chác, mua bán

Lào là một nước tập quyền phong kiến ít tập trung nhất so với một sốquốc gia phong kiến ở phương Đông cùng thời

Vào thế kỉ XVII, nhà nước Lạn Xạng bước vào thời kì phồn vinh, nềnkinh tế hàng hoá phát triển Những trung tâm thương mại trong nước hìnhthành có quan hệ buôn bán vơí Đại Việt, Xiêm, Trung Quốc, Campuchia(Mường Khúc và Luông Phabang là những trung tâm như thế)

Nhưng cuối thế kỉ XVII, Xulinha Vôngxa chết, sự suy yếu của vươngquốc Lạn Xạng trở nên rõ rệt Các cuộc đấu tranh giữa các tập đoàn phong kiếntranh giành quyền lợi ngày thêm mạnh mẽ Cũng chính lúc đó, Vương quốcXiêm với triều đại Ayuthia thôn tính các nước lân bang bắt đầu tiến hành chiếntranh xâm chiếm Lào Mặc dù nhân dân Lào chiến đấu hết sức dũng cảm nhưngcuối cùng tất cả các cuộc khởi nghĩa đều bị đàn áp và thât bại Luông Phabang,Viêng Chăn, Chămpaxắc lần lượt phải thuộc Xiêm

Chính giữa lúc nước Lào ở trong cảnh nước mất nhà tan, bị Xiêm khốngchế thì đế quốc tư bản Anh, Pháp bắt đầu cuộc phân chia thế lực trên bán đảoTrung Ân và lần lượt hướng đến Lào [6, 444 – 447]

Trái lại, Campuchia là một quốc gia có nền văn hoá lâu đời, vươngquốc Campuchia thành lập từ thế kỉ VII, nhưng từ thế kỉ IX đến X mới bướcvào thời kì cực thịnh Chính trong thời gian này, nhân dân Campuchia đã để lại

Trang 18

cho gia tài văn hoá nhân loại kiến trúc Ăngcovát, Ăngco Thom hùng vĩ Nó trởthành một trong những kì quan thế giới.

Đó cũng chính là thời kì mà kinh tế, văn hoá, xã hội đều đạt đến trình

độ phát triển Những dấu tích còn lại đến ngày nay của tài liệu bi kí, mạng lướithuỷ lợi đều ghi nhận thời kì phát triển vẻ vang trên

Vào đầu thế kỉ XVI , Người Bồ Đào Nha đã từ căn cứ Mã Lai đến thăm

dò Campuchia Sau đó người Tây Ban Nha cũng hoạt động ở Campuchia Cólúc, người Tây Ban Nha tưởng chừng đã đạt được cơ sở vững chắc cho mình ởCampuchia như dưới thời vua Pônheathan (1642 - 1659) thực dân Hà Lan cũngđịnh nhảy vào, nhưng thất bại [6, 406 – 408]

Tóm lại, mặc dù cả hai nước ở bán đảo Dông Dương vào thời điểm nàyđều có những bước phát triển nhất định về kinh tế, văn hoá Song tình hìnhtrong nước lúc này cũng có nhiều bất ổn với sự suy thoái của chế độ phongkiến, chiến tranh nông đân nổ ra…Điều đó cũng lí giải được phần nào nguyênnhân nó trở thành miếng mồi cho các nước đế quốc, thực dân tranh chấp

1.4 Âm mưu của Anh – Pháp - Xiêm

Vốn là những nước nuôi mộng xâm lăng, ngay từ thế kỉ XVI, Xiêm –Anh – Pháp cũng thi nhau trổ tài “ăn cướp” của mình trên đất thuộc địa

Mặc dù là một quốc gia nằm ở bán đảo Đông Nam Á, song khác vớihầu hết các nước trong khu vực, chế độ phong kiến đi vào suy thoái khủnghoảng thì Xiêm lại tỏ ra vững mạnh và thịnh đạt Vốn là một nước có tư tưởngbành trướng lâu đời (ngay từ thế kỉ VII – XIII) và đến giai đoạn này Xiêm cùngvới Anh, Pháp trở thành “những vị khách không mời mà đến” và thi nhau “lộnghành” trên những miền đất thuộc địa như Mã Lai, Đông Dương và nhiều nơikhác

Còn Anh, Pháp vốn là những nước thực dân Phương Tây “khát máu”thuộc địa Ngay từ thế kỉ XVII, khi nền kinh tế chủ nghĩa tư bản phát triểnmạnh mẽ, hàng hoá sản xuất ra ngày càng nhiều hơn, thì yêu cầu về tìm kiếmnguyên liệu, thị trường đã trở nên cấp thiết

Trang 19

Tuỳ từng vùng, từng quốc gia và tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể, cácnước đế quốc đã tìm những con đường xâm lăng khác nhau Một số nước bọn

tư bản phương Tây sử dụng lá bài kinh tế để phục vụ lợi ích của mình Có nướclại sử dụng sức mạnh quân sự, với mục đích là giành lấy thuộc địa cũng nhưlàm công cụ quân sự để dựa trên cơ sở đó làm bàn đạp xâm chiếm các nướckhác và sau này là nơi xuất cảng tư bản để thu lợi nhuận cao

Các nước ấy “tranh chấp”, “cắn xé” lẫn nhau “một miếng mồi”, nhữngtoan tính, mưu mô của chúng đã làm cho bầu trời của các nước thuộc địa trongmột hời gian dài bị “ vây phủ bởi những đám mây đen” Mã Lai, Đông Dươnglúc ây cũng nhuốm đen bởi ách thống trị của bọn thực dân Phương Tây và dàyđặc các mũi tấn công từ các phía đại dương và lục địa Có thể kể đến là cuộctranh giành giữa Xiêm – Anh ở bán đảo Mã Lai và Xiêm – Pháp ở bán đảoĐông Dương Kết quả của quá trình ấy là cả Anh, Pháp với sức mạnh hơn hẳn

đã giành vị trí độc tôn ở cả hai bán đảo, còn Xiêm yếu thế hơn phải nhượng bộ

Trang 20

CHƯƠNG 2 QÚA TRÌNH TRANH CHẤP GIỮA XIÊM - ANH Ở

BÁN ĐẢO MÃ LAI.

2.1 Qúa trình bành trướng ra bên ngoài của Xiêm.

Xiêm là vương quốc ra đời tương đối muộn trong khu vực nhưng ngaysau khi ra đời thì triều đình Xiêm đã nhanh chóng lớn mạnh nhất là dưới thời kìcác Rama

Đến nửa đầu thế kỉ XVIII, Xiêm trở thành một trong những nướcphong kiến ở bán đảo Trung Ấn và chế độ phong kiến đạt đến đỉnh cao nhất.Nhưng sau đó sự tranh giành quyền lợi trong giai cấp thống trị đã làm choXiêm bị suy yếu và đến năm 1767 bị Miến Điện chinh phục Dưới sự lãnh đạocủa Tăcxin nền độc lập của Xiêm được khôi phục vào 1768 Tăcxin lên ngôivua Việc đầu tiên mà vua quan tâm là thống nhất đất nước, tiêu diệt nhữngchúa phong kiến lớn và một số người cầm đầu Phật giáo không chịu thừa nhậnchính quyền trung ương Năm 1770 cuộc đấu tranh này kết thúc, các đất đai củachúa phong kiến đượ sáp nhập vào quốc gia Xiêm Không dừng lại ở đó, vốn làmột nước có tư tưởng bành trướng, chính quyền Tăcxin đã tìm mọi cách tiếnhành bành trướng lãnh thổ Đối tượng cướp bóc và áp bức của giai cấp phongkiến Xiêm là các quốc gia nhỏ bé như Lào, Campuchia, Mã Lai khi đó chưathống nhất, chưa có chính quyền trung ương

Cuộc khởi nghĩa 1782 thất bại Chao Paia Tracơri (một tướng trẻ có tàicủa Tăxin) đã cướp ngôi vua và tự phong là Rama I (1782- 1809)

Kế thừa tư tưởng bành trướng lãnh thổ của Tăc Xin, Rama I tiến hànhhàng loạt cuộc xâm lăng những quốc gia Lào nhỏ bé như Chiêngxen,Chiêngrai, Viêng Chăn … Đặc biệt cuộc chiến tranh với nhà nước Viêng Chănrất gay go, có lúc vua Viêng Chăn là Anu chiếm được vùng Khorat của Xiêm.Nhưng cuối cùng Viêng Chăn cũng bị quân Xiêm thôn tính Các quốc gia nhỏ

bé khác ở bán đảo Malăcca cũng không tránh khỏi con mắt nhòm ngó của

Trang 21

phong kiến Xiêm Kết quả là các công quốc như: Patani, Kedad, Kêlantan,Tơrenganu đều lần lượt rơi vào tình trạng phụ thuộc nhà nước phong kiếnXiêm Do sự kình địch của bọn tư bản phương tây trưoc hết là Anh, giai cấpphong kiến Xiêm không thực hiện được mộng bá chủ của mình trên khắp bánđảo này

Bọn phong kiến Xiêm cũng đã nhiều lần can thiệp vào nội bộ của ViêtNam Năm 1783, Nguyễn Phúc Anh cầu cứư quân Xiêm sang giúp về đánh TâySơn Tướng Xiêm là Chiêu Tăng và Chiêu Sương đem hơn hai vạn quân và batrăm chiến thuyền phối hợp cùng quân Nguyễn Anh đánh Tây Sơn NguyễnHuệ đã thắng to tại trận Rạch Gầm – Xoài Mút năm 1785 Hai vạn quân Xiêmcùng toàn bộ chiến thuyền và quân của Nguyễn Anh bị tiêu diệt Chiêu Sương,Chiêu Tăng chỉ còn hai nghìn quân hộ vệ chạy thoát Nhưng triều đình Xiêmvẫn có tham vọng đánh chiếm Việt Nam Cánh quân thứ nhất theo đường thuỷchiếm Hà Tiên, Châu Đốc Cánh quân thứ hai đi đường bộ do chính Bônđin chỉhuy vượt qua lãnh thổ Campuchia trên đường tiến quân đã đánh chiếmPhnômbênh Cánh quân thứ ba qua đất Lào, tiến vào vùng Quảng Trị và NghệTĩnh Trước sức đề kháng và tiến công mãnh liệt của quân dân ta, quân Xiêmthất bại to đành phải rút kui không những khỏi Nam Bộ mà cả ở Campuchianữa [6, 471- 473]

Mặc dù thất bại nhưng Xiêm vẫn không từ bỏ tham vọng bành trướnglãnh thổ của mình Minh chính là ở việc giữa Xiêm và Anh cũng như Pháp đãdiễn ra cuộc tranh giành quyết liệt ở bán đảo Mã Lai và Đông Dương mà chúng

ta sẽ tìm hiểu trong bài ở mục sau

2.2 Qúa trình xâm lược của thực dân phương Tây ở bán đảo Mã Lai.

Mã Lai nằm ở vị trí chiến lược quan trọng, án ngữ con đường từ Đôngsang Tây, eo biển Malăcca có tầm quan trọng không kém gì kênh đào Xuyê hayPanama, lại có cảng Xingapo là nơi dừng chân lí tưởng trên hành trình ĐôngTây Lí do quan trọng ấy làm cho Mã Lai sớm bị nhòm ngó nhất trong khu vực

Trang 22

Trước khi trở thành đối tượng tranh chấp của Anh - Xiêm, trên bán đảo

Mã Lai Từng hiện diện “những vị khách không mời mà đến” như Bồ Đào Nha,

Hà Lan

Với vị trí địa lí quan trọng, Malắcca đã trở thành vị trí hấp dẫn đối vớibọn tư bản Phương Tây Thực dân Bồ Đào Nha là kẻ đi đầu trong công cuộcxâm lược vùng này Việc Bồ Đào Nha nổ súng tấn công Malăcca năm 1511 đãđánh dấu mốc quan trọng trong lịch sử Đông Nam Á nói chung và lịch sử bánđảo Mã Lai nói riêng Ngày 2/ 5/ 1511, phó tướng Bồ Đào Nha tại các thuộcđịa Ân là Anbukéc đã chỉ huy 19 chiến thuyền cùng 1400 tên lính tiến vềMalăcca Cuộc chiến tranh thực dân đối với Đông Nam A bắt đầu Nhân dânMalăcca dưới sự chỉ huy của Suntan Mamua đã chiến đấu dũng cảm Bồ ĐàoNha nhiều lần bị thiệt hại nặng tưởng như không thể nào chinh phục nổi xứnày Cuộc chiến tranh kéo dài hàng tháng trời Cuối cùng nhờ ưu thế về kĩthuật, Bồ Đào Nha đã hạ được thành Malăcca Cuộc chiến đấu còn kéo dàitrong nhiều năm sau nhưng cuối cùng bị dập tắt

Từ Mã Lai, Bồ Đào Nha lấy đó làm cơ sở để thuận tiện trong việc đưaquân đi khống chế các vùng khác và biến Mã Lai thàn khu vực buôn bán hươngliệu ở phía Đông

Thực dân Bồ Đào Nha trở thành kẻ lũng đoạn lớn nhất về hương liệu vàhàng hoá Phương Đông Ở Châu Âu.Trong hàng trăm năm, chúng khống chế cảmột vùng ảnh hưởng rộng lớn gồm các cứ điểm ở Châu Phi, Ấn Độ, TrungQuốc, Iran, Mã Lai, Inđônêxia, Nam Mĩ… Malắcca giữ một vị trí khinh tế vàchiến lược vô cùng quan trọng đối với thực dân Bồ Đào Nha Nhưng trong xuthế chung đến thế kỉ XVI, Bồ Đào Nha suy yếu một cách nghiêm trọng về kinh

tế, sức mạnh quân sự của nó không đủ để đảm bảo cho sự vững chắc mà nóchiếm được trong thế kỉ trước Những thuộc địa của Bồ Đào Nha dần bị tướcđoạt khỏi tay họ và chuyển sang các nước tư bản khác mới giàu lên như Hà Lan(đứng đầu về hoạt động thương nghiệp) và Anh (công xưởng thể giới) Bằng vũ

Trang 23

lực uy hiếp và thủ đoạn lường gạt, Hà Lan đã chiếm được quần đảo hương liệu

ở Inđônêxia và Malắcca

Năm 1602, công ty Đông Ấn Hà Lan được thành lập Công ty này vềsau trỏ thành mẫu mực cho các công ty khác cùng loại và là một hiện tượng độcđáo trong lịch sử cướp bóc thuộc địa Công ty được quyền thay mặt nghị viện

kí các thương ước, hoà ước, xây dựng pháo đài, tổ chức quân đội, xét xử cácquan chức của mình Nhờ vậy công ty có vai trò hết sức quan trọng trong việc

mở rộng hệ thống thuộc địa cho thực dân Hà Lan Đối tượng tranh giành đầutiên của Hà Lan là các thuộc địa của Bồ Đào Nha Năm 1641, Malăcca – cứđiểm buôn bán quan trọng nhất của Bồ Đào Nha rơi vào tay Hà Lan

Từ giữa thế kỉ XVII, Sau khi chiếm được Malắcca, Công ty Đông Ấn

Độ của Hà Lan liền mở rộng thế lực đến các vương quốc phía Bắc vốn phụthuộc Xiêm Chúng xúi giục các vương quốc này đánh nhau, làm suy yếu lẫnnhau rồi dùng vũ lực bắt phải thần phục Hệ thống thuộc địa của Hà Lan, dù ởInđônêxia hay ở Mã Lai cũng đều xây dựng nên “một bức tranh miêu tả những

sự giết hại, phản trắc, sa đoạ và đê tiện, không thời nào có thể sánh kịp”

Nhưng thời kì thống trị của Hà Lan ở Mã Lai cũng nhanh chóng kếtthúc cùng với sự kết thúc địa vị bá quyền trên biển của chúng Tới kì huy hoàngcủa ưu thế thương nghiệp qua đi, giai đoạn bá quyền về công nghiệp quyết định

vị trí của các nước tư bảnbắt đầu Nước Anh tư bản công nghiệp đang lên trởthành đối thủ đáng gờm của Hà Lan Thực dân tư bản thương nghiệp Hà Lanphải nhường bước cho thực dân tư bản công nghiệp Anh

Anh dù đến Mã Lai muộn hơn so với các nước khác nhưng Anh khôngnhững là nước mạnh nhất mà còn là quốc gia đặt ách cai trị vững chắc nhất vàlâu dài nhất ở đây Từ cuối thế kỉ XVI, người Anh đã bắt đầu chú ý nhiều đếnbán đảo Mã Lai Trong thời gian Hà Lan cai trị ở Mã Lai, công ty Đông ẤnAnh đã xuất hiện ở đây nhưng lúc đó nó mang tính chất buôn bán đơn thuần vàchỉ thâm nhập vào một số vùng như Pênang và Kedad Đến thế kỉ XVIII, saunhững cuộc đọ sức thể hiện rõ ưu thế của công nghiệp, Anh mới dần dần trở

Trang 24

thành một nước tư bản thực dân có thế lực Công ty Đông Ấn Độ của Anh từmột lực lượng thương nghiệp trở thành một lực lượng quân sự có quyền kí kếthoà ước, chiếm lĩnh đất đai Cũng chính từ lúc đó, Anh đặt cơ sở cho nền thốngtrị ở phương Đong trong hàng mấy thế kỉ Mục tiêu của đế quốc Anh là chiếmlấy vùng đất phì nhiêu rộng lớn Ấn Độ và Trung Quốc Anh cố xây dựngnhững cứ điểm chiến lược quan trọng trên đường biển đi về Phương Đông.Chính vì vậy công ty Đông Ấn Độ của Anh đã đưa vào chương trình xâm lượccủa chúng việc chiếm bán đảo Mã Lai Khi đã đủ thực lực thì Anh mới đẩymạnh hoạt động gạt bỏ Hà Lan, tranh giành với Xiêm để độc chiếm bán đảo MãLai.

Năm 1771, thực dân Anh đến Kêdad đàm phán với Suntan ở đây.Kêdad là một vương quốc nhoơr phía Bắc Mã Lai luôn luôn bị Xiêm tấn công

uy hiếp Vào thế kỉ XVIII, nền thống trị phong kiến ở vương quốc này cực kìthối nát, mâu thuẫn trong tầng lớp quý tộc và mâu thuẫn giữa nông dân vớiphong kiến ngày càng sâu sắc Các cuộc tranh giành ngôi báu thường xuyênxảy ra và nhất là các cuộc chiến tranh của nông dân chống lại chế độ bóc lột hàkhắc đã làm cho chế độ phong kiến lung lay Suntan vô cùng bối rối Giữa lúc

đó thực dân Anh lợi dụng thời cơ nhảy vào, hứa sẽ viện trợ quân sự, giúp đỡKêdad tránh sự khỏi sự xâm lược của Xiêm., và trấn áp phong trào đấu tranhcủa nông dân Để bảo vệ quyền lợi ích kỉ, ngày 12/ 8/ 1786, Suntan Kêdadđồng ý kí hiệp ước với Công ty Đông Ấn Độ của Anh Hiệp ước qiu định:Pênang thuộc quyền sở hữu của người Anh và Anh sẽ giúp Suntan Kêdad “bảo

vệ khi có kẻ xâm lược” Lịch sử nô dịch nhân dân Mã Lai của thực dân Anh bắtđầu từ hiệp ước này

Năm 1795, Anh tổ chức đội quân viễn chinh đánh chiếm Malắcca lànơi có vị trí quan trọng về mặt kinh tế và quân sự, có thể làm tiền đồn tốt nhất

để tấn công Giava, một trung tâm của Pháp – Hà Lan ở Phương Đông Vươngquốc Malắcca bị chinh phục , Râyphơlít được phái làm toàn quyền với mụcđích chuẩn bị tấn công cả Giava và quần đảo Mã Lai

Trang 25

Năm 1800, thực dân Anh chiếm một phần đất duyên hải của Kêdad.Quan hệ của Anh và Hà Lan lúc này có thay đổi, năm 1814, Napôlêon bị đánhbại, Anh muốn lôi kéo Hà Lan về phía mình để cô lập Pháp Ở hội nghị Viên,thực dân Anh buộc phải trả lại Giava và Malắcca cho Hà Lan nhưng vẫn giữ lạiPênang và vùng biển Kêdad.

Sau khi buộc phải rút khỏi Giava và Malắcca, Râyphơlít đã phát hiện raXingapo, một hòn đảo nằm án ngữ giữa bán đảo Mã Lai với Xumatơra, là mảnhđất có một vị trí đặc biệt Xingapo với diện tích 585 km2 là yết hầu của eoMalắcca, khi đó vẫn còn là một hòn đảo hoang tàn, có thể xây dựng thành mộtthương cảng lớn và một pháo đài ở vùng biển Đông Nam Á

Sau khi được chính quyền chuẩn y, Râyphơlít dẫn một số chiến thuyềnđến đảo Xingapo buộc Sutan Giôho và Malắcca đồng ý cho lập đại lý công tybuôn bán của Anh tại đây

Lợi dụng mâu thuẫn trong nội bộ hoàng tộc của vương quốc Giôho và

sự đe doạ của Hà Lan, Râyphơlít đã giành được một hiệp ước có lợi về vấn đềXingapo Ngày 6/ 12/ 1819, Suntan mới lên ngôi đã cùng với Râyphơlít kí hiệpước cho Anh quyền xây dựng đại lí buôn bán trên bất kì nơi nào trong lãnh thổGiôho và được độc quyền buôn bán ở Xingapo Để trả công; Công ti Đông Ấn

Độ của Anh trợ cấp hàng năm cho Suntan 5.000 pêxô và một nửa thu nhậpquan thuế ở Xingapo Vì bị Hà Lan phản đối, Anh phải triệu hồi Râyphơlít.Nhưng ý định xâm lược của Anh vẫn không thay đổi và đến năm 1824, chúnghoàn toàn chiếm Xingapo

Trong một thời gian ngắn, Xingapo trở thành cứ điểm chiến lược quantrọng trên con dường đến Trung Quốc Nhưng Anh muốn khống chế toàn bộbán đảo Mã Lai là nơi rất giàu nguyên liệu công nghiệp, Malắcca do Hà Lankhống chế trở thành cái gai chướng mắt Bằng áp lực kinh tế và thủ đoạn đedoạ, Anh đã chen bật Hà Lan ra và chiếm lấy Malắcca

Năm 1824, Anh và Hà Lan kí điều ước qui định Hà Lan sẽ giao choAnh những lãnh địa của Hà Lan ở Ấn Độ và Malắcca; Anh sẽ giao những cứ

Trang 26

điểm xây dựng ở Xumatơra cho Hà Lan, và hứa không xây dựng gì thêm trênđất Xumatơra nữa Tất nhiên, đối với Hà Lan, đây là sự thừa nhận thế lực lớnmạnh của Anh; Còn với Anh thì đây chỉ là cơ hội để lấn tới Thực ra Anh vẫn ởlại Xumatơra sau này; ngày càng tâm nhập kinh tế một cách mạnh mẽ.

Điều ước trên đã tạo thệm điều kiện cho thực dân Anh xâm lược toàn

bộ Mã Lai Sau khi đẩy tư bản Hà Lan ra khỏi Mã Lai, thực dân Anh tiến hànhngay hai việc cơ bản:

Để đề phong việc tiếp xúc và liên kết giữa các vương quốc Mã Lai vớiXiêm, Anh buộc các Suntan và Sêlango kí hiệp ước chống lại Xiêm

Buộc Bêrăk cắt một số đất cho Anh

Những lãnh địa Anh chiếm được của Mã Lai hợp thành một tuyến cứđiểm khống chế chặt chẽ bán đảo và eo biển Để thống nhất về tổ chức, thựcdân Anh thành lập “lãnh thổ thuộc địa eo biển” bao gồm trung tâm Xingapo,Malắcca, Pênang Đứng đầu là tổng đốc người Anh, trực thuộc Tổng đốc tỉnhBengan (Ấn Độ)

Năm 1867, vùng thuộc địa eo biển đặt dưới quyền quản lí trực tiếp của

Bộ thuộc địa Anh

2.3 Qúa trình tranh chấp giữa Xiêm- Anh ở bán đảo Mã Lai.

Có thể nói trước khi có sự hiện diện của người Anh, Mã Lai đã là mộtnước phụ thuộc Xiêm – nó là kết quả của quá trình bành trướng lãnh thổ củaXiêm ngay từ thế kỉ XIII – XIV Tuy vậy Mã Lai chỉ thực cự trở thành vấn đềnóng bỏng khi mâu thuẫn về quyền lợi giữa Anh - Xiêm trở nên gay gắt

Từ cuối thế kỉ XVI, nối gót Bồ Đào Nha, Hà Lan, người Anh bắt đầuchú ý đến bán đảo Mã Lai Ban đầu các thương nhân Anh hoạt động dưới hìnhthức cướp biển, cướp phá thuyền buôn của Bồ Đào Nha và Hà Lan Bên cạnh

đó, công ty Đông Ấn của Anh cũng phái người đến thăm dò Mã Lai (Malăcca),tham nhập một số vùng ở Pênang và Kêdad

Đến thế kỉ XVIII, sau những cuộc đọ sức thể hiện rõ ưu thế của công nghiệp,Anh mới dần dần trở thành một nước tư bản thực dân có thế lực Công ty Đông

Trang 27

Ấn Độ của Anh từ một lực lượng thương nghiệp trở thành một lực lượng quân

sự có quyền kí kết hoà ước, thương ước, chiếm lĩnh đất đai Cũng chính từ đó,Anh đặt cơ sở cho nền thống trị ở phương Đông trong hàng mấy thế kỉ

Trong lúc người Anh cũng đang nhòm ngó và quyết chiếm vùng đất phìnhiêu rộng lớn ở Ấn Độ, Trung Quốc Anh cố gắng xây dựng những cứ điểmchiến lược quan trọng trên đường biển đi về phương Đông Chính vì vậy, công

ty Đông Ấn Độ của Anh đã đưa vào chương trình xâm lược của chúng việcchiếm bán đảo Mã Lai Mà điểm đến đầu tiên của chúng là vương quốc Kêdad

ở phía Bắc Mã Lai (nơi mà Xiêm đã nhòm ngó từ thế kỉ XIII - XIV và cũng đãcủng cố được khá nhiều quyền lợi của mình) Đối với chủ nghĩa đế quốc Anh,

Mã Lai không chỉ là cứ điểm chiến lược và thị trường tiêu thụ, mà còn là nơiđầu tư và khai thác nguyên liệu vô cùng phong phú Đặc biệt khoáng sản thiếcphân bố ở hầu hết Miền Trung và Miền Bắc Mã Lai là nguồn lợi rất lớn MãLai còn có nhiều sản phẩm nông nghiệp như cao su, dừa, canhkina… Nhữngnguồn tài nguyên lớn này càng thúc giục đế quốc Anh đẩy mạnh công cuộcchinh phục toàn bán đảo

Năm 1771, thực dân Anh đến Kêdad đàm phán với Suntan ở đây.Kêdad là một vương quốc nhỏ ở phía Bắc Mã Lai, luôn luôn bị Xiêm tấn công

uy hiếp Nền thống trị phong kiến ở vương quốc này cực kì thối nát, mâu thuẫntrong tầng lớp quí tộc và mâu thuẫn giữa nông dân với phong kiến ngày càngsâu sắc Các cuộc tranh giành ngôi báu thường xuyên xảy ra và nhất là các cuộcchiến tranh nông dân chống lại chế độ bóc lột hà khắc đã làm cho chế độ phongkiến lung lay Giữa lúc đó thực dân Anh lợi dụng thời cơ nhảy vào hứa sẽ việntrợ quân sự, giúp đỡ Kedad tránh khỏi sự xâm lựơc và trấn áp phong trào đấutranh của nhân dân Sự đụng đầu giữa Anh-Xiêm có thể nói đã bắt đầu từ đây

Từ năm 1874 đến năm 1909, thực dân Anh áp dụng chính sách muachuộc, uy hiếp và dùng vũ lực mở rộng địa bàn khống chế, buộc các vươngquốc kí nhiều hiệp ước nô dịch

Trang 28

Trong nhiều vương quốc ở Mã Lai, việc khai mỏ thiếc đã có từ rất sớmnhưng phần lớn do người Hoa tiến hành theo phương pháp giản đơn Nhữngchủ người Hoa thuê đất của chúa phong kiến Mã La, phải nộp 10% thu nhậpcho Suntan, tuyển mộ những người nghèo đói từ miền Nam Trung Quốc lênlàm thuê.

Thực dân Anh quyết định giành bằng được quyền khai thác thiếc Năm

1874, quân Anh tấn công xâm lược Pêrăk và buộc Suntan Pêrăk kí hiệp ước nôdịch Căn cứ vào hiệp ước, Anh được phái một viên khâm sứ bên cạnh Suntannắm mọi việc giao dịch với nước ngoài và kiểm soát nguồn thu nhập củaSuntan.Suntan chỉ có quyền cai quản tôn giáo và các nghi lễ mà thôi Thực dânAnh trên thực tế đã nắm quyền ở Pêrăk, khống chế toàn bộ chính trị và kinh tế

ở Pêrăk Dĩ nhiên quyền khai mỏ thiếc lập tức chuyển giao từ tay chủ ngườiHoa sang tay thực dân Anh

Để bảo vệ quyền lợi ích kỉ của mình, ngày 12/ 8/ 1876, Suntan Kedadđồng ý kí hiệp ước với công ty Đông Ấn Độ của Anh Trong đó qui định:Pênang thuộc quyền sở hữu của người Anh và Anh hứa sẽ giúp Suntan Kedad

“bảo vệ khi có kẻ xâm lược” Rõ ràng sự kiện này đã đánh dấu việc công tyĐông Ấn Độ của Anh chiếm Pênang là xuất phát từ dộng cơ chiến lược hảiquân Thế nhưng Kêdad đâu ngờ rằng chính việc tiểu vương nhường Pênangcho Anh đã vô tình nuôi trong Xiêm một mối thù quyết phải trả Và cũng vôtình làm cho mâu thuẫn giữa Xiêm – Anh trở nên gay gắt hơn

Vì thế nếu như có thể nói lịch sử xâm lược của Anh đối với Mã Lai bắtđầu thì cũng không ngoa khi nói rằng từ đây mối thù giữa Anh và Xiêm có từnăm 1771 đã thực sự bùng nổ và nó trở thành một cuộc tranh giành quyết liệt

Năm 1788, Kedad bị Xiêm tấn công, nhưng Anh lấy cớ chính phủ Anhkhông pgê duyệt viện trợ quân sự cho Suntan nên cự tuyệt không giúp đỡ Anh-Xiêm đã ngấm ngầm thoả thuận với nhau nhưng “bằng mặt mà không bằnglòng” bởi vì thưc ra Anh muốn lợi dụng Xiêm để tiêu diệt vương quốc Kedad.Suntan Kêdad nhận rõ bộ mặt của Anh nên sau khi đánh đuổi được Xiêm, khôi

Trang 29

phục lại chính quyền của mình, Suntan Kedad liền bắt tay với Xiêm chốngAnh.

Năm 1789, một đội quân 8000 người Mã Lai và Xiêm tấn công lên đảoPênang (nơi có to giới Anh), nhưng do tổ chức và trang bị kém cuộc tấn côngthất bại

Năm 1795, Anh tổ chức đội quân viễn chinh đánh chiếm Malắcca, lànơi có vị trí quan trọng về mặt kinh tế và quân sự, có thể làm tiền đồn tốt nhất

để tấn công Giava, một trung tâm của Pháp – Hà Lan ở phương Đông Vươngquốc Malắcca bị chinh phục, Râyphơlit được phái làm toàn quyền với mục đíchchuẩn bị tấn công cả Giava và quần đảo Mã Lai

Năm 1800, Anh chiếm một phần đất duyên hải Kêdad Tại hội nghị Viên để lôikéo Hà Lan về phía mình Anh đã trả Malắcca cho Hà Lan, nhưng vẫn giữPênang và vùng ven biển Kêdad

Cũng trong năm này tiểu vương Kêdad đã nhượng tỉnh Welesley choAnh và Xiêm không bao giờ tha thứ cho tiểu vương về hành động này

Toàn quyền Anh ở Pênang là Râyphơlít đã phát hiện vị trí đặc biệt của Xingapo(một hòn đảo nằm án ngữ giữa bán đảo Mã Lai và Xumatơra) nên tìm cáchchiếm hòn đảo này Xingapo với diện tích là 585 km vuông là yết hầu của eoMalắcca, khi đó vẫn còn là một bán đảo hoang tàn, có thể xây dựng thành mộtthương cảng lớn và một pháo đài ở vùng biển Đông Nam Á

Lúc đầu Anh tìm mọi cách buộc Suntan Giôhô cho lập công ty buônbán ở Xingapo Tiếp đó Anh buộc Suntan Giôho cho phép độc quyền buôn bán

ở Xingapovà độc quyền xây dựng đại lý ở bất cứ nơi nào trong vương quốc Đểtrả công, công ty Đông Ấn Độ của Anh trợ cấp hàng năm cho Suntan 5000pêxô và một nửa thu nhập thuế quan ở Xiêm (đến năm 1824, Anh hoàn thànhviệc biến Xingapo thành thuộc địa)

Thời kì này những quyền lợi của Anh tất nhiên sẽ va chạm với quyềnlợi của Xiêm Ngay từ năm 1819, Rama II đã ra lệnh cho chư hầu của mình,vua Kedad tấn công hầu quốc láng giềng Pêrắc và buộc chính quyền Pêrắc dâng

Trang 30

cho Băng Cốc “Bunggamax” những đoá hoa bằng vàng và bạc, dấu hiệu của sựphụ thuộc của chư hầu, vua Kêdad đã không thực hiện lệnh này, quân đội củaXiêm đã tiến hành cuộc chinh phạt, đạo quân của Kedad bị dánh tan, bản thânvua Kedad phải chạy trốn sang Pênang, nơi phụ thuộc Anh từ 1786 Đây cũngchính là bước mở đầu thời kì mà Xiêm đã gây sức ép tương đối mạnh đối vớicác quốc gia Mã Lai, điều đã làm cho Anh lo ngại và làm cho cả hai bên đều cónhiều hành động.

Nguy cơ thực tế Xiêm chiếm những nước Pêrắc, Xêlango đã nẩy sinh

ra, trong khi đó các nước hầu quốc này đã bị kiệt quệ đi vì hành động thù địchlẫn nhau, tất cả những điều đó đã làm cho Anh quan tâm nhiều hơn Như vậy,

cơ sở cho việc can thiệp của Anh được chuẩn bị đã được chuẩn bị rồi và việcđến thăm của John Crawfurd là bước khởi đầu của sự can thiệp này

Trong quá trình thương thuyết, phía Anh đòi được quyền hoàn toàn tự

do, buôn bán và tối huệ quốc Còn phía Xiêm yêu cầu đổi lại điều đó, ngườiAnh phải buôn bán vũ khí cho Xiêm (Tuy nhiên Anh không dễ dàng để choXiêm mạnh lên về quân sự) Kết quả là sau một quá trình đàm phán lâu dài,ngày 10/ 6/ 1822, hiệp ước Anh – Xiêm được kí kết, nhưng chỉ mang tính chấtghi nhận lịch sử các sự kiện thực tế mà thôi Theo hiệp ước này, người Anhbuộc phải cho người Xiêm kiểm tra tàu của mình và tháo dỡ đại bác cùng vũkhí khác lên bờ, trước khi tàu này được phép đi vào sông Mênam Còn Xiêmđảm bảo không tăng thuế trong tương lai và người đứng đầu cơ quan hải quâncủa Xiêm phải tạo điều kiện cho người Anh buôn bán

Nhưng không đầy hai năm sau, tình hình quốc tế trong khi vực trở nênphức tạp hơn đối với Xiêm Tháng 3/ 1824, hiệp ước Anh – Hà Lan được kíkết, theo đó Mã Lai trở thành khu vực ảnh hưởng của Anh Điều này có nghĩa

là từ nay, trên bán đảo Malăcca Anh trở thành kẻ cạnh tranh với Xiêm Mặtkhác cũng vào tháng 3/ 1824 cuộc chiến tranh Anh – Miến bùng nổ Cuộc chiếntranh này sẽ có ảnh hưởng to lớn tới Xiêm Quan hệ Xiêm – Miến Điện tiếp tụcxấu đi trong không khí thù địch Năm 1823, vua Miến Điện là Bátgiđô đã đề

Trang 31

nghị Minh Mạng kí kết một liên minh chống Xiêm Nhưng hoàng đế minhmạng đã thông báo bức thư này của Batgiđô cho triều đình Xiêm biết Điều đó,chứng tỏ rằng quan hệ Xiêm – Việt ở ngay cấp nhà nước phong kiến trong thế

kỉ XIX không phải lúc nào cũng là sự tranh chấp thù địch như người ta thườngchỉ phóng đại một chiều Trong khi đó người Anh vốn trung thành với truyềnthống tiến hành chiến tranh bằng bàn tay của người khác, vẫn không ngừng lôikéo Xiêm vào cuộc chiến tranh chống Miến Điện Tuy vậy, sau khi hiệp ước

1824 được kí kết giữa Anh và Hà Lan thì người ta đã nói rằng từ sau thời gian

đó là “nửa thế kỉ không hoạt động” của Hà Lan [3, 77]

Kể từ khi Xiêm thất bại trong việc ngăn chặn sự đi lên của vương triềuMalăcca, yêu sách thống trị toàn bộ bán đảo Mã Lai đã bị xếp xó Nhưng dướitriều đại Chakri, Xiêm đã hùng mạnh hơn bất cứ thời gian nào trong lịch sử củamình, và các thống đốc của Pênang lo sợ rằng phần lơn bán đảo sẽ rơi vào áchthống trị của Xiêm

Dưới thời trị vì của Bodawpaya, Miến Điện đã có tham vọng bànhtrướng xuống phía Nam, vào bán đảo theo hướng có hại cho Xiêm Nhưng từkhoảng 1816, Miến Điện tập trung cố gắng vào Asram và các nước láng giềng

và không còn là nối đe doạ nghiêm trọng đối với sức mạnh ngày càng tăng củaXiêm Tuy vậy, Miến Điện vẫn tiếp tục âm mưu cùng với các tiểu vương MãLai để chống lại Băng Cốc, và thậm chí năm 1819 đã đe doạ xâm lược Xiêm.Vìthế, Băng Cốc không thiếu cớ để can thiệp vào Mã Lai Nếu như công ty Đông

Ấn Anh mà không khờ dại đến mức từ chối không làm theo lời khuyên củaFrancis Light về Kêdad, thì có thể đã giúp các nhân viên của công ty đã tránhđược rất nhiều điều phiền toái trong giai đoạn sau Vì năm 1818, Băng Cốc ralệnh cho vua Kêdad phải xâm lược Pêrăk, nước láng giềng của Kêdad, và buộcvua Pêrăk phải triều cống bungamax cho Xiêm Sau đó năm 1821, Xiêm triệutập vua Kedad đến Băng Cốc để trả lời một số lời buộc tội, kể cả việc câu kếtvới vua Miến Điện Khi ông từ chối, một quân đội Xiêm bất ngờ tấn công vàđánh chiếm Kêdad rồi biến nó thành đống hoang tàn với những tội ác ghê sợ

Trang 32

Nhà vua phải chạy sang Pênang để tị nạn; quân Xiêm yêu cầu vua Pênang traonộp vua Kêdad, nhưng thống đốc của Pênang từ chối Vua Kêdad đã yêu cầuxin được Công ty Đông Ấn Độ của Anh giúp đỡ nhưng công ty đã làm ngơ, vìthế vua Kêdad đã liên hệ với vua Miến Điện, cùng với Sêlango và các quốc gia

Mã Lai khác mở một cuộc tấn công hỗn hợp vào Xiêm Điều đó đã làm cho cácnhà chức trách Anh ở Pênang lo lắng

Việc Xiêm chinh phục Kêdad đã gây nhiều lo sợ cho Anh ở Pênang vềnguồn cung cấp lương thực vì Pênang phải nhập hầu hết lương thực từ Kêdad.Pêrăk, Patani, Tiểu Xây Lan đều là những quốc gia phụ thuộc Xiêm, là nơi córất nhiều thiếc, nơi diễn ra hoạt động buôn bán sầm uất, quan trọng Quyền lợicủa Anh đã bị đe doạ một cách nghiêm trọng Điều đó đã thôi thúc Anh cửngay John Crawfurd tới Băng Cốc để bàn về tất cả các vấn đề nổi bật – Ông đãtrở thành một chuyên gia được công nhận về các vấn đề Mã Lai

Crawfurd được chỉ thị đến Băng Cốc năm 1822 không những để đàmphán mà còn để thu thập càng nhiều thông tin càng tốt về Xiêm Cố gắng củaÔng để khôi phục lại vua của Kêdad và loại bỏ những hạn chế đối với thươngmại của Anh đã bị hoàn toàn thất bại, nhưng Ông đã gián tiếp giành được sựcông nhận nào đó về việc Anh sở hữu đối với Pênang Ông đã chứng minhđược rằng sức mạnh của Xiêm yếu hơn nhiều so với sự đánh giá của chính phủPênang và không có già phải lo sợ về Xiêm ở Kêdad Ông nói rằng nếu công tydùng vũ lực để chống lại cuộc xâm lược Kêdad năm 1821, thì quân Xiêm chắc

đã rút lui

Năm 1824, chiến tranh Anh – Miến đã nổ ra và chính phủ Ấn Độ thuộcAnh đã ra lệnh cho các nhà chức trách ở Pênang tiếp cận và vận động Xiêm trởthành đồng minh Low đã nhắc nhở Pênang rằng Xiêm có ý định giành quyềnkiểm soát không những Pêrăk mà cả Sêlango Vì thế ông đã thúc giục Calcuttakhôi phục ngôi báu cho vua Kêdad và mở rộng sự bảo hộ của Anh đối với tất cảcác quốc gia Mã Lai bị Xiêm đe doạ Nhưng có vẻ như những cố gắng của Ông

đã không thành

Trang 33

Ngày 31/ 7/ 1825,một hiệp ước được kí kết giữa công ty Đông Ân Độcủa Anh và tiểu vương Ligor Trong đó cam kết rằng Ligor sẽ không tấn côngPêrăk hoặc Sêlango để đổi lấy sự bảo đảm rằng Anh không can thiệp vàoKêdad Bruney (phái viên của chính phủ Anh) đã lập luận về hiệp ước rằngchính sách mà Ông theo đuổi là điều không thể tránh khỏi và những bất lợi của

nó sẽ nhỏ “so với mối hiểm hoạ lớn hơn nhiều nếu cho phép Xiêm đánh chiếmcác vùng lãnh thổ của nước láng giềng Sêlango” Nhưng cái khôn khéo củachính phủ Anh thông qua việc phái viên Fulleston và đại uý Bruney đã kí kếthiệp ước là bề ngoài thì họ muốn làm yên lòng Xiêm nhưng thực chất tronglòng thì họ lại muốn xử lí kiên quyết tất cả những vấn đề có liên quan đến nềnđộc lập của các quốc gia trong vùng mà sau này sẽ nằm dưới quyền kiểm soátcủa Anh

Bruney đến Băng Cốc vào cuối năm 1825 và ở lại đó đến năm 1826.Tuy nhiên bất cứ điều gì Bruney làm đều bị Xiêm nghi ngờ ở mức cao nhất vìXiêm rất lo ngại về khả năng Anh sẽ tấn công Tuy vậy so cới Crawfurd thìnhững kết quả mà Bruney thu được có vẻ khả quan hơn Bruney đã vận độngđược Xiêm kí kết hiệp ước Trong đó hai bên đều đảm bảo để Pêrăk không bịtấn công, công nhận quyền của nhà vua Pêrăk cai trị đất nước theo ý chí củamình, và đồng ý rằng không nên ngăn cản đức vua gửi vật cống Bunggamax tớiBăng Cốc nếu đức vua muốn Tuy nhiên, Bruney hoàn toàn không thuyết phụcđược việc rút số quân của Xiêm ở Pêrăk và cho phép nhà vua quay trở về VàBruney phải nhân nhượng về việc các Bộ trưởng Xiêm yêu cầu Anh ngăn cảnnhà vua tấn công Kêdad và đưa vua ra khỏi Pênang

Bruney cũng đã đạt được thoả thuận với Xiêm về Trengganu vàKêlantan Thoả thuận qui định “Xiêm sẽ không đến ngăn cản hoặc làm giánđoạn hoạt động thương mại ở các quốc gia ở Trengganu và Kêlantan Trongtương lai các quốc gia và thần dân Anh sẽ được tiến hành buôn bán, giao dịchvới những thuận lợi và tự do mà cho tới nay họ đã được hưởng Anh sẽ khôngđến quấy rối, tấn công hoặc quấy nhiễu các quốc gia này vơí bất kì cớ gì” Rõ

Ngày đăng: 19/12/2013, 14:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Thanh Bình, (2006), Cuộc đấu tranh chống chính sách “chia để trị” của chủ nghĩa thực dân ở Đông Dương, Mã Lai, Miến Điện. Nghiên cứu Đông Nam Á, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: chia để trị
Tác giả: Đỗ Thanh Bình
Năm: 2006
2. Cơ cấu kinh tế xã hội Việt Nam 1894 – 1945, Nguyễn Gia khánh, Nxb Giáo dục Khác
3. D. G. E . Hall, (1997), Lịch sử Đông Nam Á, Nxb Chính trị Quốc Gia Hà Nội Khác
4. Phan Ngọc Liên (chủ biên), Nghiêm Đình Vì, Đinh Ngọc Bảo, Trần Thị Vinh, Lược sử Đông Nam Á, Nxb Giáo Dục Khác
5. Vũ Dương Ninh, (chủ biên), (2006), Lịch sử Quan hệ quốc tế, tập một, Nxb Giáo Dục Khác
6. Vũ Dương Ninh, Nguyễn Văn Hồng, (1998), Lịch sử thế giới cận đại, Nxb Giáo dục Hà Nội Khác
7. Nguyễn Hùng Phi, (2006), Lịch sử Lào hiện đại, Tập 1, Nxb Chính trị Quốc Gia Hà Nội Khác
8. Phạm Đức Thành, (1995), Lịch sử Campuchia, Nxb Văn hoá thông tin Khác
9. Huỳnh Văn Tòng, (1994), Lịch sử các quốc gia Đông Nam Á, 2 tập Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w