1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quá trình tiếp xúc giữa văn minh ấn độ với văn minh phương tây

77 789 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quá trình tiếp xúc giữa văn minh Ấn Độ với văn minh phương Tây
Người hướng dẫn PTS. Ths. Phan Hoàng Minh
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử thế giới
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2007
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 252,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ấn Độ là một thế giới đầy huyền bí và diệu kỳ, là cái nôi củanền văn minh thế giới với những thành tựu mà ngời ấn Độ đã tạo dựng từ thời xa xa, nó nh là món quà tặng vô giá cho nhân loại

Trang 1

TRờng đại học vinh

Khoa lịch sử -

Khóa luận tốt nghiệp

Quá trình tiếp xúc giữa văn minh ấn độ với văn minh phơng Tây

Chuyên ngành: lịch sử thế giới

Hớng dẫn: GVC Ths Phan Hoàng Minh

Sinh viên thực hiện : Đỗ Thị Tuyền

Lớp : 44B3 - Sử

Vinh - 2007

Trang 2

A Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Từ thời cổ đại ở phơng Đông và phơng Tây đã xuất hiện những nền vănminh phát triển rực rỡ, từ lúc đó đã diễn ra quá trình tiếp xúc giữa các nền vănminh ấy Từ thế kỷ XI (TCN), ngời Phênêxi đã đi lại buôn bán nhiều nơi,chiếm nhiều vùng làm thuộc địa Ví nh mũi Tuynit (Bắc Phi), họ đã lập nênquốc gia thơng nghiệp Cactagiơ hùng mạnh vào năm 814 (TCN) Cactagiơ đãtừng làm bá chủ thơng nghiệp khu vực Tây Địa Trung Hải và là trung tâmbuôn bán các loại sản phẩm quý giữa các nớc châu Phi và châu Âu

Trong những thế kỷ IX - VIII (TCN), hệ thống chữ cái do ngời Phênêxitạo ra trên cơ sở cải biên chữ tợng hình của ngời ấn Độ, Lợng Hà đã đợctruyền cho ngời Hy Lạp, rồi từ đó phát triển lên thành hệ chữ cái LaTinh vàXlavơ Từ thế kỷ VI (TCN), nhiều nhà khoa học Hy Lạp nh Talet, Pitago, đãtiếp thu thành tựu toán học của Ai Cập, Lỡng Hà, ấn Độ, rồi phát triển lênthành định lý về mối liên hệ giữa ba cạnh trong tam giác vuông "bình phơngcạnh huyền bằng tổng bình phơng hai cạnh góc vuông"

Từ cuối thế kỷ thứ IV (TCN), vua nớc Makêđônia là Alechxăng sau khichiếm Hy Lạp đã tiến hành cuộc Đông chinh xâm lợc các nớc phơng Đông

đến tận Tây Bắc ấn Độ Từ khi Alechxăng bắt đầu cuộc Đông chinh vào năm

334 (TCN) đến năm 30 (TCN), khi Ai Cập bị biến thành một tỉnh của đế quốc

La Mã, đợc gọi là thời kỳ Hy Lạp hoá Thời kỳ này quan hệ buôn bán giữa

Đông và Tây đợc đẩy mạnh, đồng thời văn hoá Hy Lạp cũng đợc truyền bámạnh mẽ sang các nớc phơng Đông đến tận ấn Độ, nhất là trong lĩnh vực điêukhắc, kiến trúc, ngay cả việc tạc tợng Phật cũng chịu ảnh hởng của nghệ thuật

điêu khắc Hy Lạp Đồng thời ngời phơng Tây cũng học đợc nhiều thành tựuvăn hoá phơng Đông nh toán học, thiên văn học, y học, nhất là phép làm lịch

Vào các thế kỷ XI - XIII, những cuộc Thập tự chinh của ngời châu Âu

đã tàn phá các nớc phơng Đông thuộc miền Tây á, song về phơng diện nào đónhững cuộc Thập tự chinh cũng có tác dụng tiếp xúc, giao lu giữa các nền vănminh Đông, Tây Từ đó, trong nếp sinh hoạt của c dân hai khu vực Đông, Tây

đã có nhiều nét pha trộn lẫn nhau ngày càng phong phú hơn

Trang 3

Vào thời hậu kỳ Trung đại ở Tây Âu đã diễn ra phong trào pháp kiến

địa lý, kết quả là ngời châu Âu đã phát hiện ra nhiều châu lục mới, nhiều miền

đất mới, tạo ra một không gian toàn cầu rộng mở cho sự tiếp xúc văn hoá giữacác khu vực tạo ra thị trờng thế giới, thúc đẩy công thơng nghiệp phát triểnmạnh, dẫn đến sự ra đời của chủ nghĩa t bản

Nhờ quá trình tiếp xúc trong quá khứ, văn hoá các khu vực nói chung,

ấn Độ và phơng Tây nói riêng ngày càng trở nên phong phú Tuy vậy mỗimiền, mỗi nớc vẫn giữ đợc mỗi nét đặc trng riêng nhờ tiếp thu có chọn lọc vănhoá từ bên ngoài ấn Độ là một thế giới đầy huyền bí và diệu kỳ, là cái nôi củanền văn minh thế giới với những thành tựu mà ngời ấn Độ đã tạo dựng từ thời

xa xa, nó nh là món quà tặng vô giá cho nhân loại để từ đó phát triển lên mãi.Còn văn minh phơng Tây (bao gồm văn minh Hy -La thời cổ đại văn minhTây Âu thời Trung đại), nó cũng đã có nhiều thành tựu to lớn đóng góp cho sựphát triển đi lên của lịch sử nhân loại Giữa văn minh ấn Độ và văn minh ph-

ơng Tây cũng đã có sự tiếp xúc nhờ những nhân tố nói trên ngay từ thời xa xa

Ngày nay, xu thế toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ Việt Nam đanghội nhập vào nền kinh tế thế giới, quan hệ giữa các nớc giữa các khu vực đangdiễn ra trên nhiều lĩnh vực: Kinh tế, khoa học kỹ thuật, văn hoá giáo dục, nghệthuật… Trong tình hình đó , quá trình tiếp xúc giữa các nền văn hoá trên thếgiới ngày càng diễn ra mạnh mẽ cha từng thấy Tiếp thu văn hoá ngoại lại đểlàm phong phú thêm cho văn hoá dân tộc, song không đánh mất bản sắc riêngcủa văn hoá dân tộc là điều các quốc gia trên thế giới nói chung và nớc ta nóiriêng rất quan tâm Đồng thời thông qua tiếp xúc và giao lu văn minh làm chocác dân tộc biết mình đang đứng ở vị trí nào của tiến trình văn minh nhân loại

Chính vì vậy việc nghiên cứu quá trình giao lu, tiếp xúc giữa các nềnvăn minh trong lịch sử luôn có ý nghĩa khoa học và thực tiễn Bởi thông qua

đó ta thấy đợc giá trị văn hoá bản địa và những giá trị thuộc văn hoá ngoại laitạo ra sự hài hoà hình thành nên tính độc đáo mang bản sắc riêng cho văn hoácủa mỗi dân tộc, mỗi khu vực

Là một sinh viên ngành lịch sử, chúng tôi thấy việc học tập, tìm hiểunghiên cứu lịch sử văn minh nói chung và quá trình tiếp xúc giữa các nền vănminh nói riêng càng là vấn đề cần thiết và luôn có ý nghĩa khoa học, thực tiễn

Vì thế chúng tôi chọn đề tài: "Quá trình tiếp xúc giữa văn minh ấn Độ với văn minh phơng Tây" làm khoá luận tốt nghiệp.

2 Lịch sử vấn đề

Trong quá trình đi lên của lịch sử nhân loại, ấn Độ luôn chiếm một vịtrí quan trọng Với những thành tựu mà đất nớc này đã đạt đợc cùng với nhữnghuyền bí, diệu kỳ về đất nớc này cha khám phá hết Do đó ấn Độ luôn là một

Trang 4

kho tàng bí ẩn, một đề tài vô cùng hấp dẫn lý thú để các nhà khoa học cũng

nh những ngời yêu thích đất nớc này tìm hiểu và khám phá

Cũng giống nh văn minh ấn Độ, văn minh phơng Tây cũng đạt đợcnhiều thành tựu to lớn và chính những thành tựu này nó đã thúc đẩy nhanhhơn sự đi lên của lịch sử nhân loại với những thành tựu có tính ứng dụng cao.Vì vậy việc nghiên cứu hai nền văn minh này luôn đợc sự quan tâm của cácgiới chuyên môn

`Trong cuốn "Những nền văn minh rực rỡ cổ xa" của Nguyễn QuốcHùng, ở tác phẩm này ông đã trình bày một cách có hệ thống những thành tựucủa những nền văn minh lớn trong lịch sử nhân loại ở đó ông đã dành mộtmảng lớn để nói về văn minh ấn Độ , những thành tựu của nền văn minh này

đóng góp cho lịch sử nhân loại cho tiến trình đi lên của lịch sử loài ngời

Trong tạp chí "Nghiên cứu châu Âu", tiến sĩ Đỗ Thu Hà đã có bàinghiên cứu "ảnh hởng của văn hoá ấn Độ đối với châu Âu" và ngợc lại "ảnhhởng của châu Âu đối với sự hiện đại hoá của văn hoá ấn Độ" Trong bài nàytác giả đã có cái nhìn sâu rộng về sự tác động qua lại giữa văn minh ấn Độvới văn minh phơng Tây nhng chủ yếu sau các cuộc phát kiến địa lý

Trong cuốn "Lịch sử kinh tế các nớc ngoài Liên Xô" của Pôlianki, ông

đã trình bày ảnh hởng của kinh tế tác động đến sự phát triển của các nớc trênthế giới và đây cũng là động lực quan trọng để cho quá trình tiếp xúc, giao l ugiữa các nớc diễn ra nhanh hơn

Trong cuốn "Tiếp xúc và giao lu văn minh trong lịch sử nhân loại" củaNgô Minh Oanh Tác giả đã trình bày rất cặn kẽ vì sao lại diễn ra và tiếp xúc

và giao lu văn minh trong lịch sử nhân loại để thấy đợc sự cần thiết phải diễn

ra quá trình tiếp xúc và giao lu Từ đó tác giả đa ra những con đờng tiếp xúccũng nh phơng thức của giao lu tiếp xúc

Nhng các tác phẩm trên cha đề cập một cách trực tiếp và có hệ thống vềquá trình tiếp xúc giữa văn minh ấn Độ với văn minh phơng Tây Vì vậy ngờinghiên cứu đã mạnh rạn đa ra đề tài này, nhng đây không phải là một pháthiện mà ngời nghiên cứu chỉ muốn tái hiện "Quá trình tiếp xúc giữa văn minh

ấn Độ với văn minh phơng Tây" một cách có hệ thống, khoa học

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tợng nghiên cứu của khoá luận này là quá trình tiếp xúc giữa vănminh phơng Tây

Phạm vi nghiên cứu của đề tài này tập trung nghiên cứu quá trình tiếpxúc giao lu giữa văn minh ấn Độ với văn minh phơng Tây thông qua nhữngnhân tố lịch sử thời cổ đại, trung đại và cận đại

Trang 5

4 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu

Nguồn tài liệu: Bao gồm các giáo trình giảng dậy có đề cập đến nộidung của đề tài đang nghiên cứu, ngoài ra còn có các tác phẩm chuyên khảo

và báo chí, tạp chí để cho nội dung kiến thức của đề tài đợc phong phú hơn

Phơng pháp nghiên cứu: Trên quan điểm duy vật lịch sử, với phơngpháp chủ đạo là phơng pháp lôgic lịch sử kết hợp với một số phơng pháp khác:

so sánh, đối chiếu, để làm sáng tỏ 1 cách tốt nhất những vấn đề của đề tài màmình nghiên cứu

5 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo nội dung của luậnvăn bao gồm 3 chơng

Chơng 1: Tổng quan về văn minh ấn Độ.

Chơng 2: Tổng quan về văn minh phơng Tây.

Chơng 3: Điều kiện tiếp xúc giữa văn minh ấn Độ với văn minh

ph-ơng Tây.

Để hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này, ngoài sự nỗ lực, cố gắng củabản thân Tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo: Phan Hoàng Minh- ngời đãtrực tiếp hớng dẫn tôi tận tình và chu đáo từ khi tôi nhận đề tài cho đến khihoàn thành khoá luận Tiếp đến là sự giúp đỡ của các thầy cô trong khoa lịch

sử -Trờng Đại Học Vinh đã tạo điều kiện và thời gian giúp đỡ tôi trong quátrình thực hiện đề tài này

Tuy nhiên do hạn chế về nguồn t liệu, cũng nh khả năng nghiên cứu củabản thân nên khoá luận này không tránh khỏi những thiếu xót Kính mong đơc

sự đóng góp ý kiến của quí thầy cô và bạn bè để khoá luận này đợc hoànchỉnh hơn

Trang 6

Chơng 1 Tổng quan về văn minh ấn Độ

1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên và c dân ấn Độ

1.1.1 Về điều kiện tự nhiên

ấn Độ là một bán đảo hình tam giác, nó đợc ví nh một nàng tiên cágối đầu lên dãy Hymalaya, đuôi đợc vẫy vùng trong làn nớc xanh biếc của

đại dơng dậy sóng[11, 114] Do đó ấn Độ còn có tên gọi là một "Tiểu lục

địa" vì xung quanh bị bao bọc bởi núi và biển cả bao la Phía Bắc, ấn Độgiáp Trung Quốc, Nêpan, Butan; phía Đông - Bắc giáp Miến Điện(Mianma), phía Tây - Bắc giáp Apganixtan, phía Tây là biển Arập, phía

Đông là Vịnh Bengan Mỏn cực Nam, đỉnh của tam giác ấn Độ "chìa ra

ấn Độ dơng" Nh vậy, đại bộ phận lãnh thổ ấn Độ ở miền Trung và miềnNam bị bao bọc bởi ấn Độ dơng

Địa hình ấn Độ rất đa dạng và đợc chia làm hai miền Nam, Bắc, lấydãy núi Vindia làm ranh giới phân chia Miền Bắc gồm sông ấn, sôngHằng, dãy Hymalaya và vùng phụ cận

Sông ấn là dòng sông đợc bắt nguồn từ dãy núi Hymalaya, dàikhoảng 2900 km, là một dòng sông cổ xa, đã từng mang tên đất nớc ấn

Độ cổ đại Nơi đây hơn 40 thế kỷ về trớc, đã hình thành nên nền văn hoásông ấn với các di chỉ khảo cổ nổi tiếng là MôhenJô đarô và Harappa

Sông Hằng cũng là dòng sông đợc bắt nguồn từ dãy Hymalaya, nó

đợc coi là một dòng sông linh thiêng thần thánh, vị thần bảo trợ cho cuộcsống và con ngời ấn Độ Vì vậy nơi đây thờng xuyên diễn ra lễ tắm mangtính chất tôn giáo Chính hai dòng sông này nó đã bồi đắp thành hai đồngbằng màu mỡ ở miền Bắc ấn Độ Vì vậy, nơi đây đã trở thành cái nôi vănminh của đất nớc này

Ngoài hai dòng sông trên, miền Bắc ấn Độ còn nổi tiếng bởi dãynúi Hymalaya dài khoản 2600 km Nơi đây có rất nhiều đỉnh núí caoquanh năm tuyết phủ đợc ví nh "nóc nhà của thế giới" Đồng thời còn cónhững thung lũng đợc tạo dựng giữa những vùng núi non hiểm trở, đáng

kể nhất là thung lũng Casơmia, có cảnh vật nên thơ, từ thời cổ đại đã đợcmệnh danh là "thiên đờng của hạ giới"

Miền Nam ấn Độ còn lại là cao nguyên Đêcan với địa hình là xoảidần phía biển, để con sóng ngàn đời nh vẫn vỗ về bù đắp, an ủi một vùng

đất nóng nực, khô cằn, không phù hợp cho đời sống sinh hoạt của con

ng-ời Vì vậy, kinh tế và sinh hoạt ở đây có phần lạc hậu hơn so với miền đấtphía Bắc Do đó cao nguyên Đêcan thờng đợc coi nh một nhà bảo tàng

Trang 7

của những nền văn hoá cổ xa nhất của ấn Độ nơi giữ gìn tinh thần truyềnthống, tránh mọi sự xáo trộn và biến động.

Mặc dù khí hậu giữa các vùng có khác nhau, nhng ấn Độ vẫn là nớcthuộc khí hậu gió mùa thổi từ ấn Độ Dơng vào, mang lại một lợng ma rấtlớn, khí hậu nóng nực mà lại ẩm ớt về mùa hạ, là loại khí hậu rất thíchhợp với sự sinh trởng của các loài sinh vật và động vật vùng nhiệt đới Bởivậy ngời ấn Độ đã phát triển nghề nông trồng lúa nớc, trồng bông và cácthứ cây ăn quả từ rất sớm Nhng đến tận ngày nay ở ấn Độ cũng còn rấtnhiều vùng cha đợc khám phá và rất nguyên sơ Vì vậy nhiều ngời đã gọi

ấn Độ là đất nớc thần kỳ để thôi thúc con ngời khám phá, tìm hiểu

1.1.2 C dân

Do tính chất cách biệt của các vùng địa lý và các biến động của lịch

sử, cùng với đó là đất nớc ấn Độ rộng lớn trải dài Do vậy, từ thời xa xa

đất nớc rộng lớn này đã là nơi hội tụ của nhiều dân tộc khác nhau đếnsinh sống

Cho đến nay các nhà nghiên cứu đều thống nhất cho rằng c dân cómặt sớm nhất ở khu vực này là ngời Đraviđa, họ đợc coi là c dân bản địa,

là chủ nhân của nền văn minh sông ấn- một nền văn minh đã phát triểnkhá rực rỡ mà ngày nay ngời ta chủ yếu biết đến qua hai nền văn hoá đó

là Harappa và MôhenJô Đanô Hiện nay, ngời Đraviđa chỉ chiếm 20% dân

số và họ trở thành dân tộc thứ yếu của quốc gia này Còn tộc ngời chủ đạochính là ngời Arian Đây là tộc ngời thuộc ngữ hệ ấn Âu mà quê hơng của

họ là ở vùng Capcazơ (Trung á)- Vào khoảng nửa sau thiên niên kỷ thứ II(TCN) họ đã xâm nhập vào ấn Độ và định c ở nơi đây Chính ngời Arian

là chủ nhân nổi tiếng của nền văn minh sông Hằng (thời kỳ Vêđa) Hiệnnay ngời Arian chiếm khoảng 72% dân số toàn quốc, tiếp sau đó khu vựcnày còn có sự gia nhập của ngời Hy Lạp, ngời Hung Nô, ngời Arập… Họdần dần đồng hoá với các thành phần c dân khác, từ đó tạo nên một thànhphần c dân hết sức đa dạng và hết sức rất phức tạp ở ấn Độ… vì vậy, khó

có thể kể chính xác nơi này đã từng và đang tồn tại bao nhiêu ngôn ngữ vàthổ ngữ

Qua đó, ta thấy sự đa dạng về địa hình, sự phong phú về chủng tộccùng với nó là bức tranh muôn màu về ngôn ngữ và thổ ngữ Nó đã đanxen vào nhau dệt nên bức tranh muôn màu đầy bí ẩn về đất nớc và con ng-

ời mà ở đó là nơi ngự trị của các thần linh Chính những điều này nó đãtạo dựng và đặt cơ sở cho đất nớc này bớc vào thời kỳ văn minh với nhữngthành tựu rực rỡ từ rất sớm

1.2 Các giai đoạn chủ yếu của lịch sử ấn Độ.

Trang 8

1.2.1 Thời kỳ văn minh sông ấn

Vào những năm 20 của thế kỷ XX thì nền văn minh này đã đợc pháthiện nhờ vào kết quả khai quật khảo cổ của hai di chỉ đợc coi là hai thànhphố Harappa và MôhênJô- Đanô Việc phát hiện ra nền văn minh này nó

đã kéo dài lịch sử ấn Độ đến những năm 2500 trớc công nguyên Cùngvới niên đại sớm cộng thêm vào đó, là trình độ văn minh đã đạt đến mứcrất cao, do đó nền văn minh sông Indus đợc xếp cùng với những nền vănminh xa nhất của loài ngời nh Aicập, Lỡng Hà Vì vậy ấn Độ là một trongnhững nớc có lịch sử lâu dài nhất trên thế giới

Vào thời kỳ cách đây 5000 năm(TCN), khi mà ở nhiều vùng đất liềntrên thế giới, con ngời đang hay mới bớc vào giai đoạn công xã nguyênthuỷ, thì ở lu vực sông ấn, những ngời Đraviđa, bằng lao động và sứcsáng tạo kỳ diệu đã xây dựng một xã hội có trình độ phát triển khá cao.Một nền văn minh mà trong thời kỳ hoàng kim của nó (2500 - 1900 TCN)trải rộng từ biên giới Apganestan ở phía Tây tới Utapra- dếch ở phía

Đông, từ Manđa phía Bắc tới Bahaga Trav phía Nam

Nền văn minh này đã đạt đợc những thành tựu khá cao trong nhiềulĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội và văn hoá mà trớc hết phải kể đếncác công trình kiến trúc đợc xây dựng trên những nền đất cao ráo cùngvới nó là những khu nhà tắm và các công trinh tháo nớc rất to và đẹp,

đồng thời có cả nơi hội họp cho nhân dân đều đợc xây dựng trong thờigian này

Đạt tới trình độ kiến trúc ấy, chủ nhân của nền văn minh sông ấn

đồng thời đã tạo nên một đời sống kinh tế phong phú, thể hiện qua việcchế tác công cụ sản xuất và đồ dùng sinh hoạt có những tiến bộ vợt bậc,làm cho năng suất lao động tăng, đời sống con ngời đợc cải thiện đáng kể.Ngoài nghề nông thì thủ công nghiệp trong giai đoạn này cũng đã hìnhthành và phát triển Nhng các công cụ chế tác mà ngời ta tìm thấy đợctrong giai đoạn này chủ yếu đợc làm bằng đồng, bạc, vàng, đá nung, gỗ,xơng… chứ không thấy dấu vết của đồ sắt Những ngời thợ thủ công tàihoa thời ấy đã làm ra những đồ trang sức tinh xảo và đẹp đến kỳ lạ "tởngchừng nh ngời ta mới mua đợc hay lấy ra từ những hiệu kim hoàn nổitiếng ở Luân Đôn, hay Pari… thời hiện đại" [11,146], chứ không phải là

nó đã ở trong những ngôi nhà cách đây gần 5000 năm

Trong nền văn minh sông ấn, con ngời đã có sự trao đổi, buôn bánmột cách khá phổ biến Họ đã biết dùng tiền bạc làm vật trung gian đểtrao đổi hàng hoá, đồng thời có những quả cân và những cái chợ đủ đểchúng ta hình dung ra mức độ phát đạt của buôn bán, giao lu kinh tế,

Trang 9

đồng thời đã có dấu tích của các hải cảng và những con tàu vợt biển cósóng nhọn vì vậy hàng hoá từ lu vực sông ấn sớm đã toả đi sang Lỡng Hà,

Ba T… và nhiều nơi xa khác và ngợc lại hàng hoá từ các nơi khác cũng cóthể đã đợc chuyên chở đến khu vực này và đi cùng với nó đã có sự tiếpxúc, giao lu về văn hoá ngay từ thời xa xa nhất

Qua đó ta thấy nền văn minh trên lu vực sông ấn là nền văn minhtiên tiến nhất trên thế giới lúc bấy giờ Nó đặt cơ sở cho văn hoá và nghệthuật của ngời ấn Độ sau này Nhng có một điều lạ là trong tất cả nhữngcông trình xây dựng ở dây không thấy có những kiến trúc tôn giáo, khácvới những nền văn minh cổ đại nói chung và khác ngay cả với ấn Độ saunày, các công trình xây cất lớn nhất thờng dành cho việc thờ phụng thầnlinh Còn ở nền văn minh sông ấn, các công trình nh vậy lại dành cho đờisống của con ngời Có chăng lúc này chỉ có tín ngỡng mang tính đa thần

mà thôi

Nhng đến cuối thiên niên kỷ thứ II (TCN) nền văn minh cổ xa này

đã dần dần bị lu mờ và suy tàn Nguyên nhân của sự suy tàn của nền vănminh này hiện nay vẫn đang là một sự tranh cãi Song có thể do sự tàn phácủa thiên nhiên đó là sông ấn đổi dòng, hay xảy ra những trận lụt lớn dữdội, nhng cũng có thể là do những biến động trong xã hội của ngời

Đravida, hoặc cũng có thể là do ngời Arian xâm nhập tàn phá nền vănminh này để tái dựng một nền văn minh khác mang dấu ấn của mìnhnhiều hơn chăng?

1.2.2 ấn Độ thời kỳ Vêđa

Nếu nh nền văn hoá sông ấn tuy có những thành tựu rực rỡ, nhngsuốt một thời gian dài đã bị vùi trong lòng đất và trên thực tế nó đã bị lãngquên trong ký ức của nhân dân thì lịch sử của đất nớc này lại đợc ghi nhớchính thức bắt đầu từ khi có sự xâm nhập của tộc ngời Arian vào đầu thiênniên kỷ thứ II (TCN), họ đã từ vùng Trung á ồ ạt tràn vào lu vực sôngHằng và sau đó tràn xuống khu vực cao nguyên Đêcan, ở đây dựa vào

điều kiện tự nhiên thuận lợi ngời Arian đã định c và bắt đầu phát triểnkinh tế xã hội để rồi sau đó họ bớc vào ngỡng cửa của xã hội có giai cấp

và Nhà nớc họ đã xây dựng nền văn minh sông Hằng

Sở dĩ nền văn minh sông Hằng đợc gọi là thời kỳ Vêđa bởi vì lịch sử

ấn Độ thời kỳ này đợc biết đến chủ yếu dựa vào bộ kinh Vêđa, Vêđa vốn

là một tác phẩm văn học gồm có 4 tập,đó là Rich Vêđa, Xama Vêđa,Atava Vêđa và YagiuaVêđa Trong đó Rích Vêđa đợc sáng tác vàokhoảng giữa thiên niên kỷ thứ II (TCN) đến cuối cuối thiên niên kỷ thứ II

Trang 10

(TCN) Còn 3 tập Vêđa thì đợc sáng tác vào khoảng đầu thiên niên kỷ I(TCN) (1000-600 TCN)

Sau khi tràn xuống và định c ở lu vực sông Hằng ngời Arian đã từ

bỏ lối sống du mục, tiếp thu nền văn hoá của ngời Đraviđa, học tập kỹthuật khoa học sản xuất nông nghiệp và bắt tay vào khai phá đất đai

Trong giai đoạn này công xã nông thôn đã hình thành và phát triểncùng với nó là chế độ đẳng cấp Vacna đã ra đời Chế độ đẳng cấp nghiệtngã này nó đợc thể hiện hoá bằng pháp luật và đợc thần thánh hoá bằngtôn giáo, vì vậy nó đặt cơ sở cho sự ra đời của đạo Balamôn, tôn giáo nàythờ thần Brama tức là vị thần sáng tạo ra muôn loài, còn có một số nơi thìthờ thần Siva là thần phá hoại, hay thờ thần Sura là vị thần bảo hộ và sángtạo ra muôn loài

Qua đó ta thấy ngay từ thời kỳ Vêđa ở ấn Độ đã có rất nhiều nét hếtsức đặc biệt mà trong đó nổi bật nhất chính là chế độ đẳng cấp và tôn giáoBalamôn và đây cũng chính là cơ sở cấu thành nên văn minh ấn Độ

bờ cõi từ chân dãy núi Vindia, là nơi ngăn cách với cao nguyên Đêcannắng lửa, trở thành một quốc gia thống nhất, tạo điều kiện để mở rộngbuôn bán với các nớc láng giềng xung quanh

Nhng vơng quốc này, sau những năm tháng bừng bừng sức sống bắt

đầu suy yếu từ trong lòng nó, cùng với sự xâm nhập của ngời Ba T (TKVITCN), Và cũng ở giai đoạn này nền văn hoá ấn Độ bản địa bắt đầu có sựtiếp xúc với văn hoá Hy Lạp bởi cuộc xâm lăng của đạo quân nổi tiếng domột ông vua cũng là một viên tớng nổi tiếng trong lịch sử cổ đại chỉ huy,

đó chính là Alếch xăng đại đế, vào năm 327 (TCN) sự xâm lăng này nó đãtạo nên một cuộc giao lu kinh tế, văn hoá giữa phơng Đông và phơng Tây,

đây đợc coi nh chiếc cầu nối giữa văn minh Địa Trung Hải và văn minhchâu á thời cổ đại

Trang 11

1.2.4 ấn Độ dới vơng triều Môria.

Sau cuộc xâm nhập ấn Độ của Alếchxăng, tiếp đến là một vơngtriều độc lập thống nhất nối tiếp trong lịch sử ấn Độ, đã để lại nhiều thànhtựu về các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá Đó là triều đại Môria, nhà vuasáng lập ra vơng triều là Chanđra Gupta- Ngời anh hùng giải phóng dântộc, đã đi vào lịch sử ấn Độ trong t thế của một nhà chiến lợc tài ba vàmột nhà cai trị lỗi lạc Với 60 vạn quân ông không những đã đập tan hệthống chính quyền tay sai, đánh bại cuộc xâm lăng của quân Hy Lạp màcòn thống nhất các quốc gia ấn Độ suốt từ dãy Hymalaya đến cao nguyên

Đêcan, từ đồng bằng Hồng Hà đến biên giới Apganextan, lập nên triều đạimới, triều đại Môria hùng cờng

Triều đại Môria tồn tại từ năm 327 (TCN) đến 120 (SCN) qua rấtnhiều ngời kế tục Nhng xứng đáng nhất là vua Axôca

Dới thời vua Axôca (270 - 236 TCN)), đế quốc Môria phát triểnthịnh vợng nhất nh:

Về kinh tế : sản xuất nông nghiệp phát triển mạnh, đồng thời thủcông nghiệp, sản xuất đồ mỹ nghệ cũng phát triển là do nhờ kỹ thuật nấuchảy quặng đạt trình độ cao nghề trồng bông dệt vải nổi tiếng thế giới, do

có sự cải tiến kỹ thuật canh tác Đặc biệt kỹ thuật chọn giống và kỹ thuậtbón phân, công tác thủy lợi cũng đợc chú trọng Các nghề thủ công truyềnthống cũng đợc phục hồi phát triển tạo ra nhiều mặt hàng giao lu buônbán với các trung tâm văn minh khác nh Trung Quốc, Địa Trung Hải

Về chính trị: Bộ máy thống trị đợc xây dựng theo kiểu chuyên chếtrung ơng tập quyền cao độ Trong đó vua có quyền lực tối cao nh một vịthần sống vừa nắm vơng quyền lẫn cả thần quyền

Về văn hoá: nét nổi bật của vơng triều Môria chính là sự phát triểnmạnh mẽ của đạo Phật thời kỳ này Phật giáo đã lật đổ đợc thế lực của đạoBalamôn để trở thành quốc giáo với việc dịch kinh Phật và xây dựngnhiều chùa chiền

Ngoài ra đây cũng là thời kỳ trên tất cả các lĩnh vực khác nh vănhọc, nghệ thuật, kiến trúc, điêu khắc thu đợc những thành tựu rực rỡ cónhiều đóng góp lớn cho văn hoá văn minh nhân loại

Nhng đến năm 231 (TCN), sau khi vua Asôca qua đời thì vơng triềuMôria rơi vào tình trạng trì trễ khủng hoảng, sau đó nó còn tồn tại và thập

kỷ một cách mờ nhạt dần và đi vào sụp đổ Để cho xã hội ấn Độ trongmột thời gian dài bị chia cắt và bị các tộc ngời ngoại bang xâm chiếm

1.2.5 ấn Độ dới vơng triều Gupta và đế quốc Hacsa

Trang 12

Sau mấy trăm năm hỗn loạn, đến thế kỷ IV, ấn Độ trở nên cờngthịnh dới triều đại dân tộc Gupta, mà nhà vua nổi tiếng nhất là Chanđra -Gupta II, có biệt hiệu là "mặt trời dũng cảm"(380- 414), đã mở rộng sựthống nhất lãnh thổ ra hầu hết miền Bắc và một phần miền Trung ấn Độ.Theo sự đánh giá của các nhà nghiên cứu thì thời kỳ vơng triều Gupta làthời kỳ hoàng kim của chế độ phong kiến ấn Độ, điều này nó đợc biểuhiện ở các mặt nh:

Về kinh tế: đây là thời kỳ trên đất tất cả các lĩnh vực nh nôngnghiệp, thủ công nghiệp, thơng nghiệp, đều có sự phát triển đáng kể

+ Trong công nghiệp: đến thời kỳ này ngời ấn Độ đã biết phân loại

đất đai, xuất hiện kỹ thuật xen canh, luân canh, là thời kỳ công tác khaihoang phục hoá đợc chú trọng, nhiều công trình thủy lợi có giá trị nhất làcác đập chắn nớc qua sông đợc xây dựng

Từ đó, tạo nên điều kiện cho sản xuất phát triển mạnh mẽ Đâycũng là thời kỳ công cụ bằng sắt phổ biến để từng bớc thay thế cho công

cụ bằng đồng

+ Trong thủ công nghiệp: thời kỳ này kỹ thuật rèn đúc của ngời ấn

Độ phát triển, các nhà khảo cổ học đã phát hiện và tìm thấy nhiều tợngPhật đợc đúc trong thời kỳ này cao đến 2 mét và nặng 1 tấn Đặc biệt thời

kỳ này để lại cột sắt nổi tiếng cao 7 mét, và nặng 6,5 tấn Nhng một điều

đáng ngạc nhiên đó là đã qua hàng bao nhiêu thế kỷ mà nó không bị rỉ,vẫn tồn tại nh một thách thức với thời gian và với ngay chính bản thân conngời hiện tại để tìm ra kỹ thuật đúc tác phẩm này

+ Về thơng nghiệp: mặc dù bao trùm lên nền kinh tế ấn Độ là nềnkinh tế mang tính chất tự cung tự cấp nhng quan hệ giao lu buôn bán củangời ấn Độ với các trung tâm kinh tế khác nh khu vực Địa Trung Hải,Trung Quốc, Tây á… cũng phát triển Ngời ấn Độ chủ yếu xuất cảng vảivóc, đồ trang sức, ngọc trai, vàng bạc hơng liệu Còn chủ yếu nhập cảng r-

ợu, nô lệ biết nói Tạo nên khung cảnh buôn bán rất nhộn nhịp về kinh tế

và bắt đầu có sự giao thoa kinh tế giữa các vùng với nhau thông qua cácthơng nhân

Chính sự phát triển của ấn Độ trong thời gian này mà một nhà sTrung Quốc tên là Pháp Hiển ở ấn Độ hơn 10 năm (400 - 411) đã cónhững nhận xét thú vị đó là "ca ngợi đức độ và sự khoan dung của phápluật, đời sống sung túc và tự do của dân chúng, ca tụng về sự nguy ngatráng lệ của thành phố và các lâu đài sự quan tâm của nhà vua đối với thầndân qua việc lập các bệnh xá và nhà an dỡng khắp nơi"[12,26]

Trang 13

Nhng kỷ nguyên rực rỡ của ấn Độ thời Gupta bị cuộc xâm lăng củangời Hungnô làm gián đoạn Năm 500 ngời Hungnô chiếm đợc phần lớn

ấn Độ kể từ đó ấn Độ rơi vào cảnh nô lệ trong vòng 100 năm

Mãi tới đầu thế kỷ VII, ấn Độ mới đánh đuổi đợc ngời Hungnô vàlập nên đợc cảnh thái bình trên một vơng quốc rộng lớn dới triều đại vuaHacsa (606- 648) Trong thời kỳ cầm quyền của mình, Hacsa đã làm chodanh tiếng của đất nớc vang rộng ra bên ngoài Đến nỗi Huyền Trang mộtnhà s nổi tiếng của Trung Quốc đã lặn lội sang ấn Độ thỉnh kinh Theo ký

sự của ông thì ấn Độ trong thời Hacsa kinh tế và văn hoá đều phát triển,cho xây dựng kinh đô lớn có thành cao hào sâu bảo vệ với chu vi dài hơn

30 dặm

Danh vọng của triều đại Hacsa thật ngắn ngủi vì nó chỉ dựa trên đức

độ của ông Sau khi Hacsa chết, quốc gia hùng mạnh do ông lập nên bịsụp đổ

1.2.6 ấn Độ thời kỳ Xuntan Đêli.

Sau khi Hacsa mất (648), ấn Độ rơi vào tình trạng hỗn loạn, cùnglúc đó từ thế kỷ VII các tộc ngời Arập theo Hồi giáo sau khi lập quốc đãphát triển mạnh, lập nên một đế chế rộng lớn đi chinh phục nhiều miền

đất đai ở châu Âu, châu Phi và châu á Họ cũng đã tràn vào miền Bắc ấn

Độ để cớp bóc và tàn phá trong một thời gian rất dài Đến thế kỷ XI thì ấn

Độ đã trở thành một tỉnh của vơng quốc Gianzni Đây là một quốc gia Hồigiáo do vua Mamút sáng lập Bớc sang thế kỷ XII, Xikháp Ađin Môhametthuộc vơng triêu Go đã tiêu diệt Gianzni , từ đó ấn Độ thuộc về vơng triều

Go - cho đến cuối thế kỷ XII thì hầu hết các vùng ở Đông lẫn Tây ấn Độ

đều bị triều Go chinh phục và triều Go đã cử Aibếch sang làm tổng đốc đểcai trị ấn Độ Nhng đến năm 1206 nhân lúc Môhamét của vơng triều Goqua đời , ngay lập tức Aibếch tuyên bố tách ấn Độ ra thành quốc gia riêng

độc lập Tự xng là Xutan, đóng đô ở Đêli, gọi là nớc Xutan Đêli

Trong thời kỳ thống trị của mình các vơng triều Hồi giáo đã thihành chính sách khủng bố và bóc lột tàn bạo tới mức mà có lẽ trong lịch

sử nhân loại nào đẫm máu bằng Hồi giáo đi xâm lợc và thống trị ấn Độ

Nh một sử gia Hồi giáo đã từng viết: "Trớc lều và trong sân hoàng cungluôn có hàng đống xác ngời, bọn đao phủ phải lôi kéo, đâm chém suốtngày tối mệt đừ ra"[11,154], hay nh chính nhà vua Aland đã từng nói "chỉkhi nào làm cho ngời ấn Độ bần cùng thì họ mới chịu khuất phục và biếtvâng lời"[12,28]

Sự tàn bạo thái quá của các vơng triều Hồi giáo đồng thời lại luôntiến hành những cuộc chiến tranh để mở rộng lãnh thổ, nó đã làm cho ấn

Trang 14

Độ suy yếu, đồng thời chính trị và tôn giáo cũng có sự chia sẻ Bởi vìcùng với sự thống trị của các vơng triều Hồi giáo Đêli thì đạo Hồi và vănhoá Hồi giáo đã có điều kiện du nhập vào ấn Độ xẩy ra tranh chấp ảnh h-ởng giữa các tôn giáo với nhau Lợi dụng tình hình ấy, năm 1525 Babua -một quý tộc Mông Cổ dòng dõi Thành Cát T Hãn - đã mang triều đạithống trị của ngời Mông Cổ đến ấn Độ, mở đầu thời kỳ mà lịch sử ấn Độthờng gọi là thời đại Môgôn

đến tận miền Nam Trung ấn bao gồm Apganixtan và Casơmia, Nam đếnsông Gagavani, Đông đến Vịnh Bengan, Tây đến vùng Xin là vùng đất đã

700 năm không thuộc về ấn Độ

Về kinh tế: Tiến hành cải cách chế độ thuế khoá đã quy định mộtchế độ đo lờng thống nhất lần đầu tiên trong lịch sử ấn Độ, Acba đã thihành chính sách nộp thuế bằng tiền thay cho hiện vật, đã thúc đẩy sự pháttriển của kinh tế hàng hoá

Về xã hội: Acba thi hành chính sách đoàn kết tôn giáo và ra lệnhbãi bỏ các hủ tục, đồng thời khuyến khích các ngành nghệ thuật pháttriển

Nhờ những cải cách của ông đã làm cho ấn Độ có bớc phát triểnlớn, kinh đô Acba của ông là đô thị nổi tiếng với 500 toà nhà và lâu đài

đẹp vì vậy nhiều ngời châu Âu đến ấn Độ trong giai đoạn này đã có nhậnxét "thành phố Acba lớn hơn Luân Đôn nhiều" hay "Acba đã làm cho

Đêli trở thành một trong những thành phố lớn nhất, phồn hoa nhất của thếgiới lúc bấy giờ" [11,155]

Sự phồn vinh của ấn Độ dới thời Acba không đợc những ngời cầmquyền sau ông kế tục xứng đáng Vì vậy từ giữa thế kỷ XVII vơng triềuMôgôn bắt đầu suy yếu Tình trạng chém giết lẫn nhau tranh giành ngôithứ thờng xuyên diễn ra Cùng lúc đó, thực dân phơngTây đến "gõ cửa"

ấn Độ Đứng trớc nguy cơ của chủ nghĩa thực dân giai cấp phong kiếnkhông những không chống lại mà còn vì những mâu thuẫn bên trong, vìlợi ích cục bộ của mình đã cấu kết với kẻ xâm lợc, làm cho ấn Độ bị đẩyvào tình trạng trở thành miếng mồi để kẻ xâm lợc từng bớc "gặm nhấm"

để rồi ít lâu sau thực dân phơng Tây đã "nuốt chửng" đất nớc rộng lớn

Trang 15

này, chấm dứt một thời kỳ lịch sử huy hoàng của ấn Độ Thời kỳ mà ấn

Độ đã tạo dựng và có những thành tựu văn minh hết sức rực rỡ vào loạibậc nhất thế giới nó có ảnh hởng và đóng góp rất lớn cho văn minh nhânloại mà thông qua các quá trình tiếp xúc, giao lu, trong một thời kỳ lịch sửlâu dài

Trang 16

1.3 Những thành tựu chính của văn minh ấn Độ

1.3.1 Chữ viết

Chữ viết đợc coi là một thành tựu lớn đối với văn hoá ấn Độ cổ đại.Chữ viết đầu tiên của ấn Độ đợc sáng tạo ra từ thời Harappa -MôhenJôđanô thuộc nền văn minh sông ấn, đã có lịch sử hơn 2000 năm TCN ở

đây tìm thấy khoảng 3000 con dấu có khắc chữ đồ hoạ Suốt nhiều thập

kỷ từ khi phát hiện lần đầu tiên vào năm 1921, nhiều tác giả của nhiều

n-ớc đã nghiên cứu cách đọc loại chữ này nhng cha thành công Mà phải

đến mấy thập kỷ sau thì một nhà khảo cổ học ấn Độ là tiến sĩ Rao đãkhám phá đợc sự bí ẩn của loại chữ này Theo ông Rao đây là một loạichữ dùng hình vẽ để ghi âm và ghi vần Trong đó hơn 3000 con dấu ấy có

22 dấu cơ bản Loại chữ này chủ yếu viết từ phải qua trái đồng thời nhữngcon dấu phát hiện đợc là những con dấu dùng đóng trên các kiện hàng đểxác nhận hàng hoá và chỉ rõ xuất xứ của các hàng hoá đó

Đến khoảng thế kỷ V TCN ở ấn Độ xuất hiện một loại chữ khác gọi

là chữ Kharosthi Đây là một loại chữ viết phỏng theo chữ viết Lỡng Hà.Sau đó lại xuất hiện chữ Brami, một loại chữ đợc sử dụng rộng rãi, cácvăn bia thời Axôca đều viết bằng loại chữ này Chữ Brami còn lan sang cảvùng Đông Nam á vào thế kỷ II (TCN), cũng trên cơ sở chữ Barahin, chữPhạn (Sanskít) ra đời Đây là loại chữ viết có âm tiết và từ vựng rất phongphú Và nó đã đợc tiêu chuẩn hoá khá chặt chẽ trong đó văn pháp của nhàngôn ngữ học cổ đại Panini nhng theo thời gian tiếng Sanskrít không còn

là thứ tiếng nói phổ thông nữa, nó đã trở thành ngôn ngữ của tôn giáo

ở ấn Độ hiện nay đang lu hành nhiều ngôn ngữ nh Hindu, Bengal,Indu… ng tất cả đều là biến thái của các ngôn ngữ "bác học trên" Tuynhkhông còn là tiếng nói phổ thông nữa, nhng tiếng Sanskrit vẫn đợc giớiquý tộc a chuộng, ngày nay nó đang đợc bảo tồn và sử dụng trong lĩnhvực văn hoá Nghệ thuật

Ban đầu những chữ viết của ngời ấn Độ đợc viết trên lá cây, vỏ cây

đã đợc gia công kỹ lỡng với công cụ là bút sắt và mực (vì ấn Độ khôngphải là nơi phát minh ra giấy) Những trang viết đợc xâu thành dây, đóngthành sách cất trong những nơi gọi là "kho tàng của nữ thần ngôn ngữ"(giống nh th viện) Nhng do thời gian, khí hậu thì những trang viết nàynhanh chóng bị tàn phá, và chỉ 1000 năm sau công nguyên thì giấy viếtmới xuất hiện ở ấn Độ thông qua con đờng thông thơng Việc chữ viết ra

đời sớm nó đã thúc đẩy sự phát triển rất nhiều lĩnh vực ở ấn Độ có điềukiện phát triển

1.3.2 Văn học

Trang 17

Hệ thống chữ viết ra đời đã làm nảy nở một nền văn học nghệ thuậtphong phú và giàu bản sắc Văn học cổ đại ấn Độ đồng nghĩa với thơ, vănxuôi và thơ chỉ là một chứ không tách rời nhau nh sau này Bất luận là đềtài gì, đề cập đến lĩnh vực nào trong văn học đều đợc trình bày dới dạngthơ, dù cho viết trên "giấy" hay chỉ là truyền khẩu Vốn có một đời sốnggiản dị và nhân hậu thoáng đạt, a suy nghĩ Vì vậy văn học ấn Độ đã có

"mảnh đất" để phát triển khá tốt, có rất nhiều thành tựu rực rỡ ở khắp cácthể loại nh sử thi, các bộ kinh tôn giáo và cả thơ ca trữ tình

Các nhà nghiên cứu đều thống nhất cho rằng, tác phẩm văn học cổ

xa nhất của ấn Độ cũng có thể là cả loài ngời là bộ kinh Vêđa ra đờikhoảng nửa sau thiên niên kỷ thứ II (TCN) Đây là một tác phẩm của cảmột tập thể trong một thời gian dài, nó đợc truyền miệng qua các thế hệngời dân ấn Độ với nhau Bộ kinh này gồm có 4 tập đó là Ríchvêđa,YaJua Vêđa, Sama Vêđa và Arthava Vêđa Trong đó Rích Vêđa là

bộ kinh cổ nhất và cơ bản nhất trong 4 bộ kinh Vêđa Nó bao gồm 1.028bài ca, tổng cộng là 10.562 câu thơ, chúc tụng các thần linh có liên quan

đến cuộc sống của ngời Arian

Các bộ kinh Vêđa là những tác phẩm văn học tôn giáo cổ xa nhấtcủa xã hội loài ngời, một mặt nó phản ánh những cố gắng vơn lên về mặt

t tởng của con ngời, đồng thời phản ánh khát vọng của con ngời muốnchinh phục và hoà đồng với thiên nhiên, với cộng đồng Nhng do mới

đang và bớc đầu do đó nó không thể không tránh khỏi những hạn chế vớinhững yếu tố hoang đờng, siêu nhiên, thần bí

- Thánh kinh Upanishad : là bộ kinh quan trọng thứ hai sau Vêđa và

nó đã đa đạo Balamon phát triển lên thành học thuyết tôn giáo

- Nét đặc sắc trong văn học ấn Độ là trờng ca xuất hiện sớm, cũng

là tác phẩm thể hiện những nội dung lịch sử tập trờng ca nổi tiếng làMahabra ta và Ramayana, niềm tự hào của ngời dân ấn Độ Nó nh haiviên ngọc quý nhất trong kho tàng văn học ấn Độ, những bản trờng canày nó không dừng lại mà ngày càng đợc thêm thắt trở thành những bảntrờng ca đồ sộ Nó là kết quả của sức sáng tạo, trí tởng tợng phong phú vàniềm mơ ớc của các thế hệ ngời ấn Độ Cốt truyện thờng lấy chủ đề tìnhyêu và chiến tranh

Sang thời trung đại, văn học ấn Độ có bớc phát triển mới Nhà vănxuất sắc thời Gupta là Kaliđasa, sống vào thế kỷ thứ V , ông là đỉnh caocủa thơ ca trữ tình và sân khấu truyền thống, đồng thời ông cũng là nhàthơ lớn của thế giới Tác giả của nhiều vở kịch nổi tiếng nh "Lòng dũngcảm của Vravasi", "Truyện 10 ông hoàng"

Trang 18

Từ thế kỷ XII đến thế kỷ XV, văn học ấn Độ lại có điều kiện pháttriển, tác giả tiêu biểu thời kỳ này là Cabia (1440- 1518) làm nghề thợ dệt

đợc coi là một nhà t tởng, một thi sĩ của ấn Độ, Cabia trình bày t tởng củamình bằng lời văn giản dị, dới hình thức những câu thơ, bài hát rất dễ nhớ,

đã thấm sâu và chi phối mọi hoạt động của tất cả các tầng lớp xã hội,trong đời sống cộng đồng cũng nh trong đời sống riêng t trong suốt cảchiều dài cuộc đời của mỗi con ngời Do đó, ấn Độ đợc coi là quê hơngcủa nhiều tôn giáo, nh đạo Balamôn (sau này đợc sửa đổi, bổ sung chophù hợp với bối cảnh mới và trở thành đạo Hindu), đạo Phật, đạo Jaina,

đạo Xích, đồng thời còn tiếp thu một số tôn giáo khác nh đạo Hồi, đạo

Do Thái Nét đặc biệt ở ấn Độ là các tôn giáo thờng kết hợp chặt chẽ vớitriết học, vì vậy nó trở thành con thuyền truyền tải t tởng ở đất nớc này

Đạo Bàlamôn và ấn Độ giáo

Trong thời kỳ đầu, c dân ấn Độ theo tôn giáo đa thần cùng với sựphát triển của xã hội thì các quan niệm và tín ngỡng có nhiều thay đổi.Chính sự thay đổi này nó đã làm cho các quan niệm tôn giáo sơ khai cónhiều điểm giống nhau nên đợc gọi chung là đạo Balamôn

Đạo Balamôn không có ngời sáng lập, vì vậy tổ chức của nó cũngkhông chặt chẽ Đây là tôn giáo đa thần, trong đó cao nhất là thần Brama,

đợc coi là thần sáng tạo ra thế giới Nhng cũng có nơi lại coi thần Siva tứcthần huỷ diệt, là thần cao nhất, hay nhiều nơi lại quan niệm thần cao nhất

là thần visnu, thần bảo vệ, thần ánh sáng, thần sắc đẹp Do thiếu thốngnhất nh vậy, nên dần dần các tăng lữ đạo Balamôn đã nêu ra quan niệmmặc dù là ba nhng thực chất là một Ngoài ra, đạo Balamôn cũng sùng báimột số loại động vật coi đó là con vật thiêng liêng của mình nh Voi, Bò.Một trong những giáo lý cơ bản của đạo Balamôn là thuyết luân hồi

Về mặt xã hội, đạo Balamôn là công cụ bảo vệ đắc lực cho chế độ

đẳng cấp ở ấn Độ Mà trong đó thực chất là nhằm bảo vệ quyền lợi chotầng lớp tăng lữ, quý tộc Balamôn Tôn giáo này thịnh hành trong xã hội

ấn Độ mãi cho đến thế kỷ VI (TCN) bị tàn lụi do sự xuất hiện của đạoPhật

Trang 19

Đến khoảng cuối thế kỷ VII sau một thời gian đạo Phật phát triểnthịnh vợng đã có lúc trở thành quốc giáo thì đạo Balamôn bị đẩy lùi Trớctình hình đó đạo Balamôn đã cải biên và bổ sung một số giáo lý mới củacác tôn giáo, tín ngỡng khác nên đã chuyển hoá thành ấn Độ giáo.

ấn Độ giáo ra đời và phát triển đợc coi là một tôn giáo hết sức đặcbiệt vì tôn giáo này không ảnh hởng ra ngoài biên giới Đây cũng khôngchỉ đơn thuần là một tôn giáo mà gồm đủ các tín ngỡng, nghi thức cúng tếvới 4 điểm chung là:

Đạo Phật ra đời vào khoảng thế kỷ VI (TCN) theo truyền thuyết

ng-ời sáng lập là Xichđatđa Gôtama hiệu là Thích ca mậu ni (563 - 483TCN).Vốn là con của nhà vua Suđô đana ở ngời Kapilavaxtu (nay thuộc Nêpan)

Cứu khổ và giải thoát là nội dung chủ đích của học thuyết Phậtgiáo Điều này đợc thể hiện qua câu nói của Đức Phật "Trớc kia và ngàynay ta chỉ nêu ra và lý giải về nỗi khổ đau và giải thoát khỏi nỗi khổ

đau… Cũng nh nớc đại dơng chỉ có một vị mặn, học thuyết của ta chỉ cómột vị đo là cứu vớt [26,65]

Học thuyết của đạo Phật đợc tập trung trong tứ diệu đế (4 chân lýlớn) đó là khổ đế, tập đế, diệt đế và đạo đế

Thời kỳ đầu, đạo Phật chỉ nhấn mạnh sự tu hành của mọi ngời vứt

bỏ mọi dục vọng trần tục để đợc lên cõi niết bàn nên lễ nghi đơn giản, íttốn kém

Đạo Phật không chủ trơng xoá bỏ chế độ đẳng cấp, nhng giáo lýcủa nó lại tuyên truyền cho sự bình đẳng giữa các chúng sinh đã mở đờngcho sự giải thoát về mặt tinh thần cho tất cả mọi ngời bị áp bức, gián tiếpphản đối đạo Balamôn trong việc chủ trơng bạo lực và duy trì sự phân biệt

Trang 20

về mặt đẳng cấp trong xã hội ấn Độ "không thể có đẳng cấp trong dòngmáu con ngời cùng đỏ nh nhau, không thể có đẳng cấp trong những giọtnớc mắt cùng mặn giống nhau"[12,78]

Về quá trình phát triển thì cùng với quá trình phát triển của lịch sử,dần dần đạo Phật phân thành 2 phái: phái Tiểu Thừa và phái Đại Thừa.Nếu nh phái Tiểu Thừa chủ trơng giữ nguyên những giáo lý nguyên thuỷ,thì Đại Thừa lại chủ trơng cải biên, bổ sung một số giáo lý để nhằm phùhợp với một hoàn cảnh xã hội mới

Đạo Jaina : gần nh cùng với đạo Phật, đạo Jaina cũng xuất hiện ở

ấn Độ, chủ trơng tu hành khổ luyện không sát hại sinh linh dù là bất kỳsinh vật dù nhỏ bé Cũng giống nh đạo Phật, đạo Jaina phát triển đến mộtgiai đoạn nhất định thì phân thành 2 phái đó là phái áo Trắng và phái áoTrời

nó vẫn giữ đợc, đồng thời nghệ thuật kiến trúc của ấn Độ ảnh hởng rấtnhiều nớc

Về kiến trúc : đợc coi là một trong những thành tựu vĩ đạo nhất của

lịch sử văn minh ấn Độ, kiến trúc ấn Độ mang sắc thái riêng, độc đáo vớicác kiểu loại hình kiến trúc cột đá, mộ tháp chùa chiền, cung điện … tiêubiểu nhất là tháp Xansi đợc xây dựng từ thế kỷ VI (TCN), tháp xây bằnggạch cao 16 mét, hình nửa quả cầu, xung quanh có lan can, có 4 cửa lớn,lan can và cửa đều làm bằng đá và đợc chạm trổ đẹp đẽ

ở ấn Độ, kiến trúc chịu ảnh hởng của đạo Hinđu thờng là các đềntháp nhọn, nhiều tầng tợng trng cho đỉnh núi thiêng liêng nơi ngự trị củacác thần, và chịu ảnh hởng của đạo Hồi, những nhà thờ Hồi giáo, cáccung điện lăng tẩm mang dáng dấp Ba T, Arập nhng đã đợc ẩn hoá vớinhững đặc điểm của kiến trúc ấn Độ Điểm chung của các loại hình kiếntrúc này là mái vòm, cửa vòm, có tháp rộng sâu và hoàn toàn không cóhình tợng của con ngời

Cùng với kiến trúc, nghệ thuật điều khắc ấn Độ cũng đạt đợc nhữngtiến bộ rõ rệt Điêu khắc của ấn Độ lại chủ yếu là những tợng Phật và t-ợng thần của đạo Hinđu, các bức tợng thần bằng đá, một số ít bằng đồng,phản ánh vẻ từ bi, sự an tĩnh khi ngồi thiền với cặp mắt sâu lắng trầm

Trang 21

buồn chứa đầy nỗi u t hớng tới cõi vĩnh hằng Còn các bức tợng của đạoHinđu chủ yếu đợc thể hiện thông qua hình ảnh của con ngời hay các vịthần Siva, Visnu, hay các con vật thiêng nh lợn, hay bò, khỉ …

Tóm lại, kiến trúc điêu khắc ấn Độ thời này tuy có gắn liền với tôngiáo nhng do bắt nguồn từ cuộc sống và cũng do con ngời sáng tạo rathông qua lao động nên tính hiện thực đợc thể hiện một cách rõ rệt

1.3.5 Khoa học tự nhiên

Một trong những thành tựu của văn minh ấn Độ đó là việc cho ra

đời và phát triển những ngành khoa học mà sau này loài ngời đã kế thừa

và vơn xa Chính những thành tựu này nó đã làm cho đất nớc ấn Độ ngay

từ thời xa xa đã trở nên nổi tiếng là điểm thu hút để giao lu tiếp xúc vớirất nhiều nớc trên thế giới thông rất nhiều con đờng khác nhau và trongmột thời gian dài

Ngời ta thờng nói "khoa học ở ấn Độ vừa rất già nhng cũng lại rấttrẻ"[5,300] so với mặt bằng chung của thế giới nhng trẻ là bởi vì nó mới

đợc coi là ngành độc lập

Về thiên văn học và lịch pháp: ấn Độ từ thời xa xa, trên những đỉnh

núi cao hay giữa các cao nguyên bát ngàn gió thổi và trên những bãi cáttrắng loá mắt thì ngày ngày luôn có một đội ngũ các nhà tu hành thôngthái và kiên nhẫn quan sát sự vận động của sao trời, mặt trăng và sự thay

đổi của thời tiết phục vụ cho công cuộc sản xuất và chữa bệnh Vì vậythiên văn học và lịch pháp ở ấn Độ ra đời từ rất sớm.Nó có ảnh hởng rấtlớn tới phơng Tây sau này

Ngay thời kỳ Vêđa, ngời ấn Độ đã quan niệm đợc một hệ thống 27hay 28 chòm sao dùng làm điểm mốc cho các chuyển động của các hànhtinh và hệ mặt trời, đến thế kỷ V (TCN) nhà thiên văn học và toán họcthời ấy của ấn Độ là Aryadhata đã giảng giải khá chi tiết về nhật thực,nguyệt thực, hạ chí, đông chí, xuân phân và thu phân, đã khẳng định rằngquả đất hình tròn và ngày ngày quay xung quanh trục của nó Ông quả là

đã đi trớc các nhà Phục Hng phơng Tây khi cho rằng "mặt trời đứng yên

là vì quả đất quay xung quanh trục của nó nên ta mới thấy các tinh túmọc rồi lại lặn mỗi ngày mỗi đêm[11,176] Mà để đến gần 2000 năm sau,

để chứng minh cho lời nói đó thì Goocđanô Brunô đã phải trả giá bằngviệc bị toà án của giáo hoàng hoả thiêu trên dàn lửa của La Mã

Cũng trong thời gian này, họ đã đặt ra lịch để phân định thời gian,biết chia thời gian thành tháng và tuần, họ chia một năm gồm 12 tháng,mỗi tháng bao gồm 15 ngày gọi là tithi, đây là âm lịch, nhng sau đó thì d-

ơng lịch cũng đợc du nhập vào ấn Độ

Trang 22

Toán học: Do nhu cầu thiết thực trong cuộc sống, đặc biệt là trong

đạo Balamôn với những nghi lễ phức tạp buộc ngời ta phải tính toán cácvật thể và thể tích cho những vật để cúng tế

Do đó từ rất sớm ngời ấn Độ đã định ra một hệ thống toán học và

đã có những đóng góp cực kỳ quan trọng và nhanh chóng đợc truyền básang phơng Tây thông qua trung gian là ngời Arập Vì thế trong một thờigian dài ngời ta cứ lầm tởng rằng toán học cổ xa có nguồn gốc từ Arập.Thực ra các chữ số đặc biệt là số "không" và hệ thống thập phân ra đời từ

ấn Độ và đợc ngời Arập tiếp thu Phải đến ngàn năm sau công lao sángtạo của ngời ấn Độ mới đợc thừa nhận "chính nhờ ấn Độ mà chúng ta đãhọc đợc cái cách tài tình chỉ dùng cho 10 chữ số mà viết đợc, đủ các số.Mỗi số có một trị số tuỳ theo vị trí của nó Ngày nay chúng ta cho đó làbình thờng cho nên không thấy hết đợc công lao to lớn của ngời ấn Độ

Sự tiện dụng lớn lao của nó đã làm cho nó thích ứng với mọi cách tínhtoán, đa nền toán học của chúng ta lên hàng đầu những phát minh cóích"[11,177], trong "The Discovery of India", Nehru cũng đã có nhận xét

"sự tiến bộ đáng kinh ngạc mà ngời ấn Độ đã đạt đợc trong toán học ngàynay ai cũng biết và ngời ta công nhận rằng nền tảng của toán học và đại sốhiện đại đã đợc xây dựng từ xa ở ấn Độ"

Ngời ấn Độ biết đến đại số rất sớm với các số căn, số âm, các quytắc về hoán vị, tổ hợp … tới thế kỷ thứ VIII ngời ấn Độ đã giải đợc nhữngphơng trình vô định bậc hai mà phải tới gần 1000 năm sau ở châu Âu mớibiết cách giải

Qua đó ta thấy trong lĩnh vực toán học thì ngời ấn Độ đã đạt đợc rấtnhiều thành tựu, làm cơ sở nền móng cho nhiều ngành khoa học mới củathế giới

Y học: Tìm mọi cách để có thể cứu vớt cuộc sống con ngời là yêu

cầu tự nhiên trong bất kỳ một xã hội, một cộng đồng ngời nào, và ấn Độcũng không ngoại lệ Do đó y học của ấn Độ cổ trung đại đã đạt đợc rấtnhiều thành tựu lớn Các thầy thuốc ấn Độ đã biết dùng phẫu thuật đểchữa bệnh nh cắt màng mắt, lấy sỏi thận, mổ bụng lấy thai, nắn lại cácchỗ xơng gãy

ở ấn Độ ngời ta đã liệt kê đợc 1120 thứ bệnh và cách điều trị, vìvậy nhiều sách y học đã đợc viết ra nh "Y học toát yếu" (625), luận cáo vềtrị liệu (XI) … mà ngày nay nó vẫn là những tài liệu nghiên cứu quý của yhọc hiện đại Để có thể đạt đợc nhiều thành tựu nh vậy thì đó chính là kếtquả của sự giao lu truyền bá với các nớc có những thành công trên lĩnh

Trang 23

vực này nh các nớc Arập, Aicập và Trung Quốc qua các con đờng tiếp xúckhác nhau.

Sự phát triển của y học, thì song song với nó là hoá học cũng đạt đ

-ợc nhiều thành tựu, do yêu cầu của kỹ nghệ nh nhuộm, thuộc da, chế tạo

xà phòng, thủy tinh, xi măng, kỹ thuật luyện thép ở ấn Độ cổ trung đại tớimức hoàn hảo mà châu Âu phải rất lâu mới theo kịp Chúng ta thờng nghethấy lỡi gơm Đamat của ngời Arập nổi danh về sắc bén và bền vững Bíquyết chế tạo nó ngời Arập học từ ngời Ba T nhng ngời Ba T lại học đợc

từ ngời ấn Độ

Qua đó chúng ta thấy những thành tựu mà văn minh ấn Độ đạt đợc

là rất lớn và toàn diện trên tất cả các mặt, chính những thành tựu to lớn mà

đất nớc này đã đạt đợc nó ảnh hởng rất lớn cho sự phát triển đi lên củalịch sử nhân loại thông qua quá trình tiếp xúc giao lu giữa các nền vănminh

Trang 24

Chơng 2 Tổng quan về văn minh phơng Tây

2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên và c dân của Hy - la

2.1.1 Hy Lạp

Điều kiện tự nhiên

Hy Lạp cổ đại là một vùng trên bán đảo Ban Căng, Bắc giáp xa-li và Êpia, nó giống nh cái đinh ba của thần Pơ-đê-i-đong từ đất liềnchìa ra Địa Trung Hải; và hình nh từ ngàn xa đã nhiều lần khuấy động sựyên lành của mặt biển, làm sôi lên những bọt nớc, để biến thành nhữnghòn đảo dày đặc bao bọc xung quanh dải đất của "con cháu các vị thần"

Tét-Thời cổ đại, lãnh thổ của Hy Lạp không chỉ gồm các vùng đất của

Hy Lạp ngày nay, mà còn bao gồm các đảo ở vùng biển Êgiê và vùngTiểu á Nhng đóng vai trò quan trọng nhất cho sự hình thành và tồn tạicủa nền văn minh Hy Lạp là vùng chủ yếu nằm trên lãnh thổ lục địa HyLạp ngày nay

Những dãy núi đồi và eo đất đã chia lục địa Hy Lạp thành 3 vùng rõrệt Đồng bằng Tetxali màu mỡ chiếm phần lớn đất đai của vùng Bắc,ngăn cách vùng Bắc và vùng Trung Hy Lạp là con đèo Tecmôpin VùngTrung có nhiều đồng bằng màu mỡ nh át tếch, Bêôxi, có thành thị nổitiếng là Aten, đồng thời có đảo Ơbê là hòn đảo lớn nhất của Hy Lạp MiềnNam là bán đảo Pêlôpônedơ nh là hình bàn tay 4 ngón xoè ra Địa TrungHải Đây cũng là nơi xuất hiện Nhà nớc thành bang đầu tiên của Hy Lạp -Nhà nớc Sparta , c dân chỉ trồng đợc các loại lúa mì, lúa mạch .Nhng bùlại, khí hậu của Hy Lạp thời cổ lại gần với khí hậu vùng nhiệt đới, ít ma,mùa đông cũng ít tuyết tạo thuận lợi cho nghề làm vờn và chủ yếu là trồngnho, ô liu để nấu rợu, ép dầu Đặc biệt trong lòng đất của Hy Lạp rấtnhiều khoáng sản, mỏ đồng, mỏ vàng, mỏ bạc và đặc biệt là ở nhiều vùng

nh át tếch, Côrinh… có loại đất sét đặc biệt để chế tạo các đồ gốm, đồsành sứ tinh xảo Vì vậy các ngành thủ công nghiệp của Hy Lạp sớm ra

đời và phát triển, nổi tiếng trên thế giới trở thành ngành xuất khẩu chủchốt của đất nớc này Cũng do địa hình có nhiều dãy núi, đồi và eo đất đãchia cắt lục địa Hy Lạp thành nhiều vùng nhỏ, cách biệt nhau trở ngại chogiao thông trên bộ Nhng bù lại biển cả lại cho ngời Hy Lạp nhiều lợi thế,với những bờ vịnh đẹp, nớc sâu nên từ xa đã tạo ra những hải cảng nổitiếng Mặt khác biển Êgiê tựa nh một cái hồ lớn, sóng nhỏ, gió lặng dớibầu trời luôn trong xanh đã thôi thúc nghề hàng hải của Hy Lạp phát triển

để đi tìm những vùng đất mới lạ Mặt khác do nằm giữa sự tiếp giáp của 3

Trang 25

châu lục nên Hy Lạp có điều kiện tiếp thu những thành tựu của văn minhphơng Đông cộng vào đó là sáng tạo của chính họ đã tạo nên một nền vănminh rực rỡ và độc đáo "Chúng ta có một chế độ không phỏng theo mộtkiểu mẫu mực nào nhng trái lại nó là mẫu mực thực sự cho những ngờikhác" (Pêriclét).

C dân

C dân Hy Lạp cổ đại bao gồm nhiều tộc ngời Ngời Êôliên chủ yếu

c trú ở Bắc bán đảo Ban căng và một phần Trung bộ (đồng bằng Bêôxi),ngời Iôniêng ở đồng bằng áttích,vùng ven biển phía Tây Tiểu á, ngờiAkêăng ở vùng bắc bán đảo Pêlôpônedơ và ngời Đôniêng ở Bắc bán đảoPêlôpônedơ, đảo Crét và các đảo khác ở phía Nam biển Êgiê

2.1.2 La Mã

Điều kiện tự nhiên

Nằm ở giữa miền Nam Âu, bán đảo ý nơi phát sinh của quốc gia

Hy Lạp cổ đại, có diện tích khoảng hơn 300.000 km2, dài và hẹp, giống

nh một chiếc hào lớn vơn ra sóng nớc Địa Trung Hải Dãy Anpơ chắn ởphía Bắc, ngăn cách bán đảo với châu Âu rộng lớn, còn lại là 3 mặt đợcbiển bao bọc Dãy núi Apennanh chạy dài theo bán đảo nh một xơng sốngnhng không hiểm trở, tạo cho bán đảo vị trí địa lý thuận lợi với sự thốngnhất

Về mặt địa lý, La Mã có nhiều thuận lợi hơn so với Hy Lạp Nơi

đây có những đồng bằng rộng lớn và phì nhiêu do nhiều dòng sông bồi

đắp lên nh sông Pơ, sông Tibrơ Những bình nguyên, đồng cỏ ở Nam bán

đảo và đảo Xixin cũng góp phần cho sự thuận lợi và phát triển của nềnkinh tế nông nghiệp Đồng thời có nhiều kim loại quý nh đồng chì, thiếc,

và có những hải cảng tốt, vịnh nớc sâu do đó thuận lợi cho thuyền bè ờng xuyên lui tới Chính vì vậy bán đảo Italia là nơi gặp gỡ, tiếp xúc vớinhững nền văn minh Đông và Tây Địa Trung Hải và cả Bắc Phi

Đầu thế kỷ X (TCN), ngời Êtruxcơ từ Tiểu á tới và chiếm một vùng

đất đai rộng lớn màu mỡ giữa 2 con sông Arno và Tinre Tiếp theo ngời

Hy Lạp cũng đến định c ở bán đảo

Trang 26

Trong quá trình phát triển ngời La Tinh đã dần chinh phục cácnhóm ngời khác nhau và đóng vai trò to lớn đối với sự phát triển của LaMã cổ đại.

2.2 Các giai đoạn phát triển chính của lịch sử Hy- La cổ đại.

2.2.1 Các giai đoạn phát triển chính của lịch sử Hy Lạp

Văn minh cổ Hy lạp đợc bắt đầu từ đầu nhiên niên kỷ III (TCN) vàtồn tại tới giữa thế kỷ II (TCN) Lịch sử văn minh Hy Lạp đợc chia làmbốn thời kỳ

- Thời kỳ văn hoá Crét - Mixen (thiên niên kỷ thứ III - thế kỷ XII(TCN)

Nhờ những thành tựu của các ngành khoa học, đặc biệt là của ngànhkhảo cổ học, với những đóng góp xuất sắc của Haliman (1822 - 1940);Ivan (1851- 1943)… đã góp phần làm sáng tỏ và xác minh sự tồn tại củanền văn minh Crét - Myxen là có thật

Crét là một hòn đảo lớn, nằm ở phía Nam biển Êgiê, là nơi gần bờbiển của 3 châu lục đó là châu Âu, châu á và châu Phi, ở ngã ba vùng

Đông Địa Trung Hải - văn minh Crét tồn tại từ đầu thiên niên kỷ III đếnthế kỷ XVII - XIV (TCN)

Văn minh Mixen, nằm ở đồng bằng Pêlôpơnêdơ, ở Nam lục địa HyLạp, Chủ nhân của nó là ngời Akêăng, tồn tại từ khoảng năm 2000 đếnthế kỷ XII (TCN), văn minh Mixen phát triển rực rỡ vào các thế kỷ XV -XII (TCN) Biểu hiện là có những công trình kiến trúc đồ sộ, những toàlâu đài cung điện lộng lẫy, lúc này quan hệ buôn bán với nhiều nơi khác

đã thờng xuyên diễn ra

Do những quan hệ gần gũi, tơng đồng và kế thừa lẫn nhau của hainền văn minh nói trên mà các nhà khoa học thờng gọi chung là văn minhCrét - Mixen

+ Thời kỳ Hôme (thế kỷ XI - IX (TCN))

Hay còn đợc gọi là "thời đại anh hùng", Vì lịch sử Hy Lạp thời kỳnày đợc phản ánh trong hai bản trờng ca Iliat và Ôđixê của Hôme Quahai bản trờng ca này ngời ta thấy từ thế kỷ XI - IX (TCN) các ngành kinh

tế ở đây có nhiều bớc phát triển Nghề nông thời kỳ này đã chiếm một vịtrí khá lớn trong nền kinh tế Những công cụ bằng sắt đợc sử dụng rộngrãi, thủ công nghiệp trong hoạt động này đang trong quá trình chuyênmôn hoá

Xã hội Hôme là giai đoạn mạt kỳ của chế độ công xã nguyên thuỷ

Tổ chức xã hội mặc dù còn sơ sài nhng cũng gồm có : thủ lĩnh quân sự,

đại hội nhân dân, hội đồng trởng lão Chế độ xã hội này đã đợc Engghen

Trang 27

gọi là chế độ dân chủ quân sự, là quãng giao thời giữa xã hội cộng sảnnguyên thuỷ với xã hội có giai cấp và Nhà nớc, giữa thời dã man và thờivăn minh.

+ Thời kỳ các quốc gia thành bang (thế kỷ VII - IV TCN)

Đây là thời kỳ quan trọng nhất của lịch sử Hy Lạp cổ đại Các quốcgia thành thị hay còn gọi là các thành bang (polis) hình thành và phát triển

ở các vùng đất Hy Lạp và ven Địa Trung Hải Mỗi Polis có cơ sở là một

đô thị làm trung tâm và một vùng nông thôn phụ cận, nên phạm vi hẹp vàdân c không đông đúc lắm Diện tích của mỗi thành bang khoảng từ 800

ng có 2 thành bang lớn nhất và có vai trò quan trọng nhất đối với Hy Lạp

cổ đại là Aten và Spac

Sau khi chiến tranh Hy Lạp - Ba T kết thúc (492 - 448) các thànhbang Hy Lạp bớc vào thời kỳ phát triển mới, trong đó chế độ chính trị củaAten là mẫu mực hoàn hảo nhất của nền dân chủ Dới sự cai trị củaPêriclét (461- 429) Aten bớc vào thời kỳ cực thịnh và có nhiều cống hiếnlớn lao cho nền văn minh chung của loài ngời

+ Thời kỳ Maceđônia và thời kỳ Hy Lạp hoá (337 - 300 TCN)

Sự lớn mạnh của Aten, khiến các thành bang Hy Lạp khác, đặc biệt

là Spac rất lo ngại Những mâu thuẫn về thể chế chính trị cũng nh về kinh

tế giữa Aten và Spac đã dẫn đến sự ra đời của hai liên minh đối lập nhau

đó là đồng minh Delos thành lập 478 (TCN) do Aten đứng đầu và đồngminh Pêlôponnesus, thành lập năm 432 do Spac lãnh đạo Cuộc chiếntranh huynh đệ giữa hai liên minh mà lịch sử gọi là chiến tranhPêlôponnesus (431 - 404 (TCN)) đã làm cho cả Hy Lạp kiệt quệ và suyyếu trầm trọng

Trong khi đó ở Nam Âu, nớc Maceđônia nằm sát phía Bắc Hy Lạp

đã phát triển nhanh chóng thế lực và trở nên hùng mạnh vào thời philíp II(359 - 336 TCN) và chính ông đã đem quân tấn công và chinh phục HyLạp năm 337 (TCN) và giành đợc quyền thống trị Hy Lạp, Maceđônia lúcnày do Alexander cầm quyền Với những khát vọng to lớn, ông đã nhanhchóng thống lĩnh lực lợng liên quân Hy Lạp tiến đánh và chiếm Ba T, sau

đó ông chinh phục toàn bộ tây á, Ai Cập, Trung á và Tây Bắc ấn Độ,

Trang 28

lập nên một đế quốc rộng lớn gồm nhiều quốc gia dân tộc thuộc các nềnvăn hoá khác nhau Vì vậy sự giao lu văn hoá Đông - Tây trong giai đoạnnày đợc thúc đẩy nhanh chóng đặc biệt là văn minh Hy Lạp đối với các n-

ớc phơng Đông và ngợc lại và Arnol toybee trong tác phẩm "nghiên cứu

về lịch sử một cách diễn giải" đã ví cuộc va chạm tiếp xúc văn hoá này

nh cuộc chinh phục của ngời châu Âu với châu Mỹ thế kỷ XV[24,48]

Do sự truyền bá rộng rãi của văn hoá Hy Lạp đối với các nớc bịchinh phục mà chúng ta thờng gọi là các quốc gia Hy Lạp hoá, thời kỳ HyLạp hoá kéo dài từ năm 334 (TCN) - 30 (TCN)

2.2.2 Các giai đoạn phát triển chính của lịch sử La Mã

Lịch sử La Mã cổ đại bắt đầu từ năm 753 trớc công nguyên khithành La Mã đợc xây dựng và kết thúc vào năm 476 khi đế quốc La Mãsụp đổ vì sự tấn công của ngời Giéc manh

Quá trình lịch sử La Mã cổ đại có thể chia làm ba thời kỳ

+ Thời kỳ vơng chính (793 - 510 TCN)

Đây là thời mạt kỳ của chế độ thị tộc La Mã Một nhà nớc đã phôithai ra đời ở trong thời kỳ này La Mã bắt đầu ở ngỡng cửa của nền vănminh Engghen đã từng nhận xét rằng "những hào sâu xung quanh thành

là mồ chôn chế độ thị tộc và những vọng gác của thành đã dựng lên sừngsững trong thời đại văn minh" [28,140] (vì năm 753 thành La Mã đợc xâydựng) Với việc phát hiện và sử dụng ngày càng nhiều công cụ sản xuấtbằng kim loại, vơng quốc - thành La Mã trở nên phồn vinh về kinh tế, đặcbiệt là nông nghiệp, vì vậy thành La Mã còn có tên gọi là "thành muônthủa"

Lúc đầu La Mã chỉ là một thành thị nhỏ bé với ba bộ lạc ngời LaTinh c trú, nhng quyền cai trị sau lại rơi vào tay ngời Etrusque từ Tiểu á

di c tới Ngoài vua (Rex) - thực chất là tù trởng của liên minh bộ lạc và làthủ lĩnh quân sự, tổ chức Nhà nớc có viện nguyên lão và đại hội nhân dân.Chế độ xã hội của họ tơng tự nh của Hy Lạp vào thời đại Hôme

+ Thời kỳ cộng hoà

Không cam chịu thống trị của ngời ngoại tộc, năm 510 trớc côngnguyên, các bộ lạc La Tinh đã đuổi ngời Erusque ra khỏi La Mã, đã chấmdứt thời kỳ vơng chính và lập ra chế độ cộng hoà

Thể chế mới và quy chế công dân La Mã đã tạo điều kiện cho LaMã phát triển kinh tế mở rộng bờ cõi Đến năm 275 TCN, La Mã đã hoàntoàn làm chủ bán đảo ý

Sau đó, La Mã tiếp tục chính sách bành trớng mở rộng lãnh thổ Nótiến hành chiến tranh với Catagiơ là một đế chế hùng mạnh do ngời

Trang 29

Phênêxi thành lập rất hùng mạnh trong suốt hơn 1 thế kỷ (từ 264 - 146TCN) và cuối cùng La Mã đã chiến thắng, chiếm đợc hầu hết đất đai của

đế quốc này La Mã còn chiếm đợc nhiều đất đai ở Địa Trung Hải và châu

Âu lập thuộc địa ở Bắc Phi ở phía Đông, sau khi chiếm Suria năm 189(TCN), La Mã lần lợt chiếm Maceđônia (147 TCN) và Ai Cập (30 TCN)

Nh vậy, Địa Trung Hải vốn là "chiếc gơng soi chung của 3 châu" thì nay

đã thực sự trở thành cái "hồ lớn" của La Mã

Kinh tế La Mã trong giai đoạn này phát triển cực thịnh Chiến tranhmột mặt gây thảm hoạ cho dân lành và binh lính song cũng nhờ có chiếntranh nó đã đem về cho La Mã nhiều tiền bạc và nô lệ nh Cactagiơ phảibồi thờng 3200 Talăng bạc; 10.000 Talăng vàng, 95.000 nô lệ, Syria bồithờng 15.000 Talăng vàng (mà 1 Talăng = 26 kg vàng) Qua đó ta thấy sốvàng mà La Mã đợc bồi thờng là rất lớn Vì vậy kinh tế La Mã phát triểnnhanh chóng

Chính trị: Chế độ cộng hoà quý tộc La Mã dần dần đợc dân chủ hoá

do kết quả của cuộc chiến tranh lâu dài và bền bỉ của tầng lớp bình dânPhờ lép Hệ thống pháp luật cũng đợc hoàn thiện, đặt cơ sở cho sự pháttriển của chế độ chiếm hữu nô lệ

+ Thời kỳ đế chế (thế kỷ I - V)

Các cuộc đấu tranh chống áp bức của nô lệ, cùng với cuộc đấu tranhgiữa các phe phái chủ nô, quý tộc đã làm cho từ cuối thế kỷ I (TCN), xãhội La Mã ngày càng bất ổn, các mâu thuẫn trong xã hội ngày càng sâusắc và phức tạp Vì vậy vai trò của các tớng lĩnh đợc đề cao, khuynh hớng

sử dụng bạo lực ngày càng chiếm u thế, Đó là những tiền đề dẫn tới sựxuất hiện của chế độ độc tài Từ năm 60 TCN, Xêda, Pômpê và Cratxútlập nên "chế độ tam hùng" lần thứ nhất Với tài năng của mình Xêda ngàycàng khẳng định vị trí chính trị, ông mu toan thiết lập chế độ độc tài cánhân, nhng đến năm 49 TCN ông đã bị ám sát khi mới 58 tuổi

Nền Cộng Hoà đợc khôi phục sau khi Xêda chết vẫn không ổn định

do sự tranh chấp phe phái, Cuối cùng "chính quyền tam hùng lần thứ hai"

ở La Mã đợc hình thành với những ngời đứng đầu là ốctaviút, Ăng toan

và Lêpidơ Ba viên chấp chính chia nhau quyền thống trị đế quốc Chấpchính quan Ôctaviút ngày càng củng cố thế lực và thật sự đã trở thành mộthoàng đế dù còn khoác áo "Cộng Hoà" Từ thế kỷ I - II chế độ chiếm hữunô lệ La Mã đạt đến giai đoạn cực thịnh

Thời trị vì của Ôctaviút với các chính sách đối nội và đối ngoại đãgóp phần rất quan trọng vào sự phát triển của đế quốc La Mã, vì vậy ông

đã đợc suy tôn Auguste có nghĩa là đấng tối cao, đại đế Tới thế kỷ II,

Trang 30

lãnh thổ của đế chế La Mã đã đợc mở rộng hết mức bao gồm gần nửa lục

địa châu Âu với 60 triệu dân Ngoài ra nó còn làm chủ những vùng đất đairộng lớn ở châu Phi và Trung cận Đông

Đế quốc La Mã trong giai đoạn này có sự ổn định về chính trị,những con đờng giao thông lớn nối các vùng kinh tế quan trọng đã ra đờithúc đẩy thơng nghiệp phát triển vì vậy lái buôn của La mã đã mang hànghoá của mình đến những miền đất xa nh ấn Độ, Trung Quốc, Bắc Phi,Bắc Âu… thúc đẩy sự giao lu văn hoá giữa các vùng

Năm 395 Đế chế La Mã chia ra thành 2 Đế chế Tây La Mã đóng đô

ở La Mã, Đế chế Đông La Mã đóng đô ở Contantinốp, Đế chế Tây La Mãchấm dứt tồn tại vào năm 476, khi thủ lĩnh ngời Giecmanh là Odoater lật

đổ Rômuy luýt ô guyxtut là hoàng đế cuối cùng Đế chế Đông La Mã tồntại đến 1453 mới bị ngời Thổ tiêu diệt

2 3 Những thành tựu chính của văn minh Hy - La thời cổ

đại

2.3.1 Những thành tựu chính của văn minh Hy Lạp

Những thành tựu huy hoàng của văn minh Hy Lạp đã trở thành mẫumực và đỉnh cao của nhiều thời đại Đó là kết quả của một nền kinh tếphát triển cao Một thể chế dân chủ không bị chi phối bởi tôn giáo và sựtiếp thu một cách tinh tế những thành tựu của văn hoá phơng Đông.Thông minh và cần cù, lại đợc sống trong bầu không khí tự do dân chủ,nhân dân Hy Lạp đã sáng tạo ra nền văn minh rực rỡ trong buổi bình minhcủa nhân loại

ời Hy Lạp đã cải biến và bổ sung để tạo thành một hệ thống chữ cái mớigồm 24 chữ Từ năm 403 TCN hệ thống chữ cái này đã đợc chấp nhậnchính thức ở Aten

So với hệ thống chữ tợng hình ở phơng Đông có hàng trăm ký hiệu,hình vẽ cực kỳ phức tạp khó nhớ, thì hệ thống chữ cái Hy Lạp đã đạt đếntrình độ khái quát rất cao Chỉ với hơn 20 chữ cái, với cách ghép linh hoạt,ngời ta có thể thể hiện trên mặt giấy mọi kết quả của t duy, sáng tạo ra hệ

Trang 31

thống chữ cái này là một cống hiến vô cùng lớn lao cho nền văn hoá nhânloại của ngời Hy Lạp.

ơng đối thấp và đợc thể hiện dới những truyền thuyết, những câu chuyệnhoang đờng về giới tự nhiên, về xã hội và con ngời thần thoại cũng phản

ánh nhận thức của con ngời về thế giới xung quanh, về cuộc sống thờngnhật của con ngời Do đợc tạo dựng từ trong cuộc sống, các thần của HyLạp không phải là những lực lợng xa vời, có quyền uy tuỵêt đối nh cácthần ở phơng Đông mà là những hình tợng gần gũi với con ngời Thần của

Hy Lạp cổ đại còn có tình cảm yêu ghét vui buồn, thậm chí cũng có ukhuyết điểm nh có khi thì rộng lợng, có khi hẹp hòi, cũng đa tình, ghentuông …

Thần thoại Hy Lạp có ảnh hởng rất quan trọng đối với nền văn họcnghệ thuật Hy Lạp, vì nó cung cấp một kho đề tài và nguồn ảnh hởng chothơ, kịch, điêu khắc và hội hoạ của Hy Lạp cổ đại

Thơ

Thơ ca là thể loại văn học xuất hiện sớm và đợc ngời Hy Lạp yêuthích Hai tập anh hùng ca Iliat và ôđixê, ra đời vào khoảng thế kỷ IX -VIII (TCN) là hai tập thơ xuất hiện sớm nhất và cũng là những tác phẩmlớn nhất của thơ ca Hy Lạp Tơng truyền Hôme là tác giả của hai tập thơnổi tiếng này

Iliat và ôđixê phản ánh một thời kỳ dài của lịch sử Hy Lạp, thời kỳtan rã của xã hội thị tộc Trạng thái sinh hoạt vật chất, đời sống tinh thần

và phong tục tập quán của ngời Hy Lạp đã đợc mô tả tỉ mỉ và sinh độngtrong hai tập thơ này Vì vậy đây không những là hai tác phẩm quan trọngtrong kho tàng văn học thế giới mà còn là những tác phẩm có giá về lịch

sử, chính những t liệu chứa đựng trong hai tập thơ này đã giúp các nhà sửhọc khôi phục một thời kỳ lịch sử dài của Hy Lạp nên ngời ta đã gọi thời

kỳ này là "thời đại Hôme"

Sau Hôme, ở Hy Lạp xuất hiện các nhà thơ nổi tiếng khác mà ngời

đầu tiên phải kể đó là Hêđiốt Trong các tác phẩm của mình ông đã nóilên sự phân hoá xã hội ở Hy Lạp vào thế kỷ VII TCN, thông qua các tác

Trang 32

phẩm đó ông ca ngợi cuộc sống lao động với câu nói nổi tiếng của ông

là : "không có thứ lao động nào là nhục nhã, chỉ có ăn không ngồi rồi làxấu xa" [28,16]

Đến thế kỷ VII, VI TCN thơ trữ tình bắt đầu xuất hiện, với rất nhiềucây cổ thụ lớn mà trong đó tiêu biểu là thi sĩ Xaphô, đến đây thơ trữ tình

Hy Lạp đã đạt đến trình độ rất điêu luyện- Xaphô đã đợc gọi là nàng thơthứ mời" của thơ ca Hy Lạp sau chín nàng thơ trong thần thoại vì thơ của

bà vừa dịu dàng uyển chuyển lại có cốt cách phong nhã thanh tao

Kịch

Nghệ thuật kịch của Hy Lạp bắt nguồn từ các hình thức ca múa hoátrang trong các ngày lễ hội ở Hy Lạp kịch thờng có hai loại đá là bi kịch

và hài kịch với những nhà soạn kịch tiêu biểu là Etsin, Xôphôlơ và Ơripit

étsin (525 - 456) ông đã đợc Engghen đánh giá "Đây là cha đẻ của

bi kịch" Sự nghiệp sáng tác của ông hết sức đồ sộ 70 vở bi kịch, 20 vởhài kịch với 10 lần đạt giải nhất Trong các tác phẩm của ông, Etsin cangợi văn minh, chính nghĩa và sự tiến bộ, khẳng định sức mạnh của ý chícon ngời, biểu tợng lý tởng yêu nớc, dân chủ Với những đóng góp củamình ông đợc đánh giá là đỉnh cao của nghệ thuật bi kịch cổ đại

Nhà viết kịch vĩ đại nhất là Xôphôclơ Ông là ngời kế tục và pháttriển những thành tựu của sân khấu Hy Lạp mà Etsin đã mở đờng, ôngviết đợc 123 vở kịch Thông qua các tác phẩm của Xôphôclơ, ngời xemcảm nhận đợc sự tinh tế , nghệ thuật điêu luyện và chiều sâu triết lý của bikịch Hy Lạp Kịch của ông ca ngợi sự hài hoà và hoà bình, lòng quý trọngchế độ dân chủ và nỗi thông cảm trớc những yếu đuối của con ngời

Với những thành tựu mà kịch Hy Lạp đạt đợc Đây là dân tộc mở

đầu cho loại hình nghệ thuật này- Là ngọn nguồn của sân khấu châu Âu,với những tác phẩm nổi tiếng lại là những mẫu mực viết kịch đơng thờisau này

+ Sử học

Ngời Hy Lạp rất coi trọng sử học, đã dành cho sử một vị trí rất xứng

đáng để với mục đích chính là giáo dục con ngời trên cơ sở những kinhnghiệm của quá khứ Ngời Hy Lạp đầu tiên đã dùng văn tự để ghi chéplịch sử là Hêrôđốt, vì vậy ông đợc coi là "ngời cha của sử học phơng Tây"

ông đã để lại bộ "lịch sử cuộc chiến tranh Hy Lạp - Ba T" nổi tiếng và bộ

"lịch sử" gồm 9 tập Ông có câu nói rất nổi tiếng đó là viết sử là để "bảotồn sự tích của loài ngời để cho ngời Hy Lạp cũng nh những ai có sựnghiệp to lớn đối với đời, chết đi là vẫn lu danh muôn thuở"[28,112] Tuynhiên điều hạn chế của Hêrôđốt là trong các tác phẩm của ông có những

Trang 33

tình tiết không thật đúng với sự thật lịch sử vì ông quá tin ng ời kể chuyện

mà thiếu sự kiểm tra, đối chiếu tài liệu

Sau Hêrôđốt là Tuyxidít- ông là ngời đầu tiên trong nền sử học

ph-ơng Tây đã viết sử với tinh thần thực sự cầu thị, tác phẩm sử học củaTuyxidít là bộ "lịch sử chiến tranh Pêlôpônedơ"- trong tác phẩm sử họccủa ông, các sự kiện lịch sử đợc trình bày trên cơ sở khảo sát, nghiên cứu

và chỉnh lý các tài liệu thu nhập đợc Tuyxidit cho rằng tác phẩm lịch sửphải có tác dụng giáo dục và sử gia phải gơng cao ngọn đuốc lịch sử để h-ớng dẫn soi rọi con đờng mà loài ngời đang đi

Những tác phẩm của Tuyxidit sau này đã ảnh hởng to lớn đến nền

sử học phơng Tây cận - hiện đại

+ Nghệ thuật điều khắc, kiến trúc hội hoạ

Nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội, mợn những hình tợng,những âm thanh, những đờng nét, những màu sắc để gây cảm xúc và đểbiểu thị tình cảm và t tởng của con ngời

Về phơng diện kiến trúc, điêu khắc và hội hoạ, ngời Hy Lạp lúc đầuhọc tập ở ngời cổ Aicập và ngời Lỡng Hà, nhng trên cơ sở những thànhtựu của ngời xa, họ đã phát triển một cách sáng tạo và mạnh mẽ phongcách nghệ thuật riêng biệt của mình Vì vậy không những họ đã hấp thụ đ-

ợc những thành tựu mà ngời xa đã đạt đợc, mà họ còn cải tiến và pháttriển nó lên trình độ điêu luyện hơn, với những đại diện xuất sắc nhMirông, Phidiát, Pôlikét

Tóm lại tất cả những công trình nghệ thuật của Hy Lạp cổ đại đãbiểu diễn tài năng sáng tạo của bàn tay và khối óc con ngời Những côngtrình nghệ thuật ấy mặc dù trong giai đoạn đầu nó phục vụ cho giai cấpchủ nô, song nó bắt nguồn từ trong nhân dân, nó là những kiệt tác độcnhất vô nhị của nhân loại, đúng nh Mác đã nhận xét: "những công trìnhnày trên một phơng diện nào đó đợc coi là tiêu chuẩn và những kiểu mẫukhông thể bắt chớc đợc"[9,82]

Ngời Hy Lạp đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống về toán học,thiên văn học và triết học là Talét, ông đã tiếp thu đợc nhiều thành tựukhoa học của các quốc gia phơng Đông làm tiền đề cho các nghiên cứu

Trang 34

khoa học của mình Talét đã căn cứ vào bóng tháp ở Aicập để đo chiềucao của nó, do nắm đợc những tri thức rất sâu sắc về thiên văn học, ông đã

dự tính rất đúng nhật thực vào ngày 28-5-585 (TCN) Tuy nhiên ông đãnhận thức sai lầm về trái đất vì ông cho rằng trái đất nổi trên nớc, vòmtrời hình bán cầu úp trên mặt nớc

Thứ hai là nhà toán học Pitago cũng giống nh Talét, ông cũng đã đi

du lịch ở nhiều nớc phơng Đông vì vậy ông đã tiếp thu đợc nhiều thànhtựu toán học của những nớc đó Trên cơ sở đó ông đã phát triển thành

định lý mang tên mình về quan hệ giữa ba cạnh của một tam giác vuông

"trong một tam giác vuông, bình phơng cạnh huyền bằng tổng bình phơnghai cạnh kia" ông còn là ngời phân biệt các loại số chẵn, lẻ, số không chiahết

Acximét là một ngời rất ham mê khoa học ngay từ khi còn bé vì vậy

ông có rất nhiều đóng góp lớn đối với khoa học về lý luận và thực tiễntrong toán học, cơ học đặc biệt là về mặt lực học

+ Triết học

Trên cơ sở phát triển kinh tế và những thành tựu của khoa học tựnhiên, triết học Hy Lạp xuất hiện sớm và trở thành quê hơng của triết họcphơng Tây Trong thời kỳ đầu, triết học Hy Lạp cha tách rời với khoa học

tự nhiên, những nhà triết học đầu tiên cũng là những nhà khoa học tựnhiên, những nhà toán học, thiên văn học

Engghen đã từng nhận xét rằng : "Trong những hình thức rất khácnhau của triết học Hy Lạp, có thể tìm thấy những mầm mống, những sựxuất hiện của hầu hết tất cả những kiểu mẫu thế giới quan saunày"[26,139] ở Hy Lạp cổ đại từ rất sớm đã hình thành hai trờng phái rõrệt đó là triết học duy vật và triết học duy tâm của nó đã cống hiến chonhân loài nhiều nhà khoa học và cũng những nhà triết học nổi tiếng củathế giới

Talét (624- 548 TCN) đợc coi là "nhà toán học đầu tiên", "nhà thiênvăn học đầu tiên" và cũng là nhà triết học đều tiên, Talét cho rằng nớc lànguyên tố đầu tiên và cơ bản vũ trụ, nó vận động và tồn tại vĩnh viễn.Quan niệm triết học duy vật của ông tuy còn mộc mạc, thô sơ nhng đãchống lại quan điểm tôn giáo về nguồn gốc của vũ trụ

Tiếp theo Talét là Anaximăng đrơ, ông cũng là một đại biểu củatriết học duy vật Hy Lạp Ông cho rằng nguồn gốc của vũ trụ là vô cực, vôcực chia làm hai mặt nh khô và ớt, nóng và lạnh, rồi kết hợp với nhauphức tạp mà thành mọi vật chất nh đất, nớc, không khí, lửa … đồng thời,

ông cho rằng vũ trụ không ngừng phát triển, không ngừng hình thành,

Trang 35

không ngừng sản sinh ra những vật mới Nh vậy ông là nhà triết học quan

điểm biện chứng đầu tiên ở Hy Lạp

Hêraclit (520 - 460) đã giải quyết tơng đối đúng đắn vấn đề cơ bảncủa triết học Vấn đề vật chất và ý thức, ông cho rằng, lửa là dạng vật chất

đầu tiên Giá trị lớn lao và xuất sắc của Hêraclit là phép biện chứng về sựvận động vĩnh viễn của vật chất với những câu nói nổi tiếng: "không thểtắm 2 lần trong của một dòng sông, bởi vì nớc mới không ngừng chảy trênsông", "tất cả mọi vật đều vận động, không có cái gì tồn tại mà lại cố

định", ngay cả "mặt trời cũng mỗi ngày một mới" Và t tởng triết học củaHêraclit đã đợc các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đánh giá rất cao

Đêmôclit (460 - 370) là nhà duy vật lớn nhất của Hy Lạp cổ đại,

ông còn giỏi về rất nhiều bộ môn khoa học khác nh toán, vật lý, y học,thiên văn học, ngôn ngữ học … vì vậy Mác và Engghen coi ông là "bộ ócbách khoa đầu tiên trong số những ngời Hy Lạp"

Ông cho rằng nguyên tố đầu tiên tạo thành vạn vật là nguyên tử(atom) Nguyên tử là đơn vị nhỏ nhất không thể phân chia đợc nữa Tất cảcác nguyên tử đến nay đều giống nhau nhng khác nhau về hình dáng, khốilợng và trật tự, ngay cả linh hồn cũng do các nguyên tử kết hợp với nhau

mà tạo thành Nh vậy, không phải là thần mà là tự nhiên trở thành cơ sởphát triển của vũ trụ Do vậy ông đã từng tuyên bố rằng "tìm đợc sự giảithích bằng mối liên hệ nhân quả còn thích hơn là giành đợc ngôi vua nớc

Do đứng trên quan điểm duy tâm, nên Xôcrát phủ nhận khoa học tựnhiên, mà theo ông chỉ có tranh luận không ngừng và chỉ có phơng phápvấn đáp mới đa con ngời ta tới chân lý Vì vậy ông không để lại một tácphẩm nào cho đời sau

Platôn (427 - 347) là học trò của Xôcrát Ông là ngời đầu tiên nêulên một cách có hệ thống những quan điểm triết học của mình Platon chorằng trong vũ trụ chỉ có những cái gọi là "ý nịch" là vĩnh viễn, bất biến,còn tất cả những cái phản ánh không trung thành những "ý niệm" đó màthôi Ông là ngời bênh vực giới quý tộc chủ nô vì vậy ông cho rằng chế độnô lệ là một trật tự tự nhiên, nhng ông lại là ngời cho rằng phụ nữ có trí

Trang 36

tuệ ngang nam giới vì thế họ hoàn toàn bình đẳng với đàn ông về quyềnlợi và nghĩa vụ

Đại biểu xuất sắc nhất của Hy Lạp cổ đại là Arixtốt Ông là mộthọc giả uyên bác trên rất nhiều lĩnh vực nh toán học, vật lý học, sinh học,

y học, sử học …

Chính những thành tựu trên, những nhà sáng lập chủ nghĩa Mác Lênin rất coi trọng triết học cổ đại Hy Lạp và cho rằng triết học Hy Lạp

-đã bao hàm cả các kiểu của thế giới quan sau này

Tóm lại văn minh Hy Lạp là tổng hợp các thành tựu, biểu hiện trithức và tài năng sáng tạo tuyệt vời của loài ngời thời cổ đại.Vì vậy vănminh Hy Lạp chiếm địa vị rất quan trọng trong kho tàng văn minh thếgiới, vừa là đỉnh cao của các nền văn minh thời cổ đại, vừa là mẫu mựcquý báu cho các thế hệ sau Có đợc những thành tựu đó là do văn minh

Hy Lạp đã biết tiếp thu có chọn lọc những thành tựu của văn minh ph ơng

Đông qua các con đờng tiếp xúc khác nhau để làm mới mình, để có đợcnhững thành tựu rực rỡ nh chúng ta đã biết

2.3.2 Những thành tựu của văn minh La Mã

Ra đời sau nhiều nền văn minh rực rỡ khác trên thế giới, nền vănminh La Mã có may mắn thừa hởng những thành quả của các nền vănminh trớc đó Bằng nhiều con đờng văn minh La Mã đã thu nhận vàotrong nó nhiều giá trị lớn, từ thực tế chính trị, phát triển kinh tế tới giao luvăn hoá Chính vì lẽ đó, văn hoá La Mã cổ xa có sự hỗn dung và đôi khi là

sự bắt chớc của các nền văn minh khác, trong đó văn minh Hy Lạp chiếm

vị trí lớn hơn cả Vì vậy văn minh La Mã có mối quan hệ mật thiết với vănminh Hy Lạp, Một nhà thơ thời đó đã từng viết "ngời Hy Lạp bị ngời LaMã chinh phục, nhng ngời bị chinh phục ấy lại chinh phục trở lại kẻ đichinh phục mình"[10,123] Văn hoá nghệ thuật Hy Lạp tràn sang đất LaTinh hoang dã, nhng không chỉ kế thừa một cách đơn tuần, thụ động, trêncơ sở những gì đã tiếp thu đợc, ngời La Mã đã sáng tạo ra nền văn minh

độc đáo và truyền bá nó cùng với văn minh Hy Lạp ở khắp lãnh thổ rộnglớn

+ Chữ viết

Theo nhiều nguồn tài liệu thì cho rằng ngời La Mã có chữ viết vàokhoảng thế kỷ VI (TCN) đó là chữ La Tinh có nguồn gốc từ văn tự HyLạp, ngời La Mã đã bổ sung vào đó một vài nét mới Từ thế kỷ II (TCN),ngời La Mã đã chinh phục đợc Hy Lạp Đợc tiếp xúc trực tiếp với nhữngthành tựu của văn minh Hy Lạp, trong đó có chữ viết Vì vậy hệ thống chữ

Trang 37

cái La Tinh ngày càng hoàn thiện bổ sung thêm nhiều chữ cái mới, đã đợctinh gọn.

Với hệ thống chữ viết đơn giản và tịên lợi, tiếng La Tinh ngày càng

đợc phổ biến và đợc sử dụng rộng rãi ở các nớc thuộc đế quốc La Mã Nócũng là nguồn gốc của nhiều ngôn ngữ châu Âu hiện đại nh tiếng Italia,TBN, BĐN, Pháp …

+ Văn học

Văn học là lĩnh vực chịu ảnh hởng rõ rệt của văn minh Hy Lạp Mộtngời La Mã xem là thực sự có học chỉ khi nào am hiểu tiếng Hy Lạp nhtiếng mẹ đẻ Tuy nhiên, phần sáng tạo của các văn nghệ sĩ La Mã thời cổ

đại là rất đáng kể đã thể hiện đợc tài năng của họ

Thơ là lĩnh vực văn học chiếm vị trí nổi bật, trong đó đáng kể nhất

là thơ trữ tình, vào thế kỷ III (TCN) bản trờng ca nổi tiếng là Ôđixê củaHôme (Hy Lạp) đã đợc ngời La mã dịch ra tiếng La Tinh Từ đó các tácphẩm thơ ca của các tác giả Hy Lạp đã xuất hiện ngày một nhiều và có

ảnh hởng lớn trong nền văn học La Mã

Về nghệ thuật thi ca thì một mặt La Mã cũng chịu ảnh hởng của HyLạp, nhng mặt khác thì La Mã đã tạo ra đợc nét riêng của mình với nhiềutên tuổi lớn mà tiêu biểu đó chính là Hôratiut, tác phẩm nổi tiếng của ông

là "th văn vần gửi cho các ngời họ Pixô" chính bằng tác phẩm này,Hôratiút đã có đóng góp quan trọng về lý luận thơ ca, cả về nội dung t t-ởng lẫn hình thức nghệ thuật Chính tác giả ngay từ đầu đã cảm nhận đợc

điều đó "tôi dựng lên đài kỷ niệm, vững bền hơn đồng, cao hơn kim tựtháp của nhà vua"

Về kịch

Đây là thể loại văn học có nhiều thành công nhất ở thời kỳ nền vănminh Hy Lạp nảy nở và phát triển Gắn liền với tên tuổi của nhiều kịch tácgia mà sau đó tên tuổi đợc cả châu Âu đều biết đến

Ngời đầu tiên đó là Plôut (254 - 184 TCN) đợc coi là một trongnhững tác giả kịch bản nổi tiếng nhất thời kỳ này Mảng để tài mà ông th-ờng viết đó là hài kịch, các tác phẩm còn lại và có giá trị của ông là "anh

em nhà Mê nếch mơ", "những ngời bị cầm giữ" và "nồi đựng vàng"

ở nửa đầu thế kỷ II (TCN) trên văn đàn La Mã xuất hiện nhà hàikịch lớn là Têrentiút Vốn là một ngời Cactagiơ (một thành bang ngờiPhênêxi lập nên), bị bắt về La Mã làm nô lệ từ nhỏ sau đó đ ợc giải phóng

và đợc học hành Ông trở thành ngời viết kịch nổi danh với câu châmngôn đợc rất nhiều ngời biết đến: "Tôi là con ngời, đối với tôi chẳng cócái gì của con ngời là xa lạ cả" Các tác phẩm của ông sau này có ảnh h-

Trang 38

ởng lớn tới nhà viết kịch Anh vĩ đại thời phục hng là Sêchpia và kịch châu

Âu hiện đại

Nhìn chung, nền văn học La Mã cổ đại, mặc dù chịu ảnh hởng củavăn học Hy Lạp, song đã phát triển rực rỡ với nhiều loại hình, góp phầnxứng đáng vào cuộc phát triển của văn hoá La Mã cổ xa

+ Sử học

Cùng với sự nảy nở của văn học, nền sử học cũng có nhiều thànhcông lớn với những công trình có giá trị

Vào cuối thế kỷ III , đầu thế kỷ II (TCN), nhà sử học Phabilút là

ng-ời mở đầu cho việc viết sử La Mã nhng ông viết bằng tiếng Hy Lạp vàphải bắt đầu từ Catơn (234- 149 TCN) thì lịch sử La Mã đợc viết bằngtiếng La Tinh…

Nhà sử học nổi tiếng ở thế kỷ II (TCN) là Pôlibiut (205 - 125 TCN)

là tác giả của bộ thông sử gồm 40 tập Trong tác phẩm này ông đã rất chú

ý phân tích mối quan hệ mật thiết và tác động qua lại giữa các vùng vàcác quốc gia, mặt khác ông đã rất chú ý đến tính chính xác của sự kiện,coi việc tìm hiểu nguyên nhân các biến cố và hiện tợng là nhiệm vụ quantrọng nhất của sử học Ông cho rằng "việc nghiên cứu lịch sử chỉ bổ íchkhi nào ta bổ sung những câu chuyện đó bằng việc trình bày nhữngnguyên nhân của các sự kiện."

Ngoài ra còn rất nhiều đại diện tiêu biểu khác

Tóm lại nền sử học La Mã với những cây đại thụ lớn kể trên, mặc

dù đã phải trải qua một thời kỳ tiếp thu, hình thành và phát triển lâu dài.Nhng nó đã tạo dựng đợc rất nhiều thành tựu với những nét riêng củamình đóng góp vào sự phát triển chung của nền sử học thế giới

+ Nghệ thuật điêu khắc, kiến trúc, hội hoạ

Trên lĩnh vực nghệ thuật ngời La Mã chịu ảnh hởng của ngời HyLạp Tuy nhiên với tài năng và sức sáng tạo của mình, thì họ đã làm chonền nghệ thuật thời cổ xa ấy xứng đáng có vị trí trong văn minh La Mã

Về nghệ thuật điêu khắc: Ngời La Mã rất chú trọng đến tính hiện

thực trong các tác phẩm điêu khắc của mình, trong khi ngời Hy Lạp lý ởng hoá chủ thể của họ, thì ngời La Mã lại cố gắng nắm bắt cá tính cơ bảncủa mỗi đối tợng Chẳng hạn tham vọng của Xêda đợc phản ánh trong g-

t-ơng mặt mạnh mẽ và đầy tự tin của ông hay trí tuệ, tính nhạy cảm lại lộ rõqua nét mặt của Hadrian

Về nghệ thuật kiến trúc : cũng chịu ảnh hởng của Hy Lạp và phát

triển mạnh nhất vào những năm cuối thế kỷ trớc công nguyên, khi mà đếquốc La Mã trở nên hùng mạnh

Ngày đăng: 19/12/2013, 14:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Amanach: Nền văn minh thế giới, NXB Văn hoá - Thông tin, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nền văn minh thế giới
Nhà XB: NXB Văn hoá - Thông tin
2. Đặng Đức An. Lịch sử thế giới trung đại, NXB GD, 1978 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thế giới trung đại
Nhà XB: NXB GD
3. Crane Brilon. Văn minh phơng Tây, NXB Văn hoá- Thông tin, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn minh phơng Tây
Nhà XB: NXB Văn hoá- Thông tin
4. Will Dmant: Lịch sử văn minh ả rập, NXB Văn hoá - Thông tin, HN, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn minh ả rập
Nhà XB: NXB Văn hoá - Thông tin
5. Will Dmant: Lịch sử văn minh ấn Độ, NXB Văn hoá - Thông tin, HN, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn minh ấn Độ
Nhà XB: NXB Văn hoá - Thông tin
6. Nguyễn Tấn Đắc: Văn hoá ấn Độ, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá ấn Độ
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ Chí Minh
7. Đỗ Thu Hà: ảnh hởng của văn hoá ấn Độ đối với châu Âu, Tạp chí nghiên cứu châu Âu, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ảnh hởng của văn hoá ấn Độ đối với châu Âu
8. Đỗ Thu Hà: ảnh hởng của châu Âu đối với sự hiện đại hoá của văn hoá ấn Độ, Tạp chí nghiên cứu châu Âu, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ảnh hởng của châu Âu đối với sự hiện đại hoá của văn hoá ấn "Độ
9. Đỗ Đình Hãng, Đinh Trung Kiên: Văn minh Hy Lạp La Mã, NXB Quân đội nh©n d©n, HN, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn minh Hy Lạp La Mã
Nhà XB: NXB Quân đội nh©n d©n
10. Lê Phụng Hoàng: Lịch sử văn minh thế giới, NXB GD HN, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn minh thế giới
Nhà XB: NXB GD HN
11. Nguyễn Quốc Hùng: Những nền văn minh rực rỡ cổ xa, NXB Quân đội nh©n d©n, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nền văn minh rực rỡ cổ xa
Nhà XB: NXB Quân đội nh©n d©n
12. Nguyễn Thừa Hỷ: Tìm hiểu văn hoá ấn Độ, NXB Văn hoá, Hà nội, 1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu văn hoá ấn Độ
Nhà XB: NXB Văn hoá
13. Thẩm Kịch: 10 đại hoàng đế thế giới, NXB Văn hoá - Thông tin, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 10 đại hoàng đế thế giới
Nhà XB: NXB Văn hoá - Thông tin
14. Vơng Xuân Dai- Dơng Vũ Quang: 100 sự kịch ảnh hởng lịch sử thế giới, NXB Hà nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 100 sự kịch ảnh hởng lịch sử thế giới
Nhà XB: NXB Hà nội
15. Vũ Dơng Minh (CB): Một số chuyên đề lịch sử thế giới, NXB Đại học Quèc gia, HN, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số chuyên đề lịch sử thế giới
Nhà XB: NXB Đại học Quèc gia
16. Vũ Dơng Minh (CB), Phan Văn Ban, Nguyễn Công Khanh, Đinh Trung Kiên: Lịch sử ấn Độ, NXB Giáo dục, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử ấn Độ
Nhà XB: NXB Giáo dục
17. Vũ Dơng Ninh: Lịch sử văn minh thế giới, NXB Giáo dục, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn minh thế giới
Nhà XB: NXB Giáo dục
18. Lơng Ninh, Nguyễn Gia Phu, Đinh Ngọc Bản: Lịch sử Văn hoá thế giới, NXB Giáo dục, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Văn hoá thế giới
Nhà XB: NXB Giáo dục
19. Lơng Ninh: Lịch sử Văn hoá thế giới cổ - trung đại, NXB Giáo dục, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Văn hoá thế giới cổ - trung đại
Nhà XB: NXB Giáo dục
20. Ja Waharlal Nêhru: Phát hiện ấn Độ (tập 1), NXB Văn hoá - Thông tin, Hà Nội, 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát hiện ấn Độ
Nhà XB: NXB Văn hoá - Thông tin

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w