1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quá trình thực hiện chính sách ruộng đất ở thanh hóa từ sau cách mạng tháng tám 1945 đến 1975

124 588 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quá trình thực hiện chính sách ruộng đất ở Thanh Hóa từ sau Cách mạng Tháng Tám đến 1957
Trường học Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Nghiên cứu lịch sử
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 558,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính sách ruộng đất đợc thực hiện có hiệu quả và đã động viên sự đóng góp rất lớn của nhân dân tỉnh Thanh.. Kết quả của công cuộc cải cách ruộng đất đã làm cho ngời nông dân thực hiện đ

Trang 1

Mở Đầu

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Ruộng đất là t liệu sản xuất hết sức quan trọng của nền sản xuất nông

nghiệp Bất kỳ ở một nớc nào có phát triển nông nghiệp đều phải quan tâm đến ruộng đất với những mức độ khác nhau, tuỳ thuộc vào điều kiện lịch sử và quan

điểm giai cấp

Việt Nam là một nớc nông nghiệp, trên 80% c dân sống bằng nghề nông

Từ buổi sơ khai, các c dân nông nghiệp đã quan tâm đến việc bảo vệ đất đai khỏi sự xâm hại của các làng khác Trong suốt quá trình phát triển kể từ khi nớc

ta bớc sang thời kỳ phong kiến độc lập tự chủ, các vơng triều phong kiến đã rất chú trọng đến vấn đề ruộng đất, một phần là để giải quyết vấn đề "niêu cơm" của bộ máy quan liêu nhng quan trọng hơn cả là nhằm giải quyết tận gốc vấn đề

ổn định xã hội, tức cũng có nghĩa ruộng đất liên quan đến sự sống còn của vơng triều

Khi thực dân Pháp đặt ách đô hộ lên nớc ta, chúng đã cấu kết với giai cấp phong kiến chiếm đoạt đất đai phục vụ vào mục đích khai thác Ngời nông dân Việt Nam bị cớp đoạt ruộng đất không có cơ sở sinh sống đã bị đẩy vào bớc đ-ờng bần cùng hoá Họ trở thành nguồn nhân công rẻ mạt cho thực dân Pháp Hơn bao giờ hết, khát vọng có mảnh đất sinh cơ lập nghiệp gắn liền với khát vọng độc lập trở nên bức thiết đối với nông dân

1.2 Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời nhằm đem lại những quyền lợi

chính đáng cho giai cấp công nhân và đông đảo quần chúng nông dân Trong

c-ơng lĩnh ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là "t sản dân quyền cách mệnh và thổ địa cách mệnh" Nhiệm

vụ phản đế đợc giơng cao nhằm thực hiện độc lập dân tộc, nhiệm vụ phản phong đợc thực hiện ở mức độ nhất định Đờng lối đúng đắn đó đã tập hợp đông

Trang 2

đảo quần chúng nhân dân lao động làm nên sự thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám.

Cách mạng Tháng Tám thành công, Nhà nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà từng bớc thực hiện khẩu hiệu "ngời cày có ruộng" nh giảm tô, giảm tức, tạm cấp ruộng đất vắng chủ cho nông dân Những biện pháp đó tạo sự tin tởng phấn khởi cho nông dân, huy động đợc nông dân đóng góp sức ngời sức của cho cuộc kháng chiến chống Pháp

Tháng 12/1953, Luật cải cách ruộng đất đợc thông qua và thực hiện ở toàn miền Bắc nhằm củng cố sức dân tập trung cho cuộc kháng chiến Sau khi hoà bình lập lại công cuộc cải cách ruộng đất đợc tiếp tục nhằm thực hiện triệt

để khẩu hiệu "ngời cày có ruộng" Đến năm 1957, công cuộc cải cách ruộng

đất hoàn thành với những thắng lợi cơ bản Ngời nông dân đã xác lập vai trò làm chủ cả về kinh tế và chính trị, ớc mơ ngàn đời của họ là có ruộng để cày đã trở thành hiện thực

1.3 Trong lịch sử chống ngoại xâm nói chung cũng nh trong kháng chiến

chống Pháp, Thanh Hoá luôn giữ vai trò là hậu phơng lớn Chính sách ruộng đất

đợc thực hiện có hiệu quả và đã động viên sự đóng góp rất lớn của nhân dân tỉnh Thanh Thanh Hoá cũng là một trong hai tỉnh thực hiện cải cách ruộng đất

đầu tiên ở miền Bắc (sau Thái Nguyên) trong phạm vi tơng đối rộng với những thắng lợi và hạn chế nhất định Kết quả của công cuộc cải cách ruộng đất đã làm cho ngời nông dân thực hiện đợc ớc mơ ngàn đời của họ là có đợc mảnh đất

để sinh cơ lập nghiệp, bộ mặt nông thôn Thanh Hoá thay đổi một cách căn bản, ngời dân Thanh Hoá đã tích cực đóng góp tài lực vật lực cho cuộc kháng chiến chống Pháp

Nh vậy, Thanh Hoá là một tỉnh có vị trí khá quan trọng trong quá trình thực hiện chính sách ruộng đất ở nớc ta, hiệu quả của việc thực thi chính sách ruộng đất

ở Thanh Hoá đã góp phần quan trọng làm nên thắng lợi của kháng chiến chống Pháp - tiêu biểu là thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ

Trang 3

Nghiên cứu quá trình thực hiện chính sách ruộng đất ở Thanh Hoá từ sau Cách mạng Tháng Tám đến 1957 ta sẽ hiểu rõ hơn mối quan hệ trong giải quyết vấn đề dân tộc và dân chủ ở nớc ta Qua đó, ta rút ra đợc những bài học kinh nghiệm đóng góp thiết thực vào sự nghiệp đổi mới nông thôn hiện nay trong phạm vi tỉnh nhà cũng nh trên cả nớc

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề ruộng đất trong cách mạng dân tộc dân chủ Việt Nam đã đợc nhiều học giả nghiên cứu Có thể kể đến các tác phẩm chủ yếu sau: "Vấn đề

dân cày " của Qua Ninh và Vân Đình, "Nông dân và nông thôn trong lịch sử Việt Nam" tập 1 và tập 2 của Viện Sử học, "Phác qua tình hình ruộng đất và nông dân trớc Cách mạng Tháng Tám" của Nguyễn Kiên Giang

ở những tác phẩm trên các tác giả đã phản ánh tình trạng thiếu ruộng cày

và gánh nặng su thuế mà ngời nông dân phải chịu đựng

Tác giả Qua Ninh và Vân Đình trong "Vấn đề dân cày" đã phản ánh khá

cụ thể tình hình của ngời nông dân Việt Nam trớc Cách mạng Tháng Tám trên cả ba miền với tình trạng thiếu ruộng canh tác do nạn kiêm tinh ruộng đất của phong kiến và thực dân; tình trạng bóc lột tô cao thuế nặng, tình trạng cho vay nặng lãi và hối lộ, bên cạnh đó thiên tai gây lũ lụt cũng làm cho tình cảnh ngời nông dân thêm khốn đốn

"Cách mạng ruộng đất ở Việt Nam" của tập thể tác giả ở Viện Kinh tế

do Trần Phơng chủ biên là công trình nghiên cứu tơng đối công phu về cuộc cách mạng phản phong ở nớc ta Các tác giả cũng đã phác họa một cách cơ bản tình hình ruộng đất ở nớc ta trớc năm 1945, trong đó tập trung làm rõ tình trạng thiếu ruộng của ngời dân, tác phẩm cũng đã đi sâu nghiên cứu về quá trình thực hiện chính sách ruộng đất của nhà nớc ở các tỉnh miền Bắc từ 1945 cho đến hết cải cách ruộng đất và sửa sai cũng nh chính sách ruộng đất ở miền núi và ở miền Nam Các tác giả đã đánh giá một cách khách quan thành quả, hạn chế

Trang 4

cũng nh rút ra một số bài học kinh nghiệm từ quá trình thực hiện chính sách ruộng đất ở nớc ta

Tác phẩm "Đánh giá cho đúng những thắng lợi của nhiệm vụ phản

phong và những sai lầm trong cải cách ruộng đất " của Văn Phong đã đánh giá

một cách khái quát thành quả cũng nh hạn chế của cải cách ruộng đất Bên cạnh

đó có bài nghiên cứu đăng trên tạp chí nghiên cứu lịch sử của Văn Tạo "Cải

cách ruộng đất - thành quả và sai lầm " và hàng loạt các bài viết khác bàn về

thắng lợi và sai lầm của cải cách ruộng đất

Nghiên cứu về ruộng đất Thanh Hoá trớc cách mạng có thể thấy sơ lợc qua "Kinh tế nông nghiệp Đông Dơng" của Yves Henry, tác giả đã phác họa

đôi nét về tình hình sở hữu ruộng đất và tình hình sản xuất ở một số huyện trung châu, cũng có thể thấy đợc tình hình ruộng đất và nông dân trong "Địa chí

Thanh Hoá" tập 1, Địa lý và Lịch sử

Đời sống ngời nông dân Thanh Hoá trớc 1945 cũng đợc tác giả Nguyễn Kiên Giang trình bày đôi nét trong tác phẩm: "Phác qua tình hình ruộng đất và

đời sống ngời nông dân trớc Cách mạng Tháng Tám"

Quá trình thực hiện chính sách ruộng đất ở Thanh Hoá từ sau 1945 đến hết sửa sai đợc trình bày sơ lợc trong các tác phẩm "Địa chí Thanh Hoá ",

"Lịch sử Thanh Hoá " tập 2 (1930- 1945) của Ban nghiên cứu và biên soạn lịch

sử tỉnh, " Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá " tập 2(1954-1975) của Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá, "Văn kiện đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá" và lịch sử Đảng

bộ các huyện Các tác phẩm chỉ đề cập đến thời gian, phạm vi và kết quả một cách khái quát của việc thi hành các chính sách ruộng đất

Đáng chú ý là luận văn thạc sỹ "Đảng lãnh đạo thực hiện chính sách

ruộng đất ở Thanh Hoá trong kháng chiến chống Pháp"của Lê Thị Quỳnh

Nga-trờng KHXH&NV Hà Nội 2003, tác giả đã đi sâu nghiên cứu quá trình

Đảng lãnh đạo thực hiện chính sách ruộng đất ở Thanh Hoá từ sau Cách mạng Tháng Tám đến hết kháng chiến chống Pháp và rút ra một số bài học kinh

Trang 5

nghiệm từ quá trình đó Tuy nhiên, việc thi hành chính sách ruộng đất ở Thanh Hoá từ 1954-1957 thì tác giản đề cập đến trong luận văn

Nh vậy, cho đến nay cha có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống về quá trình thực hiện chính sách ruộng đất ở Thanh Hoá từ 1945 đến

1957 Chúng tôi thực hiện đề tài "Quá trình thực hiện chính sách ruộng đất

ở Thanh Hoá từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến 1957" trên cơ sở kế

thừa kết quả nghiên cứu của các công trình nói trên và cố gắng đóng góp một số kết quả nghiên cứu mới nhằm làm rõ một nội dung lịch sử quan trọng trong lịch

sử nớc ta cũng nh lịch sử tỉnh nhà Chúng tôi hy vọng luận văn sẽ bổ sung vào nguồn t liệu lịch sử địa phơng giúp cho việc giảng dạy lịch sử địa phơng ở Thanh Hoá đợc tốt hơn

3 Nhiệm vụ, đối tợng, phạm vi nghiên cứu

+ Mức độ sở hữu cũng nh phơng thức sử dụng ruộng đất của các đối tợng

sở hữu ở nông thôn Thanh Hoá trớc Cách mạng Tháng Tám

+ Sự thay đổi mức độ sở hữu ruộng đất của các đối tợng sở hữu ở nông thôn Thanh Hoá do thực hiện chính sách ruộng đất đem lại

+ Sự chuyển biến của đời sống nông dân và sự thay đổi của bộ mặt nông thôn Thanh Hoá do hiệu quả của việc thi hành chính sách ruộng đất

3.3 Phạm vi nghiên cứu

3.3.1 Phạm vi thời gian:

Luận văn nghiên cứu quá trình thực hiện chính sách ruộng đất ở tỉnh Thanh Hoá trong thời gian từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến 1957

Trang 6

3.3.2 Phạm vi không gian:

Luận văn nghiên cứu quá trình thi hành chính sách ruộng đất trên phạm

vi toàn tỉnh Thanh Hoá, tập trung ở 116 xã đã qua giảm tô và 424 xã đã cải cách ruộng đất thuộc 13 huyện trung châu đó là: Đông Sơn, Nông Cống, Hoằng Hoá, Quảng Xơng, Tĩnh Gia, Nga Sơn, Hà Trung, Thiệu Hoá, Thọ Xuân, Yên Định, Thạch Thành, Vĩnh Lộc, Hậu Lộc

4 Đóng góp của luận văn:

Khái quát một cách có hệ thống quá trình thực hiện chính sách ruộng đất của Thanh Hoá từ sau Cách mạng Tháng Tám đến 1957 Chú trọng đến hệ quả của việc thực hiện chính sách ruộng đất đối với việc làm thay đổi vị thế của ng-

ời nông dân cả về kinh tế lẫn chính trị và làm chuyển biến của nông thôn Thanh Hoá

Đánh giá một cách khách quan những hạn chế cũng nh rút ra những bài học kinh nghiệm từ quá trình thực hiện chính sách ruộng đất ở Thanh Hoá

5 Các nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu:

5.1 Các nguồn t liệu:

- Các tác phẩm nghiên cứu về vấn đề ruộng đất trong cách mạng dân tộc dân chủ Việt Nam, các công trình có đề cập về quá trình thực hiện chính sách ruộng đất ở Thanh Hoá

- Các văn bản lu trữ bao gồm: Báo cáo, Chỉ thị, Hồ sơ tổng kết của T.W

và Thanh Hoá về thực hiện chính sách ruộng đất ở Thanh Hoá Đây là nguồn tài liệu hết sức quan trọng Tuy nhiên chúng tôi có một số khó khăn khi tiếp cận nguồn t liệu này Đó là nguồn t liệu đợc lu giữ không đầy đủ, các số liệu của các nguồn lu trữ không thống nhất, có khi cùng một cơ quan nhng con số trong các văn bản chênh lệch nhau quá lớn

- Tài liệu điền dã: Nguồn t liệu này đợc ghi lại qua gặp gỡ bậc lão thành cách mạng, các vị cao niên đã tham gia, chứng kiến quá trình thực hiện chính sách ruộng đất ở Thanh Hoá

Trang 7

Nội dung chính của luận văn đợc trình bày ở 3 chơng.

Chơng 1: Khái quát tình hình ruộng đất và nông dân Thanh Hoá trớc Cách mạng Tháng Tám.

1.1 Vài nét về tỉnh Thanh Hoá

1.2 Tình hình ruộng đất và nông dân Thanh Hoá

Chơng 2: Quá trình thực hiện chính sách ruộng đất ở Thanh Hoá

Từ tháng 9 năm 1945 đến 1957

2.1 Thanh Hoá bớc đầu thực hiện chính sách ruộng đất 1945 - 1952

2.1.1 Chủ trơng của Đảng

2.1.2 Thanh Hoá bớc đầu thực hiện chính sách ruộng đất

2.2 Thanh Hoá thực hiện giảm tô (1953- 1954)

2.2.1 Chủ trơng của Đảng

2.2.2 Thanh Hoá tiến hành giảm tô

2.3 Thanh Hoá thực hiện cải cách ruộng đất (1954-1956)

2.3.1 Chủ trơng của Đảng

2.3.2 Thanh Hoá tiến hành cải cách ruộng đất

2.4 Thanh Hoá thực hiện sửa sai - hoàn thành cải cách ruộng đất.

2.4.1 Chủ trơng của Đảng

2.4.2 Thanh Hoá tiến hành sửa sai

Chơng 3: Tổng quan kết quả quá trình thực hiện chính sách

ruộng đất ở Thanh Hoá và một số bài học kinh nghiệm

3.1 Tổng quan kết quả quá trình thực hiện chính sách ruộng đất ở Thanh Hoá 3.2 Một số bài học kinh nghiệm

Trang 8

Nội dungChơng 1:

Khái quát tình hình ruộng đất và nông dân Thanh Hoá trớc cách mạng tháng Tám

1.1 Vài nét về tỉnh Thanh Hoá

1.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên.

Thanh Hoá là một tỉnh lớn nằm giữa miền Bắc và miền Trung với diện tích

tự nhiên khoảng 11.168km2 và 18.760 km2 thềm lục địa Phía bắc Thanh Hoá giáp Sơn La, Hoà Bình, Ninh Bình, nơi có dãy núi đá vôi trùng điệp đâm thẳng

ra biển Đông dài 175 km, đây cũng đợc xem là ranh giới phân định Bắc và Trung Kỳ Phía tây Thanh Hoá giáp Lào với nhiều ngọn núi cao chênh vênh nhphên dậu che chắn cho vùng đồng bằng châu thổ bên trong Phía nam Thanh Hoá cũng là dãy núi ăn tận ra biển làm địa giới giữa hai tỉnh Thanh Hoá và Nghệ an Phía đông Thanh Hoá là phần giữa vịnh Bắc Bộ dài khoảng 102 km

Điểm cực Bắc: nằm ở xã Trung Sơn huyện Quan Hoá, vĩ tuyến 22o40/ B

Điểm cực Nam: nằm ở xã Hải Thợng trên bờ biển Tĩnh Gia vĩ tuyến

Vùng trung du, miền núi chiếm 2/3 diện tích tự nhiên toàn tỉnh và là khu vực trọng yếu về an ninh quốc phòng Ba mặt bắc, tây, nam Thanh Hoá đợc bao bọc bởi rừng núi hiểm trở, ở phía bắc và nam núi đâm thẳng ra biển Vùng trung

Trang 9

du là những dãy đồi đất xen kẽ với rừng núi diện tích khoảng 500 km2 Núi đồi Thanh Hoá đợc chia làm hai hệ thống Hệ thống bắc sông Mã là núi đá vôi tiếp nối dãy Hoàng Liên Sơn và kết thúc bằng dãy Tam Điệp có độ cao giảm dần từ 1500m đến 100m Hệ thống Nam sông Mã gồm các dãy phiên thạch, sa thạch, granit, chạy từ Quan Sơn, Mờng Lát, Quan Hoá sang Nh Xuân, Tĩnh Gia.

Vùng đồi núi trung du không cao quá 40 m nằm ở địa bàn các huyện Hà Trung, Thạch Thành, Cẩm Thuỷ, Yên Định, Ngọc Lặc, Thờng Xuân, Thọ Xuân,

Nh Thanh Miền núi trung du Thanh Hoá chứa nhiều khoáng sản phục vụ cho công nghiệp khai khoáng, xi măng và phân bón

Đất đai ở khu vực trung du miền núi có khoảng 789.400 ha đợc hình thành trên đá mẹ phong hoá phục vụ cho trồng cây công nghiệp, cây ăn quả và hoa màu

Vùng đồng bằng Thanh Hoá rộng khoảng 3.100 km2 bằng 1/5 diện tích

đồng bằng Bắc Bộ và bằng 1/3 diện tích tự nhiên của toàn tỉnh Đồng bằng Thanh Hoá do phù sa của hệ thống sông Mã, sông Chu và một số hệ thống sông ngòi khác tạo thành Do sự phối hợp phù sa giữa sông và biển nên tạo thành nhiều nhóm đất khác nhau nh đất mặn, đất phù sa, đất xám v.v

Nhóm đất mặn có diện tích khoảng 8.719 ha đợc tạo bởi phù sa sông và biển thuộc địa bàn các huyện Hoằng Hoá, Quảng Xơng, Tĩnh Gia

Nhóm đất chua mặn rộng khoảng 6.698 ha ở các huyện Tĩnh Gia, Hoằng Hoá, Hậu Lộc, Quảng Xơng

Nhóm đất phù sa có diện tích 155.648 ha chiếm 79% diện tích đồng bằng thuộc các huyện Vĩnh Lộc, Thọ Xuân, Triệu Sơn, Nông Cống

Nhóm đất xám bạc màu khoảng 9.450 ha thuộc các huyện Hà Trung, Thọ Xuân, Tĩnh Gia, Vĩnh Lộc

Trên cơ sở đất đai, nhân dân Thanh Hoá đã sớm phát triển nền nông nghiệp đa dạng ngành nghề và làm cho Thanh Hoá trở thành vựa lúa của Trung Kỳ

Trang 10

Biển Thanh Hoá có diện tích khoảng 17.000-18.000 km2 gấp 1,6 lần diện tích phần đất liền Bờ biển Thanh Hoá dài 102 km có nhiều cửa lạch nh lạch Sung, lạch Trào, lạch Trờng, lạch Ghép, lạch Bạng là nơi neo đậu của tàu thuyền Vùng thềm lục địa rộng lớn có nhiều hải sản, Thanh Hoá đã khai thác tiềm năng biển để khai thác hải sản phát triển du lịch, dịch vụ

Hệ thống sông ngòi ở Thanh Hoá tơng đối dày, có thể chia thành năm hệ thống sông chính

Hệ thống sông Mã là hệ thống sông lớn nhất tỉnh Thanh: gồm có sông Mã dài 512 km chảy trên địa bàn Thanh Hoá 242 km có lu vực rộng 28.400km2

thuộc Thanh Hoá 9.000 km2 đổ ra cửa lạch Sung, lạch Trờng, lạch Hới và sông suối lớn nhỏ Trong đó có những nhánh lớn nh suối Sim, suối Quanh, suối Xia, sông Luồng, sông Lò, sông Bởi, sông Cầu, sông Chày

Hệ thống sông Chu: gồm sông Chu dài 300 km và các nhánh chính là sông Khao, sông Đằn, sông Âm, sông Chu hợp lu với sông Mã tại ngã ba Đầu Thiệu Hoá

Hệ thống sông Yên bắt nguồn từ huyện Nh Xuân, đổ ra lạch Ghép dài 89

km lu vực rộng 1.850 km2 gồm sông Nhom, sông Hoàng, sông Lý, sông Thị Long

Hệ thống sông Bạng bắt nguồn từ Nh Xuân dài 35 km chảy vào địa phận Tĩnh Gia đổ ra cửa Bạng lu vực 236 km2

Hệ thống sông ngòi Thanh Hoá không chỉ bồi đắp phù sa tạo nên đồng bằng châu thổ màu mỡ mà còn là nguồn nớc chủ yếu phục vụ sản xuất và đời sống, là hệ thống giao thông đờng thuỷ nối các vùng trong tỉnh và nối tỉnh nhà với các tỉnh bạn

Hệ thống sông ngòi Thanh Hoá cũng đã cung cấp nguồn thuỷ sản tơng đối

đồi dào cho các thế hệ c dân Thanh Hoá C dân Thanh Hoá cũng đã sớm xây dựng hệ thống đê điều để điều chế mực nớc sông ngòi, phòng chống lũ lụt, hạn hán, bảo vệ đồng ruộng mùa màng phát triển sản xuất

Trang 11

Thanh Hoá nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, khí hậu Thanh Hoá có những nét pha trộn của miền Bắc và của miền Trung nhng lại mang những nét

đặc thù riêng của Thanh Hoá

Mùa đông lạnh, khô, có sơng giá, sơng muối, ma nhiều, có gió tây khô nóng Tơng ứng với hai mùa đông hè, Thanh Hoá chịu ảnh hởng của hai mùa gió: gió bắc và đông bắc vào mùa đông, gió tây và tây nam vào mùa hè Với sự xâm nhập của khí lạnh cực đới nên vào mùa đông ở Thanh Hoá lạnh hơn các khu vực khác cùng vĩ độ Địa hình đa dạng phức tạp đã làm cho Thanh Hoá có những tiểu vùng khí hậu riêng biệt Nhiệt độ trung bình 230C-250C, lợng ma trung bình năm 1400mm- 2200mm, ma nhiều từ tháng 6 đến tháng 10, tháng 8,9 thờng xảy ra bão lụt

Nhìn chung, khí hậu Thanh Hoá vẫn có yếu tố khắc nghiệt gây không ít khó khăn cho đời sống và sản xuất nhng những yếu tố thuận lợi vẫn bao trùm cơ bản

Sự đa dạng của thiên nhiên Thanh Hoá có thể xem là hình ảnh thu nhỏ của thiên nhiên Việt Nam, nó phản ánh sự giàu có của Thanh Hoá Tỉnh Thanh có

đủ điều kiện để phát triển nền kinh tế toàn diện nhất là nền nông nghiệp đa dạng Ngoài ra, Thanh Hoá có điều kiện giao lu buôn bán với các tỉnh trong nớc

và nớc bạn Lào

1.1.2 Dân c

Thanh Hoá đợc xem là cái nôi hình thành dân tộc Việt Nam Tại núi Đọ huyện Thiệu Hoá ngời ta đã tìm thấy công cụ của thời kỳ đồ đá cũ, dấu vết của ngời cổ xa nhất cách đây 30 vạn năm ở một số địa điểm thuộc vùng Ngọc Lặc, Lang Chánh, Vĩnh Lộc đã phát hiện nhiều di vật thuộc thời kỳ đồ đá giữa Tại

Đa Bút huyện Vĩnh Lộc nhiều công cụ thời đá mới đợc tìm thấy

Hoa Lộc thuộc huyện Hậu Lộc là địa điểm mà ngời ta đã tìm thấy nhiều di tích thuộc thời kỳ đồ đồng, ở Đông Sơn nhiều di chỉ thời đồng thau đợc tìm

Trang 12

thấy Những di chỉ ấy nói lên một điều: Thanh Hoá là mảnh đất có bề dày lịch

sử và liên tục trong tiến trình lịch sử của dân tộc Việt Nam

Thanh Hoá có các dân tộc: Kinh, Mờng, Thái, Hmông, Khơ mú, Tày, Dao Mỗi dân tộc có những nét đặc thù trong đời sống nh lại chung địa bàn sinh sống

và sản xuất Đồng bào Thanh Hoá đoàn kết trong sự nghiệp đấu tranh xây dựng bảo vệ quê hơng, nhân dân sớm quai đê, đắp đập, chế ngự sông suối, phát triển nông nghiệp đa dạng, cùng với phát triển nông nghiệp đồng bào các dân tộc Thanh Hoá đã sớm khai thác lâm sản, luồng gỗ, đóng thuyền, kết bè tổ chức

đánh bắt thuỷ sản trên sông biển, đắp ô nại phát triển nghề muối

Con ngời Thanh Hoá cũng tài hoa khéo léo trong các nghề thủ công Nghề chế tác đá là nghề thủ công sớm nhất và đã đạt trình độ kỹ thuật cao với những công trình kiến trúc bằng đá Nghề đúc đồng sản sinh từ nền văn hoá Đông Sơn với những sản phẩm đồng thau có mặt trên khắp mọi miền đất nớc Nghề mộc, nghề rèn, đan lát mây tre, dệt chiếu, dệt vải đã tạo nên những sản phẩm cùng những làng nghề nổi tiếng nh: chiếu Nga Sơn, sành sứ lò Chum, bánh gai Tứ Trụ-Thọ Xuân, đồ rèn Tất Tác-Hậu Lộc

1.1.3 Truyền thống văn hoá và lịch sử

Có lịch sử phát triển lâu dài và liên tục, con ngời xứ Thanh cũng sớm tạo cho mình bản sắc văn hoá lâu đời với những nét đặc thù riêng Quá trình xây dựng và bảo vệ quê hơng, nhân dân Thanh Hoá đã tạo ra kho tàng văn học nghệ thuật dân gian tơng đối phong phú Có thể kể đến những huyền thoại về da hấu Mai an Tiêm, Từ Thức gặp Tiên, thần Độc Cớc, hòn Trống Mái và hệ thống ca dao hò vè của nhân dân, tất cả đã phản ánh rất rõ ớc mơ chinh phục thiên nhiên của con ngời xứ Thanh Ngoài ra, Thanh Hoá còn có những di tích văn hoá lịch

sử nh đền bà Triệu, cụm di tích Lam Kinh, di tích ở quê hơng chúa Trịnh cùng hàng loạt nhà thờ đợc xây dựng cùng với sự du nhập của đạo Thiên chúa Thanh Hoá cũng đợc xem là đất học, qua 188 kỳ thi đại khoa, Thanh Hoá có 6 vị trạng nguyên, 8 vị bảng nhãn, 204 tiến sỹ, hàng ngàn cử nhân tú tài Sự học đã tạo

Trang 13

nên những nhân tài xuất chúng ghi danh trong lịch sử dân tộc: Lê Văn Hu, Lê Lợi, Đào Duy Từ.

Trong lịch sử đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc, Thanh Hoá luôn giữ vị trí chiến lợc quan trọng là căn cứ hậu phơng vững chắc Điều đó đợc qui định bởi

địa thế hiểm yếu của địa hình Thanh Hoá

Trong một nghìn năm Bắc thuộc, Thanh Hoá đã đóng góp rất lớn vào trang

sử hào hùng của dân tộc

Năm 40, các thủ lĩnh Cửu Chân: Lê Thị Hoa, Đô Dơng, Chu Bá, hởng ứng khởi nghĩa Hai Bà Trng Cửa biển Thần Phù là nơi đã ghi dấu ấn của những trận quyết đấu giữa nữ tớng Lê Thị Hoa với quân lính của Mã Viện

Năm 156, Chu Đạt ngời huyện Triệu Sơn đã chiêu mộ 5000 nghĩa quân

đánh chiếm sở C Phòng giết Thái thú Đông Hán

Năm 220, anh em Triệu Thị Trinh, Triệu Quốc Đạt nổi dậy khởi nghĩa

đánh đuổi giặc Ngô

Đầu thế kỷ X, Dơng Đình Nghệ tập hợp 3.000 ngời xây dựng căn cứ tại T Phố Năm 931 Dơng Đình Nghệ đánh đuổi Lý Tiến, tiêu diệt viện binh Nam Hán chấm dứt ách đô hộ hơn một nghìn năm của ngoại bang phơng Bắc

Năm 938 từ căn cứ ái Châu, Ngô Quyền kéo quân Bắc giết Kiều Công Tiễn làm nên trận Bạch Đằng lẫy lừng trong lịch sử dân tộc

Lê Hoàn, ngời con của Thanh Hoá cùng Đinh Bộ Lĩnh thống nhất đất nớc lập nên triều Đinh và sau đó là triều Tiền Lê

Thế kỷ XII, Thanh Hoá trở thành hậu phơng vững chắc của khởi nghĩa chống quân Nguyên

Thế kỷ XV, Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1428) giành thắng lợi lập nên nhà Hậu Lê mở ra thời kỳ phục hng lần thứ hai của Đại Việt

Trong chiến tranh chống Mãn Thanh, Nguyễn Huệ chọn Thanh Hoá làm căn cứ góp phần tạo nên chiến thắng của quân ta

Trang 14

Trong phong trào Cần Vơng, các sỹ phu Thanh Hoá đã hởng ứng bằng cuộc khởi nghĩa Ba Đình (1885-1887) do Phạm Bành, Đinh Công Tráng lãnh

đạo, khởi nghĩa Hùng Lĩnh của Tống Duy Tân lãnh đạo

Qua quá trình đấu tranh xây dựng bảo vệ đất nớc, con ngời xứ Thanh đã hun đúc tôi luyện những giá trị truyền thống hết sức cao quí Đó là đoàn kết trong lao động, kiên cờng mu trí trong chống ngoại xâm, nhân hậu thuỷ chung vì nghĩa lớn

Chính con ngời Thanh Hoá đã góp phần tạo dựng nên vị thế chiến lợc trọng yếu của tỉnh nhà trong sự phát triển của dân tộc Phan Huy Chú đã nhận xét nh sau:

"Thanh Hoá mạch núi cao vút, sông lớn lợn quanh, biển ở phía Đông,

Ai Lao ở phía Tây, bắc giáp trấn Sơn Nam, nam giáp đạo Nghệ An Núi sông rất đẹp, là một chỗ có cảnh đẹp ở nơi xung yếu Vẻ non sông tốt tơi chung

đúc nên sinh ra nhiều bậc vơng tớng, khi tinh hoa tụ họp lại xảy ra nhiều bậc văn nho Đến những sản vật quí cũng khác mọi nơi Bởi vì đất thiêng thì ngời giỏi nên nảy ra những bậc phi thờng, vơng khí chung đúc xứng đáng đứng đầu cả nớc"[89:22]

1.2 Tình hình ruộng đất Thanh Hoá trớc Cách mạng Tháng Tám

Khi thực dân Pháp đặt ách đô hộ lên đất nớc ta, chúng chia nớc ta thành

ba xứ Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ Thanh Hoá thuộc Trung Kỳ nằm dới chế độ bảo hộ của thực dân Pháp Chúng xem Thanh Hoá là mảnh đất "quý hơng" ở đất Trung Kỳ

Tính đến thời điểm năm 1930, Thanh Hoá gồm 6 phủ: Thọ Xuân, Thiệu Hoá, Hà Trung, Hoằng Hoá, Tĩnh Gia, Vĩnh Lộc, 8 huyện : Nga Sơn, Nông Cống, Quảng Xơng, Đông Sơn, Thạch Thành, Cẩm Thuỷ, Yên Định, Hậu Lộc,

6 châu: Ngọc Lạc, Lang Chánh, Thờng Xuân, Nh Xuân, Quan Hoá, châu Tân Hoá sau này gọi là Bá Thớc và tỉnh lỵ Thanh Hoá

Trang 15

Về hình thức, triều đình nhà Nguyễn trực tiếp cai trị và toà Công sứ là cơ quan bảo hộ của Pháp Chính quyền thực dân cấu kết với phong kiến bóc lột nhân dân, dùng mọi thủ đoạn chiếm đoạt đất đai của nông dân đẩy nông dân vào tình trạng bần cùng.

Do những điều kiện kinh tế chính trị có biến đổi nên ruộng đất Thanh Hoá cũng có những biến chuyển qua từng giai đoạn khác nhau Vào đầu thế kỷ XX, Thanh Hoá có khoảng 454.072 mẫu ruộng đất, chỉ tính riêng ruộng thì có 298.992 mẫu ruộng số còn lại là đất, trong số ruộng nói trên thì ruộng t chiếm trên 80%

Vào năm 1915, chỉ tính 14 huyện-phủ (không kể các châu miền núi) ở Thanh Hoá, số ruộng đất có khoảng 302.752 mẫu, chia thành các hạng tốt xấu

nh sau: nhất đẳng điền là 67.199 mẫu, nhị đẳng điền có 165.569 mẫu; tam đẳng

điền có 54.911 mẫu; tứ đẳng điền khoảng 15.073 mẫu [88:784] Nếu phân theo tính chất công-t thì ruộng t có 251.848 mẫu chiếm 82% số còn lại là 50.930 mẫu ruộng công chiếm 18%

Qua những con số vừa nêu ta có thể nhận thấy: ở Thanh Hoá trớc Cách mạng Tháng Tám ruộng đất t chiếm đại bộ phận còn ruộng đất công chỉ chiếm 1/5 tổng số ruộng đất Tính đến năm 1930-1932 bình quân ruộng đất theo đầu ngời ở Thanh Hoá chỉ khoảng 0,168 ha/ngời [80:136]

Theo thống kê của Yves Henry về tình hình ruộng đất của các huyện trung châu (Thọ Xuân, Hoằng Hoá, Nông Cống, Hậu Lộc, Hà Trung, Cẩm Thuỷ, Nga Sơn, Yên Định, Thiệu Hoá, Quan Hoá, Tĩnh Gia, Đông Sơn, Thạch Thành, Quảng Xơng) thì 14 huyện có 145.000 ha cấy lúa trong đó diện tích lúa 1 vụ là 87.000 ha với năng suất từ 9-16 tạ, diện tích lúa 2 vụ 58.000 ha với năng suất 19-30 tạ, diện tích canh tác đợc là 40.260 mẫu tức 80.520 ha, diện tích bỏ hoang là 10.670 mẫu tức 21.340 ha [101:7] Tình hình chiếm hữu ruộng đất nh sau:

Trang 16

Chiếm hữu Số ngời Tỷ lệ %

Biểu 1: Chiếm hữu ruộng đất ở 14 huyện đồng bằng Thanh Hoá 1932

Nh vậy, những ngời chiếm hữu ruộng đất từ 0- 1 mẫu chiếm phần đa dân

số 65% dân số trong đó huyện cao nhất là Hoằng Hoá 80,1%, Cẩm Thuỷ và Thạch Thành dới 30%, những ngời chiếm hữu từ 1-5 mẫu chiếm 29,2%, chiếm hữu từ 5-10 mẫu chỉ có 4,7%, chiếm hữu từ 50-100 mẫu chỉ có 63 ngời 0,04%, chiếm hữu trên 100 mẫu chỉ có 4 ngời 0,002%, nếu tính những ngời chiếm hữu dới 5 mẫu thì con số lên tới 94%, điều đó nói lên mức độ nhỏ lẻ trong chiếm hữu ruộng đất ở Thanh Hoá Trong đó những ngời chiếm hữu dới 1 mẫu bao gồm tiểu địa chủ, phú nông, trung nông là chủ yếu, riêng bần cố nông thì chỉ có mảnh vờn và chút ít ruộng công

Theo Hồ sơ tổng kết cải cách ruộng đất thì trớc Cách mạng Tháng Tám, Thanh Hoá có 318.831 gia đình với 1.368.975 ngời, ruộng đất 400.089m2s5th nếu tính riêng 13 huyện qua cải cách diện tích ruộng đất là 354.863m3s, ruộng

đất tơng đối màu mỡ nhng phân bố không đều Tính chung, bình quân ruộng đất

ở Thanh Hoá thấp chỉ ở mức 5, 7 sào có địa phơng cha đầy 1sào

Các con số trên cho phép ta đa ra nhận định tổng quan rằng ruộng đất ở Thanh Hoá trớc Cách mạng tháng Tám nằm trong tình trạng chung của ruộng

đất Trung Kỳ nghĩa là hết sức manh mún, nhỏ lẻ và đi kèm với tình trạng đó là

sự phân bố không đồng đều, ngời nông dân là lực lợng lao động chủ yếu của nền kinh tế nông nghiệp nhng lại không có t liệu sản xuất cơ bản nhất là đất đai,

họ trở thành đối tợng bóc lột nặng nề của chính quyền thực dân và phong kiến

Trang 17

Căn cứ vào Hồ sơ tổng kết cải cách ruộng đất và các nguồn t liệu khác thì chúng tôi thấy cơ cấu ruộng đất Thanh Hoá trớc Cách mạng tháng Tám nh sau:

1.2.1 Ruộng đất công làng xã:

Theo Kỷ yếu hội thảo "Thanh Hoá 1802-1930" [80:136], vào năm 1930 Thanh Hoá có 50.930 mẫu ruộng đất công chiếm 18% tổng ruộng đất toàn tỉnh trong đó thực canh là 40.260 mẫu số còn lại bỏ hoang Theo điều tra trong 39 xã

đã qua cải cách ruộng đất thì có 33 xã có ruộng đất công làng xã với diện tích 5.654m2s7th chiếm tỷ lệ 18,9% tổng số ruộng đất chung của xã Ruộng đất công đợc sử dụng một cách khá linh hoạt tuỳ theo tình hình từng địa phơng Những nơi ít thì đem bán đầu cơ hoặc tổ chức làm lấy tiền cúng tế Những nơi nhiều thì sử dụng làm thân điền, chức sắc điền, phần còn lại chia theo suất

đinh nam giới từ 18 tuổi trở lên Tuy vậy, những chức sắc trong làng thờng tìm cách chiếm lấy phần ruộng tốt gần nhà và tìm mọi cách chiếm dụng ruộng công Đầu thế kỷ XX tính chung trong phạm vi toàn tỉnh Thanh Hoá, bọn cờng hào địa chủ đã chiếm 4.200 ha tức 8.400 mẫu ruộng đất công

Chúng chiếm đoạt ruộng công từ tay nông dân bằng cách đặt ra lệ những suất đinh đợc chia ruộng công thì phải nạp cho lý trởng một khoản tiền, hàng năm phải chịu su cao, thuế nặng Bần cố nông có đợc chia ruộng công thì ruộng vừa ở xa làng vừa xấu, thêm vào đó không có trâu bò cày bừa, không có tiền mua thóc giống, thiếu tiền đóng su thuế, họ lại phải bán cho địa chủ, phú nông với giá rẻ mạt Thế là ruộng công vẫn nằm trong tay những kẻ có thế lực và giàu có, còn nông dân-những ngời đợc chia ruộng thì trở về tình trạng trắng tay không có mảnh đất cắm dùi và buộc bán sức lao động một cách rẻ mạt dới thân phận tá điền

1.2.2 Ruộng đất nhà Chung

Trớc Cách mạng tháng Tám, ruộng đất nhà Chung chiếm tỷ lệ không nhiều Qua thống kê ở 39 xã thì 17 xã có ruộng đất nhà Chung với 672m7s8th chiếm tỷ lệ 2,2% tổng số ruộng đất trong xã Ruộng đất nhà Chung có nhiều

Trang 18

nguồn gốc khác nhau, hoặc là nhà Chung dùng uy thế bao chiếm đất, hoặc huy

động tài lực của giáo dân để khai thác, hoặc gây kiện tụng giữa lơng và giáo bên thua cắt đất bồi thờng cho nhà Chung quản lý và sử dụng, hoặc dùng giáo lý để

mê dụ các giáo dân cúng tiến ruộng cho nhà Chung nh một bổn phận Các xã có nhiều ruộng đất nhà Chung phải kể đến Nga Điền huyện Nga Sơn với 367m9s, Quảng Phú huyện Quảng Xơng với 118m7s 01th

Hình thức bóc lột của nhà Chung cũng tơng tự nh hình thức bóc lột của địa chủ nhng về mức độ có nặng nề và thủ đoạn bóc lột cũng tinh vi hơn bởi đợc ngụy trang dới áo khoác tôn giáo Có nơi dùng hình thức tô rẽ, có nơi thu tô

đong, có nơi lại dùng hình thức nuôi trẻ mồ côi để bóc lột nhân công Có thể lấy

Hà Vinh làm ví dụ: quanh năm luôn có khoảng 20 trẻ không cha không mẹ đợc nuôi trong nhà xứ và đợc sử dụng là lực lợng lao động quan trọng của nhà xứ Ngoài ra, nhà Chung còn sử dụng hình thức bóc lột nhân công khá phổ biến là ở xứ nào cũng để lại một số ruộng gọi là ruộng thánh, hàng năm các con chiên phải thực hiện nghĩa vụ làm ruộng thánh không công Các giáo dân phải lần lợt phân công nhau ăn cơm nhà đến làm ruộng thánh và họ gọi những ngày

đi làm đó là ngày công đức mà tất cả giáo dân đều phải đóng góp

Nhà Chung còn có một hình thức bóc lột bằng lễ mà mọi giáo dân đều phải thực hiện nghĩa vụ đóng góp Các linh mục, cha cố dùng thần quyền để bắt giáo dân đóng góp nhiều thứ lễ, lễ lớn hằng năm đóng 6 lần, mỗi lần đóng theo nhân khẩu, mỗi nhân khẩu đóng từ 20- 60 đồng tiền Đó là cha kể đến trong gia đình

có việc phải xin lễ cha nh lễ bốc mả, cầu phúc, cới xin cho con cái, đều phải lễ cho cha từ 3- 6 quan tiền, có nơi đặt ra lệ góp quỹ nuôi cha

Tất cả những thứ tô thuế đó đè nặng lên cuộc sống của giáo dân khiến họ hết sức cơ cực bần hàn Điều đáng nói là bị ràng buộc bởi giáo lý tôn giáo và bổn phận con chiên nên họ không nhận ra nguồn gốc của sự khốn cùng mà họ gánh chịu là từ đâu

1.2.3 Ruộng đồn điền

Trang 19

Khi thực dân Pháp đô hộ nớc ta chúng đã cấu kết chặt chẽ với chính quyền phong kiến tìm mọi thủ đoạn cớp đoạt ruộng đất của nông dân Thanh Hoá vốn giàu có về tài nguyên đất đai nên chính quyền thực dân rất chú ý trong việc chiếm đất lập đồn điền.

Tính chung trong thời kỳ Pháp thuộc, Thanh Hoá là tỉnh có nhiều đất ợng cho thực dân và cũng là tỉnh có nhiều đồn điền nhất Bắc Trung Kỳ Theo Nguyễn Kiên Giang, năm 1931 Thanh Hoá có 10.529 ha đất nhợng tạm thời, 6.865 ha nhợng vĩnh viễn Trên cơ sở đó Thanh Hoá là tỉnh đứng đầu về sản l-ợng thu đợc từ đồn điền Tuy nhiên, diện tích đồn điền ở Thanh Hoá thay đổi tuỳ theo từng thời kỳ: 10 năm đầu thế kỷ hình thức đồn điền đợc bắt đầu khai thác ở tỉnh Thanh nhng chỉ khoảng 3.000 ha hiệu quả kinh tế cũng cha đáng kể Năm 1927, Thanh Hoá có 15 đồn điền với diện tích 12.000 ha, năm 1928 ở Thanh Hoá có 23 đồn điền với diện tích 8.200 ha thuê 2000 nhân công làm việc ngoài ra có 15 đơn xin cấp với 6.500 ha Theo Nguyễn Thị Hạnh,từ 1920-1945,

nh-ở Thanh Hoá số đồn điền ngời Pháp có khoảng 24 đồn điền với diện tích 15.832

ha, đồn điền ngời Việt có trên 30 đồn điền với diện tích 9.870 mẫu [65:85,89] Tổng hợp từ các nguồn t liệu thì trớc Cách mạng Tháng Tám, Thanh Hoá có diện tích đất đai bị chiếm dụng để lập đồn điền là trên 27.700 ha Chủ các đồn

điền là ngời Pháp, ngoại kiều, địa chủ, t sản, cha cố, đều là những kẻ giàu có trong xã hội

Trong số các đồn điền nói trên, những đồn điền chuyên trồng lúa chủ yếu nằm ở các huyện ven biển nh Quảng Xơng, Hoằng Hoá Tổng số đồn điền trồng lúa [65: 89] là 29 đồn điền với diện tích 25.000 ha Chủ các đồn điền trồng lúa hầu hết là quan lại, địa chủ, thơng nhân, qui mô các đồn điền loại này

đều nhỏ diện tích trung bình từ 100- 200 mẫu Trong số các đồn điền trồng lúa phải kể đến đồn điền của Nguyễn Hữu Ngọc ở các xã Dân Lý, Dân Quyền, Khuyến Nông, Dân Lực, Tiến Nông thuộc huyện Nông Cống diện tích khoảng

1000 mẫu, đồn điền Hàn Thanh 500 mẫu, đồn điền Mai Lâm 600 mẫu Các chủ

Trang 20

đồn điền lúa đều tiến hành kinh doanh theo lối địa chủ tức cũng phát canh thu tô Các điền chủ bỏ vốn đầu t vào ruộng đất rồi giao cho tá điền cày cấy và nộp sản phẩm Hình thức phát canh thu tô là hình thức khai thác ruộng đất đảm bảo nhất cho lợi nhuận cho các điền chủ mặt khác nó cũng đảm bảo cho các điền chủ luôn có đợc lực lợng lao động lớn vừa ràng buộc thân phận lâu dài vừa tự do theo mùa vụ Chính vì thế hình thức phát canh thu tô đợc áp dụng rộng rãi ở các

đồn điền Thanh Hoá cũng nh ở Bắc Trung Kỳ

Các đồn điền trồng lúa ở Thanh Hoá tuy quy mô nhỏ nhng đợc khai thác triệt để khác với đồn điền trồng cà phê, mía, cam ở vùng trung du chỉ khai thác một vụ Điều đó đã làm cho Thanh Hoá trở thành vựa lúa của Trung Kỳ, năm

1937 Thanh Hoá là tỉnh duy nhất ở Trung Kỳ xuất khẩu gạo [64:34], năm 1944 các địa chủ Nguyễn Hữu Ngọc, Bát Soạn bán cho Nhật hàng trăm tấn [89:192] Các chủ đồn điền trồng cà phê phần lớn là ngời Pháp bởi họ mới biết kỹ thuật trồng cà phê Thanh Hoá có khoảng 15 đồn điền trồng cà phê với 2.000 ha chủ yếu ở các huyện Nông Cống, Triệu Sơn, Nh Xuân, Thạch Thành có thể…

kể đến đồn điền Mã Hùm, ác Nun, Ngọc Chẩm, Phúc Do, Yên Mỹ Trong các

đồn điền cà phê ngời Pháp làm chủ thầu còn lực lợng làm thuê là công nhân

ng-ời Việt với đồng lơng hết sức rẻ mạt Những ngng-ời công nhân này xuất phát từ nông dân không có ruộng, họ làm thuê theo ngày hoặc theo mùa vụ hoặc làm lâu dài theo năm Công lao động tính theo tháng chỉ có 2 đồng cùng cơm nuôi

là 4 đồng, tính theo vụ là 43 đồng Ta có thể so sánh để thấy mức độ chênh lệch

đồng lơng giữa các lực lợng lao động trong đồn điền qua dẫn chứng sau:

Cai đồn điền : 300- 400 đ/ tháng

Đốc công ngời Pháp : 120 đ/ tháng

Cai chuyên nghiệp : 12- 15 đ/ tháng

Cai công nhật : 3 hào /ngày

Phu xếp : 0,1- 0,2 đ/ngày

Phụ nữ : 10- 15 xu / ngày, 3-4,5 đ/tháng

Trang 21

Trẻ em : 5-10 xu/ngày

Qua những con số trên, ta có thể thấy đợc giá trị lao động của công nhân

đồn điền hết sức rẻ mạt, về thực chất họ cũng là thân phận tá điền làm thuê mà thôi

1.2.4 Ruộng đất của địa chủ

Tính chung trong phạm vi toàn tỉnh Thanh Hoá, địa chủ chiếm trên 3,0%

về hộ nhng chiếm gần 40% ruộng đất

Theo con thống kê của 39 xã, trớc Cách mạng tháng Tám có 714 hộ gia

đình địa chủ tỷ lệ 3,1% với số nhân khẩu 3.757 hộ tỷ lệ 4,0%; chiếm hữu diện tích ruộng đất 7.619 m5s14th tỷ lệ 25,5% tổng số ruộng đất địa phơng Trong

số ruộng đất trên thì diện tích đợc sử dụng là 567m9s11th bình quân mỗi hộ địa chủ là 2m11th, có những nơi nh xã Công Liêm bình quân cao nhất là 12m2s6th

Tỷ lệ địa chủ cao thấp ở các địa phơng không giống nhau Những nơi địa chủ chiếm tỷ lệ cao thờng là ở những xã nhiều ruộng, ruộng đất bình quân nhiều nhng lại không tập trung vào tay một số địa chủ lớn mà phân tán ra nhiều địa chủ nhỏ Xã Xuân Phong huyện Thọ Xuân bình quân tự nhiên là 4s04th, bình quân một địa chủ là là 8 mẫu Xã Hà Vinh huyện Hà Trung bình quân ruộng đất

tự nhiên là 5s14th, bình quân một địa chủ là 11 mẫu.[66:39] Hai xã nói trên tỷ

lệ địa chủ luôn chiếm 5% tổng số hộ địa phơng Có những xã ruộng đất tập trung nhiều vào tay địa chủ nhng tỷ lệ địa chủ vẫn cao, đó thờng là những nơi

có những dòng họ địa chủ lớn hình thành từ lâu đời nhằm bảo vệ ruộng đất khỏi

sự chiếm đoạt của các địa chủ nơi khác Cũng có địa phơng ruộng đất bình quân

ít nhng tỷ lệ địa chủ vẫn cao bởi có nhiều công thơng nghiệp buôn bán ruộng

đất theo lối đầu cơ có nhiều tiền tậu thêm ruộng và tiến hành phát canh thu tô

Có nhiều xã bình quân ruộng đất tự nhiên lớn nhng tập trung vào địa chủ nên tỷ

lệ địa chủ vẫn thấp: xã Công Liêm bình quân tự nhiên 4s7th nhng tỷ lệ địa chủ toàn xã có 1,5% bình quân mỗi hộ địa chủ lên tới 43m7s, xã Yên Thịnh bình

Trang 22

quân ruộng đất tự nhiên trên 4sào tỷ lệ địa chủ là 1,9% nhng địa chủ Dũng chiếm 1 ấp có diện tích 249 mẫu[66:39].

Những nơi địa chủ thấp phổ biến ở những nơi có ruộng đất ít Có thể thấy ở nhiều xã thuộc huyện Hoằng Hoá, 1 số xã thuộc huyện Thiệu Hoá, Đông Sơn bình quân ruộng đất chỉ có trên dới 2 sào nên tỷ lệ địa chủ chỉ chiếm trên dới 2%

Xét về nguồn gốc địa chủ, có các loại cơ bản sau:

Thứ nhất là con cháu của địa chủ sau khi tách hộ đợc kế thừa ruộng đất

và tài sản của cha mẹ nên tiếp tục bóc lột theo lối truyền thống

Thứ hai là các nhà công thơng, t sản có nhiều tiền đầu cơ buôn bán ruộng

đất và kinh doanh theo lối phong kiến tức phát canh thu tô, họ là địa chủ kiêm t sản

Thứ ba là các cha cố dùng quyền uy để chiếm đoạt ruộng đất trở thành

Theo số liệu của Yves Henry thì ở 14 huyện trung châu phân loại địa chủ

nh sau: chiếm hữu 1 đến 5 mẫu có 47.050 ngời chiếm 29,2% (so với số ngời có ruộng); chiếm hữu 5 đến 10 mẫu có 7.682 ngời chiếm 4,7%; chiếm hữu 10 đến

50 mẫu có 1.918 ngời tỷ lệ 1,2 %; chiếm hữu 50 đến 100 mẫu có 63 ngời tỷ lệ 0,04%; chiếm hữu >100 mẫu có 4 ngời tỷ lệ 0,002% [101:7]

Số liệu trên cho thấy các địa chủ ở Thanh Hoá phần lớn là các địa chủ nhỏ, những đại địa chủ chiếm số lợng không nhiều Có thể kể đến đại địa chủ Nguyễn Hữu Ngọc sở hữu hơn 1000 mẫu ruộng, Hà Văn Ngoạn gần 1000 mẫu,

Trang 23

Bát Soạn hơn 900 mẫu lập các đồn điền lớn ở Nông Cống, Triệu Sơn, Quảng

X-ơng

Các địa chủ sử dụng nhiều thủ đoạn và hình thức bóc lột hết sức tinh vi, trong đó hình thức bóc lột chủ yếu là bóc lột tô, bóc lột nhân công và bóc lột tức Dới đây ta có thể xem xét các hình thức cơ bản đó để thấy đợc mức độ nặng

nề của nó đối với ngời dân lao động

+ Bóc lột tô:

Theo thống kê trong 39 xã có 85 hộ chuyên phát canh chiếm tỷ lệ 11,9% tổng số địa chủ với diện tích 1.850 m3th; số hộ chuyên thuê ngời làm là 213 hộ chiếm 29,8% với diện tích 1.764m5s3th; số hộ vừa thuê ngời làm vừa phát canh

là 416 hộ chiếm tỷ lệ 58,2% với diện tích phát canh là 2.303m2s4th, diện tích thuê ngời là 2.269m8s Trong số các địa chủ nói trên có 49 hộ bóc lột trên 40 tạ, chiếm 6,8% với diện tích 605m1s2th Qua các con số trên cho thấy địa chủ ở Thanh Hoá trớc Cách mạng tháng Tám vừa phát canh vừa thu tô chiếm tỷ lệ cao 58,2% tổng số địa chủ

Trớc Cách mạng tháng Tám, địa chủ có ruộng cho phát canh thì thu tô dới hai hình thức tô rẽ hoặc tô đong

Tô rẽ: địa chủ cho tá điền cày cấy rồi rẽ đôi tai ruộng, địa chủ lấy phần

tr-ớc rồi tiến hành thu hoạch phần ruộng của mình

Tô đong: tá điền cày cấy sau khi thu hoạch thì địa chủ lấy theo số lợng, chẳng hạn một sào hàng năm thu đợc 8 thùng thóc thì địa chủ lấy 4 thùng

Mọi chi phí tá điền đều phải chịu từ đầu đến khi thu hoạch thậm chí tá

điền phải phơi khô quạt sạch đổ vào bồ cho chủ ở những trại ấp hoặc địa chủ nhà Chung thì phần lớn thu tô đồng loạt, mỗi tá điền phải đóng tô bao gồm tô thuê ruộng, tiền thóc giống, tiền phân bón và 3 lần tết cho chủ Có nơi khi tá

điền gặt lúa thì địa chủ lấy lúa bìa hoặc phải tá điền phải làm cơm cho địa chủ

"trông nom" việc gặt hái

Trang 24

Những địa chủ vừa phát canh vừa thuê ngời làm thì hình thức bóc lột có khác Chúng phát canh để lợi dụng nhân công của tá điền nên mỗi tá điền chỉ đ-

ợc nhận 1 hoặc 2 sào nhiều nhất cũng chỉ 6 sào chứ không thể nhiều hơn Tá

điền nhận ruộng của địa chủ thì ngày mùa phải làm công cho địa chủ, trên danh nghĩa là rẽ đôi tai ruộng nhng thực tế tá điền thu chẳng đợc là bao, có nơi địa chủ thu 2/3 tổng thu hoạch

Thứ hai: nuôi con nuôi để bóc lột nhân công

Tất cả các địa chủ đều nuôi con nuôi và ngời ở ít nhất là một ngời, trung bình là 5-6 ngời có địa chủ nuôi tới 12 con nuôi Chúng còn thủ đoạn nuôi con gái để bóc lột sức lao động không chỉ của ngừơi con gái mà của cả ngời chồng Công sá chúng trả hết sức rẻ mạt, nếu là con nuôi thì bỏ ra 30- 40 quan để mua, khi muốn về thì phải trả lại tiền cho chủ Đối với con ở thì trả công nhiều mức khác nhau, có địa chủ trả 15- 30 quan/năm, có địa chủ trả 50- 60 quan/năm tuỳ thuộc vào sức ngời bóc lột đợc ít hay nhiều Ngoài ra con ở còn đợc hai bộ quần

áo nâu sòng một năm

Trang 25

Dù con ở hay con nuôi đều phải làm việc hết sức vất vả, sáng dậy từ lúc 4 giờ sáng để nấu cơm, quét nhà, gánh nớc, ngày ra đồng làm việc đồng áng, đêm

về thức 12 giờ khuya xay lúa giã gạo Có thể đơn cử một ví dụ: địa chủ b Mơ ở xã Minh Châu huyện Nông Cống nuôi 12 ngời con nuôi, ngoài làm ruộng còn nuôi 15 con lợn nái làm thêm nghề hàng xáo, con ở và con nuôi đều bị vắt cạn kiệt sức lao động, ngày rằm ngày tết về thăm cha mẹ thì phải làm cho đủ ngày, cha kể bị đối xử tàn nhẫn

Một hình thức bóc lột nhân công khác của địa chủ là thuê công non Hình thức bóc lột này tơng đối phổ biến, những ngày giáp hạt địa chủ cho nông dân vay 2-3 bò gạo hoặc 5-7 bò khoai thì ngày mùa phải làm một buổi ở xã Quảng Khê huyện Quảng Xơng cứ cho vay 13 bò gạo ngày mùa thì phải cấy một mẫu ruộng hoặc cắt một mẫu rạ Hình thức bóc lột này rất có lợi cho địa chủ, địa chủ Chính ở xã Thanh Thuỷ có 11m2s, nếu thuê công ngày mùa thì phải trả 500 kg thóc dùng hình thức công non chỉ mất 100 kg nghĩa là lãi tới 5 lần, một trờng hợp khác là địa chủ Nhu hàng năm cấy 4 mẫu ruộng mà chỉ phải trả 5 đấu 8 bò

mà lẽ ra phải mất 24 đấu [66:40]

Ngoài những hình thức nói trên, địa chủ còn dùng hình thức cho nuôi bò

rẽ để kiếm cũng để lợi dụng nhân công Những địa chủ có ruộng phát canh đều

có bò cho nuôi rẽ, có tên hằng năm cho nuôi rẽ hàng trăm con và ít nhất là một con Cách bóc lột của địa chủ nh sau: cho nuôi bò gầy lấy bò béo, cho nuôi con nhỏ lấy con to, bò đẻ 3 thì lấy 2 con, địa chủ đợc lấy trớc Đấy là cha kể ng-

ời nông dân nhận nuôi bò rẽ hàng năm phải đi lễ tết địa chủ và đến vụ cả ngời lẫn bò đến làm công không cho chủ 4-5 ngày

Nh vậy, địa chủ có nhiều thủ đoạn và hình thức để bóc lột tô nhng chủ yếu

là bóc lột nhân công Hình thức bóc lột này tập trung ở tiểu và trung địa chủ, chúng đợc lợi rất lớn Đơn cử một số ví dụ: địa chủ Uẩn ở xã Xuân Phong huyện Thọ Xuân có 15 m9s, phát canh một mẫu, tính công phải làm tổng số ruộng là 1.970 công, tính công ngời ở hằng năm là 420 công, lợi dụng công và

Trang 26

thuê công non là 870 công thành 1.290 công, nh vậy số công còn lại phải thuê theo giá thị trờng là 620 công; một trờng hợp khác địa chủ Diễm ở Xuân Phong

có 11 mẫu phát canh 1m2s, tổng số công phải làm là 1.680 công tính 3 ngời ở trong năm là 360 công, lợi dụng công và thuê công non là 1.080 công, chỉ còn phải thuê theo giá thị trờng 240 công Những con số trên phản ánh một thực tế bất công là ngời nông dân phải bỏ sức lao động nhiều nhất trong nền sản xuất phong kiến nhng sức lao động của họ không mang lại lợi ích cho bản thân họ

mà phục vụ cho tầng lớp thống trị

+ Bóc lột tức:

Bên cạnh hình thức bóc lột địa tô thì bóc lột tức cũng là hình thức bóc lột nặng nề Bóc lột tức thực chất là hình thức cho vay nặng lãi, đó chính là là cái thòng lọng thít chặt thân phận ngời nông dân vào tròng của địa chủ Hình thức cho vay nặng lãi phổ biến ở mọi nơi, có xã hoàn toàn địa chủ đều cho vay nặng lãi (Quảng Khê huyện Quảng Xơng, Xuân Lộc huyện Thọ Xuân, Đông Tiến huyện Đông Sơn, Hà Bình huyện Hà Trung), có địa chủ cho vay đến năm trăm thùng lúa, thông thờng là cho vay 10 thùng thì phải trả 15 thùng, khi vay hay trả

đều phải có lễ Cứ tháng ba ngày tám, nông dân rơi vào tình trạng thiếu ăn đều phải phải vay lúa tính thành tiền, đến ngày mùa lúa hạ thì tính tiền ra lúa Địa chủ thì đợc lời, nông dân không trả đợc thì lãi chuyển thành gốc, cứ thế vụ nọ qua vụ kia, năm này qua năm khác lãi mẹ đẻ lãi con ngời nông dân ngập đầu trong cảnh nợ nần Không ít ngời rơi vào cảnh bán vợ đợ con, gạt ruộng cho địa chủ Có thể lấy trờng hợp ông Duy ở Xuân Phong để minh chứng: ông vay của

địa chủ Bắc 20 đồng, mỗi năm phải trả 5 đồng lãi, qua ba năm ông còn phải gạt

2 sào ruộng mới hết nợ; ông L ở xã Đông Tiến vay của địa chủ Giang 30 quan tiền trong 5 năm trả đợc 110 quan đến năm 1944 phải gạt con gái để trừ nợ lãi, sau này khi chuộc con gái về ông phải gạt 3 sào ruộng mới thanh toán đợc hết

nợ [66:45,46]

Trang 27

Các hình thức bóc lột trên chứng tỏ rằng giai cấp địa chủ phong kiến dùng mọi thủ đoạn, phơng thức để bóc lột nông dân Đó chính là nguồn gốc của mọi

sự cơ cực bần hàn mà nông dân phải gánh chịu

Về mặt chính trị, trớc Cách mạng tháng Tám địa chủ chiếm địa vị tuyệt đối trong nông thôn và là chỗ dựa của đế quốc Trong 37 xã có 303 trên tổng số 528

địa chủ nằm trong bộ máy thống trị chiếm tỷ lệ 57,3%, có xã có đến 90-100%

địa chủ tham gia Hầu hết chúng đều giữ vai trò quan trọng: 6 tên làm quan từ tri huyện trở lên, trên 30 tên làm chánh phó tổng, 116 tên làm chánh phó lý tr-ởng, 7 tên đi lính cho Pháp, 22 tên làm công chức cho Pháp, 120 tên giữ các chức vụ ở xã Chúng đã dùng quyền uy để đàn áp chiếm đoạt ruộng đất hoa lợi của nông dân Trong số vừa nói trên có 28 tên thuộc vào loại tay sai đắc lực nhất cho đế quốc

Đối với những vùng công giáo tập trung, địa chủ cấu kết chặt chẽ với đế quốc lợi dụng Thiên chúa giáo mê hoặc nông dân chống phá chính sách của ta một cách trắng trợn và quyết liệt

Trong 4 xã Nga Điền huyện Nga Sơn, Quảng Trờng và Quảng Phú huyện Quảng Xơng, Hà Vinh huyện Hà Trung có 47 địa chủ đều là tay chân của thực dân thì có 24 tên nằm trong tổ chức phản động Trong năm 1941-1942, địa chủ Vơng, Diệm đã đa cố đạo Pháp vào chiến khu Ngọc Trạo Chúng tuyên truyền nhằm lôi kéo nông dân chống phá cách mạng vừa chiếm đoạt của nông dân bởi giáo lý của tôn giáo và nhà thờ

Nh vậy, trớc Cách mạng tháng Tám địa chủ chiếm u thế tuyệt đối trong nông thôn cả về chính trị lẫn kinh tế Chỉ tính riêng về kinh tế chúng chỉ chiếm 3,13% tổng số hộ ở địa phơng mà chiếm gần 37,2% ruộng đất địa phơng nếu tính cả đồn điền và ruộng nhà Chung thì chúng chiếm trên 50% tổng số ruộng

đất Chính những thủ đoạn bao chiếm ruộng đất, bóc lột tô tức đã đẩy ngời nông dân vào tình cảnh bi đát

1.2.5 Ruộng đất của phú nông

Trang 28

Trong xã hội nông thôn trớc Cách mạng tháng Tám, phú nông là tầng lớp có vai vế thứ hai sau địa chủ Phú nông có nhiều ruộng đất, có đầy đủ công cụ sản xuất Họ tự lao động hoặc cũng tiến hành thuê nhân công và phát canh thu tô

Đây là bộ phận giàu có và đợc xem là biết làm ăn trong nông thôn Theo số liệu của 39 xã thì có 548 hộ phú nông chiếm 2,4% về hộ và 3,4% về nhân khẩu, chiếm hữu 2593m3s7th cộng với diện tích sử dụng thì phú nông có khoảng 2794m9s7th tỷ lệ 9,3% tổng ruộng đất địa phơng, bình quân 8s12th Tính chung trên phạm vi toàn tỉnh Thanh Hoá thì phú nông chiếm dới 3,0% về hộ nhng chiếm gần 10,0% về ruộng đất

Hình thức bóc lột của phú nông cũng tơng tự cho vay nợ lãi, cho công non, nuôi con nuôi nghĩa là cũng bóc lột theo lối phong kiến nhng chủ yếu là bóc lột nhân công phát canh thu tô rất ít chỉ khoảng vài sào Xét về mức độ bóc lột thì phú nông bớt nặng nề hơn, cách đối xử cũng khác so với địa chủ Xét về uy thế chính trị thì trên 50% tổng số phú nông tham gia bộ máy chính quyền thống trị tuy nhiên phú nông vẫn là bộ phận có tinh thần dân tộc, gần gũi với nông dân và

đi theo cách mạng khi ta biết tranh thủ, vận động họ

1.2.6 Ruộng đất và đời sống của nông dân

Trớc Cách mạng tháng Tám, nông dân lao động ở Thanh Hoá chiếm 88,6% về hộ mà chỉ chiếm 54,1% về ruộng đất [66:57] riêng bần cố nông chiếm 60,4% về hộ mà chỉ chiếm có 19,1% về ruộng đất Bình quân mỗi bần nông chỉ chiếm 1s05th, cố nông chiếm 0s07th, trung nông 3s6th Theo số liệu điều tra của 39 xã thì tình hình chiếm hữu ruộng đất của nông dân trớc năm 1945 nhsau:

Trang 29

Biểu 2: Tình hình chiếm hữu ruộng đất của nông dân 39 xã trớc 1945

Qua biểu trên ta có thể hình dung về mức độ chiếm hữu của các bộ phận nông dân Thanh Hoá Trung nông là tầng lớp đủ ruộng đất và phơng tiện sản xuất để canh tác cũng chỉ chiếm khoảng 35,0% ruộng đất của địa phơng Tuy nhiên trung nông chiếm tỷ lệ không nhiều chỉ khoảng 28,2% về hộ Bần nông là

bộ phận đông đảo chiếm 41,6% về hộ nhng chỉ chiếm 16,9% về ruộng đất Điều

đó cho thấy bần nông có rất ít ruộng đất, không chỉ thiếu ruộng họ còn thiếu nông cụ, trâu bò Cố nông chiếm 18,8% về hộ nhng chỉ có 2,2% ruộng đất nghĩa là đại bộ phận cố nông có rất ít hoặc không có ruộng cũng nh các phơng tiện sản xuất khác Theo số liệu của Địa chí Thanh Hoá thì trớc năm 1945 những ngời không có ruộng và thiếu ruộng ngày càng nhiều, trong những năm 1930- 1935 những ngời chiếm hữu 0,5 ha tức 2,5 sào chiếm 35% tổng số nhân khẩu nông nghiệp, những năm 1936-1939 số ngời chiếm hữu 0,5 ha lên tới 50% Con số trên phản ánh sinh động và cụ thể thực trạng thiếu ruộng đất trầm trọng của đại đa số nhân dân lao động ở nông thôn Thanh Hoá

Tình trạng không có ruộng đất sinh cơ lập nghiệp đã đẩy ngời nông dân vào thân phận tá điền hết sức rẻ rúng Đại bộ phận nông dân ngoài mảnh vờn nhỏ và có chăng là một chút ruộng đất công làng xã ngoài ra họ không có tài sản gì đáng giá, không có đất để sinh sống họ phải lĩnh canh ruộng đất của địa chủ Chỉ tính riêng ở xã Phúc Địa huyện Thọ Xuân có 165 mẫu ruộng thì địa chủ chiếm 2/3 số còn lại thuộc về nông dân vừa xấu vừa xa làng, năng suất kém, 1/3 nông dân trong làng rơi vào tình cảnh không mảnh đất cắm dùi Xã Quảng Khê huyện Quảng Xơng trong khi bình quân diện tích tự nhiện theo đầu ngời là 4 sào thì địa chủ bình quân 5-10 mẫu còn bần cố nông hầu nh không có ruộng Ngời nông dân phải lĩnh canh ruộng đất của địa chủ theo lối rẽ ruộng, th-ờng là rẽ đôi tai ruộng Khi nhận ruộng lĩnh canh của địa chủ, ngời nông dân phải chịu tô thuế hết sức nặng nề với những thủ đoạn bóc lột tinh vi của địa chủ

mà chúng tôi đã đề cập trong mục 1.2.5 Đó là bóc lột tô thuế, bóc lột nhân

Trang 30

công, bóc lột nợ lãi, bên cạnh đó giai cấp địa chủ cấu kết chặt chẽ với thực dân

để bóc lột ngời dân đến tận xơng tủy Ngời nông dân Thanh Hoá cũng nằm trong tình cảnh chung của nông dân Việt Nam, nghĩa là một cổ đôi ba tròng Thu nhập của tá điền không thể đảm bảo cuộc sống tối thiểu của họ chứ cha nói đến nuôi vợ con họ ở thời điểm 1930, toàn tỉnh Thanh Hoá có khoảng 145.000 ha diện tích lúa hai vụ với năng suất 80, 90 kg/sào, tức là 1.100kg thóc/

ha tơng đơng với 682 kg gạo Trong khi đó nông dân có số lợng gần 800.000 ngời, mỗi ngời chi phí tất cả mọi khoản bao gồm tô thuế, chi phí cho sản xuất, chi phí cho sinh hoạt chỉ trong 10,6 kg gạo/tháng [88:749] Lấy một ví dụ khác: một gia đình có 6 ngời có 6 mẫu tự canh, chỉ thu một vụ đợc 360 đồng sau khi trừ tất cả các khoản chi phí trong khi đó chi phí tối thiểu cho gia đình là 375

đồng

Theo số liệu của Yves Henry, một gia đình 3 ngời ở huyện Tĩnh Gia làm 4 mẫu ruộng 2 vụ trong một năm mỗi ngời phải bỏ ra 200 công, thuế ruộng lên tới

30 đồng một mẫu, thực lãi mỗi mẫu chỉ 63đ90 Nh vậy, tổng cộng 4 mẫu lãi chỉ

có 284 đồng [101:9], mức thu nhập này còn thấp hơn mức thu nhập nêu trong

Trang 31

điền thổ, sau khủng hoảng 1929-1933 đặt ra nhiều thuế mới nh thuế cử tri, thuế lợi tức, thuế nhà ngói, vô lý hơn là bắt mỗi suất đinh phải mua 7 lít rợu một năm Ngoài ra ngời nông dân còn bị ép mua quốc trái và phu phen đắp đê đắp đ-ờng không đợc trả công, nhân mở tuyến đờng sắt Thanh Hoá- Vinh nông dân Thanh Hoá bị ép mua quốc trái sau đó thì bị chiếm đoạt.

Cùng với gánh nặng su thuế, ngời dân còn khốn quẫn vì mất mùa do thiên tai Tình trạng chiêm khê mùa úng, nợ nần và đói kém dờng nh là thảm cảnh diễn ra liên miên của ngời dân Thanh Hoá trong chế độ thực dân phong kiến Những năm 1903, 1907, 1911, 1916, nạn đói diễn ra trầm trọng trên phạm vi toàn tỉnh Năm 1926 chỉ riêng phủ Thiệu Hoá có 300 ngời chết đói, năm 1927 trong khi Thanh Hoá xuất khẩu 3.000 tấn gạo thì nông dân vẫn chịu cảnh đói kém Năm 1937, Thanh Hoá là tỉnh duy nhất ở Trung Kỳ xuất khẩu gạo trong khi ngời nông dân vẫn trong tình cảnh túng kém Năm 1944, kho thóc của Bát Soạn, Hữu Ngọc có hàng trăm tấn để bán cho Nhật, kho thóc của Xếp Nghĩa cũng nhiều tới hàng ngàn tấn thì ngời nông dân rơi vào tình trạng chết đói Năm

1945, cả nớc có trên hai triệu dân chết đói thì Thanh Hoá cũng chiếm số lợng không nhỏ Bên cạnh nỗi khổ kinh tế, ngời nông dân chịu cảnh mù chữ, trên 90% dân số Thanh Hoá mù chữ thì chủ yếu là nông dân, cứ một vạn dân có 52 ngời đi học thì hầu hết là con nhà giàu bao gồm con địa chủ, phú nông, t sản.v.v Xét về mặt chính trị thì ngời nông dân không có vị trí tơng xứng với vai trò của họ, họ bị đẩy xuống thân phận tôi đòi - đầy tớ thấp kém nhất trong đáy cùng của xã hội

Những điều nói trên cho thấy rằng: quần chúng nhân dân là những lực lợng sản xuất chủ yếu ở nông thôn nhng kết quả lao động lại bị giai cấp phong kiến

và thực dân chiếm đoạt và đẩy họ vào tình trạng bần cùng không lối thoát Ngời nông dân Thanh Hoá đã nhiều lần nổi dậy chống lại địa chủ và thực dân mu cầu có đợc quyền lợi chính đáng của giai cấp mình

Trang 32

Từ khi Đảng bộ Đảng Cộng sản Thanh Hoá ra đời (7/1930), phong trào đấu tranh của nông dân diễn ra mạnh mẽ

Năm 1937, nông dân ở các huyện tích cực tham gia Hội ái hữu nhằm đoàn kết đấu tranh và bảo vệ quyền lợi chung Tháng 3/ 1937, nông dân huyện Thiệu Hoá chống phá hoa màu và 300 quần chúng nông dân kéo lên huyện đờng để phản đối quỵt tiền công đắp đê, tri huyện đã phải trả tiền cho nông dân Năm

1938, phong trào đấu tranh đòi giảm thuế, khất thuế, bỏ thuế diễn ra ở khắp các huyện trung châu: Thọ Xuân, Thiệu Hoá, Vĩnh Lộc, Yên Định Giữa năm 1938, nông dân Thanh Hoá tham gia biểu tình lấy chữ ký, bản kiến nghị gửi phủ Toàn quyền, Viện Dân biểu Trung Kỳ đòi bác bỏ thuế thân và thuế điền thổ của triều

đình Từ năm 1936-1938, Thanh Hoá có 1.739 ngời và 47 lá đơn của các làng gửi Phủ Toàn quyền đòi giảm thuế

Năm 1939, nông dân xã Cẩm Bào huyện Nông Cống chống tri phủ cấu kết với nhà Chung cớp đất làm nhà thờ

Tháng 6/1941, phong trào chống thuế của nông dân Thanh Hoá diễn ra rầm rộ, khắp nơi trong tỉnh ngời dân tích cực tham gia khất thuế, miễn thuế và kết hợp với bảo vệ cách mạng ở các làng Linh Ngoại, Phong Cốc, Diên Hào-Thọ Xuân số thuế đấu tranh đợc đợc góp toàn bộ để mua sắm vũ khí Trong thời

kỳ tiền khởi nghĩa, nông dân Thanh Hoá hởng ứng phong trào phá kho thóc Nhật để cứu đói

Phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân dới sự lãnh đạo Đảng bộ

Đảng Cộng sản Thanh Hoá nói lên rằng: nông dân Thanh Hoá cũng nh ngời dân Việt Nam nói chung rất thiết tha với độc lập dân tộc và cởi bỏ xiềng xích phong kiến

Tháng 8/1945, nông dân Thanh Hoá đã góp phần làm nên thắng lợi của Cách mạng tháng Tám trong phạm vi tỉnh Thanh cũng nh trong cả nớc Thắng lợi này là bớc khởi đầu cho quá trình thực hiện ớc mơ "ngời cày có ruộng"

Trang 33

Có thể kết luận rằng: ngời nông dân Thanh Hoá tha thiết với ớc nguyện thoát ra khỏi cảnh bần cùng khỏi thân phận đầy tớ làm thuê và hơn bao giờ hết

họ ớc mơ thoát khỏi ách áp bức của thực dân và phong kiến, nói một cách cụ thể rằng họ thiết tha có đợc mảnh đất để sinh cơ lập nghiệp trong vai trò làm chủ Nguyện vọng chính đáng đó, ngời nông dân phải đấu tranh qua một quá trình lâu dài-Cách mạng tháng Tám là mốc khởi đầu tốt đẹp của quá trình thực hiện "đa ruộng về với ngời cày " mà ngời dân Thanh Hoá tích cực tham gia dới

đất của đế quốc và bọn Việt gian phản động, thực hiện giảm tô, giảm tức, áp dụng qui chế lĩnh canh đối với giai cấp địa chủ, chia lại công điền,tạm cấp, tạm giao ruộng đất vắng chủ nhằm giảm bớt và hạn chế một phần chế độ bóc lột phong kiến của địa chủ, đem một phần quyền lợi cho nông dân Trong bớc này xét về mặt giai cấp cha phát động quần chúng đấu tranh đả kích giai cấp địa chủ, về mặt chính trị và xã hội vẫn phải lôi kéo một số địa chủ kháng chiến trung lập, địa chủ thờng, đả kích địa chủ Việt gian, thuyết phục giai cấp địa chủ thực hiện chính sách của Đảng và Chính phủ đã qui định [66:3] Điều đó có nghĩa là ta vẫn công nhận địa chủ có nhân quyền, dân quyền, tài quyền và địa quyền

Trang 34

Chính sách ruộng đất thực hiện ở mức độ trên đợc qui định bởi những điều kiện lịch sử lúc bấy giờ Sau Cách mạng tháng Tám, Việt Nam phải đối mặt với nhiều kẻ thù cùng một lúc, vấn đề "độc lập dân tộc" vẫn là trên hết, nhiệm vụ dân chủ đợc đề ra và thực hiện ở một chừng mực nhất định.

Trên thực tế nông thôn Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám, phong trào đấu tranh của nông dân đòi giảm tô diễn ra trên phạm vi rộng lớn Trớc yêu cầu ruộng

đất của nông dân ngày 20/ 11/1945, Bộ Nội Vụ đã ra thông t qui định giảm tô 25%

so với trớc cách mạng Đây là pháp lệnh đầu tiên của nhà nớc Việt Nam tấn công vào giai cấp địa chủ Không lâu sau, cả nớc tiếp tục bớc vào cuộc kháng chiến chống Pháp, nhiệm vụ phản phong vì lẽ đó mà bị xem nhẹ và không thực hiện một cách triệt để mà chỉ dừng lại ở mức độ vận động địa chủ chứ không phải vận động quần chúng đấu tranh với giai cấp địa chủ

Mãi đến 1/1948, Hội nghị T.W Đảng mở rộng lần thứ hai đề ra một cách

có hệ thống về chính sách ruộng đất trong kháng chiến chống Pháp với những

điểm cơ bản sau:

Thực hiện triệt để giảm tô 25%

Bài trừ địa tô phụ, bãi bỏ chế độ quá điền

Chia lại công điền hợp lý và công bằng

Tạm cấp ruộng đất và tài sản của bọn phản quốc cho dân cày

Việc giảm tô 25% đặt thành nhiệm vụ hàng đầu trong quá trình thực hiện việc giải quyết mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ Còn vấn đề ruộng đất thì giải quyết nh sau: các đồn điền của thực dân Pháp và của bọn Việt gian thì đem chia cho nông dân, ruộng đất của địa chủ chạy vào vùng tạm chiếm thì cho chính quyền địa phơng tạm thời quản lý sau khi họ trở về sẽ hoàn lại số địa tô

đã thu nếu nh không có tội Chính sách trên hoàn toàn phù hợp với yêu cầu phân hoá giai cấp địa chủ trong thời kỳ đầu cuộc kháng chiến

Trang 35

Hội nghị T.W Đảng lần thứ 4, đợc tiếp tục trong 1/1948, đã đề ra chủ trơng

cụ thể hơn trong xử lý ruộng đất và tài sản của bọn Việt gian và của thực dân Pháp:

1.Tịch thu ruộng đất và tài sản của Việt gian: ruộng đất thì UBKCHC thu cho dân cày cấy Tài sản thì tuỳ từng trờng hợp mà cấp cho dân cày hoặc UBKCHC khu sử dụng

2 Ruộng đất của Việt gian bị giết hồi khởi nghĩa mà hiện các đoàn thể sử dụng thì phải giao lại cho chính quyền

3 Chính phủ tạm thời quản lý các đồn của Pháp

4 Những đồn điền do cớp của dân có bằng cớ rõ ràng thì trả lại cho dân Tháng 8/ 1948, Hội nghị cán bộ lần 5 của T.W Đảng đã xác định, phơng thức tiến hành cuộc cách mạng ruộng đất Phơng pháp, cách thức tiến hành là dần thu hẹp phạm vi bóc lột của địa chủ, giảm tô đồng thời sửa đổi chế độ ruộng đất trong phạm vi không có hại cho mặt trận dân tộc thống nhất chống thực dân Pháp xâm l-

ợc Hội nghị đã đề ra quyết nghị về vấn đề ruộng đất và cải thiện đời sống cho dân cày Đó chính là biện pháp bồi dỡng sức dân, phục vụ cho cuộc kháng chiến chống Pháp Hội nghị còn chỉ ra phơng hớng lớn về cách mạng ruộng đất ở Việt Nam bằng

đờng lối riêng biệt :

1 Chính sách ruộng đất phải phục vụ cho việc đẩy mạnh kháng chiến, phải tiến hành nh thế nào để không có hại cho mặt trận dân tộc thống nhất chống thực dân Pháp xâm lợc, mặc dù bản thân việc chống phong kiến gắn bó chặt chẽ và thúc đẩy công cuộc kháng chiến cứu nớc

2 Trong hoàn cảnh cụ thể nớc ta, để đạt yêu cầu trên đây không thể một bớc thủ tiêu ngay tức khắc quyền phong kiến chiếm hữu ruộng đất của giai cấp

địa chủ mà dần dần thu hẹp phạm vi bóc lột của địa chủ phong kiến thông qua giảm tô, giảm tức, chia lại công điền [76:65]

Nh vậy, do yêu cầu của cuộc kháng chiến của cuộc kháng chiến từ năm

1949, Đảng ta đã chú ý hơn vấn đề nông dân và ruộng đất Ngày 14/ 7/ 1949,

Trang 36

chính phủ kháng chiến ban hành sắc lệnh giảm tô thay cho thông tri giảm tô năm 1945 của Bộ Nội Vụ.

Sắc lệnh qui định: giảm tô 25% so với địa tô trớc Cách mạng tháng Tám xoá bỏ các loại địa tô phụ thủ tiêu chế độ quá điền và thành lập hội đồng giảm tô ở tỉnh để xét kiện giảm tô

Tháng 5/1950, chính phủ ban hành sắc lệnh về thể lệ lĩnh canh và sắc lệnh giảm tức Sắc lệnh lĩnh canh đảm bảo quyền lĩnh canh của tá điền cấm chủ đòi ruộng vô cớ Sắc lệnh giảm tức qui định xoá những món nợ trớc Cách mạng tháng Tám, giảm lãi các món nợ trớc ngày ra sắc lệnh xuống mức tối đa 18%

đối với vay tiền, 20% đối với vay thóc

Năm 1951, Chính phủ ban hành sắc lệnh thuế nông nghiệp cũng nhằm hạn chế sự bóc lột của địa chủ Sắc lệnh qui định địa chủ phải đóng 40-50% hoa lợi

từ ruộng đất còn nông dân chỉ phải đóng 20%

Tháng 3/ 1952, điều lệ tạm thời về sở dụng công điền công thổ cũng đợc ban hành nhằm đảm bảo chia ruộng công một cách công bằng

Những qui định trên đã chỉ đạo quá trình thực hiện chính sách ruộng đất trên phạm vi toàn miền Bắc trong đó có tỉnh Thanh Hoá

2.1.2 Thanh Hoá bớc đầu thực hiện chính sách ruộng đất

Dới sự chỉ đạo của Đảng, Đảng bộ và UBHCKC Thanh Hoá đã lãnh đạo nhân dân từng bớc thực hiện những chính sách ruộng đất nhằm giải quyết một phần yêu cầu ruộng đất của nông dân, phục vụ yêu cầu của cuộc kháng chiến

Từ 1945-1948, Đảng bộ Thanh Hoá lãnh đạo việc thực hiện những cải cách dân chủ: giảm tô, chia lại công điền cho nông dân Các huyện đã chia lại ruộng công nhng không thống nhất, có huyện chia đều ruộng công cho nam nữ cử tri

ba năm một lần, có huyện đem bán đấu thầu để gây quĩ, có huyện giao cho các tập đoàn sản xuất, đại bộ phận chia đều cho nam nữ cử tri

Tính chung trên phạm vi toàn tỉnh, đến cuối năm 1947 có trên 400 nông dân đợc chia ruộng Năm 1948 có 4.066 điền chủ nhận giảm tô 10-25% với

Trang 37

diện tích 15.894 mẫu cho 11.997 nông dân, [88:803] trong số đó có 2.497 chủ ruộng thực hiện giảm tô 25% với 13.700 mẫu [22:6] Năm 1949, Thanh Hoá vận động 4.780 điền chủ giảm tô với diện tích 23.770 mẫu cho 15.919 tá điền, trong số đó có có 88 địa chủ, 2.926 phú nông, số còn lại là trung nông [59:127]

Nh vậy đa số các điền chủ thực hiện giảm tô là trung nông hay gia đình thiếu lao động còn địa chủ, phú nông chống đối không chịu giảm tô hoặc giảm đợc ít Xét riêng từng phạm vi từng huyện thì kết quả đạt đợc ở những mức độ khác nhau

Huyện Yên Định hai năm 1947-1948 phong trào đấu tranh giảm tô thắng lợi cơ bản: xã Định Tân giảm ruộng phát canh 70 mẫu; xã Yên Phú đồn điền Lê huân giảm 400 mẫu; xã Định Thành giảm tô 25%-100%

Huyện Nông Cống trong năm 1946 chia 300 ha cho nông dân, mỗi ngời ít nhất là 1 sào

Nông dân đợc chia ruộng phấn khởi sản xuất với hình thức tổ đổi công, vần công, trong toàn tỉnh có 277 tổ vần công đổi công, các tập đoàn sản xuất đã có cơ sở ở 90% xóm thôn Cũng trong những năm 1947 -1948 Thanh Hoá tiến hành vận động xoá nợ giúp nông dân chuộc lại ruộng đất

Khi sắc lệnh giảm tô của Chính phủ ban hành (1949) thì Đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá lần 2 (4/1949) cũng ra quyết định: triệt để thi hành chính sách ruộng đất, giảm tô 25%, quân cấp công điền và ruộng đất ruộng đất của Việt gian, ruộng đất hoang cho nông dân

Từ ngày 12 đến ngày 29/9/1950, Hội nghị cán bộ toàn tỉnh bàn về vấn đề ruộng đất cũng đề ra việc hoàn thành giảm tô 25% Hớng chính là địa chủ, hình thức phải tích cực mềm dẻo, trung nông không đặt thành phong trào vận động vì

ít bóc lột

Yêu cầu của việc giảm tô là:

- Các chủ cha giảm hoặc giảm cha đúng 25% thì phải vận động xong

- Các điền chủ giảm 25% thì vận động tới 1/3 hoặc 33% thu hoạch

Trang 38

- Xoá bỏ tô phụ và thủ tiêu chế độ quá điền.

- Những tô trớc đây lấy lúa bông thì nay vận động sang đong hạt

- Vận động lãnh đạo làm xong giấy giao kèo, giải thích chu đáo cho địa chủ và tá điền, vận động làm xong giấy giao kèo tập thể

- Giảm tức: giảm 20% với lúa, 18% lãi tiền áp dụng với các món nợ trớc khi ban hành sắc lệnh

Chỉ thị 227 CT/TH của Tỉnh uỷ ngày 20/ 10/1950 đa ra khẩu hiệu:

"Hoàn thành giảm tô đẩy mạnh tăng gia sản xuất."

" Nông dân đoàn kết giảm tô."[49:1]

Theo Báo cáo tại Đại hội Đại biểu tỉnh Đảng bộ Thanh Hoá lần thứ 3 (20/6-5/7/1950) thì năm 1950 Thanh Hoá có 130.000 mẫu ruộng đất công chiếm 1/5 tổng diện tích, bần cố nông chỉ có 1/5 diện tích- hơn 70 vạn cử tri bần cố nông chỉ còn 130.400 mẫu mỗi ngời chỉ có cha đầy 2 sào Yêu cầu giảm tô giảm tức và đợc chia ruộng là hết sức cần thiết Nghị quyết của đại hội đã vạch ra nhiệm vụ trong thi hành chính sách ruộng đất là:

"Hoàn thành giảm tô chính 25% và bỏ tô phụ

Việc giảm tức phải gây thành phong trào mạnh mẽ trong nhân dân.…

Hoàn thành quân cấp công điền cho công bằng, hợp lý và tạm cấp ruộng

đất của Pháp, Việt gian, vắng chủ cho dân cày nghèo."[59:217,218]

Trên thực tế, đến năm 1950 Thanh Hoá căn bản hoàn thành giảm tô 25% Tính riêng huyện Quảng Xơng năm 1949 có 187 chủ điền giảm tô 25%, Hoằng Hoá có 300 điền chủ giảm 10 - 25% Nông Cống vận động đợc 300 chủ ruộng giảm tô 15-25%, Tĩnh Gia trong năm 1950 có 400 chủ giảm tô cho 1.012 thống tá điền trên diện tích 932 mẫu

Việc chia ruộng đất đợc tiến hành khẩn trơng và thu đợc một số kết quả

nh sau:

Tính chung trên toàn tỉnh, năm 1950 Thanh Hoá có 130.000 mẫu đất công

và 3.015 mẫu bán công bán t đem chia cho nông dân, mức tối đa là 7 đến 8 sào,

Trang 39

trung bình 1 đến 2 sào, tối thiểu là 7 thớc/ngời [73:79] Việc quân cấp công

điền thực ra đã làm từ sau Cách mạng tháng Tám nhng mỗi nơi mỗi khác tuỳ theo khế ớc của địa phơng Có nơi thì chia cho nam nữ cử tri, có nơi tập trung cho xã quản lý, nơi thì bán đấu giá trích hoa màu nộp vào quỹ xã Nhìn chung việc phân chia công điền cha đợc công bằng Trong những năm 1950-1951, thực hiện chủ trơng mới về quân cấp công điền, các địa phơng ở Thanh Hoá tiến hành quân cấp lại nhng còn khá chậm Theo số liệu của 33 xã năm 1949 công điền sau khi đã chia cho nông dân chỉ còn 2,2% tổng số ruộng đất ở địa phơng khoảng 676m4s1th

Thanh Hoá có nhiều đồn điền, phần lớn các đồn điền bị bỏ hoang từ sau Cách mạng tháng Tám nhất là các đồn điền trồng cây công nghiệp Thanh Hoá

đã thành lập ban khẩn hoang di dân đa dân tản c lên lập nghiệp nhng không thu

đợc kết quả đáng kể Trong những năm 1950-1951, Thanh Hoá có 38 đồn điền với diện tích 14.297m5s chiếm 3,57% tổng diện tích địa phơng Thực hiện chủ trơng tạm cấp của T.W, Thanh Hoá đã tiến hành tạm cấp cho nông dân 3.315m9s còn lại 10.981m8s do Bộ canh nông quản lý Trong đó đầu năm 1949 Thanh Hoá tiến hành tạm cấp đồn điền Tân Phong (Đông Sơn) cho 135 gia đình tá điền với 230 mẫu, dành cho trung đoàn 9 và 77 gần 220 mẫu; đồn điền Mỹ Hoá

(Yên Định) đợc cấp cho 315 tá điền với diện tích 508 mẫu[58:123] Từ kinh nghiệm của việc tạm cấp ở đồn điền Tân Phong, Hội đồng tạm cấp Thanh Hoá

Trang 40

ơng của Đảng đa lại ruộng cho dân cày Tuy vậy, việc tạm cấp đã giải quyết một phần yêu cầu ruộng đất cho nông dân tỉnh Thanh.

Trong những năm 1949-1950, Thanh Hoá thực hiện chủ trơng vận động hiến điền Việc vận động hiến điền đợc phát động khi bắt đầu tuần lễ dân quân

tự túc (5/1949), kết quả thu đợc 1.799 mẫu và trong cuộc vận động cấp dỡng bộ

đội địa phơng thu đợc 400 mẫu, ngoài ra ở các xã thôn, cuộc vận động hiến điền cho các đoàn thể ở các tổ đổi công đợc thực hiện khắp nơi.[59:124,125] Theo

số liệu của Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá tập 1 thì: riêng năm 1950 thu đợc

895 mẫu ruộng hiến, cả hai năm thu đợc 1.799 mẫu, riêng huyện Nông Cống thu đợc 400 mẫu Tính từ 1949-1953 Thanh Hoá thu đợc 12.412 ha ruộng hiến

ở 13 huyện trung châu trong tổng số 22.201 ha ruộng đất thu đợc Số ruộng hiến

đợc sử dụng mỗi nơi mỗi khác: nơi thì chia cho tá điền làm, nơi thì giao cho dân quân hoặc các đoàn thể sở dụng chung Tuy nhiên trong cuộc vận động hiến

điền ở Thanh Hoá mắc phải một số hạn chế, đó là không quan niệm hiến điền là một bộ phận trong chính sách ruộng đất nhằm giảm bớt sự bóc lột của phú nông

và địa chủ nên có nơi vận động cả những hộ thiếu ruộng tham gia hiến ruộng, việc sử dụng ruộng hiến không có hiệu quả do không chú trọng việc canh tác Riêng ở vùng thợng du, năm 1950 đã tiến hành xong tạm cấp ruộng đất, triệt để chia lại công điền công thổ Các huyện Lang Chánh, Bá Thớc, Hồi Xuân

đã tạm cấp ruộng đất của các tên Việt gian Ký, Tín, Thắng cho dân cày, vận

động xoá bỏ lực dịch, rút các ruộng đất tuyệt tự, ruộng lang đạo, chia cho nam nữ cử tri

Bớc sang năm 1952, UBKCHC Liên khu IV chỉ đạo các tỉnh chú trọng thực hiện chính sách ruộng đất Hội nghị Hành chính Liên khu IV họp ngày 16- 21/6/1952, đã đề ra mục tiêu của việc thi hành chính sách ruộng đất nh sau:

"- Cơng quyết hoàn thành giảm tô, giảm tức

- Hoàn thành tạm cấp

Ngày đăng: 19/12/2013, 14:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. BCH Đảng bộ huyện Đông Sơn (2000), Lịch sử Đảng bộ huyện Đông Sơn 1930-2000, NXB Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ huyện Đông Sơn 1930-2000
Tác giả: BCH Đảng bộ huyện Đông Sơn
Nhà XB: NXB Thanh Hoá
Năm: 2000
8. BCH Đảng bộ huyện Tĩnh Gia (1992), Đảng bộ và phong trào cách mạng huyện Tĩnh Gia 1930-1954, NXB Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng bộ và phong trào cách mạng huyện Tĩnh Gia 1930-1954
Tác giả: BCH Đảng bộ huyện Tĩnh Gia
Nhà XB: NXB Thanh Hoá
Năm: 1992
9. BCH Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá(1980), Năm mơi năm hoạt động của Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá, NXB Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năm mơi năm hoạt động của Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá
Tác giả: BCH Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá
Nhà XB: NXB Thanh Hoá
Năm: 1980
10. BNC& BS lịch sử tỉnh Thanh Hoá (2000), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá tập 1 (1930-1945), NXB KHXH,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá tập 1 (1930-1945)
Tác giả: BNC& BS lịch sử tỉnh Thanh Hoá
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 2000
11. BNC&BS lịch sử tỉnh Thanh Hoá (1996), Lịch sử Thanh Hoá tập 2 (1945- 1975), NXBCTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Thanh Hoá tập 2 (1945-1975
Tác giả: BNC&BS lịch sử tỉnh Thanh Hoá
Nhà XB: NXBCTQG
Năm: 1996
12. BNC&BS lịch sử tỉnh Thanh Hoá (1998), Niên biểu lịch sử Thanh Hoá, NXB Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên biểu lịch sử Thanh Hoá
Tác giả: BNC&BS lịch sử tỉnh Thanh Hoá
Nhà XB: NXB Thanh Hoá
Năm: 1998
50. Chi cục thống kê Thanh Hoá (1975), Thanh Hoá 1945-1975 (số liệu thống kê) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh Hoá 1945-1975
Tác giả: Chi cục thống kê Thanh Hoá
Năm: 1975
58. Lê Duẩn (1965), Giai cấp vô sản với nông dân trong cách mạng Việt Nam , NXBST, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giai cấp vô sản với nông dân trong cách mạng Việt Nam
Tác giả: Lê Duẩn
Nhà XB: NXBST
Năm: 1965
60.ĐCSVN, BCHTW(1978), Văn kiện Đảng, tập 1(1945-1946), BNCLSĐTW, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng, tập 1(1945-1946)
Tác giả: ĐCSVN, BCHTW
Năm: 1978
61. ĐCSVN, BCHTW(1977), Văn kiện Đảng (1946-1948), BNCLSĐTW, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Văn kiện Đảng (1946-1948
Tác giả: ĐCSVN, BCHTW
Năm: 1977
62. ĐCSVN, BCHTW (1980), Văn kiện Đảng, tập IV quyển I 1951-1952, BNCLSĐTW xuất bản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng
Tác giả: ĐCSVN, BCHTW
Năm: 1980
63. ĐCSVN, BCHTW (1980), Văn kiện Đảng, tập IV quyển II 1953-1954, BNCLSĐTW xuất bản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng
Tác giả: ĐCSVN, BCHTW
Năm: 1980
64. Nguyễn Kiên Giang (1961), "Phác qua tình hình ruộng đất và đời sống nông dân trớc Cách mạng Tháng Tám", NXBST, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phác qua tình hình ruộng đất và đời sống nông dân trớc Cách mạng Tháng Tám
Tác giả: Nguyễn Kiên Giang
Nhà XB: NXBST
Năm: 1961
65. Nguyễn Thị Hạnh (2002), Đồn điền Thanh Hoá thời thuộc Pháp 1900- 1945, Luận văn Thạc sỹ Lịch sử, Trờng Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồn điền Thanh Hoá thời thuộc Pháp 1900-1945
Tác giả: Nguyễn Thị Hạnh
Năm: 2002
69. Cao Văn Lợng (2000),"Sự kết hợp nhiệm vụ dân tộc và dân chủ trong chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945-1975", Việt Nam thế kỷ XX, NXBCTQG, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự kết hợp nhiệm vụ dân tộc và dân chủ trong chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945-1975
Tác giả: Cao Văn Lợng
Nhà XB: NXBCTQG
Năm: 2000
70. Hồ Chí Minh, Trờng Chinh, Phạm Văn Đồng (1953), Phóng tay phát động quần chúng, NXBST, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phóng tay phát động quần chúng
Tác giả: Hồ Chí Minh, Trờng Chinh, Phạm Văn Đồng
Nhà XB: NXBST
Năm: 1953
71. Qua Ninh, Vân Đình (1959), Vấn đề dân cày, NXBST, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề dân cày
Tác giả: Qua Ninh, Vân Đình
Nhà XB: NXBST
Năm: 1959
74. Lê Thị Quỳnh Nga (2003), Đảng lãnh đạo thực hiện chính sách ruộng đất ở Thanh Hoá trong kháng chiến chống Pháp, Luận văn thạc sỹ lịch sử, trờngđại học KHXH& NV, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng lãnh đạo thực hiện chính sách ruộng đất ở Thanh Hoá trong kháng chiến chống Pháp
Tác giả: Lê Thị Quỳnh Nga
Năm: 2003
75. Văn Phong (1957), Đánh giá cho đúng những thắng lợi của nhiệm vụ phản phong và những sai lầm trong cải cách ruộng đất, NXB ST, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá cho đúng những thắng lợi của nhiệm vụ phản phong và những sai lầm trong cải cách ruộng đất
Tác giả: Văn Phong
Nhà XB: NXB ST
Năm: 1957
76. Trần Phơng (chủ biên)(1968), Cách mạng ruộng đất ở Việt Nam , NXB KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách mạng ruộng đất ở Việt Nam
Tác giả: Trần Phơng (chủ biên)
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1968

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức bóc lột của phú nông cũng tơng tự cho vay nợ lãi, cho công non, nuôi con nuôi nghĩa là cũng bóc lột theo lối phong kiến nhng chủ yếu là bóc lột  nhân công phát canh thu tô rất ít chỉ khoảng vài sào - Quá trình thực hiện chính sách ruộng đất ở thanh hóa từ sau cách mạng tháng tám 1945 đến 1975
Hình th ức bóc lột của phú nông cũng tơng tự cho vay nợ lãi, cho công non, nuôi con nuôi nghĩa là cũng bóc lột theo lối phong kiến nhng chủ yếu là bóc lột nhân công phát canh thu tô rất ít chỉ khoảng vài sào (Trang 28)
Biểu 6:Tình hình chiếm hữu ruộng đất của địa chủ từ 1949-1953 - Quá trình thực hiện chính sách ruộng đất ở thanh hóa từ sau cách mạng tháng tám 1945 đến 1975
i ểu 6:Tình hình chiếm hữu ruộng đất của địa chủ từ 1949-1953 (Trang 54)
Biểu 7: Tình hình ruộng đất của nông dân năm 1953. - Quá trình thực hiện chính sách ruộng đất ở thanh hóa từ sau cách mạng tháng tám 1945 đến 1975
i ểu 7: Tình hình ruộng đất của nông dân năm 1953 (Trang 55)
Đến trớc cải cách ruộng đất, tình hình chiếm hữu ruộng đất trong nông thôn Thanh Hoá nh sau: - Quá trình thực hiện chính sách ruộng đất ở thanh hóa từ sau cách mạng tháng tám 1945 đến 1975
n trớc cải cách ruộng đất, tình hình chiếm hữu ruộng đất trong nông thôn Thanh Hoá nh sau: (Trang 66)
Biểu 8: So sánh tình hình chiếm hữu ruộng đất của địa chủ.[50:26] - Quá trình thực hiện chính sách ruộng đất ở thanh hóa từ sau cách mạng tháng tám 1945 đến 1975
i ểu 8: So sánh tình hình chiếm hữu ruộng đất của địa chủ.[50:26] (Trang 66)
Tình hình chiếm hữu ruộng đất của các giai tầng trong nông thôn Thanh Hoá cũng biến chuyển nh sau:  - Quá trình thực hiện chính sách ruộng đất ở thanh hóa từ sau cách mạng tháng tám 1945 đến 1975
nh hình chiếm hữu ruộng đất của các giai tầng trong nông thôn Thanh Hoá cũng biến chuyển nh sau: (Trang 73)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w