1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quá trình thực hiện chính sách dân tộc ở vân nam trung quốc thời kì cải cách mở cửa (1978 2008)

129 547 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quá Trình Thực Hiện Chính Sách Dân Tộc Ở Vân Nam Trung Quốc Thời Kỳ Cải Cách Mở Cửa (1978 – 2008)
Tác giả Phạm Thị Thanh
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Công Khanh
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2009
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quốc gia đa dân tộc, chính sách dân tộc có nội dungkhá toàn diện, liên quan đến dân tộc đa số và dân tộc thiểu số được thể hiệntrong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

- -PHẠM THỊ THANH

QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC Ở VÂN NAM TRUNG QUỐC

THỜI KÌ CẢI CÁCH MỞ CỬA

(1978 – 2008)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

VINH – 2009

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

- -PHẠM THỊ THANH

QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC Ở VÂN NAM TRUNG QUỐC

THỜI KÌ CẢI CÁCH MỞ CỬA

(1978 – 2008)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Chuyên ngành: LỊCH SỬ THẾ GIỚI

Mã số: 60.22.50 Giáo viên hướng dẫn: PGS TS NGUYỄN CÔNG KHANH

VINH – 2009

Trang 3

Lời cảm ơn

Để hoàn thành Luận văn này, tôi vô cùng biết ơn:

PGS TS Nguyễn Công Khanh đã tận tình hớng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thànhLuận văn

Các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử - Trờng Đại học Vinh

Sự động viên giúp đỡ của bạn bè, ngời thân đối với tôi trong quá trìnhlàm Luận văn

Do thời gian hạn chế nên Luận văn chắc chắn còn nhiều thiếu sót Rấtmong nhận đợc sự góp ý của các thầy cô và các bạn để Luận văn hoàn thiệnhơn

Vinh, tháng 12 năm 2009

Học viên

Phạm Thị Thanh

Trang 4

MỤC LỤC

Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHÍNH SÁCH DÂN

1.1.3 Những đặc điểm chủ yếu của cộng đồng các dân tộc ở Vân Nam 141.2 LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA

1.2.1 Sự vận lý luận về dân tộc của chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn

1.2.2 Những nội dung về dân tộc qua văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản

1.2.4 Các nguyên tắc cơ bản về chính sách dân tộc của Trung Quốc 25

Trang 5

2.1.1 Giai đoạn từ 1978 đến năm 1991 34

2.2 VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC Ở VÂN NAM TỪ

2.2.2 Thiết lập hệ thống hành chính ở các vùng dân tộc thiểu số 42

Chương 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN

3.3 MỘT SỐ BÀI HỌC RÚT RA TỪ QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN

3.3.1 Cần có biện pháp cụ thể phát triển kinh tế - xã hội cho đồng bào

3.3.2 Cần phải có những cải cách phù hợp, linh hoạt đối với giáo dục ở

dân tộc thiểu số để đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại chỗ

Trang 6

MỘT VÀI HÌNH ẢNH VỀ VÂN NAM TRUNG QUỐC

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Chính sách dân tộc là một bộ phận quan trọng trong hệ thống chínhsách của quốc gia đa dân tộc Chính sách dân tộc đã thể hiện những quanđiểm chủ trương về giải quyết vấn đề dân tộc và đối với cộng đồng các dântộc của Nhà nước Trong quốc gia đa dân tộc, chính sách dân tộc có nội dungkhá toàn diện, liên quan đến dân tộc đa số và dân tộc thiểu số được thể hiệntrong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục, ngôn ngữ chữ viết,phong tục tập quán…

Chính sách dân tộc thực chất là chính sách phát triển quốc gia – dân tộccủa từng thời kì lịch sử; là chính sách quốc gia nhằm phát triển dân tộc, làtổng hợp mọi chủ trương đường lối, luật pháp và hệ thống các chính sách củaNhà nước; là chính sách tạo ra nội lực của phát triển dân tộc

Trong quốc gia đa dân tộc chính sách dân tộc đóng vai trò quan trọngtrong quá trình phát triển của các dân tộc và cả nước, chính sách dân tộc tácđộng đến cả dân tộc đa số và dân tộc thiểu số Những chính sách dân tộc cónội dung đúng theo quy luật phát triển xã hội và phù hợp với tình hình thực tế

sẽ xúc tiến quá trình phát triển của đất nước

Trên thế giới nhiều nước là quốc gia đa dân tộc (tộc người) TrungQuốc là quốc gia đa dân tộc ở châu Á Các dân tộc của Trung Quốc đượcphân chia thành dân tộc đa số và dân tộc thiểu số Dân tộc đa số của TrungQuốc là người Hán, có trình độ kinh tế – xã hội phát triển cao hơn các dân tộcthiểu số Trong lịch sử hiện đại Trung Quốc là nước đi theo con đường xã hộichủ nghĩa, chính sách dân tộc dựa trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lê Nin, đồngthời kết hợp chặt chẽ với tình hình thực tế của đất nước Trong quá trình xâydựng chủ nghĩa xã hội, Trung Quốc đã dần dần tìm ra một số biện pháp hữuhiệu để giải quyết vấn đề dân tộc và phát triển kinh tế – xã hội vùng dân tộc

thiểu số của mình “Bình đẳng, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau” là nguyên tắc cơ

Trang 7

bản của Trung Quốc về vấn đề dân tộc Hiện nay chính sách dân tộc củaTrung Quốc đang phải đối diện với vấn đề làm thế nào để vừa phát triển kinh

tế – xã hội vùng dân tộc thiểu số, vừa bảo tồn làm giàu và phát huy được tính

đa dạng của văn hoá các dân tộc thiểu số

Từ khi thực hiện chính sách mở cửa và đổi mới đến nay (1978 – 2008),

để thực hiện bình đẳng và đoàn kết dân tộc, Trung Quốc có những chính sáchcủa mình để phát triển kinh tế- xã hội đối với các dân tộc thiểu số Trong đóVân Nam là một tỉnh nằm ở phía Tây của Trung Quốc có chung đường biêngiới với 3 nước: Việt Nam – Lào – Mianma Với quá trình lịch sử phát triển

xã hội đặc thù, Vân Nam đã trở thành một tỉnh có nhiều dân tộc cùng chungsống nhất ở Trung Quốc Đa dân tộc chính là đặc thù của Vân Nam vừa làđiều kiện thuận lợi để kinh tế – xã hội – văn hoá phát triển phong phú đadạng, bởi mỗi dân tộc ở Vân Nam đều có lịch sử phát triển và truyền thốngvăn hoá của riêng mình Trong quá trình cùng chung sống sự giao lưu, tiếpxúc giữa các tộc người khiến cho bản sắc văn hoá của từng truyền thống càngtrở nên độc đáo hơn Tuy nhiên, đứng trước mục tiêu phát triển kinh tế vàhiện đại hoá xã hội Trung Quốc hiện nay, Vân Nam thực hiện chính sách dântộc của Trung Quốc vừa tạo thời cơ, triển vọng để phát triển kinh tế – xã hộinhưng cũng là vấn đề không dễ để giải quyết một cách nhanh chóng nhữngmâu thuẫn giữa phát triển kinh tế và bảo tồn văn hoá cổ truyền – vấn đề gìngiữ sắc thái riêng của các dân tộc

Vấn đề dân tộc ở Trung Quốc mà Vân Nam thực hiện là vấn đề chungtrong chính sách dân tộc của Trung Quốc, nhưng trong khuôn khổ của mộttỉnh lại có những đặc thù riêng Vì thế, nghiên cứu quá trình thực hiện chínhsách dân tộc ở Vân Nam Trung Quốc sẽ góp phần vào sự hiểu biết về chínhsách dân tộc của Trung Quốc, tìm hiểu những chính sách có hiệu quả nhằmgiải quyết vấn đề dân tộc của nhà nước xã hội chủ nghĩa Những chính sáchnày góp phần giúp ích cho cách nhìn nhận đối với vấn đề dân tộc mà Vân

Trang 8

Nam đang thực hiện, cũng như những chính sách này khác với nhiều nướctrên thế giới.

Xuất phát từ các lý do nêu trên cộng với ham muốn tìm hiểu về một

tỉnh giáp biên giới Việt Nam của đất nước Trung Quốc rộng lớn- vốn là “sông

kề sông, núi kề núi” Trung Quốc và Việt Nam có mối kết truyền thống trong

tiến trình phát triển của lịch sử Cùng với sự giúp đỡ tận tình của thầy hướngdẫn, chúng tôi đã mạnh dạn đi vào tìm hiểu vấn đề dân tộc và chọn đề tài

“Quá trình thực hiện chính sách dân tộc ở Vân Nam Trung Quốc thời kì

cải cách mở cửa (1978 – 2008)” làm đề tài Luận văn thạc sĩ Sử học, chuyên

ngành Lịch sử thế giới

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề.

Trong những năm qua đã có rất nhiều học giả Trung Quốc nghiên cứu

lý luận và chính sách dân tộc của nhà nước mình Nhiều học giả nước ngoàicũng nghiên cứu về chính sách dân tộc của Trung Quốc Đó là một trongnhững điều kiện may mắn và thuận lợi cho chúng tôi trong quá trình thu thập,tìm tòi nguồn tư liệu Tuy nhiên, vấn đề dân tộc ở Vân Nam chưa có côngtrình nghiên cứu nào cụ thể, tài liệu rất hạn chế và mang tính khái quát chung

Vì vậy, khi quyết định lựa chọn đề tài “Quá trình thực hiện chính sách dân

tộc ở Vân Nam Trung Quốc thời kì cải cách mở cửa (1978 – 2008)” chúng tôi

đã được tiếp xúc một số tài liệu sau:

Chính sách dân tộc của Trung Quốc mà Vân Nam thực hiện trước hếtnằm trong chính sách dân tộc chung của Trung Quốc, được thể hiện trongnhững văn kiện của các kỳ Đại hội Đảng và các bộ luật liên quan: Hiến pháp

và luật tự trị khu vực dân tộc đều có những nội dung về chính sách dân tộc

Ngoài ra, Uỷ ban dân tộc Trung ương với “Văn kiện và pháp luật về chính

sách dân tộc” – 2000 Uỷ ban thường vụ quốc hội với “Luật pháp và pháp quy về tự trị khu vực dân tộc Trung Quốc”, (NXB Đại học dân tộc Trung

ương – 2002)

Trang 9

Các học giả Trung Quốc từ góc nhìn nghiên cứu chính sách dân tộc đã

có những nghiên cứu như: Bành Anh Minh “Vấn đề dân tộc Trung Quốc và lý

luận dân tộc của chủ nghĩa Mác”, (NXB Dân tộc 1988) đã đề cập những vấn

đề của chính sách dân tộc chung của Trung Quốc, đồng thời bàn kĩ về lý luận

của chủ nghĩa Mác về dân tộc Dương Kinh Sở (chủ biên) với “Nghiên cứu về

lý luận dân tộc của Mao Trạch Đông”, (NXB Dân tộc 1995) đã trình bày khá

chặt chẽ về quan niệm chính sách dân tộc của Mao Trạch Đông và những lý

luận của Mao Trạch Đông về chính sách dân tộc Hoàng Quang Học với “Về

xác định thành phần dân tộc Trung Quốc”, (NXB Dân tộc 1995) đã nghiên

cứu kĩ về vấn đề xác định từng thành phần dân tộc ở Trung Quốc Đổng Cát

Dư “Nghiên cứu về chức năng quản lý hành chính của chính quyền địa

phương tự trị dân tộc tỉnh Vân Nam”, (NXB Giáo dục Vân Nam 1997) Kim

Thị Bích Khao “Đại cương chính sách và cương lĩnh về dân tộc của Đảng

Cộng sản Trung Quốc”, (NXB Hắc Long Giang 2002) đã phân tích toàn diện

về sự hình thành và phát triển của cương lĩnh dân tộc và chính sách dân tộccủa Đảng và Nhà nước Trung Quốc qua từng thời kì từ năm 1921 trở lại đây

Kim Tinh Hoa với “Công tác ngữ văn dân tộc Trung Quốc”, (NXB Dân tộc

2005) đã nghiên cứu về vấn đề ngôn ngữ của các dân tộc ở Trung Quốc

Từ sau những năm cải cách mở cửa, việc nghiên cứu chính sách dân tộc

ở Trung Quốc ngày càng được đẩy mạnh, đặc biệt là tập trung nghiên cứu sựphát triển kinh tế – xã hội ở các dân tộc thiểu số Sau đây là một số nghiên

cứu: Vương Thiết Chí với “Thực tiễn và lý luận về chính sách dân tộc trong

thời kì đổi mới”, (NXB Dân tộc 2001) Vương Thiên Hy với “Đại cương Luật dân tộc”, (NXB Nhân dân Vân Nam 1988) Thi Chính Nhất với “Nghiên cứu

về phát triển vùng dân tộc miền Tây Trung Quốc”, (NXB Dân tộc 1998).

Vương Hy Ân với “Phân tích về vấn đề dân tộc Trung Quốc hiện đại”, (NXB Dân tộc 2002) “Chương trình Hưng biên Phú dân”, (NXB Dân tộc 2000) Triệu Hiển Nhân “Chương trình Hưng biên Phú dân 2”, (NXB Dân tộc 2003).

Trang 10

Trong vấn đề dân tộc Trung Quốc đối với Vân Nam thời kỳ đổi mới thì

chương trình “Hưng biên Phú dân” đã được nhiều học giả quan tâm Tác giả Triệu Hiển Nhân cho rằng chương trình “Hưng biên Phú dân” là một biện

pháp có hiệu quả nhằm phát triển kinh tế – xã hội vùng dân tộc thiểu số, đồngthời trong công tác thực tế phải làm cho nó phù hợp với điều kiện thực tiễn

của từng địa phương Do đó mà cuốn “Hưng biên Phú dân 2” có giá trị đối

với thực thi chương trình phát triển kinh tế – xã hội

Chính sách dân tộc Trung Quốc đã được một số học giả Việt Nam đề cập

đến như: “Kinh nghiệm thành lập khu dân tộc tự trị ở Trung Quốc”, (NXB Sự

thật Hà Nội 1954) đã giới thiệu quá trình thành lập khu dân tộc tự trị ở TrungQuốc, phân tích các chính sách cụ thể về khu dân tộc tự trị Đỗ Tiến Sâm với

“Khai thác và phát triển miền Tây, một quyết sách lớn đưa Trung Quốc tiến vào

thế kỉ XXI” (Tạp chí Dân tộc học số 6/2002) nói sự quyết tâm thực hiện chính

sách dân tộc của Trung Quốc đối với miền Tây đồng thời nói đến những thách

thức khó khăn khi thực hiện chính sách dân tộc Nguyễn Duy Bính với “Dân tộc

và chính sách dân tộc ở Trung Quốc” (Tạp chí Dân tộc học số 5/2004) nói đến

tác động của chính sách dân tộc của Trung Quốc

Những công trình nghiên cứu trên đã giới thiệu chính sách dân tộcchung của Trung Quốc và có những công trình đề cập đến việc thực thi chínhsách dân tộc ở Vân Nam, đã phân tích một số chính sách dân tộc cụ thể củatừng thời kỳ đặc biệt sau thời kì cải cách mở cửa thì chính sách dân tộc ởTrung Quốc đã được phản ánh nhiều và thực thi nhiều Cuộc Hội thảo Khoa

học: “Việt Nam – Trung Quốc tăng cường hợp tác, cùng nhau phát triển,

hướng tới tương lai” (Hà Nội 15.1.2005) của Viện Khoa học xã hội Việt Nam

đã tổng hợp toàn bộ những bài nghiên cứu liên quan đến vấn đề chính sáchdân tộc của hai nước Việt Nam – Trung Quốc hợp tác phát triển trên nhiềulĩnh vực, trong đó coi trọng phát triển kinh tế là hàng đầu Vân Nam là tỉnh có

vị trí quan trọng trong quá trình hợp tác giữa hai nước “Những công trình

nghiên cứu dân tộc học ở Vân Nam” của nhiều tác giả, (Viện văn hoá - thông

Trang 11

tin, Hà Nội 2007) đã nghiên cứu sâu sắc toàn diện về đời sống văn hoá củacác dân tộc thiểu số ở Vân Nam Ngày 7.6.2008 tại Vân Nam đã mở Hội nghị:công trình “Hưng biên Phú dân” Đây là một Hội nghị mang tính thiết thựccủa Đảng và Nhà nước về thực hiện chính sách dân tộc ở Vân Nam.

Nhiều tác giả đã nghiên cứu những công trình “Hưng biên Phú dân” của Trung Quốc như: Đào Văn Lưu với “Chính sách dân tộc của Trung Quốc

và Việt Nam trong thời kì cải cách mở cửa”, (NXB Viện khoa học xã hội Việt

Nam Hà Nội 2008) Tác giả đã nghiên cứu một cách tổng hợp chính sách dântộc của hai nước: Trung Quốc - Việt Nam trong thời kì cải cách mở cửa

Dương Căn Hoa với “Quá trình thực hiện chiến lược “Hưng biên Phú

dân” ở Vân Nam và những kết quả cụ thể”, (Hà Nội 2008) Công trình nghiên

cứu đã tổng quát quá trình thực hiện chiến lược “Hưng biên Phú dân” một

trong chiến lược quan trọng để phát triển kinh tế- xã hội- văn hoá- giáo dục…

ở Vân Nam, đặc biệt là các dân tộc thiểu số vùng biên giới Qua đó thấy được

tầm quan trọng của “Hưng biên Phú dân” trong chính sách dân tộc của Đảng

và Nhà nước đề ra mà Vân Nam thực hiện Nguyễn Văn Căn với “Chiến lược

“Hưng biên Phú dân” và quá trình thực hiện tại vùng dân tộc thiểu số ở các tỉnh biên giới Tây Nam Trung Quốc” (Viện Khoa học xã hội Việt Nam Hà

Nội 2008) là công trình nghiên cứu chung về việc thực hiện chiến lược

“Hưng biên Phú dân” của các dân tộc thiểu số ở các tỉnh biên giới Tây Nam

Trung Quốc Trong đó Vân Nam là tỉnh được Đảng và Nhà nước quan tâmtrong việc thực hiện chính sách dân tộc, đồng thời là một trong các tỉnh biên

giới chọn thí điểm thực hiện chiến lược “Hưng biên Phú dân”.

Ngoài ra, đề tài về quá trình thực hiện chính sách dân tộc ở Vân Namđược đề cập trong các bài viết đăng trên các tạp chí “Nghiên cứu TrungQuốc” và các tạp chí chuyên ngành khác

Ở cấp độ Luận án Tiến sĩ: Đinh Công Tuấn “Quá trình cải cách kinh tế

xã hội của CHND Trung Hoa từ 1978 đến nay” (Năm 1996) đã luận bàn về

Trang 12

“Quá trình phát triển kinh tế xã hội nông thôn ở CHND Trung Hoa” (1978 –

2003) (Năm 2007) đã luận bàn về mô hình kinh tế xã hội ở nông thôn Trung

Quốc Đặc biệt Luận án Tiến sĩ của Đằng Thành Đạt “Nghiên cứu so sánh

chính sách dân tộc của Trung Quốc và Việt Nam thời hiện đại” (Năm 2007)

đã khái quát về những chính sách dân tộc của Trung Quốc và Việt Nam Từ

đó so sánh những điểm chung và nét riêng về chính sách dân tộc của TrungQuốc và Việt Nam thời hiện đại

Trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của những người đi trước, chúngtôi tiếp tục đi sâu nghiên cứu một cách khá toàn diện, có hệ thống và khách

quan hơn về “Quá trình thực hiện chính sách dân tộc ở Vân Nam Trung

Quốc thời kì cải cách mở cửa (1978 – 2008)”.

3 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu.

* Nguồn tài liệu của đề tài chủ yếu gồm: Những văn bản quy định vềchính sách dân tộc của Trung Quốc; Những văn kiện của các kỳ đại hội liênquan đến vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của Trung Quốc; Những tàiliệu thu thập được từ các công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đếnchính sách dân tộc của Trung Quốc; những sách báo, tạp chí về thực hiệnchính sách dân tộc ở Vân Nam Trung Quốc

* Phương pháp nghiên cứu: Với đối tượng và phạm vi nghiên cứu đượcxác định như trên, Luận văn chủ yếu dựa vào chủ nghĩa duy vật lịch sử cùng vớinhững lý luận về chính sách dân tộc của Nhà nước Trong quá trình thực hiện đềtài chúng tôi coi trọng khâu giám định nguồn tư liệu để đảm bảo độ chính xáckhoa học của các tư liệu sử học; đồng thời sử dụng phương pháp luận sử học,phương pháp logis, cùng các phương pháp: Hệ thống, đối chiếu, so sánh, kết hợptham khảo ý kiến rồi phân tích, tổng hợp từ đó rút ra những kết luận khoa học

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài.

4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài.

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là: Quá trình thực hiện chính sáchdân tộc ở Vân Nam Trung Quốc thời kì cải cách mở cửa (1978 – 2008) Về

Trang 13

chính trị, kinh tế, văn hóa Vân Nam thời cải cách mở cửa, mà trọng điểm lànhững chính sách cụ thể để phát triển kinh tế – xã hội ở Vân Nam.

4.2 Phạm vi nghiên cứu.

+ Giới hạn không gian: Ở Vân Nam và mở rộng ra các tỉnh Tây NamTrung Quốc

+ Giới hạn thời gian: Nghiên cứu chính sách dân tộc trong giai đoạn từ

1978 đến 2008 Tuy nhiên, để có một cách nhìn tổng quan về chính sách dântộc của Trung Quốc đối với khu vực, Luận văn cũng đề cập đến chính sáchdân tộc từ khi nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa ra đời (1949 – 1978),cũng như liên hệ tình hình hiện nay (2009)

5 Đóng góp của Luận văn.

Trên cơ sở tiếp thu, nghiên cứu những kết quả mà các công trìnhnghiên cứu về chính sách dân tộc chung của Trung Quốc, Luận văn của chúngtôi đi vào tìm hiểu về quá trình thực hiện chính sách dân tộc cụ thể của TrungQuốc ở tỉnh Vân Nam Do đó về mặt lý thuyết dân tộc của chủ nghĩa xã hộicần có sự phát triển, thông qua chính sách dân tộc của Trung Quốc mà VânNam thực hiện chúng ta có thể nhận diện được cơ sở lý luận của chính sáchdân tộc của Trung Quốc trong thời kỳ Đảng Cộng sản cầm quyền Về mặtthực tiễn: Thông qua việc nghiên cứu thực hiện chính sách dân tộc ở VânNam sẽ giúp ích cho chúng ta việc trao đổi, học hỏi về chính sách dân tộc,cách xử lý vấn đề dân tộc và phát triển kinh tế – xã hội

Từ việc phân tích đánh giá chính sách dân tộc của nước “anh em láng

giềng” đối với một tỉnh, chúng ta rút ra được bài học trong việc thực hiện

chính sách dân tộc của quốc gia

Nội dung và tư liệu của Luận văn sẽ đóng góp vào tài liệu tham khảophục vụ cho việc công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu lịch sử

Trang 14

6 Cấu trúc của Luận văn.

Phù hợp với mục đích và việc thực hiện các nhiệm vụ đã nêu trên ngoàiphần mở đầu, kết luận, phụ lục, thư mục tài liệu tham khảo, nội dung củaLuận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những nhân tố tác động đến chính sách dân tộc ở Vân NamTrung Quốc

Chương 2: Thực hiện chính sách dân tộc ở Vân Nam thời kì (1978 –2008)

Chương 3: Một số nhận xét về thực hiện chính sách dân tộc ở Vân Nam

từ 1978 đến nay

Trang 15

B NỘI DUNG

Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHÍNH SÁCH

DÂN TỘC Ở VÂN NAM TRUNG QUỐC

1.1 TÌNH HÌNH VÀ ĐẶC ĐIỂM DÂN TỘC CỦA VÂN NAM

Vân Nam là một tỉnh của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, thuộcbiên giới Tây Nam Trung Quốc Với diện tích 394.000km2 (lớn thứ 8 toànquốc) Vân Nam có đường biên giới dài 4060km, tiếp giáp 3 nước Việt Nam,Lào, Mi-an-ma (biên giới Trung - Việt 1353km, có 70 cột mốc; biên giớiTrung – Lào dài 710km, có 47 cột mốc; biên giới Mianma dài 1979km, có

484 cột mốc) Vân Nam là một tỉnh có nhiều đồi núi, diện tích đồi núi chiếm94% diện tích toàn tỉnh [16 tr2] Vân Nam cũng là tỉnh có nhiều thành phầndân tộc thiểu số nhất trong cả nước, có nhiều dân tộc đặc trưng, tự trị châu

dân tộc và cũng là tỉnh có nhiều huyện nhất Dân tộc, biên giới, đồi núi “tam

ngôi nhất thể” đã tạo thành những nét đặc thù của tỉnh Vân Nam.

Trong 16 địa khu, châu, thành phố của tỉnh có 8 địa khu có đường biêngiới quốc gia, có 5 châu là dân tộc thiểu số tự trị, có 26 huyện, thị biên giới,

có 9 cửa khẩu quốc gia, 10 cửa khẩu cấp tỉnh và trên 86 đường giao thông quabiên giới Núi non biên giới của Vân Nam nối liền với các nước Việt Nam,Lào, Mianma không che chắn tự nhiên, đi lại thuận lợi Có 16 dân tộc cùngsống ở hai biên giới, có phong tục tập quán, ngôn ngữ chữ viết, sở thích, tiêudùng và tôn giáo tín ngưỡng dân tộc giống nhau, từ xưa tới nay có tập quántruyền thống giao lưu với nhau và trao đổi hàng hoá cho nhau Từ Côn Minhđến thủ đô các nước láng giềng đều không quá 2000km, đường sắt từ CônMinh đến Hải Phòng gần hơn đến Quảng Đông 800km Từ Cửa khẩu Tả Lạcthuộc Châu Si-soong- Ba-na đến biên giới Thái Lan dài 200km Hiện nay cácđường giao thông bộ từ cửa khẩu đến các tỉnh của Lào, từ Côn Minh đến ĐiềnTây, Điền Nam đều đang được cải tạo nâng cấp Qua hệ thống giao thông

Trang 16

đường thuỷ tạo điều kiện thuận lợi cho Vân Nam trong việc giao lưu vào lưuthông hàng hoá.

Vân Nam là cửa ngõ phía Tây Nam, có vị trí đặc biệt quan trọng về mặtchiến lược không chỉ riêng đối với Vân Nam mà đối với Trung Quốc trongviệc phát triển kinh tế và ảnh hưởng tới Đông Nam Á và các khu vực kháctrên thế giới Chính vị trí địa lí đó làm cho Vân Nam từ lâu trở thành vị tríxung yếu trong lịch sử giao lưu, giao thương của Trung Quốc xuống ĐôngNam Á và Nam Á Tỉnh Vân Nam dựa trên chính sách dân tộc của TrungQuốc trong thời kì mở cửa là động lực để Vân Nam phát triển

Hoàn cảnh địa lí tự nhiên đa dạng, phức tạp và quá trình lịch sử pháttriển xã hội đặc thù khiến cho Vân Nam trở thành một tỉnh có các thành phầndân tộc nhiều nhất trong cả nước Từ năm 1949 đến những năm 80 của thế kỉ

XX Vân Nam đã tiến hành công tác xác định thành phần dân tộc theo tiêu chí

là đặc trưng dân tộc và ý nguyện dân tộc Thông qua công tác xác định thànhphần dân tộc, Vân Nam đã công nhận 52 dân tộc trên 56 dân tộc cả nước,trong dó có 26 dân tộc thiểu số Trải qua nhiều thế kỉ, các dân tộc thiểu số đã

có quan hệ chặt chẽ về kinh tế, văn hoá với các dân tộc trong nước và các dântộc thuộc các nước láng giềng Cơ sở của những quan hệ này là sự gần gũinhau về địa lí, nhu cầu giao hữu và trao đổi buôn bán

Dân tộc Hán là dân tộc chủ thể ở Vân Nam có ngôn ngữ và chữ viết củariêng mình, tiếng Hán được sử dụng rộng rãi khắp tỉnh Phần lớn các dân tộcthiểu số cũng có ngôn ngữ riêng của dân tộc mình, các dân tộc Di, Hồi, Mãn

sử dụng tiếng Hán, các dân tộc Mông Cổ, Tạng, có ngôn ngữ và chữ viếtriêng Một số dân tộc như Di, Cơ Nặc, Ngoã đều có chữ viết riêng nhưngkhông được sử dụng rộng rãi Nhiều dân tộc trước 1949 không có chữ viết saukhi nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa được thành lập, trong khuôn khổ củachương trình cấp chính phủ, chữ viết của 10 dân tộc thiểu số đã được xâydựng và hệ thống hoá đó là các dân tộc Choang, Bố Y, Hà Nhì… Chính phủcũng tổ chức tiến hành cải cách chữ viết của các dân tộc: Thái, A Sương,…

Trang 17

Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu, ngôn ngữ các dân tộc ở VânNam chủ yếu theo các dòng ngữ hệ sau:

Bảng 1.1 Phân loại ngôn ngữ của Cộng đồng các dân tộc ở Vân Nam

Nhóm ngôn ngữ Choang- Thái: Choang, Bố Ý, Thái

Nhóm ngôn ngữ Tạng Miến

-Nhóm ngôn ngữ Tạng: TạngNhóm ngôn ngữ Di: Di, Naxi,

Hà Nhì, Bạch, Cơ Nặc

Nhóm ngôn ngữ Khương:

Khương, Phổ MễNhóm ngôn ngữ chưa được xác định: A Sương

Nhóm ngôn ngữ Dao Nhóm ngôn ngữ Dao: DaoNhóm ngôn ngữ Hán Nhóm ngôn ngữ Hán: Hán, Hồi,

3 Ngữ hệ Nam Á: Ngõa - Đức Ngang - Bố Lăng

4 Ngữ hệ Nam Đảo: Cao Sơn

5 Ngữ hệ Nhóm và nhóm ngôn ngữ chưa được xác định: Kinh

(Nguồn: Cơ sở chính sách lý luận dân tộc, [52, tr112], Nxb Dân tộc Quảng Tây)

1.1.1 Dân cư, tộc người

Các dân tộc Vân Nam đều có lịch sử lâu dài 26 dân tộc thiểu số cùngchung sống ở Vân Nam từng bước hình thành nên Vân Nam từ sự tiếp xúc,quan hệ qua lại, di chuyển, hội nhập, phân hoá, hoà nhập lâu dài giữa nhữngcộng đồng tộc người hoặc giữa những tộc người bản địa với tộc người bênngoài Trong suốt quá trình lịch sử phát triển, các dân tộc Vân Nam sáng tạo

ra văn hoá dân tộc phong phú nhiều màu sắc, đã hình thành bối cảnh quan hệdân tộc vừa có xu hướng thống nhất với dân tộc chính toàn quốc, vừa mang

Trang 18

tộc Trung Quốc, cũng là bức tranh thu nhỏ vùng nhiều dân tộc biên cương củaTrung Quốc.

Trong 52 dân tộc, một số dân tộc dân số đã vượt quá 50.000 người, trong

đó 26 dân tộc thiểu số có khu định cư riêng: dân tộc Bạch, Hà Nhì, Thái,LiSu, Ngoã, La Chí, Naxi, Cảnh Pha, Bố Y, Asương, Phổ Mễ, Nợ, ĐứcNgang, Độc Long, Cơ Nặc… Với toàn bộ 15 dân tộc hoặc đại bộ phận đềusinh sống tại Vân Nam

Theo cuộc điều tra dân số tính đến cuối năm 2001 dân số Vân Nam làhơn 42.359.000 người bao gồm 26 dân tộc thiểu số, trong đó người Hánchiếm 2/3 dân số, 25 dân tộc còn lại với tổng dân số các dân tộc thiểu số là14,6 triệu người chiếm 1/3 dân số toàn tỉnh Dân tộc Di là nhiều nhất hơn 4triệu người Hơn 1 triệu là dân tộc Bạch, Hà Nhì, Thái, Choang Từ 500.000đến 1.000.000 người gồm các dân tộc HMông, Lisu, Hồi; từ 100.000 đến500.000 người là dân tộc Bố Lăng; Từ 10.000 đến 50.000 người là dân tộc Bố

Y, Phổ Mễ, A Sương, Nộ, Cơ Nặc, Đức Ngang, Mông Cổ Dân số dưới10.000 người gồm các dân tộc Thuỷ, Mãn, Độc Long Ngoài ra còn có một sốdân tộc chưa nhận biết được như người Khắc Mộc, người Mang, La Chí Mỗimột dân tộc ở tỉnh Vân Nam đều có đặc điểm lịch sử phát triển và truyềnthống văn hoá của mình Bên cạnh đó số người nước ngoài gia nhập quốc tịchTrung Quốc sống ở Vân Nam, và đáng chú ý trong số 20 triệu người Hoa sinhsống ở Đông Nam Á có hơn 300.000 người gốc Vân Nam [37, tr37]

1.1.2 Phân bố.

Dân cư Vân Nam phân bố không đồng đều Người Hán Vân Nam định

cư trên khắp tỉnh, các dân tộc thiểu số chủ yếu được phân bố tại các miền TâyBắc Người Hán Vân Nam có trình độ phát triển cao và trong suốt tiến trìnhlịch sử, có mối liên hệ mật thiết về kinh tế, chính trị, văn hoá với tất cả cácdân tộc thiểu số Theo đặc điểm tự nhiên của vùng cư trú, người Hán VânNam tập trung cư trú tại các vùng đồng bằng và thung lũng, các dân tộc thiểu

Trang 19

số chủ yếu cư trú tại vùng cao, miền núi, vùng xa xôi hẻo lánh, điều kiện đilại khó khăn, khí hậu khắc nghiệt.

Dân cư của các dân tộc thiểu số tỉnh Vân Nam được phân bố theo cáctuyến đường biên giới là chính, phân vuông góc theo địa hình đồi núi Điều

đó thể hiện hai đặc trưng chính: nhìn một cách tổng thể, trình độ phát triểnkinh tế, xã hội của các dân tộc sống ở vùng đồi núi thấp hơn so với dân cưsống ở các vùng bằng phẳng; trình độ phát triển tại các vùng nông thôn khác

xa so với thành thị

Tình hình chung là sinh sống tập trung chủ yếu tại các vùng bằng phẳng,đường biên giới, lòng sông gồm 10 dân tộc: Hồi, Mãn, Bạch, Naxi, Mông Cổ,Choang, Thái, A Sương, Bố Y, Thuỷ; Dân số ước tính hơn 5 triệu người, sốngtập trung tại các vùng bán sơn địa gồm 8 dân tộc: Hà Nhì, Dao, La Chí, Ngoã,Cảnh Pha, Bố Lăng, Đức Ngang, Cơ Nặc và một bộ phận dân cư Di Dân sốhơn 5 triệu người, sống tập trung tại các vùng núi cao có dân tộc: HMông,LiSu, Tạng, Phổ Mễ, Nộ, Độc Long và một bộ phận dân tộc Di, dân số hơn 4triệu người

1.1.3 Những đặc điểm chủ yếu của cộng đồng các dân tộc ở Vân Nam.

Trải qua quá trình lịch sử phát triển cộng đồng các dân tộc Vân Nam dầnhình thành những đặc điểm cơ bản sau:

Hình thành bối cảnh đa dân tộc.

Đa dân tộc, tính đa dạng hình thành tự nhiên của sự khác biệt văn hoákhiến kinh tế, văn hoá của các dân tộc trở nên muôn màu muôn vẻ, giàu bảnsắc, đồng thời có nhiều dân tộc, nhất là những dân tộc sống ở vùng đồi núi,trình độ phát triển xã hội đã hình thành trong lịch sử còn thấp còn lạc hậu vềkinh tế, giao thông không thuận tiện nên phát triển phổ cập giáo dục khoa học

kĩ thuật hiện đại còn khó khăn, đến nay vẫn còn ảnh hưởng đến sự phát triển

xã hội của các dân tộc

Trang 20

Trên phạm vi toàn tỉnh, phần lớn các dân tộc sống thành những nhómhỗn hợp Các dân tộc thiểu số cư trú xen kẽ với nhau và xen kẽ với dân tộcHán Với sự phát triển của giao lưu kinh tế và văn hoá trong nước, hình thái

cư trú xen kẽ giữa các dân tộc có xu hướng ngày càng gia tăng Thành phầndân tộc của cư dân tại phần lớn các huyện đều trên 10 thành phần dân tộc Tạimột số địa phương tự trị dân tộc, dân số người Hán vấn chiếm đa số Tuynhiên ở một số vùng có các dân tộc cư trú tương đối trung lập, song nhìnchung các dân tộc Vân Nam sống xen kẽ nhau, không có lãnh thổ riêng biệt

Trình độ phát triển kinh tế - xã hội các dân tộc không đồng đều.

Do nhiều yếu tố khác nhau mà trình độ phát triển kinh tế - xã hội khôngđồng đều giữa các dân tộc ở Vân Nam Những yếu tố đó có thể do lịch sử đểlại, cũng có thể do điều kiện tự nhiên khắc nghiệt ở địa bàn cư trú của một sốdân tộc, từng vùng, từng dân tộc có những tính đặc thù riêng Nhiều dân tộcthiểu số cư trú tại vùng biên giới, vùng cao, vùng núi, đi lại khó khăn, sảnxuất và sinh hoạt gặp nhiều khó khăn, dẫn đến sự thấp kém về trình độ pháttriển kinh tế - xã hội Nhiều dân tộc đã đạt đến trình độ cao về phát triển kinh

tế - xã hội, nhưng cũng còn một số dân tộc vẫn còn ở trình độ phát triển rấtthấp Hiện nay để thực hiện bình đẳng dân tộc, việc khắc phục sự phát triểnkhông đồng đều về kinh tế - xã hội giữa các dân tộc là nội dung quan trọngcủa chính sách dân tộc ở Vân Nam nói riêng và chính sách dân tộc TrungQuốc nói chung

Sự phong phú và đa dạng về văn hoá của các dân tộc.

Dân tộc luôn gắn liền với văn hoá Văn hoá càng phong phú thì dân tộccàng đặc sắc, càng phát triển tốt Phát triển nguồn văn hoá dân tộc ở Vân namrất phong phú và đa dạng, nó mang trong mình nhiều cơ hội rất lớn Nó vừa làsức sản xuất phát triển Vân Nam, vừa là nhu cầu của xã hội Văn hoá đượcthể hiện trong khoa học kĩ thuật, ngôn ngữ, văn học, âm nhạc, điêu khắc, hộihoạ, y học cổ truyền… Ngôn ngữ các dân tộc Vân Nam chủ yếu thuộc 2 ngữhệ: ngôn ngữ Hán - Tạng và Nam Á: Choang, Thái, Miến, Dao, Di, Tang,

Trang 21

Mơn ba, Cảnh Pha, Khương, Hà Nhì, Bạch, Ngoã, Đức Ngay, Bố Lăng…Văn hoá ngôn ngữ khác nhau, văn hoá các dân tộc thiểu số cũng rất phongphú và đa dạng Các dân tộc Vân Nam đều có những tác phẩm văn học nổitiếng, những tác phẩm hội hoạ, điêu khắc, kiến trúc nhìn chung ở trình độnghệ thuật tương đối cao Âm nhạc ca múa dân tộc rất đa dạng, đã thể hiệntính dân tộc.

Các dân tộc Vân Nam trở thành bộ phận không thể chia cắt của dân tộc Trung Quốc thống nhất trong sự đa dạng.

Đây là một đặc điểm cơ bản đã đạt được sự thăng hoa trong cuộc đấutranh hiện nay của các dân tộc cùng nhau chống lại các thế lực bên ngoài, đểrồi trở thành ý thức dân tộc Trung Hoa của các dân tộc Vân Nam Vì vậy cóthể nói rằng các dân tộc Vân Nam là một bộ phận không thể chia cắt của dântộc Trung Hoa thống nhất trong đa dạng

Ngoài những đặc điểm trên thì cộng đồng các dân tộc Vân Nam còn cónhững đặc điểm khác như hình thành nên kết cấu dân số dân tộc và nền móng

xã hội cùng tồn tại lâu dài giữa người Hán làm chủ thể với các dân tộc ítngười Vân Nam

1.2 LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦATRUNG QUỐC TRONG LỊCH SỬ

1.2.1 Sự vận lý luận về dân tộc của chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn Trung Quốc.

Lý luận về dân tộc của chủ nghĩa Mác- Lênin là lý luận khoa học doC.Mác và Ph Ăngghen sáng lập từ giữa thế kỉ XIX, là bộ phận quan trọngcủa chủ nghĩa Mác và được Lênin phát triển Mác và Ăngghen lần đầu tiênứng dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử do họsáng lập ra, khảo sát và nghiên cứu dân tộc và vấn đề dân tộc, vạch ra quy luật

và hướng phát triển của dân tộc và vấn đề dân tộc; xác định quan hệ giữa vấn

đề dân tộc với vấn đề giai cấp, vấn đề xã hội, vấn đề cách mạng xã hội; đề ra

Trang 22

giải quyết vấn đề dân tộc đúng đắn trong thực tế Sự ra đời của Đảng Cộngsản Trung Quốc là bắt đầu của lịch sử phát triển chính sách dân tộc TrungQuốc thời hiện đại Lý luận về dân tộc của chủ nghĩa Mác- Lênin đã được vậndụng linh hoạt vào thực tiễn trong quá trình hình thành quan niệm dân tộc củaĐảng Cộng sản Trung Quốc và chính sách dân tộc của Trung Quốc.

Trong các tác phẩm của Mác và Ăngghen có nhiều bài viết liên quan đếnvấn đề dân tộc và thuộc địa, những bài viết này là cơ sở của hệ lí luận dân tộc.Lênin là người kế thừa và phát triển tư tưởng lý luận dân tộc của Mác vàĂngghen và ứng dụng vào thực tiễn Vấn đề dân tộc của Lênin là nguồn gốc

và cơ sở lý luận của lý luận dân tộc của Đảng Cộng sản Trung Quốc [43].Đầu thế kỉ XX, lý luận dân tộc của Mác- Ăngghen được truyền bá vào TrungQuốc thông qua hai con đường Con đường thứ nhất là những người theo cáchmạng Trung Quốc tìm hiểu nghiên cứu chủ nghĩa Mác- Lênin và lý luận dântộc của chủ nghĩa Mác-Lênin ở nước ngoài, sau khi về nước họ tuyên truyền

và thực tiễn Con đường thứ 2 là bài viết và sách báo về lý luận dân tộc củachủ nghĩa Mác- Lênin được dịch sang tiếng Trung

Thắng lợi của cách mạng tháng Mười Nga đã thúc đẩy sự truyền bá củachủ nghĩa Mác- Lênin tại Trung Quốc, thức tỉnh ý thức dân tộc và ý thức giaicấp, thúc đẩy sự bùng nổ của phong trào Ngũ Tứ và phát triển của phong tràovăn hoá mới Phong trào Ngũ Tứ bùng nổ (4/5/1919) đã mở rộng ảnh hưởngcủa cách mạng tháng Mười, giải phóng tư tưởng của người dân Sau phongtrào này, một số tổ chức và tạp chí được thành lập, triển khai công tác nghiêncứu và tuyên truyền chủ nghĩa Mác- Lênin Phong trào Ngũ Tứ đã thúc đẩy sựphát triển của tư tưởng dân tộc Trung Quốc

Ngoài các nhà lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc tiếp thu lý luận

về dân tộc và vấn đề dân tộc của chủ nghĩa Mác- Lênin Giới học giả TrungQuốc đã tổng kết quan niệm về dân tộc của các nhà lãnh đạo, hình thành lýluận dân tộc của Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình, Giang TrạchDân của Đảng Cộng sản Trung Quốc Những lý luận dân tộc trên mang những

Trang 23

đặc điểm của từng thời kì và là cơ sở lý luận của công tác dân tộc và chínhsách dân tộc Trung Quốc qua từng thời kì.

1.2.2 Những nội dung về dân tộc qua văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Trước năm 1949 quan niệm dân tộc của Đảng Cộng sản Trung Quốc đãtrải qua một quá trình dần hình thành và phát triển, nhiều quan điểm dân tộc

và cương lĩnh dân tộc được đề ra trong các kì Đại hội Đảng và được sửa đổitrong thực tiễn cách mạng Trước khi nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoathành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tổ chức Đại hội Đảng 7 lần:

Đại hội Đảng lần I vào năm 1921 là cương lĩnh đầu tiên của Đảng Cộngsản Trung Quốc Phản ánh trong vấn đề tổ chức của Đảng, tỏ ra nguyên tắcbình đẳng dân tộc, đây là biểu hiện cụ thể của tư tưởng bình đẳng dân tộc.Đại hội Đảng lần II vào tháng 7/1922 tại Thượng Hải thông qua Tuyênngôn Tuyên ngôn đề ra chủ trương bình đẳng dân tộc và đoàn kết giữa cácdân tộc và vấn đề tự quyết dân tộc được đề cập đến Tư tưởng và quan điểm

cơ bản của Tuyên ngôn này đã chỉ đạo công tác dân tộc của Đảng Cộng sảnTrung Quốc đến khi Đại hội Đảng lần VI được khai mạc (1928) [65]

Đại hội Đảng III vào tháng 6.1923 tại Quảng Châu quy định rõ về thựchiện bình đẳng dân tộc và đoàn kết, liên hợp giữa các dân tộc Đại hội đề ravùng dân tộc thiểu số nên được hưởng quyền lợi bình đẳng và đầy đủ

Đại hội Đảng IV vào năm 1925 thông qua Nghị quyết về vấn đề Mông

Cổ, đề ra một số chính sách dân tộc cụ thể, đây là nghị quyết chuyên môn đểgiải quyết vấn đề dân tộc thiểu số trong cả nước

Đại hội V (tháng 5.1927) nội dung về vấn đề dân tộc và chính sách dântộc không được đề cập đến Đại hội VI vào tháng 6.1928 thông qua Nghịquyết về vấn đề dân tộc được đề ra, vấn đề dân tộc thiểu số của Trung Quốc

có ý nghĩa quan trọng đối với cách mạng Đại hội xác định: Thống nhất TrungQuốc và thừa nhận quyền tự quyết dân tộc là một nguyên tắc Đại hội đã

Trang 24

họ để thuận tiện công tác Đây là chủ trương nhằm phát triển văn hoá dân tộcthiểu số và tôn trọng ngôn ngữ chữ viết dân tộc thiểu số của Đảng Cộng sảnTrung Quốc [29]

Đại hội VII từ ngày 23.4 đến 11.6.1945 tại Yên An thông qua báo cáochính trị đề ra cương lĩnh cụ thể về vấn đề dân tộc là cải thiện đãi ngộ của cácdân tộc thiểu số trong nước, thừa nhận quyền tự trị của các dân tộc thiểu sốtrong một nhà nước thống nhất Đảng Cộng sản Trung Quốc đã xác địnhnguyên tắc cơ bản về vấn đề dân tộc: bình đẳng giữa các dân tộc trên lãnh thổTrung Quốc, thừa nhận quyền tự quyết của các dân tộc trên lãnh thổ TrungQuốc Các dân tộc thiểu số có quyền lợi tự trị tôn trọng ngôn ngữ chữ viết,phong tục tập quán của các dân tộc thiểu số, tôn trọng tự do tín ngưỡng tôngiáo Đây là cương lĩnh dân tộc của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong thời kìnày đồng thời sẽ chỉ đạo thực tiễn công tác dân tộc

Qua 7 lần Đại hội trước năm 1949 thì Đại hội lần II, thứ VI, thứ VII cóđóng góp quan trọng và rất lớn đối với sự hình thành và phát triển của cươnglĩnh và chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Trung Quốc Đến cách mạngvăn hoá là thời kì đấu tranh giai cấp và trên hết, các kì Đại hội Đảng VIII(tháng 9.1956), lần IX (tháng 4.1969), lần X (tháng 8.1973) đều không có nộidung về dân tộc và chính sách dân tộc

Bước vào giai đoạn lịch sử thời kì cải cách mới của Đảng Cộng sảnTrung Quốc đến nay đã tổ chức 7 lần Đại hội Đảng Trong đó Đại hội Đảnglần XI có vai trò quan trọng chấm dứt sau một thời gian do ảnh hưởng của tưtưởng tả khuynh và sai lầm của cách mạng văn hoá về vấn đề dân tộc và chínhsách dân tộc Đại hội Đảng lần XIV đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng sựnghiệp cải cách mở cửa và hiện đại hoá đất nước

Đại hội Đảng lần thứ XI vào ngày 12 đến 18.8.1977 Đại hội này đượctiến hành ngay sau khi cách mạng văn vừa kết thúc (1976) Thông qua báocáo chính trị chỉ rõ phải làm tốt công tác dân tộc thiểu số và vùng biên giới,tích cực giúp đỡ các dân tộc thiểu số Trọng tâm là phản đối tư tưởng dân tộc

Trang 25

lớn của dân tộc Hán, đồng thời phản đối tư tưởng dân tộc địa phương, làm tốtquan hệ giữa dân tộc Hán và các dân tộc thiểu số, củng cố và phát triển đoànkết giữa các dân tộc [28]

Đại hội Đảng lần XII vào ngày 1.9.1982 Đây là Đại hội Đảng mở đầucho công cuộc xâ dựng hiện đại hoá đất nước và vấn đề dân tộc, chính sáchdân tộc có những quy định cụ thể Đảng đã xác định chính sách dân tộc có íchcho việc phát triển kinh tế, văn hoá của các vùng dân tộc thiểu số, tăng cườngđoàn kết giữa các dân tộc, những chính sách đó cần được hoàn thiện và pháttriển

Đại hội Đảng lần XIII tháng 10.1987 Vấn đề dân tộc và chính sách dântộc có những quy định cụ thể và tăng cường đại đoàn kết dân tộc: bình đẳng,đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau Đặc biệt Đảng nghiêm chỉnh thực hiện chính sáchdân tộc và làm tốt công tác dân tộc

Đại hội Đảng lần thứ XIV từ ngày 12 đến ngày 18.10.1992 tại Bắc Kinh.Vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc có những quy định cụ thể Đó chính làphát triển kinh tế của vùng dân tộc thiểu số đi đôi với tăng cường đoàn kếtdân tộc Thực hiện xoá nghèo là mục tiêu chiến lược của Đảng Cộng sảnTrung Quốc Thực hiện chính sách dân tộc, kiên trì và hoàn thiện chế độ tự trịkhu vực dân tộc, bình đẳng giúp đỡ lẫn nhau xúc tiến các dân tộc cùng pháttriển

Đại hội Đảng lần XV Vào ngày 12.19.1997 tại Bắc Kinh Đây là vấn đềdân tộc và chính sách dân tộc có nội dung cụ thể nhằm quyết tâm thực hiệnchính sách dân tộc của Đảng, tăng cường công tác dân tộc

Đại hội Đảng lần XVI tháng 11.2002 tại Bắc Kinh Đây là Đại hội đầutiên của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong thế kỉ XXI Đại hội có những nộidung cụ thể với chiến lược khai thác miền Tây là mục tiêu của sự nghiệp pháttriển đất nước, tiếp tục thực hiện đại đoàn kết dân tộc

Đại hội Đảng lần XVII được tổ chức vào năm 2007 Đại hội tiếp tục

Trang 26

việc thực hiện các chiến lược để các dân tộc nơi biên giới có điều kiện pháttriển, nâng cao khối đại đoàn kết dân tộc, cùng nhau phát triển.

Qua những nội dung về chính sách dân tộc của những kì Đại hội Đảngcủa Đảng Cộng sản Trung Quốc có thể thấy rằng: Đảng Cộng sản TrungQuốc từ tiếp thu lý luận về vấn đề dân tộc của chủ nghĩa Mác – Lênin đã kếthợp với tình hình thực tiễn Trung Quốc qua từng giai đoạn lịch sử ĐảngCộng sản Trung Quốc dần dần đề ra chủ trương và chính sách dân tộc vừa cóhiệu quả vừa phù hợp với thực tế Trung Quốc Đặc biệt từ giai đoạn cải cách

mở cửa đến nay chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Trung Quốc ngàycàng phát huy vai trò to lớn đối với Trung Quốc nói chung và với tỉnh VânNam nói riêng

1.2.3 Những quy định về dân tộc trong Hiến pháp.

Cương lĩnh cộng đồng của Hội nghị hiệp thương nhân dân Trung Quốc.Cương lĩnh được thông qua vào ngày 29.9.1949 có vị trí như Hiến pháp lâmthời về dân tộc và chính sách dân tộc Chương 6 của Cương lĩnh có nhữngquy định cụ thể qua Điều 9, Điều 50 và Điều 53

Trong Điều 9 nêu rõ: Các dân tộc của nước Cộng hoà Nhân dân TrungHoa đều có quyền và nghĩa vụ bình đẳng như nhau

Trong Điều 50 có nêu: Các dân tộc đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau, làm chonước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa thành đại gia đình hợp tác, hữu nghị củacác dân tộc

Trong Điều 53 quy định: Các dân tộc thiểu số đều có quyền tự do để pháttriển ngôn ngữ chữ viết duy trì hoặc cải cách phong tục tập quán và tôn giáotín ngưỡng của dân tộc mình

Về tự trị khu vực dân tộc, cương lĩnh quy định qua Điều 51, Điều 52.Điều 51: Vùng tụ cư của các dân tộc thiểu số nên thực hiện chế độ tự trịdân tộc Theo dân số của dân tộc tụ cư và diện tích khu vực, thiết lập các cơquan tự trị dân tộc

Trang 27

Điều 52 nêu rõ: Theo chế độ quân sự thống nhất của Nhà nước, các dântộc thiểu số trong nước đều có quyền lợi tham gia Giải phóng quân Nhân dân

và tổ chức bộ đội công an nhân dân địa phương

Hiến pháp 1954.

Ngày 20.9.1954, Hiến pháp 1954 được thông qua tại Hội nghị lần thứnhất Quốc hội khoá I Đây là Hiến pháp đầu tiên của nước Cộng hoà Nhândân Trung Hoa Trong Hiến pháp có những nội dung liên quan đến dân tộc vàchính sách dân tộc

Về chính sách dân tộc duy Hiến pháp 1954 quy định qua điều 3, điều 23

và điều 58

Trong Điều 3 nêu rõ: Nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa là một quốcgia thống nhất đa dân tộc Các dân tộc đều bình đẳng như nhau, cấm phân biệtđối xử nhằm chia rẽ tình đoàn kết, nhất trí giữa các dân tộc

Điều 23 có nói: Tỷ lệ đại biểu và cách bầu cử đại biểu Quốc hội, gồm tỉ

lệ đại biểu và cách bầu cử đại biểu các dân tộc thiểu số, do luật bầu cử quyđịnh

Điều 58: Hội đồng nhân dân các cấp phải đảm bảo quyền lợi công dânđảm bảo quyền lợi bình đẳng của các dân tộc thiểu số trên địa bàn

Về tư pháp thông qua Điều 77 nhấn mạnh: Công dân các dân tộc đều cóquyền sử dụng ngôn ngữ chữ viết của dân tộc mình để tiến hành tố cáo Tạivùng tụ cư của các dân tộc thiểu số hoặc vùng tạp cư nhiều dân tộc, toà ánnhân dân nên sử dụng ngôn ngữ thông dụng trên địa bàn để công bố phánquyết, bố cáo hoặc các văn kiện khác

Về chế độ tự trị khu vực dân tộc Hiến pháp (1954) quy định qua Điều 53,Điều 54, Điều 67, Điều 68, Điều 69

Điều 53: Khu tự trị, châu tự trị và huyện tự trị đều là địa phương tự trịdân tộc

Điều 54: Khu tự trị, châu tự trị, huyện tự trị thành lập cơ quan tự trị

Trang 28

Điều 67: Hình thức của cơ quan tự trị có thể quy định theo ý nguyện củaphần lớn nhân dân thuộc dân tộc thực hiện tự trị khu vực.

Điều 68: Trong cơ quan tự trị của các khu tự trị, châu tự trị, huyện tự trị

có nhiều dân tộc tạp cư, đại diện của các dân tộc liên quan nên chiếm tỉ lệthích hợp

Điều 69: Cơ quan tự trị có chức quyền như là cơ quan chính quyền địaphương đã được quy định trong Hiến pháp

Về quyền tự trị của các địa phương tự trị Hiến pháp (1954) quy định quaĐiều 70, Điều 71, Điều 72

Điều 70: Cơ quan tự trị của khu tự trị, châu tự trị, huyện tự trị có quyềnlợi tự trị theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, có quyền quản lý tài chínhđịa phương của mình, có quyền tổ chức bộ đội công an của địa phương mình,

có quyền chỉ định điều lệ tự trị

Điều 71: Trong quá trình thực hiện chức vụ cơ quan tự trị của khu tự trị,châu tự trị, huyện tự trị có thể sử dụng một hay nhiều ngôn ngữ chữ viết thôngdụng trong các dân tộc của địa phương

Điều 72: Cơ quan nhà nước cấp trên phải đảm bảo quyền tự trị của cơquan tự trị đồng thời phải giúp đỡ các dân tộc thiểu số phát triển sự nghiệp,chính trị, kinh tế, văn hoá [48]

Hiến pháp 1975.

Ngày 17.1.1975, Hiến pháp mới được thông qua tại Hội nghị lần thứ nhấtQuốc hội khoá IV Hiến pháp 1975 có nhiều nội dung liên quan đến vấn đềdân tộc và chính sách dân tộc

Về chính sách dân tộc chung, Hiến pháp (1975) ghi rõ thông qua Điều 4,nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa là một quốc gia thống nhất đa dân tộc.Các địa phương thực hiện chế độ tự trị khu vực dân tộc đều là một bộ phậnkhông thể chia cắt của cả nước Các dân tộc đều bình đẳng như nhau và cóquyền tự do ngôn ngữ chữ viết của dân tộc mình

Trang 29

Về tự trị khu vực dân tộc Hiến pháp 1975 quy định thông qua Điều 24tiết 3 chương 2 Các cơ quan nhà nước cấp trên nên đảm bảo quyền tự trị của

cơ quan tự trị của các địa phương tự trị dân tộc, ủng hộ các dân tộc thiểu sốphát triển xã hội [58]

Hiến pháp 1978.

Ngày 5.3.1978 Hiến pháp 1978 được thông qua tại Hội nghị lần thứ nhấtQuốc hội khoá V Hiến pháp 1978 được ban hành khi cách mạng văn hoá kếtthúc Hiến pháp 1978 có những nội dung chủ yếu về dân tộc và chính sáchdân tộc được phục hồi như Hiến pháp 1954 Song cũng có những nội dungmới phù hợp với tình hình thực tế, được quy định qua điều 46 Đó là vấn đềđào tạo cán bộ của các dân tộc thiểu số được coi trọng và đẩy mạnh Đồngthời tập trung phát triển kinh tế văn hoá xã hội chủ nghĩa

Hiến pháp 1982.

Ngày 4.12.1982, Hiến pháp 1982 được thông qua Hội nghị lần thứ 5Quốc hội khoá X Hiến pháp 1982 được ban hành khi Trung Quốc bắt đầutiến hành công cuộc cải cách mở cửa Đây cũng là Hiến pháp có những nộidung mới liên quan đến dân tộc và chính sách dân tộc Về chính sách dân tộcchung Hiến pháp 1982 nhấn mạnh qua Điều 4: yêu cầu các dân tộc, giúp đỡvùng dân tộc thiểu số đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế và văn hoá Đâyphản ánh việc phát triển kinh tế văn hoá của vùng dân tộc thiểu số bắt đầuđược coi trọng

Trong trường hợp tư pháp, Hiến pháp 1982 có nội dung qua Điều 134.Đây là Điều được quy định giống những nội dung trong Hiến pháp 1954

Về quyền tự trị của các địa phương tự trị dân tộc, Hiến pháp 1982 cónhững nội dung cụ thể qua Điều 117, Điều 118, Điều 119

Điều 117 ghi rõ: Cơ quan tự trị của các địa phương tự trị dân tộc cóquyền tự trị để quản lý tài chính trên địa bàn

Trang 30

Điều 118 nêu: Dưới sự chỉ đạo của nhà nước, cơ quan tự trị của các địaphương tự trị dân tộc tự chủ sắp xếp và quản lý sự nghiệp kinh tế mang tínhđịa phương.

Điều 119: Cơ quan tự trị của địa phương tự trị dân tộc tự chủ quản lý sựnghiệp giáo dục, y tế, văn hoá, khoa học trên địa bàn, bảo tồn di sản văn hoádân tộc

Trong bốn bộ Hiến pháp đã được thông qua của nước Cộng hoà Nhân dânTrung Hoa, Hiến pháp 1982 có nội dung cụ thể nhất về dân tộc và chính sách dântộc Hiến pháp 1982 tiếp tục được sửa đổi vào các năm 1988, 1999, 2004 Nhữngnội dung liên quan đến vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc

1.2.4 Các nguyên tắc cơ bản về chính sách dân tộc của Trung Quốc.

Chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản và Nhà nước Trung Quốc là kếtquả của sự kết hợp giữa lý luận cơ bản về vấn đề dân tộc của chủ nghĩa Mác –Lênin và tình hình thực tiễn của dân tộc Trung Quốc Bình đẳng dân tộc vàđoàn kết dân tộc là nguyên tắc cơ bản để xử lý vấn đề dân tộc của chủ nghĩaMác – Lênin, cũng là nguyên tắc cơ bản về chính sách dân tộc Đảng Cộng sản

và Nhà nước Trung Quốc Nguyên tắc cơ bản ấy nó xuyên suốt thời kì lịch sửxây dựng chủ nghĩa xã hội và đổi mới đất nước Bình đẳng, đoàn kết và giúp

đỡ lẫn nhau là những nguyên tắc cơ bản của chính sách dân tộc Trung Quốc

nó được thể hiện thông qua các lần Đại hội Đảng, thông qua Hiến pháp [58]

Về nguyên tắc cơ bản của chính sách dân tộc Trung Quốc, bình đẳng vàđoàn kết luôn là nguyên tắc quan trọng của chính sách dân tộc Đặc biệt saukhi Trung Quốc thực hiện chính sách mở cửa đổi mới những nội dung liênquan đến chính sách dân tộc luôn lấy nguyên tắc cơ bản về chính sách dân tộccủa Đảng Cộng sản và Nhà nước Trung Quốc làm quốc sách trong việc đoànkết dân tộc và phát triển đất nước

1.2.5 Luật tự trị khu vực dân tộc.

Ngay trong cương lĩnh cộng đồng của Hội nghị hiệp thương nhân dânTrung Quốc (29.9.1949) đã quy định tự trị khu vực dân tộc là chính sách cơ

Trang 31

bản để giải quyết vấn đề dân tộc của Trung Quốc Đến tháng 8.1952 chínhphủ Trung Quốc ban hành cương yếu thực hiện tự trị khu vực dân tộc Hiếnpháp (1954) quy định cụ thể về tự trị khu vực dân tộc Trong 2 năm (1955 –1957) Hội đồng dân tộc của Quốc hội bắt đầu sửa chữa cương yếu thực hiện

tự trị khu vực dân tộc, biên soạn bản thảo của luật tự trị khu vực dân tộc.Ngày 31.5.1984 Hội nghị lần hai của Quốc hội khoá VI đã thông qua luật

tự trị khu vực dân tộc và có hiệu lực từ ngày 1.10.1984 luật tự trị dân tộc có 7chương, 67 điều, 4 phần nội dung chính: Tổ chức của cơ quan tự trị của địaphương tự trị dân tộc; quyền tự trị của cơ quan tự trị; sự lãnh đạo và giúp đỡcủa cơ quan nhà nước cấp trên; củng cố và phát triển quan hệ dân tộc chủnghĩa xã hội (Xem toàn văn của luật tự trị khu vực dân tộc trong phần phụlục)

Luật tự trị khu vực dân tộc tiếp tục được Hiến pháp của nước Cộng hoàNhân dân Trung Hoa qua 3 lần sửa đổi liên quan đến luật tự trị khu vực dântộc

Năm 1994 Trung Quốc xác lập mục tiêu cải cách xây dựng thể chế kinh

tế thị trường xã hội chủ nghĩa Do đó để duy trì sự thống nhất giữa Hiến pháp

và luật tự trị khu vực dân tộc, để các quy định của luật tự trị khu vực dân tộcphù hợp với thể chế kinh tế thị trường và yêu cầu phát triển kinh tế, chính trị,văn hoá của vùng dân tộc thiểu số

Ngày 28.2.2001, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã tiến hành sửa đổi luật tựtrị khu vực dân tộc Đó là từ 67 điều tăng đến 74 điều về luật tự trị khu vựcdân tộc Những nội dung được sửa đổi gồm: chế độ tự trị khu vực được xácđịnh là một chế độ chính trị cơ bản của Trung Quốc; một số quy định vềquyền tự trị được hoàn thiện; tăng cường giúp đỡ địa phương tự trị dân tộc vềtài chính, tăng gia đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng tại địa phương tự trị dân tộc;khích lệ vùng kinh tế phát triển giúp đỡ các địa phương tự trị dân tộc; thựchiện phát triển sự nghiệp văn hoá giáo dục dân tộc thiểu số, đào tạo nguồn

Trang 32

Ngày 11.5.2005 Hội nghị thường vụ lần 89 của chính phủ thông qua một

số quy định thực hiện luật tự trị khu vực dân tộc gồm 35 điều, nội dung chủyếu là những biện pháp mới để phát triển kinh tế, xã hội của các địa phương

tự trị dân tộc Đây là văn kiện có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì vàhoàn thiện chế độ tự trị khu vực dân tộc trong thời kì mới, đồng thời là luật cơbản nhằm hoạch định và thực hiện chính sách dân tộc theo con đường phápchế hoá

Luật tự trị khu vực dân tộc được coi là một chế độ chính trị cơ bản đãphản ánh nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa coi trọng vấn đề dân tộc đồngthời tin tưởng chế độ tự trị khu vực dân tộc góp phần thành công giải quyếtvấn đề dân tộc Trung Quốc Sau khi được sửa đổi, luật tự trị khu vực dân tộc

đã phù hợp với điều kiện mới của đất nước Luật tự trị khu vực dân tộc phùhợp với thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa

1.3 CHÍNH SÁCH DÂN TỘC Ở VÂN NAM TRƯỚC NĂM 1978.Nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa được thành lập, dưới sự lãnh đạocủa Đảng Cộng sản, chính sách dân tộc được thực hiện thuận lợi trong cảnước Vân Nam là tỉnh đẩy mạnh công tác dân tộc và thực hiện chính sáchdân tộc trên cơ sở bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau Dựa trên chỉ thịcủa Trung ương Đảng, Tỉnh uỷ Vân Nam thận trọng xử lí các vấn đề dân tộcthiểu số, vấn đề cải cách xã hội tại các vùng dân tộc thiểu số, đặc biệt các vấn

đề có liên quan đến tôn giáo tín ngưỡng, phong tục tập quán

1.3.1 Giai đoạn từ 1949 – 1965.

Ở thời kì đầu từ 1949 – 1957 thì vấn đề dân tộc ở Vân Nam được thựchiện có phần thuận lợi sau Hội nghị lần thứ III của Hội đồng Chính phủ Nhândân Trung ương (22.10.1949) triển khai công tác dân tộc Ở những vùng dântộc thiểu số tụ cư đều lần lượt thành lập cơ quan quản lý nghiệp vụ công tácdân tộc Từ năm 1950 – 1952 Tỉnh uỷ cử các đoàn đại biểu đến thăm cácvùng dân tộc thiểu số, tuyên truyền chính sách dân tộc, đồng thời triển khaicông tác điều tra tình hình chính trị, kinh tế, văn hoá của các dân tộc thiểu số

Trang 33

Thời kì 1957 – 1965 Vân Nam đẩy mạnh phát triển sự nghiệp kinh tế, văn hoá

xã hội của các dân tộc thiểu số, củng cố và phát triển quan hệ xã hội chủnghĩa

Trong suốt thời gian từ 1949 đến 1965 việc thực hiện chính sách VânNam chủ yếu gồm các nội dung sau:

Thực hiện và đảm bảo quyền lợi bình đẳng, quyền lợi tự trị.

Cương lĩnh cộng đồng (1949) và Hiến pháp (1954) đều có quy định về tựtrị khu vực dân tộc Chế độ tự trị khu vực dân tộc đảm bảo quyền tham chính

và quyền làm chủ của dân tộc thiểu số Ở Vân Nam đã thực hiện thành lập cácchâu tự trị, huyện tự trị tại các vùng dân tộc thiểu số Đến 1958 Vân Nam có

8 châu tự trị, 29 huyện tự trị, về cơ bản Vân Nam đã hoàn thành công tácthàng lập châu tự trị và huyện tự trị

Đào tạo và sử dụng cán bộ dân tộc thiểu số.

Đào tạo và coi trọng sự nghiệp giáo dục, sử dụng cán bộ dân tộc thiểu số

là nhiệm vụ quan trọng trong công tác dân tộc ở Vân Nam Ngay từ năm 1951Vân Nam đã cử người của các dân tộc thiểu số học tại Học viện dân tộc vàlớp đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số mở tại Bắc Kinh Đến cuối năm 1954 VânNam đã đào tạo được hàng nghìn tốt nghiệp sinh thuộc nhiều thành phần dântộc Cán bộ dân tộc thiểu số ngày càng được đào tạo nhiều, trong đó ưu tiênđào tạo cán bộ chuyên môn kĩ thuật

Phát triển kinh tế dân tộc thiểu số.

Đẩy mạnh phát triển kinh tế dân tộc thiểu số, cải thiện và nâng cao trình

độ sinh hoạt của các dân tộc thiểu số là nội dung chủ yếu của chính sách dântộc Vân Nam đã có những biện pháp cụ thể giúp đỡ các dân tộc thiểu số pháttriển kinh tế, đặc biệt có chính sách ưu đãi về nguồn vốn lợi nhuận, trợ cướcgiá cả đối với xí nghiệp thương mại dân tộc, cải thiện các vấn đề cơ sở hạtầng giao thông, nhân viên và cơ cấu mậu dịch của các dân tộc thiểu số Cóthể nói công tác thương mại dân tộc là phương châm để phát triển kinh tế dân

Trang 34

tộc thiểu số, đó cũng là biện pháp nhằm liên kết kinh tế giữa các vùng dân tộcthiểu số, nâng cao mức sống, sinh hoạt cho nhân dân các dân tộc thiểu số.

Tôn trọng phong tục tập quán, tôn giáo tín ngưỡng và ngôn ngữ chữ viết của dân tộc thiểu số.

Thực hiện chủ trương của Đảng Cộng sản và Nhà nước CHND TrungHoa, tỉnh Vân Nam bình đẳng và đoàn kết các dân tộc là nguyên tắc công tácdân tộc Những phong tục tập quán của các dân tộc thiểu số phải được tôntrọng và giữ gìn hoặc cải cách cho phù hợp với tính ngưỡng của dân tộc mình.Đồng thời Vân Nam tiếp tục triển khai công tác giúp đỡ các dân tộc phát triển

và cải cách chữ viết, ngôn ngữ

Nếu như ở thời kì đầu từ năm 1949 – 1965 Vân Nam thực hiện công tácdân tộc trong thuận lợi và chính sách dân tộc được thực hiện trên nhiều lĩnhvực, nhiều nội dung cụ thể phát triển kinh tế xã hội văn hoá, thì đến giai đoạnsau công tác dân tộc ở Vân Nam và vấn đề thực hiện chính sách dân tộc bị chiphối bởi tình hình chung của cả nước

1.3.2 Giai đoạn từ năm 1966 đến 1978.

Năm 1966 đến năm 1978 là thời kì hơn 10 năm cách mạng văn hoá,chính sách dân tộc đã bị phá hoại hoàn toàn, công tác dân tộc bị rơi vào tìnhtrạng đình trệ, thậm chí bị thụt lùi Hàng loạt chính sách dân tộc của ĐảngCộng sản và Nhà nước đã bị phá hoại nghiêm trọng Nhiều cán bộ và quầnchúng dân tộc thiểu số bị hãm hại Nhưng sai lầm của cách mạng văn hoá đốivới công tác dân tộc trong các lĩnh vực

Nhiều cơ quan công tác dân tộc các cấp bị xoá bỏ

Nếu vào thời kì từ 1949 – 1965 Đảng và nhân dân Vân Nam ra sức làmtốt công tác thành lập cơ quan công tác dân tộc tại các vùng dân tộc thiểu sốthì đến thời kì này các cơ quan công tác dân tộc tại các địa phương bị xoá bỏ.Đây là thiệt hại lớn trong vấn đề thực hiện chính sách dân tộc ở Vân Namtrong thời kì cách mạng văn hoá

Xâm phạm quyền lợi tự trị của dân tộc thiểu số.

Trang 35

Giai đoạn này một số địa phương tự trị dân tộc đã bị xoá bỏ mà khôngthông qua thủ tục pháp luật Châu tự trị dân tộc cảnh pha dân tộc Thái ĐứcHồng, châu tự trị dân tộc Tạng Định Khánh, châu tự trị Lật túc Nộ Giang bịsát nhập vào các vùng lân cận Năm 1967 cơ quan tự trị của các cấp địaphương tự trị dân tộc bị xoá bỏ, các dân tộc thiểu số không thể hưởng quyềnlợi tự trị nữa.

Chính sách giáo dục văn hoá dân tộc thiểu số bị phá hoại, phủ định ngôn ngữ chữ viết dân tộc thiểu số.

Thời kì này nhiều trường học, Viên dân tộc bị xoá bỏ, một loạt chínhsách ưu đãi đối với giáo dục dân tộc bị xoá bỏ, nhiều trường học tại vùng dântộc thiểu số bị đóng cửa Đặc biệt cấm các dân tộc thiểu số sử dụng ngôn ngữ

và chữ viết của mình, nhiều hoạt động xuất bản và phiên dịch ngữ văn dân tộcthiểu số giảm đi, báo chí và tạp chí dân tộc thiểu số bị đình chỉ xuất bản

Phá hoại chính sách về tôn trọng phong tục tập quán dân tộc thiểu số.

Hầu hết những hoạt động truyền thống của các dân tộc thiểu số bị đìnhchỉ, cấm hoạt động, cấm các dân tộc thiểu số mặc quần áo và đồ trang sức dântộc, ép các dân tộc thiểu số phải thay đổi kiểu ăn mặc và đồ trang sức của dântộc mình

Ngoài sự phá hoại chính sách dân tộc của nhóm Lâm Bưu và “bè lũ bốntên” của thời kì cách mạng văn hoá thì một số lãnh đạo của Đảng, Nhà nước

và tỉnh Vân Nam vẫn quan tâm đến tình hình sản xuất và sinh hoạt của dântộc thiểu số, giải quyết khó khăn của dân tộc thiểu số Đặc biệt kịp thời pháthiện và sửa chữa việc xoá bỏ 4 châu tự trị Tây song bản Na, Đức Hồng, NộGiang, Định Khánh, thành phố Côn Minh đã được cải tạo và mở cơ sở sảnxuất đồ dùng dân tộc thiểu số tại chính thành phố mình Những sai lầm củacông tác dân tộc trong thời kì cách mạng văn hoá đã chứng tỏ rằng vấn đề dântộc là vấn đề mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân và nó sẽ tồn tại lâu dài tronggiai đoạn chủ nghĩa xã hội

Trang 36

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Vân Nam là một tỉnh đa dân tộc, có các thành phần dân tộc nhiều nhấttrong cả nước: 52/56 dân tộc trên toàn quốc Trong 52 dân tộc có tới 26 dântộc thiểu số Mỗi một dân tộc ở Vân Nam đều có đặc điểm lịch sử phát triển

và truyền thống văn hoá của mình Dân số của các dân tộc Vân Nam có sựphân bố không đều, chủ yếu được tập trung ở vùng đồng bằng, thung lũng còn

ở vùng biên giới, vùng cao chủ yếu tập trung các dân tộc thiểu số Điều đócũng thể hiện mức sống và trình độ phát triển giữa các vùng khác nhau rõ rệt:

cư dân ở đồng bằng, thành thị có trình độ phát triển xã hội cao hơn so với cưdân vùng núi vùng cao Chính sự khác biệt như vậy khiến cho kinh tế, vănhoá các dân tộc Vân Nam trở nên muôn màu muôn vẻ, đa dạng và phong phú.Qua quá trình phát triển của lịch sử, các dân tộc Vân Nam hình thànhnhững đặc điểm cơ bản: Hình thành bối cảnh đa dân tộc, sinh sống đan xengiữa các dân tộc cùng chung sống, lớn thì xen kẽ, nhỏ thì tập trung, các dântộc sinh sống hoà nhập với nhau Giữa các dân tộc không ngừng phân hoá vàhội nhập tạo nên mối quan hệ thân thuộc, huyết thống lâu đời trong anh có tôi,trong tôi có anh mà vẫn mang bản sắc riêng của mỗi dân tộc Trên cơ sởnhững đặc điểm đó đã tạo nên quan hệ chủ đạo giữa các dân tộc Vân Nam làmột bộ phận không thể chia cắt của dân tộc Trung Hoa thống nhất trong đadạng

Chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản và Nhà nước Cộng hoà Nhân dânTrung Hoa là sự kết hợp giữa lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về dân tộc

và vấn đề dân tộc với tình hình thực tiễn của Trung Quốc Chính sự kết hợp

đó đã giúp các nhà lãnh đạo Trung Quốc đưa ra những nội dung về dân tộc vàvấn đề dân tộc thông qua các văn kiện của Đại hội Đảng và Hiến pháp củaNhà nước Tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa được phản ánh trongchính sách dân tộc: bình đẳng dân tộc và đoàn kết dân tộc là nguyên tắc cơbản của chính sách dân tộc Trung Quốc Trung Quốc đã ban hành luật tự trị

Trang 37

khu vực dân tộc là pháp chế hoá con đường để thực hiện chính sách dân tộc.

Có thể nói chính sách dân tộc mang tính chính trị rất cao, sự thay đổi củachính trị sẽ dẫn đến sự thay đổi của chính sách dân tộc Chính sách dân tộc cóquá trình của nó, trong từng thời kì lịch sử thì chính sách dân tộc mang dấu ấncủa từng thời kì đó Đặc biệt việc thực hiện chính sách dân tộc trước năm

1978 ở thời kì đầu từ 1949 – 1965 Vân Nam thực hiện chính sách dân tộcđược thể hiện trên nhiều lĩnh vực, với nhiều nội dung cụ thể phát triển kinh tế

xã hội văn hóa Đến thời kì sau 1966 – 1978 vấn đề thực hiện chính sách dântộc ở Vân Nam bị chi phối bởi tình hình chung của cả nước Bước sang thời

kì cải cách mở cửa – xây dựng hiện đại hoá, trọng tâm của việc thực hiệnchính sách dân tộc ở Vân Nam là phát triển kinh tế- xã hội của các dân tộcthiểu số nhằm rút ngắn khoảng cách giữa các dân tộc cùng nhau phát triểnđưa Vân Nam trở thành một tỉnh phồn vinh và phát triển

Các dân tộc Vân Nam là một bộ phận cấu thành hữu cơ trong bối cảnhdân tộc Trung Hoa thống nhất trong đa dạng đã có tác dụng và ảnh hưởngchặt chẽ đến mối quan hệ giữa các dân tộc Vân Nam với an ninh quốc gia.Đặc biệt sau khi Đảng Cộng sản Trung Quốc và Nhà nước Cộng hoà Nhândân Trung Hoa thực thi các chính sách dân tộc theo chủ nghĩa Mác: chínhsách bình đẳng dân tộc, đoàn kết dân tộc và các dân tộc cùng nhau phát triển.Căn cứ vào tình hình cụ thể của Trung Quốc thi hành chế độ vùng dân tộc tựtrị, từ đó làm cho các dân tộc Vân Nam thực hiện thuận lợi cải cách dân chủ

và xây dựng xã hội các dân tộc chủ nghĩa, đồng thời giúp đỡ các dân tộc thuđược thành tựu to lớn trong công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa Điều đókhông chỉ làm cho bộ mặt xã hội của các dân tộc Vân Nam có sự thay đổimạnh mẽ, mà sự phát triển của các dân tộc Vân Nam cũng có những cốnghiến to lớn cho sự phát triển ổn định của nhà nước xã hội chủ nghĩa, một dântộc Trung Hoa đại đoàn kết, đại thống nhất

Trang 38

Chương 2 THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC Ở VÂN NAM

“Hưng biên Phú dân”.

2.1 CHÍNH SÁCH DÂN TỘC Ở VÂN NAM TRONG THỜI KÌ 1978 –2008

Sau 10 năm động loạn của cuộc cách mạng văn hoá, mười năm tuy chỉ làmột khoảng thời gian rất ngắn so với lịch sử Trung Quốc nhưng là một thờigian đáng kể so với lịch sử 27 năm của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa.Trong suốt 10 năm trời, “cách mạng văn hoá” đã tạo ra một xã hội với rấtnhiều hậu quả phải giải quyết Tình hình thực tế ở Vân Nam gặp rất nhiều khókhăn: tình trạng đồng ruộng bị bỏ hoang, nhiều nhà máy hoạt động cầmchừng dẫn đến nạn thất nghiệp nhiều, giá lương không ổn định Nhiều cán bộviên chức hưởng lương với mức thu nhập trung bình giảm, ở nông thôn ngay

cả khi vào mùa nông dân cũng không đủ thu hoạch, nhiều vùng phải sống nhờvào cứu trợ của Nhà nước Thiên tai cũng ảnh hưởng không nhỏ đến kinh tế

xã hội và một thực tế phũ phàng lúc này đó là nạn đói tràn lan, nhiều làng quênông dân phải bỏ ruộng lên thành phố hoặc đi vùng khác, bỏ nhà lang thanghành khất Trước hoàn cảnh như vậy, Đảng và Tỉnh uỷ Vân Nam thiết thựcthi hành theo sự chỉ đạo Hội nghị Trung ương 3 khoa XI (12.1978) đó là

Trang 39

chuyển sang xây dựng hiện đại hoá chủ nghĩa xã hội và thực hiện cải cách mởcửa qua các giai đoạn chính

2.1.1 Giai đoạn từ 1978 đến năm 1991.

Từ năm 1978 đến năm 1991 thực hiện công tác dân tộc ở Vân Nam chủyếu là sửa chữa sai lầm, thiết lập hệ thống cơ quan công tác dân tộc địaphương, điều chỉnh và tăng cường công tác dân tộc Giai đoạn này phươngchâm của công tác dân tộc ở Vân Nam lấy công tác kinh tế làm trung tâm,toàn diện phát triển sự nghiệp chính trị, kinh tế, văn hoá của dân tộc thiểu số.Việc xác định nhiều chính sách dân tộc cần thiết cho việc phát triển kinh tếvăn hoá của các vùng dân tộc thiểu số chính nhằm tăng cường đoàn kết giữacác dân tộc, các chính sách trên vừa được thực hiện vừa rút kinh nghiệm dầndần và phát triển Giai đoạn này việc thực hiện chính sách dân tộc được thểhiện qua những nội dung sau:

Hồi phục các cơ quan làm công tác dân tộc.

Trong cách mạng văn hoá, nhiều cơ quan công tác dân tộc đã bị xoá bỏ,

vì vậy năm 1978 Hội nghị lần thứ nhất Quốc hội khoá V quyết định thiết lập

Uỷ ban dân tộc Trung ương, năm 1979 Hội nghị lần thứ 2 Quốc hội khoá Vthiết lập lại Hội đồng dân tộc Quốc hội Ngày 12.10.1979 chính phủ phêduyệt báo cáo về làm tốt công tác dân tộc đối với các dân tộc tạp cư và tản cư.Theo yêu cầu của văn kiện này, tỉnh Vân Nam đã thiết lập lại Ban dân tộc vàcác bộ môn công tác đào tạo, bộ giáo dục được thiết lập lại, Sở văn hoá dântộc được thiết lập lại Sự thiết lập lại các cơ quan công tác dân tộc là đảm bảocho việc thực hiện chính sách dân tộc

Hoàn thiện chế độ tự trị khu vực dân tộc.

Tỉnh Vân Nam đã kịp thời phát hiện và sửa chữa sai lầm trong cáchmạng văn hoá về việc xoá bỏ 4 châu tự trị Tây Song Bản Na, Đức Hồng, NộGiang và Định Khánh Đồng thời giai đoạn này Vân Nam tiếp tục đẩy mạnhthực hiện luật tự trị khu vực dân tộc, các địa phương tự trị kết hợp thực tế của

Trang 40

Vấn đề phát triển kinh tế dân tộc thiểu số.

Giai đoạn này phát triển kinh tế là nhiệm vụ hàng đầu của công tác dântộc, thực hiện chủ trương đoàn kết giúp đỡ nhau giữa các địa phương kinh tếphát triển với các địa phương kinh tế còn khó khăn, trong đó đặc biệt ưu tiêncác dân tộc thiểu số sinh sống Công tác vùng kinh tế phát triển giúp đỡ, chiviện vùng dân tộc thiểu số được triển khai nhanh chóng và toàn diện Trọngđiểm của công tác này là chi viện kỹ thuật và hợp tác kỹ thuật, nguyên tắc củacông tác này là ưu đãi lẫn nhau đôi bên cùng có lợi

Uỷ ban dân tộc Vân Nam đã tham dự công tác kinh tế của vùng dân tộcthiểu số, cơ quan công tác dân tộc tìm hiểu tình hình thực tế của các dân tộcthiểu số và cụ thể hoá đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước tại các vùngdân tộc thiểu số Bộ Thương mại quyết định giảm thuế cho xí nghiệp thươngmại tại vùng dân tộc thiểu số, đối với giá tiêu thụ của đồ dùng đặc thù côngnghiệp dân tộc thiểu số thực hiện hạn giá tối cao, đối với một số đặc sản nônglâm thực hiện giá thu mua tối thấp, những giá chênh lệch do tài chính trợcước, tiếp tục cho vay vốn lãi suất thấp cho các xí nghiệp thương mại của cácvùng dân tộc thiểu số

Phát triển sự nghiệp văn hoá giáo dục dân tộc thiểu số.

Giai đoạn này Vân Nam hồi phục lại những đoàn thể nghệ thuật biểudiễn dân tộc của tỉnh và cơ cấu xuất bản văn hoá dân tộc bị xóa bỏ trong cáchmạng văn hoá Đồng thời làm tốt công tác xuất bản sách bằng chữ dân tộcthiểu số, cũng như công tác ngôn ngữ chữ viết dân tộc thiểu số

Nhiệm vụ tăng cường giáo dục tiểu học và trung học, điều chỉnh giáodục trung cấp chuyên nghiệp dân tộc thiểu số và giáo dục cao đẳng, xoá mùchữ, phát triển giáo dục sư phạm dân tộc, xây dựng đội ngũ giảng dạy Từnăm 1982 Vân Nam mở các trường tiểu học và trung học dân tộc nội trú vàthực hiện chính sách ưu đãi đối với thí sinh dân tộc thiểu số trong quá trìnhtuyển sinh

Ngày đăng: 19/12/2013, 14:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Danh mục các vùng tự trị dân tộc của Vân Nam - Quá trình thực hiện chính sách dân tộc ở vân nam trung quốc thời kì cải cách mở cửa (1978   2008)
Bảng 1.1. Danh mục các vùng tự trị dân tộc của Vân Nam (Trang 109)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w