Những phạm trù cơ bản thể hiện bản chất con ngời trong tác phẩm Luận ngữ...15 Tiểu kết chơng 1...24 Chơng 2: ý nghĩa của vấn đề bản chất con ngời trong tác phẩm luận ngữ Đối với việc xây
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh
- -Vấn đề bản chất con ngời trong tác phẩm “Luận ngữ” và ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng con ngời Việt Nam hiện nay Khoá luận tốt nghiệp đại học Chuyên Ngành giáo dục chính trị Ngời thực hiện: Nguyễn Thu Hiền - Khóa 46 Ngời hớng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thái Sơn Vinh, tháng 5 năm 2009 Mục lục Trang Mở đầu 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 4
5 Phơng pháp nghiên cứu 4
6 ý nghĩa của đề tài 4
7 Kết cấu của đề tài 5
Nội dung 6
Trang 2Chơng 1: Vấn đề bản chất con ngời trong tác phẩm
luận ngữ 6
1.1 Vài nét về Khổng Tử và tác phẩm Luận ngữ 6
1.1.1 Tiểu sử của Khổng Tử 6
1.1.2 Vài nét về tác phẩm Luận ngữ 8
1.2 Quan điểm về bản chất con ngời trong tác phẩm Luận ngữ 10
1.2.1 Vấn đề bản chất con ngời trong lịch sử triết học 10
1.2.2 Những phạm trù cơ bản thể hiện bản chất con ngời trong tác phẩm Luận ngữ 15
Tiểu kết chơng 1 24
Chơng 2: ý nghĩa của vấn đề bản chất con ngời trong tác phẩm luận ngữ Đối với việc xây dựng con ngời Việt Nam hiện nay 26
2.1 Một số vấn đề về con ngời Việt Nam nói chung 26
2.1.1 Các giá trị truyền thống của con ngời Việt Nam 26
Trang 32.1.2 Tác động của những giá trị truyền thống tới con ngời Việt Nam hiện nay 30
2.2 ý nghĩa của vấn đề bản chất con ngời trong tác phẩm Luận ngữ đối với quá trình xây dựng con ngời Việt Nam hiện nay 34
2.2.1 Kế thừa và phát huy những phạm trù thể hiện bản chất con ngời trong tác phẩm Luận ngữ 34
2.2.2 Xây dựng những phẩm chất con ngời Việt Nam hiện nay trên cơ sở những giá trị về vấn đề bản chất con ngời trong tác phẩm Luận ngữ 40
Tiểu kết chơng 2 48
Kết luận 49
Danh mục tài liệu tham khảo 51
Trang 5Lời cảm ơn
Để hoàn thành khoá luận: "Vấn đề bản chất con ngời trong tác phẩm Luận ngữ và ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng con ngời Việt Nam hiện nay " ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân mình.Tôi đã nhận đợc sự giúp đỡ rất nhiệt tình của các thầy cô giáo trong Hội đồng Khoa học Khoa Giáo dục Chính trị, các thầy cô trong tổ bộ môn Triết học Mác- LêNin, sự động viên khích lệ kịp thời của gia đình và bạn bè Đặc biệt trong quá trình nghiên cứu
đề tài tôi luôn nhận đợc sự quan tâm, hớng dẫn tận tình của thầy giáo
TS.Nguyễn Thái Sơn- ngời trực tiếp hớng dẫn khoá luận cho tôi Nhân đây tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình đã luôn là chỗ dựa vững chắc cho tôi yên tâm hoàn thành khoá luận, cảm ơn những ngời bạn luôn ủng hộ, tin tởng và bên tôi trong những lúc khó khăn.
Đặc biệt tôi muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc đối với ngời trực tiếp giúp
tôi hoàn thành khoá luận này TS Nguyễn Thái Sơn Chúc thầy luôn mạnh
khoẻ, công tác tốt và đạt đợc những thành công mới trong cuộc sống !
Cảm ơn tất cả mọi ngời chúc mọi ngời sức khoẻ, may mắn và hạnh phúc trong cuộc sống !
Sinh viên Nguyễn Thu Hiền
Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Đại tớng Võ Nguyên Giáp trong một bài viết đăng trên Tạp chí Hoạt
động Khoa học số 10/1986 đã viết: "Tôi muốn nhấn mạnh: trong những nhân
tố tạo nên sức mạnh tổng hợp để đa đất nớc tiến lên, con ngời là nhân tố bậcnhất, nhân tố quyết định" [11; 21], mặc dù hơn 20 năm đã trôi qua nhng nhận
Trang 6định đó vẫn mang tính lý luận sâu sắc, tính thuyết phục ở Việt Nam trong
điều kiện hiện nay, muốn hội nhập với nền kinh tế thế giới cần phải huy động
và khơi dậy nhiều sức mạnh tiềm tàng của dân tộc, trong đó nguồn lực con
ng-ời đợc đánh giá là điều kiện cơ bản và tiên quyết cho sự phát triển của đất nớc,
Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: "Nguồn lực con
ng-ời, yếu tố cơ bản để phát triển nhanh và bền vững Con ngời và nguồn lực conngời là nhân tố quyết định sự phát triển đất nớc trong thời kỳ công nghiệp hoá,hiện đại hoá" [3; 112]
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: "Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội,trớc hết phải có con ngời xã hội chủ nghĩa" Vấn đề xây dựng con ngời mớilần đầu tiên đợc đề cập tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II (1951) trong báocáo Chính trị viết: "Xúc tiến công tác đào tạo con ngời mới và cán bộ mới chocông cuộc kháng chiến kiến quốc"[4;36]
Trong giai đoạn hiện nay, đất nớc đang trên đà hội nhập và phát triểnvấn đề xây dựng con ngời dựa trên sự tiếp thu giá trị văn hoá mang một ýnghĩa sâu sắc Bởi chúng ta đang sống trong một thời đại mà loài ngời đangxích lại gần nhau và sự giao lu văn hoá đang diễn ra trên toàn thế giới Khôngmột sức mạnh nào có thể cản trở đợc chiều hớng mãnh liệt này Không mộtdân tộc nào có thể tồn tại và phát triển nếu không tiếp thu những thành tựu trítuệ của nhân loại Trong lời kêu gọi của tổ chức UNESCO khi phát động thậpniên thế giới phát triển văn hoá 1987 - 1988 có viết: "Văn hoá ngày nay đợcxem nh chiếc chốt an toàn, chiếc van điều tiết sự phát triển"[20; 327]
Trên lĩnh vực văn hoá sự tiếp nối giữa quá khứ và hiện tại, sự giao thoagiữa Đông và Tây trở thành một vấn đề cấp thiết ở Việt Nam trong một thờigian dài của lịch sử, Nho giáo từng là hệ t tởng thống trị trong xã hội Mặc dùkhông còn giữ vị trí độc tôn, nhng nó vẫn để lại dấu vết đậm nét trong mọi lĩnhvực của đời sống xã hội Vì vậy đánh giá lại vai trò của Nho giáo trong lịch sử t t-ởng và ảnh hởng của nó trong xã hội ngày nay có ý nghĩa đặc biệt
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, tôi mạnh dạn chọn nghiên cứu đề
tài: "Vấn đề bản chất con ngời trong tác phẩm Luận ngữ và ý nghĩa của nó
đối với việc xây dựng con ngời Việt Nam hiện nay" Với mong muốn tìm
hiểu những giá trị truyền thống góp phần nhỏ bé vào công cuộc xây dựng đấtnớc
2 Tình hình nghiên cứu
Trang 7Nho giáo ra đời vào thế kỷ VI TCN do Khổng Tử (551 - 479 TCN) sánglập Lịch sử hình thành, phát triển của Nho giáo với nội dung, tính chất và vai tròlịch sử của nó luôn là đề tài hấp dẫn đối với giới nghiên cứu lý luận Nhiều côngtrình nghiên cứu, nhiều cuốn sách nổi tiếng đợc biết đến nh: "T tởng nhân bản củaNho học tiên Tần" của Tào Thợng Bân; cuốn "Chủ nghĩa t bản và Nho giáo" củahọc giả nổi tiếng ngời Nhật Bản Michio Morishima; Di Ng Thuần với bài viết:
"ảnh hởng của Nho giáo đối với văn hoá truyền thống của Hàn Quốc" - trongcuốn: "Nho học Quốc tế thảo luận hội luân văn tập 7989”
ở Việt Nam, Nho giáo đợc giới học thuật quan tâm nghiên cứu ở nhữnggóc độ và khía cạnh khác nhau, vì vậy có rất nhiều công trình viết về vấn đềnày: Sào Nam Phan Bội Châu với cuốn sách nổi tiếng "Khổng học đăng";
"Nho giáo" của Trần Trọng Kim; "Khổng Tử và Luận ngữ" của Nguyễn HiếnLê; "Nho giáo và phát triển ở Việt Nam" của Vũ Khiêu; Nguyễn Đăng Duytác giả cuốn "Nho giáo với văn hoá Việt Nam" ; "Quan điểm giáo dục củaKhổng Tử và ý nghĩa của nó đối với giáo dục thế hệ trẻ ở Nghệ An trong giai
đoạn hiện nay" của ThS Nguyễn Trờng Sơn Đề tài NCKH cấp Bộ Mã sốB2003- 42- 43.vv … Ngoài ra còn rất nhiều bài viết đăng trên các tạp chí nh:
"Đặc điểm của Nho Việt" của TS Nguyễn Hùng Hậu (Tạp chí Triết học số3/2003); "Khai thác các giá trị truyền thống của Nho học phục vụ sự phát triểncủa đất nớc trong điều kiện toàn cầu hoá" của PGS.TS Nguyễn Trọng Chuẩn(Tạp chí Triết học số 4/2002); "Tìm hiểu đối tợng giáo dục của Khổng Tử"của ThS Nguyễn Trờng Sơn (Tạp chí Giáo dục số 88/2004) hay "Nho giáo và
sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay" của TS.Nguyễn Tài Th (Tạp chí Triết học, số 5/2002)
Riêng với tác phẩm Luận ngữ - tác phẩm đợc coi là "Thánh kinh" của
đạo Nho cũng có rất nhiều bản dịch khác nhau nh bản dịch của Nguyễn Hiến
Lê, Đoàn Trung Còn vv… Xung quanh tác phẩm này cũng có rất nhiều bàiviết và công trình nghiên cứu: Nguyễn Thị Kim Chung có bài viết "Mẫu ngờiquân tử - con ngời toàn thiện trong Luận ngữ" (Tạp chí Triết học số 9/2003);
"Tìm hiểu quan điểm giáo dục của Khổng Tử trong Luận ngữ và ý nghĩa của
nó với công tác giáo dục hiện nay" đề tài khoá luận của Nguyễn Văn Thởng(2002), "Tìm hiểu phạm trù Lễ trong Luận ngữ của Khổng Tử và ý nghĩa của
nó trong giáo dục đạo đức cho học sinh ngày nay" đề tài khoá luận củaNguyễn Thị Kiều Miên (2002) Đề tài mà tôi thực hiện cũng dựa trên tác
Trang 8phẩm Luận ngữ nhng dới góc độ khác: "Vấn đề bản chất con ngời trong tácphẩm Luận ngữ và ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng con ngời Việt Namhiện nay".
3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1.Mục đích nghiên cứu
Đề tài mà tôi nghiên cứu nhằm mục đích tìm hiểu, làm rõ những ảnh
h-ởng của t th-ởng bản chất con ngời trong tác phẩm Luận ngữ đối với quá trìnhxây dựng con ngời Việt Nam hiện nay
3.2.Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài nhằm làm sáng tỏ hai vấn đề:
Thứ nhất: Phân tích làm rõ quan điểm của Khổng Tử về vấn đề bản chấtcon ngời trong tác phẩm Luận ngữ
Thứ hai: Làm rõ những giá trị tích cực trong quan điểm của Khổng Tử
về vấn đề bản chất con ngời ở tác phẩm Luận ngữ và vận dụng vào việc xâydựng con ngời Việt Nam hiện nay
4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Tác phẩm Luận ngữ của Khổng Tử hàm chứa rất nhiều t tởng của Nhogiáo và những t tởng đó còn ảnh hởng đến đời sống xã hội trên nhiều bìnhdiện khác nhau Nhng trong phạm vi giới hạn của đề tài, chúng tôi chỉ khaithác t tởng về bản chất con ngời trong tác phẩm và sự vận dụng những t tởng
đó vào xây dựng con ngời Việt Nam hiện nay
Phơng pháp duy vật lịch sử, duy vật biện chứng
Cụ thể - khách quan, khái quát trừu tợng
Ngoài ra đề tài còn có sự liên hệ giữa thực tiễn và lý luận để có cáchnhìn nhận đúng đắn hơn, khoa học hơn
6 ý nghĩa của đề tài
Đề tài khoá luận này là công trình nghiên cứu đầu tay của tác giả (với tcách là một sinh viên) Công trình này giúp tôi hiểu sâu sắc hơn về vấn đề bản
Trang 9chất con ngời trong lịch sử mà cụ thể là t tởng của Khổng Tử trong Luận ngữ tác phẩm đợc coi là "Thánh kinh" của Khổng giáo, không chỉ đơn thuần dừnglại ở tìm hiểu t tởng mà nó còn gắn với thực tiễn Việt Nam hiện nay đó là việcxây dựng con ngời Việt Nam đáp ứng những yêu cầu của sự phát triển đất nớc.
-7 Kết cấu của đề tài.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tàigồm 2 chơng và 4 tiết
Chơng 1: Vấn đề bản chất con ngời trong tác phẩm Luận ngữ
Chơng 2: ý nghĩa của vấn đề bản chất con ngời trong tác phẩm Luậnngữ đối với việc xây dựng con ngời Việt Nam hiện nay
Nội dung Chơng 1: Vấn đề bản chất con ngời trong
Trang 10cống hiến cho nền văn hoá Trung Quốc nói riêng và nền văn minh nhân loạinói chung những giá trị bất hủ.
Khổng Tử tên Khâu, tự là Trọng Ni, ngời ấp Trâu nớc Lỗ cuối thờiXuân Thu (làng Xơng Bình, huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông ngày nay) Chacủa Khổng Tử là Thúc Lơng Ngột, làm quan võ ở nớc Lỗ, từng đảm nhiệmchức đại phu Trâu ấp nên đợc gọi là "Trâu Thúc Ngột" Thúc Lơng Ngột cớiThi thị, sinh đợc chín ngời con gái không có con trai Sau đó ngời thiếp sinh đ-
ợc một ngời con trai tên là Mạnh Bì nhng có tật ở chân, không gánh vác đợcviệc thờ phụng Về già ông cới ngời vợ trẻ là Nhan Trng Tại và sinh đợcKhổng Tử Theo truyền thuyết, Khổng Tử khi sinh ra trên đầu gồ, giữa lõm, bà
mẹ Nhan Thị lại đi cầu tự ở núi Ni Khâu mà mang thai Khổng Tử, vì thế màcha mẹ đặt tên Khổng Tử là Khâu, tự là Trọng Ni Khi Khổng Tử lên ba thìngời cha bị bệnh qua đời, bà mẹ đa con rời khỏi Trâu ấp đến c trú tại làngQuyết của quốc đô Khúc Phụ
Khổng Tử từ nhỏ đã thông minh hiếu học Trong các trò chơi tuổi thơ,Khổng Tử thờng bày các đồ tế lễ, bắt chớc lễ nghi cúng tế của ngời lớn Nămmời một tuổi từng học Chu Lễ với Lỗ Thái S, đến năm mời hai tuổi đã nắmvững nhiều tri thức văn hoá, đợc ca ngợi là "bác học hiếu lễ" (học rộng,chuộng lễ nghi) Đến năm 19 tuổi thì Khổng Tử thành gia thất, rồi ra nhậnchức Uỷ lại, coi sự gạt thóc ở kho, sau lại làm T chức lại coi việc nuôi bò, dê
để dùng vào việc cúng tế Sinh thời, ông ôm ấp một hoài bão lớn về chính trị,muốn đem tài năng trí tuệ của mình ra thực hành giúp nớc nhng không đợctriều đình tin dùng Vì thế, ông đã đi tới nhiều nớc ở Trung Quốc lúc bấy giờ
để truyền bá học thuyết của mình nhng ông không mấy thành công Sau đó
ông trở về nớc Lỗ mở trờng dạy học Khổng Tử sống trong một thời đại đầynhững biến động xã hội, đó là thời đại “vơng đạo suy vi”, “bá đạo lấn át” Trật
tự của xã hội, lễ cũ của nhà Chu đang bị đảo lộn mạnh mẽ, nh ông đã thanphiền: “Vua không phải đạo vua, tôi không phải đạo tôi, cha không phải đạocha, con không phải đạo con” Đứng trên lập trờng của bộ phận cấp tiến tronggiai cấp qúy tộc nhà Chu, ông chủ trơng lập lại kỷ cơng, pháp chế của nhàChu trên tinh thần cải tiến nội dung mới sao cho phù hợp, ông tỏ ý muốn kếthừa sự nghiệp của các bậc tiền bối nh Văn Vơng, Chu Công và theo đó lập lạitrật tự xã hội với t tởng nhất quán: “Ngô tòng Chu”
Trang 11Trong cuộc đời của mình, Khổng Tử đã từng tham gia triều chính và đichu du nhiều nớc, nhng tên tuổi của ông đợc ghi vào sử sách không phải côngviệc triều chính đem lại mà chính là sự nghiệp giáo dục Khổng Tử là ngờitiên phong đánh đổ sự lũng đoạn giáo dục của giai cấp quý tộc bằng việc mởtrờng t thục cho con em bình dân, mở rộng giáo dục trong nhân dân ông chủtrơng: "Hữu giáo vô loại" (Luận ngữ- Dơng Hoá,39)" [18;16] (dạy học khôngphân biệt sang hèn) vì thế đã thu hút số lợng lớn môn đồ, đào tạo hàng loạtcác nhân tài có đức kiêm bị Tơng truyền đệ tử lên đến ba nghìn ngời Cả cuộc
đời Khổng Tử theo đuổi sự nghiệp giáo dục với sự say mê trên tinh thần: "Hốinhân bất quyện" (Luận ngữ- Thuật nhi,27) [18;16] (dạy ngời không chán).Thực hiện sự nghiệp giáo dục trong một thời gian dài, ông đã tích luỹ kinhnghiệm dạy học phong phú Ông thực hiện: nhân tài thi giáo (dạy theo từng
đối tợng), giáo học tơng trởng (dạy và học cùng nâng cao trí thức) tuần tự tiệmtiến, tuần tuần thiện dụ (khéo dẫn dắt từng bớc), cử nhất phản tam (nêu ví dụ
để suy luận)… để lại cho hậu thế hàng loạt phơng pháp giáo dục khoa học quýbáu Ông đợc ngời đời sau phong là "vạn tuế s biểu" Bên cạnh đó ông có côngrất lớn trong việc kế thừa phát triển và truyền đạt văn hoá cổ đại Ông chuyêntâm vào việc chỉnh lý th tịch văn hóa nh: Thi, Th, Lễ, Nhạc…
Năm 479 TCN, Khổng Tử ốm bảy ngày và qua đời trên quê hơng nớc
Lỗ, thọ 73 tuổi Hai năm sau, vua nớc Lỗ cho xây lại ngôi nhà của Khổng Tửthành Khổng miếu, đây là nơi mà các bậc đế vơng trong lịch sử đến tế tựKhổng Tử Ngày nay Khổng lâm, Khổng miếu, Khổng phủ đợc Tổ chức Giáodục Khoa học Văn hoá Liên hợp quốc xếp vào di sản văn hoá thế giới
1.1.2 Vài nét về tác phẩm Luận ngữ
Tác phẩm Luận ngữ đứng đầu trong Tứ th Tất cả các học giả từ xa đếnnay đều coi Luận ngữ là kinh của Khổng giáo, cũng giống nh Đạo đức kinh làkinh của Lão giáo Sự ra đời của Luận ngữ có liên quan mật thiết với sựnghiệp dạy học của Khổng Tử Vì, Luận ngữ là những ghi chép lời đối đáp củaKhổng Tử với đệ tử cũng nh giữa các đệ tử với nhau về các sự việc Sau khiKhổng Tử mất các môn đệ có công biên soạn lại
Luận ngữ có vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống t tởng Nho giáo.Luận ngữ đợc coi là tài liệu gốc đáng tin cậy nhất để nghiên cứu Khổng Tử
Điều này đã đợc học giả Nguyễn Hiến Lê nhận xét: "Từ xa đến nay hầu hếtcác học giả nghiên cứu về học thuyết Khổng Tử đều dùng cả Tứ th lẫn Kinh
Trang 12Th, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Khổng Tử gia ngữ, vv làm tài liệu, nh vậy theo tôikhông phải là tìm hiểu Khổng Tử mà tìm hiểu Khổng giáo trong suốt thờiChiến quốc, vì trong những sách dẫn trên, ngoài bộ Luận ngữ là đáng tin nhất,thì còn bộ nào cũng chứa nhiều t tởng của ngời sau, không phải của KhổngTử" [13;7].
Luận ngữ sau khi ra đời từ trớc thời Chiến quốc đã trải qua nạn chônNho đốt sách của Tần Thuỷ Hoàng, hầu nh bị biến mất đến thời Tây Hán,
"Hiệp th luật" của nhà Tần bị bãi bỏ, triều đình chủ trơng thởng cho những ai
có công thu thập và nộp sách Nho cho triều đình Có một số ngời trớc đây đãkhông ngại nguy nan dấu sách, giờ đây hăng hái hiến sách cho triều đình Lúcnày xuất hiện 3 bản Luận ngữ: Lỗ Luận ngữ gồm 20 thiên, Tề Luận ngữ gồm
22 thiên, Cổ văn Luận ngữ gồm 21 thiên Bản Luận ngữ lu hành phổ biến ngàynay có 20 thiên, khoảng hơn 11000 chữ Mỗi thiên đều lấy hai hoặc ba chữ
đầu đặt tên cho thiên nh: Học nhi, Thuật nhi, Vệ Linh công trớc đây để cho
dễ đọc và nghiên cứu, ngời ta chia Luận ngữ thành hai phần thợng và hạ: ợng Luận" từ Học nhi thiên đệ nhất đến Hơng đảng thiên đệ thập; "Hạ Luận"
"Th-từ Tiên tiến thiên đệ thập nhất đến Nghiêu viết thiên đệ nhị thập Luận ngữ là
bộ sách có nội dung rất phong phú, hình thức lại rất linh hoạt Ngoài các
ơng diện lớn nh: văn, sử, triết, nhân sinh, giáo dục ra còn đề cập đến nhiều
ph-ơng diện khác của đời sống xã hội Sách đợc viết với ngôn ngữ súc tích giàutính gợi mở nên độc giả dễ dàng tiếp cận
Luận ngữ là bộ sách "truyền gia chi bảo" có tính kinh điển, là linh hồn,
là cội nguồn của dòng văn hoá chính yếu của lịch sử Trung Hoa hơn hai ngànnăm trở lại đây Từ trong Luận ngữ có thể tìm thấy các quy phạm về hành vi,
đạo đức trong đời sống hàng ngày và cả phơng thức học tập cho đến những
đạo lý quản lý gia đình, quốc gia, xã hội Vì vậy, Luận ngữ "bộ thánh kinh"thoạt nhìn chỉ là những lời ngắn gọn, những đoạn đối thoại nhỏ nhng hơn hainghìn năm nay đã trở thành cuốn sách không thể thiếu của nhiều nhà chính trị,nhiều hiền nhân thi sĩ Ngày nay, chúng ta đối mặt với thời đại kinh tế thị tr-ờng, thời đại của công nghệ thông tin thì việc chiêm nghiệm lời dạy củaThánh nhân chắc chắn sẽ mang lại lợi ích cho con ngời đơng đại
1.2 Quan điểm về bản chất con ngời trong tác phẩm Luận ngữ
Trang 131.2.1 Vấn đề bản chất con ngời trong lịch sử triết học
Con ngời là một trong những vấn đề trung tâm của triết học Ngày từthời cổ đại, nhà triết học Socrate đã đa ra luận điểm nổi tiếng: "Con ngời hãy
tự biết lấy mình" Nhiều thế kỷ trôi qua nhiều nhà khoa học, nhiều ngành khoahọc (triết học, xã hội học, y học, tâm lý học, đạo đức học vv ) đã đi sâunghiên cứu các mặt khác nhau của con ngời để rút ra một bức tranh khoa học
đầy đủ, toàn diện về chính mình Xung quanh vấn đề nguồn gốc bản chất conngời trong lịch sử t tởng nhân loại đã từng tồn tại rất nhiều quan điểm khácnhau Con ngời là gì và bản chất con ngời nh thế nào? Con ngời giữ vai trò nhthế nào trong thế giới hiện thực? ý nghĩa giá trị của cuộc sống con ngời và b-
ớc tiến tới của con ngời ở đâu? Đó là những câu hỏi chung nhất, cơ bản nhất
mà những học thuyết triết học từ thời cổ đại đến nay đặt ra và giải quyết bằngnhững cách khác nhau
Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau, nhng trớc C.Mác vấn đề bảnchất con ngời vẫn cha đợc giải đáp một cách thực sự khoa học Cả chủ nghĩaduy tâm và chủ nghĩa duy vật siêu hình đều cha nhận thức đúng Sự hìnhthành và phát triển những t tởng triết học về con ngời ở phơng Đông cổ đạigắn liền với tôn giáo và mang tính duy tâm thần bí Kinh Veda cho rằng: cũnggiống nh tất cả mọi vật, con ngời do một đấng sáng thế sáng tạo ra KinhUpanishad quan niệm rằng: cả thể xác và linh hồn đều là hiện thân của tinhthần tối cao - Braman Đối với triết học ấn Độ cổ trung đại khi bàn về bảnchất con ngời thờng xoay quanh vấn đề đời sống tâm linh và giải thoát con ng-
ời khỏi bể khổ, khỏi sự ràng buộc của thế giới trần tục Đối với triết học TrungQuốc, bản chất con ngời thờng đợc gắn với những vấn đề đạo đức, chính trị,chỉ quan tâm đến "tính ngời", "tâm ngời", "lý ngời" tức là chỉ bàn đến phẩmchất, tinh thần, ý thức, tâm lý, t tởng của con ngời Về cơ bản, xem "tính ngời"
nh là biểu hiện của cái thiện hoặc cái ác, của cái tính trời hoặc cái tính thuộcnhân tâm Khổng Tử quan niệm: nói đến con ngời là nói đến đạo đức Đạo
đức đợc xem là nền tảng, là thuộc tính bản chất để phân biệt con ngời với convật Mạnh Tử kế thừa học thuyết "thiên mệnh" và "đạo đức" của Khổng Tửkhẳng định rằng, bản chất con ngời là thiện, còn nếu trong xã hội con ngờilàm điều ác thì đó là dục vọng nhất thời mà thôi, chứ nhất quyết không phải làbản chất con ngời (xem Mạnh Tử Cáo Thợng) Trong khi phản đối thuyết
Trang 14"tính thiện" của Mạnh Tử, Tuân Tử cho rằng: "bản tính con ngời là ác" nhng
ông khẳng định điều đó có thể cải biến đợc thông qua giáo dục
ở Phơng Tây, có những trào lu triết học duy tâm không giải thíchnguồn gốc con ngời từ trời, từ thần thánh hay con vật linh thiêng nào, nhngcũng không kém phần bí hiểm Platôn - nhà triết học Hy Lạp cổ đại: tất cả (kểcả con ngời) đều bắt nguồn từ "thế giới ý niệm" đó mới chính là cái "tồn tạichân chính" Những vật thể cảm tính (kể cả thể xác) chỉ là những cái bóng của
"thế giới ý niệm" sau khi thể xác, linh hồn bất tử thoát khỏi ngục tù của thânthể trở về "thế giới ý niệm"
Bên cạnh những t tởng duy tâm vẫn còn tồn tại t tởng duy vật nh trờngphái Lokayta của ấn Độ cho rằng 4 nguyên tố: đất, nớc, lửa, không khí có khảnăng tự tồn tại, tự hoạt động trong không gian tạo thành vạn vật, tạo thành conngời Sau khi con ngời chết thì các nguyên tử cũng tan rã thành các nguyên tố.Còn các nhà triết học duy vật Hy Lạp cổ đại thì cho rằng bản chất con ngờibắt nguồn từ một bản nguyên vật chất nh: nớc (Talet), không khí (Anximen),lửa (Hêraclit), nguyên tử (Đêmôcrit) Tuy nhiên bàn về nguồn gốc và bản chấtcon ngời, t tởng thống trị trong thời kỳ cổ đại và trung đại vẫn là quan điểmduy tâm, đến thời kỳ cận đại nhận thức về bản chất con ngời có bớc tiến đáng
kể Triết học duy vật và duy tâm đều phản ánh những vấn đề mới mẻ do thời
đại đặt ra Đây là thời kỳ đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật - thế giới quan củagiai cấp t sản với chủ nghĩa duy tâm tôn giáo, thế giới quan của giai cấp phongkiến lỗi thời Thời kỳ đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của t tởng về con ngời
đã làm cho con ngời thức tỉnh trong suốt thời kỳ tăm tối của đêm trờng trung
cổ Pharanxit Bêcơn quan niệm con ngời là sản phẩm của tự nhiên Con ngờimột mặt rất gần với động vật, mặt khác lại có cái gì đó siêu phàm Rơnê
Đêcáctơ nổi tiếng với luận điểm: "tôi t duy, vậy tôi tồn tại" Nhà triết học khaisáng Pháp lỗi lạc Giăng giăc Rútxô (1712 - 1778) cho rằng, lịch sử hoạt độngcủa loài ngời chính là kết quả hoạt động của chính bản thân con ngời chứkhông phải "bàn tay" của thợng đế xếp đặt Nghiên cứu về con ngời và quátrình phát triển của xã hội, ông khẳng định bản chất của con ngời là tự do nh-
ng trong sự phát triển của các xã hội từ trớc đến giờ khát vọng tự do của conngời luôn bị kìm hãm Cùng với các nhà duy vật Pháp thế kỷ XVIII, Phoiơbắcnhà triết học duy vật cổ điển Đức đã phê phán mạnh mẽ quan điểm duy tâmthần bí và tìm cách giải thích nguồn gốc bản chất con ngời theo quan điểm
Trang 15duy vật Với sự ra đời của học thuyết ĐácUyn, các nhà triết học duy vật nóitrên có căn cứ khoa học chứng minh sự phi thần thánh của con ngời, "khôngphải chúa đã rạo ra con ngời theo hình ảnh của chúa mà chính con ngời đã tạo
ra chúa theo hình ảnh của con ngời" [25;607] Lời nói sắc sảo này củaPhoiơbắc đã đợc C.Mác và Ph.Ăngghen đánh giá cao khi hai ông nói về vaitrò của các nhà duy vật trong việc phê phán những quan điểm duy tâm thần bí
về nguồn gốc và bản chất của con ngời Phê phán chủ nghĩa duy tâm củaHêGhen, Phoiơbắc đã đạt tới chủ nghĩa duy vật khi khẳng định rằng ý thứccũng nh t duy của con ngời chỉ là sản phẩm của khí quan nhục thể tức là bộ
óc, rằng vật chất không phải là sản phẩm của tinh thần mà chính tinh thần làsản phẩm tối cao của vật chất Song Phoiơbắc đã không giữ đợc quan điểmduy vật của mình khi đi vào phân tích bản chất con ngời về lịch sử xã hội loàingời Con ngời ở Phoiơbắc là con ngời trừu tợng bởi ông xem xét con ngờitách rời khỏi hoạt động thực tiễn trong điều kiện lịch sử nhất định Phoiơbắckhông biết quan hệ giữa con ngời với con ngời nào khác ngoài quan hệ tìnhyêu, tình bạn hơn nữa lại là tình yêu tình bạn lý tởng hoá, suy cho cùng đó vẫn
là con ngời với bản chất "thần bí"
Nh vậy, không chỉ chủ nghĩa duy tâm mà cả chủ nghĩa duy vật siêuhình cũng không nhận thức đúng bản chất con ngời Chỉ đến triết học Mác thìchúng ta mới có cách tiếp cận khoa học đúng đắn với vấn đề này Khi phêphán quan điểm của Phoiơbắc, Mác đã khái quát bản chất con ngời thông quacâu nói nổi tiếng: "Phoiơbắc hoà tan bản chất tôn giáo vào bản chất con ngời.Nhng bản chất con ngời không phải là một cái trừu tợng cố hữu của cá nhânriêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con ngời là tổng hoà nhữngquan hệ xã hội"[1;11]
Với thế giới quan duy vật triệt để và phơng pháp luận biện chứng, Mác
đã đa ra một khái niệm hoàn chỉnh về bản chất con ngời Con ngời là một thựcthể "sinh vật - xã hội - tinh thần" Mác thừa nhận con ngời là một động vật caocấp nhất, sản phẩm của sự tiến hoá tự nhiên, một sự tiến hoá lâu dài của giớisinh vật nh tiến hoá luận của Đác Uyn đã khẳng định Nh mọi động vật khác,con ngời là một bộ phận của thiên nhiên, tìm thức ăn, nớc uống, từ trongthiên nhiên Nh mọi động vật khác con ngời phải "đấu tranh" để tồn tại, ănuống, sinh con đẻ cái,…Tuy nhiên, C.Mác không thừa nhận quan điểm chorằng: cái duy nhất tạo nên bản chất con ngời là đặc tính sinh học, là bản năng
Trang 16sinh vật của con ngời, bởi con ngời có đầy đủ những đặc trng sinh vật nhng lạikhác những sinh vật khác và phân biệt với sinh vật khác chính là bản năng xãhội Bản năng xã hội mà con ngời có đợc chính là thông qua quá trình lao
động, bớc nhảy vọt từ loài vợn tiến hoá thành loài ngời đợc Ph.Ăngghenkhẳng định chính là nhờ lao động và ngôn ngữ C.Mác và Ph.Ăngghen đãphân tích vai trò của lao động sản xuất ở con ngời nh sau: "Có thể phân biệtcon ngời với súc vật, bằng ý thức, bằng tôn giáo nói chung và bằng bất cứ cáigì cũng đợc Bản thân con ngời cũng bắt đầu tự phân biệt với súc vật ngay khicon ngời bắt đầu sản xuất ra những t liệu sinh hoạt của mình, đó là một bớctiến do tổ chức cơ thể con ngời quy định Sản xuất ra những t liệu sinh hoạtcủa mình, nh thế con ngời đã gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vật chất củamình"[1;29] Nh vậy, chính trong quá trình lao động sản xuất xuất hiện mốiquan hệ giữa con ngời với con ngời và nhu cầu xã hội của bản thân mỗi ngời
Bản chất con ngời là tổng hoà những mối quan hệ xã hội Con ngờikhác với bản chất so với con vật ở ba mặt: Quan hệ với thiên nhiên, quan hệvới xã hội, quan hệ với bản thân Cả ba mối quan hệ đó đều mang tính xã hội,trong đó quan hệ xã hội là quan hệ bản chất nhất trong mọi hoạt động của conngời trong lao động, sinh con đẻ cái và t duy Con ngời sở dĩ trở thành ngờichính là quá trình lao động, bởi con ngời muốn tồn tại không chỉ dựa vào tựnhiên mà phải thông qua lao động sản xuất Chính trong quá trình này con ng-
ời bộc lộ hai mối quan hệ khách quan cơ bản: quan hệ giữa con ngời với thếgiới tự nhiên thể hiện trong lực lợng sản xuất, quan hệ giữa con ngời với conngời thể hiện trong quan hệ sản xuất C.Mác viết: "Trong sản xuất, ngời takhông chỉ quan hệ với giới tự nhiên Ngời ta không thể sản xuất đợc nếukhông kết hợp với nhau theo một cách nào đó để hoạt động chung và để trao
đổi hoạt động với nhau và quan hệ của họ với giới tự nhiên, tức là việc sảnxuất diễn ra trong khuôn khổ những mối quan hệ và quan hệ xã hội" [2;552].Chỉ trong toàn bộ những quan hệ xã hội cụ thể, con ngời mới bộc lộ và thựchiện đợc bản chất thật sự của mình Không có con ngời trừu tợng mà chỉ cónhững con ngời sống hoạt động trong một xã hội nhất định, một thời đại nhất
định trong những điều kiện lịch sử nhất định, nghĩa là những con ngời cùngvới xã hội mình khai thác thiên nhiên, sinh hoạt xã hội, phát triển ý thức
Trang 171.2.2 Những phạm trù cơ bản thể hiện bản chất con ngời trong tác phẩm Luận ngữ.
Lấy con ngời làm trung tâm đó là mục tiêu nhận thức của triết học cổ
đại Trung Quốc, đề cao tinh thần nhân văn khẳng định giá trị tồn tại tích cựccủa con ngời đối với chính bản thân mình và đối với thế giới bên ngoài Trongkhi đề cập đến con ngời cũng nh bản chất con ngời trong triết học Trung Quốcthời kỳ này thờng lấy đạo đức luân lý làm nội dung chủ yếu của luận thuyết
Đây cũng chính là một đặc điểm của nhiều trờng phái triết học lúc bấy giờ Vìvậy, muốn nghiên cứu t tởng về bản chất con ngời của Khổng Tử trong tácphẩm Luận ngữ ta phải tiếp cận vấn đề dới góc độ những phạm trù mà Khổng
Tử thờng hay đề cập đó là Ngũ thờng: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín Những tiêuchuẩn đạo đức đa ra nh thớc đo đánh giá bản chất con ngời
1.2.2.1 Nhân
Trong đạo đức làm ngời, chữ Nhân đợc Khổng Tử đặt lên hàng đầu, đứcNhân là tiêu chuẩn cao nhất, Nhân là điều hợp với đạo trời và lòng ngời ChữNhân đối với mọi ngời dân trong thiên hạ còn hơn cả nớc, lửa, ngời ta có thể
đạp lên nớc, lửa mà chết chứ không thể đạp lên chữ Nhân mà chết: "Dân chi nhân dã, thậm thuỷ hoả, thuỷ hoả ngô kiến đạo nhi tử giả hĩ, vị kiến đạo nhânnhi tử giả dã" (Luận ngữ - Vệ Linh công 35) (Nhân dân đối với đạo nhân, coi
đạo nhân còn cần thiết hơn cả nớc và lửa Ta nhìn thấy có ngời sa xuống nớc,ngã vào lửa mà chết, chứ cha từng nhìn thấy ai theo đạo nhân đức mà chết baogiờ) [18;188] Chữ Nhân có chữ nhân và chữ nhị hợp lại thành một chữ hội ý,nghĩa là nói cái thể và cái đức chung của mọi ngời đều có với nhau nh một.Trong Luận ngữ chữ Nhân đợc nhắc lại 109 lần và tuỳ từng đối tợng, từnghoàn cảnh mà "Nhân" đợc hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Theo nghĩa sâurộng nhất "Nhân" là một nguyên tắc đạo đức trong triết học Khổng Tử,
"Nhân" đợc ông coi là các quy định bản tính con ngời thông qua "lễ", "nghĩa",quy định quan hệ giữa ngời và ngời từ trong gia tộc đến ngoài xã hội "Nhân"
có quan hệ chặt chẽ với các phạm trù đạo đức khác trong triết học Khổng Tử
để làm nên một hệ thống triết lý nhất quán "Nhân" cũng có thể hiểu là "trungthứ", tức là đạo đức với ngời nhng cũng là đạo đối với mình nữa Trong cáccuộc nói chuyện với học trò, khi đợc hỏi thế nào là Nhân, thì Khổng Tử tuỳtừng ngời mà trả lời:
- Nhân cách
Trang 18Đó là xác định đợc chủ thể của mình trong mối quan hệ xã hội, pháthuy đợc phẩm chất chủ thể ấy đối với mọi ngời xung quanh, đó là xác định tcách của ngời có đức Nhân Muốn vậy luôn phải "khắc kỷ phục lễ vi nhân"(Luận ngữ - Nhan Uyên 1) (Luôn sửa mình theo lễ để làm điều nhân)[18;142] Học trò Tử Trơng hỏi về đức Nhân, Khổng Tử nói: "Năng hành ngũgiả thiên hạ, vĩ nhân hĩ, viết: Cung khoan, tín, mẫu, huệ Cung tắc bất vũ,khoan tắc đắc chúng, tín tắc nhân nhiệm chi, mẫn tắc hữu công, huệ tắc túc dĩ
sử nhân" (Luận ngữ - Dơng Hoá 6) (Làm đợc 5 đức tính trong thiên hạ thì gọi
là nhân, đó là: cung, khoan, tín, mẫn, huệ Cung kính thì không bị khinh nhờn,khoan hậu thì đợc lòng mọi ngời, thành tín thì đợc ngời khác tín nhiệm, cầnmẫn thì có công, từ huệ thì sử dụng đợc ngời) [18;201] Khổng Tử ví ngời có
đức nhân nh nớc vậy: "Nớc có thể cho khắp mà không riêng ai, đến đâu thì ở
đó sống, không đến thì ở đó chết Nớc chảy xuống chỗ trũng, chảy quanh cogiống nh nghĩa vậy Nớc từ trên cao đổ xuống mà không ngần ngại giống nhdũng vậy Nớc ở chỗ cạn thì lu hành, ở chỗ sâu thì không lờng đợc giống nhtrí vậy Yếu ớt mờ nhỏ mà đâu cũng thấm đợc giống nh sát vậy (soi xét tinh t-ờng) Nớc chịu mọi cái xấu bẩn, không từ chối cái nào, đó là bao khảo thátvậy (bao dung cả mọi vật) Cái gì không sạch vào nớc khi ra thành sạch, tinhkhiết giống nh thiên hoá Nớc đứng đọng bằng phẳng giống nh chính vậy, nớc
đầy thì không phải giữ nh độ vậy… nớc đi chiết khúc chảy về biển đông (nơimặt trời xuất hiện) giống nh có ý vậy" [9;175- 176] Nh vậy, nhân cách theoKhổng Tử là mỗi ngời phải tự trau dồi cho mình những đức tính tốt đẹp, đủ đểtoả ra cho mọi ngời xung quanh nh nớc vậy Xây dựng một nhân cách hoànthiện cho bản thân chính là biết "yêu mình"
- Nhân ái
Là lòng yêu thơng mọi ngời Phan Trì hỏi nhân Khổng Tử nói:"ái nhân"tức là yêu ngời hoặc nh "Duy nhân giả năng hiếu nhân, năng ố nhân" (Luậnngữ - Lý nhân 3) (chỉ có ngời nhân đức mới có thể biết yêu những ngời nào,ghét những ngời nào) [18;66]
Nhân ái là thơng ngời nh thể thơng thân, mình thành công cũng giúpcho ngời thành công, điều gì mình không muốn thì đừng bắt ngời khác phảimuốn Chữ Nhân cũng bao hàm cả chữ ái Vì có nhân mới có ái, có ái mới cólòng thơng ngời, yêu vật Có lòng nhân con ngời mới bác ái, mới coi nhau nhanh em ruột thịt, xem cả đoàn thể nh một ngời, xem cả vũ trụ là nhất thể "Một
Trang 19con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ" Cũng bởi nghĩa ấy mà sách thuốc gọi bệnh tê là
"ma mộc bất nhân", vì ngời bệnh tê trong thân thể đau đâu cũng không biết.Ngời bất nhân trong xã hội cũng giống nh ngời có bệnh tê vậy, ai đau khổ thếnào, vật gì bị làm sao cũng dửng dng không hề cảm động Vậy đã là ngời nhânthì phải yêu ngời, yêu vật tức là phải có lòng nhân ái
- Nhân an
Lòng thơng ngời tự nhiên không khiên cỡng thì đợc gọi là nhân an.Nhân với an quan hệ với nhau rất mật thiết An là ung dung, trúng đạo, ứng ra
là việc gì cũng phù hợp với tính thiện Loại ngời bất nhân, tà dâm, chỉ nghĩ
đến tìm cách làm điều ác trái đạo đức, nên trong lòng không lúc nào yên Bởithế có an mới nhân đợc Ngời mà nói khéo, nịnh hót, sửa nét mặt bề ngoài là ítnhân: "Xảo ngôn lệnh sắc, tiếp hĩ nhân" (Luận ngữ - Học nhi 3) [18;45] Nhvậy, ngời có nhân an luôn là ngời có đợc sự sáng suốt bình an
Nhân là cái gốc lớn của sự sinh hoá trong trời đất Thế gian nhờ đó mà
đứng, vạn vật nhờ đó mà sinh, quốc gia nhờ đó mà còn, lễ nghĩa nhờ đó màphát hiện ra Đối với từng ngời một thì nhân là cái hành xích để biết việc phảitrái, điều hay dở Sự ngôn luận, sự hành vi của ngời ta mà hợp với đạo nhân làhay là phải, trái với đạo nhân là dở là xấu Nhân chính là cái đích tu dỡngquan trọng của con ngời, vì thế mới nói: "Quân tử vô chung thực chi gián vinhân Tháo thứ tất thị, điên bái tất thị" (Luận ngữ - Lý Nhân 5) (Ngời quân tửtrong khoảng bữa ăn cũng không trái nhân, vội vàng cũng phải theo nhân,hoạn nạn cũng phải theo nhân" [18;67]
1.2.2.2 Lễ
Khổng Tử từ thuở còn thanh niên ở nớc Lỗ đã nổi tiếng về ngời học giỏi
về lễ, khi ông đi vào kinh đô nhà Chu, đi hỏi lễ ở Lão Tử, hỏi nhạc ở TrànhHoằng Về sau khi ông ra xuất chính hay là dạy học lúc nào cũng chú ý về lễnhạc Chữ Lễ trớc tiên dùng để chỉ những nghi thức cúng tế Sau dùng rộng ra,
Lễ là toàn bộ những quy tắc ứng xử mang tính nghi thức và nội dung văn hoá,
mà Nho giáo đòi hỏi mọi ngời nhất thiết phải tuân theo Chữ Lễ đặt tiếp sauchữ nhân nghĩa, ấy là vì lễ đóng vai trò quan trọng trong việc đa nhân nghĩavào trong cuộc sống hàng ngày, đa nhân trở thành quy tắc, đi sâu vào tâm lýcon ngời, giáo dục con ngời tự nguyện tuân theo những đức tính ấy, để duy trì
kỷ cơng xã hội
Trang 20Khổng Tử nói: "Cung nhi vô lễ tắc lao, thận nhi vô lễ tắc tỉ, dũng nhi vô
lễ tắc loạn, trực nhi vô lễ tắc giảo" (Luận ngữ - Thái bá 2) (Cung kính màkhông có lễ thì lúng túng, lóng ngóng; cẩn thận mà không có lễ thành ra sợsệt; dũng cảm mà không có lễ thành ra loạn; cơng trực mà không có lễ thành
ra ngang ngạnh) [18; 104] Hoặc nh: "Phi lễ vật thị, phi lễ vật thính, phi lễ vậtngôn, phi lễ vật động" (Luận ngữ - Phan Uyên 1) (Điều gì không hợp với lễ thì
đừng nhìn, điều gì không hợp với lễ thì đừng nghe, điều gì không hợp với lễthì đừng nói, điều gì không hợp với lễ thì đừng làm) [18;142]
Nh vậy, Lễ theo Nho giáo còn xác định cho mọi thành viên trong xã hội
từ vua quan đến thứ dân, ai cũng phải xác định đúng vị thể của mình trong xãhội, đúng với "chính danh tự, định danh phận" (gọi đúng chức danh làm đúngphận vị) Lễ diễn ra từ việc tế lễ thần thánh, thờ cúng tổ tiên, đến quan hệ vuatôi, cha con, chồng vợ, anh em, bạn bè đến những nghi thức trong ma chay, c-
ới xin, giỗ tết, đến cung cách đi đứng, chào hỏi, ăn uống, trang phục… tất cả
đều phải có lễ, phải theo lễ Trong xã hội Nho giáo những hoạt động lễ đợc coi
nh những hành vi chính trị, vì thế đợc gọi là lễ trị, lễ trị có tác dụng nhiều mặt
đối với con ngời
- Lễ tiết chế sống có đức độ
"Vật trí chi, tự nhiên hậu háo ố hình yên, háo ố vô triệt nội, t dụ ngoại,bất năng phản cung, thiện lý diệt kỷ" (Kinh lễ - Thiên Nhạc lý) (Khi cái vậtkhách quan đa đến, cái yêu ghét sinh ra, cái muốn ghét mà không tiết chế đợc,không đấu tranh đợc thì cái tính thiện bị diệt đi) [9;178] Bởi theo Khổng Tửcon ngời sinh ra vốn thiện nhng do tác động ngoại cảnh mà không biết tiết chếthì mất đi thiện tính vốn có Khổng Tử nói: "Trung nhân chi tình hữu d tắc xỉ,bất túc tắc kiệm, vô cấm tắc dâm, vô độ tắc nhất, túng dục tắc bại, Cố ấm thựchữu lợng, y phục hữu tiết, cung thất hữu độ súc tụ hữu số, xa khí hữu hạn, dĩphòng loạn chi nguyên giã'' (Khổng Tử tập ngữ: Tề hầu vấn, XIII) (Cái thờngtình của ngời trung nhân, hễ có thừa thì xa xỉ, không đủ thì sẻn, không ngăncấm thì dâm đãng, không thả lòng dục thì h hỏng Cho nên ẩm thực phải cóhạn lợng Y phục phải có tiết chế, cửa nhà phải có phép độ, tích trữ phải có sốthờng, xe cộ phải có ngữ hạn, là đề phòng nguyên nhân gây loạn đấy)[17;160 ] Lễ sẽ khiến con ngời sống tiết độ, giữ mình hơn
- Lễ giữ đúng đạo phải trái, trật tự trên dới
Trang 21Mục đích nữa của lễ đó là định lẽ phải trái, tình thân sơ và trật tự, trêndới cho phân minh ở trong xã hội có vua tôi, cha con, vợ chồng, có ngời thân
kẻ sơ, có việc phải việc trái cho nên phải có lễ để phân biệt rõ mọi lẽ, khiếnngời ta biết đờng ăn ở cho phải đạo: "Phù lễ giả, sở dĩ định thân sơ, quyết hiềnnghi, biệt đồng dị, minh thị phi dã" (Lễ ký: Khúc lễ thợng, I) (Lễ là để khẳng
định thân sơ, quyết sự hiền nghi, phân biệt chỗ giống nhau khác nhau, rõ lẽphải trái) [9;178]
Lễ là đạo lý, là phép tắc, là hành vi chính trị qua đó mà duy trì phân rõtôn ti trật tự trong gia đình, ngoài xã hội quốc gia Trong xã hội phong kiếnNho giáo, lễ đạt hiệu quả rất sâu xa "Lễ chủ giáo hoá dã vi, kỳ chỉ tà dã vihình, sử nhân vật tỉ thiện, viễn tội nhi bất tri trí dã" (Kinh Lễ - Kính Giải 24)(Sự giáo hoá của lễ rất lớn, ngăn cấm điều lâm nguy khi cha xảy ra, khiến ng-
ời ta ngày càng gần điều thiện, tránh xa điều ác mà tự mình không biết).Nghĩa rộng của Lễ hàm ý pháp luật, do đó Nho giáo rất trọng lễ
Với ý nghĩa quan trọng của Lễ nh vậy, nên Khổng Tử đã đề ra biệnpháp giáo dục, dạy cho con ngời hiểu về lễ, cần về lễ nh một thứ nhu cầu vănhoá, đó là: "Tiên học lễ, hậu học văn" : con ngời phải coi trọng học lễ (đạo
đức) trớc, rồi mới học văn Việc rèn luyện con ngời theo phơng châm này phảibắt đầu ngay từ khi còn thơ ấu, xây dựng cho trẻ những khuôn phép tốt để suốt
đời chúng tôn trọng và làm theo Sự giáo dục của Nho giáo nhằm xây dựngcon ngời có lễ, trọng lễ đã trở thành tiêu chuẩn đạo đức để đánh giá hành vicon ngời
1.2.2.3 Nghĩa
Ngời có đức Nghĩa, thấy việc phải làm mà không làm lơng tâm cắn rứt,thấy sự bất thành không để yên Nghĩa bao gồm sự trả nghĩa, trả cái ân huệ màngời khác đã vô t giúp đỡ mình qua hoạn nạn và "xả thân thủ nghĩa" khôngtiếc mình giữ lấy điều nghĩa với chủ tớng, với bạn bè, với nghĩa cả, nghĩa quý
ở đời nh Mạnh Tử nói: "Sự sống cũng là điều ta muốn, nghĩa cũng là điều tamuốn, hai cái đó không giữ đợc cả hai thì bỏ sống mà giữ lấy nghĩa" (TừMạnh Tử – Cáo Tử Thợng 10) [17;173]
Nghĩa gắn liền với Nhân, nhân thể hiện tình cảm sâu sắc thì nghĩa lànghĩa vụ thực hiện tình cảm đó Nghĩa gắn liền với dũng, muốn làm việc nghĩa
mà không có dũng thì không thể thực hiện đợc, thấy việc nghĩa mà không làmthì không phải là ngời có dũng.Khổng Tử rất coi trọng chữ Dũng Dũng nh cây
Trang 22tùng, cây bách chẳng đổi màu xanh qua những mùa gió rét Dũng là sức mạnh
để con ngời thực hiện mục đích của mình Có Dũng thì: "lợi không gạt bỏ đợcchính nghĩa, chết không thay đổi đợc ý chí" (Lễ ký) Nhng Khổng Tử lại chorằng: Dũng nh con dao hai lỡi, hai giai cấp đối lập, hai lý tởng sống trái ngợcnhau đều có thể sử dụng chí dũng Do đó ông nói: "Quân tử nghĩa dĩ vi thợng.Quân tử hữu dũng nhi vô nghĩa vi loạn, tiểu nhân hữu dũng nhi vô nghĩa vi
đạo" (Luận ngữ - Dơng Hoá 23) (Ngời quân tử quý trọng đức nghĩa hơn Ngờiquân tử có dũng mà không có nghĩa thì làm loạn Kẻ tiểu nhân có dũng màkhông có nghĩa thì thành trộm cắp) [18;208]
Nghĩa gắn liền với lợi, ngời ta sinh ra sống bằng nghĩa và lợi, lợi đểnuôi thân thể, nghĩa để nuôi cái tâm Tâm không có nghĩa không vui đợc, thânkhông có lợi không yên đợc Nhng thân an không có gì quý bằng cái nghĩa.Cái Nghĩa nuôi ngời ta sống lớn hơn cái lợi, đừng vì cái lợi mà làm điều bấtnghĩa, Khổng Tử nói: "Bất nghĩa nhi phú thả quý, ngã nh phù vân" (Luận ngữ
- Thuật nhi 16) (bất nghĩa để giàu sang phú quý ta coi nh mây nổi) [18; 97]
1.2.2.4 Trí
Ngày nay ta thờng nói hiểu biết, trí tuệ là sức mạnh, ngày xa buổi đầutrong Tam đức, Khổng Tử đã đặt ra chữ Trí sau chữ Nhân Và Ông cho rằngcon ngời phải hiểu biết, có trí tuệ mới thực hiện đạo đức có hiệu quả, muốnbiết phải học Không hiểu biết không phân biệt đợc lý lẽ phải trái Khi hỏi Tử
Lộ về sáu đức và sáu điều che lấp, Khổng Tử đã nói: "Hiếu nhân bất hiếu học,kì tế dã ngu, hiếu trí bất hiếu học, kì tế dã đãng; hiếu tín bất hiếu học, kì tế dãtặc; hiếu trực bất hiếu học, kì tế giả giảo; hiếu dũng bất hiếu học, kì tế dã loạn;hiếu cơng bất hiếu học, kì tế dã cuồng" (Luận ngữ - Dơng Hoá 8) (Ham đứcnhân mà không học thì bị che lấp bởi ngu muội, ham đức trí mà không hamhọc thì bị che lấp bởi phóng đãng, ham đức tín mà không ham học thì bị chelấp bởi sự tổn hại, ham ngay thẳng mà không ham học thì bị che lấp bởi sự gắtgao, mất lòng ngời, ham đức dũng mà không ham học thì bị che lấp bởi sựphản loạn, ham cơng cờng mà không ham học thì bị che lấp bởi cờng bạo)[18;202] Nh vậy, theo Khổng Tử việc học hỏi để cho biết là việc rất quantrọng có quyết định trong đối nhân xử thế, thể hiện tinh thần ham học hỏi, tinhthần tôn s trọng đạo của Nho học Khổng Tử đề ra chuẩn mực cho ngời có đứctrí, một là cách vật (hiểu biết hết mọi sự vật, sự việc); hai là trí chi (hiểu biếtvấn đề gì cũng phải đến nơi đến chốn); ba là thành ý (ý thức chân thành khiêm
Trang 23tốn trong sự hiểu biết); bốn là chính tâm (hiểu biết trong sự ngay thẳng, chínhtrực , khiêm tốn)
1.2.2.5 Tín
Chữ Tín đợc xếp xuống hàng thứ năm trong đạo đức Nho giáo songkhông phải vì thế mà hạ thấp chữ Tín Bởi đức Tín là hệ quả của bốn đức trên,
có Nhân, Lễ Nghĩa, Trí mới gây đợc lòng tin, mới gây thực hiện chữ Tín Ngời
đã không có chữ Tín thì mất hết đức Nhân, Lễ , Nghĩa, Trí, là ngời bỏ đi
Nội dung của chữ Tín là có lòng tin tuyệt đối vào chính đạo, vào đạo lýcủa thánh hiền, vào mối quan hệ giữa vua tôi, cha con, vợ chồng, anh em,bằng hữu Trong ý nghĩa này Khổng Tử nêu: "Nhân tri vô tín, bất tri kì khả dã
Đại xa vô nghê, tiểu xa vô ngột, kỳ hà dĩ hành tai?" ( Luận ngữ - Vi chính 22 )(Một ngời mà không giữ chũ tín thì làm sao có thể trở thành ngời đợc Cũnggiống nh xe lớn không có đòn nghê, xe nhỏ không có đòn thì làm sao xe chạy
đợc) [18;55]
Muốn thực hiện đúng chữ Tín thì phải giữ đúng lễ, chính danh, đủ lợi
Đúng lễ là đủ hiểu biết thực hiện điều nhân nghĩa Chính danh là quan hệ đối
xử đúng phận vị Đủ lợi, là lợi phải nhân nghĩa, lợi phải chia sẻ cùng hởng.Ngày xa phép giữ nớc có ba nhân tố: thực túc, binh cờng và dân tín Nếu cầnthiếu thực túc, cha đủ hoặc tạm hoãn binh cờng, còn dân tín thì tuyệt đối phảigiữ lấy Bởi vì lòng tin là sức mạnh văn hoá, lòng tin là bắt nguồn từ chính
đạo Chiến lợc, sách lợc giữ nớc hợp khả năng thực tế, hợp lòng dân, sẽchuyển hoá tạo nên sức mạnh chiến thắng Bác Hồ dạy: "không sợ thiếu chỉ sợkhông công bằng" đó chính là để củng cố chữ Tín
Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín hay còn gọi là Ngũ thờng chính là năm đức tínhhay (là năm phẩm chất ) mà Nho giáo yêu cầu ở mỗi con ngời Ngũ thờng kếthợp với Tam cơng (quan hệ vua tôi, cha con, vợ chồng) thành ra Cơng thờng lànội dung cơ bản của đạo đức Nho giáo Trong cuốn Nho giáo của Trần TrọngKim có viết: "Đã nói rằng đạo Khổng Tử là đạo ngời quân tử cốt dạy ngời tacho thành ngời có đức hạnh hoàn toàn và nhân phẩm tôn quý, cho nên baonhiêu những sự dạy dỗ học tập của Khổng giáo đều chú cả vào ngời quân tử
"[17;114] Trong Nho giáo quân tử đợc xem là mẫu ngời đạo đức, là mẫu mực
để con ngời hớng tới hoàn thiện nhân cách Khái niệm quân tử đợc Khổng Tửnhắc đến rất nhiều trong lời dạy của ông.Riêng trong Luận ngữ quân tử đợcnhắc tới 107 lần Quân tử là tiêu chuẩn mà Khổng Tử dùng để dạy học trò, đa